Luận Văn: Phân tích các bài bình luận báo chí trên cơ sở lý thuyết lập luận
Trang 1Mục lục
Trang
Mở đầu 1
Chơng I: Một số khái niệm có liên quan đến đề tài 8
1.1 Bình luận 8
1.1.1 Quan niệm về bài bình luận 8
1.1.2 Các dạng bình luận 10
1.1.3 Đặc trng của thể loại bình luận 13
1.2 Cơ sở lập luận theo ngôn ngữ học 16
1.2.1 Khái niệm lập luận 16
1.2.2 Các yếu tố của lập luận 18
1.2.3 Các phơng pháp lập luận 19
1.2.4 Lập luận và thuyết phục 23
1.3 Phơng diện thể hiện bài bình luận 24
1.3.1 Văn phong của bài bình luận 25
1.3.2 Ngôn ngữ của bài bình luận 26
1.3.3 Về phơng diện ngữ pháp 27
1.3.4 Về phơng pháp diễn đạt 28
1.3.5 Kết cấu bài bình luận 29
Chơng II: Thử nghiệm ứng dụng lý thuyết lập luận vào việc phân tích các bài bình luận ( qua tác phẩm của ba nhà báo: Hữu Thọ, Chu Thợng và Quang Lợi) 31
2.1 Phân tích cách lập luận trong các bài bình luận của Hữu Thọ 31
2.1.1 Hữu Thọ và sự nghiệp báo chí 31
2.1.2 Phân tích cách lập luận trong các bài bình luận của Hữu Thọ 33
2.1.2.1 Đặt vấn đề 33
2.1.2.2 Giải quyết vấn đề 37
2.1.2.3 Kết thúc vấn đề 42
2.2 Phân tích cách lập luận trong các bài bình luận của Chu Thợng 44
2.2.1 Chu Thợng và chuyên mục “ Sự kiện và Bình luận” 44
2.2.2 Phân tích cách lập luận trong các bài bình luận của Chu Thợng 45
2.2.2.1 Đặt vấn đề 45
2.2.2.2 Giải quyết vấn đề 49
2.2.2.3 Kết thúc vấn đề 52
2.3 Phân tích cách lập luận trong các bài bình luận của Quang Lợi 56
2.3.1 Quang Lợi- nhà bình luận quốc tế 56
2.3.2 Phân tích cách lập luận trong các bài bình luận của Quang Lợi 57
2.3.2.1 Đặt vấn đề 57
2.3.2.2 Giải quyết vấn đề 60
Trang 2Chơng III: Vai trò then chốt và những nét đặc sắc
trong cách lập luận của thể loại bình luận báo chí 69
3.1 Vai trò then chốt của lập luận trong các bài bình luận báo chí 69
3.1.1 Nội dung cơ bản của bài bình luận là thông tin lý lẽ 69
3.1 2 Hình thức thể hiện cơ bản của bình luận là cách sắp xếp lôgic các luận điểm, luận cứ và luận chứng 70
3.2 Những đặc sắc rút ra từ cách lập luận trong loại bài bình luận báo chí 72
3.2.1 Đặc trng thể loại quy định kết cấu lập luận 72
3.2.2 Khái quát mô hình lập luận 73
3.2.3 Luận cứ- chính xác và lôgic 76
3.2.4 Sáng tạo và cá tính trong bình luận của Hữu Thọ, Chu Th ợng và Quang Lợi 79
3.2.4.1 Sáng tạo và cá tính trong bình luận của Hữu Thọ 79
3.2.4.2 Sáng tạo và cá tính trong bình luận của Chu Thợng 81
3.2.4.3 Sáng tạo và cá tính trong bình luận của Chu Thợng 82
Kết luận 84
Danh mục tài liệu tham khảo 88
Mở đầu
1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
1.1 Lịch sử phát triển của hệ thống thể loại báo chí cho thấy những bài bình luận thờng giữ vai trò quan trọng trong việc định hớng d luận xã hội Nó
là thể loại không thể thiếu trong việc giáo dục t tởng chính trị cho quần chúng, hớng dẫn cách nhìn nhận và đánh giá thông tin Vì vậy, mỗi tờ báo thờng có những chuyên mục bình luận riêng và những nhà báo làm công tác bình luận chuyên nghiệp Nhiều tác phẩm bình luận báo chí trong những giai đoạn lịch
sử nhất định đã lý giải thành công các hiện tợng xã hội, thay đổi cách nhìn của công chúng và dự báo đợc các chiều hớng vận động của đời sống xã hội Trong một thế giới hiện đại, trong một xã hội bùng nổ thông tin với nhiều biến
động và sự phát triển nh vũ bão của các loại hình truyền thông thì bình luận lại càng trở nên quan trọng và cần thiết cho đời sống việc thẩm định, phân
Trang 3tích, đánh giá các sự kiện, vấn đề, từ đó tìm ra bản chất, tác động của chúng
đã trở thành đòi hỏi bức thiết của công chúng đối với báo chí
1.2 Mỗi một thể loại báo chí đều có những nét đặc trng riêng gọi là đặctrng loại hình Đặc trng về ngôn ngữ, cách khai thác thông tin, dung lợng quy định sự khác biệt về hình thức thể hiện, cách thức chuyển tải thông tin và
đặc biệt là quy định sự khác nhau trong cách viết loại bài bình luận Bài bìnhluận vừa dựa trên những cơ sở chung nhất nhng lại là một sản phẩm mang dấu
ấn cá nhân Văn chính luận thờng khô khan, dập khuôn, công thức Tạo đợcbản sắc riêng trong viết bình luận là rất khó Làm cho bài viết trở nên hấp dẫn,sinh động, lôi cuốn ngời đọc lại là điều khó hơn Sức hấp dẫn của bài bìnhluận không nằm ở chi tiết giật gân, ly kỳ mà chính là ở luận cứ, ở cách phântích, mổ xẻ vấn đề một cách lôgíc, mới mẻ, đem lại cho
ngời đọc những thông tin mới, nhận thức mới Nếu ngôn ngữ là phơng tiện thểhiện thì lập luận chính là sơng sống, là yếu tố cốt lõi quyết định sự thành công
và cá tính sáng tạo của mỗi nhà báo trong thể loại bình luận Lập luận là sợichỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thứccủa văn bản
1.3 Là thể loại trụ cột trong nhóm báo chí chính luận, bình luận đangngày càng đóng vai trò quan trọng khi các tờ báo thờng dành những trang,
mục có vị trí trang trọng, bắt mắt để đăng tải các bài viết này Tính chất và vị
trí đặc biệt của bài bình luận trong hệ thống thể loại báo chí chính luận đặt ranhững yêu cầu và đòi hỏi cao đối với các nhà báo viết loại bài này Thực tiễnbáo chí chỉ ra rằng những cây bút viết bình luận xuất sắc thờng là những ngời
có kiến thức sâu rộng, hiểu biết sâu sắc về nhiều lĩnh vực khác nhau của đờisống xã hội từ kinh tế, chính trị đến văn hoá- xã hội và cả thế giới tinh thầnphong phú, phức tạp của con ngời Những bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minhtrong năm tháng kháng chiến dành độc lập dân tộc, những bài bình luận chínhtrị sắc sảo của nhà báo lão thành Hoàng Tùng cho đến loại bài bình luận ngắn,sâu sắc, hàm chứa của Hữu Thọ, Chu Thợng,… là kho t liệu đồ sộ để các thế
hệ nhà báo sau này học tập về phơng pháp thu thập và xử lý thông tin; cáchphân tích, đánh giá, kết luận vấn đề một cách xác đáng Nghiên cứu cách viếtbình luận ở những cây bút nổi tiếng này sẽ cho chúng ta nhiều kiến thức, kinh
Trang 4nghiệm khi muốn tạo ấn tợng với độc giả ở một thể loại báo chí quan trọng và
“khắt khe” này
Chính từ nhận thức về tầm quan trọng của lập luận trong cách viết bình
luận, xuất phát từ lý luận ngôn ngữ và thực tế báo chí, chúng tôi chọn Phân tích các bài bình luận báo chí trên cơ sở lý thuyết lập luận ( Qua những bài
bình luận của các nhà báo: Hữu Thọ, Chu Thợng và Quang Lợi) làm đề tàinghiên cứu cho luận văn của mình
Trang 52 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hình thức đơn giản đầu tiên trong thao tác t duy con ngời thể hiện thái
độ khen, chê trớc một sự kiện, hiện tợng, vấn đề của cuộc sống là nguồn gốccủa bình luận Và sự đánh giá có thể coi là dấu hiệu đầu tiên của hoạt động tduy bình luận
Theo nhiều tài liệu về lý luận báo chí trên thế giới thì bình luận xuấthiện từ nửa đầu thế kỷ XIX ở Anh và Pháp với “ tác dụng soi sáng và giảithích một sự kiện, một vấn đề hoặc một hiện tợng xã hội nào đó” [ 1, tr 96].Ngay từ khi mới ra đời, bình luận đã đợc các chủ báo khuyến khích vì nó đemlại cho công chúng những tri thức mới ẩn chứa đằng sau những tin tức, sự kiện
và qua sự giải thích, phân tích, nó tác động, ảnh hởng đến cách suy nghĩ củangời đọc Do báo chí Việt Nam ra đời muộn nên cũng giống nh nhiều thể loạibáo chí khác, bình luận xuất hiện trên các ấn phẩm định kỳ khi đã là một thểloại hoàn chỉnh
Lịch sử báo chí nớc ta từng chứng kiến nhiều cách gọi khác nhau trớckhi đi đến thống nhất tên gọi bình luận cùng với quan niệm đầy đủ về những
đặc trng của thể loại này nh hiện nay Ví dụ năm 1961, Hội Nhà báo ViệtNam dùng khái niệm “ngôn luận của báo”; năm 1974 một số dịch giả ngờiViệt dịch từ tiếng Nga là “luận văn” Đến năm 1978, các tác giả cuốn sách “
Giáo trình nghiệp vụ báo chí” của trờng Tuyên huấn Trung ơng gọi loại bài
này là bình luận trên báo Sau này, trong cuốn sách “ Nghề nghiệp và công
việc của nhà báo”, tác giả bài “ Bình luận trên báo chí” đã trình bày quan
niệm nh sau: “ Bài bình luận là một thể loại của báo chí, nhiệm vụ của nó là
diễn đạt t tởng của toà soạn về một vấn đề thời sự hoặc một sự kiện, nghĩa làlàm cho độc giả hiểu đợc mối quan hệ đó theo một quan điểm nhất định và từ
sự đánh giá đó rút ra đợc kết luận có tính chất chính trị” [ 12, tr 241] Hiệnnay, báo chí Việt Nam đã có cách gọi thống nhất là thể loại bình luận
Do tính thời sự và sự hấp dẫn của loại bài này nên so với các thể loạichính luận khác, bình luận xuất hiện nhiều hơn trên mặt báo đặc biệt là trongmấy năm trở lại đây Nếu nh trớc đổi mới, bình luận là những bài viết lớnphân tích, đánh giá những vấn đề quan trọng của đất nớc nh: chính sách cảicách giáo dục, việc phân chia ruộng đất ở nông thôn, công tác tuyên truyền,
cổ động thu thuế thì nay, loại bài này ít đợc báo chí sử dụng Thay vào đó lànhững bài bình luận ngắn, nhanh gọn, bắt kịp với những sự kiện nóng bỏng
Trang 6đang diễn ra hàng ngày Những năm 1980, 1990, bình luận chủ yếu xuất hiệntrên các tờ báo chính trị lớn nh Nhân dân, Quân đội nhân dân, Lao động… thìmấy năm trở lại đây, từ báo trung ơng đến địa phơng, báo ngành, báo tuần haynhật báo đều có mục bình luận Dới những tiêu đề: Sự kiện và Bình luận, Cùngbàn luận, Thời sự và suy nghĩ, Theo dòng thời sự hay Vấn đề hôm nay, Mỗingày một ý kiến, Mỗi tuần một ý kiến… các bài bình luận xuất hiện thờngxuyên, ổn định và rất hấp dẫn độc giả
Đã có rất nhiều khoá luận tốt nghiệp, luận văn cao học và cả luận ántiến sĩ nghiên cứu, tìm hiểu thể loại bình luận báo chí với các đề tài về ngônngữ bình luận, nghệ thuật bình luận, cá tính sáng tạo của nhà báo khi viết bàibình luận, bình luận quốc tế trên báo Quân đội nhân dân, sự phát triển của loạibài bình luận ngắn trên báo chí hiện nay… nhng hiếm có ngời viết nào lại đisâu nghiên cứu cách lập luận- yếu tố đợc coi là then chốt và quyết định sựthành công trong thể loại báo chí này Ngay cả với những sinh viên, học viên ởcác chuyên ngành về ngôn ngữ thì lý thuyết lập luận cha đợc tìm hiểu, vậndụng nhiều trong khi phân tích các bài báo…
Trong khi lý luận báo chí và thực tiễn nghiên cứu cho thấy bình luậnmới chỉ đợc xem xét ở góc độ thể loại chứ ít đề tài nào đi sâu phân tích yêú tốlập luận thì trong ngôn ngữ học thế giới, lập luận vẫn còn là một lĩnh vực mới
ở Việt Nam, cho đến trớc năm 1993, lý thuyết lập luận còn lạ lẫm đối vớiViệt ngữ học, kể cả những nhà nghiên cứu quan tâm đến ngữ dụng học Chínhvì vậy, đi sâu tìm hiểu lý thuyết lập luận để trên căn cứ đó áp dụng phân tích
các bài bình luận báo chí là mục đích của luận văn này Xác định Phân tích các bài bình luận báo chí trên cơ sở lý thuyết lập luận là một hớng đi mới
mẻ, một cách tìm hiểu sâu và có tính hệ thống về thể loại này, chúng tôi đãchọn đề tài này cho luận văn của mình với mong muốn góp phần công sức nhỏ
bé khám phá những đặc sắc và sáng tạo trong cách lập luận của các nhà báo:Hữu Thọ, Chu Thợng và Quang Lợi- những nhà báo đã thành danh ở thể loạinày
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Trang 7- Về lý thuyết: Chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu thể loại bình luận ở góc độ báochí học và chỉ ra vai trò, vị trí của lập luận trong loại bài này Bên cạnh đó, trêncơ sở vận dụng lý thuyết lập luận của ngôn ngữ học, ngời viết phân tích cấu trúc,các thành phần làm nên lập luận và đặt chúng trong kết cấu bài bình luận
- Về thực tiễn: Đi sâu khám phá cách lập luận khi viết bài bình luận ở 3tác giả: Hữu Thọ, Chu Thợng và Quang Lợi để chứng minh rằng: lập luận làyếu tố then chốt trong thể loại này Nó là xơng sống, cấu trúc và làm nên hệthống thông tin lý lẽ trong bài bình luận
Có thể nói, trong phạm vi luận văn này, từ phân tích, đánh giá, so sánhcách lập luận của Hữu Thọ, Chu Thợng và Quang Lợi; chúng tôi muốn hệthống hoá và đa ra những nhận định chung, rút ra đặc trng lập luận và kháiquát nó thành các cấu trúc, mô hình trong bài bình luận
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trong luận văn này, bằng những kiến thức về ngôn ngữ học và lý luậnbáo chí, ngời viết sẽ cố gắng đi sâu phân tích cách lập luận trong bài bình luậnbáo chí để chỉ ra những đặc trng, sáng tạo trong cách viết thể loại này; sự cầnthiết và yêu cầu chú trọng, đầu t cho nội dung này khi bình luận báo chí
- Chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu bản chất, cách kết cấu các thành phầntrong một lập luận, đặc tính của quan hệ lập luận xét trên phơng diện ngônngữ học từ đó vận dụng vào việc phân tích các bài bình luận báo chí, chỉ racách lập luận vấn đề khi viết một bài bình luận, nghệ thuật lập luận sao chobài bình luận đạt hiệu quả thông tin cao nhất
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu của đề tài là lý luận về thể loại bình luận báo chí
và lý thuyết lập luận của ngôn ngữ học
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hơn 300 bài bình luận đợc tập hợp và
in trong 3 cuốn: Bản lĩnh Việt Nam ( của Hữu Thọ), Chiếc roi trong tâm tởng ( của Chu Thợng) và ẩn số thời cuộc của Quang Lợi
Trang 85 Phơng pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, để phân tích các bài bình luận báo chí trên cơ sở lýthuyết lập luận, dựa trên nguồn t liệu là hơn 300 bài bình luận báo chí, chúngtôi dùng các phơng pháp sau đây:
- Tìm hiểu lý thuyết lập luận của ngôn ngữ học từ đó vận dụng vào việcphân tích các bài bình luận báo chí
- Phân tích, rút ra đặc trng trong cách lập luận khi viết bình luận của 3nhà báo: Hữu Thọ, Chu Thợng và Quang Lợi
- Chỉ ra vai trò, mối quan hệ giữa lập luận với các yếu tố khác trongnghệ thuật viết bài bình luận báo chí
Các thao tác trên đây xuất phát từ góc nhìn của ngời tiếp nhận thông tinbáo chí
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Mục lục và Phụ lục,luận văn gồm có 3 chơng:
Chơng I : Một số khái niệm có liên quan đến đề tài
Chơng II: Thử nghiệm ứng dụng lý thuyết lập luận vào việc phân tích các bài bình luận ( qua tác phẩm của ba nhà báo: Hữu Thọ, Chu Th- ợng và Quang Lợi)
Chơng III: Vai trò then chốt và những đặc sắc rút ra từ cách lập luận trong loại bài bình luận báo chí
Trang 9Chơng I Một số khái niệm có liên quan đến đề tài
Chơng I của luận văn sẽ tập trung trình bày những khái niệm cần thiết
có liên quan đến lý luận về thể loại bình luận báo chí và lý thuyết lập luận củangôn ngữ học Cụ thể, ngời viết sẽ trình bày đặc điểm của loại bài bình luậnbáo chí cũng nh hình thức, đặc trng của lập luận trong các bài bình luận
1.1 Bình luận
1.1.1 Quan niệm về bài bình luận
Bình luận đợc xem xét ở hai góc độ Một là xem xét bình luận với ýnghĩa nh một phơng pháp (cách đánh giá bàn luận về một sự kiện, hiện tợng,một vấn đề nào đó để đi đến sự nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vấn đề đó vànhững điều do vấn đề gợi ra) đợc sử dụng trong tất cả các hình thức đăng tải
nh trong tin vắn- dới dạng trích dẫn ý kiến của ngời khác; trong bản tin, xãluận, ký sự, tổng quan điểm báo Thứ hai là xem xét bình luận với t cách làmột thể loại báo chí chính luận, mang tính chất tổng hợp, trong đó bao gồmcác yếu tố giải thích, phân tích và có khi cả chứng minh
Trong cuốn “ Lý thuyết và thực hành báo chí Xô Viết”, E P Prôkharốp
có viết “ Giúp bạn đọc hình thành bức tranh tổng thể của đời sống xã hội từnhững t liệu riêng lẻ trên báo chí là một trong những nguyên nhân làm xuấthiện thể loại bình luận Một bài bình luận không chỉ dừng lại ở sự bàn luận,
đánh giá một sự kiện của cuộc sống mà phải từ nhiều sự kiện riêng lẻ, tác giảphải hình thành đợc bức tranh tổng thể của đời sống xã hội hiện tại Mặt khác,trên cơ sở đó phải giúp cho công chúng nhận thức đầy đủ và chính xác vềnhiều vấn đề của quá khứ và hiện tại, biết cách đánh giá thực tế khách quan,hiểu đợc vị trí của mình để từ đó có hành động cần thiết vì mục tiêu xây dựngcuộc sống ngày một tốt đẹp hơn” [15, tr 89] Nh vậy một bài bình luận hoànchỉnh không chỉ dừng lại ở sự bàn luận, đánh giá một sự kiện của cuộc sống
mà phải từ nhiều sự kiện riêng lẻ hình thành đợc bức tranh tổng thể của đờisống xã hội từ đó giúp công chúng nhận thức đầy đủ và chính xác về bản chấtcủa sự kiện, hiện tợng đó
Còn Karel Storkan thì quan niệm “ Bình luận là thể loại cơ bản của luậnvăn báo chí Trong đó, tác giả luôn nhằm trình bày với bạn đọc quan điểm của
họ về sự kiện có tính chất thời sự và nhằm thuyết phục bạn đọc rằng quan
Trang 10của nhà báo Trong bài bình luận, ngời viết phải đa ra những quan điểm, nhận
định của mình về sự kiện, vấn đề để chứng minh quan điểm của mình là đúngrồi từ đó định hớng d luận quần chúng Bàn về thể loại này, tác giả Trần Thế
Phiệt trong cuốn “ Tác phẩm báo chí” ( tập 3) cho rằng “ Bình luận là một
kiểu bài nghị luận mang tính chất tổng hợp trong đó bao gồm các yếu tố giảithích, phân tích và có khi có cả chứng minh” [ 17, tr 95] Theo quan niệm củatác giả thì bài bình luận đợc viết theo phơng pháp nghị luận mang tính chấttổng hợp Trên cơ sở nắm bắt sự kiện, ngời viết phải đồng thời sử dụng cácyếu tố: giải thích, phân tích, chứng minh, đánh giá, bàn luận… rồi đi đến mục
đích cuối cùng là nhằm thuyết phục ngời đọc Trần Thế Phiệt cũng nhấnmạnh: muốn bình luận có sức chiến đấu cao, tính thuyết phục lớn thì tác giảphải hiểu sâu sắc sự kiện, không xét chúng là những sự kiện đơn lẻ mà phải
đặt chúng trong những mối quan hệ tổng hợp từ đó mới có thể nắm chắc bảnchất của sự kiện để nhận định một cách chính xác nhất
Nhóm tác giả của Hội Nhà báo Việt Nam lại đề cao đến chức năng dẫndắt, định hớng t tởng cho công chúng của bài bình luận trên cơ sở đó khái quát
“ Bình luận là một thể loại báo chí, nhiệm vụ của nó là diễn đạt t tởng của toàsoạn về một vấn đề thời sự hoặc một sự kiện, nghĩa là làm cho độc giả hiểu đ-
ợc mối quan hệ đó theo một quan điểm nhất định và từ sự đánh giá đó rút ra
đ-ợc kết luận có tính chất chính trị” [ 12, tr 89]
Có thể nói, hầu hết các tác giả khi đa ra quan niệm về thể loại bình luận
đều thống nhất nhau ở đặc điểm nổi trội và cũng là điểm mạnh nhất của loạibài bình luận nói riêng, thể loại bình luận nói chung đó là thông tin lỹ lẽ Bàibình luận dù có đề cập đến những sự kiện nóng hổi, đợc công chúng quan tâmsong nếu thiếu những thông tin lý lẽ sắc sảo để bàn luận về vấn đề đó thì cũngkhông thể gọi là một bài bình luận
Ngày nay, chúng ta đang sống trong thế giới của công nghệ truyềnthông với những thông tin hấp dẫn, đang dạng, nhiều chiều Trình độ học vấn
và tri thức đợc nâng cao, công chúng không chỉ tiếp nhận các tác phẩm báochí một cách thụ động mà còn có khả năng đánh giá và thẩm định tác phẩm
đó Điều này đồng nghĩa với việc bài bình luận giờ đây không thể đơn thuầnchỉ là những ý kiến, quan điểm chủ quan của tác giả Sự kiện hoặc vấn đề đa
ra bình luận phải là những sự kiện, vấn đề công chúng đang quan tâm và cần
có sự định hớng t tởng Các bài báo thờng đa ra những gợi mở để ngời đọc tự
Trang 11nhận định vấn đề Bình luận có định hớng nhng không mang tính áp đặt Từ
những phân tích và nhận xét trên đây, chúng tôi đi đến quan niệm: Bình luận
là một thể loại báo chí thuộc nhóm chính luận, trong đó tác giả sử dụng hệ thống thông tin lý lẽ của mình để giải thích, phân tích những vấn đề có ý nghĩa chính trị, xã hội rồi từ đó đi đến nhận định, đánh giá về vấn đề đó hoặc
- Loại bài Bình luận ngắn
- Loại bài Bình luận trong ngày
- Loài bài Bình luận trong tuần và bài Bình luận phê bình trong tuần
- Bài bình luận mang tính chất bút chiến và tính chất giải thích
Nhóm tác giả này đã căn cứ trên sự phong phú, đa dạng của chủ đề và
sự phân biệt của từng chức năng để phân chia thành các dạng bài bình luậnkhác nhau Tuy nhiên, cách phân chia này cha thật khoa học, dễ bị trùng hợp
Ví dụ nh ngay trong bản thân bài Bình luận bút chiến đã là những bài Bìnhluận ngắn, hay nh Bình luận trong ngày, trong tuần đã là những bài giải thích,phân tích rồi…
Trần Thế Phiệt [17, tr 56] có cách phân chia mang tính khoa học hơn
đó là dựa vào những tiêu chí cụ thể để chia thành các dạng bài:
- Dựa theo tiêu chí thời gian:
+ Bình luận ngắn
+ Bình luận trong ngày
+ Bình luận trong tuần
Trang 12+ Bình luận sự kiện
+ Bình luận vấn đề
Thực tế cho thấy những sự phân chia này chỉ mang tính chất tơng đốibởi giữa các thể loại, các dạng bài luôn có sự co giãn, đan xen lẫn nhau Trêncơ sở tìm hiểu, nghiên cứu lý luận và thực tiễn báo chí, căn cứ theo thời gian,dung lợng, chúng tôi chia thành 2 loại: Bình luận ngắn, bình luận dài ( Bìnhluận chuyên sâu) Bài bình luận ngắn chỉ cần vài trăm từ, dẫn ra một sự kiện,một lời phát biểu… là ngời viết có thể đa ra nhận định của mình: tán thànhhoặc bác bỏ Dạng bài này xuất hiện nhiều trong các chuyên mục bình luậncủa các tờ báo nh: Thanh niên, Tuổi trẻ, Nhân dân, Lao động… Bài bình luậndài thờng tập trung vào những vấn đề, sự kiện đang gây xôn xao d luận, cần có
sự định hớng t tởng; hoặc từ nhiều sự kiện có liên quan đến nhau, ngời viếttổng hợp, phân tích rồi đi đến kết luận về một vấn đề
Căn cứ vào nội dung có 2 loại: Bình luận trong nớc, bình luận quốc tế.Trong mỗi dạng bình luận trong nớc hay quốc tế lại có những dạng bài cụ thểnh: Bình luận về chính trị- xã hội, Bình luận quân sự, Bình luận kinh tế- xãhội, Bình luận văn hoá- thể thao… Căn cứ vào phơng pháp thể hiện cũng cóthể chia thành 2 dạng sau: Bài bình luận giải thích, bình luận bút chiến Cácbài bình luận mang tính giải thích thờng đi sâu phân tích các chủ trơng, chínhsách của Đảng, Nhà nớc hoặc các hiện tợng tích cực trong đời sống xã hội.Trong bài bình luận bút chiến, ngời viết thờng đi từ những quan điểm, ý kiếntiêu cực, phân tích, bác bỏ, phủ nhận các quan điểm đó đồng thời rút ra cáitích cực Bài bình luận bút chiến phải có tính chiến đấu cao và thờng là để đấutranh với quan điểm của các nhà chính trị đối lập, vạch trần âm mu, thủ đoạncủa các thế lực phản động, thù địch…
Hiện nay, báo chí sử dụng rất nhiều hình thức bình luận và phạm vinghiên cứu của mỗi bài bình luận cũng rất đa dạng Có những bài bình luậnchỉ dừng lại ở mức xem xét một sự kiện nhỏ, riêng lẻ nào đó trong đời sống xãhội nh việc đánh giá hành vi của một cá nhân cụ thể nào đó là tốt hay khôngtốt Cũng có khi nhà báo sử dụng bài bình luận để đánh giá, bàn luận về một
sự kiện nhng sự kiện này đã đợc thông báo trên các phơng tiện thông tin đạichúng Ngời viết trình bày quan điểm của toà soạn hay của chính mình về sựkiện đó hoặc từ sự kiện đó liên hệ đến những sự kiện hay vấn đề khác Đây làloại bài mà các nhà nghiên cứu và giới báo chí gọi là bình luận ngắn vì đề tài
Trang 13mà nó đề cập không lớn, dung lợng chỉ từ 250 đến 400 từ Tính chất hớng dẫnnhận thức và hành động trong bài này thể hiện rõ
1.1.3 Đặc trng của thể loại bình luận
Cuốn sách “Các thể loại báo chí” (nxb Thông tấn) [ 13, tr 48] đã làm
nổi bật đặc điểm của bình luận thông qua việc nêu lên những mục tiêu mà thểloại bình luận hiện nay theo đuổi:
+ Hớng sự chú ý của bạn đọc vào những sự kiện mới quan trọng, nổilên hàng đầu trong đời sống xã hội, đánh giá chúng
+ Đặt sự kiện đợc bình luận trong mối liên hệ với những sự kiện khác,phát hiện nguyên nhân của sự kiện đó
+ Hình thành dự báo phát triển của sự kiện đợc bình luận
+ So sánh, thờng với sự trợ giúp của các ví dụ, những cách thực hành
xử và giải quyết cần thiết cho bài toán
Trần Quang trong cuốn “Các thể loại báo chí chính luận” [ 16, tr 78]
đã đa ra những nhận xét chủ yếu về thể loại này:
- Bài bình luận là một tác phẩm đặc sắc dùng để tái tạo bức tranh toàncảnh về một vấn đề nào đó trong đời sống xã hội Cơ sở chính của bài bìnhluận là các sự kiện, chi tiết điển hình, tiêu biểu của hiện thực khách quan Bàibình luận đòi hỏi phải xem xét các sự kiện, hiện tợng đó trong mối liên hệ vàphụ thuộc lẫn nhau để rút ra kết luận chung có tính định hớng cho nhận thức
và hành động của công chúng Tác giả có thể sử dụng nhiều hình thức và
ph-ơng pháp khác nhau nh so sánh, đối chiếu, hệ thống hoá để làm nổi bật chủ đềtác phẩm và t tởng của tác giả hay toà soạn
- Từng mục từng phần của tác phẩm không đứng riêng lẻ, độc lập mà lànhững bộ phận cấu thành tác phẩm
- Từng phần của tác phẩm liên quan mật thiết tới nhau bổ sung chonhau để làm nổi bật chủ đề chính
Ngoài ra tác giả còn so sánh bình luận với tiểu luận để thấy rõ đặc điểmcủa thể loại này Tác giả bài bình luận không chỉ sử dụng một vài sự kiệnriêng lẻ mà là toàn bộ các sự kiện, hiện tợng, quá trình của một lĩnh vực nào
đó để so sánh, đối chiếu làm sáng tỏ một vấn đề cụ thể mà tác giả đang nghiên
Trang 14cứu Trong bài bình luận tác giả không xem xét đánh giá các sự kiện hiện tợngriêng lẻ một cách độc lập nh viết tờng thuật hay viết tin mà các sự kiện riêng
lẻ đó trong mối liên hệ chặt chẽ, phụ thuộc lẫn nhau, nhấn mạnh ý nghĩa củachúng để làm nổi bật cái chung
Nh vậy, đặc điểm đầu tiên của bài bình luận là không lấy những sự kiện riêng lẻ mà phải xem xét chúng trong nhiều khía cạnh, đặt nó trong mối quan hệ nhiều mặt mới có thể phát hiện ra ý nghĩa vấn đề Yêu cầu đầu
tiên của bài bình luận cũng giống nh bất kỳ một tác phẩm báo chí nào là phải
có sự kiện Tuy nhiên, do đặc điểm thể loại nên không phải bất kỳ sự kiện nàocũng có thể đa vào bình luận Đó phải là những sự kiện tiêu biểu, có liên quan
đến vấn đề tác giả bàn luận Do đó, tài năng của ngời bình luận đợc thể hiệnngay ở khâu đầu tiên: lựa chọn sự kiện, vấn đề để bình luận
Trên cơ sở những sự kiện đã đợc lựa chọn, tác giả sẽ phân tích, lý giảinhững sự kiện đó để đi đến kết luận Nh vậy, trong 1 bài bình luận phải có đầy
đủ 3 yếu tố: thông báo, bình và luận trong đó bình và luận là 2 mặt quantrọng Bình là xem xét, phân tích các khía cạnh của vấn đề, đánh giá, khai thác
nó ở các mặt nội dung, ý nghĩa Luận là bàn bạc, mở rộng vấn đề, đặt nó vàotrong quá trình diễn biến phát triển, nhận định khả năng và triển vọng, nêu tácdụng của nó trong đời sống xã hội, trong thực tế và trong lý luận
Một đặc điểm quan trọng của thể loại này chính là khuynh hớng t tởng của tác giả và toà soạn báo Khía cạnh chủ quan này thể hiện ở các mặt nh
quan điểm, lập trờng, thái độ, thậm chí là cả trong việc nhận thức các sự kiện,cách lựa chọn, sắp xếp, giải thích và phân tích các sự kiện ở bình luận, dấu
ấn của “ cái tôi”- tác giả, ngời bình luận thể hiện khá rõ nét Sợi chỉ đỏ xuyênsuốt bài bình luận phải là những nhận xét, đánh giá của tác giả và toà soạn báo
đó Đặc điểm này khẳng định năng lực cũng nh bản lĩnh của ngời viết bìnhluận
Bình luận báo chí là 1 trong những thể loại quan trọng trong báo chíhiện đại Ngoài những đặc trng mang tính nguyên tắc của báo chí nh: tính
Đảng, tính chân thật, khách quan, tính quần chúng… thì bình luận còn cónhững đặc trng thể hiện rõ tính trội của thể loại này Một trong 3 đặc trngquan trọng của loại bài này là tính khuynh hớng t tởng
Nội dung thông tin trong bài bình luận là bày tỏ chính kiến, bộc lộ côngkhai quan điểm chính trị, t tởng của ngời viết đối với những vấn đề thời sự
Trang 15quan trọng Sự phân tích, lý giải của nhà báo giúp bạn đọc nhận thức rõ bảnchất của sự kiện, hiện tợng Trong thời đại của khoa học, công nghệ với sựphát triển nh vũ bão của các loại hình truyền thông, bình luận càng phải giữvững tính khuynh hớng t tởng Khuynh hớng chính trị rõ ràng, tác động và h-ớng dẫn d luận quần chúng trong khi vẫn hấp dẫn độc giả là thành công lớncủa thể loại bình luận.
Đặc trng thứ 2 của bài bình luận là tính chiến đấu cao Cũng chính vì
đặc trng này mà báo chí Đức đã gọi thể loại bình luận là bút chiến Tính chiến
đấu đòi hỏi bình luận phải đợc xây dựng bằng hệ thống lý lẽ sắc sảo, chínhxác Đó có thể là những lý lẽ để vạch trần bộ mặt của kẻ thù, cũng có thể lànhững lời tố cáo, lên án gay gắt những tệ nạn mới trong xã hội hiện đại Đặctrng này đòi hỏi ở nhà báo- nhà bình luận phải có tinh thần dũng cảm, dámnghĩ, dám làm, dám viết và biết đấu tranh bảo vệ ý kiến, quan điểm của mình
Đặc trng “ tính chiến đấu” còn yêu cầu ngời viết không thể hiện thái độ mơ
hồ, không rõ ràng đồng thời không chấp nhận một kết luận mang tính chấtchung chung Một bài bình luận thiếu tính chiến đấu là một tác phẩm báo chíthất bại, không có tính thông tin và không định hớng đợc d luận xã hội
Đặc trng mà chúng tôi muốn nhấn mạnh hơn cả trong luận văn này đó
chính là tính lý luận Khác với các thể loại báo chí khác, bình luận trình bày
t tởng và thuyết phục ngời đọc chủ yếu bằng lập luận, lý lẽ Có thể ví thể loạibình luận thiếu thông tin lý lẽ nh thể ký chân dung mà là lại thiếu nhân vật.Nói nh vậy để thấy đợc tầm quan trọng của lý lẽ trong bài bình luận Thôngtin lý lẽ trong bài bình luận không phải là sự sao chép một cách máy móc,ghép nối vụng về của các sự kiện mà nhất thiết phải có sự đánh giá, nhận xét,
sự thẩm định của tác giả về sự kiện đó Trên cơ sở các dẫn chứng là sự kiện,vấn đề tác giả đa ra những phân tích, tìm tòi để làm sáng tỏ vấn đề cần bìnhluận Ngay trong phần kết luận cũng không thể xếp đặt một cách lộn xộn màphải đợc xây dựng, kết cấu một cách hệ thống, logic rõ ràng, chặt chẽ Cácnhận định, đánh gía phải đợc xây dựng thành luận cứ, luận chứng, luận điểmrồi từ đó mới đi đến kết luận then chốt để có sức thuyết phục ngời đọc
1.2 Cơ sở lập luận theo ngôn ngữ học
1.2.1 Khái niệm lập luận
Trang 16Ngữ dụng học của ngôn ngữ học hiện đại chỉ ra rằng: lập luận có mặtkhắp nơi, trong bất cứ diễn ngôn nào, đặc biệt trong các diễn ngôn đời thờng.Không phải chỉ khi nào cần lý luận, tranh luận với nhau chúng ta mới lập luận.Khi chúng ta kể lại một sự kiện, miêu tả một hiện thực, chúng ta cũng thựchiện một vận động lập luận Lập luận là một hành vi ở lời có tính thuyết phục
Có 2 loại lập luận là lập luận lôgic và lập luận đời thờng Lập luận đờithờng không bị chi phối bởi các quy tắc, các tiêu chuẩn đánh giá của lập luậnlôgic và giá trị các nội dung miêu tả đợc đa vào trong lập luận đời thờngkhông phải ở chỗ các nội dung này đúng hay sai so với thực tế mà là ở giá trịcủa nó đóng góp vào lập luận với t cách là những luận cứ của lập luận đời th-ờng Trong văn nghị luận, tức loại văn bản làm việc với các ý kiến có vấn đềthen chốt là lập luận
Trong cuốn “ Đại cơng ngôn ngữ học” ( tập 2), Đỗ Hữu Châu cho rằng:
Cái mà ngời nói hớng ngời nghe tới qua thông tin miêu tả có thể là một thái
độ, tình cảm, đánh gía hay nhận định, hành động nào đó cần phải thực hiện.Nói vắn tắt, cái mà thông tin miêu tả hớng tới là một kết luận nào đó rút từthông tin miêu tả đó Từ những phân tích cụ thể trong giao tiếp thông thờng,tác giả đi đến kết luận “ Lập luận là đa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt ngời nghe
đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà ngời nói muốn đạttới” [ 10, tr 155] Lập luận chỉ là một điều kiện để thuyết phục, còn kết luận
có thuyết phục đợc hay không lại là việc khác
Ngôn ngữ học với tính chất chặt chẽ và chính xác, khoa học đã chỉ rarằng: Thuật ngữ lập luận đợc hiểu theo 2 nghĩa:
Trang 17Trong diễn ngôn độc thoại dạng viết mà cụ thể ở đây là các bài bìnhluận báo chí, không phải chỉ có một lập luận mà thờng là sự phối hợp của một
số lập luận ( và phản lập luận) diễn tiến để dẫn đến kết luận cuối cùng- đíchcủa toàn bộ bài viết
Khi viết bài bình luận, tác giả thông qua quá trình lập luận, trình bày lý
lẽ và dẫn chứng để thuyết phục ngời đọc đồng tình với ý kiến và quan điểmcủa mình Lập luận thiếu chặt chẽ, phi lôgíc hoặc phiến diện, mơ hồ sẽ khiếncho ngời đọc không hiểu, không tin từ đó mà bài bình luận không đạt đợc mục
đích đề ra Trong cuốn “ Sách làm văn 12”, lập luận đợc hiểu là “ dựa vào các
sự thật đáng tin cậy và các lý lẽ đầy đủ, xác đáng để nêu ra ý kiến, quan điểmcủa mình Khi lập luận, ngời ta một mặt nêu rõ luận điểm để ngời đọc biết đợcngời viết muốn nói gì, tán thành điều gì, phản đối điều gì Mặt khác, tiến hànhluận chứng để thuyết phục ngời đọc về luận điểm đó Lập luận đòi hỏi sự kếthợp các yếu tố luận điểm, luận cứ, luận chứng”
Để có đợc một lập luận lôgíc, ngời viết bình luận phải hiểu biết các quyluật của nó Những khía cạnh đợc dẫn ra làm chứng cứ cũng nh những lý lẽ sửdụng cũng phải phù hợp và trở thành hậu thuẫn cho t tởng chủ đạo của tác giả
1.2.2 Các yếu tố của lập luận
* Luận điểm
Luận điểm là ý kiến xác định của ngời viết về vấn đề đợc đặt ra Trongmột bài bình luận có thể có một hoặc nhiều luận điểm Đó là những ý trực tiếpcấu thành chủ đề, có sự khái quát cao, chứa đựng những quan điểm, quanniệm, những t tởng sâu sắc Các luận điểm trong tác phẩm tơng đối độc lập vớinhau thể hiện ở chỗ trong một tác phẩm, luận điểm này không nằm trong luận
điểm kia Nó có vai trò liên kết với nhau để soi sáng, thuyết minh cho luận
điểm lớn của toàn bài
Luận điểm thờng rất ngắn gọn, cô đúc t tởng của ngời viết một cách sâusắc Các luận điểm lớn nhỏ trong bài bình luận đều rất chính xác vì nó nói
đúng đợc đặc điểm của vấn đề, sự việc cần đề cập Có khi luận điểm đợc kháiquát nh những chân lý, nh một quy luật, một châm ngôn Có khi luận điểm lại
đợc nêu lên bằng câu hỏi
* Luận cứ
Trang 18Để làm sáng tỏ những quan điểm, t tởng kết đọng trong các luận điểmcần phải có những luận cứ Cho nên luận cứ là cứ liệu, những bằng chứng, chitiết để xây dựng và chứng minh cho luận điểm Trong một luận điểm có nhiềuluận cứ Trong bài bình luận, những luận cứ đợc lập luận một cách rất linhhoạt Luận cứ có thể là bằng chứng thực tế lấy từ cuộc sống, có thể là các lý
lẽ, chân lý về mặt lý luận đã đợc công nhận Các luận cứ này rất xác thực,
đáng tin cậy Ngôn ngữ học chỉ ra rằng: luận cứ có hiệu quả lập luận mạnhhơn thờng đợc đặt ở sau luận cứ có hiệu quả lập luận yếu hơn Chính vì thế màhiệu quả lập luận không chỉ do nội dung của luận cứ mà còn do vị trí củachúng trong lập luận quyết định [ 10, tr 69]
Trong thể loại bình luận, rất nhiều luận cứ là con số, dẫn chứng cụ thể
Điều đó tạo cho loại bài này tính chính xác cao, mang đậm nét tả thực Mốiquan hệ giữa luận điểm, luận cứ rất khăng khít, chặt chẽ Luận điểm đứng đợc
là dựa vào luận cứ, còn luận cứ nêu ra là để phục vụ cho luận điểm Trong nội
bộ các luận cứ: lý lẽ và dẫn chứng cùng soi sáng cho nhau Lý lẽ tạo cho dẫnchứng khả năng thuyết minh cho luận điểm, còn dẫn chứng thực tế lại làm cho
lý lẽ có nội dung, sức mạnh
* Luận chứng
Có luận điểm, luận cứ rồi còn phải biết làm sao cho luận cứ “ nói lên”luận điểm, làm sao cho lý lẽ và dẫn chứng thực tế phối hợp với nhau để thuyếtminh luận điểm một cách mạnh mẽ, nổi bật, thuyết phục Luận chứng là sựvận dụng các phép suy luận lôgíc, phối hợp tổ chức các lý lẽ và dẫn chứng đểthuyết minh cho luận điểm Luận chứng trong bài bình luận rất chặt chẽ, toàndiện và có trật tự
Lập luận chỉ có giá trị thuyết phục khi có các luận cứ tin cậy, bảo đảm
sự tơng hợp giữa luận cứ và kết luận Tuy nhiên điều kiện đó cha đủ Ngời lậpluận phải biết sử dụng các phơng pháp lập luận đúng, phù hợp với những quyluật lôgíc trong t duy
1.2.3 Các phơng pháp lập luận
Theo ngôn ngữ học thì trong một lập luận, kết luận có thể ở vị trí đầu, vịtrí giữa hoặc cuối của luận cứ Tuy nhiên, sau luận cứ là vị trí thờng gặp củakết luận trong lập luận Và không ít trờng hợp, luận cứ hay kết luận có thểhàm ẩn, không đợc nói rõ ra mà ngời nghe, ngời đọc phải tự suy ra dựa trênngữ cảnh, tình huống mà ngời viết đa ra Tự tìm ra kết luận để từ đó công
Trang 19chúng có suy nghĩ, nhận thúc đúng đắn về bản chất của vấn đề là yếu tố hấpdẫn trong cách viết bài bình luận Nhà báo không “ can thiệp” một cách trựctiếp, lỗ liệu mà khơi gợi, định hớng để ngời đọc tự rút ra thông tin cốt lõi vànhận định riêng cho mình là cách viết bình luận phổ biến hiện nay
Bình luận là thể loại báo chí chính luận sử dụng thông tin lý lẽ là chủyếu, nó đợc coi nh một sức mạnh để đạt đợc hiệu quả và mục đích đề ra Cóthể nói: sự kiện là yếu tố quan trọng đầu tiên để tạo nên bài bình luận: Bảnchất của thể loại bình luận chính là bắt đầu từ các sự kiện đi đến vấn đề mangtính t tởng, thể hiện qua điểm của ngời viết Sự kiện trong bình luận vừa là đốitợng phản ánh, phơng tiện phản ánh đồng thời đợc đặt trong mối liên hệ logic,
hệ thống, tác động qua lại với nhau để làm sáng tỏ vấn đề
Sự kiện là cái quan trọng, là cái đầu tiên nhng nó mới chỉ là những vậtliệu của ngời bình luận Tác phẩm bình luận thể hiện nội dung bằng cách dựavào các sự kiện mới để lập luận, phân tích tổng hợp, rút ra nguyên nhân, nêu
ra biện pháp, chỉ ra quy luật vận động khách quan của nó Trong bình luận,tính lý luận luôn đợc thể hiện rõ ràng Mục đích của bình luận là tác động vàonhận thức của công chúng vì vậy nó đòi hỏi những vấn đề mà tác giả bình luận
đa ra phải hết sức logic, chặt chẽ, dẫn dắt ngời đọc theo quan điểm của mình
Và thông tin lý lẽ trong bình luận không phải và không chấp nhận sự khuônsáo, cứng nhắc, giáo điều hay hô khẩu hiệu Bài bình luận đòi hỏi chính kiến,thái độ của ngời viết hoặc toà soạn hay chủ bút nhng phải diễn đạt một cáchsáng tạo khách quan hớng về một mục đích cụ thể đã xác định trớc Và nó đợctrình bày trên cơ sở hệ thống các luận điểm, luận cứ tuân theo một luận chứngnhất định Các phơng pháp lập luận phổ biến trong bài bình luận là:
* Phơng pháp quy nạp
Quy nạp là quá trình lập luận đi từ cái riêng đến cái chung, từ sự quansát, nghiên cứu các hiện tợng, đối tợng cụ thể, riêng biệt, đơn nhất tiến đếnnhững kết luận tổng quát; từ luận chứng riêng suy ra nguyên tắc, nguyên lýphổ biến hay nói cách khác từ việc xem xét những hiện tợng, đối tợng riêng lẻ,tìm ra mối liên hệ bản chất giữa chúng với nhau từ đó nâng lên thành nhận
định khái quát, trừu tợng về những dấu hiệu chung Trong phơng pháp quynạp, thậm chí từ những tiền đề đúng đắn có thể suy ra đợc một kết luận mangtính xác suất bởi vì độ tin cậy của tri thức riêng rẽ ( các tiền đề) không thể xác
định một cách giống nhau tính chân thực của tri thức chung
Trang 20ơng pháp này đóng vai trò to lớn trong quá trình t duy của con ngời cũng nhtrong thực tiễn báo chí đặc biệt là ở thể loại bình luận
* Phơng pháp phối hợp diễn dịch- quy nạp ( còn gọi là phơng pháptổng- phân- hợp)
Phân tích chỉ là bớc đầu của sự khám phá các yếu tố có quan hệ tơng
hỗ, các mối liên hệ qua lại giữa nguyên nhân và kết quả còn kết cục của nó là
sự liên kết các yếu tố đợc khảo sát riêng rẽ đó thành một tổng thể toàn vẹn, cónghĩa là sự tổng hợp Phép tổng hợp dựa trên những dữ liệu thu nhận đợc từphép phân tích Phơng pháp này gồm có 3 phần: Nêu vấn đề, giải quyết vấn
đề, kết luận vấn đề
Thực tế cho thấy trong các bài bình luận luôn sử dụng cân bằng 2 cáchlập luận quy nạp và diễn dịch Đối với những vấn đề cần đa những luận điểmmang tính tổng quát sau đó dẫn giải, phân tích giúp công chúng hiểu rõ chitiết thì tác giả dùng lối viết diễn dịch Còn những vấn đề cần nêu từng sự kiệnnhỏ rồi tập trung khái quát thành một ý lớn, mục đích chỉ ra cho công chúngthấy ý nghĩa, bản chất của vấn đề thì cách hiệu quả nhất là dùng phơng phápquy nạp Thông thờng thì 2 phơng pháp này luôn đi đôi, bổ trợ cho nhau và nó
ít tồn tại nh một phơng pháp duy nhất trong bài bình luận Ngời viết thờng kếthợp, vận dụng chúng với nhau để tạo hiệu quả thông tin cao nhất là thuyếtphục độc giả tin vào những quan điểm mà nhà báo đó đa ra
Mô hình luận chứng- luận cứ- luận chứng là mô hình chung cho các bàibình luận Đa ra một luận điểm, trình bày một luận cứ ( cứ liệu, bằng chứng,chi tiết) rồi thông qua luận chứng để đánh giá, cắt nghĩa, giải nghĩa sự kiện đểrút ra bản chất của vấn đề, xu hớng vận động của sự vật, hiện tợng Để lậpluận đến đợc với ngời đọc, ngời viết phải có các phơng pháp lập luận Các ph-
ơng pháp lập luận trong bài bình luận không đợc tiến hành đơn lẻ mà luôn có
sự kết hợp nhuần nhuyễn với nhau để tạo hiệu quả thông tin cao nhất
Trang 21Ngoài 3 phơng pháp có tính chất mô phạm và truyền thống trên, trongthể loại bình luận, các tác giả còn vận dụng linh hoạt và sáng tạo một số ph-
ơng pháp khác để bài viết thêm sinh động, hấp dẫn Đó là:
* Nêu phản đề: Nêu ra 1 luận điểm giả định và phát triển nó đến tận cùng
để chứng tỏ đó là luận điểm sai, từ đó khẳng định luận điểm của mình là đúng
* So sánh: Phơng pháp này đợc sử dụng dới 2 hình thức:
- So sánh tơng đồng: Từ một chân lý đã biết, đã đợc công nhận suy ramột chân lý tơng tự có chung lôgíc bên trong
- So sánh tơng phản: Đối chiếu các mặt trái ngợc với nhau ( trắng- đen,phải- trái) để làm nổi bật điều mình muốn hớng tới
Trong bình luận, phơng pháp này đợc áp dụng rộng rãi, nhờ so sánh mà
sự khác biệt và tơng đồng của các đối tợng, sự vật đợc xác định một cáchchính xác, đầy đủ hơn
* Nhân quả: Dựa trên mối quan hệ nhân quả, phơng pháp lập luận quả nhằm vạch rõ nguồn gốc của các hiện tợng cụ thể và cũng là nhằm dựkiến các hiện tợng xảy ra Trong phơng pháp lập luận này, ngời viết thờng sửdụng 2 cách: trình bày nguyên nhân trớc, kết qủa sau; chỉ ra kết quả trớc, trìnhbày nguyên nhân sau hoặc trình bày hàng loạt sự việc theo quan hệ nhân- quảliên hoàn Việc thiết lập các mối liên hệ nhân- quả của các sự kiện, quá trình,hoạt động này hay hoạt động khác là nhiệm vụ trung tâm của việc giải thích
nhân-Điểm đặc thù của mối liên hệ nhân- quả là chúng có tính xác định và
đơn nhất, có nghĩa là trong cùng một điều kiện, nguyên nhân nh nhau sẽ tạo ra
các kết quả cùng nhau Trong cuốn “ Các thể loại báo chí”, A.A Chertchơni
cho rằng: “ Để thiết lập mối liên hệ nhân- quả, trớc hết phóng viên cần phảitách tập hợp các hiện tợng anh ta quan tâm ra khỏi loạt chung các sự kiệnkhác Tiếp theo nên chú ý đến những hoàn cảnh xảy ra trớc sự xuất hiện củamối liên hệ Sau đó từ các hoàn cảnh này cần phân biệt những tình tiết xác
định cụ thể, có khả năng trở thành nguyên nhân của hiện tợng này” [ 22, tr.49] Trong bình luận, việc làm rõ mối quan hệ nhân- quả của các sự kiện sẽgiúp tác giả khai thác triệt để đề tài và là chiếc chìa khóa để tạo ra một tácphẩm bình luận có tính chất phân tích
* Vấn đáp: Nêu ra câu hỏi rồi trả lời hoặc để tự ngời đọc trả lời
Trang 221.2.4 Lập luận và thuyết phục
Không có một bài báo nào nói chung và bài bình luận nói riêng lạikhông nhằm thuyết phục công chúng tin và nghe theo quan điểm của toà soạnhay chính nhà báo đó Tuỳ theo năng lực và cá tính sáng tạo mà ngời viết đa racác chuỗi lập luận hay phản lập luận để rồi bác bỏ phản lập luận đó, đi đến kếtluận chung có tính khái quát về sự kiện, hiện tợng xảy ra trong đời sống xã
hội GS TS Đỗ Hữu Châu trong cuốn “ Đại cơng ngôn ngữ học” ( tập 2) đã
khẳng định: “Lập luận và vận động lập luận là một chiến lợc hội thoại nhằmdẫn dắt ngời nghe, ngời đọc đến chỗ nắm bắt đợc cái kết luận mà ngời lậpluận muốn đi tới Lập luận là một hành vi ở lời có đính thuyết phục” [ 10, tr.164] Song để thuyết phục đợc ngời khác, Aristote có chỉ ra 3 nhân tố cần phải
đạt đợc:
- Nhân tố lý lẽ Muốn thuyết phục đợc phải có lý lẽ
- Nhân tố xúc cảm Có lý lẽ cha đủ để thuyết phục Lời nói phải gây đợctình cảm, thiện cảm của ngời tiếp nhận
- Nhân tố tính cách, đặc điểm tâm lý, dân tộc, văn hoá của ngời tiếpnhận Lời nói chẳng những phải có lý, phải có tình cảm, gây đợc thiện cảm màcòn phải phù hợp với sở thích, tính cách hoặc truyền thống dân tộc, văn hoácủa ngời tiếp nhận
Khả năng thuyết phục của thông tin tuỳ thuộc vào chỗ chúng có hội đủ
3 nhân tố trên hay không Có thể nói: lập luận chỉ là một điều kiện để thuyếtphục, còn kết luận có thuyết phục đợc hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu
tố khác Trong bài bình luận báo chí thì các yếu tố này có thể là ngôn ngữ,cách lựa chọn đề tài, góc độ khai thác thông tin, tài năng, sự nổi tiếng của ng-
ời bình luận Khi đa ra một lập luận, nhà báo phải tin và chịu trách nhiệm vềcác luận cứ và kết luận mà mình đa ra Đối với ngời tiếp nhận tức là côngchúng thì họ đang ở trạng thái vô can chuyển sang chờ đợi lập luận, chờ đợikết luận
1.3 Phơng diện thể hiện bài bình luận
Thông tin trong bài bình luận là thông tin lý lẽ Nội dung của thông tin
lý lẽ không chỉ đơn thuần là việc lựa chọn khéo léo, chính xác hoặc tập hợpcác sự kiện mà trên cơ sở đó ngời viết phải trình bày cho đợc quan điểm, ýnghĩa, sự đánh giá của mình về sự kiện, hiện tợng đó Tác giả phải phân tích
Trang 23mối quan hệ giữa các sự kiện từ đó rút ra đợc những kết luận có tính định ớng kịp thời Sự kiện là cái quan trọng đầu tiên nhng nó mới chỉ là nguyên vậtliệu để nhà báo viết bình luận Chính đặc trng quan trọng là tính định hớng t t-ởng cùng thông tin lý lẽ, lập luận đã quy định văn phong, từ ngữ và cách thứcdiễn đạt trong loại bài này
h-1.3.1 Văn phong của bài bình luận
* Nhất quán
Đây là đặc điểm quan trọng khi viết bài bình luận Ngời viết xác định một
t tởng, chủ đề, có chủ kiến nhất định và giữ vững lập trờng đó trong suốt bài bìnhluận Điều này làm cho ngời đọc thấy rõ tính lôgíc giữa các luận điểm, luận cứtrong bài Các nhận định, dẫn chứng đa ra quy định lẫn nhau tạo nên tính chỉnhthể và thống nhất trong bài viết ý trớc kéo theo ý sau, từ ý sau có thể suy ra ý tr-
ớc khiến ngời đọc không thể bỏ qua một câu từ nào
Tính nhất quán không chỉ thể hiện ở nội dung mà còn ở cả lời văn,giọng văn Tất nhiên, trong một bài bình luận có nhiều lời văn, giọng văn khácnhau tuỳ theo từng đoạn nhng tác giả vẫn phải trung thành với giọng điệuchung nhất
* Rõ ràng, rành mạch
Lời văn trong bình luận thờng rõ ràng, mạch lạc giúp ngời đọc nắm bắt
đợc ý kiến của ngời viết một cách nhanh chóng, chính xác Mỗi câu một ý,mỗi ý tơng đối hoàn chỉnh và tách bạch nhau Điều này còn thể hiện qua cáchngắt đoạn hợp lý Mỗi đoạn là một bộ phận trọn vẹn và độc lập về cấu trúccũng nh ý nghĩa Các đoạn đợc sắp xếp theo trật tự hợp lý, lôgíc để làm rõ t t-ởng chủ đạo của toàn bài viết
* Kết hợp lý trí và tình cảm
Sức thuyết phục của bài bình luận nằm ở chỗ nó không chỉ tác động vàonhận thức mà còn làm rung động trái tim ngời đọc Chính những cảm xúc đợcthể hiện qua câu chữ, văn phong sẽ đi sâu vào lòng độc giả và thuyết phục họtin theo những nhận định, phân tích của ngời viết
1.3.2 Ngôn ngữ của bài bình luận
Trang 24Làm sao để trong phạm vi mấy trăm chữ, tại thời điểm sự kiện vừa mớixảy ra, ngời viết bình luận phải đem đến cho độc giả một cái nhìn chính xác
về bản chất của sự kiện đó đồng thời tác động đến nhận thức của họ, điều này
đòi hỏi nhà báo phải đặc biệt chú trọng đến việc sử dụng ngôn ngữ Các sựviệc, hệ thống luận điểm, luận cứ trong lập luận cần phải đợc trình bày mộtcách súc tích, giàu biểu cảm để thu hút và thuyết phục ngời đọc Viết về lý
thuyết lập luận, Đỗ Hữu Châu trong cuốn “ Đại cơng ngôn ngữ học” ( tập 2)
[ 9, 103] có nói nhiều về chỉ dẫn lập luận nh các dấu hiệu hình thức mà nhờchúng, ngời ta nhận ra đợc hớng lập luận và các đặc tính lập luận của các luận
cứ trong một quan hệ lập luận Đó có thể là những từ h, những tiểu từ tình tháinh: đã, mới, rồi, thôi, chỉ, là ít, là nhiều có hiệu lực làm thay đổi giá trị lậpluận của các nội dung thông tin Bên cạnh đó các liên từ đẳng lập, liên từ phụthuộc, các trạng từ, trạng ngữ nh: nên, nhng, vì, vả lại, hơn nữa, chẳngnhững mà còn, đã lại phối hợp 2 hoặc một số mệnh đề thành một lậpluận duy nhất Nhờ các kết tử này mà thông tin đa ra trở thành luận cứ hay kếtluận của một lập luận Việc luận cứ hay kết luận có dùng kết tử hay không còntuỳ thuộc vào vị trí của luận cứ hay kết luận trong lập luận Thông tin càng sátkết luận thì hiệu lực của nó thờng mạnh hơn những thông tin ở vị trí xa kếtluận
Ngôn ngữ học gọi những nguyên lý, những chân lý thông thờng có tínhkinh nghiệm đợc dùng làm cơ sở để tạo nên các lập luận là lẽ thờng Lẽ thờngphổ quát nhng không tất yếu, bắt buộc chung cho toàn nhân loại hay một sốdân tộc nào đó mà có những lẽ thờng riêng cho một quốc gia hay một địa ph-
ơng nào đó Lẽ thờng có tính chung có nghĩa là lẽ thờng đó đợc mọi ngời côngnhận Điều này có thể thấy rất rõ trong bài bình luận khi ngời viết thờng sử dụngthành ngữ, tục ngữ, mợn những chuyện có sẵn trong sử sách, thậm chí cả truyềnthuyết dân gian để làm nổi bật vấn đề cần đề cập nh: “ Cõng rắn cắn gà nhà”, “Tức nớc vỡ bờ”, “ Kẻ gieo gió thì gặp bão”
Trong cuốn “ Ngôn ngữ báo chí”, Vũ Quang Hào đã dẫn ra ý kiến của
D M Pri- ljuk- một nhà lý luận về báo chí học Nga Xô Viết: “ Sự phản ánhcủa chính luận bao giờ cũng đậm đà xúc cảm Biên độ xúc cảm của nhà chínhluận rất lớn Đó là sự tán thởng và niềm vui sớng, lòng căm thù và sự tức giận,trầm t và âu yếm Đó là sự hấp dẫn trong việc phân tích sự kiện và đánh giáchính trị về các sự kiện đó” [ 3, tr 71] Với bài bình luận, tuỳ theo khả năngsáng tạo và cá tính mà ngời viết thờng chọn lọc và sử dụng những đơn vị từ
Trang 25vựng khẩu ngữ mang sắc thái ý nghĩa và sắc thái biểu cảm để tăng sức hấp dẫnbài bình luận
Trong bài bình luận, ngời viết đặc biệt chú trọng đến tính chính xác vàchặt chẽ phục vụ cho mục đích của sự diễn đạt Đó là thứ ngôn ngữ phản ánh
rõ ràng, chính xác quá trình t duy nhằm đạt hiệu quả nhận thức cao nhất Tuynhiên, một bài bình luận hấp dẫn không thể thiếu những từ ngữ giàu hình ảnh,
có tính biểu cảm thông qua sự biến đổi linh hoạt của cách diễn đạt, của trật tự
cú pháp, không khô khan, đơn điệu, trùng lặp, rập khuôn Bên cạnh sự xuấthiện với tần số cao của lớp từ chính trị, khi cần bày tỏ sự đánh giá, tình cảmcủa mình một cách mạnh mẽ đối với các vấn đề nêu ra, ngời viết có chọn lọc
và sử dụng các đơn vị từ vựng khẩu ngữ bởi loại từ này giàu sắc thái ý nghĩa
và gía trị biểu cảm
1.3.3 Về phơng diện ngữ pháp
Do phải thực hiện chức năng thông tin, giải thích, đánh giá, thuyết phụcnên bài bình luận dùng nhiều kiểu câu khác nhau: câu đơn, câu ghép, câu tờngthuật, nghi vấn, cảm thán Việc đa các câu hỏi vào bài bình luận nhằm làmnổi rõ vấn đề cần bàn rồi đi vào trả lời các câu hỏi đó để tăng thêm mức độ sâusắc của bài viết Có những bài bình luận, câu hỏi xuất hiện với tần số cao từ 3 đến
4 câu Ngời viết có thể dùng câu hỏi lựa chọn để đề cập đến 2 vấn đề cùng mộtlúc Ngoài ra trong bài bình luận có nhiều trờng hợp tác giả dùng câu hỏi nhằmmục đích khác chứ không nhất thiết đòi hỏi phải trả lời:
- Câu hỏi- khẳng định để phủ định
- Câu hỏi- phủ định để khẳng định
Một đặc điểm khi viết bình luận là sử dụng câu ghép chứa đựng nhiều ý cóquan hệ qua lại với nhau để diễn đạt những vấn đề không nên hoặc không thểchia cắt; câu ghép theo quan hệ nguyên nhân- kết quả, điều kiện- kết quả, quan
hệ tăng tiến, quan hệ đối lập với các từ liên kết: “ Bời vì cho nên”, “ Nếu thì”,
“ Tuy rằng nhng mà”, “ Không những mà còn”, “ Càng càng”
Về trật tự xắp xếp các thành phần ngữ pháp trong câu, ngời ta thờngdùng cách đa một số thành phần nào đó lên trớc một thành phần khác nhằmmục đích nhấn mạnh: “ Một lần nữa”, “ Bao giờ cũng vậy”, “ Vấn đề này”, “
Về mặt này”, “ Nói tóm lại”, “ Nhìn chung ” Với mỗi lĩnh vực, mỗi vấn đề
đợc nhấn mạnh bằng cách đa từ “ Về” lên đầu câu: “ Về quân sự”, “ Về chính
Trang 26trị”, “ Về kinh tế”, “ Về văn hoá” Những từ nhấn mạnh đó nh những cầu nốikhiến cho mạch văn vừa liên tục, vừa chặt chẽ, lôgíc, tăng thêm giá trị lập luậncho đoạn văn
1.3.4 Về phơng pháp diễn đạt
Đặc điểm nổi bật trong diễn đạt ở các bài bình luận là thái độ của tácgiả thể hiện qua cái tôi lập luận Điều này đòi hỏi căn cứ lý luận đa ra phảivững chắc, rõ ràng, chặt chẽ, lời văn phải truyền cảm Tính đơn diện trongngôn ngữ bình luận không phải là dấu hiệu của sự nghèo nàn mà chính đặc
điểm này còn làm cho sự phân tích, bình giá, cảm xúc của nhà báo đợc thểhiện một cách trực tiếp, thẳng thắn
1.3.5 Kết cấu bài bình luận
Mặc dù thể loại bình luận đợc thể hiện dới nhiều cấp độ khác nhau, nhiềudạng thức khác nhau nh sự phân chia của các nhà nghiên cứu, tập trung phản ánhnhiều nội dung khác nhau, song vẫn có một cấu trúc chung tơng đối cho một tácphẩm bình luận Đó là : đặt vấn đề, giải quyết vấn đề và kết luận
Đặt vấn đề là nêu nội dung trọng tâm mà bài bình luận đề cập Đó cóthể là một quan điểm, một câu hỏi nghi vấn giải đáp hoặc là sự trình bày tómlợc sự kiện đợc chọn làm tiêu điểm
Giải quyết vấn đề chính là việc triển khai hệ thống luận điểm, luận cứtrên cơ sở một luận chứng nhất định Số lợng nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào bảnchất, độ phức tạp và tầm quan trọng của vấn đề
Kết luận khẳng định vấn đề đã nêu ra, khẳng định quan điểm, hớng dẫncách nhìn nhận đối với vấn đề Kết lụân có thể là một giải pháp cần thiết hoặc
dự báo về vấn đề hay sự kiện đó, cũng có thể là một gợi mở cho công chúngcùng suy luận hoặc chuẩn bị cho những bài bình luận ở phạm vi và quy môkhác
Cuốn “Cách viết một bài báo” diễn giải cụ thể bố cục trên gồm 4 phần
chính “ Sự việc ban đầu và vấn đề đợc rút ra từ đó, diễn đạt một cách ngắn gọn
và rõ ràng hợp thành phần mở đầu Tiếp theo là những luận điểm đa ra sự giải
đáp ban đầu, tuy rằng vẫn cha chứng minh đối với vấn đề đợc nêu ra Phầnchính của bài bình luận gồm những lý lẽ bênh vực cho luận điểm hoặc chứngminh sự đúng đắn của luận điểm Phần kết luận quay trở lại luận điểm (giờ
Trang 27đây đã đợc chứng minh) một cách nhấn mạnh hoặc cũng có thể nêu lên mộtvấn đề mới” [ 1, tr 86].
Tuy nhiên trong hoạt động thực tiễn báo chí đôi khi các phần chínhtrong bố cục không phải sắp xếp theo thứ tự Nhà báo hồ Quang Lợi đã đa ranhận xét “Tôi không đặt ra cho mình một khuôn mẫu nào Cái quan trọng nhất
là ý tởng Khi đề tài nảy sinh, trong đầu hình thành ý tởng, cân nhắc điều gì làquan trọng nhất thì đa ra làm mở đầu Câu mở đầu phải ngắn gọn, khái quátnhất; nếu là chi tiết thì cũng phải có tính điển hình và phải gợi Sau đó bài viết
sẽ đi theo một mạch logic, mạch này có thể không do ngòi viết định sẵn mà
nó đợc tuôn chảy theo t duy”
Một trong những cái độc đáo, cái hay của bình luận cũng nh những thểloại khác chính là sự linh hoạt sống động của nó Kết cấu của bài bình luậnkhông đợc phép dập khuôn, cứng nhắc; nó luôn là cấu trúc động trong sự chặtchẽ
Muốn sáng tạo bất kỳ một tác phẩm báo chí thuộc thể loại nào thì cũngphải có những nguyên tắc, phơng pháp nhất định Song đó chỉ là nhữngnguyên tắc, phơng pháp mang tính chất lý luận Khuôn mẫu là cơ sở để giúpcác nhà báo đi đúng phơng pháp Mặt khác, thực tế hoạt động báo chí rất sinh
động, đòi hỏi mỗi ngời viết phải linh hoạt, nhạy bén, lựa chọn thể loại phù hợp
để chuyển tải thông tin sự kiện và quan điểm, ý kiến của mình đến công chúngmột cách hiệu quả nhất Ngời viết bình luận áp dụng lý thuyết thể loại bêncạnh sự sáng tạo cá nhân để tạo ra sản phẩm báo chí miễn sao hấp dẫn độcgiả
Chơng II
Trang 28Thử nghiệm ứng dụng lý thuyết lập luận vào việc phân tích các bài bình luận ( qua tác phẩm của ba nhà
báo: Hữu Thọ, Chu Thợng và Quang Lợi)
Bình luận báo chí là một loại bài kén “ độc giả” Cũng bởi tính hàm súc,trí tuệ của thể loại này mà những ngời tham gia viết bình luận không nhiều
nh ở thể loại phóng sự, tin, hay phỏng vấn… Trong số ít những cây bút thànhdanh ở thể loại này, ngời viết chọn phân tích các bài bình luận của Hữu Thọ,Chu Thợng và Quang Lợi bởi sự phong phú, đa dạng trong thể loại và sắc sảotrong cách lập luận của từng tác giả Dù không còn tính thời sự do có những
bài bình luận đã đợc viết cách đây gần 20 năm ( Bản lĩnh Việt Nam của Hữu
Thọ) nhng cho đến nay 3 tuyển tập: Bản lĩnh Việt Nam ( Hữu Thọ); Chiếc
roi trong tâm tởng ( Chu Thợng) và ẩn số thời cuộc ( Quang Lợi) vẫn đợc
đông đảo bạn đọc nhắc đến bởi cá tính và những đặc trng trong nghệ thuật viếtbài bình luận Tập hợp những bài bình luận đặc sắc, sự nhất quán trong cáchviết bởi tính chuyên mục và thể loại đã tạo nên sự phong phú, hấp dẫn trongtừng tác phẩm
Trong chơng này, chúng tôi đi sâu phân tích cách lập luận của ba nhàbáo từ mô hình, cấu trúc lập luận cho đến cách sắp xếp hệ thống luận điểm,luận cứ, luận chứng Trớc phần phân tích cách lập luận của mỗi tác giả sẽ làmột vài nét giới thiệu về sự nghiệp báo chí cũng nh những quan điểm của nhàbáo đó về loại bài bình luận
2.1 Phân tích cách lập luận trong các bài bình luận của Hữu Thọ
2.1.1 Hữu Thọ và sự nghiệp báo chí
Nguyễn Hữu Thọ sinh ngày 8- 1- 1932 ở Hà Nội Toàn quốc khángchiến, ông tham gia cách mạng, vào bộ đội và hoạt động công tác Đảng ở TháiBình, Hải Dơng Tuy không học giỏi văn nhng cuộc đời của Hữu Thọ gắn liềnvới nghiệp viết văn, viết báo Năm 1957, ông về công tác tại báo Nhân dângiữa lúc tuổi đời còn rất trẻ Khởi đầu sự nghiệp báo chí bằng viết về đề tàinông nghiệp, ông bỏ công đi học kỹ thuật nông nghiệp, hàm thụ đại họcvăn… Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, không biết cấy cày là gì nhng vì nghề báo,
ông theo nông dân đi chặt nứa trên rừng, lên vùng sâu vùng xa sống với đồngbào dân tộc Điều này giải thích vì sao Hữu Thọ viết về nông nghiệp, nông
Trang 29thôn với am hiểu tờng tận về ruộng đất, miền núi, khoán hộ… Và cứ thế, ônglăn lộn vào cuộc sống, đi nhiều, học hỏi kinh nghiệm và viết rất khoẻ
Thời kỳ miền Bắc xã hội chủ nghĩa xây dựng kế hoạch 5 năm lần thứnhất, lần thứ hai… ngoài những bài phóng sự, điều tra, bình luận… Hữu Thọcòn viết những truyện ngắn ca ngợi những con ngời dũng cảm, kiên quyết đi
đầu trong quá trình xây dựng đất nớc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, cảnớc thực sự bớc vào thời kỳ đổi mới, ngòi bút của Hữu Thọ lại tiếp tục đấutranh cho quan điểm đổi mới đúng đắn, phê phán những hiện tợng tiêu cực củakinh tế thị trờng đặc biệt là nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu Giọng văncủa Hữu Thọ nôm na là thế nhng nó khiến độc giả phải giật mình khi ở cuốitruyện, ông thờng nảy ra những câu bình luận sắc sảo có tính chất đánh gíahay dự báo về một sự kiện, hiện tợng nào đó
Suốt cuộc đời làm báo, Hữu Thọ đã viết nhiều thể loại khác nhau và hầu
nh ở thể loại, đề tài nào ông cũng thành công, để lại dấu ấn riêng Từ tin, điềutra, phóng sự cho đến bình luận, xã luận rồi chủ đề chuyện thời sự, chuyệnlàm ăn, chuyện đời… nhng có lẽ công chúng biết đến ông nhiều nhất ở các bài
điều tra kinh tế, bình luận, tiểu luận 40 năm làm báo chuyên nghiệp, từ anhphóng viên lăn lộn khắp các tỉnh thành cho đến sau này là nhà quản lý, lãnh
đạo báo chí, Hữu Thọ có nhiều tác phẩm đợc tập hợp in thành sách với nhiềubài có sức sống vợt thời gian
Viết luận để bàn luận là bản tuyên ngôn của nhà báo Hữu Thọ về thể
loại chính luận trong sự nghiệp làm báo Đó là cách sử dụng phơng pháp lôgic
để trực tiếp phân tích, bàn luận; là cách sử dụng văn nghị luận xây dựng trêncơ sở t duy logic chứ không phải trên cơ sở t duy hình tợng nh trong sáng tácvăn học Chất văn trong luận của ông là chất văn hào sảng mà chân chất, chấttình đầy trong chân lý để cuối cùng thuyết phục bằng lý lẽ và xúc cảm; viếtluận phải tỏ rõ thái độ trực tiếp của tác giả thì mới đáp ứng đợc yêu cầu đó
Trong bài Viết luận để bàn luận ông bộc bạch: “ Theo chân các bậc
thầy, các bậc đàn anh, tôi cũng cố gắng học tập, xây dựng cho mình mộtphong cách viết “luận” cho “ thoát” để khỏi bị thành kiến là “ sách vở”, “ khôcứng”, “ viết lý mà thiếu lý”, “ có lý nhng thiếu tình” , “ có đạo nhng thiếu
đời”… nh một số độc giả hay nghĩ về một số “ cây luận” và “ bài luận” Ôngquan niệm: Văn chơng “ dạy bảo”, “ chỉ thị” thờng hay thấy ở các bài “ luận”cho nên cố gắng viết “ luận” nh một thứ bàn luận giữa bạn bè, đồng chí trên
Trang 30trang báo Ông đã viết: “ Các đồng chí làm công tác bình luận sử dụng mộtloại vũ khí của báo chí nhằm đánh giá các sự kiện, tỏ rõ lập trờng, thái độ của
Đảng, Nhà nớc và tập thể tờ báo về những sự kiện đó và chỉ rõ cho các tổ chức
và mọi thành viên trong xã hội phơng hớng hành động trong tình hình mới”[ 20, tr 18]
2.1.2 Phân tích cách lập luận trong các bài bình luận của Hữu Thọ.
Bản lĩnh Việt Nam là tuyển tập 58 bài bình luận và xã luận của nhà
báo Hữu Thọ xuất bản năm 1997 Dù 33 bài bình luận của ông trong cuốnsách này không còn tính thời sự nhng nó mang đậm phong cách của tác giả
đặc biệt là cách lập luận và có giá trị thông tin cao trong thời điểm bấy giờ
2.1.2.1 Đặt vấn đề
Lý luận báo chí cho rằng phần mở đầu chỉ ra đối tợng, nội dung vàphạm vi bàn bạc của văn bản Trong các văn bản chính luận, phần mở đầukhông chỉ mang thông tin thuần tuý mà còn có nhiệm vụ trình bày tâm lý Đó
là việc vào đề sao cho thu hút sự chú ý, tăng sức hấp dẫn và lôi cuốn ngay đợcngời đọc Để thực hiện nhiệm vụ tâm lý này, phần vào đề thờng sử dụng cáchnói hình tợng bằng việc đa ra câu chuyện, dẫn ra một sự kiện độc đáo hoặcmột hiện tợng trái với thờng lệ
Hữu Thọ thờng vào đề nhanh chóng, dứt khoát, mạch lạc, đi thẳng vàovấn đề, không quanh co Đặc biệt là cách lặp lại tít hoàn toàn hoặc một phần,hoặc giải thích tít… giúp cho bài viết đi vào đúng trọng tâm chủ đề Nh trong
bài Lại bàn chuyện cạnh tranh ( đăng ngày 20-7-1989), tác giả viết “ Dù nói
ra hay không nói ra sự cạnh tranh trên nhiều lĩnh vực kinh tế nớc ta đang diễn
ra gay gắt…” Hay nh trong bài Làm vờn nuôi cá ( đăng ngày 12-1- 1986) ,
Hữu Thọ đã bắt đầu bài bình luận bằng câu “ Làm vờn, nuôi cá là nghề truyền
thống lâu đời, có vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất và đời sống củanhân dân ta”
Cốt lõi của phần mở đầu lại nằm trong câu chủ đề Thông thờng trongmột bài bình luận, vị trí của câu chủ đề chung thờng đợc trình bày ngay trongphần mở đầu đợc gọi là câu luận đề Loại câu này thờng nằm cuối phần mở
đầu, có nhiệm vụ nêu chủ đề chung, liệt kê các chủ đề bộ phận Khảo sát các
bài bình luận của nhà báo Hữu Thọ trong cuốn Bản lĩnh Việt Nam, có tới
Trang 3133,5% câu luận đề trùng với tít Ví dụ trong bài Chăm lo Tết của ngời nghèo
( đăng ngày 1-2-1991), ông viết “ Không khí Tết đến sớm hơn từ các thành
phố, thị xã trớc hết từ những tờ báo tết phát hành sớm hơn mọi năm Những
khu chợ tết ở thành phố lớn đã khai mạc, nhiều cửa hàng đã trang trí những
chùm đèn màu và bày biện những sạp hàng mới gọi khách sắm hàng Tết”.
Chính vì phong cách đặt tít của Hữu Thọ đơn giản, rõ ràng, tít thể hiện nộidung của bài cho nên số lợng câu chủ đề rơi vào tít chiếm số lợng khá nhiều
Đối với những loại tít này, tác giả hay vào đề theo kiểu: đa ra bối cảnh và thựctrạng tình hình; những nguyên nhân dẫn đến hiện trạng, sự việc; hoặc dùngbiện pháp so sánh sau đó mới đa ra vấn đề cần phân tích
Bên cạnh đó, tùy thuộc vào vấn đề tác gỉa định trình bày mà câu chủ đề
có thể đứng ở vị trí đầu, cuối, hoặc đứng giữa phần mở đầu Thậm chí có bài,câu chủ đề lại rơi vào phần cuối bài Tuy nhiên, thờng thì tác giả sử dụng câuchủ đề ngay trong phần đầu bài viết vì nó sẽ giúp ngời đọc nắm đợc vấn đềngay từ đầu
Câu chủ đề đứng ở phần mở đầu chiếm khoảng 11% trong các bài bình
luận nh: H hao mất mát, Không phải cái gì lấp lánh đều là vàng, Quảng cáo và kinh doanh, Chuyển dịch cho có hiệu quả thiết thực… Dạng câu
chủ đề đứng ở giữa phần mở bài cũng đợc tác giả sử dụng tuy không nhiều.Trong trờng hợp câu chủ đề ở giữa thì phần đầu tác giả thờng giới thiệu bốicảnh chung nhất, hay đa ra ý kiến bàn luận về vấn đề Còn sau câu chủ đề, tácgiả sẽ đa ra những nhận định mới hoặc giải thích giúp câu chủ đề thêm rõràng, hoặc cũng có thể là một câu chuyển ý vào phần triển khai giúp ngời đọchiểu rõ vấn đề hơn
Nhìn chung, các bài có câu chủ đề đứng cuối phần mở đề đợc Hữu Thọ
sử dụng nhiều hơn cả Trớc khi đa ra câu chủ đề này, tác giả thờng dẫn dắt vấn
đề theo kiểu: giới thiệu khung cảnh chung, mở ra không gian, thời gian haydẫn những sự việc, sự kiện đã xảy ra, đa ra đánh giá, tổng kết chung sau đódùng biện pháp so sánh để chứng minh, phân tích… Ví dụ nh trong bài bình
luận Hớng thiện- nỗi mừng lớn ( đăng ngày 5-3-1993), tác giả viết “ Hớng
thiện, theo chúng tôi hiểu là hớng về điều tốt lành, khuyến khích làm điều tốtlành, khác với những hành động hớng con ngời vào làm điều ác hoặc kíchthích họ làm điều ác dù cố ý hay vô tình Thiện và ác là phạm trù đạo đứctrong các trào lu triết học từ xa đến nay và chúng tôi không có ý thảo luận về
Trang 32một vấn đề phức tạp này trong một bài báo ngắn Chỉ hiểu rằng thiện màchúng ta quan niệm là cái tốt đẹp, có những đặc trng chung và có những đặc
trng quan trọng gắn với tiêu chuẩn tiến bộ của từng xã hội Dù nói theo cách
nào thì một xã hội hớng thiện là một xã hội đáng mừng vô cùng, vì số đông con ngời trong xã hội đó không chỉ bo bo nghĩ về mình mà hớng vào điều tốt lành cho mọi ngời.”
Có thể nói, câu chủ đề là quan trọng nhất trong phần mở bài giúp chongời đọc hiểu vấn đề mà nhà báo đang bình luận Ngoài những bài trùng vớitít thì những câu chủ đề giống với tít cũng chiếm một lợng lớn với vai trò quantrọng là triển khai ý của tít làm cho tít rõ ràng hơn Một số ít câu chủ đề hơi xadời tít thờng là những câu chủ đề dài dòng và phát triển thêm để các ý đa ratrong bài bao quát đợc hết tít và có những ý triển khai rộng hơn hơn Nh trong
bài Thoải mái và yên tâm ( đăng ngày 7-5- 1989), Hữu Thọ viết “ Trên thị
tr-ờng có ngời bán, có ngời mua, trong hoạt động kinh doanh cũng nh trong đờisống mỗi ngời lao động, khi từng bớc thoát ra khỏi tự túc, tự cấp thì khôngmột ai chỉ có bán, hoặc chỉ có mua Ngời mua, ngời bán ở trong cùng một conngời Nhng khi đã mua thì ai cũng muốn mua rẻ và khi bán thì ai cũng muốn
bán đợc giá Tâm lý thông thờng là nh thế, có vẻ nh là mâu thuẫn mà thống
nhất trong cùng một con ngời” Nhng dù câu chủ đề giống, hơi khác hoặc
khác hẳn tít thì bao giờ cũng đảm bảo một nội dung làm cho tít đợc sáng tỏ vàngời đọc hiểu vấn đề ngời viết định bàn luận
Nói chung, phần mở đầu trong các tác phẩm bình luận của Hữu Thọkhông quá dàn trải, không giật gân Từ câu mở đề, ông đi thẳng vào nhữngvấn đề và sẽ dẫn giải, phân tích ở phần thân Phần mở đề của Hữu Thọ th ờngkhông dài quá 200 chữ Ông viết ngắn gọn, dễ hiểu, giúp bạn đọc nhanhchóng hình dung ra đợc vấn đề ngay từ đầu
Có thể nói, dù chỉ trong mấy câu của phần mở đầu nhng ngời đọc đãnhận ra một giọng văn giản dị, không “ lên gân lên cốt”, phê phán nhng khôngcay độc Dù có những bài bình luận, ông vào đề bằng cách dẫn ra những hiệntợng nghịch lý, đặt ra những câu hỏi để dần dần giải đáp trong phần sau hoặcvào đề kiểu trích dẫn… nhng cũng không quá găy gắt, châm biếm chua cay
2.1.2.2 Giải quyết vấn đề
* Cách lập luận
Trang 33Đọc bình luận của Hữu Thọ, độc giả dễ nhớ và dễ hiểu bởi ông có cáchlập luận ngắn gọn, thuyết phục với một hệ thống các luận điểm, luận cứ và
luận chứng khá rõ ràng Ví dụ nh trong bài H hao mất mát ( đăng ngày
11-6-1989), ông đa ra 2 luận điểm:
1 H hao mất mát có nhiều dạng khác nhau nhng quy lại có 3 dạng
2 Biện pháp ngăn chặn tình trạng h hao mất mát
ở luận điểm 1, Hữu Thọ đa ra 3 luận cứ để chứng minh tình trạng h haomất mát:
- H hao, mất mát trong quá trình hình thành sản phẩm
- H hao, mất mát sau quá trình hình thành sản phẩm cả về số lợng vàchất lợng
- H hao, mất mát do quá trình quản lý kinh tế xã hội
ở luận cứ 1, ông viết “ H hao, mất mát trong quá trình hình thành sảnphẩm Với loại này rất chú ý tới thiên tai và sự không đồng bộ trong bộ máy
sản xuất Có ngời tính rằng: Sâu bệnh một năm làm thiệt hại khoảng 20- 30%
sản lợng nông nghiệp Bão, gío, nắng hạn, rét đậm, ngập lụt… nơi nhiều, nơi
ít, năm nhiều, năm ít nhng tính trung bình trên thế giới cũng mất tới mức 20% sản lợng mùa màng ở nớc ta, năm nào cũng bị thiệt hại nhỏ ( úng hạn cỡ 100
nghìn ha trở xuống) và cứ từ 3-5 năm lại có một năm gặp nhiều thiên tai hơn.
Ngành nọ làm hại ngành kia: nhà máy điện không chạy hết công suất vì thờigian, đang luyện kim thì mất điện làm hỏng lò, rừng trọc làm giảm nguồn nớcquay tuốc- bin thuỷ điện ” Trong bài bình luận này, tác giả đã sử dụng phơng
pháp lập luận diễn dịch Còn nh trong bài Liên hoan chè chén ( đăng ngày
18-8-1987), tác giả cũng đa ra 2 luận điểm:
1 Tình hình ăn uống lãng phí đang phát sinh trong xã hội ngày càng nhiều
2 Liên hoan, chè chén đang là một khoản chi không nhỏ… đòi hỏi phảingăn chặn
ở luận điểm 1, tác giả đa ra lý lẽ và dẫn chứng: “ Ngày nay, bạn bè
đồng chí khá nhiều, trong Nam, ngoài Bắc, miền ngợc miền xuôi, gặp nhautay bắt mặt mừng, sau một đợt công tác vất vả, vui với nhau quanh bữa cơm tri
kỷ là lẽ thờng tình Nhng ăn uống lại quá nhiều và lãng phí Đón một bằngkhen, một huân chơng cũng mở tiệc Tổng kết một lớp học, một năm kế
Trang 34ờng xuyên đến mức cửa hàng, khách sạn phải mở hẳn một khoản gọi là tiệc
hội nghị… Nói cho cùng, các khoản chi tiêu lãng phí đều hoặc là rút từ kho
bạc của Nhà nớc, hoặc là rút từ túi tiền của ngời lao động” Dễ dàng nhậnthấy, Hữu Thọ đã sử dụng phơng pháp quy nạp để lập luận vấn đề Cụm từ “
Nói cho cùng” đợc sử dụng chỉ quan hệ xác nhận sau khi đa ra hàng loạt
những dẫn chứng cha phải đã hết để tạm thời kết thúc và đa ra một nguyên lýkhá phổ biến: “ Các khoản chi tiêu lãng phí đều rút từ kho bạc của Nhà nớchoặc rút từ túi tiền của ngời lao động” Ngoài cách trình bày luận chứng theophơng pháp diễn dịch và quy nạp, Hữu Thọ còn sử dụng cách lập luận nêuphản đề, so sánh, trình bày quan hệ nhân quả sao cho phù hợp với từng luận
điểm tác giả đa ra phân tích
Bản chất của lập luận là có tính tranh luận và thuyết phục với những ýkiến, quan điểm trái ngợc nhau để rồi đi đến nhận thức đúng đắn Điều này
thể hiện rất rõ trong bài Đi tìm nụ tầm xuân mới ( đăng ngày 10- 4-1988)“
… Cuộc đấu tranh chống tiêu cực, theo d luận một số ngời cho là đang có
phần giảm đi Tiết kiệm cũng theo d luận, cho là có phần “ nơi nới”! Tôi
không nghĩ nh thế Vì nếu xảy ra nh vậy thì hoá ra phù hợp với tâm lý của
những ngời “ chờ thời” vẫn hy vọng rằng: Việc đổi mới chỉ làm ào ào lên một
đợt rồi đâu lại trở về đó! Trên công luận, đang có những bài rút kinh nghiệm
về một số vụ đấu tranh chống tiêu cực, đang có những luận bàn về vấn đề dânchủ, vấn đề ức hiếp quần chúng, tệ “ cờng hào mới” ở nông thôn… tôi hyvọng, đó là sự chuẩn bị cho cuộc chiến đấu tiếp tục có bài bản hơn để đạt hiệuquả xã hội lớn hơn”
ở trong bài Điềm lành về môi trờng ( đăng ngày 1-2-1991), Hữu Thọ
đã lập luận theo quan hệ nhân- quả: “ Nếu không có phong trào nhân dân
trồng cây và gây rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc chung quanh thủ đô, không
có một nghìn hecta rừng đợc trồng trên đất Mê Linh, thì nơi đây đâu có lợn
rừng trộm sắn ở xã Ngọc Thanh, đâu có nai non ngơ ngác bên hồ Đại Lải và trăntơ vờn dỡn dới chân núi Thằn Lằn? Nếu không có mời vạn hecta rừng đợc trồngmới ở huyện Duyên Hải thì làm sao cá sấu có thể về tới rạch Vàm Thuận? Rõ ràng
là bàn tay sáng tạo của nhân dân đã tạo nên môi trờng sống cho những động vậthoang dã ở đây” Nhà báo sử dụng cặp phạm trù về điều kiện có thật để phân tích
và có ý khuyến khích mọi ngời hãy bảo vệ môi trờng bằng những hành động thiếtthực mà nhiều nơi đã làm và đạt hiệu quả cao
Trang 35Bên cạnh đó, phơng pháp lập luận so sánh đợc nhà báo Hữu Thọ sử
dụng tơng đối nhiều Chỉ tính riêng trong cuốn Bản lĩnh Việt Nam đã có
khoảng 37% các bài bình luận có kiểu lập luận này Hữu Thọ hay so sánh cáimới với cái cũ nhất là đối với các vấn đề chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong thời
kỳ mới nh: chuyện con bò trong “ t duy cũ” không đợc giết mổ đến “ t duymới” đợc phép lu thông, tự do giết mổ; chuyện các doanh nghiệp quốc doanhcạnh tranh trên thị trờng dần thoát khỏi thời kỳ bao cấp cũ Đây là kiểu sosánh tơng phản, rất hiệu quả trong việc làm nổi bật điều tác giả muốn nhấn
mạnh và hớng tới Ví dụ trong bài Tâm và tâm địa, ông viết: “ Cụ Nguyễn
Du đã hạ bút: Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài, đánh giá rất cao cái “ tâm”
trên bậc thang giá trị không chỉ của riêng cây bút mà của ngời đời Chữ tâm
còn là cái gì riêng t, trung thực và sâu sắc của con ngời khi hình thành một
loại giá trị đặc biệt trong các mối quan hệ giữa con ngời với nhau tâm giao,
tâm đắc, tâm can, tâm huyết, tâm phúc… Nhng rồi chữ tâm thành mốt cho
nên lại có kẻ lợi dụng chữ thánh hiền… trong muôn vàn cái đẹp từ chữ tâm
mà ra, lại có những ngôn từ hàm ý xấu, để chỉ một số ngời dơng cao cái tâm
để đa nó vào tâm địa nhỏ nhen, độc ác, khi trắng trợn mới nói toạc móngheo…”
Về trình bày luận cứ thì những dẫn chứng mà Hữu Thọ đa ra thờng cótính chất ngời thật, việc thật hay từ những hiểu biết của bản thân tác giả Đặcbiệt ông sử dụng nhiều loại dẫn chứng số liệu Loại dẫn chứng này thuyết
phục và khá hấp dẫn ngời đọc Ví dụ nh trong bài Lơng thực- số nhỏ, đờng dài ( đăng ngày 30-4-1989), tác giả viết: “… Năm 1988, cả n Năm 1988, cả nớc đạt sản lợng
hơn 19 triệu tấn lơng thực quy thóc, nghĩa là tăng hơn năm 1987 hơn 1,5 triệu tấn và hơn năm 1986 hơn 600 nghìn tấn… Năm 1988, cả n Song, lơng thực là sản phẩm thiếtyếu của đời sống con ngời trong mức sống thấp của đời sống nhân dân nớc ta
hiện nay, lơng thực thờng chiếm từ 70-80% tổng số nhiệt lợng trong bữa ăn
hàng ngày Đạt mức sản lợng cao nh vậy nhng lơng thực bình quân mới
297kg một ngời một năm Con số đó nói lên điều gì? Thứ nhất đó là mức thấp,
cha bằng mức bình quân lơng thực thế giới khoảng 360kg lơng thực- một thế giới đang có 1,3 tỉ ngời chết đói Thứ hai, mặc dù sản lợng lơng thực tăng hơn
600 tấn so với năm 1986 nhng mức bình quân lơng thực đầu ngời lại kém 4kg…”
Trang 36Nhìn chung, Hữu Thọ sử dụng nhiều phơng pháp diễn dịch Với từngluận điểm, thờng ông có một câu để tổng hợp các ý chính sau đó mới diễn giảiluận chứng theo nhiều cách khác nhau bằng những luận cứ cụ thể Do vậy,trong phơng pháp lập luận diễn dịch có cả phơng pháp so sánh, nhân quả, nêuphản đề… Việc sử dụng nhiều phơng pháp diễn dịch là phù hợp với lối viếttrung thực, dễ hiểu của ông.
Thực tế cho thấy, để vấn đề đa ra thu hút, thuyết phục ngời đọc thìngoài cách trình bày lập luận, ngoài sự thống nhất về mặt nội dung thì về mặthình thức, các câu, các đoạn trong bài phải có mối liên kết rõ ràng, mạch lạcsao cho lôgic để làm sáng tỏ nội dung bài bình luận
* Cách liên kết
Cho đến nay thì các nhà ngôn ngữ học đã thống kê đợc khoảng 10
ph-ơng thức liên kết trong văn bản tiếng Việt nh: lập, đối, thế đồng nghĩa, liên ởng, tuyến tính, thế đại từ, tỉnh lợc yếu, nới lỏng, tỉnh lợc mạnh, nới chặt Việc
t-sử dụng các phơng tiện liên kết này một cách mạch lạc sẽ tạo đợc văn bảnhoàn chỉnh Tuỳ thuộc vào cách viết, cách diễn đạt mà ngời viết có thể tìmnhững cách liên kết phù hợp làm sao cho độc gỉa hiểu đợc vấn đề bài viết định
Lại bàn chuyện cạnh tranh ( đăng ngày 20- 7- 1989) dài khoảng hơn 3000
chữ, từ cạnh tranh đợc lặp đi lặp lại 59 lần đặc biệt ở luận điểm 1 và 2 khi tác giả bàn đến cạnh tranh Từ quốc doanh cũng đợc nhắc tới 60 lần chủ yếu ở
luận điểm 3 Tác giả muốn đa ra một vấn đề d luận quan tâm đó là sự cạnhtranh trong các cơ sở quốc doanh và ngoài quốc doanh, cần phải tạo điều kiệncho quốc doanh cạnh tranh trên thị trờng Vì trong nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần, không có vai trò quốc doanh chủ đạo thì định hớng xã hội chỉ là
sự mơ mộng Cũng trong bài viết này, ngời đọc có thể đếm đợc 10 cụm từ
thành phần kinh tế, 7 cụm từ nền kinh tế, 26 từ xí nghiệp, 18 từ sản phẩm, 8 từ
ổn định… Cách lặp này giúp độc giả thấy đợc trọng tâm vấn đề mà nhà báo
đang bình luận và muốn nhấn mạnh
Trang 37Đặc biệt, trong phơng pháp lặp này, những từ, cụm từ đợc lặp phần lớn
đều liên quan trực tiếp đến tít bài Trong bài Quảng cáo và kinh doanh
( đăng ngày 14- 8- 1990), từ quảng cáo đợc lặp đi lặp lại 48 lần, thậm chítrong 1 câu, tác giả dùng tới 2,3 lần từ này để nhấn mạnh: “ Chính vì thế mà
có tổ chức kinh doanh thật lại có tổ chức kinh doanh “ ma” có hàng thật, có
hàng “ dởm” và khi quảng cáo là một biện pháp của sản xuất và kinh doanh thì nó cũng có quảng cáo thật và quảng cáo giả” Đa ra 2 vấn đề là hai mặt đối
lập nhau bằng việc lặp từ, Hữu Thọ giúp độc giả xác định và hiểu cụ thểkhông phải cái gì quảng cáo tốt cũng là tốt Bên cạnh phơng thức lặp từ, tácgiả còn sử dụng cách lặp cấu trúc kết hợp với cách lập luận nhân- quả
Một bài bình luận rõ ràng, mạch lạc, trình bày các luận điểm,luận cứ, luận chứng và sử dụng phơng tiện liên kết hợp lý, chính xác sẽ thu hútngời đọc Không chỉ đa ra vấn đề mà vấn đề đó phải đợc tác giả trình bày,diễn giải liền mạch, dễ hiểu, lôgic
2.1.2.3 Kết thúc vấn đề
Mỗi văn bản có thể kết thúc theo nhiều cách cụ thể khác nhau nhng vềcơ bản có thể quy về 2 cách kết thúc: kết thúc khép và kết thúc mở Kết thúckhép là kết thúc theo kiểm tóm tắt lại những vấn đề chính đã đợc trình bàytrong suốt phần phát triển của văn bản Còn kết thúc mở là kết thúc theo kiểudựa vào những điểm đã đợc trình bày ở phần phát triển mà đa ra những lời đềnghị, khuyến cáo, cảm nghĩ… Với bài bình luận, phần kết luận thờng đa ranhững giải pháp, kiến nghị, đặt ra câu hỏi… để ngời đọc suy ngẫm và từ đóthay đổi hành vi nhận thức
Hữu Thọ có cách giải quyết vấn đề mang nhiều dấu ấn cá nhân, đó làkiểu kết thúc đặt câu hỏi Nếu nh Hữu Thọ ít sử dụng tít gợi mở thì ở phần kếtluận, kiểu kết thúc gợi mở lại đợc nhà báo thờng xuyên sử dụng Nh trong bài
Hớng thiện- Nỗi mừng lớn ( đăng ngày 5-3-1993), tác giả viết: “ Riêng tôi,
khi tìm hiểu một số phong trào quần chúng có tính chất “ hớng thiện”, theophơng hớng đổi mới, có ba điều mừng: Một là có thêm công sức, tiền của củatoàn xã hội để thực hiện cách chính sách xã hội mà một mình Nhà nớc lokhông thấu; hai là, khơi dậy những tấm lòng hớng vào làm việc thiện, làm chomỗi con ngời luôn luôn nghĩ tới điều tốt lành, quan tâm hơn tới ngời chungquanh, ngời trong làng xã, khu phố và mọi ngời trong cộng đồng dân tộc; ba
Trang 38là, từ đó, lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng ta, Nhà nớc ta tăng lên, mọi ngời
sẽ thấy rõ hơn tính nhân văn cao cả của chế độ ta Đó chẳng phải là nỗi mừng
lớn hay sao?” Sau khi đã phân tích, đánh giá rất chi tiết, cụ thể về các hoạt
động hớng thiện, từ hiệu quả mà nó mang lại cho đời sống xã hội, Hữu Thọ đa
ra câu hỏi: “ Đó chẳng phải là nỗi mừng lớn hay sao?” Hỏi để hớng ngời đọc
đến những lập luận, lý lẽ mà ông đã khẳng định ở trên; hỏi nhng thực chất là
để gợi mở cho công chúng tin vào tính tích cực và tốt đẹp của các hoạt độnghớng thiện
Hữu Thọ thờng kết thúc các bài bình luận một cách rõ ràng với dung ợng không quá 200 chữ Nhà báo cô đúc lại tất cả những ý chính đã trình bày
l-và khơi gợi, định hớng t tởng, nhận thức cho ngời đọc về vấn đề mình đề cập.Làm cho ngời đọc thoả mãn tâm lý đồng thời mở ra những vấn đề để họ phảisuy nghĩ là cách mà ông kết thúc bài bình luận: “… Năm 1988, cả n Nh trên đã nói, “ khôngphải cái gì lấp lánh cũng là vàng” Hiệu quả cho mình và cho xã hội là thớc đocông bằng, là “ thứ lấp lánh” vàng ròng của mỗi cơ sở Có điều đã đến lúcphải ban hành luật kinh doanh, luật phá sản… giữ vững quản lý về mặt nhà n-
ớc để đa việc làm ăn vào trật tự, chấn chỉnh lại hoạt động của các cơ sở tíndụng nhân dân, chống sự gian dối lừa lọc, bảo hộ quyền lợi ngời làm ăn chânchính, quyền lợi ngời góp vốn, ngời lao động ở những đơn vị ngoài quốc
doanh Càng để chậm càng nhiều sơ hở” ( Bài Không phải cái gì lấp lánh
đều là vàng, 2- 4- 1990) So với dung lợng của cả bài viết thì kết luận này
không phải là dài nhng Hữu Thọ thờng khẳng định lại vấn đề, nhìn nhậnchúng một cách tổng thể rồi mới mở ra những vấn đề mới Kiểu kết thúc nàylặp lại trong nhiều bài bình luận và đôi khi do ít sử dụng các biện pháp tu từ,nghệ thuật nên khó tạo đợc sự hấp dẫn, lôi cuốn ngời đọc
Có thể nói, những kết luận mà ông đa ra dù có là kết thúc khép thì cũngkhông bao giờ “ đóng sập” bài báo mà thờng là kiểu nửa khép, nửa hở
2.2 Phân tích cách lập luận trong các bài bình luận của Chu Thợng
2.2.1 Chu Thợng và chuyên mục “ Sự kiện và Bình luận”
“ Sự kiện và Bình luận” đợc coi là chuyên mục phát ngôn cho quan
điểm, ý kiến của báo Lao Động về các vấn đề thời sự, các sự kiện xảy ra trong
đời sống xã hội đợc đông đảo bạn đọc quan tâm Những tác giả viết chuyên