BÀI KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN SỐ 2 ĐỀ BÀI Trong quá trình thương thảo Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần của Công ty A cho Công ty B, Luật sư D là người tư vấn cho Công ty A Khi biết Luật sư D là người có uy.
Trang 1BÀI KIỂM TRA THƯỜNG
XUYÊN SỐ 2
Trang 2ĐỀ BÀI
Trong quá trình thương thảo Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần của Công ty A cho Công ty B, Luật sư D là người tư vấn cho Công ty A Khi biết Luật sư D là người có uy tín trong giới Luật sư, ngay lập tức Công ty B là bên nhận chuyển nhượng đã tìm đến Luật sư D đặt vấn đề là nếu Luật sư soạn thảo Hợp đồng không quá chặt chẽ, tạo thuận lợi cho Công ty B thì Công ty sẵn sàng có khoản
“bồi dưỡng” cho Luật sư Việc trao đổi này là bí mật, Công ty A không được biết
Câu hỏi: Luật sư D có thể nhận lời đề nghị của Công ty B không?
TRẢ LỜI
I Căn cứ pháp lý 3
II Phân tích tình huống 3
1 Có xung đột lợi ích phát sinh nếu Luật sư D nhận lời đề nghị của Công ty B không? 3
2 Luật sư D có thể nhận lời đề nghị của Công ty B hay không? 4 III Kết luận 5
Trang 3TRẢ LỜI
I Căn cứ pháp lý
1 Giáo trình Luật sư và Đạo đức nghề luật sư của Học viện Tư pháp; và
2 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam do Hội đồng
Luật sư toàn quốc – Liên đoàn luật sư Việt Nam ban hanh ngày 13 tháng
12 năm 2019 (sau đây gọi tắt là “Bộ Quy Tắc 2019”)
II Phân tích tình huống
Để trả lời cho câu hỏi tình huống, chúng tôi sẽ đặt ra hai câu hỏi sau:
1 Có xung đột lợi ích phát sinh nếu Luật sư D nhận lời đề nghị của
Công ty B không?
Trước tiên, căn cứ Quy tắc 15.1 Bộ Quy Tắc 2019, chúng tôi cho rằng có
sự xung đột về lợi ích trong tình huống này
Xung đột lợi ích phát sinh khi Luật sư ở vào một trong hai tình thế: “bị hạn chế” hoặc “có khả năng bị hạn chế” Thông thường, Luật sư chắc chắn “bị hạn chế” khi đồng thời có từ hai khách hàng trở lên trong cùng
vụ việc mà quyền lợi của khách hàng này đối lập với quyền lợi của khách hàng kia
Xét tình huống, Công ty A và Công ty B đang giai đoạn thương thảo Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần Đây là một loại hợp đồng nhằm xác lập, chấm dứt, hoặc thay đổi tư cách của cổ đông và những thành viên trong công ty Theo đó, bất kỳ điều khoản nào được quy định trong hợp đồng cũng có thể làm phát sinh quyền lợi và nghĩa vụ cho những chủ thể trong hợp đồng một khi hợp đồng được ký kết và có hiệu lực Một điều khoản
có lợi cho bên này cũng đồng thời gây bất lợi cho bên còn lại Đơn cử, trường hợp thoả thuận hợp đồng có giá chuyển nhượng cổ phần cao kèm với các yêu cầu khắt khe khác đối với Công ty B thì công ty A sẽ được lợi nhiều hơn và ngược lại, trường hợp giá chuyển nhượng cổ phần mà thấp thì Công ty B sẽ được lợi
Trường hợp Luật sư D nhận tư vấn đồng thời cho Công ty A và Công ty B – là hai bên có quyền lợi và nghĩa vụ đối lập nhau trong giao dịch chuyển nhượng cổ phần, sẽ rất khó để Luật sư D có thể bảo vệ một cách tốt nhất quyền lợi của một trong hai khách hàng do Luật sư D đã có sự chi phối, tác động từ cả hai phía và xung đột lợi ích là điều không thể tránh khỏi
Trang 4Như vậy, trong trường hợp Luật sư D nhận đề nghị của Công ty B sẽ nảy sinh xung đột lợi ích do khách hàng mới có quyền lợi đối lập với khách hàng hiện tại
2 Luật sư D có thể nhận lời đề nghị của Công ty B hay không?
Đối với câu hỏi về việc đồng ý đề nghị của Công ty B, chúng tôi cho rằng, Luật sư D vẫn có thể nhận lời đề nghị này
- Căn cứ Quy tắc 15.3 Bộ Quy tắc 2019, “Luật sư phải từ chối tiếp nhận
vụ việc hoặc từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc trong các trường hợp sau đây:
…
15.3.2 Vụ việc trong đó khách hàng mới có quyền lợi đối lập với khách hàng hiện tại; vụ việc khác của khách hàng là người đang có quyền lợi đối lập với khách hàng hiện tại trong vụ việc luật sư đang thực hiện.;
…”
- Tuy nhiên, pháp luật cũng như quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp
của luật sư vẫn cho phép và trao quyền cho khách hàng trong trường hợp có xung đột về lợi ích của khách hàng, khách hàng có thể quyết định, từ bỏ một phần quyền lợi của mình, từ bỏ yêu cầu tránh xung đột
về mặt lợi ích để đồng ý cho luật sư của mình nhận có vụ việc có xung đột về lợi ích không nghiêm trọng (trừ một số trường hợp quy định tại Quy tắc 15.4.1, Quy tắc 15.4.2, Quy tắc 15.4.3), vì mục đích chủ yếu của quy tắc “Xung đột về lợi ích” là nhắm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của khách hàng Do đó, về nguyên tắc, khách hàng chịu ảnh hưởng của xung đột về lợi ích có thể xem xét về mức độ ảnh hưởng với quyền lợi của mình và cân nhắc từ bỏ yêu cầu tránh xung đột về lợi ích để đồng
ý cho luật sư được nhận hoặc tiếp tục thực hiện vụ việc cho dù có xung đột về lơi ích và quy định, ghi nhận tại Quy tắc 15.4 như sau:
“Luật sư vẫn có thể nhận hoặc thực hiện vụ việc trong các trường hợp tại Quy tắc 15.3, nếu có sự đồng ý bằng văn bản của khách hàng trừ các trường hợp sau đây:
15.4.1 Các trường hợp bị cấm theo quy định của pháp luật;
15.4.2 Các vụ án, vụ việc tố tụng, vụ việc khiếu nại hành chính, vụ việc giải quyết tranh chấp theo thủ tục trọng tài, hòa giải thương mại;
Trang 5Theo đó, có hai cách giải quyết trong trường hợp có xung đột lợi ích khi đang thực hiện vụ việc: Thứ nhất, Luật sư chấm dứt thực hiện dịch vụ pháp lý cho một hoặc tất cả các khách hàng liên quan Thứ hai, Luật sư tiếp tục thực hiện vụ việc nếu được khách hàng có liên quan đồng ý
Với tinh thần trên, trong tình huống này, Luật sư D có hai phương án sau:
Phương án 1: Luật sư từ chối đề nghị của Công ty B để tránh hoàn toàn
việc xung đột lợi ích giữa Công ty A và Công ty B và bảo vệ tốt nhất quyền lợi của khách hàng hiện tịa là Công ty A
Phương án 2: Luật sư D có thể thể nhận lời đối với công ty B với điều
kiện:
(i) Luật sư D phải trao đổi rõ ràng với cả hai Công ty A và Công ty B
và nhận được sự thoả thuận bằng văn bản từ phía Công ty
Trước hết, Luật sư D cần trao đổi với Công ty A là khách hàng hiện tại của mình, Luật sư D cần tôn trọng khách hàng của mình, cần thông báo và trao đổi với Công ty A biết về sự việc có ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty A để công ty có thể tự đưa ra lựa chọn
Trường hợp công ty A đồng ý, Luật sư D sẽ cần phải tiếp tục trao đổi với Công ty B Trường hợp Công ty B đã có một luật sư đang
tư vấn cho họ thì hai luật sư có thể ngồi lại với nhau để trao đổi thỏa thuận, soạn thảo nên một hợp đồng cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ cho cả đôi bên Còn trường hợp phía bên Công ty B không có luật sư mà vẫn muốn tín nhiệm Luật sư D thì trong trường hợp này, luật sư D có thể nhận lời soạn thảo bản hợp đồng
có lợi cho cả hai bên với điều kiện công ty A có văn bản đồng ý
để luật sư D nhận lời soạn thảo hợp đồng có sự tham gia, có các yêu cầu, ý kiến của bên công ty B
(ii) Liên quan đến vấn đề thù lao: Luật sư D không được nhận khoản
"bồi dưỡng" của Công ty B Đây cũng là một nội dung Luật sư D cần lưu ý để tránh vi phạm quy định tại Quy tắc 9.3 Bộ Quy Tắc
2019, đó là không được nhận tiền hay bất kỳ lợi ích nào khác từ bên thứ 3 (ở đây là Công ty B) để thực hiện hoặc không thực hiện công việc gây thiệt hại đến lợi ích khách hàng
III Kết luận
Trang 6Một trong những mục đích chủ yếu của yêu cầu giải quyết “xung đột” về lợi ích là nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng Do đó, về nguyên tắc, khách hàng chịu ảnh hưởng của xung đột về lợi ích có thể xem xét về mức
độ ảnh hưởng với quyền lợi của mình và cân nhắc từ bỏ yêu cầu tránh xung đột về lợi ích để đồng ý cho Luật sư được nhận hoặc tiếp tục thực hiện vụ việc cho dù có xung đột về lợi ích
Tuy vậy, cho dù có sự đồng ý của khách hàng thì Luật sư vẫn phải tuân theo pháp luật và các nguyên tắc hành nghề Luật sư