1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

SỰ BIẾN ĐỔI NHIỆT ĐỘ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA THỦY SINH VẬT

12 2,8K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 165 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay Trái Đất và tình hình của nó là vấn đề được thế giới nói chung và việt nam nói riêng quan tâm rất nhiều, tình hình các loại loại môi trường ngày càng bị ô nhiễm, các loại tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, các khu công nghiệp, nhà máy,xí nghiệp mọc lên như nấm, các loại phương tiện giao thông dày đặc…Tất cả đã góp gây ra sự nóng lên toàn cầu.

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Hiện nay Trái Đất và tình hình của nó là vấn đề được thế giới nói chung và việt nam nói riêng quan tâm rất nhiều, tình hình các loại loại môi trường ngày càng bị ô nhiễm, các loại tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, các khu công nghiệp, nhà máy,xí nghiệp mọc

lên như nấm, các loại phương tiện giao thông dày đặc…Tất cả đã góp gây ra sự nóng

lên toàn cầu.

Một trong những nguyên nhân chính gây ra sự nóng lên toàn cầu là sự tăng lên

không ngừng của các loại khí gây hiệu ứng nhà kính được tạo ra do quá trình sản xuất cũng như sinh hoạt của con người Với sự tăng lên không ngừng của các loại khí gây hiệu ứng nhà kính, Trái đất trở thành một quả cầu giữ nhiệt, và từ đó nhiệt độ của nó không ngừng tăng lên theo thời gian Hiện tượng tăng nhiệt độ trung bình của không khí và các đại dương trên Trái đất mà người ta đã quan sát được trong các thập kỷ gần đây Trong thế kỉ 20, nhiệt độ trung bình của không khí gần mặt đất đã tăng 0,6 ± 0,2

°C (1,1 ± 0,4 °F) Tổ chức liên chính phủ về biến đổi khí hậu hay IPCC nghiên cứu

sự biến đổi các hiện tượng tự nhiên như bức xạ mặt trời và núi lửa tạo ra hầu hết sự

ấm lên từ giai đoạn tiền công nghiệp đến năm 1950 và có sự ảnh hưởng lạnh đi sau

đó IPCC cũng nghiên cứu sự gia tăng nồng độ khí nhà kính sinh ra từ hoạt động của con người như đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng lên kể từ giữa thế kỷ 20

Sự nóng lên toàn cầu đó đã ảnh như thế nào đến thủy vực và đời sống của thủy sinh

vật? Trong quá trình học tập và nghiên cứu thủy sinh học tôi tập trung nghiên cứu đề tài “Sự biến đổi nhiệt độ và ảnh hưởng của nó đến đời sống của thủy sinh vật”

Trong đề tài này tôi tập trung nghiên cứu tình hình nhiệt độ thủy quyển, các quy luật biến đổi của nhiệt độ theo mùa, theo các tầng nước, sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến đời sống của thủy sinh vật, đến hiện tượng băng tan Và hướng giải quyết

Với thời gian hạn hẹp và trình độ có hạn, đề tài này không tránh khỏi những sai sót, rất mong Thầy- Cô, đồng nghiệp và mọi người quan tâm góp ý, xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I- Nội dung nghiên cứu:

- Tình hình nhiệt độ thủy quyển

- Các quy luật biến đổi của nhiệt độ theo mùa, theo các tầng nước

- Các quy luật biến đổi của nhiệt độ theo mùa, theo các tầng nước

- Hậu quả nhiệt độ tăng lên đã gây

+ ảnh hưởng đến đời sống của thủy sinh vật, + ảnh hưởng đến hiện tượng băng tan

- Nguyên nhân và hướng khắc phục và cách giải quyết

II- Phương pháp nghiên cứu:

- Nghiên cứu bài giảng và sách thủy sinh học của Thầy Hoàng Trọng Đại- tiến sĩ khoa học

- Tổng hợp,phân tích và dẫn chứng cụ thể

- Sưu tầm tài liệu và thông tin trên Internet

- Ghi nhận ý kiến thảo luận của nhóm có chung đề tài tiểu luận

Trang 3

PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

I- Tình hình nhiệt độ:

1 Nguồn nhiệt:

Nguồn nhiệt chủ yếu của nước trong các thủy vực chủ yếu là từ các bức xạ và

do các tia có sóng dài: tia hồng ngoại, tia đỏ, tia da cam

Lớp nước trên mặt hút nhiều nhiệt hơn ở dưới sâu và các tia sáng này chỉ có ở lớp nông Lớp dưới chỉ có các tia xanh, tia ,lục

2 Tính ổn định của chế độ nhiệt trong thủy vực.

Chế độ nhiệt trong thủy vực có tính ổn định hơn trong không khí, do có độ tỏa nhiệt và độ thu nhiệt lớn, các lớp nước ở trên mặt và dưới sâu điều hòa nhiệt độ lẫn nhau trong quá trình lạnh đi hay bốc hơi, làm cho nhiệt độ của cả khối nước luôn đuợc điều hòa ở mức ổn định, ít bị biến đổi

Giao động nhiệt độ hàng năm của các thủy vực không lớn: ở biển không quá

100C – 150C, ở các thủy vực nội địa không quá 300C – 350C tuy biên độ nhiệt độ nước

ở các thủy vực khá lớn: ở biển có thể từ -20C – 360C, ở nước ngọt từ 70C- 750C, có khi tới 96,30C

3 Tình hình biến đổi giữa các vực nước

Chế độ nhiệt độ của nước trong thủy vực biến đổi theo ba nhân tố chủ yếu: vĩ

độ, mùa vụ và độ sâu

Quy luật biến đổi nhiệt độ nước theo mùa

phụ thuộc vào từng loại thủy vực, từng vùng địa lí khác nhau; ngoài ra ở độ cao so với mặt nước biển khác nhau của thủy vực và các lớp nước sâu khác nhau trong thủy vực, quy luật biến đổi theo mùa cũng khác nhau Nhiệt độ nước bề mặt Hải dương ở vùng nhiệt độ có biên độ dao động theo mùa chỉ trong khoảng

8-120C, còn ở vùng cực không quá 2-30C Ở các biển nhỏ ven bờ, dao động nhiệt độ nước theo mùa ở tầng mặt lớn hơn

Ví dụ: ở Vịnh Bắc Bộ do nước trong vịnh

nông, nhiệt độ nước tầng mặt dao động trong khoảng 320C (mùa hè) và 160C (mùa đông) (Guriauova, 1972) Biến đổi nhiệt độ nước theo

Quy luật biến đổi theo vĩ độ:

Nhiệt độ trung bình năm của nước

trong hải dương giảm dần từ xích

đạo về vùng cực Theo quy luật này

người ta chia Hải Dương thành 5

vùng:

- Vùng nhiệt đới (bao gồm

nhiệt đới xích đạo và cận nhiệt

đới), nằm rong khoảng vĩ độ 400B

và 400N Nhiệt độ trung bình năm

của nước vùng này là 26-270C

- Vùng cận cực (Nam và

Bắc) nằm trong khoảng vĩ độ 40-60

Nam và Bắc, nhiệt độ trung bình

năm là 13-140C

- Vùng cực (Nam và Bắc),

nhiệt độ trung bình năm của nước

là O0C.(hình 1)

N 0 0 5 10 15 20 25 30 0 C 80

60 40 20 0 20 40 60 S

0.5

1.0

1.5

Hình 1: Nhiệt độ trung bình của nước theo độ sâu ở các vùng vĩ độ khác nhau ở hải dương 1 Vùng cực; 2 Vùng ôn đới; 3 Vùng cận nhiệt đới; 4 Vùng nhiệt đới; 5 Nhiệt độ trung bình mặt nước ở các vĩ độ khác nhau

1 2 4 3

Trang 4

mùa ở biển và hải dương chỉ thấy rõ ở tầng nước trên 200 m Ở các tầng nước sâu, nhiệt độ hầu như không biến đổi

Ở các thủy vực nội địa, quy luật biến đổi nước theo mùa phức tạp hơn Các thủy vực

ôn đới có chế độ nhiệt độ nước bề mặt dao động trong khoảng 0-250C Ở các thủy vực nhiệt đới, nước bề mặt có biên độ giao động trong khoảng 20-350C Ở các ruộng cấy lúa vùng nhiệt đới, nhiệt độ nước có thể lên tới 400C Biên độ giao động này thay đổi

ở các hồ lớn, ở các hồ vùng cao và ở các thủy vực vùng cận nhiệt đới, theo hướng giảm thấp đi Ở các thủy vực nông, như ruộng lúa nước, ao nông, biến đổi nhiệt độ nước theo mùa phụ thuộc rất nhiều vào biến đổi nhiệt độ không khí theo mùa.(hình 2

và 3)

Quy luật biến đổi nhiệt độ theo độ sâu:

-Khối nước của nhiệt độ trong thủy vực- hải dương và hồ nội địa có thể chia

thành 3 tầng có đặc tính khác nhau về chế độ nhiệt:

0 C

35

30

25

20

15

10

t 0 nước t 0 không khí Hình 3: Biến đổi nhiệt độ trung bìnhcủa nước qua các tháng ở ruộng

lúa (vùng Nam Hà) Hình 2: biến đổi nhiệt độ của nước trong ngày ở ruộng lúa (vùng Nam Hà)

Trang 5

+ Tầng mặt: có nhiệt độ nước tương đối cao và biến đổi theo mùa rõ rệt.

+ Tầng đáy có nhiệt độ nước tương đối thấp và hầu như không biến đổi theo mùa

+ Tầng giữa là tầng chuyển tiếp, có nhiệt độ nước đột ngột thay đổi từ nhiệt độ cao ở tầng mặt xuống nhiệt độ thấp ở tầng đáy Giới hạn của mỗi tầng biến đổi tùy theo từng thủy vực

Ở Hải dương, giới hạn tầng giữa ở độ sâu khoảng 15-100m

Vùng ôn đới, về mùa hạ chênh lệch nhiệt độ giữa nước bề mặt và dưới sâu rất lớn, có thể tới trên 200C

- Quy luật chung: Nhiệt độ giảm dần từ trên mặt xuống đáy Riêng các thủy vực vùng cực và các thủy vực vùng ôn đới về mùa đông, do đặc tính nhiệt học của nước, nên có tình hình ngược lại: nước ở tầng mặt đông đặc (ở 00C) còn nước ở tầng đáy lại không đông đặc và khoảng 40C

tín phong.Ở các thủy vực dạng hồ nội địa, hiện tượng phân tầng nhiệt độ thấy rõ rệt nhất Ở Các thủy vực ôn đới về mùa hạ và mùa đông Mùa hạ nước trong hồ chia làm hai tầng: tàng nước nóng trên 40C nhẹ nổi lên trên mặt, tầng nước lạnh hơn chìm xuống đáy Trong thời gian này, nước trong hồ hầu như đứng im, thường gọi là thời

kỳ nước đứng mùa hạ Về mùa đông, tình hình ngược lại: tầng nước lạnh dưới 00C nhẹ nổi ở trên, tầng nước ấm hơn nặng chìm xuống đáy Trong thời gian này nước

Ở các thủy vực vùng cực và các

thủy vực nội địa nhiệt đới biến đổi

nhiệt độ nước theo độ sâu không lớn,

chỉ khoảng vài độ, kể cả ở những thủy

vực có độ sâu tới vài trăm mét.Ở các

thủy vực (hình 4)

Biến đổi nhiệt độ theo vĩ độ, theo

mùa và theo độ sâu làm thay đổi

trọng lượng riêng của nước ở các

vùng khác nhau, các mùa khác

nhau và độ sâu khác nhau, nhất là

giữa tầng mặt và tầng đáy đều tạo

nên hiện tượng phân tầng nhiệt độ

nước chu chuyển nước theo mùa

trong các thủy vực nội địa và các

dòng nước thẳng đứng ở hải dương

Ở hải dương, các dòng nước

lạnh thẳng đứng nổi lên trên mặt

hay gần mặt ở vùng ven xích đạo ,

chỗ giới hạn phân chia các dòng tín

phong Bắc và Nam với dòng gian

Hình 4: Biến đổi nhiệt độ nước theo độ sâu ở hồ chứa nước suối Hai (tháng V/

1965)

Trang 6

cũng đứng im, thường gọi là nước đứng mùa đông Phân tầng nhiệt độ mùa hạ gọi là phân tầng thuận (trên nóng, dưới lạnh), còn phân tầng nước mùa đông gọi là phân tầng nghịch (trên lạnh, dưới nóng) Vào mùa xuân và mùa thu, nước trên mặt dần nóng lên (mùa xuân) hay lạnh đi (mùa thu) tới khoảng gần 40C, làm nước trên mặt nặng dần lên và chìm xuống dưới sâu, dồn lớp nước ở dưới sâu lên mặt Tình hình này tạo nên thời kỳ chu chuyển nước theo chiều thẳng đứng vào mùa xuân và mùa thu kéo dài cho tới khi trở lại thời kỳ nước đứng mùa hạ và mùa đông

4 Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với thủy sinh vật và tiềm năng của vực nước.

Ảnh hưởng của nhiệt độ nước trong thủy vực đối với thủy sinh vật rất lớn, có tính chất quyết định đối với đời sống của thủy sinh vật

Trong đời sống cá thể, nhiệt độ có ảnh hưởng đến tốc độ trao đổi chất, thông qua ảnh hưởng tới hoạt động của các men (theo định luật Van Hoff) Từ đó làm ảnh hưởng tới nhịp độ sinh sản và phát triển của thủy sinh vật

Ảnh hưởng của nhiệt độ lên cường độ hô hấp rất phức tạp Có khi quan hệ này theo kiểu tăng dần đều bình thường Nhưng thường là khi nhiệt độ tăng, cường độ hô hấp tăng tới một giới hạn nào đó rồi ngừng tăng trong một khoảng nhiệt độ nhất định, đặc trưng cho từng loài rồi lại tiếp tục tăng lên Vùng nhiệt độ trong đó cường độ hô hấp hầu như không thay đổi gọi là vùng nhiệt độ thích ứng Trong khoảng nhiệt độ tăng này, nhờ khả năng tự điều hoà, thuỷ sinh vật giữ được cân bằng năng lượng cơ

0 C

40

35

30

25

20

15

10

5

VI VII VIII IX X XI I II III IV V Tháng

Hình 5: Biến đổi nhiệt độ trung bình hàng tháng của

nước ở Hồ Tây (Hà Nội) trong các năm (1960-1965)

B

Chế độ nhiệt ở các hồ vùng nhiệt đới có những đặc điểm riêng:

- Nhiệt độ nước không bao giờ chuyển sang âm độ: Nhiệt độ mặt nước thường xuyên cao (trên 200C)

- So với thủy vực ôn đới, biến đổi nhiệt độ nước theo mùa ở các thủy vực nhiệt đới nhỏ hơn, nhưng biến đổi nhiệt độ ngày đêm lại tương đố lớn có khi trên

100C (ruộng lúa)

- Chênh lệch nhiệt độ nước ở tầng mặt và tầng đáy không lớn, chỉ trong khoảng vài độ Miền Bắc nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nhưng

có những yếu tố khí hậu cận nhiệt đới, nên nhiệt

độ nước có thể xuống thấp hơn 200C Nhiệt độ nước ở Hồ Tây (1962) trong năm giao động trong khoảng 1204C và

Trang 7

thể không phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường bên ngoài Điều này chứng tỏ trao đổ khí là một quá trình tự điều hoà, không phải thông thường là một quá trình hoá động học hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ bên ngoài

Nhịp phát triển của thuỷ sinh vật phụ thuộc vào tốc độ sinh trưởng của sinh vật Quan hệ giữa nhịp phát triển của thuỷ sinh vật với nhiệt độ cũng giống như mối quan

hệ này ở các sinh vật khác Ta biết rằng nhiệt độ tăng làm tăng tốc độ trao đổi chất, do

đó làm tăng nhịp phát triển của thuỷ sinh vật Để tính toán thời gian phát triển của thuỷ sinh vật ở các nhiệt độ khác nhau, người ta thường biết dựa trên định luật (vantokho) Vantopho tìm hệ số Q10, tức là độ tăng của nhịp phát triển của sinh vật khi nhiệt độ tăng lên 100C, kết quả của độ tăng tốc độ của các phản ứng sinh hoá học trong cơ thể Q10 Thực nghiệm cho thấy hệ số Q10 ở thuỷ sinh vật thay đổi theo từng quảng nhiệt độ nhất định, chứ không bằng nhau ở tất cả các thuỷ vực

Ở các vùng vĩ độ cao, sự sai khác về các điều kiện nhiệt độ, ánh sáng theo các mùa trong năm khá rõ rệt, do đó nhịp sinh sản của các thuỷ sinh vật cũng rất rõ rệt Ở các vùng nhiệt đới, có hiện tượng nhịp sinh sản không rõ rệt, nhưng vẫn còn thấy ở một nhóm như ở nhiều loài ốc và trai Ấn Độ Dương

Nhịp sinh sản ở thuỷ sinh vật trong thiên nhiên có thể theo mùa , theo tuần trăng hay theo ngày đêm Nhịp sinh sản theo mùa chủ yếu do sự biến đổi của nhiệt độ quyết định, có liên quan đến sự biến đổi của các hiện tượng địa vật lí Mỗi loài thuỷ sinh vật chỉ sinh sản vào những mùa nhất định trong năm, với những điều kiện nhiệt

độ nước nhất định Các loài ôn đới thích ứng với điều kiện nhiệt độ thấp, chỉ sinh sản trong mùa nhiệt độ thấp trong thuỷ vực nước điều này càng rõ rệt chỉ chung sống trong các thuỷ vực nước ấm Các loài nhiệt đới ngược lại chỉ sinh sản vào mùa nhiệt

độ nước cao, điều này càng rõ rệt khi chúng sống trong các thuỷ vực nước lạnh Nhịp sinh sản theo tuần trăng có thể liên quan tới nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do hoạt động của thuỷ triều và chế độ ánh sáng trong thuỷ vực Kiểu sinh sản này rất phổ biến ở giun nhiều tơ và ở các thuỷ sinh vật khác như thân mềm Những nguyên nhân trên cũng có thể có liên quan tới nhịp sinh sản theo ngày đêm, thấy ở nhiều bọn thuỷ sinh vật như giáp xác, thân mềm, ruột khoang

Cùng với nồng độ muối, nhiệt độ quyết định sự phân bố theo vĩ độ, ảnh hưởng đến các thành phần khác của hệ theo mùa, theo độ sâu

Nhiệt độ là một trong những nguyên nhân làm thủy sinh vật tự nhiên và thủy sinh vật gây nuôi chết hàng loạt Mùa đông, nước đóng băng, làm cản trở oxy hòa tan trong nước Mùa hè xuất hiện hiện tượng nước nở hoa

Nhiệt độ ảnh hưởng đến đặc điểm cấu trúc quần thể thuỷ sinh vật:

Trước hết nhiệt độ ảnh hưởng đến sự phân bố của các cá thể trong quần thể Phân bố các cá thể trong quần thể trong thuỷ vực có thể vô tổ chức, đồng đều hay phân bố thành điểm Phân bố thành điểm là kiểu phân bố đặc trưng của quần thể thuỷ sinh vật, do tính chất không đồng đều của các điều kiện sống trong thuỷ vực, cả ở nền đáy và trong tầng nước, sự phân bố không đồng đều thức ăn, oxy, nhiệt độ

Thành phần sinh dục của quần thể cũng như thành phần sinh trưởng cũng mang đặc tính thích ứng, bảo đảm hiệu quả sinh sản của thuỷ sinh vật trong điều kiện thay

Trang 8

đổi của môi trường Tương ứng với những thay đổi của điều kiện sống, cấu trúc sinh dục của quần thể cũng thay đổi và do đó cũng thay đổi khả năng sinh sản của quần thể (Niconski, 1965) Thành phần sinh dục của quần thể cũng do đặc tính di truyền của loài quyết định, đồng thời biến đổi theo môi trường ngoài Ở thuỷ sinh vật biến đổi này rất quan trọng và rõ rệt, đặc biệt với thay đổi nhiệt độ Ở giáp xác chân chèo Macrocyclops albidus, nhiệt độ ở 10-120C có tỷ số con đực là 40,2%, ở 25-280C tỉ số này lên đến 64,7%, ở gammarue salinus, số con đực gấp 5 lần con cái ở 50C, còn ở

130C sẽ 13 lần kém đi Ở luân trùng và giáp xác râu ngành, sự xuất hiện con đực phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ nước Ở các thuỷ sinh vật khác (tôm Pandalus borealis, hầu Ostrealutaris) sinh sản có đực cái và sinh sản lưỡng tính thay đổi theo độ sinh trưởng của quần thể Nhiều thí nghiệm cho thấy thành phần sinh dục của quần thể còn phụ thuộc cả vào áp lực nước và độ chiếu sáng

Nhiệt độ và ánh sáng có ảnh hưởng đến sự biến động số lượng quần thể của thuỷ sinh vật Đó là sự biến động có tính chu kỳ và những biến động không có chu kỳ

Những biến động có tính chu kỳ, đây là kiểu biến động số lượng xảy ra một cách tuần hoàn, có liên quan tới tính chất chu kỳcủa các quá trình sống (sinh sản, tử vong) của thuỷ sinh vật và tính chất chu kỳ của những nhân tố địa vật lí trong tự nhiên (nhiệt độ, ánh sáng Biến động có chu kỳ được thể hiện ở ba hiện tượng thấy trong thuỷ vực bao gồm:

Biến động ngày đêm, biến động theo mùa (gồm mùa xuân sinh học: nhiệt độ trung bình, ánh sáng mạnh, nước giàu dinh dưỡng, thực vật nổi phát triển mạnh, động vật nổi phát triển yếu, tỷ số sinh khối lượng thực vật (p) và động vật (Z) là P/Z=10-100; mùa hạ sinh học: nhiệt độ cao, ánh sáng mạnh, nước nghèo muối dinh dưỡng, thực vật nổi và động vật nổi đều phát triển mạnh, tỷ số P/Z=1 hay thấp hơn 1; mùa thu sinh học: nhiệt độ trung bình, ánh sáng yếu, nước nghèo dinh dưỡng, thực vật và động vật nổi kém phát triển, ngừng sinh sản, tỷ số P/Z<1; mùa đông sinh học: nhiệt độ thấp, ánh sáng yếu, nước giàu dinh dưỡng, thực vật và động vật nổi kém phát triển, ngừng sinh sản, tỷ số P/Z<1), biến động theo năm

Nhiệt độ ngoài ảnh hưởng đến các quá trình sinh học trong đời sống cá thể còn ảnh hưởng đến sự tuần hoàn của nước, phân tán các chất hóa học (khí oxy), phân tán chất dinh dưỡng ở trong các tầng nước, tạo nên tầng nước thẳng đứng đưa chất dinh dưỡng tích tụ dưới đáy sâu lên tầng mặt, làm ảnh hưởng tới các hoạt động dinh dưỡng, hô hấp của thủy sinh vật, gián tiếp ảnh hưởng tới năng suất sinh học của thuỷ vực

5 Hiện tượng nóng lên của trái đất ảnh hưởng đến nhiệt độ các thuỷ vực 5.1 Tình hình nóng lên của trái đất:

Nhiệt độ trái đất trong 15 năm qua là nóng nhất (cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20) Hiện tượng này đã được các nhà khoa học cảnh báo từ lâu, khoảng 30 năm, gần đây mới được các cơ quan hành chính Liên hợp quốc ghi nhận Việc xác minh hiện tượng nóng lên của trái đất được xác định dễ dàng hơn qua hiện tượng băng tan Liên Hiệp Quốc đã nêu vấn đề nhiệt độ trái đất nóng lên thành vấn đề cấp bách của việc bảo vệ môi trường thuỷ quyển thế giới

Trang 9

5.2 Hiện tượng băng tan ảnh hưởng đến các thuỷ vực trên thế giới.

Theo số liệu Liên Hiệp Quốc năm 2007, tổng số băng trên thế giới là hơn 21 triệu Km3, diện tích đóng băng chiếm 15% diện tích trái đất; 40% dân số thế giới (2 tỉ người) đã chịu ảnh hưởng của hiện tượng băng tan

Tính đến năm 2007, sau 2 năm so với năm 2005, diện tích băng đã tan là 1 triệu

Km2 và đã hình thành rõ một con đường từ Châu Âu sang Châu Á

Đối với một số vùng đã chịu ảnh hưởng của hiện tượng băng tan như:

Siberi là nơi lạnh nhất thế giới, băng phủ nhiều nơi từ 20.000 năm nay, thì đã bắt đầu tan ở một số điểm

Groculand (là một đảo lớn gần Bắc Mỹ) có diện tích băng lớn nhất thế giới (81% diện tích băng thế giới): 26 triệu Km2, tốc độ tan từ tháng hai năm 2006 tốc độ tan băng bắt đầu nhanh, tan 216 Km3/năm Qua 30 năm, diện tích băng đã tan 30%, nhiều khu vực đã biến thành nước, nhiều vùng 8 năm trở lại đây không còn băng Ở Nam Cực, trong 244 con sông băng đã thu hẹp ở mỗi con là 650 m từ tháng 7 năm

1999 đến tháng 7 năm 2005 Kenia, Tanozania là hai nước đóng băng lớn nhất ở Châu Phi, 82% diện tích không còn băng Dự báo đến 2020 sẽ hết băng Ở dãy núi Anpi, năm 1980 còn 1/3 diện tích băng, ở châu âu chỉ còn ½ diện tích băng Ở Châu Âu,

30-40 năm nữa sẽ không còn băng Ở Nga, ở dãy núi Zakaltaz, mỗi ngày trên núi cao lao xuống vực 3 triệu tấn Ở Trung Quốc, năm 2006 là nóng nhất kể từ năm 1951 Băng tan ở Hymalaya đẩy xuống sông Hoàng Hà Ở Bolivi ở Nam Mỹ, nhiều nơi trước đây

là băng giờ là đất đá Ở Hymalaya, Everest, mỗi năm nhiệt độ tăng 10C, dự báo 30 năm nữa, 80% không còn băng Ở Mehycô, sau 10 năm băng tan đến nay đã hết ¾ dự trữ nước ngọt không còn Ở Alaska (Bắc Mỹ) băng tan mạnh đã hình thành nhiều môn thể thao (lướt sóng) Cách đây không lâu, nhà khoa học Achentina (Nam Mỹ) cảnh báo là sóng băng dài nhất (350 Km) cùng hàng trăm con sông khác đã bắt đầu tan chảy

5.3 Ảnh hưởng của hiện tượng băng tan:

Băng tan làm dâng mực nước biển lên 1-3 m, gây lụt lội, nhấn chìm nhiều lãnh thổ Hiện nay thế giới còn phải đối mặt với hiẹn tượng nóng lên của trái đất Nhiều vùng bị nước biển xâm lấn dẫn đến lủ lụt, xói mòn (nhất là vùng đảo) Tác động xảy

ra nhiều nhất là ở Bắc Cực, ở Mỹ Ở đảo Timares, dân sống 4000 năm nay đã bị nuốt chửng hàng năm nên phải di dân cách xa 10 Km, ở Trung Quốc, lủ lụt lớn đã làm

100000 gia đình bị trôi,…

Ở Việt Nam, theo số liệu uỷ ban liên chính phủ của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu, Việt Nam là một trong 5 nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất ở Châu Á Nếu thuỷ triều dâng 1 m, thì ảnh hưởng đến 10% dân số, còn thuỷ triều dâng 5 m thì ảnh hưởng đến 35% dân số

5.4 Nguyên nhân và biện pháp khắc phục:

Một số nhà khoa học cho rằng do quá trình biến đổi địa chất theo chu kỳ Đây

là ý kiến của một số nhà địa chất, không được sự tán thành của các nhà khoa học, nhà nhân đạo, chỉ là sự phán đoán chứ không được chứng minh bằng khoa học Nguyên nhân thứ hai được xác định là do con người tác động đến môi trường tự nhiên của trái

Trang 10

đất: kinh doanh vô tổ chức, không lường hậu quả, không có những biện pháp bảo vệ môi trường dẫn đến xảy ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính Hiệu ứng nhà kính làm tăng nhiệt độ của khí quyển, tăng tan băng nên nước ngày càng nóng lên và làm cho băng tiếp tục tan ra Hoạt động kinh doanh vô tổ chức không lường được hậu quả đã ngày càng làm gia tăng hàm lượng khí cacbonic trong không khí Hàng năm trên thế giới đã thải ra khoảng 200 tỉ tấn CO2 vào khí quyển, trong đó Trung Quốc là 62 tỉ tấn, Mỹ là

58 tỉ tấn

Nhận định nguyên nhân: Nguyên nhân thứ hai đã được nghiên cứu nghiêm túc,

có cơ sở vững chắc theo phương pháp khoa học khách quan Nguyên nhân thứ nhát là những lập luận chưa được xác định bởi những nhà khoa học, mang tính phán doán, ý

đồ chủ quan của những nhà kinh doanh nhằm từ chối trách nhiệm Dù nguyên nhân nào hoặc cả hai nguyên nhân thì việc xử lí tác nhân CO2 là cần thiết và cấp bách Đối với nguyên nhân thứ hai thì con người có thể khống chế được vì đó là mầm tai hoạ do con người tạo ra Còn đối với nguyên nhân thứ nhất thf con người chỉ có thể dự báo

mà không khống chế được

Biện pháp khắc phục hiện tượng nhiệt độ trái đất nóng lên làm ảnh hưởng đến thuỷ vực:

Hoá lỏng CO2 ở - 910C cho vào ống giữ hàng triệu năm ở đất sâu, cho voà các hang dầu trống để qua thời gian sẽ biến đổi thành dầu mỏ trở lại Bằng phương pháp này Cộng Hoà Liên Bang Nga đã xử lí được 40-45% khí CO2

Xây dựng các nhà máy, các khu công nghiệp với hệ thống xử lí khép kín khí

CO2 và các chất khí độc khác Nghiêm cấm và xử phạt đúng mức những hành vi gây ô nhiễm môi trường

Khai thác bền vững và phát triển nguồn tài nguyên đặc biệt là tài nguyên rừng Nhận thức ý nghĩa cấp bách của hiện tượng nóng lên của trái đất, mỗi người phải tự ý thức làm giảm CO2 thải ra hàng ngày

PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Ngày đăng: 16/04/2014, 14:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4: Biến đổi nhiệt độ nước theo độ sâu ở hồ chứa nước suối Hai (tháng V/ - SỰ BIẾN ĐỔI NHIỆT ĐỘ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA THỦY SINH VẬT
Hình 4 Biến đổi nhiệt độ nước theo độ sâu ở hồ chứa nước suối Hai (tháng V/ (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w