1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy

62 786 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Tác giả ThS. Nguyễn Tuấn Anh
Trường học Viện Nghiên Cứu Cây Nguyên Liệu Giấy
Chuyên ngành Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Thể loại Báo cáo Kết quả Nhiệm vụ cấp Bộ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2 Tính cấp thiết Bảo tồn nguồn gen cây rừng nói riêng và bảo tồn nguồn gen cây nguyên liệu giấy nói chung là bảo tồn các đa dạng di truyền cần thiết cho các loài cây thuộc đối tượng n

Trang 1

i

BỘ CÔNG THƯƠNG TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY

BÁO CÁO KẾT QUẢ NHIỆM VỤ CẤP BỘ NĂM 2010 TÊN NHIỆM VỤ:

BẢO TỒN VÀ LƯU GIỮ NGUỒN GEN CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY

CƠ QUAN CHỦ QUẢN: BỘ CÔNG THƯƠNG

CƠ QUAN CHỦ TRÌ: VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY

NGUYÊN LIỆU GIẤY

CHỦ NHIỆM: ThS NGUYỄN TUẤN ANH

PHÖ THỌ, THÁNG 12 NĂM 2010

Trang 2

MỤC LỤC

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO i

TÓM TẮT 1

PHẦN 1 TỔNG QUAN 2

1.1 Cơ sở pháp lý của nhiệm vụ 2

1.2 Tính cấp thiết 2

1.3 Mục tiêu nhiệm vụ 4

1.4 Địa điểm, đối tượng và nội dung công việc 4

1.4.1 Địa điểm thực hiện 4

1.4.2 Đối tượng bảo tồn 5

1.4.3 Nội dung nhiệm vụ 5

1.5 Tổng quan nhiệm vụ 5

1.5.1 Trên thế giới 5

1.5.2 Ở Việt Nam 7

PHẦN 2 THỰC NGHIỆM 11

2.1 Phương pháp nghiên cứu 11

2.1.1 Phương pháp luận 11

2.1.2 Phương pháp cụ thể 11

2.2 Kết quả và thảo luận 14

2.2.1 Thu thập và tuyển chọn nguồn gen 14

2.2.2 Đánh giá nguồn gen 19

2.2.3 Thảo luận 30

PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 32

3.1 Kết luận 32

3.2 Đề nghị 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

PHỤ LỤC

Trang 3

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO

CGIAR: Consultative Group on International Agricultural Research

FAO: Food and Agriculture Organisation

NLG: Nguyên liệu giấy

NC: Nghiên cứu

NC&TN: Trung tâm nghiên cứu và thực nhiệm

TAPPI: Technical Association of the Pulp and Paper Industry

TNDTTVLN: Tài nguyên di truyền thực vật lâm nông

Zv,h,d: Tăng trưởng lần lượt của thể tích, chiều cao và đường kính

Sv,h,d: Sai tiêu chuẩn lần lượt của thể tích, chiều cao và đường kính

Szv,h,d: Sai tiêu chuẩn lần lượt của tăng trưởng thể tích, chiều cao và đường kính

Trang 4

TÓM TẮT

Báo cáo này trình bày kết quả bảo tồn nguồn gen cây nguyên liệu giấy dưới

phương thức ex situ (bao gồm 2 hình thức cơ bản là in vitro và Field gene bank - Ngân hàng gen đồng ruộng) từ khi nhiệm vụ bảo tồn gen cây nguyên liệu giấy

được xây dựng (2000 đến 2009) và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong 2010 Mục tiêu là bảo tồn và lưu giữ an toàn nguồn gen của cây nguyên liệu giấy để phục vụ công tác giống trước mắt và lâu dài

Về cơ bản nhiệm chọn đúng đối tượng cần bảo tồn và lưu giữ trên cơ sở tận dụng kết quả nghiên cứu chọn giống của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Cho đến năm 2010 đã lưu giữ được 144 giống (năm 2010 là 21 giống) Năm 2010

đã tiếp tục kiểm tra được thực trạng nguồn gen được nhiệm vụ bảo tồn và lưu giữ

(xác định được những giống nào bị mất, có bao nhiêu giống bảo tồn in vitro và Field gene bank)

Đã tiến hành bảo tồn nguồn gen bằng phương pháp ex situ cho các mẫu

Triển khai đầy đủ theo đúng yêu cầu của nhiệm vụ như: xây dựng bộ lý lịch

17 giống năm 2010 theo các chỉ tiêu đánh giá nguồn gen Quốc tế và được quản lý các dữ liệu theo phần mềm chung toàn Bộ Công thương, chăm sóc chu đáo và thu thập đầy đủ số liệu các thí nghiệm bảo tồn ngoại vi, và duy trì các nguồn gen bảo

tồn in vitro

Trang 5

PHẦN 1 TỔNG QUAN

1.1 Cơ sở pháp lý của nhiệm vụ

Nhiệm vụ khoa học công nghệ năm 2009 “Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy” được thực hiện dựa trên các cơ sở pháp lý sau:

- Quyết định số 1035/QĐ-BTC ngày 27/02/2009 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp về việc điều chỉnh và đặt hàng bổ xung thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ năm 2009

- Hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số KHCN ký ngày 23/03/2009 giữa Bộ công thương và Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy

03a.09.QGHĐ Quyết định số 29/QĐ03a.09.QGHĐ KHTH ngày 26/03/2009 của Viện trưởng Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy về việc giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

1.2 Tính cấp thiết

Bảo tồn nguồn gen cây rừng nói riêng và bảo tồn nguồn gen cây nguyên liệu giấy nói chung là bảo tồn các đa dạng di truyền cần thiết cho các loài cây thuộc đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho công tác cải thiện giống trước mắt hoặc lâu dài, tại chỗ hoặc nơi khác (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng 2003) Kinh nghiệm của sản xuất và nghiên cứu cho thấy rằng khi tập trung vào khai thác và gây trồng các giống có năng suất cao, chúng ta đã quên đi các nguồn gen có giá trị đặc dụng, hoặc có tính chống chịu với điều kiện bất lợi song năng suất thấp Khi khoa học phát triển đến trình độ cao chúng ta mới cần đến nó thì không còn nữa

Biến dị di truyền hiện tồn tại giữa các xuất xứ, các gia đình và các cây cá thể bên trong một loài là vô cùng quan trọng và cần phải được bảo tồn, vì chúng là cái đảm bảo cho sự bền vững và ổn định của loài và xuất xứ; là nguồn gốc của sự đa dạng và là cơ sở cho quá trình tiến hóa của loài trong tương lai (Nguyễn Hoàng Nghĩa 1997a; 1997b; Nguyễn Hoàng Nghĩa 1999) Biến dị di truyền không chỉ được dùng cho các chương trình cải thiện giống và sử dụng hiện tại của con người

mà nó còn rất quan trọng cho sự phát triển của các thế hệ tiếp theo, để cho loài cây thích nghi liên tục với các điều kiện môi trường biến đổi và thích nghi với các nhu cầu đa dạng của con người Bởi vì, lượng biến dị di truyền trong một loài càng lớn

Trang 6

thì càng có nhiều cơ hội chọn được các cá thể có các đặc tính mong muốn Vì đối với công tác cải thiện giống cũng như với các nhà chọn giống, muốn đạt được tăng thu di truyền tối đa và lâu dài, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn vật liệu di truyền và yếu

tố có ý nghĩa vô cùng quan trọng (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2007b)

Vì vậy, việc bảo tồn nguồn gen cây nguyên liệu giấy nhằm duy trì tính đa dạng di truyền cần thiết, tạo lập một nền tảng di truyền đủ lớn phục vụ cho công tác giống trước mắt và lâu dài, góp phần tăng năng suất theo mục tiêu kinh tế và tăng tính chống chịu của chúng với các điều kiện bất lợi là hết sức cần thiết Bảo tồn nguồn gen là công tác quan trọng trong công tác cải thiện giống cây rừng (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng 2003)

Công tác chọn giống và nhân giống đã được xác định là công tác then chốt trong việc nâng cao năng suất rừng trồng, ngoài việc tuyển chọn và đưa vào sản xuất những giống năng xuất cao thì việc bảo quản các nguồn gen và lưu giữ các giống tốt trong điều kiện vô trùng để giữ lại những nguồn giống "sạch bệnh" cho sản xuất là việc làm cần thiết Việc bảo tồn nguồn gen quý có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, nhưng việc ứng dụng công nghệ sinh học - nuôi cấy

mô tế bào thực vật trong lưu giữ và bảo tồn nguồn gen là việc làm mang lại nhiều lợi ích so với các phương pháp khác ở nhiều nước trên thế giới đã áp dụng rộng rãi phương pháp này và đã mang lại hiệu quả cao (Đoàn Thị Thanh Nga 2007)

Tuy nhiên thực tế sản xuất hiện nay còn đang sử dụng chưa nhiều các xuất

xứ có triển vọng và các dòng vô tính chọn lọc để thay thế các giống được trồng từ hạt xô bồ không tuyển chọn Mặt khác, để đáp ứng nguyên liệu cho mục tiêu của ngành giấy Việt Nam phấn đấu đạt 2.2 triệu tấn bột giấy vào năm 2010 thì công tác chọn giống, bảo tồn, lưu giữ và phát triển nguồn gen là không thể thiếu và tập đoàn quỹ gen cây nguyên liệu giấy cần phải được nâng cao cả về số lượng và chất lượng thì mới đáp ứng được nhu cầu thực tế hiện nay (Đoàn Thị Thanh Nga 2007)

Có nhiều phương thức bảo tồn nguồn gen khác nhau như bảo tồn in situ (bảo tồn tại chỗ), bảo tồn tư liệu và bảo tồn thông tin, và bảo tồn ex situ (bao gồm cả dạng cây sống, hạt giống, hạt phấn, cây nuôi cấy in vitro) Theo Nguyễn Hoàng

Nghĩa (1997a) thì hai phương thức trên được định nghĩa như sau:

Bảo tồn in situ: “là bảo tồn các tài nguyên di truyền của loài mục đích ở tại

nơi phân bố của chúng, bên trong hệ sinh thái tự nhiên hoặc ban đầu, hoặc ở lập địa

Trang 7

mà hệ sinh thái đó đã có trước đây” Phương thức này thường được áp dụng tại các khu rừng tự nhiên

Bảo tồn ex situ: “là sử dụng bất kỳ biện pháp nào để thực hiện việc rời các

cây cá thể hoặc những vật liệu nhân giống ra khỏi khu phân bố tự nhiên của chúng”

Báo cáo này trình bày kết quả bảo tồn nguồn gen cây nguyên liệu giấy dưới

phương thức ex situ (bao gồm in vitro và Field gene bank) từ khi nhiệm vụ bảo tồn

gen cây nguyên liệu giấy được xây dựng và kết quả theo dõi, thu thập nguồn gen trong năm 2010

1.4 Địa điểm, đối tượng và nội dung công việc

1.4.1 Địa điểm thực hiện

Nhiệm vụ bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy được thực hiện

ở các địa điểm sau:

Xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ: Bảo tồn in vitro và Field gene bank

Xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ: Bảo tồn Field gene bank

Xã Tiên Kiên, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ: Bảo tồn Field gene bank, thu

thập nguồn gen

Xã Ngọc Thắng, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ: Thu thập nguồn gen

Thị trấn Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc: Thu thập nguồn gen

Việt Thành – Tân Thành, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang: Thu thập nguồn gen

Thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang: Thu thập nguồn gen

Xã Đại Đình, huyện Tam Dương, Vĩnh Phúc, thu thập nguồn gen

Rừng giống của Trung tâm NC&TN cây NLG Hàm Yên, Tuyên Quang, thu thập nguồn gen

Trang 8

1.4.3 Nội dung nhiệm vụ

Điều tra, khảo sát và thu thập nguồn gen quý hiếm cây nguyên liệu giấy:

25 giống

Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen (Phụ biểu 1): Thuộc nhiệm vụ thường xuyên

và bổ sung mới 25 giống)

Đánh giá nguồn gen: 20 giống (35 chỉ tiêu/giống)

- Đánh giá đặc tính sinh học (khả năng kháng bệnh, khả năng nhân giống vô

tính)

- Đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển

Xây dựng cơ sở dữ liệu - Data Bank

- Xây dựng cơ sở dữ liệu về: nguồn gốc giống, các đặc tính sinh học, đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các giống cây nguyên liệu giấy đã bảo tồn và lưu giữ

-Tư liệu hoá qua phim ảnh và toàn bộ số liệu đánh giá nguồn gen trong phần mềm lưu giữ

- Cung cấp các thông tin về nguồn gen quý hiếm phục vụ công tác lai tạo giống mới có năng xuất cao, chất lượng tốt

1.5 Tổng quan nhiệm vụ

1.5.1 Trên thế giới

Tài nguyên di truyền cây nông nghiệp tức là quỹ gen cây nông nghiệp, được FAO gọi là tài nguyên di truyền thực vật vì mục tiêu lương thực và nông nghiệp (TNDTTVLN), lại là phần có trọng số lớn nhất của toàn bộ tài nguyên di truyền

Trang 9

thực vật Sự xói mòn nguồn gen cây trồng trong nông nghiệp gây ra bởi nhiều nguyên nhân hiện nay đang là vấn đề nghiêm trọng, Để có thể bảo tồn và sử dụng hiệu quả đa dạng sinh học nông, lâm nghiệp trong đó tài nguyên di truyền thực vật

là hạt nhân, Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ nhất về môi trường họp tại Stockholme, Thụy Điển năm 1972 đã kêu gọi khẩn cấp nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật Hai mươi năm sau, Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ hai họp tại Río de Janero, Brazin năm 1992 đã thoả thuận Công ước đa dạng sinh học Hội nghị Kỹ thuật quốc tế lần thứ tư về tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục tiêu lương nông do FAO triệu tập năm 1996 tại Cộng hòa liên bang Đức đã thống nhất Kế hoạch hành động toàn cầu (Global Plant of Action, GPA) về bảo tồn quỹ gen cây nông nghiệp Gần đây, tháng 11 năm 2001 Đại hội đồng FAO đã thông qua Hiệp ước về Tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục tiêu lương nông nhằm thiết lập một hệ thống tiếp cận tài nguyên cây trồng và chia sẻ lợi ích đa phương phục vụ lương thực và nông nghiệp (Nguyễn Thị Ngọc Huệ 2007)

Việc lưu giữ và bảo tồn nguồn gen quý hiếm của các loài cây nguyên liệu giấy nói riêng và các cây thân gỗ nói chung là việc làm rất cần thiết, đã và đang được nhiều nước trên thế giới chú ý:

- Năm 1850 ở Châu Âu người ta đã bắt đầu nhận thức được vấn đề cần bảo tồn

- Năm 1985 bảo tồn đa dạng sinh học được bắt đầu và đến năm 1992 các hoạt động này được triển khai Đây chính là nền móng cho sự bảo tồn đa dạng sinh học

- Năm 1991 có rất nhiều nước tham gia hội thảo quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học tại Rio de Janero, Brazil và đã ký công ước đa dạng sinh vật Quốc tế, đánh dấu bước khởi đầu thúc đẩy tiến trình bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật

- Năm 1972 CGIAR thành lập Viện tài nguyên di truyền thực vật Quốc tế để làm tư vấn kỹ thuật cho các quốc gia thực hiện nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật

- Hiện nay các ngân hàng gen cây trồng trên thế giới đang lưu giữ 6.5 triệu mẫu giống, trong đó 87% ở ngân hàng gen quốc gia và 11% ở các ngân hàng gen của các cơ quan nghiên cứu do CGIAR quản lý

Trang 10

- Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Đài Loan và Hàn Quốc mới xúc tiến nhiệm vụ bảo tồn quỹ gen cây trồng (1980), nhưng là một trong số mười quốc gia

có ngân hàng gen cây trồng lớn nhất thế giới, đang bảo tồn trên 100.000 mẫu giống

- Công ty Aracruz (Braxin), ngay từ những năm 1984 đã chọn 5.000 cây trội

từ 36.000 ha rừng trồng bạch đàn Từ đó đã chọn ra 150 dòng phù hợp nhưng chỉ

sử dụng 31 dòng tốt nhất vào chương trình trồng rừng Năm 1989, vốn gen của họ

có 2.000 xuất xứ của 56 loài bạch đàn, trên 7.000 cây đã được kiểm tra đánh giá và

100 cây chứng tỏ có triển vọng cao

- Australia, năm 1972 đã tiến hành xây dựng các khu bảo tồn gen in-situ cho bạch đàn với mục tiêu bảo tồn nguồn gen hơn là bảo tồn các cây cá thể Yêu cầu cơ bản là duy trì các quần thể bằng cách tái sinh tự nhiên hoặc nhân tạo từ nguồn hạt giống thu hái trong khu bảo tồn và tái tạo thế hệ mới từ nhiều cây cá thể

- FAO đã đầu tư cho xây dựng một số khu bảo tồn ex situ cho bạch đàn ở

một số nước như Thái Lan, ấn Độ, Nigiêria, Băng-la-đét

- Ở Trung Quốc, từ những năm 1978 Viện nghiên cứu lâm nghiệp Khâm Châu tỉnh Quảng Tây đã tiến hành bảo tồn nguồn gen bạch đàn bằng in vitro Sau

đó hình thức bảo tồn này được áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi (Viện khoa học lâm nghiệp Quảng Tây, Viện khoa học lâm nghiệp Quảng Đông ) cho các đối tượng: Bạch đàn, thông, keo và một số loài cây khác (Trích từ Đoàn Thị Thanh Nga 2008)

Nhìn chung, tất cả các nghiên cứu và đầu tư trên đều tập trung vào tầm quan trọng của công tác bảo tồn nguồn gen, nó có vai trò rất quan trọng trong công tác giống, một số thàng tựu đã đạt được và các nghiên cứu vẫn đang được thực hiện trên thế giới

1.5.2 Ở Việt Nam

Bảo tồn nguồn gen cây rừng đã được nhiều nhà khoa học ở Việt Nam quan tâm Theo quy chế “bảo tồn nguồn gen động vật, thực vật và vi sinh vật” được Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường ban hành ngày 30 tháng 12 năm 1997 thì nguồn gen là những vi sinh vật sống hoàn chỉnh hay bộ phận của chúng mang thông tin di truyền sinh học, có khả năng tham gia hay tạo gia giống mới của thực vật, động vật và vi sinh vật (Trương Văn Lung)

Trang 11

Từ định nghĩa trên có thể thấy rõ bảo tồn nguồn gen chính là bảo tồn các vật thể mang thông tin di truyền những vật liệu ban đầu có khả năng tạo ra giống mới Điều quan trọng khi bắt tay vào bảo tồn nguồn gen là phải xác định được mục tiêu bảo tồn Mục tiêu bảo tồn khác nhau thì phương pháp và đối tượng bảo tồn cũng khác nhau Cho đến nay, mục tiêu bảo tồn gen bao giờ cũng xác định là để cho công tác chọn giống và gây giống trước mắt và trong tương lai Vì vậy, việc bảo tồn nguồn gen bao giờ cũng được tập trung giải quyết cho các loài cây trồng chủ yếu (Trương Văn Lung) Các loài cây nguyên liệu giấy là một trong những mục tiêu như vậy Nó sẽ được dùng cho công tác lai giống và nhân giống sau này

Theo Nguyễn Thị Ngọc Huệ (2007), qua phân tích tổng quan tình hình bảo tồn và sử dụng tài nguyên di truyền thực vật trên thế giới và Việt Nam cho thấy: Nhận được tầm quan trọng của nguồn tài nguyên này, nhiều nước trong đó có Việt

Nam đã tập trung cho bảo tồn ex situ, cho đến những năm 90 thì bắt đầu quan tâm nhiều đến bảo tồn in situ Hiện nay Chiến lược bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật là kết hợp hài hòa hai phương pháp ex situ và in situ

Theo Trương Văn Lung, về thực vật có các phương pháp phát triển nguồn

gen như sau: Nhân giống in vitro là một trong bốn lĩnh vực công nghệ tế bào thực

vật, đó là làm sạch virus, nhân nhanh các giống cây trồng, sản xuất và chuyển hóa sinh học các hợp chất tự nhiên cải tiến về mặt di truyền các giống cây mang lại hiệu quả kinh tế cao Kỹ thuật nhân nhanh được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực:

- Duy trì và nhân nhanh các kiểu gen quí hiếm làm vật liệu cho công tác chọn giống

- Nhân nhanh và duy trì các cá thể đầu dòng tốt để cung cấp hạt giống các loại cây trồng khác nhau

- Nhân nhanh các kiểu gen quí hiếm của giống cây lâm nghiệp

- Nhân nhanh ở điều kiện vô trùng, cách ly tải nhiễm kết hợp với làm sạch virus

- Bảo quản tập đoàn nhân giống vô tính, các loài cây giao phấn trong ngân hàng gen

Trên thực tế trong nhiều năm vừa qua Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy

đã và đang chọn lọc được nhiều giống là giống quốc gia, giống tiến bộ kỹ thuật và nhiều giống khác có năng suất cao hoặc các giống có các tính ưu việt khác cho cây

Trang 12

nguyên liệu giấy nói riêng và cho trồng rừng nói chung Việc lưu giữ và bảo tồn nguồn gen của các giống này là rất cần thiết

Việc bảo tồn, lưu giữ tài nguyên di truyền được thực hiện dưới nhiều hình

thức khác nhau (in situ, ex situ) tại các cơ sở, tổ chức, các thành phần kinh tế khác

và được liên kết thành một mạng lưới dưới sự quản lý thống nhất của Bộ Khoa học

và Công nghệ Trong những năm qua việc bảo tồn nguồn gen thực vật, động vật, vi sinh vật đã thu được một số kết quả nhất định Trong đó việc bảo tồn nguồn gen cây lâm nghiệp nói chung và cây nguyên liệu giấy nói riêng mới được bảo tồn ở

hình thức in situ và ex situ dạng Field gene bank (trồng thành rừng) còn bảo tồn in vitro thì hầu như chưa có đơn vị nào triển khai ngoài Viện nghiên cứu cây nguyên

liệu giấy (Đoàn Thị Thanh Nga, 2008)

Các kết quả đạt được trong công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen quý hiếm cây nguyên liệu giấy (Đoàn Thị Thanh Nga, 2008):

Từ những năm 1975, do có dự án nước ngoài tài trợ nên Viện có rất nhiều công trình nghiên cứu, phát triển nguồn gen quý hiếm được triển khai cho những cây nhập nội như thông, bạch đàn, keo và thu được nhiều kết quả đóng góp đáng

kể cho sự nghiệp trồng rừng nguyên liệu

Đối với thông: Để nghiên cứu chọn loài phục vụ trồng rừng cung cấp nguyên liệu sợi dài Từ những năm 1975 Viện đã triển khai trồng thử 23 xuất xứ

của 4 loài thông nhiệt đới P caribea, P oocarpa, P kesiya và P merkusii trên 4

dạng lập địa của vùng nguyên liệu giấy Vĩnh Phú - Hà Tuyên Kết quả đã chọn

được loài P caribaca hondurensis với xuất xứ từ Mountain Pine Ridege thuộc

cộng hoà Belize đưa vào trồng ở phía nam nguyên liệu Đã chọn ra được 100 cây trội

Đối với bạch đàn: Từ năm 1979, Viện đã khảo nghiệm hơn 80 loài và xuất

xứ trên 43 điểm/lập địa Kết quả đã chọn được 4 loài: E camaldulensis, E tereticornis, E urophylla, E grandis x E urophylla và các xuất xứ: Pettford (Queensland – Australia) của loài E camaldulensis, xuất xứ Lewotobi (Indonesia) của loài E urophylla Các khảo nghiệm dòng dõi (kể cả các dòng dõi tự do thụ

phấn và dòng vô tính) của các loài trên cũng đã được triển khai cùng với việc chọn được 200 cây trội

Trang 13

Đối với keo: Năm 1981, Viện đã khảo nghiệm trên 100 loài ở 30 điểm/lập địa và đã chọn ra một số loài sinh trưởng nhanh, phát triển tốt Đó là các loài

A mangium, A crasicarpa, A aulacocarpa, A mangium x A auriculifocmis,

A auriculifocmis x A mangium Các xuất xứ tốt như: Iron Range, Cardwell, Mossman của loài A mangium Đã tuyển chọn được 100 cây trội của các xuất xứ

này

Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm canh, không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao ở nước ta năng xuất rừng trồng (bạch đàn, keo) từ hạt (không kiểm soát) chỉ đạt từ 5-10 m3/ha/năm Vì vậy việc nhân nhanh các giống có năng suất cao, chất lượng tốt và có tính chống chịu với sâu bệnh là một yêu cầu cấp bách đối với công tác trồng rừng (Huỳnh Đức Nhân 1996; Nguyễn Sỹ Huống 1999; Nguyễn Quang Đức 2002; Nguyễn Sỹ Huống 2003; Huỳnh Đức Nhân và cộng sự 2006; Viện NC cây NLG 2004)

Hiện nay đã có hàng ngàn ha rừng trồng công nghiệp từ cây mô, hom phục

vụ nguyên liệu cho nhà máy giấy và bột Vĩnh Phú Tuy nhiên thực tế sản xuất hiện nay còn đang sử dụng rất ít các xuất xứ có triển vọng và các dòng vô tính cao sản

để thay thế các giống được trồng từ hạt xô bồ không tuyển chọn (rừng trồng ở quy

mô công nghiệp cần phải có từ 20-30 dòng trên một diện tích tập trung) Mặt khác, ngành giấy Việt Nam đang nỗ lực phấn đấu đạt 2.2 triệu tấn bột giấy vào năm 2010 (Viện NC cây NLG 2004) Do đó, để đáp ứng được nguồn nguyên liệu thì công tác chọn giống, bảo tồn, lưu giữ và phát triển nguồn gen là không thể thiếu Vì vậy tập đoàn quỹ gen cây nguyên liệu giấy cần phải được nâng cao cả về số lượng và chất

lượng thì mới đáp ứng được nhu cầu thực tế hiện nay

Xuất phát từ những vấn đề trên, định hướng thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và

lưu giữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy là: Điều tra, khảo sát và thu thập các nguồn

gen thích hợp với đặc điểm của từng loài cây, từng vùng sinh thái khác nhau Bảo tồn lâu dài các nguồn gen đã thu thập được và kết hợp với việc phát triển nguồn gen đó đưa vào sản xuất Dựa vào các chỉ tiêu sinh học cụ thể của từng loài, đánh giá nguồn gen bảo tồn Tư liệu hoá các nguồn gen và trao đổi thông tin tư liệu về các nguồn gen

Trang 14

Quá trình điều tra khảo sát bao gồm phát hiện và thu thập nguồn gen, lấy mẫu đem bảo tồn nhằm xem xét các dạng biến động sinh thái và kiểu hình để tạo cơ

sở cho việc xác định các xuất xứ, các loài quan trọng để thu hái hạt hoặc các vật liệu di truyền cho việc khảo nghiệm và bảo tồn nguồn gen sau này (Nguyễn Hoàng Nghĩa 1997a)

Về thực chất, bảo tồn tài nguyên di truyền từ rừng trồng là duy trì đa dạng di truyền ở mức mong muốn trong các lâm phần hoặc các dạng khác của bảo tồn gen

Sử dụng là mục tiêu cuối cùng của mội hoạt động liên quan đến bảo tồn Nó bao gồm việc thu thập, cung cấp hạt hoặc vật liệu nhân giống phục vụ xây dựng vườn/rừng giống, khảo nghiệm xuất xứ và trồng rừng, chọn giống với các gen ưu việt Từ cơ sở lý luận trên, nhiệm vụ thực hiện các phương pháp như dưới đây

2.1.2 Phương pháp cụ thể

2.1.2.1 Thu thập nguồn gen

Thu thập nguồn gen các giống bạch đàn, keo nhập nội đã được thuần hoá tại Việt Nam trong trương trình cải thiện giống của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy và Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam

Sử dụng phương pháp đánh giá nguồn gen của Burlay - Wood (1976) và của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy (phụ lục 1)

2.1.2.2 Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen

Trang 15

phút, HgCl2 0.05% trong 5 phút Sau đó, mẫu được rửa nhiều lần bằng nước vô

trùng và được đưa vào nuôi cấy

Sử dụng môi trường nuôi cấy Murashige - Skooge 1962 (MS) có bổ sung đường saccaroze 30g/l, agar 6g/l, tổ hợp các chất điều hoà sinh trưởng (ĐHST) khác nhau gồm 6-Benzyl adenin (BA), Indol acetic acid (IAA),  Naphyl acetic acid (NAA), Indol butyric acid (IBA), chế phẩm kích thích ra rễ (ABT), một số

vitamin khác và pH = 5.8 trước khi hấp vô trùng

Từ một chồi ban đầu sau một thời gian nuôi cấy phát triển thành nhiều chồi (cụm chồi) Cụm chồi qua nhiều lần cấy chuyển tạo thành các bình giống gốc Lưu giữ các bình giống gốc này trong môi trường bảo tồn (phụ lục 2) với điều kiện bảo tồn: nhiệt độ 100C; cường độ ánh sáng 1000 lux; và thời gian chiếu sáng 10

giờ/ngày

Khi cần khai thác và phát triển những nguồn gen này thì tiến hành cấy chuyển vào môi trường nuôi chồi, thúc rễ để tạo thành cây con hoàn chỉnh (sơ đồ

bảo tồn và lưu giữ nguồn gen)

Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên theo khối, lặp lại 3 lần và được đánh giá theo các chỉ tiêu sau:

số chồi ban đầu

số chồi hữu hiệu

Tỷ lệ chồi hữu hiệu -

số chồi tạo thành

Để đánh giá theo các chỉ tiêu trên, chúng tôi đã tiến hành đếm số chồi tạo thành, số chồi hữu hiệu (chồi có cấu trúc thân, lá, đỉnh rõ ràng, cao từ 0.3cm trở

Trang 16

lên) Quan sát hình thái, tính chiều cao trung bình để đánh giá khả năng sinh trưởng của chồi Chiều cao của chồi được tính từ ngọn đến vị trí tiếp xúc giữa chồi với bề mặt môi trường

Bảo tồn Field gene bank

Tại Tiên Kiên – Lâm Thao – Phú Thọ: Trồng 15 dòng bạch đàn với mật độ

1660 cây/ha, mỗi dòng 10 cây, lặp lại 5 lần Thiết lập thí nghiệm tháng

5/2005 Năm 2007, 2008 và 2009 tiếp tục theo dõi đánh giá sinh trưởng

Tại Gia Thanh – Phù Ninh – Phú Thọ: Trồng 22 dòng (18 dòng bạch đàn và

4 dòng keo) với mật độ 1660 cây/ha, mỗi dòng 1 cây, lặp lại 5 lần Thiết lập thí nghiệm tháng 5/2006 Năm 2007, 2008 và 2009 tiếp tục theo dõi đánh

giá sinh trưởng

Tại Phù Ninh – Phù Ninh – Phú Thọ: Trồng 46 dòng (26 dòng bạch đàn và

20 dòng keo) với mật độ 1660 cây/ha, mỗi dòng 1 cây, lặp lại 10 lần Thiết

lập thí nghiệm tháng 5/2007 Tiếp tục đánh giá năm 2008 và 2009

Tại Phù Ninh – Phù Ninh – Phú Thọ: Trồng 20 dòng (10 dòng bạch đàn và

20 dòng keo), mỗi dòng 3 cây Trồng tháng 6/2008 Tiếp tục theo dõi đánh

Số liệu thu thập từ các điểm bảo tồn bao gồm tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng

của cây theo các nghiên cứu trước đây của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy

Cây trồng và chăm sóc để bảo tồn theo quy trình trồng rừng thâm canh hiện

hành

Số liệu thu thập được đưa vào máy tính, lưu giữ và phân tích trên phần mềm

SPSS version 16.0

2.1.2.3 Đánh giá các chỉ tiêu thành phần hóa học gỗ

Phương pháp chuẩn bị mẫu theo tiêu chuẩn TAPPI T 257 cm – 85

Cây lấy mẫu được cắt bỏ đoạn ngọn có đường kính nhỏ hơn 5 cm Phần còn lại được lấy 3 mẫu cách đều nhau (một mẫu ở phần giữa, một mẫu ở phần gốc và một mẫu ở phần ngon) Mỗi mẫu có chiều dài 1 m và được bóc sạch vỏ Mẫu gỗ

Trang 17

được lấy để phân tích thành phần hoá học được lấy từ 3 đoạn trên, mỗi đoạn được lấy 3 khoanh (một khoanh ở giữa, hai khoanh ở hai đầu) Mỗi khoanh dầy 2.5 cm Các khoanh này được chẻ thành 8 phần, lấy 2 phần đối diện nhau để tiếp tục chẻ nhỏ Các mẫu gỗ đã chẻ nhỏ được nghiền thành bột và rây qua sàng có lỗ 0.4 mm Bột dưới sàng dùng để phân tích thành phần hoá học

- Hàm lượng xenluylô: phương pháp Kiursher – Hofft

- Hàm lượng lignin: phương pháp TAPPI T222 om – 98

- Hàm lượng pentozan: phương pháp TAPP1 19 wd – 71 (phương pháp thể tích)

- Hàm lượng các chất tan trong axeton: phương pháp TAPPT 280 pm – 99

- Hàm lượng tro: phương pháp TAPPI T211 om – 93

- Kích thước xơ sợi: theo phương pháp truyền thống

2.2 Kết quả và thảo luận

2.2.1 Thu thập và tuyển chọn nguồn gen

Nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cây nguyên liệu giấy mang tính chất kế thừa những kết quả đạt được kể từ khi Nhiệm vụ bắt đầu từ năm 2000, chính vì vậy Nhiệm vụ liệt kê lại những nguồn gen thu thập được đang bảo tồn và những nguồn gen đã bị mất, đồng thời trình bày các kết quả đạt được cho đến năm 2009 và kết quả thực hiện trong năm 2010

2.2.1.1 Kết quả bảo tồn và lưu giữ đến năm 2009

Công việc bảo tồn các nguồn gen cây nguyên liệu giấy (bạch đàn và keo)

được tiến hành dưới các phương thức Field gene bank và in vitro

Cho đến năm 2009 đã thu thập được 132 giống Riêng năm 2009 là 20 giống bao gồm 10 dòng bạch đàn và 10 dòng keo tai tượng ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Tuyên Quang Các dòng này được chọn lọc theo tiêu chuẩn chọn cây trội của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy, sau đó được dẫn dòng mang về trồng (bảo tồn

Field gene bank) tại khu bảo tồn của Viện Trong tổng số 20 dòng, cho 07 dòng

bạch đàn PN1; PN2b; PN3; PN4; H6; QY9 và QY10 đã được thử nghiệm bảo tồn

theo phương pháp in vitro Các dòng bạch đàn và keo do khả năng bảo tồn in vitro

là rất thấp nên nhiệm vụ không đưa vào bảo tồn theo hình thức này (Phụ lục Lý lịch giống) Các dòng bạch đàn và keo thu thập được năm 2009 đã được xây dựng lý

Trang 18

lịch giốngvà đánh giá sinh trưởng Ngoài ra nhiệm vụ vẫn tiếp tục duy trì bảo tồn các nguồn gen thu thập được trong các năm trước

(1) Bảo tồn ex situ bằng hình thức trồng cây

Bảng 01 Các nguồn gen keo và bạch đàn nhiệm vụ chọn và đem trồng đến năm 2009

g

Tên giống Bạch

đàn

50 PN2, PN14,

PN32, PN8, PN7, U6, W4, W5, PN41, Gu8, UG1407, UG411, UG414, PN16c, U16, CTIV, CT3, CT4, EC1, ECII, PN10, PN46, PN47, PN3d, VX1, TC1, TC2, NG3, VX2, UE34, CU91, UE89, UE24, UE85,UE35, UC80, UU8, Eu8, Eu12, 46B, GR3, E1, E13, E21, E22, E23, PN21, PN24, PN108,

BTT03 BNM13 BNM12 BNM12b BNM11 BNM8 BNM9 BNM7 BĐB, BĐB2

PN2b PN3 PN4 H5 H6 QY7 QY8 QY9 QY10

10 TK1

TK2 TD1 TD2 TD3 TD4 TD5 TD6 TD7 TD8

81

Keo 5 KL2, KL20,

KLTA3, KL3, BV10,

KNM7, KNM8, XXRG1, XXRG2, XXRG3, XXRG4, XXRG5, XXRG6, XXRG7, XXRG8, XXRG9, XXRG10, H3, H5, XX

16679, XX20132, XX20135, XX20865

VT2 VT3 VT4 VT5 UY6 UY7 VT8 VT9 VT10

10 AH.07.01

AH.07.02 AH.07.03 AH.07.04 AH.07.05 AH.07.06 AH.07.07 AH.07.08 AH.07.09 AH.07.10

44

Trang 19

Bảng 01 cho thấy, những năm trước đây (2002 - 2006) nhiệm vụ chỉ tập trung thu thập và bảo tồn nguồn gen cây bạch đàn, có rất ít nguồn gen keo được thu thập ngoại trừ 5 dòng keo lai Cho đến năm 2007 thì cây keo tai tượng đã được quan tâm nhiều hơn và đã có 19 giống được đem bảo tồn và đến năm 2008 và 2009 thì các giống keo và bạch đàn được đưa vào bảo tồn là như nhau (20 giống mỗi loài)

(2) Bảo tồn in vitro

Bảng 2 Danh sách nguồn gen bạch đàn bảo tồn in vitro đến năm 2009

(những ô tô đậm chỉ các nguồn gen trùng với bảo tồn Field gene bank)

Từ bảng 02 thấy rằng, trong số 33 giống bảo tồn trong ống nghiệm có 21 giống cũng được trồng thành rừng bảo tồn Kết quả sinh trưởng của 12 giống trên

Trang 20

được trình bày trong các phần dưới, tuy nhiên có thể thấy rằng do được bảo tồn cả

in vitro và bảo tồn bằng rừng trồng nên 21 giống trên là được lưu giữ an toàn Các

giống còn lại nên được nhân ra và đem thành rừng để bảo tồn

2.2.1.2 Kết quả bảo tồn và lưu giữ đến năm 2010

(1) Kết quả kiểm tra thực trạng nguồn gen còn lại đến tháng 11 năm 2010 Bảo tồn Field gene bank

Bảng 03 cho thấy thực trạng nguồn gen bạch đàn chỉ còn lại 69 giống, đã bị

thất thoát 13 giống trong các năm trước trong bảo tồn Field gene bank Đây là do các giống trồng bảo tồn Field gene bank đã bị chết và không có cây con để trồng dặm Các giống keo vẫn giữ nguyên số lượng trong bảo tồn Field gene bank Tuy

nhiên với số lượng các giống trên là con số tương đối lớn, và các giống này nên được chọn lọc và khai thác phục vụ công tác giống và trồng rừng sản xuất

Bảng 03 Nguồn gen còn lại đến tháng 8 năm 2010 bảo tồn Field gene bank

Bạch đàn PN3d, PN32, PN14, PN41, PN46, PN2, PN7, PN18, PN16c,

PN10, PN47, PN108, PN21, PN24, PN1, PN2b, PN3, PN4, U6, ECI, ECII, CTIV, CT4, CT3, DI, DII, UG11, UG07, VXI, VXII, EDI, EDII, UG1407, UG1014, UG1011, Eu16, Eu8, TCI, TCII, NG3, W4, Gu8, Eu12, 46B, GR3, E1, E13, E21, E22, E23, VX5, H5, H6, QY7, QY8, QY9, QY10, BNM13, BNM8, TK1, TK2, TD1, TD2, TD3, TD4, TD5, TD6, TD7, TD8

69

Keo KL2, KL20, KLTA3, KL3, BV10; KBC1, KNM7, KNM8,

XXRG1, XXRG2, XXRG3, XXRG4, XXRG5, XXRG6, XXRG7, XXRG8, XXRG9, XXRG10, H3, H5, XX 16679, XX20132, XX20135, XX20865; VT1; VT2; VT3; VT4;

VT5; UY6; UY7; VU8; VU9; VU10, AH.07.01, AH.07.02, AH.07.03, AH.07.04, AH.07.05, AH.07.06, AH.07.07, AH.07.08, AH.07.09, AH.07.10

44

Bảo tồn in vitro

Kết quả bảo tồn in vitro trong năm 2010 được trình bày ở bảng 04

Kết quả chỉ ra trong năm 2010 nhiệm vụ vẫn tiếp tục duy trì bảo tồn cho 31

dòng trong điều kiện in vitro, số lượng bình giống gốc tương đương so với năm

2009 Đây là sự cố gắng hết sức của tập thể cán bộ thực hiện nhiệm vụ bảo tồn in vitro Do trong năm 2010, hiện tượng mất điện xảy ra thường xuyên nên chu kỳ cấy

chuyển bảo tồn bị rút ngắn lại Có 2 dòng không còn lưu giữ được trong điều kiện

in vitro là dòng 46B và dòng H6 Năm 2010, Viện đã đưa vào bảo tồn in vitro 01

Trang 21

dòng keo tai tượng AH.07.01 Các bình giống gốc của 32 dòng nói trên sẽ là nguồn vật liệu quan trọng phục vụ cho công tác nghiên cứu phát triển giống cây nguyên liệu giấy của Viện

Bảng 04 Kết quả bảo tồn in vitro đến tháng 11 năm 2010

(2) Kết quả tuyển chọn nguồn gen mới năm 2010

Đầu năm 2010 nhiệm vụ bảo tồn gen đã thu thập được 13 dòng bạch đàn và

04 dòng keo lai từ Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 04 dòng keo tai tượng ở khu vực Đền Hùng - Phú Thọ Các dòng bạch đàn và keo lai này được công nhận giống, được Viện tuyển chọn và đưa vào chương trình bảo tồn Các dòng keo tai tượng được chọn lọc theo tiêu chuẩn chọn cây trội của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy, sau đó được dẫn dòng mang về trồng Hiện nay, 21 dòng này đã được

Trang 22

trồng tại khu bảo tồn trong Viện Bảng 05 dưới đây trình bày tên các dòng chọn lọc được trong năm 2010 (cụ thể xem phụ lục Lý lịch giống năm 2010) Và đặc biệt trong đó có 2 dòng CU91 và UE24 là các dòng bạch đàn lai đã bị mất trong quá trình bảo tồn trước đây nay tiếp tục được Viện tuyển chọn đưa vào trồng bảo tồn

Trong năm 2010, nhiệm vụ còn tiến hành dẫn dòng được cho 6 dòng bạch đàn TD1, TD2, TD3, TD4, TD6, TD7 Đây là các dòng có triển vọng đã được tuyển chọn và cây trội ở Tam Dương - Vĩnh Phúc năm 2009

Bảng 05 Nguồn gen chọn lọc năm 2010

1 Bạch đàn EU35, Cự vĩ, U6 lá tròn, T2, CU90, UE27, UC2,

UE23, UC1, UC75, UE3, CU91, UE24

13

2.2.2 Đánh giá nguồn gen

2.2.2.1 Khả năng nhân giống in vitro

Trong nuôi cấy mô tế bào, tạo chồi là một bước khó bởi mẫu nuôi cấy đã tách rời hoàn toàn khỏi cơ thể mẹ Khả năng tạo chồi một mặt phụ thuộc vào bản thân mẫu nuôi cấy, mặt khác phụ thuộc rất nhiều vào môi trường nuôi cấy Để cho mẫu nuôi cấy có thể tiếp tục sống và phát triển, phân hoá các tế bào thành chồi non, hình thành rễ tạo cây con hoàn chỉnh thì ngoài các chất dinh dưỡng, khoáng, vitamin cần bổ sung các chất điều hoà sinh trưởng vào môi trường nuôi cấy Với

tổ hợp hormon thích hợp sẽ làm cho các hoạt động sinh lý bên trong của mô nuôi cấy phát triển theo chiều hướng gia tăng có lợi và dẫn đến kích thích các chồi ngủ tiềm ẩn ở các đỉnh sinh trưởng phát triển và phân hoá thành chồi mới

Bảng 06 Khả năng nhân giống in vitro của bạch đàn và keo

TT Loài cây Hệ số nhân chồi Tỷ lệ chồi hữu hiệu%

Nhân chồi và tạo ra được nhiều chồi hữu hiệu là giai đoạn quan trọng quyết

định đến sự thành công của quá trình nuôi cấy in vitro Số lượng chồi (hệ số nhân

chồi) càng nhiều thì khả năng nhân giống càng lớn và ngược lại Vì vậy chúng tôi tiến hành đánh giá khả năng nhân giống của các nguồn gen đưa vào lưu giữ với hai

Trang 23

chỉ tiêu quan trọng nhất là hệ số nhân chồi và tỷ lệ chồi hữu hiệu Bảng 06 dưới đây

trình bày khả năng nhân giống in vitro của 2 loài bạch đàn và keo

2.2.2.2 Nuôi cấy trở lại điều kiện bình thường sau thời gian lưu giữ đến năm

2010

Tiến hành cấy chuyển toàn bộ bình giống gốc sau thời gian lưu giữ vào môi

trường nuôi cấy và điều kiện nuôi cấy của dây truyền nuôi cấy mô tế bào Kết quả

cho thấy mẫu nuôi cấy sinh trưởng bình thường và không ảnh hưởng gì đến hình

thái, hệ số nhân chồi cũng như tỷ lệ ra rễ của mẫu nuôi cấy Điều này khẳng định

việc bảo tồn và lưu giữ theo phương pháp trên là rất an toàn và khoa học

2.2.2.3 Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển các nguồn gen tại các thí

nghiệm bảo tồn ngoài hiện trường

(1) Thí nghiệm bảo tồn nguồn gen 15 dòng vô tính bạch đàn tại Tiên Kiên ở thời

điểm 66 tháng tuổi

Tổng hợp các chỉ tiêu thống kê của 15 dòng

Các chỉ tiêu thống kê trung bình của 15 dòng ở thời điểm 66 tháng tuổi được

SD1.3 (cm)

Hvn (m)

Shvn (m)

V (m3) Sv

(m3)

Hdc (m)

Shdc (m)

Dt (m)

Sdt (m)

Bảng 07 và 08 cho thấy, sinh trưởng và tăng trưởng của các dòng khác nhau

là khác nhau Tỷ lệ sống của các dòng là rất cao, từ 90 đến 100% (ngoại trừ dòng

Trang 24

ECII, ECI, PN46 và PN3d có tỷ lệ sống thấp hơn) Dòng ECII có tỷ lệ sống thấp nhất đạt 50% và giảm mạnh so với năm 2009 là 86% là do có hiện tượng chết khô ngọn hàng hoạt Hiện tượng trên xảy ra với dòng ECII là rất đáng quan tâm và cần

có các biện pháp như bảo tồn in vitro giúp bảo tồn tốt hơn dòng ECII nói trên Tỷ lệ

sống cao ở các dòng còn lại cho thấy triển vọng bảo tồn ngoại vi là rất cao Kết quả

về sinh trưởng của 15 dòng này vẫn chỉ ra rằng 2 dòng CTIV, CT4 vẫn sinh trưởng tốt nhất ; các dòng CT3, PN32; PN14; PN16c; PN2 và U6 có sinh trưởng tương đương nhau và cao hơn các dòng PN41; PN8; PN7 và PN46, 2 dòng ECI và ECII là

Szhvn (m)

ZD1.3 (cm)

Szd1.3 (cm)

Trang 25

tương tự như thí nghiệm bảo tồn tại Tiên Kiên, 3 dòng này vẫn có sinh trưởng và tăng trưởng cao nhất Sinh trưởng trong nhóm thứ 2 là các dòng PN47, PN10, U6, VX1 và PN41 Tiếp theo là các dòng VX2, PN14, UG11, PN2, UG07, PN3d, PN46

có sinh trưởng và tăng trưởng tương tự nhau Các dòng DI, DII và PN32 có sinh trưởng thấp nhất (số liệu cụ thể xem bảng 09 và 10)

Bảng 09 Tổng hợp các chỉ tiêu thống kê của 18 dòng bạch đàn tại Gia Thanh ở 54 tháng

SD1.3 (cm)

Hvn (m)

Shvn (m)

V (m3) Sv (m3) Hdc

(m)

Shdc (m)

Dt (m)

Sdt (m)

- Đối với đường kính: Đường kính giữa các dòng có sự phân hóa mạnh.Các dòng CTIV và CT4 có đường kính trung bình lớn nhất Tiếp đến là các dòng CT3, U6, PN41, PN47, VX1, VX2 và PN10 Các dòng DI, DII, PN32, PN2, PN14, PN3d, UG07, UG11 và PN46 có đường kính trung bình nhỏ nhất Đường kính cây CT4 là lớn nhất và lớn gấp 4 lần đường kính cây DII

- Đối với chiều cao: Tương tự như đường kính, dẫn đầu về chiều cao là các dòng CTIV, CT4, CT3, PN41 và PN10 Thấp nhất là các dòng PN32, DI và DII Các dòng còn lại có chiều cao tương đương nhau

Trang 26

- Đối với chiều cao dưới cành: Có sự phân hóa rõ rệt Nhóm dẫn đầu là 2 dòng CTIV, CT4 và CT3 Các nhóm còn lại mặc dù có sự sai khác nhưng biến động không lớn

- Đối với đường kính tán: Có sự phân hóa những biến động là không lớn

- Cây DI có tỷ lệ sống rất thấp (40%), và hiện nay chỉ còn 2 cây có sinh trưởng kém Vì vậy, rất cần tăng cường các biện pháp nhân giống và bảo tồn loài cây này

Bảng 10 Tăng trưởng của 18 dòng bạch đàn tại Gia Thanh ở 54 tháng tuổi

TT Dòng Zv (m3) Szv

(m3)

Zhvn (m)

Szhvn (m)

ZD1.3 (cm)

Từ bảng 11 thấy rằng tỷ lệ sống của dòng KL3 là rất thấp (chỉ còn 1 trong tổng số 5 cây trồng bảo tồn) Dòng KL20 cũng có tỷ lệ thấp (40%) Hai dòng còn lại đạt tỷ lệ trung bình (60%) Tỷ lệ sống như trên là rất thấp Kết quả bảo tồn 4 dòng keo lai tại Phù Ninh (Phù Ninh, Phú Thọ) cũng cho thấy các dòng keo lai bị

Trang 27

chết hết Như vậy việc bảo tồn các dòng keo lai cần phải được quan tâm hơn về mặt

số lượng và chất lượng Sinh trưởng của 4 dòng tại Gia Thanh hơn 4 năm là tương

đối thấp cả về đường kính và chiều cao

Bảng 11 Tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng của 4 dòng keo lai tại Gia Thanh ở 54 tháng

(3) Thí nghiệm bảo tồn nguồn gen các dòng vô tính bạch đàn và keo tại Phù Ninh

ở thời điểm 30 tháng tuổi

Hvn (m)

Shvn (m)

V (m3) Sv (m3) Hdc

(m)

Shdc (m)

Dt (m)

Sdt (m)

Trang 28

24 PN21 90.0 8.1 1.0 11.5 0.8 0.030167 0.030167 6.2 1.3 1.3 0.3

25 PN24 70.0 7.6 1.1 11.6 0.5 0.026825 0.026825 6.1 1.3 1.1 0.3

26 PN108 100.0 8.7 1.0 11.6 0.6 0.034914 0.034914 5.2 1.2 1.3 0.2

Kết quả bảng 12 và bảng 13 cho thấy sinh trưởng chiều cao, đường kính gốc

của các dòng là rất khác nhau Tỷ lệ sống của các dòng có sự khác nhiệt, các dòng

NG3, 46B và PN108 đạt tỷ lệ sống cao nhất 100% Các dòng PN3d, PN10 có tỷ lệ

sống thấp dưới 40% Ở thời điểm 42 tháng tuổi, các dòng bạch đàn đều sinh trưởng

tương đối tốt, đường kính tán phát triển mạnh Năm dòng Eu16, PN7, PN3d, EU12

và GR3 có sinh trưởng tốt nhất Dòng W4 là sinh trưởng kém nhất và có sai khác rõ

ZD1.3 (cm)

Trang 29

Sự khác nhau về sinh trưởng của các dòng sẽ được bình luận sâu hơn trong

phần thảo luận, tuy nhiên kết quả trên thấy rằng có sự biến động lớn về sinh trưởng

của các dòng khác nhau trên các lập địa khác nhau Một số dòng sinh trưởng tốt

hoặc kém tại Tiên Kiên và Gia Thanh lại sinh trưởng tốt tại Phù Ninh và ngược lại

như dòng PN10 Chưa có nhiều cơ sở để giải thích sự biến động trên, nhưng có thể

thấy là vấn đề lựa chọn lập địa cho từng dòng/giống khác nhau là cần thiết, mặc dù

đây là vấn đề khó Nhiệm vụ bảo tồn gen một mặt góp phần bảo tồn các nguồn gen

thu thập được, mặt khác góp phần tìm hiểu vấn đề trên

(3.2) Các giống keo tai tượng

Bảng 14 dưới đây trình bày tóm tắt kết quả theo dõi 16 giống keo tai tượng

tại Phù Ninh ở thời điểm 42 tháng tuổi (có 04 dòng keo lai được trồng bảo tồn cùng

tuy nhiên do bị chết hết nên báo cáo này không bao gồm kết quả về các dòng keo

lai tại Phù Ninh)

Bảng 14 Tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng của 16 giống keo tai tượng tại Phù Ninh ở 42

tháng tuổi

TT Dòng Tỷ lệ sống % D1.3

(cm)

SD1.3 (cm)

Hvn (m)

Shvn (m)

V (m3) Sv

(m3)

Hdc (m)

Shdc (m)

Dt (m)

Sdt (m)

Qua bảng 14 thấy rằng tỷ lệ sống của các giống keo tai tượng trên ở mức

trung bình, dao động từ 45% đến 75% và giảm mạnh so với năm 2009 (hầu hết trên

Trang 30

90%) Tỷ lệ sống của các dòng keo lại bị giảm mạnh là do nguyên nhân khách quan

có xảy ra cháy rừng cạnh khu vực bảo tồn đã làm chết một số cây Chiều cao và đường kính gốc của 16 dòng trên là không có sai khác nhiều Đường kính tán của các dòng biến động từ 2.0 đến 2.8 m Không có sự sai khác nhiều giữa các dòng keo tai tượng tại địa điểm trồng này, giống XX5 có sinh trưởng tốt nhất, sau đó đến

4 giống XX11, XX20135, XX8 và XX13; 3 giống XX9, XX20132 và XX16679 có sinh trưởng kém nhất, các giống còn lại có sinh trưởng tương đương nhau

Bảng 15 Tăng trưởng của 16 dòng keo tai tượng tại Phù Ninh ở 42 tháng tuổi

TT Dòng Zv (m3) Szv (m3) Zhvn

(m)

Szhvn (m)

ZD1.3 (cm)

Hdc (m)

Dt (m)

Trang 31

8 QY8 100 4.7 6.1 4.4 2.3 Thu chồi

Trong 10 dòng bạch đàn này, mỗi dòng được trồng 3 cây và có 1 cây dùng

để lấy chồi đưa vào bảo tồn in vitro Nhìn chung các dòng khác nhau có sinh

trưởng đường kính và chiều cao khác nhau, dòng sinh trưởng tốt nhất có đường kính là 6.3 cm và chiều cao là 8.3 m (QY10), dòng PN3 cũng có sinh trưởng tốt với D1.3 là 5.4cm và chiều cao là 8.4m Mặc dù rừng mới được 28 tháng tuổi và chỉ được trồng với số lượng là 3 cây mỗi dòng nhưng sinh trưởng nhanh như vậy là kết quả khả quan vì các dòng này được trồng xen với thí nghiệm dẫn dòng của Viện (4.2) Các dòng keo tai tượng

Bảng 15 Sinh trưởng của 10 dòng keo tai tượng ở Phù Ninh tại 28 tháng tuổi

TT Dòng Tỷ lệ sống (%) D1.3

(cm)

Hvn (m)

Hdc (m)

Dt (m)

sống nên rất cần quan tâm tăng cường các biện pháp bảo tồn như bảo tồn in vitro

giúp lưu giữ giống an toàn hơn

2.2.2.4 Kết quả phân tích thành phần hóa học gỗ

Công việc phân tích thành phần hóa học gỗ được thực hiện từ năm 2007, trong năm 2007 đã phân tích được 6 dòng bạch đàn, năm 2008 được 4 dòng bạch đàn và năm 2009 được 3 dòng bạch đàn, năm 2009 là 3 dòng bạch đàn Bảng 16

Ngày đăng: 16/04/2014, 11:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 01. Các nguồn gen keo và bạch đàn nhiệm vụ chọn và đem trồng đến năm 2009. - Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Bảng 01. Các nguồn gen keo và bạch đàn nhiệm vụ chọn và đem trồng đến năm 2009 (Trang 18)
Bảng  01  cho  thấy,  những  năm  trước  đây  (2002  -  2006)  nhiệm  vụ  chỉ  tập  trung thu thập và bảo tồn nguồn gen cây bạch đàn, có rất ít nguồn gen keo đƣợc thu  thập  ngoại  trừ  5  dòng  keo  lai - Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
ng 01 cho thấy, những năm trước đây (2002 - 2006) nhiệm vụ chỉ tập trung thu thập và bảo tồn nguồn gen cây bạch đàn, có rất ít nguồn gen keo đƣợc thu thập ngoại trừ 5 dòng keo lai (Trang 19)
Bảng 04. Kết quả bảo tồn in vitro đến tháng 11 năm 2010. - Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Bảng 04. Kết quả bảo tồn in vitro đến tháng 11 năm 2010 (Trang 21)
Bảng 05. Nguồn gen chọn lọc năm 2010. - Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Bảng 05. Nguồn gen chọn lọc năm 2010 (Trang 22)
Bảng 07. Tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng của 15 dòng bạch đàn ở 66 tháng tuổi. - Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Bảng 07. Tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng của 15 dòng bạch đàn ở 66 tháng tuổi (Trang 23)
Bảng 08. Tổng hợp các chỉ tiêu về tăng trưởng của 15 dòng bạch đàn ở 66 tháng tuổi. - Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Bảng 08. Tổng hợp các chỉ tiêu về tăng trưởng của 15 dòng bạch đàn ở 66 tháng tuổi (Trang 24)
Bảng 09. Tổng hợp các chỉ tiêu thống kê của 18 dòng bạch đàn tại Gia Thanh ở 54 tháng - Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Bảng 09. Tổng hợp các chỉ tiêu thống kê của 18 dòng bạch đàn tại Gia Thanh ở 54 tháng (Trang 25)
Bảng 12. Tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng của 26 dòng bạch đàn tại Phù Ninh ở 42 tháng - Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Bảng 12. Tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng của 26 dòng bạch đàn tại Phù Ninh ở 42 tháng (Trang 27)
Bảng 11. Tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng của 4 dòng keo lai tại Gia Thanh ở 54 tháng - Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Bảng 11. Tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng của 4 dòng keo lai tại Gia Thanh ở 54 tháng (Trang 27)
Bảng 14 dưới đây trình bày tóm tắt kết quả theo dõi 16 giống keo tai tượng - Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Bảng 14 dưới đây trình bày tóm tắt kết quả theo dõi 16 giống keo tai tượng (Trang 29)
Bảng 14. Sinh trưởng của 10 dòng bạch đàn ở Phù Ninh tại 28 tháng tuổi. - Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Bảng 14. Sinh trưởng của 10 dòng bạch đàn ở Phù Ninh tại 28 tháng tuổi (Trang 30)
Bảng 15. Sinh trưởng của 10 dòng keo tai tượng ở Phù Ninh tại 28 tháng tuổi. - Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Bảng 15. Sinh trưởng của 10 dòng keo tai tượng ở Phù Ninh tại 28 tháng tuổi (Trang 31)
Bảng 16. Kết quả phân tích thành phần hóa học gỗ 13 dòng bạch đàn. - Bảo tồn và lưu trữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Bảng 16. Kết quả phân tích thành phần hóa học gỗ 13 dòng bạch đàn (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm