Luận Văn: Những giá trị và hạn chế của phật giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta hiện nay
Trang 12 Nội dung chủ yéu của t tởng Triết học Phật giáo
3 Sự truyền bá đạo Phật trên thế giới
4 Tình hình phát triển của Phật giáo
II.Giá trị và hạn chế của Phật giáo
1.giá trị của phật giáo
2.hạn chế của phật giáo
III.Một số ảnh hởng của Phật giáo đến xã hội và con ngời Việt Nam
1 Phật giáo với xã hội và con ngời Việt Nam xa kia
2 Phật giáo với xã hội và con ngời Việt Nam ngày nay
3 ảnh hởng của Phật giáo đến thế hệ trẻ
Phần c: kết luận
Trang 2Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Duy Cần - Tinh hoa Phật giáo ( NXB thành phố HCM) - 1997
2 Thích Nữ Trí Hải dịch - Đức Phật đã dạy những gì ( con ờng thoát khổ) ( NNXB Tôn giáo - 2000 )
5 PTS Phơng Kỳ Sơn - Lịch sử Triết học ( NXB chính trị quốc gia - 1999)
6 Lý Khôi Việt - Hai nghìn năm Việt Nam và Phật giáo.
7 Viện triết học - Lịch sử Phật giáo Việt Nam ( NXB khoa học xã hội Hà Nội - 1988 )
8 Nhiều tác giả - Mời tôn giáo lớn trên thế giới ( 1999)
Phần A: Lý do chọn đề tài
Từ nhiều năm nay đã có nhiều ngời viết về "Nhận thức luậnPhật giáo", "Triết học phật giáo", "Lô gic học phật giáo" v.v nh ngcòn ít ngời đề cập đến vấn đề Phật giáo trong mối quan hệ với lịch sử
Trang 3t tởng Việt Nam Để thấy rõ ràng hơn nguồn gốc hình thành thế giớiquan của ngời Việt Nam trong lịch sử, nên chăng chúng ta cùngnghiên cứu vấn đề Phật giáo
Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhấttrên thế giới, tồn tại rất lâu đời Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lợngphật tử đông đảo đợc phân bố rộng khắp Đạo phật đợc truyền bá vào nớc takhoảng thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo
có ảnh hởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con ngời Việt Nam, bêncạnhđó đạo Nho, đạo Lão, đạo Thiên chúa Trong công cuộc xây dựng đất n-
ớc quá độ lên CNXH, chủ nghĩa Mác - Lênin là t tởng chủ đạo, là vũ khí lýluận của chúng ta nhng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thợng tầng của xã hội
cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào
t tởng tình cảm của một số bộ phận lớn dân c Việt Nam Việc xoá bỏ hoàntoàn ảng hởng của nó là không thể thực hiện đợc nên chúng ta cần vận dụng
nó một cách hợp lý để góp phần đạt đợc mục đích của thời kỳ quá độ cũng
nh sau này Vi vậy, việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý, và sự tác động của đạoPhật đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con ngời là hết sức cần thiết.Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những mặt hạn chế cũng nh tiến bộ, nhân
đạo của Phật giáo giúp ta hiểu rõ tâm lý ngời dân hơn và qua đó tìm ra đợcmột phơng cách để hớng đạo cho họ một nhân cách chính, đúng đắn Theo
đạo để làm điều thiện, tránh cái ác, hình thành nhân cách con ngời tốt hơnchứ không trở nên mê tín dị đoan, cúng bái, lên đồng, gây ảnh hởng xấu đếnsức khoẻ, niềm tin của quần chúng nhân dân
Hơn nữa quá trình, Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liềnvới quá trình hình thành, phát triển t tởng, đạo đức của con ngời Vì vậy khinghiên cứu lịch sử, t tởng, đạo đức Việt Nam không thể không đề cập đếnPhật giáo và những mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng
Tóm lại, nghiên cứu Phật giáo và ảnh hởng của nó đến xã hội và conngời Việt Nam là một nội dung quan trọng nhằm tìm hiểu lịch sử cũng nh
định hớng cho sự phát triển nhân cách, t duy con ngời Việt Nam trong tơng
chính vì vậy mà em đi tìm hiểu vấn đề này vá rút ra những kết luận về
vấn đề “Những giá trị và hạn chế của phật giáo và ảnh hởng của nó ở nớc
ta hiện nay”
Em chân thành cảm ơn thầy đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này
Trang 4Phần B: Nội dung
I Khái quát về Phật giáo
1.1 Nguồn gốc ra đời
Đạo Phật mang tên ngời sáng lập là Đà ( hay buddha ) Đạo phật chính
là giáo lý mà Phật Đà đã thuyết giảng Sau khi ra đời ở ấn Độ vào thế kỷ thứ
9 đến thế kỷ thứ 6 trớc Công nguyên, đạo Phật đợc lu hành rộng rãi ở cácquốc gia trong khu vực á - Phi, gần đây đợc truyền tới các nớc Âu - Mỹ
Buddha vốn là một thái tử tên là Tất Đạt Đa ( Siddharta), con trai củaTrịnh Phạn Vơng ( Suđhodana) vua nớc Trịnh Phạn, một nớc nhỏ thuộc Bắc
ấn Độ ( nay thuộc đất Nê Pan ) ông sinh ra vào khoảng năm 623 trớc côngnguyên Cuộc đời của Phật Thích Ca đợc kể lại ở trong truyền thuyết nh sau:
“ Vào một đêm Mahamaia, ngời vợ chính của Suđhodana, Vua của
ng-ời Saia mơ thấy mình đợc đa tới hồ thiêng Anavatápta ở Himalaya Sau khicác thiên thần tắm rửa cho bà ở trong hồ thiêng, thì có một con voi trắngkhổng lồ có đoá hoa sen ở vòi bớc tới và chui vào sờn bà Ngày hôm sau cácnhà thông thái đợc vời tới để giải mơ của Hoàng hậu Các nhà thông thái chorằng giấc mơ là điềm Hoàng hậu đang có mang và sẽ sinh hạ đợc một Hoàng
tử tuyệt vời, ngời sau này sẽ trở thành vị chúa tể của thế giới hoặc ngời thầycủa thế giới Đến ngày, đến tháng, Hoàng hậu Mahamaia trở về nhà cha mình
để sinh con
Thoạt đầu, Hoàng tử đi lang thang đây đó, sống theo kiểu khổ hạnh.Sau đó, ngài vào rừng tu Nhà hiền triết Alara Calama dạy cho chàng cácphép thiền định và những triết lý của upanishad Học thuyết và thực hành giảithoát cá nhân của Upanishad không hấp dẫn Hoàng tử Chàng đi tiếp và nhậpvào nhóm năm ngời tu khổ hạnh Suốt sáu năm trờng ép xác Hoàng tử gần
nh chỉ còn bộ xơng khô mà vẫn cha tìm ra chân lý của sự giải thoát Ngài bèn
bỏ cuộc sống tu hành khổ hạnh và trở lại ăn uống bình thờng
Khi Hoàng tử Sidhartha 35 tuổi, một hôm ngài đến ngồi dới gốc cây bồ
đề ở ngoại vi thành phố Gaia thuộc vùng đất của vua Bimbisura, vua nớcMagadha Cho đến một hôm có nàng Sudjata, con gái của một nông dântrong vùng đem cho ngài một bát cơm to nấu bằng sữa Ăn xong, ngài xuốngsông tắm rửa, rồi trở lại gốc cây bồ đề Ngài ngồi thiền định và nguyện sẽkhông đứng dậy nếu không tìm ra sự giải thoát về điều bí ẩn của sự đau khổ
Và Hoàng tử đã ngồi dới gốc cây bồ đề suốt 49 ngày đêm Bảy tuần lễ đó làcả một chuỗi ngày đầy thử thách Để phá sự thiền định của Hoàng tử, con
Trang 5quỹ dữ Mara tìm mọi cách làm chàng nản chí Thoạt đầu, quỷ Mara biếnthành một sứ giả đến báo cho Hoàng tử một tin bịa đặt là em trai Hoàng tử là
Đevađatta nổi loạn, bắt nhốt đức vua cha vào ngục và chiếm nàngYashodrara làm vợ Thế nhng tin dữ đó không làm cho Hoàng tử bận tâm.Mara bèn cho gọi các quỷ dữ tới làm ra ma to, gió lớn gây ra động đất, lụt lộinhng Hoàng tử vẫn ngồi bình thản dới gốc cây bồ đề, cảm phục trớc ý chíkiên định của Hoàng tử, rắn thần Naga dùng thân làm tán cho ma gió choHoàng tử ngồi.Chỉ khi đó Phật mới dời khỏi gốc cây bồ đề đi đến khu vờnLộc Uyển gần Varanasi để giảng bài thuyết pháp đầu tiên cho năm ngời bạn
tu khổ hạnh của mình Sự kiện này đợc ghi chép lại nh một sự kiện quantrọng nhất của Đạo phật và đợc gọi là Phật quay bánh xe Đạo pháp ( chuyểnPháp Luân ) Giáo pháp mới của Đạ phật đã gây ấn tợng mạnh đối với nămnhà tu, họ nhanh chóng trở thành những môn đồ đầu tiên của Đức Phật Vàingày sau số môn đồ của Phật đã tăng lên 60 ngời, theo thời gian số môn đồ
Đạo Phật ngày càng tăng và các tổ chức tăng gia đã ra đời
Đến năm 80 tuổi, biết mình tuổi cao, sức yếu, Đức Phật cùng các môn
đồ trở về chân núi Hymalaya nơi ngài sinh ra và lớn lên Trên đờng Phật đãchuẩn bị mọi thứ cho các môn đồ để họ có thể tự lập đợc sau khi ngàu viêntịch Và, tại một nơi thuộc ngoại vi thành phố Cusinagara, Phật đã ra đi Câunói cuối cùng của Phật là: “ Hỡi các tì kheo tất cả những gì đang tồn tại rồi sẽqua đi Vậy các ngời càng không nên ngừng gắng sức!”
1.2 Nội dung chủ yếu của t tởng triết học Phật giáo.
T tởng triết lý Phật giáo đợc tập trung trong một khối lợng kinh điểnrất lớn, đợc tổ chức thành ba bộ kinh lớn gọi là tam tạng gồm:
- Tạng Luận: Gồm toàn bộ những giới luật của Phật giáo qui định chocả năm bộ phái Phật giáo nh: “ Tứ phần luật” của thợng toạ bộ, Maha tăng kỷluật của “Đại chúng bộ”, căn bản nhất thiết hữu bộ luật” Sau này còn thêmcác Bộ luật của Đại Thừa nh An lạc, Phạm Võng
- Tạng kinh: Chép lời Phật dạy, trong thời kỳ đầu tạng kinh gồm nhiềutập dới dạng các tiền đề, mỗi tập đợc gọi là một Ahàm
- Tạng luận: Gồm những bài bình chú, giải thích về giáo pháp của Phậtgiáo Tạng luận gồm bảy bộ thể hiện một cách toàn diện các quan điểm vềgiáo pháp của Phật giáo
T tởng triết học Phật giáo trên hai phơng diện, về bản thể luận và nhânsinh quan, chứa đựng những t tởng duy vật và biện chứng chất phác
Trang 6Phật giáo cho rằng các sự vật và hiện tợng trong vũ trụ ( chử pháp ) làvô thuỷ, vô chung (vô cùng, vô tận) Tất cả thế giới đều ở quá trình biến đổiliên tục (vô thờng ) không có một vị thần nào sáng tạo ra vạn vật cả Tất cảcác Pháp đều thuộc về một giới ( vạn vật đều nằm trong vũ trụ) gọi là Phápgiới Mỗi một pháp ( mỗi một sự v iệc hiện tợng, hay một lớp sự việc hiện t-ợng) đều ảnh hởng đến toàn Pháp Nh vậy các sự vật, hiện tợng hay các quátrình của thế giới là luôn luôn tồn tại trong mối liên hệ, tác động qua lại vàqui định lẫn nhau.
Tác phẩm “ thanh dung thực luận” của kinh phật viết rằng: “ Có ngời
cố chấp là có Đại tự nhiên là bản thể chân thực bao khắp cả, lúc nào cũng ờng định ra chu pháp(1) đạo Phật cho rằng toàn bộ ch pháp đều chi chi phốibởi luật nhân quả, biến hoá vô thờng, không có cái bản ngã cố định, không
th-có cái thực thể, không th-có hình thức nào tồn tại vĩnh viễn cả Tất cả đều theoluật nhân quả biến đổi không ngừng và chỉ có sự biến hoá ấy là thờng còn( vĩnh viễn ) Cái nhân nhờ có cái duyên mới sinh ra đợc mà thành quả Quảlại nhờ có duyên mà thành nhân khác, nhân khác lại thành quả Quả lại nhờ
có duyên mà thành nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà thành quả mới Cứ thế nối nhau vô cùng vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài, cứ sinhsinh, hoá hoá mãi
Nh vậy ngay từ đầu Phật giáo đã đặt ra mục đích giải quyết vấn đề cơbản của Triết học một cách biện chứng và duy vật Phật giáo đã gạt bỏ vai tròsáng tạo thế giới của các “đấng tối cao” của “Thợng đế” và cho rằng bản thểcủa thế giới tồn tại khách quan và không do vị thần nào sáng tạo ra cả Cáibản thể ấy chính là sự thờng hằng trong vận động của vũ trụ, là muôn ngànhình thức của vạn vật trong vận động, nó có mặt trong vạn vật nhng nó khôngdừng lại ở bất kỳ hình thức nào Nó muôn hình vạn trạng nhng lại tuân hànhnghiêm ngặt theo luật nhân quả
Do qui luật nhân quả mà vạn vật ở trong quá trình biến đổi khôngngừng, thành, trụ, hoại, diệt ( sinh thành, biến đổi, tồn tại, tan rã và diệtvong) Quá trình đó phổ biến khắp vạn vật, trong vũ trụ, nó là phơng thứcthay đổi chất lợng của sự vật và hiện tợng
Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hoá vô thờng của vạn vật,
đã xây dựng nền thuyết “ nhân duyên” trong thuyết “nhân duyên” có ba kháiniệm chủ yếu là Nhân, Quả và Duyên
- Cái gì phát động ra ở vật gây ra một hay nhiều kết quả nào đó, đợcgọi là Nhân
1
Trang 7- Cái gì tập lại từ Nhân đợc gọi là Quả.
- Duyên: Là điều kiện, mối liên hệ, giúp Nhân tạo ra Quả Duyênkhông phải là một cái gì đó cụ thể, xác định mà nó là sự tơng hợp, điều kiện
để giúp cho sự biến chuyển của vạn Pháp
Trong thế giới sinh vật, khi đã giải thích về nguyên nhân biến hoá vôthờng của nó, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện đại tới tơng lại Phật giáo đãtrình bày thuyết “ Thập Nhị Nhân Duyên” ( mời hai quan hệ nhân duyên) đợccoi là cơ sở của mọi biến đổi trong thế giới hiền sinh, một cách tất yếu của sựliên kết nghiệp quả
+ Vô minh: ( là cái không sáng suốt, mông muội, che lấp cái bản nhiênsáng tỏ)
+ Hành: ( là suy nghĩ mà hành động, do hành động mà tạo nên kết quả,tạo ra cái nghiệp, cái nếp Do hành động mà có thức ấy là hành làm quả chovô minh và là nhân cho Thức)
+ Thức: ( Là ý thức là biết Do thức mà có Danh sắc, ấy là Thức làmquả cho hành và làm nhân cho Danh sắc)
+ Danh sắc: ( Là tên và hành ta đã biết tên ta là gì thì phải có hình vàtên của ta Do danh sắc mà có Lục xứ, ấy danh sắc làm quả cho thức và làmnhân cho Lục xứ)
+ Lục xứ hay lục nhập: ( Là sáu chỗ, sáu cảm giác: Mắt, mũi, lỡi, tai,thân và tri thức Đã có hình hài có tên phải có Lục xứ để tiếp xúc với vạn vật
Do Lục nhập mà có xúc - tiếp xúc ấy là Lục xứ làm quả cho Danh sắc vàlàm nhân cho Xúc.)
+ Xúc: ( Là tiếp xúc với ngoại cảnh qua sáu cơ quan xúc giác gây nêncmở rộng xúc, cảm giác Do xúc mà có thụ ấy là xúc làm quả cho Lục xứ vàlàm nhân cho Thụ.)
+ Thụ: (Là tiếp thu, lĩnh nạp, những tác động bên ngoài tác động vàomình Do thụ mà có ái ấy là thụ làm quả cho Xúc và làm nhân cho ái.)
+ ái: (Là yêu, khát vọng, mong muốn, thích Do ái mà có Thủ Do ấy,
ái làm quả cho Thụ và làm nhân cho Thủ.)
+ Thủ: ( Là lấy, chiếm đoạt cho minh Do thủ mà có Hữu Do vậy màThủ làm quả cho ái và làm nhân cho Hữu.)
+ Hữu: ( Là tồn tại, hiện hữu, ham, muốn, nên có dục gây thành cáinghiệp Do Hữu mà có sinh, do đó Hữu là quả của Thủ và làm nhân củaSinh)
Trang 8+ Sinh: ( Hiện hữu là ta sinh ra ở thế gian làm thần thánh, làm ngời,làm súc sinh Do sinh mà có Tử, ấy là sinh làm quả cho Hữu và làm nhân choTử).
+ Lão tử: ( Là già và chết, đã sinh ra là phải già yếu mà đã già là phảichết Nhng chết - sống là hai mặt đối lập nhau không tách rời nhau Thể xáctan đi là hết nhng linh hồn vẫn ở trong vòng vô minh Cho nên lại mang cáinghiệp rơi vào vòng luân hồi ( khổ não)
Bốn yếu tố do nhân duyên tạo thành phần tâm lý ( tinh thần ) của conngời là:
+ Thụ: Những cảm giác, cảm thụ về khổ hay sớng, đa đến sự xúc chạmlĩnh hội thân hay tâm
+ Tởng: Suy nghĩ, t tởng
+ Hành: ý muốn thúc đẩy hành động
+ Thức: Nhận thức, phân biệt đối tợng tâm lý ta là ta
Hai thành phần tạo nên từ ngũ uẩn do Nhân - Duyên tạo thành mỗisinh vật cụ thể có danh và có sắc Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta Duyên tanngũ uẩn thì là diệt Quá trình hợp tan ngũ uẩn do Nhân - Duyên là vô cùngtận
Nghiệp báo trong một đời là sự tổng hợp của các nghiệp gây ra tronghiện tại cộng với các nghiệp gây ra trong quá khứ, nó quyết định đời sau xấuhay tốt, thiện hay ác
Luân hồi: Chữ phạn là Samsara Có nghĩa là bánh xe quay tròn Đạophật cho rằng, sau khi một thể xác sinh vật nào đó chết thì linh hồn sẽ tách rakhỏi thể xác và đầu thai vào một sinh vật khác nhập vào một thể xác khác (cóthể là con ngời, loài vật thậm chí cỏ cây) Cứ thế mãi do kết quả, quả báohành động của những kiếp trớc gây ra Đó cũng là cách lý giải căn nguyênnỗi khổ ở đời con ngời
Sau khi lý giải đợc nỗi khổ ở cuộc đời con ngời là do “ thập nhị nhânduyên” làm cho con ngời rơi vào bể trầm luân Đạo Phật đã chủ chơng tìmcon đờng diệt khổ Con đờng giải thoát đó không những đòi hỏi ta nhận thức
đợc nó mà cao hơn ta phải hành động, phải thấm nhuần tứ diệu đế
Tứ diệu đế: Là bốn sự thật chắc chắn, bốn chân lý lớn, đòi hỏi chúngsinh phải thấu hiểu và thực hiện nó Tứ diệu đế gồm:
1 Khổ đế: Con ngời và vạn vật sinh ra là khổ, ốm đau là khổ, già yếu
là khổ, chết là khổ, ghét nhau mà phải sống gần nhau là khổ, yêu nhau mà
Trang 9phải chia lìa nhau là khổ, mất là khổ mà đợc cũng là khổ Những nỗi khổ
ấy từ đâu? chúng ta tiếp tục tìm hiểu Tập đế
2 Tập đế: Tập là tập hợp, tụ tập lại mà thành Vậy do những gì tụ tậplại mà tạo ra nỗi khổ cho chúng sinh?
Đó là do con ngời có lòng tham, dâm (giận dữ ), si ( si mê, cuồng mê,
mê muội) và dục vọng Lòng tham và dục vọng của con ngời xâu xé là docon ngời không nắm đợc nhân duyên Vốn nh là một định luật chi phối toàn
vũ trụ Chúng sinh khômg biết rằng mọi cái là ảo ảnh, sắc sắc, không không.Cái tôi tởng là có nhng thực là không Vì không hiểu đợc ra nỗi khổ triềnmiên, từ đời này qua đời khác
3 Diệt đế: Là phải thấu hiểu đợc “ Thập nhị nhân duyên” để tìm ra đợccăn nguyên của sự khổ - để dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc rễ của cái khổ Thựcchất là thoát khỏi nghiệp chớng, luân hồi, sinh tử
4 Đạo đế: Là con ngời ta phải theo đế diệt khổ, phải đào sâu suy nghĩtrong thế giới nội tâm ( thực nghiệm tâm linh ) Tuy luyện tâm trí, đặc biệt làthực hành YOGA để đạt tới cõi siêu phàm mà cao nhất là đạt tới cõi phận là
đạt tới trình độ giác ngộ bát nhã Tới chừng đó sẽ thấy đợc chân nh và thanhthản tuyệt đối, hết ham muốn, hết tham vọng tầm thờng, tức là đạt tới cói
“niết bàn” không sinh, không diệt
Nh vậy Phật giáo nguyên thuỷ có t tởng vô thần, phủ nhận đấng sángtạo ( vô ngã, vô tạo giả) và có t tởng biện chứng ( vô thờng, lý thuyết Duyênkhởi ) Tuy nhiên, Triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ quankhi coi thế giới hiện thực là ảo giả và do cái tâm vô minh của con ngời tạo ra
1.3 Sự truyền bá Phật giáo trên thế giới
Trớc khi Thích ca Mâu Ni tạ thế, các khu vực truyền bá Đạo Phật chủyếu ở miền Trung lu vực Sông Hằng, đặc biệt xung quanh các khu vực thànhphố lớn mới nổi lên Sau khi ngài tạ thế, các thế kỷ trực tuyến của ngài đã
đem Đạo Phật mở rộng đến hạ lu sông Hằng về phía Đông, phía Nam đến bờsống Caođaveri, phía Tây đến bờ biển Arập, phía Bắc tới khu vực Thaiysiro
ở thời kỳ thống trị của vua Asôca thuộc vơng triều Maurya, Đạo phật bắt đầuphát triển tới các cùng biển của thứ Đại lục, Đông tới Miama, Nam tớiXrilanca, Tây tới Xyri, Aicập Nhanh chóng trở thành tôn giáo mang tínhthế giới Sau khi vơng triều Casan (kushan) hng khởi lại truyền tới Iran, cácnơi ở trung tâm Châu á, rồi qua con đờng tơ lụa truyền vào Trung Quốc
II.Giá trị và hạn chế của Phật giáo
Trang 10Phật giáo là một tôn giáo, nhng trong đó hai yếu tố tôn giáo vàtriết học quện vào nhau, làm cơ sở luận chứng cho nhau ở đây, chúng
ta chú ý tới yếu tố triết học
1.giá trị của phật giáo
Hơn tất cả các học thuyết khác của Phơng Đông, Phật giáo chú
ý đến mặt phát triển tự nhiên của con ngời, đó là sinh, lão, bệnh, tử.Bốn chặng đó của cuộc đời phản ánh sự phát triển tất yếu của cơ thểcon ngời, mà nếu ai đó nhận thức đợc thì sẽ không sợ hãi trớc sự thay
đổi của cuộc đời, thậm chí còn bình thản, lạc quan tr ớc cái chết
Phật giáo đề cập đến vấn đề ngũ uẩn: sắc, thụ, t ởng, hành, thức
là những vấn đề có ý nghĩa nhận thức luận sâu sa Tuy đối t ợng củanhận thức đó là tâm và tính chất là duy tâm nh ng ở trong quá trìnhngũ uẩn chứa đựng một quá trình nhận thức gồm các b ớc hợp lý: từ sự
vật khách quan (sắc), con ngời cảm thụ đợc (thụ), suy nghĩ (tởng), rồi
đem thực hiện (hành) và cuối cùng là hiểu biết (thức) ở đây, nếu bóc
cái vô thần bi ra, ta thấy có những hạt nhân hợp lý
Phật giáo đa vào hệ t tởng những quan niệm biện chứng với cáckhái niệm " vô thờng ", " vô ngã " ở đó cho thấy Phật giáo nhìn sựvật trong sự vận động và biến đổi liên tục, không có gì là trụ lại mãimãi, không có ai là tồn tại mãi mãi Tuy nhận thức đó chỉ thấy đ ợc cáibiến đổi mà không thấy đợc cái ổn định tơng đối, chỉ thấy đợc cái vận
động mà không thấy đợc cái hình thức của vận động, tuy dễ đi tớichiều hớng bi quan và thái độ buông xuôi, nhng mặt khác phải thấynhận thức nh vậy là có chiều sâu, là thấy đợc một phơng diện cơ bảncủa phát triển sự vật
Phật giáo đề cập đến thuyết nhân duyên, đến mối quan hệ nhânquả, đến việc xét sự vật phải từ kết quả tìm ra nguyên nhân và xemkết quả này là nguyên nhân của kết quả khác trong mối quan hệ khác
Phật giáo đề ra t tởng từ bi bác ái, chủ trơng hỉ xả cứu khổ cứunạn là những t tởng gây đợc xúc động lòng ngời và đã trở thành mộttrong những nguồn gốc của lòng thơng ngời, của chủ nghĩa nhân đạo.Tuy ở đó có nội dung báo ứng, có t tởng nhẫn nhục chịu đựng vàkhông phân biệt bạn thù, song việc làm do tác động của t tởng trênbiểu hiện một sự quan tâm đến con ngời, cứu vớt con ngời
2.hạn chế của phật giáo
Phật giáo có những hạn chế, những ảnh hởng tiêu cực đến tduycon ngời
Phật giáo chỉ thấy cá nhân con ngời mà không thấy xã hội con ngời,chỉ thấy con ngời nói chung mà không thấy con ngời thuộc các giai cấp đốikháng nhau trong xã hội trớc đây, không thừa nhận sự đấu tranh giai cấptrong xã hội Do đó, không thấy đợc nguyên nhân xã hội đa đến sự khổ ải củacon ngời, không thấy đợc sự cần thiết phải đấu tranh chống áp bức, bóc lột vìthế quan niện từ bi, bác ái trong một số trờng hợp bất lợi cho sự đấu tranhgiải phóng giai cấp, chống áp bức
Phật giáo không bàn tới lĩnh vực chính trị, vì thế mỗi khi nhà sbớc sang lĩnh vực chính trị - xã hội, họ phải sử dụng các t tởng củanhà Nho hay Lão - trang Nhà s Viên Thông cho rằng: "Lòng dân là
Trang 11gốc trị loạn", trong đó "lòng dân" là khái niệm và t trởng của nhà nho;hoặc nhà s Đỗ Pháp Thuận nói: "Vô vi c diện các, xứ xứ tức đao binh"(nếu đờng lối vô vi ngự trị trong triều đình, thì nơi nơi sẽ tắt chiếntranh) trong đó " vô vi" là khái niệm của Lão - Trang, mặc dù kháiniệm đó đã đợc giải thích theo quan niệm nhà Phật.
Hạn chế lớn nhất của Phật giáo đối với ph ơng pháp t duy củangời là quan điểm duy tâm thần bí Quan điểm này khiến ng ời takhông hớng vào hiện thực, mà hớng vào nghiệp, vào quả báo, vào thầnlinh để mong đợc phù hộ, độ trì Và một khi t duy nh vậy thì khôngcần gì đến sự tìm tòi và khám phá, sáng tạo và hành động