Luận Văn: Thực trạng và giải pháp quản lý và sử dụng đất làng nghề truyền thống Bát Tràng
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nhờ có chủ trương, đường lối, chính sáchkhuyến khích khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống của Đảng và
Trang 2nhà nước ta thì các làng nghề truyền thống đã có sự phát triển mạnh mẽ, sốlượng các làng nghề tăng nhanh , nhiều nghề truyền thống có nguy cơ bị maimột, thất truyền nay được khôi phục và phát triển trở lại Các làng nghềtruyền thống phát triển đã tạo ra những chuyển biến mới trong đời sống xã hội
ở nông thôn, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá -hiện đại hoá nông thôn, gópphần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sốngdân cư trong vùng, hạn chế được việc dịch chuyển lao động không có việclàm từ nông thôn ra thành thị, tạo ra một khối lượng hàng hoá đa dạng vàphong phú phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, góp phần quan trọng vào sự pháttriển kinh tế xã hội của cả nước và đồng thời góp phần gìn giữ bản sắc vănhoá dân tộc…Điều này thể hiện đường lối khôi phục và phát triển làng nghềtruyền thống của Đảng và nhà nước ta là một hướng đi đúng đắn góp phầncho sự nghiệp phát triển đất nước thời kì hiện nay Tuy nhiên, song song với
đó thì sự phát triển làng nghề truyền thống cũng đã phát sinh nhiều vấn đềbức xúc, ảnh hưởng trực tiếp đến chính các làng nghề, cũng như sự phát triểnbền vững kinh tế - xã hội của vùng nông thôn và của cả nước Vấn đề quantrọng và nổi bật nhất chính là việc quản lý và sử dụng đất làng nghề truyềnthống và tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng tại các làng nghề này Bởivấn đề này có sự tác động mạnh mẽ đến sự phát triển chung về các mặt kháccủa các làng nghề truyền thống Hiện nay, do sự phát triển mạnh mẽ của cáclàng nghề, nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất tăng nhanh đòi hỏi cần có mặtbằng sản xuất lớn hơn Trong khi quỹ đất lại rất hạn hẹp Tình trạng sử dụngđất ở, đất khu dân cư làm cở sở sản xuất ở các làng nghề truyền thống là rấtphổ biến Phần lớn các làng nghề đều thiếu quy hoạch chi tiết hoặc đã cóquy hoạch thì chất lượng quy hoạch sử dụng đất còn thấp, nhiều điểm chưaphù hợp với thực tiễn Chính vì vậy mà tình trạng ô nhiễm môi trường trầmtrọng tại các làng nghề vẫn chưa được giải quyết, gây ảnh hưởng nghiêm
Trang 3trọng đến sức khoẻ dân cư tại đây cũng như các vùng lân cận Một số làngnghề đã có quy hoạch sử dụng đất chi tiết, hướng hình thành các cụm côngnghiệp làng nghề nhằm giải quyết vấn đề thiếu mặt bằng sản xuất và giảmthiểu ô nhiễm môi trường Song trên thực tế vẫn còn gặp nhiều vướng mắc vàbất cập trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch …Như vậy có thể nóiviệc quản lý và sử dụng hợp lý đất tại các làng nghề truyền thống là vấn đề có
ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự phát triển chung của các làng nghề,cũng như sự phát triển của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn công nghiệphoá - hiện đại hoá đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay Trong thời gian thựctập, xét thấy tầm quan trọng của vấn đề trên, em đã quyết định chọn đó làmnội dung chuyên đề thực tập của mình Và thông qua kết quả của quá trình đithực tế tại các địa phương của bản thân, em đã chọn làng nghề truyền thốngBát Tràng thuộc địa phận xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội với nghềtruyền thống là sản xuất đồ gốm sứ làm cơ sở thực tiễn điển hình cho việcđánh giá và đưa ra các giải pháp quản lý và sử dụng đất tại làng nghề truyền
thống trong luận văn với tên đề tài : “ Thực trạng và giải pháp quản lý và
sử dụng đất làng nghề truyền thống Bát Tràng.”
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn:
Việc thực hiện luận văn nghiên cứu với mục tiêu thông qua những đánhgiá về tình hình quản lý và sử dụng đất tại một làng nghề điển hình để có cáinhìn chung nhất về tình hình tại các làng nghề truyền thống khác và từ đó cónhững giải pháp cơ bản, thiết thực có thể áp dụng cho những vấn đề nổi cộmchung của sự phát triển các làng nghề hiện nay ở nước ta
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Làng nghề truyền thống có nhiều vấn đề cần nghiên cứu, đánh giá nhưkinh tế, văn hóa truyền thống, xã hội, môi trường…Tuy nhiên trong phạm vicủa luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề quản lý, sử dụng đất đai
Trang 4làng nghề truyền thống và đề xuất những giải pháp quản lý và sử dụng hợp lýđất làng nghề truyền thống cho giai đoạn tiếp theo Trong đó cũng nghiên cứumột cách tổng quan về kinh tế , xã hội, môi trường nhằm phục vụ cho nghiêncứu vấn đề chính.
Đất làng nghề truyền thống cũng chia thành 3 nhóm: Đất nông nghiệp,Đất phi nông nghiệp, Đất chưa sử dụng Nhưng trong phạm vi của đề tài chỉtập trung nghiên cứu, đánh giá về quản lý và sử dụng một số loại đất như: đất
ở ; đất khu dân cư ; đất cơ sở sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp; đất giaothông và cơ sở hạ tầng kỹ thuật của xã Bát Tràng
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn :
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết : sưu tầm, đọc và nghiên cứu các tàiliệu trong nước và nước ngoài có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra, phỏng vấn, thu thập thôngtin , số liệu từ phía chính quyền địa phương và người dân tại địa bàn điều tra
- Phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp, phân tích thông tin, sốliệu… từ đó đưa ra những đánh giá khách quan và thực tế nhất Thu thậpnhững ý kiến của những người nghiên cứu có kinh nghiệm kết hợp vói việcvận ding kế thừa và phát triển những nghiên cứu, những đề tài , dự án có liênquan
5 Nội dung cơ bản của chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận , luận văn gồm:
Chương 1: Tổng quan về làng nghề truyền thống và vấn đề quản lý , sử
dụng đất làng nghề truyền thống
Chương 2: Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất làng nghề
truyền thống Bát Tràng , tù đó đưa ra những nguyên nhân , tồn tại vướng mắctrong việc quản lý , sử dụng đất làng nghề truyền thống Bát Tràng
Trang 5Chương 3: Đề ra những giải pháp quản lý và sử dụng đất làng nghề
truyền thống Bát Tràng
Trang 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG
1.1 Khái niệm và tiêu chí làng nghề truyền thống
1.1.1 Một số khái niệm
Ở Nông thôn Việt Nam, Làng đã được hình thành và phát triển từ thời
xa xưa trong lịch sử đất nước Làng được dùng để chỉ tụ điểm dân cư truyền
thống của người nông dân Việt, có ranh giới riêng, có cơ cấu tổ riêng …nhưng lại rất chặt chẽ và hoàn chỉnh do có tính liên kết chặt chẽ bằng tìnhcảm, họ tộc, phong tục tập quán riêng Mỗi một làng đều có những nét truyềnthống riêng biệt về phong tục, tập quán, lối sống Vì vậy đều có những bản
sắc văn hoá riêng của làng Làng Quan niệm về làng vẫn chưa có sự thống
nhất chung nhưng đều có những điểm chung và có thể hiểu như sau:
Làng là một thuật ngữ để nói về khối dân cư ở nông thôn gồm nhiều gia
đình sinh sống quần tụ và có sự liên kết nhất định hình thành một khối kháthống nhất
Từ trước đến nay, nông nghiệp luôn gắn với nông thôn Người nôngdân luôn coi sản xuất nông nghiệp là công việc chính của họ để tạo ra vật chấtphục vụ đời sống gia đình Sản xuất nông nghiệp với đặc trưng là theo mùa
vụ , có nghĩa là ngoài thời kỳ mùa vụ thì nông nhân có khoảng thời gian nôngnhàn Và ngành nghề ở nông thôn phát triển ra, tạo công ăn việc làm và thunhập cho người dân lúc nông nhàn đó Ngành nghề dần lan rộng ra và hìnhthành những làng nghề Cũng có rất nhiều quan niệm về làng nghề Tựuchung lại, ở đây có thể coi khái niệm làng nghề như sau:
Làng nghề : Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư thôn, ấp, bản,
làng, buôn, phun, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã , thị
Trang 7trấn , có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loạisản phẩm khác nhau
Làng nghề Việt Nam đã hình thành và phát triển rất phong phú và đadạng về lịch sử quá trình hình thành và phát triển, về quy mô và về ngànhnghề của làng Trong quá trình phát triển, làng nghề được lan rộng và theolịch sử hình thành và phát triển có làng nghề truyền thống và làng nghề mới
Nghề truyền thống là nghề đã đươc hình thành từ lâu đời, tạo ra những
sản phẩm độc đáo , có tính riêng biệt , được lưu truyền và phát triển đến ngàynay hoặc có nguy cơ bị mai một , thất truyền
Làng nghề truyền thống : là làng nghề có nghề truyền thống được hình
thành lâu đời, trải qua thử thách của thời gian , vẫn được duy trì, phát triển vàđược lưu truyền từ đời này sang đời khác
Làng nghề truyền thống có lịch sử phát triển lâu đời với nghề truyềnthống Qua quá trình phát triển lâu dài, làng nghề truyền thống hình thành lênnhững nét văn hoá đặc trưng của riêng làng và đó chính là nét văn hoá truyềnthống Những ngày hội làng, ngày giỗ tổ nghề…luôn được coi trọng và gìngiữ ở làng nghề truyền thống Ở đó, những nét văn hoá đặc trưng của nôngthôn Việt Nam luôn tồn tại Là nơi hội tụ những thuần phong mỹ tục, đoànkết cộng đồng, tinh hoa nghề nghiệp, nếp sinh hoạt quần cư Nghề truyềnthống cùng những nét văn hoá truyền thống được lưu truyền từ thế hệ này quathế hệ khác
Trang 8mang tính bản sắc văn hoá dân tộc (3) Nghề gắn với tên của nghệ nhân hayđịa danh của làng nghề
Tiêu chí công nhận là làng nghề : làng nghề được công nhận phải đạt 3tiêu chí : (1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt độngngành nghề nông thôn (2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận (3) Chấp hành tốt chính sách,pháp luật của Nhà nước
Tiêu chí công nhận là làng nghề truyền thống: Phải đạt tiêu chí làng nghề
và có ít nhất một nghề truyền thống theo khái niệm nói trên Nếu chưa đạt tiêuchuẩn số hộ tối thiểu như đã quy định tại tiêu chí công nhận làng nghề thìcũng phải có ít nhất một nghề thống được công nhận là làng nghề truyềnthống
Ngoài những tiêu chí chung đưa ra ở trên, mỗi địa phương sẽ quy định
cụ thể dựa trên thực tế địa phương Còn đưa ra các tiêu chí về lao động, số hộ,giá trị sản xuất và thu nhập từ nghề truyền thống Làng nghề được công nhận
là làng nghề truyền thống , ngoài những tiêu chí còn phải là làng nghề đã xuấthiện tại địa phương trên 50 năm, sản phẩm có tính cách riêng biệt mang đặcthù riêng của địa phương, được nhiều nơi biết đến , sản phẩm có giá trị kinh
tế , văn hoá cao
1.1.3 Vai trò của sự khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta
Từ lâu đời nay ngành nghề truyền thống đã đóng một vai trò quan trọngtrong phát triển nông nghiệp nông thôn nói riêng và sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội của cả nước nói chung Thực tế trong những năm qua đã cho thấy
rõ vai trò của việc khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống trong sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang diễn ra mạnh mẽ hiệnnay Theo thống kê thì hiện nay cả nước có khoảng 2000 làng nghề, trong đó
Trang 9có khoảng 1/3 là làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển Trongnhững năm thực hiện đường lối mới của Đảng và Nhà nước ta, nhất là 10 nămtrở lại đây, kinh tế làng nghề đã có bước phát triển đáng kể, thu hút một lượnglớn lao động, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, thực hiện xoáđói, giảm nghèo, cải thiện đời sống người dân ở nông thôn Sản phẩm làngnghề không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn vươn tới nhiềuthị trường nước ngoài lớn… Sự phát triển của các làng nghề truyền thống đãtạo ra những chuyển biến to lớn trong đời sống xã hội nông thôn :
Một là, Tạo ra một khối lượng hàng hoá đa dạng, phong phú phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Các làng nghề truyền thống đang dần
được khôi phục và phát triển đã tạ ra khối lượng hàng hoá đa dạng và phongphú không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn vươn tới nhiềuthị trường nước ngoài Mỗi một làng nghề lại có một nghề đặc trưng , sảnphẩm mang tính riêng biệt, độc đáo và đậm tính văn hoá của mỗi vùng miền
ví dụ như : Gốm sứ Bát Tràng, Tranh Đông Hồ, mây tre đan Dương Quang,Giấy Dương Ổ…Những sản phẩm làng nghề rất phong phú và đa dạng, xuấtkhẩu sản phẩm làng nghề trong những năm qua đóng vai trò quan trọng choviệc đóng góp giá trị gia tăng nền kinh tế mỗi địa phương nói riêng và cảnước nói chung Các sản phẩm làng nghề Việt nam đã có mặt ở nhiều nướctrên thế giới, trong đó có các thị trường lớn như Hoa Kì, EU, Nhật Bản …Năm 1999, xuất khẩu sản phẩm làng nghề cả nước đạt 6,8 triệu USD, năm
2000 là 30 triệu USD và năm 2005 đạt 70 triệu USD…
Hai là, Phát triển làng nghề truyền thống là biện pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn Người lao động ở nông thôn
chủ yếu là làm nông nhiệp cho thu nhập thấp, tình trạng thiếu việc làm là phổbiến , nhất là những lúc nông nhàn Chính vì vậy có sự dịch chuyển lao động
ồ ạt từ nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm, gây sức ép quá tải cho các
Trang 10thành phố, nhất là đối với những thành phố lớn Trong những năm qua, Khicác làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển đã tạo việc làm chohơn 60 vạn lao động thường xuyên ở nông thôn , khoảng 30 vạn lao động làmviệc theo thời vụ chiếm 39,5% lực lượng lao động nông thôn Có những làngnghề phát triển , các hộ trong làng đã chuyển hết sang sản xuất kinh doanhnghề truyền thống, không làm nông nghiệp nữa ví dụ như : Bát Tràng ( HàNội) Cả nước có 1,4 triệu hộ tham gia sản xuất nghề và có nguồn thu nhậpchính từ nghề thủ công, đã phần nào giải quyết được tình trạng thiếu việc làm
ở nông thôn Nhiều làng nghề sau khi được khôi phục và phát triển đã tậndụng được nhiều lao động dư thừa trước đây Nhiều làng nghề tạo việc làmcho cả người già và trẻ em Không những thế , các làng nghề còn thu hút laođộng của vùng lân cận đến làm thuê tại làng Ví dụ ở Bát Tràng hàng ngày thuhút từ 4.000-5.000 lao động từ các xã khác xung quanh đến làm thuê
Ba là, Góp phần thúc đẩy gia tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân cư ở nông thôn và tăng tích luỹ Thu nhập của người dân ở các làng nghề không
ngừng tăng lên Trước đây khi làng nghề chưa phát triển, sản xuất nghề truyềnthống mới chỉ được coi là nghề phụ gắn với sản xuất nông nghiệp để giảiquyết việc làm lúc nông nhàn Hiện nay ở nhiều làng nghề phát triển, thunhập từ làm nghề truyền thống đã trở thành thu nhập chính của các hộ giađình Thu nhập bình quân đầu người của một lao động làm nghề đã cao gấp 2-
3 lần lao động thuần nông Nhiều làng nghề không còn hộ gia đình nào sảnxuất nông nghiệp thay vào đó là sản xuất, kinh doanh nghề truyền thống Thunhập của người dân tăng cao, họ có điều kiện để cải thiện đời sống gia đình.Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được tăng lên Người dân cũng
có điều kiện tự cải tạo hệ thống cở hạ tầng kỹ thuật và xã hội của địa phươngphục vụ cho đời sống sinh hoạt và sản xuất Phát triển làng nghề truyền thống
Trang 11cũng đã thu hút mạnh mẽ nguồn vốn dư thừa trong nhân dân để đầu tư chosản xuất.
Bốn là, Phát triển làng nghề truyền thống làm chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, đóng vai trò quan trọng cho sự nghiêp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn Sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã có tác dụng tích
cực cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọngngành công nghiệp , tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, giảm tỉ trọngngành nông nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội Đồng thời chuyển dịch cơ cấulao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.Những công trình cơ sở hạ tầng nông thôn được xây dựng phục vụ sản xuất vàsinh hoạt Hệ thống giao thông nông thôn trong các làng, xóm đã được quantâm đầu tư nâng cấp, mở rộng và làm mới Các công trình điện đã được đầu tưnâng cấp và phát triển; sản lượng điện tiêu thụ hàng năm tăng lên nhanhchóng, thông tin liên lạc thường xuyên được đầu tư, nâng cấp Hệ thống cơ sởdịch vụ ngày càng phát triển Đời sống dân cư nông thôn nhờ đó cũng đượccải thiện theo hướng hiện đại hoá , dần rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữathành thị và nông thôn
Năm là, Góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc Nghề truyền thống
gắn liền với làng tạo nên nét đặc trưng của làng nghề truyền thống ở nôngthôn Việt Nam Khi nghề truyền thống được khôi phục và phát triển , songsong với lối sống hiện đại hoá do đời sống được cải thiện, những phong tụctruyền thống của làng cũng được khôi phục và gìn giữ như ngày hội làng ,ngày giỗ tổ của nghề…Văn hoá truyền thống cũng được thể hiện qua nhữngsản phẩm của làng nghề Nét văn hoá truyền thống cũng được gìn giữ và thểhiện qua những sản phẩm mang tính nghệ thuật như các sản phẩm gốm sứ ,trạm khảm, mây tre đan, dệt, tranh …Phát triển làng nghề truyền thống khôngchỉ góp phần mang lại lợi ích kinh tế mà còn là yếu tố rất quan trọng tạo sự
Trang 12liên kết gắn bó con người, tạo nên mối quan hệ “tình làng nghĩa xóm” gắn bóvới nhau hơn, mọi người cùng có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau, nương tựavào nhau
1.2 Vị trí, vai trò của quản lý, sử dụng hợp lý đất làng nghề truyền thống cho sự phát triển bền vững của làng nghề
Thực tế những năm qua đã chỉ rõ vai trò quan trọng của sự phát triểnlàng nghề góp phần vào quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đang diễn ramạnh mẽ nói riêng và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nóichung Điều đó thể hiện chủ trương khôi phục và phát triển làng nghề truyềnthống của Đảng và Nhà nước ta là một hương đi đúng đắn Tuy nhiên chính
sự phát triển của những làng nghề này cũng đã và đang phát sinh ra nhiều vấn
đề bức xúc ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của các làng nghề,cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Một trong nhữngvấn đề quan trọng, không thể coi nhẹ đó là vấn đề quản lý và sử dụng đất tạicác làng nghề Chúng ta đều biết đất đai đóng một vai trò rất quan trọng , ảnhhưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tất cả các ngành, lĩnh vực …Và đối với cáclàng nghề truyền thống ở nông thôn thì đất đai càng có vai trò to lớn gópphần vào sự phát triển của các làng nghề này Có rất nhiều vấn đề bức xúcđang tồn tại ở các làng nghề, đặc biệt là những làng nghề đang phát triểnmạnh hiện nay Nhưng có thể nói vấn đề quản lý và sử dụng đất làng nghề cóảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các làng nghề bởi nó tác động trực tiếphoặc gián tiếp tới các vấn đề bức xúc khác đang tồn tại ở làng nghề truyềnthống Tình trạng chung ở các làng nghề truyền thống hiện nay :
Hầu hết các cơ sở sản xuất nghề truyền thống đều được hình thành ngaytrong khu dân cư, gắn liền với nơi sinh sống của các hộ sản xuất Vì muốntận dụng diện tích đất trong khuôn viên đất ở làm cơ sở sản xuất, kinh doanhnên các hộ gia đình đã kết hợp sử dụng mặt bằng đất ở vừa để ở, sinh hoạt
Trang 13vừa làm mặt bằng xây dựng xưởng sản xuất, làm kho để chứa nguyên vật liệu,
thành phẩm … Diện tích đất ở đã nhỏ hẹp, lại bị phân lô, chia nhỏ cho các
chức năng khác phục vụ cho sản xuất nghề truyền thống gây ảnh hưởng lớnđến đời sống, sức khoẻ của người dân Nhiều cơ sở sản xuất ở những làngnghề với nghề truyền thống sản xuất đồ cơ kim khí, đồ gỗ, đồ gốm sứ …không có mặt bằng sản xuất đã lấn chiếm đất công cộng , đất giao thông , ao
hồ, kênh mương …để tập kết vật tư , hàng hoá do đặc tính của những nghềtruyền thống này yêu cầu cần phải có mặt bằng rộng Môi trường sống ở cáclàng nghề đang bị huỷ hoại một cách nghiêm trọng do sự phát triển quá mức,
tự phát , bất hợp lý của các làng nghề trong khu dân cư và do hệ thống cơ sở
hạ tầng chưa được cải tạo, tu bổ cho phù hợp Sự phát triển của các làng nghềtruyền thống diễn ra dưới sự tác động của quá trình công nghiệp hoá , hiện đạihoá, quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay cho nên nhu cầu mởrộng quy mô sản xuất của các làng nghề là rất lớn có nghĩa là nhu cầu về mặtbằng sản xuất cũng tăng lên nhiều Nghề truyền thống được khôi phục và pháttriển, người dân có việc làm, tăng thu nhập từ nghề truyền thống đã giúp họ
có khả năng cải thiện cuộc sống từ đó đã thúc đẩy, kéo theo sự phát triển củacác dịch vụ sinh hoạt và dịch vụ xã hội khác tại các làng nghề Đòi hỏi nhucầu về đất đai để phân bổ cho các mục đích đó cũng tăng lên Một số làngnghề đã thu hút được một lượng lớn lao động từ các vùng lân cận làm cho mật
độ dân cư cư trú, mật độ sinh hoạt cũng tăng cao Những vấn đề bức xúc này
đã và đang tạo ra những thách thức lớn cho sự phát triển bền vững của cáclàng nghề, nhất là khi mà nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, nhu cầu pháttriển trong tương lai ở các làng nghề là rất lớn Thực trạng này đòi hỏi cần cónhững giải pháp hữu hiệu trong việc quản lý và kiểm soát của các địa phương.Công tác quy hoạch sử dụng đất tại các làng nghề hầu như chưa được coitrọng Trong khi cần phải có những tiêu chuẩn , những quy định riêng về quản
Trang 14lý , sử dụng đất làng nghề cho hợp lý với tính chất của các làng nghề thì việcquy hoạch sử dụng đất tại các làng nghề vẫn còn chung chung giống như cácđịa phương khác, chưa cụ thể, chưa mang đặc tính riêng Quy hoạch không dựbáo chính xác nhu cầu phát triển nên gây ra sự thiếu, thừa trong sự phân bổcho các mục đích khác nhau Việc quản lý đất đai, xây dựng còn yếu kém,không kiểm soát được sự hình thành các cơ sở sản xuất ngành nghề truyềnthống một cách tự phát, lẫn lộn, chen chúc trong khu dân cư gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng và gây ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân.Việc quy hoạch, xây dựng những cụm công nghiệp làng nghề ở một số làngnghề đã có nhiều điểm tích cực, nhất là trong việc giảm thiểu ô nhiễm môitrường và tăng hiệu quả đầu tư phát triển nghề truyền thống Tuy nhiên việcthực hiện xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề này còn chậm tiến độ docông tác đền bù giải phóng mặt bằng chậm, vẫn còn tồn tại nhiều điều bấtcập trong việc giao đất, cho thuê đất trong cụm công nghiệp làng nghề, nhữngquy định về nó chưa có tính thống nhất …
Như vậy, việc quản lý và sử dụng đất hợp lý tại các làng nghề truyềnthống có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững củachính các làng nghề này và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.Nhất là vào giai đoạn tới khi công cuộc công nhiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
là nhu cầu bức thiết, quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước
1.3 Chủ chương, chính sách của nhà nước về vấn đề quản lý, sử dụng đất hợp lý phục vụ cho phát triển làng nghề truyền thống
1.3.1 Chủ trương, đường lối về sự phát triển các ngành nghề nông thôn, làng nghề truyền thống
Thời kỳ trước đổi mới, khi đất nước vừa bước vào thừo kỳ khôi phụckinh tế sau chiến tranh , Đảng và nhà nước ta đã thấy rõ được tầm quan trọngcủa ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn đối với sự nghiệp khôi phục
Trang 15và phát triển kinh tế - xã hội đất nước Thời kỳ này Đảng và nhà nước ta đã cónhiều Nghị quyết, chỉ thị đề ra phương hướng, biện pháp khôi phục và pháttriển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như : Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IV ( 1977) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1981) tiếp chủ trương khôiphục và phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn ; đặc biệt là
khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống “ Thủ công nghiệp và
tiểu thủ công nghiệp có vị trí quan trọng lâu dài trong nền kinh tế quốc dân , cần được đặc biệt chú ý khôi phục và phát triển mạnh , nhất là những ngành nghề thủ công cổ truyền và mỹ nghệ ở các địa phương.”
Bước vào thời kỳ đổi mới, Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (05/04/1988)
đã triển khai chủ trương, đường lối của Đảng tại Đại hội Đảng bộ toàn quốclần thứ VI về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, vận tải dịch vụ ởnông thôn dưới nhiều hình thức, trong từng vùng và tiểu vùng Chú trọng đầu
tư xây dựng những cơ sở sản xuất với quy mô vừa và nhỏ nhưng kỹ thuật hiệnđại , công nghệ thích hợp để tạo nhiều mặt hàng tiêu dùng trong nước và xuấtkhẩu có giá trị cao ra thị trường nước ngoài Thực tế kết quả của quá trìnhphát triển đã thể hiện chủ trương khôi phục và phát triển ngành nghề truyềnthống , làng nghề truyền thống của Đảng và nhà nước ta là một hướng đi đúngđắn Chủ trương này luôn được đề cập trong các văn kiện của các kỳ Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX của Đảng với mục tiêu thúc đẩy quá trìncông nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn theo đường lối đổi mớicủa Đảng ; Tại Hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành Trung ương Đảngkhoá IX đã ra Nghị quyết về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nôngnghiệp , nông thôn thời kỳ 2001-2010 , trong đó đã chỉ rõ việc phát triển kếtcấu hạ tầng và đô thị hoá nông thôn cũng như vạch ra giải pháp về quy
hoạch :’’ Quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn phải dặt trong tổng
thể chung của cả nước , trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển
Trang 16mạnh mẽ của khoa học, công nghệ …Quản lý, cập nhật thông tin kịp thời điều chỉnh quy hoạch ; Quy hoạch xây dựng xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội ; quy hoạch phát triển khu dân cư, xây dựng làng xã, thị trấn …giữ gìn
bản sắc văn hoá dân tộc” Năm 2006 , chính phủ ban hành Nghị định 66/
2006 /NĐ-CP (ngày 07/07/2006) về phát triển ngành nghề nông thôn , trong
đó nhấn mạnh chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề bao gồm: bảo tồn,phát triển làng nghề truyền thống, phát triển làng nghề gắn với du lịch, pháttriển làng nghề mới, phong tặng nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân nhân dân,thương hiệu làng nghề thủ công nởi tiếng cho những đơn vị, cá nhân có côngbảo tồn, phát triển ngành nghề thủ công truyền thống, ngành nghề mới ở nôngthôn
1.3.2 Chính sách về quản lý , sử dụng đất đai nhằm duy trì và phát triển bền vững làng nghề truyền thống :
Trong những năm qua , thực hiện chủ trương khôi phục và phát triểnngành nghề , nhất ngành nghề truyền thống ở nông thôn Nhà nước đã đưa ranhững chính sách về các mặt khác nhau nhằm định hướng, khuyến khích, hỗtrợ cho các làng nghề truyền thống phát triển bền vững góp phần vào sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Và những chính sách về quản
lý, sử dụng đất đai làng nghề truyền thống cũng được thực hiện Nhà nước đãban hành nhiều văn bản pháp luật đất đai, trong đó có các quy định nhằmkhuyến khích và tạo điều kiện cho việc phát triển ngành nghề ở nông thôn :
- Quyết định 132/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng chính phủ vềmột số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đã tạo điềukiện thuận lợi cho việc đầu tư phát triển mở rộng sản xuất trong các làng nghềtruyền thống Chính sách tạo điều kiện trong việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho các cơ sở sản xuất ngành nghề, đối với những cơ sở sản xuất
có nhu cầu về mặt bằng để mở rộng sản xuất, di dời nơi sản xuất nhằm giảm
Trang 17thiểu ô nhiễm môi trường thì được ưu tiên cho thuê đất với mức giá thấp.Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương, phân bổ đất đai cho các mục đích khác nhau, trong đó cho phépchuyển một phần diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp sang sử dụng vàomục đích công nghiệp, dịch vụ phục vụ cho phát triển ngành nghề truyềnthống, quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, các khu, cụm tiểu thủcông nghiệp
- Luật đất đai 2003 và các văn bản dưới Luật được thực thi với nhiều đổimới trong chính sách quản lý, sử dụng đất đai Những quy định về các nộidung quản lý nhà nước về đất đai; về quyền của người sử dụng đất đã tạo điềukiện cho người dân yên tâm đầu tư cho sản xuất Luật đất đai năm 2003 đã chỉ
rõ : “ Hộ gia đình , cá nhân sử dụng đất vào mục đích sản xuất kinh doanh ,
sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm thì được Nhà nước giao đất , cho thuê đất ”( Điều 34 & Điều 35); “ Việc sử dụng đất làm cơ sở sản xuất, kinh doanh
ở nông thôn phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết , quy hoạch xây dựng khu dân cư nông thôn đã được xét duyệt và các quy định về bảo vệ môi trường ”( Điều 93) Chính sách xây dựng và phát triển các cụm công nghiệp
với việc người sử dụng đất trong cụm công nghiệp được ưu đãi như trong khucông nghiệp nhằm thu hút và tạo điều kiện phát triển làng nghề mới ; gópphần cải thiện môi trường sống tại các làng nghề truyền thống Đặc biệt tại
Điều 88 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 đã quy định : “Đất
nông nghiệp trong làng nghề truyền thống được ưu tiên sử dụng vào mục đích
mở rộng cơ sở sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp và cơ sở xử lý chất thải
” và “ người sử dụng đất được miễn giảm tiền sử dụng đất theo quy định của Chính Phủ ” đã tạo điều kiện cho các làng nghề truyền thống ngày càng được
mở rộng và phát triển
Trang 18- Chỉ thị số 11/2006 /CT-TTg ngày 27/3/2006 , Thủ tướng Chính phủ đãchỉ thị các địa phương trực thuộc Trung ương khẩn trương tổ chức rà soát ,điều chỉnh quy hoạch các dự án sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với quyhoạch phát triển kinh tế x acủa địa phương, của từng vùng và cả nước, gắnquy hoạch sử dụng đất nông nghiệp với phát triển các ngành nghề, đặc biệtquan tâm đến việc khôi phục các ngành nghề truyền thống, tạo quỹ đất táiđịnh cư, quy hoạch đất dịch vụ và đất liền kề các khu công nghiệp
Những chính sách xây dựng và phát triển các cụm công nghiệp làngnghề nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường và tăng hiệu quả đầu tư
ở các làng nghề cũng được đề ra và thực hiện
Trên cơ sở những chính sách về quản lý, sử dụng đất đai ở các làng nghềcủa Chính phủ, các địa phương có làng nghề đã áp dụng thực hiện và đưa ranhững chính sách cụ thể của địa phương mình sao cho phù hợp với tình hìnhtại đó
Thực tế phát triển trong những năm qua cho thấy những chính sách này
đã đạt được những hiệu quả nhất định trong việc tạo điều kiện thuận lợi hơn,khuyến khích sự phát triển kinh tế - xã hội những làng nghề truyền thống,thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn góp phần pháttriển kinh tế đất nước Tuy nhiên những chính sách này vẫn chưa mang tínhđồng bộ với các chính sách về các mặt khác Trong đó nhiều chính sách vềđất đai làng nghề truyền thống mới chỉ được thể hiện thông qua nhiều chínhsách chung chung khác nhau mà chưa có sự thống nhất, đồng bộ dành riêngcho việc quản lý , sử dụng đất làng nghề truyền thống
1.4 Bài học kinh nghiệm về khôi phục, phát triển và quản lý, sử dụng đất làng nghề truyền thống ở một số nước.
1.4.1 Kinh nghiệm một số nước
Trang 19Hiện nay hầu hết các nước đang phát triển trên thế giới đều chú trọngphát triển ngành nghề truyền thống ở nông thôn và coi đây là một giải pháphữu hiệu để tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho dân cư nông thôn,tạo cở sở để nông thôn phát triển ổn định Ở tại một số nước Châu Á cónhững nét tương đồng với Việt Nam như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,Thái Lan …thì ngành nghề truyền thống cũng được khôi phục và phát triểntrong những năm gần đây Với nhiều chính sách cụ thể được đưa ra phù hợpvới đặc điểm và hoàn cảnh của từng nước nhằm thực hiện việc duy trì và pháttriển ngành nghề truyền thống Việc học hỏi những kinh nghiệm của nhữngnước trên về vấn đề này là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho việcđịnh hướng phát triển ngành nghề truyền thống ở nông cho giai đoạn tiếptheo.
1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia có diện tích lãnh thổ lớn thứ 3 trên thế giới , códân số đông nhất thế giới, trong đó khu vực nông thôn chiếm khoảng 64% Trung Quốc có nhiều ngành nghề thủ công truyền thống phát triển, nổi tiếngvới các sản phẩm của nghề dệt, nghề gốm, nghề giấy, nghề đúc kim loại…Trong chiến dịch công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Trung Quốc đã rấtchú trọng đến việc phát triển các làng nghề, làng nghề truyền thống ở nôngthôn
Đất nước Trung Quốc có điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và địa lý cácvùng nông thôn tương tự Việt Nam, như hệ thống làng mạc, các phong tục tậpquán văn hoá nông thôn Trong nhiều năm cùng chịu ảnh hưởng của chế độkinh tế bao cấp , với phong trào hợp tác xã cấp thấp rồi lên cấp cao và sau nữa
là các đại đội sản xuất, các nông trang tập thể
Năm 1978, Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách và mở cửa tạo ra thời
kỳ mới với những chuyển biến mạnh mẽ trong công cuộc công nghiệp hoá
Trang 20nông thôn Chính từ đây việc phát triển nghề thủ công truyền thống được mởrộng dưới hình thức phát triển các xí nghiệp hương trấn.Với các chủ trươngnhư : “ Ly nông bất ly hương, nhập xưởng bất nhập thành ” tức là “ rời ruộngkhông rời làng , vào nhà máy không vào thành phố ” đã thu hút được hơn 100triệu lao động nông nghiệp chuyển sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vàdịch vụ tại các làng nghề với nhiều hình thức khác nhau như : cá thể , tư nhân,hợp tác xã Trong quá trình phát triển các làng nghề, làng nghề truyền thống ởTrung Quốc, chính phủ Trung Quốc coi việc phát triển nghề thủ công ở nôngthôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công cuộc công nghiệp hoánông thôn Vì vậy, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, giải pháp nhằmkích thích các xí nghiệp hương trấn phát triển như : chính sách thuế (áp dụngmức thuế khác nhau cho các vùng và ngành nghề truyền thống khác nhau, đặcbiệt ưu tiên các vùng khó khăn , miễn tất cả các loại thuế trong vòng 3 nămđầu tiên đối với các xí nghiệp mới thành lập); chính sách cho vay vốn với lãisuất ưu đãi ; chính sách xuất khẩu; chính sách bảo hộ hàng nội địa…đặc biệtTrung Quốc coi trọng việc phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá ,hiện đại hoá bằng nhiều chính sách mà hạt nhân là chính sách liên quan đếnđất đai Tại Đại hội Đảng lần thứ XVI của Đảng cộng sản Trung Quốc đã
khẳng định “ cần hoạch định thống nhất sự phát triển kinh tế -xã hội thành
thị và nông thôn, tăng nhanh thu nhập nông dân ” và “ tạo cho người dân quyền sử dụng lâu dài ”, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng ở nông thôn, cho
sắp xếp lại việc sử dụng đất vùng nông thôn theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá Điều đó đã tạo cho các làng nghề truyền thống có điều kiệnđược đầu tư và phát triển, hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng phát triểnnhanh chóng, các cơ sở sản xuất được khuyến khích mở rộng thêm mặt bằngsản xuất , vận dụng lợi thế về vị trí địa điểm sản xuất và chi phí vận chuyển
Trang 21thấp nhằm tạo ra lợi thế trong tiêu thụ sản phẩm , hạn chế di chuyển lao độnggiữa các vùng, từ nông thôn ra thành thị.
2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một nước có địa hình đồi núi hiểm trở , điều kiện tự nhiênlại không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp trong khi đó dân số nông thônchiếm tỷ lệ lớn Chính vì vậy trong quá trình phát triển , Hàn Quốc đã rất chútrọng đến công nghiệp hóa nông thôn, trong đó có ngành nghề thủ công vàlàng nghề truyền thống Đây là một chiến lược quan trọng để phát triển nôngthôn vì nó đã sử dụng nguồn lực lao động tại chỗ là chủ yếu , công nghệ đơngiản và nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương , sản xuất với quy mô phùhợp, tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho lao động Các hộ gia đình sảnxuất ngành nghề, đặc biệt là ngành nghề truyền thống được chính phủ đứng rahướng dẫn, tổ chức thành đơn vị nhỏ, được vay vốn tín dụng với lãi suất ưuđãi và được giúp đỡ trong vấn đề tiêu thụ sản phẩm Chính phủ Hàn Quốc đãban hành nhiều chính sách thuế ưu đãi khác nhau như miễn giảm thuế 3-5năm đối với các cơ sở sản xuất mới, giảm một số loại thuế, khuyến khíchthành lập các trung tâm dạy nghề, hiệp hội làng nghề truyền thống Cùng vớinhững chính sách đó, Chính phủ Hàn Quốc ngay từ đầu đã rất quan tâm đếncông tác quy hoạch phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Với chủtrương kết hợp nội lực của người dân và sự hỗ trợ của Nhà nước trong việcxây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn Từ đó người dândần ý thức được trách nhiệm của mình trong sự nghiệp phát triển ngành nghề.Sau 30 năm thực hiện phong trào trên, môi trường sống và cuộc sống vật chấtcủa người dân nông thôn Hàn Quốc được cải thiện đáng kể , sản xuất mangtính thương mại đã phát triển Khu vực nông thôn trở thành xã hội năngđộng , có khả năng tự tích luỹ , tự đầu tư và nhờ đó có khả năng tự phát triển.Phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của nông dân được
Trang 22Chính phủ Hàn Quốc đánh giá cao và coi đây là bước khởi đầu quan trọngcho sự nghiệp phát triển ngành nghề ở nông thôn Trước hết là cải thiện cơ sở
hạ tầng cho từng hộ nông dân như ngói hoá nhà ở, lắp đặt điện thoại, nâng cấphàng rào quanh nhà ; Cải thiện kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sốngcủa nông dân như đường làng, đường nhánh nông thôn, cầu cống, kè, hệthống cấp thoát nước, điện, hội trường, sân chơi trẻ em, trồng cây vàhoa Thực hiện phương châm là từng bước, từ thấp đến cao, từ thí điểm trêndiện hẹp đưa ra toàn quốc để nông dân có đủ thời gian chuyển đổi cách nghĩ,cách làm, có đủ thời gian để lựa chọn , đào tạo cán bộ cơ sở và hộ gia đình cóthời gian để tự tích luỹ tái sản xuất mở rộng Sau 30 năm thực hiện phong tràotrên, môi trường sống và cuộc sống vật chất của người nông thôn Hàn Quốcđược cải thiện đáng kể, sản xuất mang tính thương mại đã phát triển Khu vựcnông thôn trở thành xã hội năng động , có khả năng tự tích luỹ , tự đầu tư vànhờ đó có khả năng tự phát triển
3 Kinh nghiệm ở Thái Lan
Thái Lan là một trong những nước ở khu vực Đông Nam Á có nguồn thunhập ngoại tệ lớn nhất từ việc xuất khẩu các sản phẩm thủ công truyền thống
Là nước có diện tích canh tác bình quân đầu người cao nhất trong vùng ĐôngNam Á Trong những năm qua , Thái Lan đã tập trung phát triển kinh tế vùngnông thôn theo hướng công nghiệp hoá, mở mang các nghề tiểu thủ côngnghệp, ngành nghề truyền thống và dịch vụ ở nông thôn Là nước có nhiềulàng nghề và ngành nghề truyền thống như chế tác vàng, bạc, đá quý, đồ trangsức …Với kỹ thuật chạm trổ tinh xảo, lao động có tay nghề có , giá trị xuấtkhẩu các sản phẩm thủ công truyền thống của Thái Lan ngày càng tăng lênnhanh chóng Kết quả đó một phần lớn là nhờ những chính sách hiệu quả củaChính phủ Thái Lan đề ra nhằm khôi phục và phát triển làng nghề truyềnthống Trong đó phải kể đến chủ trương tập trung vào việc quy hoạch phát
Trang 23triển các làng nghề truyền thống theo hướng kết hợp với phát triển dịch vụ dulịch ( Chiềng Mai) Các làng nghề truyền thống đã được quy hoạch, bố trí sắpxếp lại dân cư , mở rộng và tu bổ các di tích lịch sử như đình, chùa… ChínhPhủ Thái Lan đã rất quan tâm đến việc đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn, pháttriển nghề truyền thống , tận dụng tối đa những lao động thiếu việc làm tạichỗ
4 Kinh nghiệm ở Nhật Bản
Trong những năm qua, Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng các phong tràothi đua phát triển nghề truyền thống khá thành công Hiện tại, Nhật Bản đã
quy hoạch, phát triển làng nghề truyền thống theo hướng “ mỗi làng một sản
phẩm ” đem lại nhiều lợi thế cho người sản xuất và nền kinh tế cả nước theo
xu thế hội nhập kinh tế thế giới
Phong trào phát triển nghề thủ công truyền thống ở Nhật Bản nhằm mụcđích khai thác thế mạnh và thúc đẩy mạnh phát triển các sản phẩm thủ côngtruyền thống có tính đặc trưng của mỗi vùng Trong quá trình tiến hành côngnghiệp hoá nền kinh tế đất nước, ngành nghề thủ công Nhật Bản bị phân hoá
và phát triển theo hai hướng : một số phát triển nhanh chóng và đi lên côngnghiệp hoá; một số khác tiếp tục phát triển theo hướng thủ công truyềnthống.Tuy nhiên các cuộc khủng hoảng về nhiên liệu và một số tài nguyênthiên nhiên khác trên thế giới vào những năm 1970 khiến Chính Phủ NhậtBản phải suy ngĩ lại về giá trị của các nghề thủ công truyền thống đã tồn tạilâu đời, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả Trong khi đó hàng thủ côngtruyền thống Nhật Bản mất dần khả năng cạnh tranh so với hàng tiêu dùngsản xuất bằng công nghiệp, lại vấp phải hàng loạt khó khăn về thông tin thịtrường, tiêu thụ, nguồn nguyên liệu tự nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường,nguồn nhân lực bị hút ra thành thị vào các ngành sản xuất hiện đại hoá … Vìthế các ngành nghề thủ công Nhật Bản đã bị suy thoái
Trang 24Trước bối cảnh đó Nghị Viên Nhật Bản năm 1974 đã ban hành Luật Pháttriển nghề thủ công truyền thống Được sự hỗ trợ của Chính phủ, phong trào
“mỗi làng một sản phẩm ” được khai sinh tại quận Oita vào năm 1979 với ýtưởng làm sống lại các ngành nghề thủ công truyền thống Chính Phủ NhậtBản đã ban hành một loạt các chính sách và biện pháo thực hiện công nghiệphoá nông thôn, đẩy mạnh phát triển ngành nghề truyền thống ở nông thôn;phát triển các xí nghiệp tiểu thủ công nghiệp truyền thống với quy mô vừa vànhỏ; trong đó đặc biệt chú trọng các cơ sở sản xuất của hộ gia đình Chínhphủ khuyến khích các hộ gia đình mở rộng cơ sở sản xuất, đầu tư cơ sở hạtầng trong các làng nghề truyền thống ở nông thôn Trong quá trình phát triển,Chính phủ Nhật Bản đặc biệt quan tâm tới vấn đề ô nhiễm môi trường khudân cư làng nghề truyền thống, quy hoạch phát triển các khu vực sản xuất tậptrung và tăng cường trồng cây xanh, xây dựng chợ tại các làng nghề truyềnthống
1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra
Qua nghiên cứu, tham khảo những kinh nghiêm thực tế về phát triểnngành nghề nông thôn, phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống của cácnươc trên thế giới Và xem xét, đặt trong điều kiện, hoàn cảnh của nước tagiai đoan này Có những bài học kinh nghiệm trong việc quản lý và sử dụngđất đai để duy trì , phát triển làng nghề truyền thống được rút ra như sau:
- Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống là hướng đi đúng đắn,phù hợp với xu thế chung của các nước trên thế giới Hiện nay hầu hết cácnước đang phát triển trên thế giới đều chú trọng phát triển ngành nghề ở nôngthôn và coi đó là một giải pháp hữu hiệu để tạo công ăn việc làm, nâng caothu nhập cho dân cư nông thôn, tạo cơ sở để nông thôn phát triển ổn định Con đường phát triển nông thôn và đưa nông thôn thoát khỏi tình trạng nghèo
Trang 25đói là phát triển ngành nghề nông thôn, đặc biệt chú trọng duy trì và phát triểnlàng nghề truyền thống ở địa phương.
- Bên cạnh những chính sách ưu đãi về thuế ,vốn tín dụng, đầu tư…thìnhững chính sách về đất đai có vai trò rất quan trọng cho việc khôi phục vàphát triển bền vững làng nghề truyền thống Và cần có sự kết hợp đồng bộ cácchính sách để đạt được hiệu quả cao nhất
- Quy hoạch phát triển làng nghề cần được xây dựng và có tính đồng bộgiữa các quy hoạch Tại mỗi địa phưong, với mỗi ngành nghề truyền thống,làng nghề truyền thống tuỳ theo tính chất đặc trưng khác nhau cần có quyhoạch xây dựng chi tiết để đảm bảo cho sự phát triển ổn định, lâu dài của làngnghề truyền thống Đảm bảo cho sự phát triển bền vững, đạt hiệu quả kinh
tế , xã hội và môi trường
- Phát triển cơ sở hạ tầng , đặc biệt là mạng lưới đường giao thông nôngthôn và hệ thống xử lý chất thải Trong đó nêu cao sự kết hợp giữa nhà nước
và nhân dân cùng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đờisống dân cư nông thôn Phát huy tối đa nội lực của người dân và nâng caotinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm của người dân trong sự phát triển ngànhnghề nông thôn, phát triển làng nghề truyền thống
- Khuyến khích phát triển làng nghề truyền thống hướng tới phục vụ pháttriển du lịch và cho xuất khẩu, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn, tạo việclàm, tăng thu nhập người dân, giảm sức ép di dân cơ học từ nông thôn rathành thị
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG BÁT TRÀNG
2.1 Giới thiệu tổng quan về làng nghề truyền thống Bát Tràng
Xã Bát Tràng gồm hai thôn Bát Tràng và Giang Cao thuộc huyện GiaLâm, Hà Nội Cách Trung tâm thành phố Hà nội khoảng 10 km về phí ĐôngNam Phía Bắc giáp xã Đông Dư Phía Nam giáp sông Bắc Hưng Hải (xãXuân Quan thuộc tỉnh Hưng Yên) Phía Đông giáp xã Đa Tốn Phía Tây giápsông Hồng Là một làng nghề ven đô Vị trí này rất thuận lợi cho sự giao lưukinh tế tạo thành một lợi thế quan trọng cho sự phát triển làng nghề Do có sựthuận lợi về giao thông đường bộ, đường thuỷ giúp cho việc mở rộng, giaolưu, thông thương hàng hoá ,tiêu thụ sản phẩm và thu hút khách tham quan,
Trang 27thống Bát Tràng tăng khá mạnh Trung bình 8% /năm tính theo giá trị đầu
vào
Làng nghề Bát Tràng thuộc vùng đồng bằng sông Hồng , là vùng đất
chật người đông Tổng dân số toàn xã năm 2007 là 7.191 người Là địa
phương có điều kiện tự nhiên thuận lợi như về khí hậu, thuỷ văn Có nhiềulợi thế về kinh tế ,văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng… Là một làng ven
đô ,nằm ngay sát sông Hồng, cách trung tâm thủ đô Hà nội không xa, có hệthống giao thông cả đường bộ, đường thuỷ đều rất thuận lợi Do vậy chịu tácđộng mạnh mẽ của quá trình đô thị hoá Dân số tăng nhanh, nguồn lao độngtrẻ , dồi dào phục vụ tốt cho phát triển làng nghề
Hiện nay làng nghề truyền thống Bát Tràng không còn hộ gia đình nàosản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình đã chuyển sang sản xuất kinh doanhnghề chuyển thống Đời sống người dân được cải thiện đáng kể Cùng với đóquá trình đô thị hoá tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của một làng nghềven đô như Bát Tràng Nghề truyền thống được khôi phục và phát triển,không chỉ tao việc làm cho lao đông của xã mà còn thu hút được một lượnglớn lao động từ các vùng lân cận Các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh
đa dạng như : các công ty trách nhiệm hữu hạn, các công ty cổ phần, cácdoanh nghiệp tư nhân và đa số là các cơ sở sản xuất của hộ gia đình
Về quy mô lao động thì tỷ lệ lao động làm nghề truyền thống chiếm tỷ
lệ lớn , theo thống kê của xã tỷ lệ này là khoảng hơn 80% lao động trong xã.
Ngoài ra mỗi hộ sản xuất hàng ngày có khoảng 8-10 lao động làm thuê đến từ
các xã lân cận Cả xã mỗi ngày thu hút khoảng 6000-10000 lao động làm thuê Và thường xuyên có khoảng trên 1.000 lao động tạm trú tại làng Lao động thường làm việc với thời gian khoảng 9-10 giờ / ngày , vào lúc cao điểm thì làm việc khoảng 13-15giờ/ ngày Về chất lượng lao động , chủ yếu là lao
động thủ công , chưa qua đào tạo nên chất lượng lao động chưa cao Nghệ
Trang 28nhân còn lại không nhiều Dạy nghề, truyền dạy và đào tạo nghề bằng phươngpháp truyền thống, chủ yếu từ đời này qua đời khác Có nhiều hộ gia đình ởBát Tràng đã cho con họ đi học mỹ thuật để phục vụ cho phát triển nghề
Về thu nhập của người lao động làm nghề truyền thống : Bát Tràng có thu
nhập bình quân của một lao động làm nghề rất cao khoảng
1.200.000-1.400.000 đồng /tháng , cao gấp 3-4 lần lao động sản xuất nông nghiệp trước
đây Nhờ có thu nhập tăng cao, đời sống của người dân được cải thiện đáng
kể Nhờ đó người dân có thể đóng góp để xây dựng, cải thiện và tu bổ hệthống cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm… Các khu vui chơi, giảitrí được xây dựng , các dịch vụ phục vụ đời sống cũng phát triển theo Ngườidân đã quan tâm nhiều đến đời sống tinh thần của mình hơn Các công trìnhtôn giáo, các nhà thờ họ, những ngôi nhà cổ được tu tạo và gìn giữ Các hoạtđộng văn hoá cũng dần được khôi phục lại như những ngày hội làng, ngày giỗ
tổ nghề …
Làng nghề Bát Tràng vẫn giữ được những nét văn hoá truyền thống củamột làng nghề truyền thống nông thôn Việt Nam Với những đình , đền chùanổi tiếng, có những ngôi nhà cổ, những lò nung cổ Nét đặc sắc văn hoátruyền thống, tính nghệ thuật cao được thể hiện trên những sản phẩm của làngnghề và thể hiện ở cả những công đoạn làm gốm cổ truyền Chính vì nhữngnét đắc sắc đó , làng nghề Bát Tràng đang là một trong những điểm du lịchnổi tiếng Một số năm gần đây, du lịch làng nghề Bát Tràng rất phát triển Vàphát triển du lịch làng nghề cũng đang được coi là điểm trọng tâm trongchiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Bát Tràng
2.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất tại Bát Tràng
2.2.1 Thực trạng quản lý, sử dụng đất khu dân cư và đất ở tại Bát Tràng
Làng nghề Bát Tràng có lịch sử phát triển lâu đời , khu dân cư đượchình thành mang đậm nét văn hoá làng , xóm ở nông thôn Việt Nam Những
Trang 29năm gần đây nghề truyền thống được khôi phục và được khuyến khích pháttriển đã tác động vào nhiều mặt của đời sống dân cư tại đây Người dân cóviệc làm, thu nhập tăng, đời sống được cải thiện cùng với đó là nhu câù mởrộng quy mô sản xuất tăng nhanh đòi hỏi tăng nhu cầu về mặt bằng sản xuất ,kinh doanh Diện tích đất có hạn, chính vì vậy các hộ gia đình, các chủ cơ sởsản xuất đã phải tận dụng diện đất ở làm cơ sở sản xuất kinh doanh Sự biếnđổi không gian nơi ở và sinh hoạt dành cho các chức năng, mục đích khác
đã làm ảnh hưởng rất lớn đến đất khu dân cư sinh sống tại đây
- Đất khu dân cư tại Bát Tràng được hình thành lâu đời theo kiểu kiến
trúc cổ , mang đậm nét nông thôn Việt Nam Khu dân cư được tập trungthành các cụm , xóm với kiểu kiến trúc có nhà , sân , vườn Diện tích đất khu
dân cư của Bát Tràng là 164,03 ha , chiếm 100% Diện tích tự nhiên Những
năm qua trong quá trình phát triển làng nghề ,cùng với xu hướng đô thị hoáđang diễn ra mạnh mẽ đã có tác động không nhỏ tới làng nghề truyền thốngven đô như Bát Tràng Dân số ngày càng tăng nhanh , nhu cầu về đất ở cũngnhư đất làm mặt bằng phục vụ sản xuất kinh doanh làm nghề truyền thốngtăng cao Diện tích đất ở của các hộ gia đình đã chật hẹp , nay lại bị phân lô,chia nhỏ ra nhằm tạo mặt bằng để xây dựng xưởng sản xuất , kinh doanh Vìvậy khu dân cư ngày càng trở nên chật hẹp , mật độ dân số trong khu dân cư
tại Bát Tràng là rất cao Theo số liệu của xã thì mật độ dân số toàn xã là 4.384
.Bình quân đất khu dân cư trên đầu người rất thấp so với bình quân chung
của vùng , chỉ có 228,10 m 2 / người Mặc dù xã đã có những biện pháp như
không cho phép mở rộng hoặc mở mới mặt bằng sản xuất trong khu dân cư ,
có quy hoạch khu dân cư mới để giãn dân nhưng vẫn không thể hạn chế được
áp lực về đất khu dân cư
Trang 30- Đất ở : Diện tích đất ở nông thôn tại Bát Tràng là 44,22 ha Mặc dù
hiện nay không còn quy định về hạn mức đất ở nhưng so với hạn mức đất ởnông thôn trước đây theo quy định của Luật đất đai 2003 thì bình quân diệntích đất ở của các hộ gia đình ở Bát Tràng là rất thấp Theo điều tra thì bình
quân đất ở tại Bát Tràng là 267,19 m 2 / hộ gia đình Thực tế thì với mức diện
tích đất ở này, nếu các hộ chỉ dành để xây dựng nhà ở , xây các công trìnhphục vụ sinh hoạt thì vẫn có thể đáp ứng được Nhưng nếu còn dành cho cảmục đích xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh thì sẽ là quá chật hẹp Với đặcthù của nghề truyền thống gốm sứ, quá trình sản xuất gồm nhiều công đoạn
và thực hiện theo dây truyền Nhu cầu về mặt bằng chứa nguyên vật liệu ,chứa thành phẩm là rất lớn, việc sử dụng máy móc trong một số công đoạnthay thế cho các hình thức thủ công trước đây thì nhu cầu mặt bằng để đặtmáy móc ,thiết bị cũng tăng cao Nhất là hiện nay khi mà làng nghề đangtrong giai đoạn phát triển mạnh mẽ thì nhu cầu mở rộng quy mô sản xuấtngày càng tăng nhanh Chính vì vậy, diện tích đất thổ cư , đất ở đang chịumột sức ép rất lớn Tỷ lệ các hộ làm nghề truyền thống sử dụng nơi ở của giađình làm cơ sở sản xuất , chứa nguyên vật liệu hoặc cửa hàng giới thiệu sản
phẩm rất cao (93%) Mặt khác , làng nghề Bát Tràng phát triển không những
tạo ra việc làm cho người dân tại địa phương mà còn thu hút một số lượng lớnlao động đến làm thuê từ vùng lân cận Theo điều tra thì có hàng ngày có
khoảng 6000-10000 lao động từ các nơi đến làm thuê tại Bát Tràng Do tính
chất công việc của nghề này mà vẫn có những người làm thuê ăn ở luôn tại
các cơ sở sản xuất Bình quân mỗi hộ sản xuất có khoảng 8-10 lao động làm
thuê ở lại ăn ở tại cơ sở sản xuất Chính vì vậy mà diện tích đất ở của các hộgia đình ở đây vốn đã chật hẹp nay lại càng chật hẹp, lộn xộn hơn, không đảmbảo thoáng khí , môi trường ở bị ô nhiễm nghiêm trọng Những phần diện tíchtrước đây là sân , vườn nay được sử dụng làm mặt bằng phục vụ cho sản xuất,
Trang 31kinh doanh Hiện nay, tại Bát Tràng diện tích đất vườn trồng cây xanh trongkhuôn viên đất ở của các hộ gia đình hầu như là không còn Không khí trongkhuôn viên đất ở vốn đã bị ô nhiễm do bụi và khí thải lại càng ô nhiễm hơn.
2.2.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất cơ sở sản xuất kinh doanh tại Bát Tràng.
Theo điều tra thì ở Bát Tràng tỷ lệ các hộ gia đình sử dụng một phần
diện tích đất ở để làm cơ sở sản xuất kinh doanh là khoảng 93% Tổng số cơ
sở sản xuất là 243 CSSX Trong đó có tới 226 CSSX được xây dựng trên đất
ở Số còn lại đã sử dụng đất thuộc cụm công nghiệp làng nghề để xây dựng cơ
sở sản xuất, kinh doanh Chính vì vậy việc xác định diện tích , quy mô đất sảnxuất kinh doanh là rất khó khăn do không thể phân định rõ được khu ở và khusản xuất kinh doanh Hiện tại vì nhu cầu mở rộng sản xuất, kinh doanh củacác cơ sở sản xuất kinh doanh là rất lớn Nhu cầu về đất cơ sở sản xuất kinhdoanh ngày càng tăng Hầu hết các hộ sản xuất được hỏi đều mong muốn cóthêm mặt bằng để mở rộng cơ sở sản xuất đáp ứng nhu cầu Mặt khác cũng donhu cầu mặt bằng sản xuất kinh doanh là rất lớn mà hầu như các hộ sản xuấtđều lấn chiếm thêm đất giao thông , đất công cộng …Các phế thải rắn như xỉ
lò than, phế phẩm được các hộ sản xuất chất đống ở ngoài đường làm cholòng đường đã hẹp nay lại còn chật chội hơn và còn gây ra ô nhiễm Có nhiều
cơ sở do thiếu mặt bằng chứa nguyên vật liệu, thành phẩm …đã xây dựng trênnền nhà ở thêm 2-3 tầng nữa Tuy nhiên việc xây dựng này chỉ mang tínhtạm bợ , không đảm bảo về tiêu chuẩn xây dựng Một số hộ do có đủ tiềm lực
đã thuê đất ở cụm công nghiệp làng nghề để sản xuất, kinh doanh Ở cụmcông nghiệp do có sự đầu tư tương đối đồng bộ về cơ sở hạ tầng nên đã giảmthiểu được ô nhiễm , tạo ra sự chuyên môn hoá cao trong sản xuất Tuy nhiên,
theo quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề có diện tích khoảng 16.9 ha so
với nhu cầu về mặt bằng của các hộ sản xuất hiện tại và cả tương lai là chưa
Trang 32đáp ứng hết được Nhiều cơ sở sản xuất rất muốn thuê đất tại cụm côngnghiệp làng nghề nhưng do không đủ tiềm lực để thuê đất vì với họ giá thuêđất vẫn rất cao Nhiều hộ mặc dù đã thuê đất tại cụm công nghiệp làng nghềnhưng vẫn tiếp sử dụng đất ở làm cơ sở sản xuất kinh doanh vì muốn tận dụngđất ở không phải trả tiền thuê đất và muốn tận dụng cả lao động trong giađình do tính chất của nghề thì cả người già và trẻ em cũng có việc làm Về đấtdùng để kinh doanh, giới thiệu sản phẩm làng nghề truyền thống thì cũng đãđược quy hoạch Chợ làng nghề được quy hoạch xây dựng và đã được đưavào sử dụng được 3 năm nay Với mục đích trưng bày giới thiệu sản phẩm vàbán sản phẩm cho khách du lịch Hệ thống các cửa hàng giới thiệu sản phẩm
và là nơi giao dịch các hợp đồng bán sản phẩm làng nghề được quy hoạch trảiđều, bám theo trục đường chính của xã , phục vụ tốt hơn cho việc trưng bày ,giới thiệu sản phẩm
2.2.3 Thực trạng quản lý, sử dụng đất giao thông và cơ sở hạ tầng ở Bát Tràng
Những năm qua, làng nghề truyền thống Bát Tràng phát triển mạnh, tạo raviệc làm và làm cho thu nhập của người dân nơi đây tăng lên cao Nhờ đóngười dân có điều kiện cải thiện đời sống của gia đình Người dân đã tự lập,cùng nhau đóng góp để cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng để phục vụ cho sinhhoạt và sản xuất đặc biệt là sinh hoạt đời sống Hệ thống cơ sở hạ tầng xã hộiđược xây dựng nhằm phục vụ đời sống tạo cho người dân có thể an tâm , thưgiãn sau những giờ làm việc mệt nhọc Cùng với người dân, thành phố Hà nộivới chủ trương khôi phục và phát triển làng nghề đã đầu tư xây dựng, cải tạo
và tu bổ hệ thống cơ sở hạ tầng cho Bát Tràng khá đồng bộ Hệ thống giaothông, điện, hệ thống chiếu sáng, bến cảng đón khách tham quan làng nghềtruyền thống bằng đường sông, hệ thống cung cấp nước sạch và hệ thống
Trang 33thoát nước thải …được xây dựng, tu bổ đã tạo ra sự đồng bộ và hoàn chỉnhphục vụ tốt cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân Nên có thể nói
so với các làng nghề truyền thống phát triển khác thì Bát Tràng có hệ thống
cơ sở hạ tầng tương đối đồng bộ Tuy nhiên nếu xét về nhu cầu phát triểntrong vài năm tới thì có thể thấy hệ thống cơ sở hạ tầng này sẽ không đáp ứngyêu cầu
- Về giao thông ở Bát Tràng : Diện tích đất giao thông là 28,71 ha.
Trong đó bao gồm hệ thống các trục đường chính , đường trong ngõ …Trụcđường chính dẫn vào làng đã được nhựa hoá với mặt cắt ngang khoảng
13,5m, lòng đường 7,5 m, vỉa hè mỗi bên 3m, dài 1.350m Hệ thống cống
thoát nước trên trục đường chính đã được xây dựng khá hoàn chỉnh Hệ thốngđường trong ngõ đã được bê tông hoá Tuy nhiên chiều rộng bề mặt đường rấthẹp do việc xây dựng các nhà cao tầng , xưởng sản xuất trong khu dân cư lấnchiếm gây khó khăn cho việc vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm …Mặc dù đã có việc cấm việc sử dụng công nông vận chuyển trong làng nhưnghàng ngày cường độ vận chuyển hàng hoá , nguyên vật liệu bằng các phươngtiện khác vẫn rất nhiều chính vì vậy đã làm cho bề mặt đường bị xuống cấpnghiêm trọng, mặt đường xuất hiện nhiêu ổ gà , bụi đất rất nhiều gây ảnhhưởng đến môi trường sống Nhiều cơ sở sản xuất do thiếu mặt bằng sản xuất
đã sử dụng diện tích mặt đường đã nhỏ hẹp để chứa các chất thải rắn như xỉthan , phế phẩm …làm cho nó càng nhỏ hẹp hơn và gây ô nhiễm môi trườngsống vì bụi đất Bề mặt đường nhỏ hẹp, không còn diện tích trồng cây xanhven đường nên tình trạng ô nhiễm không khí ở đây càng trở lên nghiêmtrọng Các bến, bãi đỗ xe, tập kết nguyên vật liệu , thành phẩm đã được quyhoạch tuy nhiên vẫn không đáp ứng được yêu cầu.Đường sông gồm 3 bến( bến du lịch nằm cạnh đền Bát Tràng, hai bến hàng hóa là bến Bát Tràng và
Trang 34bến Cam ) và khu kho bãi có tổng diện tích là 1,33ha Hầu hết các cơ sở sảnxuất đều nằm trong khu dân cư nên họ thường dùng lề đường làm bãi đỗ xetạm nên nhiều khi vẫn gây ùn tắc nghiêm trọng Còn hệ thống đường trongcụm công nghiệp làng nghề do được quy hoạch và đầu tư xây dựng hoànchỉnh ngay từ đầu nên vẫn đáp ứng nhu cầu
- Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật như hệ thống điện , hệ thống cấp,thoát nước , thông tin liên lạc … đã được thành phố Hà Nội cải tạo nâng cấp ,
tu bổ tương đối đồng bộ Tại cụm công nghiệp làng nghề thì hệ thống này
đáp ứng được nhu cầu Tuy nhiên , hệ thống cấp điện cũ gồm 7 trạm biến
áp và đã xây dựng mới thêm 5 trạm biến áp nữa vẫn chưa đáp ứng được
nhu cầu sử dung cho cả sinh hoạt và sản xuất tại đây Vẫn còn tình trạng điệnyếu vào những giờ cao điểm và mất điện bất chợt do quá tải Hệ thống cấpnước sạch từ nguồn nước ngầm phục vụ sinh hoạt đã được xây dựng và đưa
vào sử dụng với 2 trạm cấp nước Song do nhu cầu sinh hoạt và sản xuất
ngày càng tăng lên vì vậy vẫn có tình trạng thiếu nước sạch tại đây Hệ thốngthoát nước thải đã được cải tạo , nước thải được đẫn ra sông, đầm Hệ thống
xử lý nước thải sản xuất ở cụm công nghiệp làng nghề đã được xây dựngđồng bộ cùng với các hệ thống khác nên giảm thiểu được ô nhiễm Còn trongkhu dân cư thì hệ thống này chưa được chú trọng đúng mức Lượng nước thảisản xuất cần qua xử lý trong khu dân cư là rất lớn vậy mà vẫn thải trực tiếp rasông , đầm… gây ô nhiễm nghiêm trọng Hệ thống cống ngầm được xây lắptrên những trục đường chính Còn trên hệ thống đường ngõ thì chỉ có hệthống cống nổi nhỏ hẹp khiến tình trạng nước thải lênh láng trên mặt đườngrất phổ biến gây ô nhiễm Các thiết bị phòng chống cháy nổ , an toàn lao động
ít được chú trọng, trong khi tại làng nghề này việc sử dụng các lò nung dưới
cả hai dạng bằng than hoặc bằng ga đều có nguy cơ cháy nổ lớn
Trang 35- Hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội được đầu tư xây dựng tương đối đồng
bộ Do thu nhập tăng lên , đời sống được cải thiện nên người dân Bát Tràng
đã chú trọng quan tâm đến đời sống , sinh hoạt tinh thần Đất công cộng được
sử dụng cho các mục đích nâng cao đời sông văn hoá , tinh thần cho ngườidân ở đây Hệ thống trường học từ mầm non đến trung học cơ sở, trạm y tế,trụ sở các cơ quan hành chính, sự nghiệp cũng được đầu tư xây dựng kiên cố
Diên tích đất công cộng là 38.08 ha, chiếm khoảng 23,22% DTTN Các di
tích lịch sử được tôn tạo phục vụ cho mục đích tín ngưỡng và du lịch Chợlàng nghề được xây dựng là nơi giao lưu, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm làng
nghề truyền thống Diện tích đất chợ là 0.3 ha vẫn chưa đáp ứng được nhu
cầu Vẫn còn để tình trạng hàng , quán bán đồ ăn, uống phục vụ cho khu chợdựng lều tạm trên mặt đường , lấn chiếm đường ngoài khu chợ , nhiều lúc gấytắc nghẽn vì ở đó có xe buýt, xe du lịch lớn chở khách du lịch vao chợ hàngngày vẫn qua Chưa có giải pháp sắp xếp không gian cho khu dịch vụ loạinày
2.3 Quy hoạch sử dụng đất; Quy hoạch, sử dụng đất trong cụm công nghiệp làng nghề truyền thống Bát Tràng
2.3.1 Quy hoạch sử dụng đất tại Bát Tràng
Xã đã có quy hoạch sử dụng đất chi tiết cấp xã Làng nghề truyền thốngBát Tràng được thực hiện thí điểm quy hoạch không gian chi tiết cho thời kì2001-2010 ( tỷ lệ 1/2000-1/500) để nhân rộng ra các địa bàn khác Vì vậyquy hoạch sử dụng đất ở Bát Tràng đã mang tính đặc trưng của quy hoạchmột làng nghề Quy hoạch đã được lập trên quan điểm phát triển bền vữngcủa một làng nghề truyền thống, đã tạo ra sự khác biệt so với quy hoạch ở cácđịa phương khác Quy hoạch nghiên cứu phát triển không gian đô thị, đề ranhững giải pháp tối ưu cho việc tổ chức không gian, tạo bộ mặt kiến trúc củamột làng nghề truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc đáp ứng các yêu cầu về