LỜI CẢM ƠN Được làm tiểu luận là một niềm vinh dự rất lớn đối với tôi. Qua suốt khoảng thời gian này, tôi đã có thêm nhiều cơ hội tìm tòi, học hỏi từ thầy cô và bạn bè ngoài những kiến thức chuyên ngành Vật lý còn có kiến thức về triết học. Đặc biệt là mối quan hệ giữa hai lĩnh vực này. Tôi in ch n thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Chương Nhiếp và Tiến sĩ Nguyễn Ngọc há v những ài giảng t iết học c a các thầy đã t uyền cảm hứng ch tôi thêm yêu thích t iết học và có hứng th t m hiểu vấn đề vận ng t iết học và việc học tập c a ản th n; cũng như đã tận t nh hướng dẫn và tạ điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt tiểu luận nàyMỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sống trong xã hội hiện đại với nhiều thành tựu khoa học kĩ thuật tiên tiến, người giáo viên nói chung và giáo viên vật lý nói riêng cần phải có chuyên môn vững vàng và tinh thần đam mê nghiên cứu khoa học. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải nhận thức và vận d ng một cách đ ng đắn, sáng tạo thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận khoa học vào quá trình nghiên cứu vật lý nhằm t ánh được các sai lầm phiến diện, giản đơn hay máy móc, giá điều trong công tác nghiên cứu c a mình. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, nhiều sinh viên và giáo viên vật lý còn có cái nhìn thờ ơ, chưa thật sự quan t m đến triết học, chưa thấy được tầm quan trọng c a triết học trong công tác giảng dạy và nghiên cứu,… Chính điều này đã làm hạn chế hiệu quả nghiên cứu cũng như khả năng nhận thức c a bản th n người giáo viên. D đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là cần có một cơ sở lý luận nêu lên mối quan hệ giữa triết học và vật lý nhằm giúp các nhà vật lý có cái nh n đ ng đắn hơn để vận d ng vào quá trình công tác c a bản thân. Đặc biệt, vật lí cổ điển là một giai đoạn mà những thành tựu c a nó có rất nhiều đóng góp cho sự phát triển khoa học nhân loại. Do vậy việc tìm hiểu sự phát triển c a vật lí cổ điển là thật sự cần thiết đối với sinh viên cũng như giáo viên vật lý.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
Trương Thị Linh Châu
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được làm tiểu luận là một niềm vinh dự rất lớn đối với tôi Qua suốt khoảng thời gian này, tôi đã có thêm nhiều cơ hội tìm tòi, học hỏi từ thầy cô và bạn bè ngoài những kiến thức chuyên ngành Vật lý còn có kiến thức về triết học Đặc biệt
là mối quan hệ giữa hai lĩnh vực này
Tôi in ch n thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Chương Nhiếp và Tiến sĩ Nguyễn Ngọc há v những ài giảng t iết học c a các thầy đã t uyền cảm hứng ch tôi thêm yêu thích t iết học và có hứng th t m hiểu vấn đề vận ng t iết học và việc học tập c a ản th n; cũng như đã tận t nh hướng dẫn và tạ điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt tiểu luận này
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT HỌC VÀ VẬT LÍ HỌC 5
1.1 Khái niệm triết học 5
1.2 Khái niệm vật lí học 5
1.3 Ảnh hưởng c a triết học đối với vật lí học 6
1.4 Ảnh hưởng c a vật lí học đối với sự phát triển c a triết học 7
Chương 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ VẬT LÍ CỔ ĐIỂN Ý NGHĨA CỦA MỐI QUAN HỆ NÀY 15
2.1 Mối quan hệ giữa triết học và vật lí cổ điển 15
2.2 Ý nghĩa c a mối quan hệ giữa triết học và vật lí cổ điển 20
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sống trong xã hội hiện đại với nhiều thành tựu khoa học kĩ thuật tiên tiến, người giáo viên nói chung và giáo viên vật lý nói riêng cần phải có chuyên môn vững vàng và tinh thần đam mê nghiên cứu khoa học Điều này đòi hỏi người giáo viên phải nhận thức và vận d ng một cách đ ng đắn, sáng tạo thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận khoa học vào quá trình nghiên cứu vật lý nhằm
t ánh được các sai lầm phiến diện, giản đơn hay máy móc, giá điều trong công tác nghiên cứu c a mình
Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, nhiều sinh viên và giáo viên vật lý còn
có cái nhìn thờ ơ, chưa thật sự quan t m đến triết học, chưa thấy được tầm quan trọng c a triết học trong công tác giảng dạy và nghiên cứu,… Chính điều này đã làm hạn chế hiệu quả nghiên cứu cũng như khả năng nhận thức c a bản th n người giáo viên D đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là cần có một cơ sở lý luận nêu lên mối quan hệ giữa triết học và vật lý nhằm giúp các nhà vật lý có cái nh n đ ng đắn hơn
để vận d ng vào quá trình công tác c a bản thân Đặc biệt, vật lí cổ điển là một giai đoạn mà những thành tựu c a nó có rất nhiều đóng góp cho sự phát triển khoa học nhân loại Do vậy việc tìm hiểu sự phát triển c a vật lí cổ điển là thật sự cần thiết đối với sinh viên cũng như giáo viên vật lý
Chính vì những lý t ên mà tôi đã chọn thực hiện đề tài “Mối quan hệ giữa triết học và vật lí học cổ điển Ý nghĩa c a mối quan hệ này”
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Giới thiệu cho sinh viên, giáo viên vật lý cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa triết học và vật lý học cổ điển cùng với những ý nghĩa c a nó
Trang 53 Phương pháp nghiên cứu và nội dung nghiên cứu
Để đạt được m c tiêu nêu a, tôi đã tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu phương
pháp luận c a ch nghĩa Mac-Lênin và lịch sử vật lí học rồi ph n tích, đối chiếu và
cuối cùng trình bày lại sa ch người đọc có cái nhìn trực quan nhất Nội dung tôi
trình bày gồm những phần chính sau:
- Cơ sở lý luận chung về triết học và vật lí học:
o Triết học là gì
o Vật lí học là gì
o Ảnh hưởng c a triết học đối với vật lí học và ngược lại
- Mối quan hệ giữa triết học và vật lí học cổ điển:
o Mối quan hệ giữa triết học và vật lí cổ điển
o Ý nghĩa c a mối quan hệ này
4 Giới hạn của đề tài
Vật lí học là một phạm trù rất rộng lớn đã t ải qua nhiều giai đ ạn phát
triển từ vật lí cổ đại đến vật lí hiện đại Mỗi thời kì c a vật lí đều có mối quan hệ
tương ứng với một thời kì c a triết học Do hạn chế về thời gian nên t ng đề tài
này, tôi chỉ trình bày mối quan hệ giữa triết học và vật lí cổ điển
5 Ý nghĩa của đề tài
- Giúp bản thân nhận thức được sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa triết học với
vật lý học cổ điển Từ đó có cái nh n đ ng đắn hơn về tầm quan trọng c a bộ
môn triết học từ l u đã ít được quan tâm bởi hầu hết các sinh viên và giáo
viên
- Nhận thức được phương pháp nghiên cứu khoa học chung c a nhân loại
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
TRIẾT HỌC VÀ VẬT LÍ HỌC
T ng chương này, tôi sẽ trình bày lần lượt các vấn đề sau:
Khái niệm triết học
Khái niệm vật lí học
Ảnh hưởng c a triết học đối với vật lí học
Ảnh hưởng c a vật lí học đối với sự phát triển c a triết học
1.1 Khái niệm triết học
Triết học a đời vào khoảng thế kỉ thứ VIII đến thế kỉ thứ VI t ước công nguyên Trải qua quá trình phát triển, đã có nhiều quan điểm khác nhau về triết học nhưng khái quát lại, có thể cho rằng: triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất c a c n người về thế giới, về bản th n c n người và vị trí c a c n người trong thế giới đó [1]
Mãi đến những năm 40 c a thế kỉ XIX triết học Mác a đời Sự a đời c a triết học Mác không phải là một ngẫu nhiên mà là sự kết tinh có tính quy luật c a quá trình phát triển lịch sử tư tưởng triết học nhân loại và t ên cơ sở các điều kiện kinh
tế - xã hội cũng như t nh độ phát triển khoa học tự nhiên ở thế kỉ XIX [1]
Trong triết học Mác, phép biện chứng duy vật được xem là hình thức cao nhất trong lịch sử phát triển phép biện chứng; là thế giới quan, phương pháp luận phổ biến c a nhận thức và thực tiễn Nội dung c a phép biện chứng duy vật bao gồm hai nguyên lý, các cặp phạm t ù cơ ản và ba quy luật về sự vận động, phát triển c a tự nhiên, xã hội và tư uy
Sự biểu hiện c a các nội dung này thể hiện rất rõ trong quá trình phát triển c a vật lí học sẽ được trình bày ở các phần sau
1.2 Khái niệm vật lí học
Vật lí học là một môn khoa học nghiên cứu về ‘vật chất’ và ‘sự tương tác’ C thể thì vật lí học nghiên cứu về các quy luật vận động c a tự nhiên từ vi mô ch đến
Trang 7vĩ mô Từ lâu, vật lí học được xem là khoa học ch đạo c a nhóm ngành khoa học
tự nhiên vì những phát minh c a vật lí học cả trong quá khứ lẫn hiện tại không những mang lại cho chúng ta những quan niệm khoa học cơ ản mà còn trang bị cho chúng ta những công c hiệu quả để đà s u và mở rộng nhận thức đ ng đắn về thế giới
1.3 Ảnh hưởng của triết học đối với vật lí học
Mối quan hệ giữa triết học và vật lí học biến đổi trong quá trình phát triển c a triết học cũng như c a vật lí học
Ở thời cổ đại, vật lí học chưa tồn tại như một khoa học độc lập Tất cả tri thức
c n người cổ đại về tự nhiên đều tập trung trong một bộ môn duy nhất gọi là “t iết học tự nhiên” T iết học và tri thức về tự nhiên l c đó thống nhất làm một, và triết học giữ vị trí ch đạo, tri thức về tự nhiên chỉ mới là những tri thức khái quát nhất.[2]
Tới thế kỉ XVI – XVII, vật lí học và các khoa học tự nhiên trở thành các môn khoa học chuyên biệt, tách khỏi triết học, và tới thế kỉ XVII – XVIII cũng h nh thành triết học mới Triết học mới không còn bao gồm các khoa học tự nhiên, nó
ch yếu nghiên cứu những quy luật tổng quát nhất c a tồn tại và nhận thức, c a quan hệ giữa tư uy và tồn tại… Tuy nhiên ở một mức độ nhất định, nó vẫn tìm cách giải quyết những vấn đề thuộc đối tương nghiên cứu c a các khoa học tự nhiên như: ản chất c a vật chất, cấu trúc c a vật chất, tính chất vật lí c a không gian và thời gian…
Triết học duy vật biện chứng đã giải quyết đ ng đắn mối quan hệ giữa triết học và khoa học Duy vật biện chứng là cơ sở phương pháp luận và là phương pháp nhận thức c a mọi khoa học Nó không tự nhận là khoa học đứng trên các khoa học, không giải quyết các vấn đề c thể c a khoa học tự nhiên, không quyết định thuyết
vật lí nà là đ ng hay sai Lênin nhấn mạnh: “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
tâm khác nhau ở cách giải quyết thế này hay thế khác vấn đề về nguồn gốc nhận thức của chúng ta, về mối quan hệ của nhận thức với thế giới vật lí, còn vấn đề về
Trang 8cấu trúc của vật chất, về các nguyên tử và các electron, thì đó là một vấn đề chỉ có liên quan đến cái ‘thế giới vật lí’ đó mà thôi” [2]
Do vật lí học gắn liền với kĩ thuật, với sản xuất và nhiệm v hàng đầu c a nó
là ph c v việc sản xuất ra c a cải vật chất Vì vậy, mặc dù có ảnh hưởng to lớn, triết học cũng không thể làm thay đổi tiến trình phát triển c a vật lí học, nó chỉ có thể th c đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển đó mà thôi Những tư tưởng triết học về cấu trúc nguyên tử c a vật chất, về nguyên lí nhân quả, về sự bảo toàn vật chất và vận động… đã t ở thành những tư tưởng chỉ đạ có vai t ò th c đẩy mạnh mẽ sự phát triển vật lí học Trái lại, những hệ thống triết học ph nhận sự tồn tại c a nguyên tử và phân tử đã có ảnh hưởng tiêu cực, làm chậm ước tiến c a vật lí học Nói chung, các triết học duy vật đã có ảnh hưởng tích cực và các triết học duy
t m đã có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển vật lí học Tuy nhiên, trong các triết học uy t m cũng có những tư tưởng hợp lí th c đẩy sự phát triển c a vật lí học ở những giai đ ạn nhất định Trong quá trình phát triển c a vật lí học, những sắc thái duy tâm cản trở sự phát triển c a lí thuyết sẽ lần lượt được gạt bỏ để chỉ còn giữ lại cốt lõi đ ng đắn c a lí thuyết
1.4 Ảnh hưởng của vật lí học đối với sự phát triển của triết học
Vật lý học cung cấp những tài liệu, những tri thức khoa học làm căn cứ để
triết học đúc kết, rút ra những quy luật chung nhất, khái quát thành những nguyên lý triết học
T ước hết, chúng ta tìm hiểu về vai trò c a vật lý học đối với triết học Ngay
từ thời cổ đại, khi Vật lý học cũng như các ngành kh a học khác vẫn chưa tách ời khỏi triết học, các nhà vật lý học cũng đồng thời là các nhà triết học, toán học, sinh vật học…Và những tư tưởng đầu tiên về bức tranh c a thế giới a đời thể hiện những tư tưởng triết học đầu tiên về thế giới Trong số những tư tưởng đó, có tồn tại những tư tưởng duy vật ng y thơ, chất phát, đan en với những tư tưởng duy tâm
hi đó vấn đề thế giới quan được t nh ày khác nhau the quan điểm khác nhau
c a nhiều người Vào thời kỳ này, xuất hiện những tư tưởng vật lý học như tư tưởng
c a Aristote: “Một vật đang chuyển động sẽ dừng lại khi lực đẩy nó không thể tác
Trang 9dụng để đẩy nó đi nữa” Hay tư tưởng: “Vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ”, h ặc
“Trái đất là trung tâm của vũ trụ…” Những tư tưởng vật lý này được khái quát từ
những quan sát trực quan, theo kinh nghiệm c a c n người Đó chỉ là những phỏng
đ án, không được kiểm nghiệm, chứng minh Nhưng t nh độ nhận thức lúc bấy giờ chưa nhận ra những sai lầm trong những tư tưởng này, và nhiều người đã tin tưởng tuyệt đối vào chúng Do vậy, ở thời cổ đại, triết học và cả Vật lý học chưa có những ước phát triển đáng kể, chỉ là những tư tưởng rời rạc, mang đậm tính chất tôn giáo, duy tâm
Sau đó, khi vật lý học ngày càng phát triển và đ sức để tách ra thành một ngành khoa học c thể, độc lập với triết học thì cả vật lý học và triết học phát triển mạnh mẽ T ng giai đ ạn này, chúng ta có thể thấy õ hơn vai t ò c a vật lý học đối với triết học Và đầu những năm 40 c a thế kỷ XIX, C.Mac là một nhà duy tâm khách quan, ông rất xem trọng triết học Hêghen, tinh thần biện chứng cách mạng c a triết học Hêghen được Mác em như là một chân lý C.Mác cho rằng:
“tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở triết học Hêghen tuyệt nhiên
không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có
ý thức hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy Ở Hêghen phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất, chỉ cần dựng nó lại sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó đằng sau lớp vỏ thần bí” Và C.Mác đã ựa vào truyền thống
ch nghĩa uy vật triết học mà trực tiếp là ch nghĩa uy vật c a Phơ ách, đồng thời cải tạo ch nghĩa uy vật cũ, khắc ph c tính siêu hình và những hạn chế lịch sử
c a nó Từ đó Mác và Angghen y ựng nên học thuyết triết học mới, t ng đó ch nghĩa uy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ, gọi là ch nghĩa uy vật biện chứng, một hình thức mới, một giai đ ạn phát triển cao c a ch nghĩa uy vật triết học [4]
Sự h nh thành tư tưởng triết học mới c a Mác diễn ra trong sự tác động qua lại với quá trình ông cải tạo các lý luận về kinh tế, xã hội Cùng với nguồn gốc lý luận, những thành tựu c a khoa học tự nhiên có vai trò quan trọng không thể thiếu được cho sự a đời c a triết học Mác Những phát minh lớn c a khoa học tự nhiên làm
Trang 10bộc lộ rõ tính hạn chế, chật hẹp và bất lực c a phương pháp tư uy siêu h nh trong việc nhận thức thế giới, đồng thời cung cấp cơ sở tri thức khoa học để phát triển tư duy biện chứng, hình thành phép biện chứng duy vật Trong số những thành tựu c a khoa học tự nhiên, có ba phát minh nổi bật có ý nghĩa đối với sự hình thành triết học duy vật biện chứng được ác định là: thuyết bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tế bào và thuyết tiến hoá Thuyết bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
đã ch thấy vật chất gắn liền với vận động, vận động không do ai sinh ra và không thể bị tiêu diệt Thuyết tiến hóa đã khẳng định nguồn gốc sinh vật c a c n người, xoá bỏ những quan điểm duy tâm cho rằng nguồn gốc c n người từ thần thánh Thuyết tế bào tiếp t c khẳng định c n người có liên hệ với thế giới sinh vật, bác bỏ những ám ảnh về tôn giáo Và những phát minh t ên đã khẳng định c n người là một bộ phận c a giới tự nhiên, c n người thuộc về thế giới hữu sinh Theo
Angghen, với những phát minh lớn c a khoa học tự nhiên đã làm ch “quan niệm
mới về giới tự nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơ bản, tất cả những cái gì cứng nhắc đều bị tan rã, tất cả những cái gì cố định đều bị tan thành mây khói, và tất cả những cái gì đặc biệt mà người ta cho là tồn tại vĩnh cửu thì đã trở thành nhất thời, và người ta đã chứng minh rằng toàn bộ giới tự nhiên đều vận động theo một dòng và một tuần hoàn vĩnh cửu”.[4] Như vậy, qua quá trình hình thành quan
điểm duy vật biện chứng ở C.Mac, ta có thể thấy những thành tựu c a khoa học tự nhiên đã đóng một vai trò rất quan trọng, giúp C.Mác khái quát nên những tư tưởng triết học phù hợp với thời đại, giúp triết học trở thành một ngành có tác d ng định hướng cho các ngành khoa học khác
Những thành tựu của khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lí học làm sáng tỏ, khẳng
định tính chất đúng đắn của những nguyên lý, những quy luật của triết học
Những tư tưởng triết học được khái quát từ những thành tựu c a khoa học tự nhiên, sau khi xuất hiện và thực hiện vai t ò định hướng c a m nh đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn, có thể vẫn chưa được hoàn thiện, còn sai lầm hi đó, những thành tựu tiếp theo c a khoa học tự nhiên lại tiếp t c ảnh hưởng lên triết học với vai trò khẳng định, làm sáng tỏ những tư tưởng đ ng hay l ại bỏ, bổ sung những tư
Trang 11tưởng chưa h àn thiện Chẳng hạn, từ thời cổ đại, đã uất hiện những giả thuyết về nguyên tử: sinh vật chia mãi, chia mãi, đến một lúc nào đó không chia được nữa gọi
là nguyên tử, nguyên tử là hạt vật chất nhỏ nhất, là khởi nguyên c a thế giới Nguyên tử là hạt nhỏ nhất, đó nó không có cấu t c và nó đồng nhất về chất lượng, nguyên tử có vô vàn hình dạng nhưng không khác nhau về bản chất Từ đó, xuất hiện quan điểm triết học vật chất là vô cùng vô tận.[4] Tuy nhiên, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vật lý học hiện đại đã đi s u và nghiên cứu thế giới vi mô và phát hiện ra những hạt elect n, p t n, nơtron, từ đó khẳng định rằng nguyên tử chưa phải là hạt nhỏ nhất cấu tạo nên vật chất Ngày nay, các nhà khoa học đã t m
ra gần 300 hạt trong cấu trúc nguyên tử Những phát minh này giúp khẳng định, làm sáng tỏ thêm tư tưởng triết học rằng thế giới vật chất là vô cùng vô tận Sau này, Lênin đã kế thừa những quan điểm triết học t ước đ y và những thành tựu khoa học
để ch a đời “Luận điểm về tính vô tận c a thế giới”
Những thành tựu của khoa học tự nhiên nói chung và những thành tựu vật lí
học chuyên ngành nói riêng giúp cho triết học nhận ra những hạn chế của mình và thúc đẩy triết học bổ sung, hoàn thiện những tư tưởng đã được xem
là chân lý trong quá khứ, để phù hợp với yêu cầu hiện tại và tiếp tục định hướng cho tương lai
Vào thế kỷ XIX, trong lịch sử triết học và khoa học, người ta nói đến phương pháp siêu hình là một phương pháp nhận thức khoa học, được đưa và kh a học từ nửa cuối thế kỷ XV và là yếu tố quan trọng th c đẩy sự phát triển c a khoa học Đó
là phương pháp nhận thức áp d ng trong khoa học với nội dung là tập hợp, phân loại các tài liệu, sau đó mới so sánh, phân tích chia ra từng loại, từng hạng và tìm mối quan hệ giữa các đối tượng tĩnh tại Về phương pháp này, Angghen nhận xét:
“Những phương pháp nghiên cứu ấy cũng đồng thời truyền lại cho chúng ta thói
quen là xem xét các sự vật và các quá trình tự nhiên trong trạng thái cô lập của chúng, ở bên ngoài mối quan hệ to lớn chung, và đo đó không xem xét chúng trong vận động mà là trong trạng thái tĩnh, không xem xét chúng về căn bản là biến hóa
mà lại vĩnh viễn, cố định, không xem xét chúng trong trạng thái sống mà lại xem xét
Trang 12chúng trong trạng thái chết”.[4] Và khi những nhận ét này được Bêcơn và Lốccơ
đem từ khoa học tự nhiên sang triết học th nó đã tạo ra một sự hạn chế đặc biệt c a những thế kỷ vừa qua, tạ a phương pháp tư uy siêu h nh Như vậy, từ một phương pháp nhận thức khoa học, khi chuyển sang triết học đã t ở thành một phương pháp tư uy có ý nghĩa phổ biến trong các hoạt động khoa học thời bấy giờ
và cả trong mọi hoạt động c a c n người
Tuy nhiên, ta cũng đã có đề cập đến những hạn chế c a phép siêu hình và ch nghĩa uy t m đã nhằm vào những khó khăn này để tấn công vào ch nghĩa uy vật
D đó yêu cầu đặt ra là phải tìm cách khắc ph c những hạn chế c a phép siêu hình Nhưng phép siêu h nh vẫn tiếp t c tồn tại trong thời gian dài, và nó chỉ được thay thế khi xuất hiện cuộc kh ng hoảng trong vật lý học
Quá trình phát triển c a vật lý học luôn gắn liền với việc c ng cố và mở rộng các quan niệm nền tảng (nguyên lý, luận điểm cơ ản và tổng quát) c a vật lý học Quá trình này làm cho bức tranh vật lý học về thế giới được mở rộng không ngừng,
và cuối cùng, nó sẽ thay đổi Cơ chế c a quá trình này có thể được mô tả tóm tắt như sau:
- T ước tiên, trong lịch sử khoa học hình thành những yếu tố cơ sở c a bức tranh vật lý học đầu tiên, những yếu tố này xuất hiện từ trong quá trình tổng hợp tài liệu kinh nghiệm dựa theo những ý tưởng triết học nà đó tương ứng
- Sau đó, sử d ng các công c toán học phù hợp để xử lý các tài liệu kinh nghiệm và những yếu tố cơ sở đó c a bức tranh khoa học đầu tiên nhằm tiến tới xây dựng một lý thuyết vật lý học cơ ản Lý thuyết này đóng vai t ò
"thước đ " hay "khuôn mẫu” ch các lý thuyết khác được xây dựng trong khuôn khổ bức t anh đó
- Quá trình phát triển tiếp theo là mở rộng bức t anh để bao quát một hiện tượng vật lý khả ĩ, hay nói cách khác, mọi hiện tượng vật lý có thể xảy ra đều có một vị trí hợp lý trong bức tranh Quá trình này đưa đến sự hình thành nhiều lý thuyết mới mang tính ứng d ng và c thể Tuy nhiên, nếu không sớm thì muộn, những nghiên cứu kinh nghiệm cũng ghi nhận được những tài