Đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo Việt Nam, thực trạng và giải pháp
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hệ thống giáo dục của nước ta đang trong giai đoạn phát triển về chất và lượng,quy mô đào tạo tăng nhanh Trong năm 2000 cả nước đã hoàn thành xóa mù chữ, phổcập giáo dục tiểu học và đang phấn đấu thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung học
cơ sở vào năm 2010, từng bước đáp ứng nhu cầu học tập và đào tạo của xã hội
Mặc dù thế bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì chúng ta còn phải đối mặtvới những vấn đề xã hội: khắc phục sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, cácmiền; giảm dần khoảng cách giàu nghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp…
Chính vì thế chất lượng giáo dục đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực luôn là đềtài thu hút được nhiều sự quan tâm của xã hội Việt Nam dần hội nhập vào kinh tế toàncầu, nên nhu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng cao là rất cấp thiết
Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo Việt Nam, thực trạng và giải pháp” Nhằm mục tiêu nghiên cứu về thực
trạng, hiệu quả đầu tư phát triển ngành giáo dục Việt Nam Từ đó có thể đưa ra nhữnggiải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư đồng thời có những biện pháp huyđộng vốn tích cực cho ngành giáo dục và đào tạo
Trang 2Chương 1: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO VIỆT NAM
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO VIỆT NAM
Hệ thống giáo dục của nước ta đang trong giai đoạn phát triển về chất và lượng,quy mô đào tạo tăng nhanh, từng bước đáp ứng nhu cầu học tập và đào tạo của xã hội.Tuy nhiên, hệ thống giáo dục hiện nay vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội, chưa thực sự gắn với nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực có trình độ cao của cácngành, địa phương và cả nước Chính vì vậy, vấn đề đảm bảo và nâng cao chất lượnggiáo dục đang được các cấp, các ngành và xã hội đặc biệt quan tâm Mâu thuẫn giữanguồn lực và chất lượng là căn bệnh được chỉ ra của hệ thống này, nhưng tìm raphương thuốc đặc trị cho nó lại không dễ Dưới đây là một số thành tựu và một số hạnchế về giáo dục – đào tạo Việt Nam
1.1.1 Những thành tựu đạt được:
1.1.1.1 Về quy mô:
Cho đến nay, hệ thống giáo dục mới ở Việt Nam từ mầm non đến đại học về cơbản được xác lập, mạng lưới trường học phát triển rộng khắp từ nông thôn đến thànhthị, từ miền ngược đến miền xuôi; đã xây dựng được hệ thống các trường dân tộc nộitrú với điều kiện tương đối tốt để đào tạo con em các dân tọc ít người Hệ thống cáctrường ngoài công lập được hình thành đã góp phần đáp ứng nhu cầu học tập ngàycàng cao của nhân dân
Số học sinh và sinh viên cúng tăng đáng kể trong giai đoạn 2003 - 2008, ta cóbảng sau:
Bảng 1: Số học sinh và sinh viên trong giai đoạn 2003 - 2008:
Trang 3Số lượng học sinh và sinh viên ngày càng tăng nhanh Đặc biệt là số lượng sinhviên trong các trường ĐH và CĐ đã tăng đáng kể, từ 1131 nghìn sinh viên trong nămhọc 2003 – 2004 đã tăng lên đến 1928,4 nghìn sinh viên vào năm học 2007 – 2008.Điều này chứng tỏ người dân ngày càng quan tâm đến việc học tập và nâng cao trình
độ học vấn cho bản thân
Trải qua nhiều thăng trầm với nhiều khó khăn, mạng lưới giáo dục - đào tạo đượcduy trì và tiếp tục phát triển trên toàn quốc Số trường học tăng rất nhanh ở các bậchọc, cụ thể là: ở giáo dục mầm non số trường học tăng từ 9975 vào năm 2003 lên đến11.696 trường vào năm 2008; giáo dục phổ thông thì số trường học tăng từ 26.352trường vào năm 2003 lên đến 27.898 vào năm 2008 Hiện nay cả nước đã có khoảng
345 trường ĐH và CĐ, trong đó có 288 trường công lập và 57 trường ngoài công lập
Sự phát triển về quy mô đào tạo ở các trường học trong những năm qua đã góp phầnđáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và cung ứng nhân lực cho nền kinh tế, góp phầnnâng cao tỷ lệ lao động được qua đào tạo xấp xỉ 30% vào năm 2007
Việc mở rộng quy mô, đa dạng hóa loại hình nhà trường (bán công, dân lập, tưthục) và phát triển các hình thức giáo dục không chính quy đã tạo thêm cơ hội học tậpcho nhân dân, trước hết là thanh thiếu niên, góp phần thúc đẩy sự phát triển hệ thốnggiáo dục quốc dân và bước đầu hình thành xã hội học tập
Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa phát triểnmạnh và có tiến bộ rõ rệt Mạng lưới trường, lớp về cơ bản đã bảo đảm cho con em cácdân tộc được học tập ngay tại xã, thôn, bản Việc củng cố, phát triển các trường phổthông dân tộc nội trú và tăng chỉ tiêu cử tuyển đã tạo thêm điều kiện cho con em cácdân tộc thiểu số ở địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được đào tạo ở ĐH, CĐ,tạo nguồn cán bộ cho các vùng này Đã thí điểm và chuẩn bị ban hành chính sách họcnghề nội trú cho thanh niên, thiếu niên con em đồng bào dân tộc Tiếng nói và chữ viếtcủa 8 dân tộc thiểu số đã được đưa vào giảng dạy ở trường tiểu học; trong đó tiếngHoa và tiếng Khơmer được dạy cả ở trường THCS
Tuy nhiên thực tế phát triển quy mô của bậc học này lại không theo chủ quan củaquy hoạch đào tạo Hiện nay các cơ quan quản lý vẫn đang loay hoay tìm ra hướng
Trang 4khắc phục những bất hợp lý về quy mô học sinh, đó là việc phân bố ngành học, cácnhà trường không đồng đều, phần lớn các trường tập trung ở vùng Đồng bằng sôngHồng (31%) và miền Đông nam bộ (24%), là những vùng kinh tế - xã hội phát triển.Trong khi đó các vùng như Tây Bắc chỉ chiếm (3%), Tây Nguyên (4%), Nam Trung
bộ (5%) - đây đều là những vùng mà giáo dục rất cần được phát triển vì những kỹnăng nghề nghiệp được đào tạo một cách căn bản là nhân tố tích cực để xoá đói, giảmnghèo ở những vùng đất này
Chính phủ đã có nhiều chính sách và biện pháp tăng đầu tư cho các vùng khókhăn như chương trình 135, chương trình kiên cố hóa trường, lớp học v.v Nhờ vậy, cơ
sở vật chất của giáo dục ở vùng khó khăn tiếp tục được củng cố, tăng cường Việcmiễn, giảm học phí, cấp học bổng và các chính sách hỗ trợ khác đã tạo điều kiện chođại bộ phận con em các gia đình nghèo, diện chính sách được học tập, trước hết ở cáccấp học phổ cập
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở các cấp, bậc học, ở mọi vùng miền đã đượccải thiện đáng kể trong 5-6 năm qua, nhất là từ khi thực hiện chủ trương đổi mớichương trình giáo dục phổ thông và kiên cố hoá trường, lớp học Một số địa phương,một số trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đã nỗ lực đểtừng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
1.1.1.2 Về chất lượng:
Chất lượng giáo dục nước ta trong những năm đổi mới đang từng bước được cảithiện Số lượng các trường được phổ cập giáo dục ngày càng tăng và chất lượng cũngđược tốt hơn Lực lượng lao động được đào tạo đã và đang góp phần quan trọng vào
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tất cả học sinh, sinh viên được giáo dụctoàn diện từng mặt về trí, đức, thể, mỹ, kỹ năng nghề nghiệp Phần lớn, trong các cuộcthi trí tuệ của khu vực cũng như trên toàng thế giới, học sinh Việt Nam luôn đạt cácgiải cao mang vinh quang vê cho tổ quốc
Nội dung giảng dạy và kiến thức của học sinh phổ thông có tiến bộ, toàn diệnhơn và tiếp cận dần với phương pháp học tập mới Trong giáo dục nghề nghiệp, chấtlượng đào tạo của một số ngành nghề như y dược, nông nghiệp, cơ khí, xây dựng, giao
Trang 5thông vận tải, v.v về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu của thực tế sản xuất và đời sống hiệnnay Đặc biệt, sự tiến bộ về nhận thức chính trị và trách nhiệm xã hội của học sinh,sinh viên cùng với đội ngũ giáo viên, giảng viên đã góp phần vào việc bảo đảm ổnđịnh chính trị của đất nước trong điều kiện có nhiều biến động của tình hình quốc tế và
âm mưu, hành động của các thế lực thù địch đối với nước ta thời gian vừa qua
1.1.1.3 Nguyên nhân đạt được những thành tựu đó:
- Truyền thống hiếu học của dân tộc đã tiếp tục được phát huy mạnh mẽ, thể hiệntrong từng gia đình, từng dòng họ, từng cộng đồng dân cư Nhân dân đã không tiếccông sức, tiền của đầu tư và khuyến khích động viên con em vượt khó khăn, chăm chỉhọc tập; hỗ trợ và tạo điều kiện cho các nhà trường thực hiện dạy tốt, học tốt
- Sự lãnh đạo của Đảng, của Quốc hội, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ vàchính quyền các cấp; sự quan tâm, tham gia đóng góp của các tổ chức, đoàn thể vàtoàn xã hội đối với giáo dục Trong khoảng 10 năm, BCH Trung ương đã dành 3 hộinghị chuyên đề bàn về giáo dục Quốc hội đã thông qua Luật Giáo dục và quyết địnhnhiều chủ trương lớn về phát triển giáo dục Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đãban hành các chính sách và trực tiếp chỉ đạo ngành giáo dục triển khai thực hiện cácchủ trương của Đảng và Quốc hội Các địa phương đã quan tâm chỉ đạo và đầu tư đểtăng cường cơ sở vật chất và giải quyết chế độ cho giáo viên Toàn xã hội không chỉđóng góp tiền của, công sức, mà cả về trí tuệ cho việc xây dựng và phát triển giáo dục,tham gia trực tiếp vào các hoạt động giáo dục
- Lòng yêu nước, yêu người, yêu nghề và những nỗ lực của đội ngũ nhà giáo Độingũ này không chỉ truyền đạt các kiến thức chuyên môn, mà còn thực hiện nhiệm vụgiáo dục đạo đức, lý tưởng cho học sinh, sinh viên; giải thích các chủ trương, đườnglối của Đảng và Nhà nước trong nhân dân, trong xã hội Những giáo viên công tác ởcác vùng núi, vùng sâu, vùng xa đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đóng góp to lớnvào sự nghiệp trồng người
1.1.2 Những tồn tại:
1.1.2.1 Về quy mô:
Cơ sở vật chất, dụng cụ dùng cho giảng dạy chưa đáp ứng nhu cầu học tập và
Trang 6giảng dạy ngày càng cao của giáo viên và học sinh, sinh viên trong cả nước Quy môgiáo dục đại học, cao học và trung học chuyên nghiệp còn quá ít, chưa đáp ứng nhucầu học tập ngày càng cao của xã hội Giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi,vùng khó khăn đang có dấu hiệu giảm sút cả về quy mô và chất lượng.
1.1.2.2 Về chất lượng:
Theo đánh giá của các chuyên gia thì chất lượng giáo dục nnước ta vẫn còn yếukém và bất cập Lối học vẫn còn nặng về truyền đạt kiến thức để đối phó với các kỳthi, chưa chú trọng đến việc xây dựng tư duy sáng tạo Trình độ ngoại ngữ, tin học vẫncòn rất yếu, kỹ năng nghề nghiệp vẫn còn hạn chê nhiều Và điều đặc biệt là chưa chútrọng đến việc giáo dục nhân cách đạo đức, lối sống, động cơ học tập cho học sinh vàsinh viên
Chất lượng giáo viên chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành giáo dục – đàotạo trong thời kỳ mới Bên cạnh đó, đời sống giáo viên còn gặp rất nhiều khó khăn,truyền thống tôn sư trọng đạo tốt đẹp ngàn đời nay của dân tộc bị suy giảm Thêm vào
đó là hệ thống các trường sư phạm còn yếu, chất lượng thấp, không thu hút đượcngười tài Đội ngũ giáo viên trong các trường dạy học tăng mạnh về quy mô và chấtlượng trong giai đoạn 2003 – 2008, từ 755,4 nghìn người vào năm 2003 lên đến 800,6vào năm 2008 Mặc dù số lượng giáo viên dạy học tăng nhanh như vậy nhưng vẫnthiếu và yếu so với yêu cầu Những hạn chế về chất lượng của giáo viên vẫn là nănglực chuyên môn, năng lực thực hành còn yếu, kiến thức và kỹ năng sư phạm còn bộc
lộ nhiều hạn chế mặc dù phần đông đã được đào tạo qua các trường ĐH và CĐ Nhiềugiáo viên chưa tiếp cận được phương pháp giảng dạy hiệu quả Kỹ năng chuẩn bị bàigiảng, giảng bài, kiểm tra đánh giá, kỹ năng quản lý lớp học, tâm lý học người lớn,phương pháp nghiên cứu, tổ chức quản lý xưởng thực hành thực tập, sử dụng phươngtiện dạy học, khả năng ngoại ngữ và tin học
Tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan tồn tại từ nhiều năm nay, có những biểuhiện tiêu cực nhưng chưa tìm được giải pháp cơ bản để ngăn chặn có hiệu quả
Tệ nạn sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp; hiện tượng “học giả, bằngthật”, không trung thực trong học tập và thi cử, sao chép luận văn, luận án có xu
Trang 7hướng lan rộng, ảnh hưởng xấu đến chất lượng đào tạo, đến đạo đức của thế hệ trẻ vàlòng tin của xã hội Bệnh thành tích đã tác động đến quá trình giảng dạy, học tập, đánhgiá học sinh, cũng như công tác quản lý giáo dục, và đây là một trong những nguyênnhân làm cho việc đánh giá tình hình giáo dục, nhất là về chất lượng, chưa phản ánhhết thực chất.
Bên cạnh đó ngành giáo dục còn có những hạn chế sau:
+ Cơ cấu giáo dục bất hợp lý
+ Quảm lý giáo dục chậm chuyển biến, phân công, phân cấp trách nhiệm, quyềnhạn giữa các ngành các cấp chưa hợp lý
+ Sử dụng và quản lý các nguồn đầu tư cho giáo dục kém hiệu quả, chưa thực sựtập trung vào những hướng ưu tiên
+ Cán bộ quản lý các cấp thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, ít được đào tạo,bồi dưỡng
1.1.2.3 Nguyên nhân:
(*) Tư duy giáo dục chậm được đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu phát triển của đất nước cũng như đòi hỏi của sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế.
- Các bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương chưa quán triệt sâu sắc các quanđiểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục, chưa cụ thể hóa kịp thời vàđầy đủ trong việc hoạch định một số chính sách và tổ chức thực hiện các hoạt độnggiáo dục
- Chưa nhận thức đầy đủ để có giải pháp đối với các vấn đề mới nảy sinh trongmối quan hệ giữa kế hoạch phát triển giáo dục và thị trường lao động; giữa mở rộngquy mô và nâng cao chất lượng, hiệu quả; giữa đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng caocủa nhân dân và khả năng hạn hẹp của nền kinh tế; giữa đầu tư của Nhà nước và đónggóp của nhân dân; giữa tình trạng phân hóa giàu nghèo và yêu cầu bảo đảm công bằng
xã hội trong giáo dục
- Chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của công tác dự báo và nghiên cứu khoa họcgiáo dục
Trang 8(*) Quản lý về giáo dục còn yếu kém và bất cập:
- Cơ chế quản lý giáo dục chưa tương thích với nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước Quản lý nhà nước
về giáo dục còn nặng tính quan liêu, chưa thoát khỏi tình trạng ôm đồm, sự vụ Côngtác xây dựng quy hoạch, kế hoạch còn nhiều bất cập
- Hệ thống luật pháp và các chính sách về giáo dục chưa hoàn chỉnh, thiếu hiệulực Còn thiếu các đạo luật cụ thể về điều kiện phát triển và bảo đảm chất lượng nhưLuật Giáo viên; về các bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân như Luật Giáo dục đạihọc, Luật Giáo dục nghề nghiệp v.v Một số quy định về đầu tư, quản lý nhân sự, đấtđai, tài chính v.v chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho việc thống nhất quản lý vàphát triển giáo dục Đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước còn dàn trải, không đủ bảođảm nhu cầu phát triển giáo dục, trong khi đó chưa có chính sách đủ mạnh để huyđộng các nguồn đầu tư khác trong xã hội Chính sách về học phí có nhiều điểm khôngcòn phù hợp, nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung, dẫn đến tình trạng địa phương vànhà trường đặt ra quá nhiều khoản thu, gây bức xúc trong xã hội Chính sách tuyểndụng, sử dụng cán bộ thiên về bằng cấp, chưa chú ý đúng mức đến năng lực thực tếdẫn đến tình trạng “học giả, bằng thật” và một số hiện tượng tiêu cực khác
- Công tác chỉ đạo, điều hành còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đưa ra nhữngquyết sách đồng bộ ở tầm vĩ mô Việc phân công, phân cấp và cơ chế phối hợp giữa
Bộ GD&ĐT, Bộ LĐ-TB&XH với các bộ, ngành, địa phương chậm được thể chế hoá.Các cấp chính quyền ở nhiều địa phương vẫn còn thiếu chủ động trong việc thực hiệncác chủ trương và giải quyết các vấn đề cụ thể về giáo dục; chưa quan tâm đầy đủ đếnviệc khắc phục bệnh thành tích và các tiêu cực trong giáo dục Quản lý của ngành giáodục và của địa phương đối với các cơ sở ngoài công lập còn lúng túng, một mặt chưatạo điều kiện thuận lợi để các trường này phát triển, mặt khác, chưa ngăn chặn kịp thờitình trạng lợi dụng chính sách xã hội hoá nhằm thu lợi bất chính Công tác kiểm tra,thanh tra giáo dục, đặc biệt là thanh tra chuyên môn còn bất cập, kém hiệu quả Trình
độ và năng lực của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục còn thấp, chưa theo kịp yêucầu đổi mới mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục
Trang 9(*) Hệ thống đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng được nhu cầu về quy mô cũng như chất lượng:
Có thể nhận thấy những nguyên nhân dẫn tới sự thiếu hụt, bất cập về đội ngũ giáoviên là do nhiều trường dạy học không có chỉ tiêu biên chế hoặc không tuyển được donhiều nguyên nhân do đồng lương trả còn thấp, điều kiện làm việc chưa hấp dẫn.Thêm nữa giáo viên các trường ngoài công lập thường có độ tuổi cao hơn (không ítgiáo viên đã ở tuổi nghỉ chế độ) và có nhiều giáo viên hợp đồng từ các trường dạy họcphổ thông hoặc từ các trường cao đẳng, đại học Độ tuổi trung bình của giáo viên vàokhoảng xấp xỉ 40 tuổi nên cũng hạn chế khả năng nâng cao trình độ của bản thân.Nhiều giáo viên với khả năng sử dụng ngoại ngữ và máy tính phục vụ công tác chuyênmôn còn yếu đã cản trở việc cập nhật tri thức mới về chuyên môn và phương phápgiảng dạy Cho dù về cơ bản hiện nay những giáo viên này tham gia tích cực đảm bảođược việc dạy và học trong hệ thống Tuy nhiên kết quả đạt được ở đây cũng chưatương xứng với mong muốn Những khiếm khuyết đã nêu đang ảnh hưởng lớn đếnchất lượng đào tạo trong các nhà trường
(*) Bên cạnh các nguyên nhân chủ yếu đã nêu ở trên cần kể đến những tác động khách quan làm tăng thêm các yếu kém, bất cập của giáo dục:
- Nhu cầu học tập của nhân dân ngày càng cao, trong khi khả năng đáp ứng củangành giáo dục và trình độ phát triển kinh tế của đất nước còn hạn chế Mức đầu tưcho giáo dục tính trung bình cho 1 người dân còn thấp so với yêu cầu bảo đảm chấtlượng và so với các nước: ở Trung Quốc là 105 USD, ở Thái Lan là 350 USD, ởMalaixia là 720 USD trong khi đó ở Việt Nam là 53 USD
- Sức đón nhận của thị trường lao động còn hạn chế, chưa thỏa mãn nhu cầuviệc làm của người lao động đã qua đào tạo
- Tâm lý khoa cử, bằng cấp vẫn chi phối nặng nề việc dạy, học và thi cử Thái
độ chưa coi trọng các trường ngoài công lập làm hạn chế việc đẩy mạnh xã hội hóagiáo dục
Trang 101.2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO VIỆT NAM.
1.2.1 Sự cần thiết phải đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo:
Ngành giáo dục – đào tạo muốn phát triển được và đáp ứng yêu cầu của thời kỳmới, nhất thiết phải được đầu tư cả về sức ngời lẫn sức của Có thể hiểu đầu tư chogiáo dục – đào tạo là hành động bỏ tiền ra để tiến hành hoạt động nhằm tạo tài sản mớicho nền kinh tế nói chung và cho ngành giáo dục – đào tạo nói riêng Giáo dục – đàotạo vừa gắn với yêu cầu phát triển chung của đâts nước, vừa phù hợp với xu thế pháttriển của thời đại Phát triển giáo dục chính là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài, đào tạo cong người có văn hoá, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, laođộng tự chủ, sáng tạo
Phát triển nguồn nhân lực bao gồm cả về số lượng và chất lượng dân số, nhưnghiện nay chất lượng giáo dục là trọng tâm của phát triển nguồn nhân lực nhất là đối vớicác nước đang phát triển, đông dân số và chất lượng nguồn nhân lực thấp như ViệtNam Thực tế cho thấy, lợi ích thu được từ việc đào tạo nguồn nhân lực mà cụ thể làthông qua giáo dục – đào tạo rất lớn Trình độ nguồn nhân lực trung bình ở một nướccao hơn cho phép tăng trưởng kinh tế tố hơn và điều chỉnh tốt hơn đối với các vấn đềdân số, kế hoạch hoá gia đình, môi trường và nhiều vấn đề khác
1.2.2 Xu hướng đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo:
1.2.2.1 Sự thay đổi về quan niệm giáo dục – đào tạo:
Nền văn hóa Á Đông là một nền văn hóa chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ tư tưởngphong kiến, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Thời phong kiến, Việt Namtiếp thu phương thức giáo dục của Trung Quốc Nền giáo dục đó đã tạo nên một tầnglớp quan lại phục vụ xã hội phong kiến Tuy nhiên nền giáo dục đó chỉ phù hợp vớichế độ phong kiến, lấy kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp làm cơ sở
Thực dân Pháp sang thống trị, đã cải biến nền kinh tế phong kiến thành nềnkinh tế thuộc địa nửa phong kiến Một số bộ phận sĩ phu đã truyền bá chữ quốc ngữ
Và sau khi nhà nước giành độc lập, chúng ta đã có một nền giáo dục dân chủ nhân dân.Những thành công và đóng góp của nền giáo dục trong phát triển kinh tế - xã hội là
Trang 11không thể phủ nhận được
Xác định được tính cấp thiết cần phải đổi mới quan niệm trong giáo dục – đàotạo, đại hội IX của Đảng đã xác định: “Mọi người được học, học thường xuyên, họcsuốt đời, cả nước trở thành một xã hội học tập” Xã hội học tập là mục tiêu của nềngiáo dục mới và xã hội hóa giáo dục là một phương tiện mạnh mẽ để thực hiện xã hộihóa học tập
Bên cạnh đó, có nhiều quan niệm mới coi giáo dục là một ngành dịch vụ với sảnphẩm tri thức, có cầu và có cung đã và đang hình thành trên phạm vi toàn thế giới.Ngành dich vụ giáo dục – đào tạo xét trên một phương diện nào đó, thì nó đang dầndần vận hành theo cơ chế thị trường và ở đây đầu tư vào giáo dục có vai trò quyết địnhsức cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ này
1.2.2.2 Xu hướng dầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo:
Xu hướng đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo ở Việt Nam đang đi dầnvào quỹ đạo chung của thế giới, bên cạnh đó dựa vào những điều kiện thực tiễn củaViệt Nam để có bước phát triển thích hợp
Xu hướng đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo ở Việt Nam đang đượctriển khai với các mục tiêu cụ thể sau:
- Nâng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở các trình độ vào năm 2010 đạt 40%, trong
đó từ cao đẳng trở lên 6%, trung học chuyên nghiệp 8%, công nhân kỹ thuật 26%.Thực hiện phổ cập trung học cơ sở trong cả nước:
+ Giáo dục mầm non: đến năm 2010 hầu hết trẻ em đều được chăm sóc, giáo dục bằngnhững hình thức thích hợp Tăng tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ từ 12% năm 2000 lên15% năm 2005 và 18% năm 2010 Đối với trẻ 3-5 tuổi tăng tỷ lệ đến trường, lớp mẫugiáo từ 50% năm 2000 lên 58% vào năm 2005 và 67% vào năm 2010; riêng trẻ em 5tuổi tăng tỷ lệ huy động đến mẫu giáo để chuẩn bị vào lớp 1 từ 81% năm 2000 lên85% vào năm 2005 và 95% vào năm 2010 Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ trongcác cơ sở giáo dục mầm non xuống dưới 20% vào năm 2005, dưới 15% vào năm 2010.+ Giáo dục phổ thông: thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí , thể, mỹ Cung cấphọc vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp; tiếp cận trình độ các
Trang 12nước phát triển trong khu vực Tăng tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường
từ 95% năm 2000 lên 97% năm 2005 và 99% năm 2010
+ Trung học cơ sở: Cung cấp cho học sinh học vấn phổ thông cơ sở và nhữnghiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để thực hiện phân luồng sau trung học
cơ sở , tạo điều kiện để học sinh tiếp tục học tập hoặc đi vào cuộc sống lao động Đạtchuẩn phổ cập trung học cơ sở ở các thành phố , đô thị, vùng kinh tế phát triển vàonăm 2005, trong cả nước 2010 Tăng tỷ lệ học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi từ74% năm 2000 lên 80% vào năm 2005 và 90% vào năm 2010
+ Trung học phổ thông: Tăng tỷ lệ học sinh trong độ tuổi vào trung học phổ thông từ38% năm 2000 lên 45% vào năm 2005 và 50% vào năm 2010
+ Giáo dục nghề nghiệp: nâng cao chất lượng dạy nghề gắn với nâng cao ý thức
kỷ luật lao động và tác phong lao động hiện đại Gắn đào tạo vói nhu cầu sử dụng, vớiviệc làm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động
+ Trung học chuyên nghiệp: thu hút học sinh trong độ tuổi vào các trường trunghọc chuyên nghiệp đạt 10% năm 2005, 15% năm 2010 Dạy nghề : thu hút học sinhsau trung học cơ sở vào học các trường dạy nghề từ 6% năm 2000 lên 10% năm 2005,15% năm 2010 Dạy nghề bậc cao: thu hút học sinh sau trung học phổ thông, trung họcchuyên nghiệp vào học các chương trình này đạt 5% năm 2005, 10% năm 2010 .+ Giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học: Nâng tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân từ
118 năm học 2000-2001 lên 200 vào năm 2010 Tăng quy mô đào tạo thạc sỹ từ11.727 học viên năm 2000 lên 38.000 , nghiên cứu sinh từ 3.870 năm 2000 lên 15.000vào năm 2010
+ Giáo dục không chính quy: củng cố và nâng cao kết quả xoá muv chữ cho người lớn,đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa Thực hiện có hiệu quả các chương trình sauxoá mù chữ, bổ túc trên tiểu học để góp phần thực hiện chủ trương phổ cập giáo dụctrung học cơ sở vào năm 2010
+ Giáo dục trẻ khuyết tật: Tạo cơ hội cho trẻ khuyết tật được học tập ở một trong cácloại hình lớp hoà nhập, bán hoà nhập hoặc chuyên biệt, đạt tỷ lệ 50% vào năm 2005 và70% vào năm 2010
Trang 13Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, xu hướng đầu tư phát triển giáo dụcđang dần dần theo chiều hướng tích cực, đó là: Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ chốttrong huy động nguồn lực đầu tư phát triển ngành giáo dục, đóng vai trò định hướngtrong hoạt động đầu tư Bên cạnh đó, xu hướng đầu tư đang dần dần được điều chỉnhtheo quy luật thị trường, xu hướng đầu tư vì lợi nhuận và phi lợi nhuận đang đồng thờitồn tại và phát triển.
1.2.3 Thực trạng đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo Việt Nam:
1.2.3.1 Tình hình phát triển ngành giáo dục – đào tạo Việt Nam:
(*) Giáo dục mầm non:
Bước đầu khôi phục và phát triển giáo dục mầm non sau một thời gian dài gặpkhó khăn ở nhiều địa phương Số xã “trắng” về cơ sở giáo dục mầm non giảm rõ rệt.Năm học 2003-2004 đã có gần 2,6 triệu trẻ em theo học ở hơn 10.000 cơ sở giáo dụcmầm non, số trẻ 5 tuổi học mẫu giáo chiếm 90% số trẻ trong độ tuổi Tuy vậy, tỷ lệ trẻ
ra lớp mẫu giáo ở các vùng khó khăn còn thấp, như ở đồng bằng sông Cửu Long mớiđạt 42,7%
Chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non có tiến
bộ, song còn thấp và chưa đồng đều giữa các vùng Một số nơi đã đưa việc dạy chữvào lớp mẫu giáo 5 tuổi là không phù hợp với khả năng tiếp thu của trẻ
Quyết định 161/2002/QĐ-TTCP của Thủ tướng Chính phủ đã tạo điều kiện thuậnlợi cho việc thực hiện chế độ, chính sách hỗ trợ giáo viên và đầu tư xây dựng cơ sở vậtchất đối với giáo dục mầm non ở các vùng khó khăn Trở ngại lớn nhất hiện nay là, độingũ giáo viên mầm non còn thiếu so với định mức, nhiều giáo viên chưa đạt chuẩn;phòng học và đồ dùng dạy học còn rất thiếu thốn
(*) Giáo dục phổ thông:
Trong 5 năm qua, số lượng học sinh ở bậc trung học tiếp tục tăng, ở bậc tiểuhọc giảm dần và đi vào ổn định Tổng số học sinh phổ thông năm học 2003-2004 là17,6 triệu Đáng chú ý là tốc độ tăng số lượng học sinh ở miền núi, vùng sâu, vùngđồng bào dân tộc thiểu số cao hơn các vùng khác, thể hiện những cố gắng khắc phụctình trạng chênh lệch về phát triển giáo dục giữa các vùng, miền
Trang 14Số lượng trường phổ thông tăng mạnh ở tất cả các cấp, bậc học và ở hầu hết cácvùng, miền, ở các vùng khó khăn đang triển khai tích cực việc xóa phòng học tranh tre
và kiên cố hóa trường, lớp Công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau THCSchuyển biến còn chậm
Khối lượng kiến thức cơ bản của học sinh phổ thông hiện nay lớn hơn và rộnghơn so với trước đây, nhất là về các môn khoa học tự nhiên, toán, tin học, ngoại ngữ.Chương trình ở một số môn học đã tiếp cận trình độ tiên tiến trong khu vực Học sinhViệt Nam đi du học đều được vào thẳng các cấp học tương đương, phần lớn lưu họcsinh đều học tốt Việc đào tạo học sinh giỏi có nhiều thành tích và được các nước đánhgiá cao; nhiều học sinh Việt Nam đạt giải cao trong các kỳ thi quốc tế
Tuy nhiên, kiến thức xã hội, kỹ năng thực hành và vận dụng kiến thức, tính linhhoạt, độc lập và sáng tạo của đa số học sinh còn yếu Có sự chênh lệch khá rõ về trình
độ học sinh giữa các vùng, miền Học sinh phổ thông, nhất là ở thành phố, phải họctập căng thẳng, ngay từ bậc tiểu học do phải chịu nhiều áp lực của các kỳ thi, đặc biệt
là kỳ thi tuyển sinh vào đại học (ĐH) Đa số học sinh có cố gắng chăm chỉ học tập vàrèn luyện, song vẫn còn một bộ phận, nhất là học sinh THPT, còn có thái độ thiếutrung thực trong học tập; một số rơi vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật
Số lượng giáo viên và tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn tăng đáng kể trong 5 năm qua.Tuy nhiên, đội ngũ giáo viên phổ thông hiện vẫn ở trong tình trạng “vừa thiếu, vừathừa”; thiếu giáo viên THPT, THCS ở các vùng khó khăn, thiếu giáo viên âm nhạc, mỹthuật, thể dục, công nghệ, tin học và thiếu cán bộ về thiết bị, hướng dẫn thực hành,phụ trách thư viện Ở một số tỉnh miền núi và miền Tây Nam Bộ còn một tỷ lệ khá caogiáo viên tiểu học lớn tuổi có trình độ thấp so với yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Đa số giáo viên chưa tích cực đổi mới phương pháp dạy học Một bộ phận giáo viêncòn thiếu gương mẫu, thậm chí sa sút về đạo đức nghề nghiệp
Cơ sở vật chất đã được tăng cường so với trước Trong vòng 3 năm qua đã cóthêm 40.000 phòng học, trong đó tỷ lệ phòng học cấp 4 và kiên cố đã tăng từ 84,3%lên 89,3% Sách cho thư viện và thiết bị dạy học trong trường phổ thông đã được bổsung đáng kể Tuy vậy, phần lớn các trường hiện nay chưa có phòng bảo quản thiết bị,
Trang 15phòng thực hành, phòng thí nghiệm, nhất là ở miền núi và nông thôn Việc thực hiệnhọc 2 buổi/ngày ở phổ thông, trước hết ở tiểu học còn chậm do thiếu phòng học, giáoviên và kinh phí trả lương cho giáo viên Việc xây dựng trường phổ thông đạt chuẩnquốc gia còn chậm và gặp nhiều khó khăn, thiếu phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm
và đặc biệt là thiếu diện tích đất
Thực hiện Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội, chương trình tiểu học vàTHCS đã chính thức được ban hành; SGK mới đã được triển khai đại trà ở 6 khối lớp:lớp 1, 2, 3 và lớp 6, 7, 8 trên toàn quốc đúng mục tiêu và tiến độ đã đề ra SGK mới đãtiếp cận trình độ các nước tiên tiến trong khu vực, được đa số giáo viên và học sinhchấp nhận, bước đầu góp phần thay đổi cách dạy, cách học, cách đánh giá trong nhàtrường
Tuy nhiên, có những phần trong một số cuốn SGK mới ở tiểu học và THCS cònnặng và khó, có chỗ còn sai sót Bên cạnh đó, cần rút kinh nghiệm về quy trình tổ chức
và cách huy động các nhà giáo, nhà khoa học tham gia vào các khâu biên soạn, thẩmđịnh chương trình, SGK Việc chuẩn bị điều kiện triển khai đại trà còn thiếu đồng bộgiữa đổi mới chương trình, SGK, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và đặc biệt là bồidưỡng giáo viên Ở THPT, việc thí điểm phân ban chỉ mới tiến hành được một năm,song còn có ý kiến đề nghị xem xét lại cách tổ chức phân ban để bảo đảm mục đích vàhiệu quả
Đến nay hầu hết các tỉnh đều có trường dạy nghề, bước đầu phát triển cáctrường dạy nghề thuộc một số ngành kinh tế mũi nhọn Mặc dù vậy, quy mô dạy nghềdài hạn và THCN còn thấp so với yêu cầu của thị trường lao động Cơ cấu ngành nghềđào tạo còn mất cân đối Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp phân bố chưa hợp lý,
Trang 16còn tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn và các vùng kinh tế trọng điểm.
Kiến thức, kỹ năng của học sinh ở một số trường được đầu tư, trang bị tốt nhưtrường cao đẳng công nghiệp 4 và một số trường thuộc ngành dầu khí, bưu chính viễnthông tương đương trình độ tiên tiến trong khu vực Tuy nhiên, nhìn chung chấtlượng đại trà của giáo dục nghề nghiệp còn thấp, đặc biệt là về kỹ năng thực hành vàtác phong công nghiệp Xã hội và các cấp, các ngành chưa thực sự coi trọng giáo dụcnghề nghiệp, nhiều học sinh chỉ coi trường dạy nghề, trường THCN là nơi trú chân đểchờ thi vào ĐH, cao đẳng (CĐ)
Một số chương trình, tài liệu dạy nghề đã được xây dựng theo phương pháp mớiphù hợp với quy trình và công nghệ sản xuất hiện đại Ở THCN, chương trình khungđang được xây dựng Tuy vậy, tình trạng chung là thiếu giáo trình, giáo trình hiện cóchưa bảo đảm liên thông giữa các cấp và các ngành đào tạo Danh mục ngành nghềchưa được bổ sung, hoàn chỉnh Hệ thống chuẩn đào tạo nghề chưa được ban hành
Đội ngũ giáo viên các trường dạy nghề và THCN tăng, tỷ lệ học sinh/ giáo viêncòn cao so với quy định Đa số giáo viên còn hạn chế về kỹ năng thực hành, khả năngtiếp cận với công nghệ mới và phương pháp dạy học tiên tiến Tỷ lệ giáo viên dạynghề đạt chuẩn còn thấp, vào khoảng 69% Ngoài một số ít trường dạy nghề đangđược tập trung đầu tư, xây dựng, còn phần lớn đều thiếu kinh phí, kể cả kinh phí muathiết bị, nguyên liệu, vật liệu phục vụ việc thực hành của học sinh
(*) Giáo dục đại học và sau đại học:
Từ năm 1998 đến nay quy mô giáo dục đại học và sau đại học đã tăng đáng kể.Năm học 2003-2004 có hơn 1.032.000 sinh viên, gần 33.000 học viên cao học vànghiên cứu sinh Hàng năm, số sinh viên từ khu vực nông thôn, miền núi đều chiếmkhoảng 70% tổng số tuyển mới Chính phủ đã thông qua quy hoạch mạng lưới cáctrường ĐH, CĐ làm cơ sở để phát triển thêm một số trường công lập và ngoài công lập
ở Tây Bắc, miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long, nên đã khắc phục được mộtbước sự bất hợp lý trong việc phân bố các cơ sở giáo dục ĐH giữa các vùng, miền
Mặc dù có chuyển biến, nhưng cơ cấu đào tạo giữa giáo dục ĐH với giáo dụcnghề nghiệp vẫn chưa hợp lý, chưa đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ cao của thị
Trang 17trường lao động Số học viên cao học và nghiên cứu sinh tăng quá nhanh trong khichưa đủ điều kiện bảo đảm chất lượng.
Đa số sinh viên có ý thức chính trị tốt, có lối sống lành mạnh, tích cực tham giacác hoạt động xã hội như phong trào thanh niên tình nguyện, an toàn giao thông v.v.,
số sinh viên được kết nạp vào Đảng ngày càng nhiều Ở một số ngành nghề trong một
số trường trọng điểm có truyền thống như hai đại học quốc gia, trường đại học Báchkhoa Hà Nội, trường đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh , trình độ của sinh viên tốtnghiệp đã tiếp cận trình độ của các trường ĐH trong khu vực
Tình trạng đáng lo ngại hiện nay là còn nhiều sinh viên thiếu trung thực tronghọc tập và thi cử; một bộ phận chưa có hoài bão, lý tưởng; một số vi phạm nội quy,quy chế, có biểu hiện của lối sống hưởng thụ, đua đòi Tệ nạn xã hội, nhất là ma tuý,
cờ bạc, mê tín, vi phạm pháp luật trong sinh viên, tuy ít nhưng chưa ngăn chặn được,gây nhiều lo lắng trong xã hội Việc tuyển sinh chặt chẽ nhưng đánh giá quá trình họctập lại lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng nhiều sinh viên chưa chăm chỉ học tập Sinh viên ít
có điều kiện tham gia nghiên cứu khoa học; năng lực tự học, tự nghiên cứu, thực hành,khả năng giao tiếp và hợp tác trong công việc còn yếu Trình độ ngoại ngữ của sinhviên tốt nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập Chất lượng đào tạo sau đại học, đặcbiệt là chất lượng của một số luận án tiến sỹ còn thấp, chưa theo kịp trình độ phát triểnkhoa học, công nghệ và chưa gắn với cuộc sống
Việc xây dựng chương trình khung và công tác biên soạn chương trình, giáotrình của các trường ĐH, CĐ chưa được quan tâm đúng mức Giáo trình đại học cònthiếu, nội dung còn lạc hậu; tài liệu tham khảo còn nghèo nàn Chương trình chưađược thiết kế liên thông giữa các cấp, bậc, trình độ đào tạo
Với số lượng khoảng 40.000 giảng viên, so với quy mô trên 1 triệu sinh viên,học viên cao học và nghiên cứu sinh, hầu hết các trường ĐH, CĐ đều thiếu giảng viên.Đội ngũ giảng viên ĐH, CĐ mới có 45% đạt trình độ thạc sĩ trở lên Phần đông giảngviên nòng cốt, chuyên gia đầu ngành đã cao tuổi, sự hẫng hụt đội ngũ vẫn chưa khắcphục được Trong khi đó, chưa có chính sách thích hợp thu hút đội ngũ cán bộ khoahọc của các cơ quan nghiên cứu tham gia giảng dạy tại các trường ĐH Hoạt động
Trang 18nghiên cứu khoa học của các trường ĐH chưa được quan tâm đúng mức Đa số giảngviên chỉ tập trung vào giảng dạy, ít tham gia nghiên cứu khoa học.
Bằng nhiều nguồn vốn (đầu tư từ ngân sách, từ học phí và tranh thủ viện trợ)các trường đã cố gắng nâng cấp thư viện, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành, mua sắmthiết bị hiện đại và nối mạng Internet Tuy vậy, tình trạng chung là cơ sở vật chất kỹthuật của các trường ĐH, CĐ còn thiếu và lạc hậu; diện tích sử dụng của các trườngchỉ mới đáp ứng khoảng 1/3 chuẩn quy định, đây là bất cập lớn của giáo dục ĐH nước
ta Tiến độ triển khai xây dựng cơ sở vật chất của hai đại học quốc gia, hai trường ĐH
sư phạm trọng điểm còn rất chậm
(*) Giáo dục không chính quy:
Giáo dục không chính quy phát triển mạnh trong các năm gần đây Đến mạnglưới cơ sở giáo dục không chính quy đã phủ khắp các địa phương Tính trung bình,hàng năm có gần 300.000 người theo học các lớp bổ túc văn hóa; khoảng 700.000người theo học các chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học, giáo dục từ xa và một
số lượng khá lớn sinh viên các khóa đào tạo liên kết giữa các trường và địa phương.Quy mô giáo dục không chính quy phát triển nhanh, nhưng công tác quản lý còn yếukém và điều kiện bảo đảm chất lượng còn rất thấp Việc quản lý lỏng lẻo đối với các
hệ liên kết đào tạo có cấp văn bằng đã dẫn đến tình trạng “học giả, bằng thật” Đây làmột khâu yếu nghiêm trọng của giáo dục không chính quy ở nước ta
Các chương trình bổ túc văn hóa, phổ cập kiến thức, kỹ năng các ngành nghề đơngiản, về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu Các chương trình giáo dục từ xa vẫn đangtrong quá trình xây dựng, tiến độ còn chậm, chất lượng còn thấp
Đội ngũ giáo viên không chính quy nhìn chung còn thiếu và trình độ thấp; cơ sởvật chất còn nghèo nàn, điều kiện để tổ chức thực hành, thực nghiệm còn rất hạn chế
1.2.3.2 Tình hình sử dụng vốn đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo Việt Nam:
Thời gian qua, hoạt động đầu tư phát triển giáo dục ngày càng được chú trọng đáng kể Vốn đầu tư toàn xã hội được nâng cao rõ rệt, đây cũng là điều kiện thuận lợicho việc huy động vốn đầu tư phát triển ngành giáo dục - đào tạo nói riêng
Trang 19Với tổng số tiền từ ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo như năm 2006 là54.798 tỷ đồng thì ngành giáo dục đã dùng tới 81,8% tổng số tiền này để chi thườngxuyên, số tiền để chi cho đầu tư chỉ là 10.000 tỷ, chiếm 18,2%.
Tỷ lệ này khi về các địa phương còn tiếp tục mất cân đối nghiêm trọng hơn Với40.458 tỷ đồng ngân sách giáo dục rót về các địa phương thì có tới 34.578 tỷ để dànhcho việc chi thường xuyên, chi cho đầu tư chỉ là 5.880 tỷ đồng
Như vậy, với tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục như năm 2006 thì chủyếu số tiền này chỉ được dùng vào chi tiêu thường xuyên, tiền dành cho đầu tư hầu nhưkhông đáng kể Trong khi đó, tiền đầu tư ở đây được tính cho những việc như nângcao cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, trường lớp, đổi mới phương pháp dạy vàhọc
Tại hầu hết các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ vàngay ở những quốc gia láng giềng như Trung Quốc, tỷ lệ chi thường xuyên chỉ chiếmkhoảng 40% trong tổng chi, 60% còn lại dành cho việc tái đầu tư
Theo bảng tính cho giáo dục đào tạo bình quân cho một người đi học từ mầm nonđến ĐH trong 12 tháng (do không có số liệu thống kê chi cho học tập ở các bậc họckhác nhau nên Vụ Kế hoạch tài chính, Bộ GD-ĐT sử dụng thống kê chung cho chi phíhọc tập bình quân cho người đi học từ mầm non đến ĐH):
Trong tổng số tiền phải chi trả thì học phí chỉ chiếm 27%, còn các khoản chi phínhư đóng góp cho trường lớp, học thêm và các chi phí khác chiếm tổng cộng tới là45%
Đến năm 2008, người đi học phải trả trung bình 1.142.000 VNĐ Đặc biệt, số tiềnphải trả cho các khoản chi khác trong giáo dục đã tăng từ 90 nghìn lên tới 225 nghìn,chiếm 21% tổng chi so với 14% năm 2002
Số tiền dành chi cho phổ cập giáo dục tiểu học, duy trì kết quả phổ cập, thực hiệnphổ cập giáo dục THCS đã tăng gấp 10 lần từ 15 tỷ của năm 2002 lên thành 150 tỷ vàonăm 2006 Tuy nhiên kết quả đang phản ánh xu hướng ngược lại
Trang 20Số trẻ em từ 11 đến 14 tuổi là 6,810 triệu em, số học sinh THCS là 6,152 triệu
em, chiếm tỷ lệ 90,3%, tức là có gần 10%, tương đương với hơn 600 nghìn trẻ em tốtnghiệp tiểu học không học lên THCS và đã bỏ học
Số học sinh bỏ học khi học hết THCS còn lên tới hơn 2 triệu học sinh Năm 2006,
số người đi học từ 15 đến 17 tuổi là 5,540 triệu nhưng tổng số học sinh THPT chỉ là3,075 triệu, chiếm tỷ lệ 55,5%
Như vậy khoảng 44,5 % học sinh tốt nghiệp THCS nhưng không học tiếp lênTHPT
Bảng 2: Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo giai đoạn 2003-2008:
258.700 18,89
324.000 25,24
398.900 23,12
452.800 13,51
521.700 15,22
2.VĐT cho giáo dục – đào
(Nguồn: Ngân sách nhà nước)
Qua những số liệu trên cho chúng ta thấy, tổng VĐT toàn xã hội ngày càng tăng.Đặc trong năm 2008 tăng lên một cách nhanh chóng, nếu như năm 2003 VĐT toàn xãhội là 217.600 tỷ đồng thì đến năm 2008 đã tăng lên thành 521.700 tỷ đồng (tức gấp2,4 lần so với năm 2003) Trên cơ sở đó, VĐT cho ngành giáo dục – đào tạo cũng tăngđáng kể, từ 37.552 tỷ đồng năm 2003 đã lên đến 98.828 tỷ đồng trong năm 2008 (gấphơn 2,6 lần so với năm 2003) Điều này chứng tỏ, chi phí đầu tư cho ngành giáo dục –đào tạo rất được chú trọng Và theo ước tính thì chi phí cho giáo dục – đào tạo trênGDP ở Việt Nam vào năm 2005 là khoảng 8,3%, đây là con số đáng khích lệ Tuynhiên, dù đã được tăng nhiều nhưng vẫn chưa thấm vào đâu so với đòi hỏi thực tế
Trong điều kiện nền kinh tế đất nước đang có những bước chuyển biến mạnh
mẽ, nhanh chóng thì việc huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội là rất cần
Trang 21thiết Một mặt là giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, mặt khác để đầu tư phát triểncác ngành kinh tế trong xã hội nói chung và ngành giáo dục - đào tạo nói riêng Đây làmột trong những chính sách huy động vốn đầu tư phát triển ngành giáo dục - đào tạoViệt Nam Để hiểu sâu sắc hơn về tình hình sử dụng vốn đầu tư phát triển ngành giáodục - đào tạo ta có thể đi vào cụ thể các vấn đề sau:
(*) Theo cấp bậc học:
Theo đánh giá khách quan và đánh giá một cách tổng quát thì có thể thấy rằngtrong hệ thống giáo dục - đào tạo Việt Nam cũng như hệ thống giáo dục của các nướctrên thế giới thì giáo dục phổ thông đóng vai trò hết sức quan trọng Bên cạnh đó, giáodục đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp lại giúp học viên rèn luyện được kỹnăng nghề nghiệp cần thiết cho quá trình lao động sản xuất sau này Ta có thể thấy vốnđầu tư phát triển ngành giáo dục - đào tạo theo cấp bậc học được phân bố như sau:
Bảng 3: Vốn đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo theo cấp bậc học trong giai đoạn 2003-2008:
6.452,5 46,9
8.552 32,5
9.292 8,7
10.002 7,6
10.853 8,5
3 VĐT cho GDPT
- Tốc độ tăng
30.041,6 -
43.161,5 43,6
54.484,7 26,2
61.923 13,7
67.783 9,5
78.514 15,83
4 VĐT cho THCN
- Tốc độ tăng
450,6 -
704,9 56,4
1.034,5 46,8
1.171 13,1
1.298 10,9
1.458,5 12,4
5 VĐT cho CĐ – ĐH
- Tốc độ tăng
2.666,2 -
3.904,1 46,4
4.896,8 25,4
5.702 16,4
6.563 15,1
7.429,3 13,2
( Nguồn: Vụ kế hoạch – tái chính, Bộ GD – ĐT)
Có thể thấy cùng với sự gia tăng về vốn đầu tư phát triển GD – ĐT trong mấynăm qua, vốn đầu tư đối với từng cấp bậc học cung gia tăng rõ rệt Mặc dù tốc độ giatăng không đồng đều nhau nhưng có thể thấy rõ xu hướng tích cực vẫn là sự gia tăng
từ năm này qua năm khác
Đặc biệt, trong mấy năm gần đây giáo dục trung cấp chuyên nghiệp đang được
Trang 22đánh giá cao và được quan tâm để các học viên không đủ khả năng vào học các trườngđại học hay cao đẳng được đào tạo một nghề để làm việc,cụ thể như sau:
Năm 2001 đầu tư cho giáo dục trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) là 627 tỷ đồngthì con số này đã lên đến 1.434 tỷ đồng vào năm 2006 Và đến năm 2008, đầu tư choTCCN đã là 3.093,9 tỷ đồng
Khi nguồn lực đầu tư còn nhiều hạn chế như vậy thì một trong những nguồn thuquan trọng của các nhà trường chính là từ học phí, nhưng học phí thu đối với cáctrường TCCN hiện nay lại rất thấp Đối với các trường TCCN công lập khu vực thànhthị và thuộc nhóm ngành công nghiêp - xây dựng học phí từ 120.000 đồng đến150.000 đồng/tháng, nhưng đối với những trường TCCN thuộc ngành nông, lâm, ngưthì học phí chỉ từ 50.000 đồng lên đến 100.000 đồng/tháng Nguồn thu học phí thấp,nên tiền học phí chỉ giúp được một phần trang trải chi thường xuyên; phần kinh phí đểtái đầu tư từ nguồn học phí rất thấp Điều đó đã ảnh hưởng đến việc nâng cao chấtlượng, thu hút giáo viên giỏi về trường TCCN Cũng như vậy đối với các trườngTCCN ngoài công lập mức thu học phí tuy có cao hơn tùy thuộc theo ngành học vàkhu vực, dao động trong khoảng từ 200.000 đồng/tháng lên đến 550.000 đồng/tháng.Nhưng phần lớn các trường mở những ngành nghề đòi hỏi ít kinh phí đầu tư, và việc
mở ngành cũng vẫn còn chạy theo thị hiếu của người học chứ ít tính tới tầm nhìn chiếnlược cho việc cung ứng nhân lực của địa phương, khu vực nơi đặt trường đào tạo
Bên cạnh đó, chi ngân sách trong Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục
và đào tạo cho giáo dục TCCN cũng chưa được quan tâm đúng mức, hầu như rất thấp
từ 25 tỷ đồng năm 2002 lên đến 50 tỷ đồng vào năm 2008 Như vậy trung bình mỗitrường nhận được kinh phí từ chương trình mục tiêu là trên 130 triệu đồng mỗi năm kể
từ năm 2002 trở lại đây Trong khi đó đối với dạy nghề cũng thuộc giáo dục nghềnghiệp, lượng kinh phí dùng để tăng cường năng lực dạy nghề từ Chương trình mụctiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo từ 110 tỷ đồng năm 2002 lên đến 1000 tỷ đồngnăm 2008 Và cho dù hầu hết các cơ sở đào tạo TCCN đều tổ chức dạy nghề nhưnghầu như không nhận được đầu tư từ chương trình mục tiêu Tăng cường năng lực dạynghề Cùng với mức đầu tư thấp cho TCCN hiện nay đã ảnh hưởng đến việc mở rộng
Trang 23quy mô, chất lượng và hiệu quả đào tạo TCCN.
Trong khi nguồn lực đầu tư còn hạn chế thì nhiều trường lại có sức ì quá lớn,còn thụ động trong việc chủ động tìm nguồn lực bên ngoài bổ sung cho những thiếuhụt trên Chính sự thiếu chủ động và sức ì này cũng là một trong những nhân tố quantrọng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Theo số liệu khảo sát của Bộ GD&ĐT trongtổng số 276 trường TCCN, một con số hết sức “khiêm tốn” biểu hiện hạn chế này là sốlượng các trường TCCN có hợp đồng đào tạo với doanh nghiệp trong 2 năm vừa quachỉ có trên 20 trường Chắc chắn trường nào cũng biết, hợp đồng đào tạo với cácdoanh nghiệp không những đem lại nguồn thu cho nhà trường mà còn tạo điều kiệncho học sinh đến thực hành tại các doanh nghiệp đó, điều này chắc chắn hạn chế đượctình trạng học chay, học với điều kiện thực hành lạc hậu đang diễn ra ở nhiều trường.Thế nhưng, số lượng hợp đồng liên kết hết sức có lợi này lại quá khiêm tốn
Cũng như vậy, không cứ gì trong các trường từ đại học, cao đẳng đến trung cấpchuyên nghiệp, một trong những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao trình độ giảngviên và chất lượng đào tạo và cũng tạo thêm nguồn thu cho nhà trường chính là từ cáchoạt động nghiên cứu khoa học, gắn nghiên cứu với sản xuất Nhưng một lần nữa, thực
tế hạn chế này lại lặp lại, hiện nay ở các trường TCCN các hoạt động này đang rất yếu,nhiều trường gần như không có Các nguồn thu từ nghiên cứu khoa học, sản xuất hoặccác dịch vụ khác từ các trường TCCN là rất hạn chế, và đây chủ yếu do năng lực độingũ và điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn Chính sự thiếu hụt các hoạt động nghiêncứu khoa học không những làm giảm nguồn thu cho các nhà trường mà còn ảnh hưởngđến chất lượng giáo viên và chất lượng đào tạo của nhà trường đó
(*) Theo vùng lãnh thổ:
Việt Nam được chia thành 8 vũng lãnh thổ, đó là: Đồng bằng sông Hồng, Đồngbằng sông Cửu Long, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ,Tây nguyên, Đông Nam Bộ Mỗi vùng lãnh thổ lại có những đặc điểm riêng về điềukiện tự nhiên cũng như tình hình phát triển kinh tế - xã hội Cho nên định mức đầu tưphát triển ngành giáo dục - đào tạo ở mỗi vùng lãnh thổ cũng khác nhau rõ rệt Do vậycần đảm bảo sự cân bằng động trong việc ưu tiên đầu tư đầu tư vào những vùng kinh
Trang 24tế khó khăn, kém phát triển với việc đầu tư phát triển ngành giáo dục - đào tạo ởnhững vùng kinh tế trọng điểm và những lĩnh vực kinh tế mang tính mũi nhọn.
Bảng 4: Định mức đâu tư phân bổ ngân sách chi sự nghiệp giáo dục đối với dân số trong độ tuổi từ 1 đến 18 giai đoạn (2003-2008) như sau:
Đơn vị: Đồng/người dân/năm
2003-2008
4 Núi thấp – Vùng sâu 1.146.674
5 Núi cao - hải đảo 1.452.769
(Nguồn: Vụ kế hoạch – tài chính, Bộ GD – ĐT)
Bảng 5: Định mức đâu tư phân bổ ngân sách chi sự nghiệp giáo dục đối với dân số
từ 18 tuổi trở lên giai đoạn (2003-2008) như sau:
Đơn vị: Đồng/người dân/năm
4 Núi thấp – Vùng sâu 39.412
(Nguồn: Vụ kế hoạch – tài chính, Bộ GD – ĐT)
Ngân sách nhà nước thường ưu tiên phân bổ cho những vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội gặp nhiều khó khăn, mức độ phát triển về giáo dục -đào tạo còn thấp Nhằmđảm bảo sự công bằng trong sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo của cả nước Theoquan điểm đó, thì mực vốn chi cho đầu tư giáo dục - đào tạo ở vùng núi cao - hải đảocao nhất, tiếp theo là vùng núi thấp - vùng sâu, tiếp theo là đồng bằng và cuối cùng là
đô thị Đảng và Nhà nước ta ngày càng có nhiều chính sách để thu hẹp khoảng cáchgiữa giáo dục nông thông và thành thị, giữa miền núi và đồng bằng, giữa vùng có điềukiện kinh tế - xã hội khó khăn với vùng có điều kiện tốt để phát triển kinh tế - xã hội
Trang 25Vấn đề này thể hiện rõ trong công tác xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tuy nhiên, do đặcđiểm về điều kiện tự nhiên khác nhau đã quyết định sự khác nhau về đặc điểm kinh tế -
xã hội mà dẫn đến nhiều khó khăn trong việc vận chuyển xây dựng trường học dođường sá còn gây trở ngại lớn Chính điều này là cho việc kếm hiệu quả trong đầu tưphát triển giáo dục, đặc biệt ở những vùng khó khăn, tức là đôi khi chi phí lên caonhưng kết quả đạt được lại rất hạn chế Bên cạnh vốn đầu tư cho ngành giáo dục lấy từngân sách nhà nước, thì việc huy động vốn đầu tư của xã hội để phát triển giáo dục -đào tạo là rất quan trọng Tuy nhiên thì việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi xã hộiỉơ cácvùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn là rất ít và đây đang là vấn đề hết sức khókhăn và nan giải Vì vậy, đối với các vùng
Trang 261.3 ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO VIỆT NAM.
Sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta
đã tiến những bước dài trên con đường phát triển Lần đầu tiên tổng sản phẩm nội địa(GDP) trên đầu người vượt ngưỡng 1000 USD/năm Việt Nam gia nhập WTO, tự loại
ra khỏi danh sách các nước nghèo và khẳng định vị thế quan trọng của mình trêntrường quốc tế
Song hành cùng những bước tiến của cả dân tộc, ngành giáo dục đã đạt được nhữngthành tựu hết sức lớn lao Quy mô và mạng lưới của các cơ sở giáo dục được pháttriển, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của toàn xã hội Chất lượng đào tạo
đã có những chuyển biến ở tất cả các cấp học, các trình độ đào tạo, công tác xã hội hoágiáo dục phát triển thu hút sự quan tâm của tất cả mọi người dân Công tác phổ cậpgiáo dục ở tiểu học và THCS đã có những bước tiến dài góp phần giảm tỷ lệ mù chữtrong độ tuổi trên cả nước Công bằng xã hội trong ngành giáo dục được cải thiệnthông qua các chương trình hỗ trợ, cho vay vốn đối với học sinh nghèo, học sinh ởvùng sâu, vùng xa, trẻ em bị khuyết tật Đặc biệt, những cuộc vận động như "haikhông", "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" và "Xâydựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" đã thực sự thổi một luồng gió mới vàođời sống giáo dục ở nước ta, tạo đà cho sự thay đổi về chất của toàn bộ hệ thống giáodục Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân thì các cuộc vận động này nhằm
"thiết lập lại môi trường sư phạm với 6 đặc trưng: trật tự kỷ cương, trung thực, kháchquan, công bằng, tình thương và khuyến khích sáng tạo, hiệu quả" Và thực tế, kết quảcủa các kỳ thi đã chứng minh một cách sinh động rằng chúng ta đang học thật, thi thật.Những thành tựu mà ngành giáo dục đã đạt được khẳng định vai trò quan trọng củagiáo dục trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đấtnước Nhờ những thành tựu của giáo dục và các lĩnh vực xã hội khác mà chỉ số pháttriển con người (HDI) của nước ta theo bảng xếp loại của Chương trình phát triển Liênhợp quốc trong những năm gần đây có những tiến bộ đáng kể
Trang 27Tuy nhiên, công bằng mà nói thì hệ thống giáo dục của ta vẫn còn nhiều bất cập, yếukém, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội trong thời kỳ hội nhập Hệ thống giáo dụchiện nay thiếu đồng bộ, thiếu tính liên thông giữa các cấp học và các trình độ đào tạo.Chất lượng đào tạo ở tất cả các cấp học còn thấp, chương trình giáo dục, nhất là giáodục ở bậc đại học còn hạn chế, chưa đạt được mục tiêu của giáo dục và đào tạo Độingũ nhà giáo và các nhà quản lý giáo dục còn thiếu quy hoạch tổng thể Số giảng viên
có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ ở các trường đại học còn quá ít Chất lượng đào tạo ở cáctrường sư phạm chưa cao dẫn đến trình độ của giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầucủa thời kỳ mới Các chế độ, chính sách đối với giáo viên chưa thoả đáng, chưa tạođược động lực để mỗi người thầy phấn đấu vươn lên dẫn đến không ít người không antâm công tác, thậm chí bỏ nghề Những năm gần đây, bằng hỗ trợ của các nguồn vốnđầu tư, cơ sở vật chất của ngành giáo dục được cải thiện rõ rệt nhưng vẫn chưa đápứng được quy mô phát triển của giáo dục nước nhà
Trong bối cảnh hội nhập toàn diện, Việt Nam có cơ hội tiếp cận với các nền giáo dụctiên tiến, có điều kiện thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển Tuy nhiên, hộinhập quốc tế đã đặt ra trước mắt chúng ta bao thử thách hết sức cam go Toàn cầu hoá
có thể làm khoảng cách về kinh tế và tri thức giữa Việt Nam và các nước khác bị giatăng, chúng ta đang đứng trước nguy cơ thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao bởi nạnchảy máu chất xám Mặc dù nước ta đang ở giai đoạn "dân số vàng" (khoảng trên 60%đang ở tuổi lao động) nhưng trình độ của đội ngũ những người lao động còn kém sovới các nước trong khu vực khá nhiều và như vậy, khả năng nắm bắt những "cơ hộivàng" của "biển lớn" sẽ hết sức khó khăn Bùng nổ phát triển kinh tế của nước ta trongthời gian qua đã tạo áp lực không nhỏ đối với ngành giáo dục Nếu hệ thống giáo dụcthực hiện tốt chức năng chuẩn bị tri thức và nghề nghiệp cho nguồn lực lao động thì nó
sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của kinh tế đất nước
Trang 28gồm đủ các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo, các loại hình nhà trường và phươngthức giáo dục Mạng lưới cơ sở giáo dục đã được mở rộng đến khắp các xã, phường,tạo điều kiện tăng trưởng rõ rệt về số lượng học sinh, sinh viên, khắc phục tình trạnggiảm sút quy mô trong những năm từ 1986-1987 đến 1991-1992 Năm học 2007-2008,
có khoảng 28,2 triệu người theo học trong hơn 40.000 cơ sở giáo dục Đặc biệt, giáodục mầm non và dạy nghề được khôi phục và có tiến bộ rõ rệt
Năm 2008, về cơ bản đã đạt và vượt các chỉ tiêu mà Chiến lược phát triển giáodục đề ra cho năm 2008
Bảng 6:Tổng số trường mầm non và trường phổ thông cả nước trong giai đoạn
Trang 29Bảng7: Tổng số giáo viên tại các trường mầm non và phổ thông cả nước giai đoạn 2003 – 2008:
Qua bảng trên ta thấy, số giáo viên tiểu học giảm đi trong giai đoạn 2003 –
2008, trong khi đó số lượng giáo viên trung học cơ sở, phổ thông trung học và mầmnon đều tăng lên Điều này chứng tỏ số lượng giáo viên các cấp ngày càng được bổsung để phù hợp với nhu cầu học tập của nhân dân
1.3.1.2 Đã đạt được một số kết quả quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược :
Về nâng cao dân trí: Kết quả xóa mù chữ, phổ cập GD tiểu học đã được duy trì,củng cố và phát huy Chủ trương phổ cập giáo dục THCS đang được triển khai tíchcực, hiện đã có 20 tỉnh, thành phố được công nhận đạt chuẩn quốc gia Một số tỉnh vàthành phố đã bắt đầu thực hiện phổ cập giáo dục bậc trung học (bao gồm THPT,THCN và dạy nghề) Số năm đi học bình quân của cư dân 15 tuổi trở lên tăng liên tục
từ 4,5 (vào năm 1990) lên 6,34 (vào năm 2000) và đến năm 2003 là 7,3 Bình đẳnggiới trong giáo dục tiếp tục được đảm bảo Đây là những thành tựu quan trọng, nhất làkhi so sánh với các nước có trình độ phát triển kinh tế và thu nhập tính theo đầu dântương đương hoặc cao hơn nước ta
Về đào tạo nhân lực: Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 23% năm 2003 đã tăng lêntrên 28% năm 2008 Chất lượng nguồn nhân lực đã có chuyển biến tích cực Trong
Trang 30những thành tựu tăng trưởng kinh tế của đất nước hơn 10 năm qua có phần đóng góprất quan trọng của đội ngũ lao động, mà tuyệt đại đa số được đào tạo ở trong nước.Nước ta cũng đã bắt đầu chủ động đào tạo được nguồn nhân lực phục vụ xuất khẩu laođộng.
Về bồi dưỡng nhân tài: việc đào tạo, bồi dưỡng học sinh, sinh viên có năng khiếu
đã được chú trọng và đạt được những kết quả rõ rệt Nhà nước và một số ngành, địaphương đã dành một phần ngân sách để triển khai chương trình đào tạo cán bộ trình độcao (thạc sĩ, tiến sĩ) trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, quản lý v.v ở các nướctiên tiến Số cán bộ này, sau khi tốt nghiệp đã trở về nước công tác và bắt đầu phát huytác dụng
1.3.1.3 Chính sách xã hội về giáo dục đã được thực hiện tốt hơn và có hiệu quả hơn.
Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa phát triểnmạnh và có tiến bộ rõ rệt Mạng lưới trường, lớp về cơ bản đã bảo đảm cho con em cácdân tộc được học tập ngay tại xã, thôn, bản Việc củng cố, phát triển các trường phổthông dân tộc nội trú và tăng chỉ tiêu cử tuyển đã tạo thêm điều kiện cho con em cácdân tộc thiểu số ở địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được đào tạo ở ĐH, CĐ,tạo nguồn cán bộ cho các vùng này Đã thí điểm và chuẩn bị ban hành chính sách họcnghề nội trú cho thanh niên, thiếu niên con em đồng bào dân tộc Tiếng nói và chữ viếtcủa 8 dân tộc thiểu số đã được đưa vào giảng dạy ở trường tiểu học; trong đó tiếngHoa và tiếng Khơmer được dạy cả ở trường THCS
Chính phủ đã có nhiều chính sách và biện pháp tăng đầu tư cho các vùng khókhăn như chương trình 135, chương trình kiên cố hóa trường, lớp học v.v Nhờ vậy, cơ
sở vật chất của giáo dục ở vùng khó khăn tiếp tục được củng cố, tăng cường Việcmiễn, giảm học phí, cấp học bổng và các chính sách hỗ trợ khác đã tạo điều kiện chođại bộ phận con em các gia đình nghèo, diện chính sách được học tập, trước hết ở cáccấp học phổ cập
1.3.1.4 Chất lượng giáo dục đã có chuyển biến bước đầu:
Trang 31Nội dung giảng dạy và kiến thức của học sinh phổ thông có tiến bộ, toàn diện hơn
và tiếp cận dần với phương pháp học tập mới Trong giáo dục nghề nghiệp, chất lượngđào tạo của một số ngành nghề như y dược, nông nghiệp, cơ khí, xây dựng, giao thôngvận tải, v.v về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu của thực tế sản xuất và đời sống hiện nay.Đặc biệt, sự tiến bộ về nhận thức chính trị và trách nhiệm xã hội của học sinh, sinhviên cùng với đội ngũ giáo viên, giảng viên đã góp phần vào việc bảo đảm ổn địnhchính trị của đất nước trong điều kiện có nhiều biến động của tình hình quốc tế và âmmưu, hành động của các thế lực thù địch đối với nước ta thời gian vừa qua
1.3.1.5 Điều kiện đảm bảo phát triển giáo dục được tăng cường hơn:
Đã xây dựng được một đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đông đảo vớitổng số trên một triệu người (khoảng 950.000 giáo viên, giảng viên và trên 90.000 cán
bộ quản lý giáo dục), với trình độ ngày càng được nâng cao
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở các cấp, bậc học, ở mọi vùng miền đã được cảithiện đáng kể trong 5-6 năm qua, nhất là từ khi thực hiện chủ trương đổi mới chươngtrình giáo dục phổ thông và kiên cố hoá trường, lớp học Một số địa phương, một sốtrường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đã nỗ lực để từngbước hiện đại hoá cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
1.3.2 Những tồn tại trong giáo dục:
Quy mô vốn đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo qua các năm đều tăng nhưngchưa phản ánh được toàn bộ tiềm lực huy động vốn trong xã hội Một số lượng vốnnhàn rỗi trong xã hội chưa được huy động cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội nóichung và công cuộc đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo nói riêng Tuy tốc độtăng vốn đầu tư cho ngành giáo dục – đào tạo hàng năm ở mức cao, nhất là đóng gópcủa ngân sách nhà nước nhưng xét về vốn đầu tư trên một người trong độ tuổi đi họcthì thấp hơn nhiều so với các nước phát triển
Cơ cấu sử dụng vốn đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo còn bất hợp lý.Thể hiện sự mất cân đối giữa giáo dục dạy nghề, trung học chuyên nghiệp với caođẳng và đại học Quy mô dạy nghề dài hạn và trung học chuyên nghiệp còn thấp so vớiyêu cầu của thị trường lao động, cơ cấu ngành nghề đào gtaoj còn mất cân đối Mạng
Trang 32lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp phân bố chưa hợp lý, còn tập trung chủ yếu ở cácthành phố lớn và các vùng kinh tế trọng điểm Giáo dục – đào tạo ở vung sâu, vùng xa,vùng đồng bào các dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn.
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư chưa cao dẫn đến quy mô vốn đầu tư phát triểnngành giáo dục – đào tạo tăng Tuy nhiên, có sự mất cân đối giữa tăng quy mô và chấtlượng giáo dục – đào tạo Đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và nhìn chung thấp vềchất lượng, cơ sở vật chất giảng dạy tuy đã được đầu tư nhưng còn thiếu thốn, một sốnơi không đáp ứng được chất lượng công trình đã đề ra
Chất lượng giáo dục ở Việt Nam ở mức thấp, lạc hậu so với sự phát triển như
vũ bão của toàn cầu là một vấn đè nan giải đang đặt ra cho toàn thể xã hội Bên cạnh
đó vẫn còn tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư ở một số dự án và công trình pháttriển giáo dục – đào tạo cần phải được khắc phục
1.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo:
Quy mô vốn đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo còn thấp, hiệu quả sửdụng vốn đầu tư chưa cao, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng như vậy là:
+ Chưa có những cơ chế thích hợp để huy động và sử dụng các nguồn lực trong
xá hội Bên cạnh đó, nước ta vẫn là một nước nghèo, thu nhập trên đầu người còn rấtthấp, trong khi đó dân số lại đông và tăng nhanh là sức ép rất lớn cho việc huy độngvốn đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo Thêm vào đó là sự chậm đổi mới về tưduy, chưa theo kịp yêu cầu phát triển của đất nước Chưa nhận thức được mối quan hệ
về phát triển giáo dục và thị trường lao động hay mối quan hệ giữa nhà trường vàdoanh nghiệp, giữa đầu tư của nhà nước và đóng góp của nhân dân, giữa tình trạngphân hóa giàu nghèo và đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục
+ Cơ cấu đầu tư chưa thực sự hợp lý, đôi khi mất cân đối giữa các cấp, bậc học vàgiữa các vùng miền trong cả nước Xã hội và các cấp, các ngành chưa thực sự coitrọng giáo dục nghề nghiệp, nhiều học sinh chỉ coi trường dạy nghề là chỗ trú chân đểthi vào các trường đại học, cao đẳng Ở các vùng sâu, vùng xa, hải đảo vẫn còn thiếu
hẹ thống trường học, giáo viên giảng dạy cả về số lượng lẫn chất lượng
Trang 33+ Quản lý giáo dục còn yếu kém và bất cập Bên cạnh đó, là cơ chế giáo dục chưaphù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nhu cầu phát triểnnguồn nhân lực của cả nước Cơ chê quan liêu, bao cấp còn nặng nề trong hệ thốnggiáo dục Công tác quy hoach, kế hoach sử dụng vốn đầu tư phát triển còn nhiều bấtcập, còn dàn trải và gây thất thoát, lãng phí trong sử dụng vốn