Thông tin chung về quá trình triển khai Đề tài Mục tiêu của đề tài này là: - Khái quát một cách có hệ thống những nội dung cơ bản, giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 1HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
(MÃ SỐ KX.04.05/06-10)
Chủ nhiệm đề tài: GS,TS MẠCH QUANG THẮNG
Cơ quan chủ trì đề tài HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
8096
Trang 2NHỮNG NGƯỜI BIÊN SOẠN
GS, TS MẠCH QUANG THẮNG (Chủ biên)
PGS, TS PHẠM NGỌC ANH PGS, TS BÙI ĐÌNH PHONG
TS TRẦN DUY HƯNG PGS, TS NGUYỄN THANH TUẤN
Trang 3CỘNG TÁC VIÊN CHỦ YẾU
GS,VS PHẠM MINH HẠC; PGS,TS NGUYỄN ĐỨC BÁCH; PGS,TS NGUYỄN QUỐC PHẨM; PGS,TS ĐÀM ĐỨC VƯỢNG; TS LẠI QUỐC KHÁNH; GS,TS PHAN NGỌC LIÊN; NGUYỄN HUY HOAN; ĐẶNG HỒNG HOA; TS NGUYỄN ĐÌNH THỐNG; NGUYỄN NHÂM; Th.S CHU LAM SƠN; NGUYỄN HẢI HIỆP; ThS NGUYỄN HỮU NHÂN; TẬP THỂ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN – ĐẠI HỌC QUỐC GIA Tp.HỒ CHÍ MINH; TẬP THỂ HUYỆN ỦY VÀ BAN QUẢN LÝ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ NHÀ TÙ CÔN ĐẢO (BÀ RỊA – VŨNG TÀU); HUYỆN ỦY PHÚ QUỐC (KIÊN GIANG); HỘI LIÊN HIỆP KHOA HỌC XÃ HỘI TỈNH QUẢNG ĐÔNG (TRUNG QUỐC);
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
Chương thứ nhất
VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM – MỘT SỐ
VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
14
I QUAN NIỆM TỔNG QUÁT VỀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT
TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT
3 Nội hàm khái niệm vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ
Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
20
II CÁC NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN VẬN DỤNG SÁNG
TẠO VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI 26
1 Các nguyên tắc chung (phương pháp luận Hồ Chí Minh) 26
2 Các nguyên tắc bảo đảm sự nghiệp phát triển theo con đường xã
hội chủ nghĩa (phương pháp luận Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội)
………
37
3 Các nguyên tắc thực hiện sự nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội 49
Chương thứ hai
LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM –
TỪ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐẾN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
62
I GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM………
62
Trang 51 Giá trị lý luận và thực tiễn quan niệm Hồ Chí Minh về tính tất
yếu của chủ nghĩa xã hội ………
62
2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về các đặc trưng và bản chất của
chủ nghĩa xã hội ………
72
3 Quan niệm của Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam ………
99
4 Giá trị lý luận và thực tiễn của quan niệm Hồ Chí Minh về con
đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ………
108
5 Giá trị lịch sử của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
trong sự nghiệp đổi mới hiện nay………
VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀO BỔ SUNG, PHÁT
TRIỂN CƯƠNG LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ
QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
156
I CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO, PHÁT
TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG
BỐI CẢNH HIỆN NAY VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
………
156
1 Các nhân tố tác động……… 156
II BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN CƯƠNG LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC
TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
VÀ CÁC DỰ THẢO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XI CỦA ĐẢNG DƯỚI ÁNH
SÁNG TƯ TƯỞNG HÔ CHÍ MINH……
197
Trang 61 Sự cần thiết bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 và tính tất
yếu của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện
nay………
198
2 Đặc trưng, mục tiêu, cấu trúc, động lực xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam………
210
3 Phương hướng, nội dung cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc………
236
4 Điều kiện và các nhóm giải pháp bảo đảm xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội ở nước ta………
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Thông tin chung về quá trình triển khai Đề tài
Mục tiêu của đề tài này là:
- Khái quát một cách có hệ thống những nội dung cơ bản, giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; tập trung làm rõ quan niệm của Người về tính tất yếu khách quan, bản chất, đặc trưng, mục tiêu, động lực phát triển của chủ nghĩa xã hội; quan niệm về những đặc điểm, phương thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội; nội dung, bước đi, biện pháp và các điều kiện bảo đảm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; từ đó khẳng định những quan điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
- Nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam
- Trên cơ sở đó, đưa ra những cơ sở lý luận-thực tiễn và kiến nghị vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện hiện nay, nhất là đóng góp luận cứ cho việc tổng kết, bổ sung
phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991) theo yêu cầu của Ban Chủ nhiệm Chương
trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước KX.04/06-10
“Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2006 – 2010” do Hội
đồng Lý luận Trung ương chủ trì
Theo Biên bản của cuộc họp Hội đồng tư vấn tuyển chọn đề tài thì Hội đồng rất lưu ý đặt mạnh vào phần vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và cũng có ý là không nên và cũng rất khó nói rõ giữa cái gì là vận dụng sáng tạo và cái gì là phát triển
Đề tài được ký Hợp đồng vào tháng 12 năm 2007 Đề tài được đánh giá, nghiệm thu cấp cơ sở vào ngày 08-4-2010 và 100% thành viên Hội đồng đã đồng ý sau khi sửa chữa theo ý kiến kết luận của Hội đồng sẽ cho phép đưa ra nghiệm thu cấp nhà nước
Đề tài đã:
Trang 8- Có 30 cuốn sách và bài được xuất bản và được đăng trên các tạp chí khoa học liên quan đến đề tài
- Sưu tầm và xử lý được hàng nghìn trang tư liệu (không kể Hồ Chí Minh toàn tập và các sách công cụ, văn kiện Đảng khác)
- Tổ chức được 6 cuộc tọa đảm, hội thảo khoa học bàn chuyên sâu về các chủ đề của đề tài, đáng chú ý là ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh (Có mời nhiều nhà khoa học và hoạt động thực tiễn ở khu vực Tp Hồ Chí Minh đến tham gia)
- Đã tổ chức đặt hàng, thuê khoán gần 100 chuyên đề theo kế hoạch đã được Ban Chủ nhiệm Chương trình KX.04/06-10 đã duyệt và đã đưa vào phụ lục của bản Hợp đồng
- Đã tổ chức đi nghiên cứu thực tế ở cả trong nước và ngoài nước Đáng chú ý là có trao đổi với một số nhà khoa học ở Hội Khoa học xã hội tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc)
2 Tính cấp thiết của đề tài
Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của Việt Nam đồng thời cũng là một nhà tư tưởng lỗi lạc theo đúng nhất nghĩa của từ đó Trong khi vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào giải quyết những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã có những phát kiến lý luận đặc sắc trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong quan niệm về vấn đề dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội
và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội
Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa
xã hội ở nước ta là một chủ đề rất khó và rộng lớn Vấn đề này có giá trị cả
về lý luận và thực tiễn sâu sắc, nhưng lại rất mới về hướng nghiên cứu và phương thức tiếp cận mà từ trước đến nay còn ít được đề cập
Có thể nói, Hồ Chí Minh đã xác lập một hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội ở nước ta, có tầm khái quát và tầm phổ quát cao độ
Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không phải được hình thành ngay một lúc mà có quá trình vận động và phát triển của nó, trong đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhận thức lý luận với hoạt động thực tiễn phong phú, rộng lớn Về cơ bản, các nhà nghiên cứu
Trang 9chia quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thành hai thời kỳ lớn: Thời kỳ trước năm 1954 và thời kỳ từ năm
1954 đến năm 1969
Qua các thời kỳ đó, Hồ Chí Minh đã dần dần hình thành và phát triển
hệ thống quan điểm của mình: Từ nhận thức lý tính nâng lên thành cương lĩnh chính trị của một Đảng; từ cương lĩnh chính trị của Đảng biến thành chương trình hành động thực tiễn của quảng đại quần chúng nhân dân; từ quan niệm về chủ nghĩa xã hội như là một mơ ước, lý tưởng của loài người,
từ một học thuyết mang bản chất khoa học và cách mạng, từ xu hướng phát triển của quá trình cách mạng Việt Nam đến quan niệm về chủ nghĩa xã hội như là một chế độ xã hội hiện thực, tồn tại trong thực tế
Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội qua các thời kỳ đều mang đậm dấu ấn của lịch sử, thời đại Các quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội được phát triển mạnh nhất trong 10 năm (1954 - 1964); khi đó chủ nghĩa xã hội trở thành chương trình hành động thực tiễn của miền Bắc nước ta Chắc chắn rằng, ở thời kỳ này, Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng rất lớn các quan điểm về chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhiều đảng cộng sản và công nhân, trong đó có quan niệm về mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực tập trung, quan liêu, bao cấp Không chú ý các nhân tố lịch sử tác động sẽ khó tiếp nhận và làm rõ tính chân xác hiện thực các quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là: là một nhà tư tưởng lỗi lạc, một nhà hoạt động
lý luận-thực tiễn xuất sắc, nhận thức, tư duy về chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh bị chế định bởi bối cảnh, điều kiện lịch sử mà Người sống Sáng tạo và hạn chế lý luận của Hồ Chí Minh phải được nhận diện và lý giải một cách lịch sử - cụ thể
Toàn bộ di sản lý luận đặc sắc của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho chúng ta thấy rõ những sáng tạo sau đây của Người:
Một là, sáng tạo trong phương thức tiếp cận tính tất yếu khách quan
của sự ra đời chủ nghĩa xã hội Phương thức tiếp cận của Hồ Chí Minh là đi
từ cái chung, phổ biến đến cái riêng, cái đặc thù
Trên phạm vi quốc tế, theo Hồ Chí Minh, sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là quy luật vận động khách quan của lịch sử xã hội loài người; là kết
Trang 10quả tác động tổng hợp của tất cả các nhân tố: Kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức văn hoá chứ không phải chỉ riêng yếu tố kinh tế, không phải chỉ là tất yếu kinh tế - kỹ thuật mà là do nhu cầu khách quan giải phóng con người một cách triệt để theo các cấp độ: Giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội - giai cấp, giải phóng con người để hình thành nên những nhân cách phát triển tự do theo đúng luận đề của chủ nghĩa Mác: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” Tổng kết quy luật vận động của lịch sử xã hội loài người, Hồ Chí Minh khẳng định một cách chắc chắn: Không có lực lượng nào ngăn trở được mặt trời mọc; không có lực lượng nào ngăn trở được xã hội loài người tiến lên; cũng không có lực lượng nào ngăn trở được chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản phát triển
Quan niệm của Hồ Chí Minh về sự ra đời của chủ nghĩa xã hội như là kết quả tác động tổng hợp của kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, văn hoá có
ý nghĩa phương pháp luận rất lớn cho việc luận giải tính tất yếu của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của các nước lạc hậu, chậm phát triển
Đối với các nước phương Đông, Hồ Chí Minh đi đến một nhận thức hết sức táo bạo: Chủ nghĩa cộng sản không những thích ứng được ở châu
Á, ở phương Đông mà còn thích ứng dễ hơn ở châu Âu Kết luận này của
Hồ Chí Minh hoàn toàn không võ đoán, chủ quan mà dựa trên các cơ sở, chứng cứ lịch sử khách quan về truyền thống tư tưởng-văn hoá, điều kiện kinh tế-xã hội, về sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản ngay tại các nước này Riêng đối với sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản, Hồ Chí Minh cảm nhận rất rõ: Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa xã hội chỉ cần phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi
Đối với Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Chủ nghĩa xã hội là sản phẩm tất yếu của quá trình cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn, là sự lựa chọn không phải riêng của Hồ Chí Minh mà là sự lựa chọn của bản thân lịch sử dân tộc, vì nó đáp ứng được nhu cầu khách quan của sự phát triển đất nước (độc lập dân tộc, khát vọng tự do của nhân dân, cơm no áo ấm, cuộc sống hạnh phúc của tất
cả mọi người dân Việt Nam), phù hợp với xu thế vận động của lịch sử xã
Trang 11hội loài người Nó là con đường hợp lý, hợp quy luật theo nghĩa: Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới đem lại các giá trị làm người chân chính; chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị
áp bức và quần chúng lao động khỏi ách nô lệ; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn và triệt để
Hai là, sáng tạo trong quan niệm về bản chất đặc trưng của chủ nghĩa
xã hội ở nước ta
Hồ Chí Minh có một loạt các định nghĩa đơn giản, ngắn gọn, mộc mạc, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người về chủ nghĩa xã hội Những định nghĩa
đó phù hợp với các đối tượng khác nhau; vừa là sự tổng kết thực tiễn sinh động, vừa là sự chiêm nghiệm bản thân cuộc sống Tính ưu việt và bản chất của chủ nghĩa xã hội thể hiện trên những khía cạnh rất đáng lưu ý
- Chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội vì con người; nó có khả năng thoả mãn các nhu cầu thiết thân của con người; giải phóng con người một cách triệt để, hướng con người theo các giá trị phổ quát: Chân, thiện, mỹ; tạo điều kiện cho con người tự khẳng định và phát huy hết khả năng của mình Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội của con người, do con người, vì con người, đạt đến trình độ nhân văn cao cả nhất mà nhân loại hằng mơ ước
- Bản chất của chủ nghĩa xã hội, xét trong chiều sâu nhất của nó, mang tính đạo đức, là biểu tượng của sự hoàn thiện nhân cách Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, mọi người sẽ có đạo đức Vì thế, chủ nghĩa xã hội hoàn toàn xa lạ với bất kỳ một biểu hiện nào của chủ nghĩa cá nhân; chừng nào còn chủ nghĩa cá nhân thì không thể có chủ nghĩa xã hội đích thực; xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội gắn liền với cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, quan hệ xã hội đạt đến lý tưởng mình vì mọi người, mọi người vì mình; mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể được giải quyết theo hướng hoà hợp, hài hoà, nhân đạo và nhân văn, văn hoá
- Chủ nghĩa xã hội là một chế độ dân chủ triệt để, bảo đảm một cách thật sự dân là chủ và dân làm chủ mọi mặt đời sống của mình Lần đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người, lý tưởng Tự do - Bình đẳng - Bác ái được
Trang 12thực hành trong tất cả các quan hệ xã hội mang một trình độ người hoàn toàn mới
- Chủ nghĩa xã hội là một xã hội dân giàu nước mạnh; giàu có cả về vật chất và cả về tinh thần; cuộc sống no đủ về vật chất gắn liền với sự phong phú, lành mạnh của đời sống tinh thần Sự giàu có của toàn xã hội không thể diễn ra cùng một lúc mà theo từng tầng nấc từ thấp đến cao: Làm cho người nghèo đói trở nên đủ ăn, người đủ ăn trở nên khá, người khá trở nên giàu, người giàu thì ngày càng giàu thêm Quan niệm dân giàu nước mạnh của Hồ Chí Minh mang tính hiện đại và có sức nặng của hiện thực cuộc sống
Ba là, sáng tạo trong quan niệm về mục tiêu, động lực và các lực cản
phát triển của chủ nghĩa xã hội
Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là vì con người, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân; mọi biểu hiện của các chế độ xã hội thống trị con người, đi ngược lại lợi ích con người, xúc phạm các giá trị làm người…đều xa lạ với bản chất đích thực của chủ nghĩa xã hội
Động lực quyết định thúc đẩy sự phát triển, luôn làm cho chủ nghĩa xã hội có sức sống, có sức hấp dẫn cũng chính là con người; con người cá nhân và con người có tổ chức Trong chiều sâu bản chất con người, Hồ Chí Minh nhìn thấy nguồn năng lượng tiềm tàng của mọi tiến bộ lịch sử Người thấy sức mạnh vô địch của con người khi nó được đặt trên một cội rễ văn hoá truyền thống vững chắc, khi được giác ngộ lý tưởng cách mạng cao đẹp theo các giá trị nhân văn, khi con người được đáp ứng, thoả mãn các nhu cầu, lợi ích của sự sinh tồn, phát triển
Quán triệt tinh thần của phép biện chứng duy vật mácxít, Hồ Chí Minh cho rằng, lực cản chủ yếu, lực cản làm mất đi bản chất tốt đẹp, nguồn năng lượng tiềm tàng, sức sống, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội cũng chính là nhân tố con người dưới tên gọi “chủ nghĩa cá nhân” Chủ nghĩa cá nhân làm cho chủ nghĩa xã hội bị tha hoá, biến dạng, đi ngược lại các giá trị dân chủ, văn hoá, nhân văn
Cuộc đấu tranh cho sự sinh tồn, phát triển của chủ nghĩa xã hội được tiến hành theo cả hai hướng: Chăm lo, nâng đỡ, khuyến khích bản chất tốt
Trang 13đẹp vốn có của con người nhằm phát huy vai trò động lực của nó, đồng thời tìm mọi biện pháp khắc phục, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội đi theo đúng quỹ đạo bản chất đích thực của nó
Trên cơ sở quan niệm về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã xác lập một hệ thống các luận điểm về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Hồ Chí Minh luôn tìm tòi, trăn trở các hình thức, biện pháp, bước đi của chủ nghĩa xã hội ở nước ta Sự tìm tòi đó thể hiện rất rõ trên các hướng:
- Hình thành quan niệm về một loại hình quá độ gián tiếp cụ thể phù hợp với đặc điểm một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu
đi lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa với một tiền đề xuất phát rất thấp
- Xác định các bước quá độ dần dần, từ thấp đến cao, không chủ quan, nôn nóng, không đốt cháy giai đoạn mà tuân thủ quy luật khách quan, hợp với lòng dân: Từ xây dựng, phát triển một nền nông nghiệp toàn diện bảo đảm nhu cầu lương thực, thực phẩm cho toàn dân; xây dựng, phát triển hệ thống tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nhẹ bảo đảm các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu cho xã hội; đến tiến hành công nghiệp hoá toàn diện nhằm cấu trúc lại toàn bộ mọi mặt đời sống xã hội, đặt dân tộc ta lên một trình độ phát triển cao hơn: Văn minh công nghiệp
- Sáng tạo phương thức, phương pháp tiến hành xây dựng chủ nghĩa
xã hội mà điều chủ chốt nhất là phát huy mọi nguồn lực vốn có trong nhân dân để làm lợi cho chính nhân dân theo phương châm: Đem của dân, tài dân, sức dân làm lợi cho dân; biến sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội thành sự nghiệp của toàn dân tộc, vì sự chấn hưng và phát triển toàn dân tộc, của toàn dân, của tất cả mọi người Việt Nam yêu nước
- Chú trọng xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, bảo đảm cho Đảng có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực dẫn dắt dân tộc ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Gắn lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội với lý luận xây dựng Đảng cầm quyền, cảnh báo các nguy cơ của Đảng trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội là một đóng góp xuất sắc của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
Trang 14- Tìm kiếm các cách thức, con đường kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ ngoại lực để tăng cường nội lực xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội cũng là một thành công lý luận đáng ghi nhận của Hồ Chí Minh
Hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cần được nghiên cứu thấu đáo để vận dụng và phát triển sáng tạo trong bối cảnh hiện nay Đây là một chủ đề rất khó, bước đầu đề tài tìm hiểu trên một số bình diện sau:
- Các nhân tố dân tộc, thời đại hiện nay khác xa thời Hồ Chí Minh sống Vì thế, trong vận dụng và phát triển tư tưởng của Người, cần thận trọng, không hiện đại hoá, bảo đảm tính chân xác về mặt lịch sử; nhận thức
rõ sức sống, sức hấp dẫn trong các quan điểm của Hồ Chí Minh phục vụ cho công cuộc đổi mới hiện nay, nhất là cho việc bổ sung, hoàn thiện Cương lĩnh 1991
- Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh để luận chứng có sức thuyết phục trên bình diện lý luận và thực tiễn định hướng phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
- Khai thác triệt để tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội nhằm xác lập, hoàn thiện mô hình cấu trúc chủ nghĩa xã hội theo bản sắc Việt Nam, bảo đảm cho con người Việt Nam đứng ở trung tâm của mọi thay đổi
từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp, trở thành mục tiêu và động lực của tiến bộ, văn minh và phát triển bền vững
- Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xác định lộ trình, bước đi và biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức Nhiều vấn đề mới phát sinh buộc Đảng ta phải độc lập tự chủ, nâng cao bản lĩnh chính trị, làm giàu trí tuệ, xứng đáng là đạo đức, là văn minh dẫn dắt dân tộc Việt Nam vững bước, tự tin tiến về phía trước
Tất cả những nội dung trên mà đề tài nghiên cứu chứng minh rằng, vấn đề đặt ra rất cấp thiết có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giai đoạn hiện nay
3 Về lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trang 15Vấn đề này, Ban Chủ nhiệm đề tài đã viết kỹ trong bản Thuyết minh đăng ký đề tài cuối năm 2007 Ở đây, chúng tôi nhấn mạnh thêm một số điểm Liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài này, có khá nhiều công trình khoa học đã được công bố Đó là các đề tài khoa học cấp nhà nước đã được nghiệm thu, các cuốn sách đã được xuất bản ở trong nước Đáng kể nhất là các công trình khoa học sau đây: (i) Nguyễn Duy Quý (Chủ biên):
Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; (ii) Vũ Viết Mỹ
(Chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước KX.02.05 giai đoạn 1991-1995): Tư tưởng
Hồ Chí Minh về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đã xuất bản thành
sách Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002;
(iii) Trần Thành (Chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước KHXH.01.03 giai đoạn
1997-2000): Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, đặc biệt là về
chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam;
(iv) Nguyễn Đức Bình (chủ biên), Đặng Xuân Kỳ, Nguyễn Duy Quý: Về
chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 Hàng loạt các đề tài khoa học các cấp, nhiều sách, nhiều bài đăng tạp chí, nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ của các cơ sở đào tạo ở trong nước tuy không chuyên bàn về nội dung liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhưng ít nhiều cũng có đề cập Đề tài này của chúng tôi kế thừa tất cả những kết quả nghiên cứu đó để đi sâu hơn những vấn đề mà chúng tôi đã đề cập ở trên
4 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu của Đề tài này, chúng tôi tuân thủ theo phép biện chứng mácxít, trên cơ sở những tài liệu thành văn, chủ yếu là
những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh đã công bố trên Hồ Chí Minh
Toàn tập (12 tập) và một số tài liệu của Người chưa được công bố Chúng
tôi cũng dựa vào kết quả của các đợt khảo sát thực tế trong và ngoài nước Một số kết quả nghiên cứu của Đề tài đã được chắt lọc phản ánh trong 4 bản Báo cáo định kỳ gửi lên theo yêu cầu của Ban Chủ nhiệm Chương trình KX.04/06-10 Ngoài phương pháp kết hợp lịch sử với lôgíc, chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu, khảo sát, phân tích thực tế, so sánh
5 Về lực lượng nghiên cứu
Trang 16Chúng tôi đã huy động đông đảo các tập thể và cá nhân các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn tham gia nghiên cứu hoặc trao đổi ý kiến trên những vấn đề mà đề tài đã đặt ra
6 Ý nghĩa của kết quả đạt được
Các sản phẩm của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho những cơ quan và cá nhân nghiên cứu, giảng dạy các cơ sở đào tạo ở hệ thống các trường học, nhất là ở hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các học viện trong và ngoài lực lượng vũ trang Các sản phẩm này làm tài liệu tham gia tổng hợp các ý kiến của Hội đồng Lý luận Trung ương gửi Ban Bí thư, Bộ Chính trị Trung ương Đảng
7 Kết cấu của bản Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài
Bản Báo cáo này, ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham
khảo, có ba chương, trong đó có 6 tiết
Chắc chắn sản phẩm của bản Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu này còn có thiếu sót, hạn chế Chúng tôi mong nhận được nhiều góp ý của người đọc
Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn các cộng tác viên, cảm
ơn cơ quan chủ trì là Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, cảm ơn Ban Chủ nhiệm Chương trình KX.05/06-10 (Hội đồng Lý luận Trung ương), các đồng chí Thư ký của Chương trình, Văn phòng Các chương trình khoa học trọng điểm cấp nhà nước thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ đã đặt ra
Hà Nội, Mùa Xuân năm 2010
TM TẬP THỂ TÁC GIẢ
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI KX.04.05/06-10
GS, TS MẠCH QUANG THẮNG
Trang 17Chương thứ nhất
VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
I QUAN NIỆM TỔNG QUÁT VỀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
1 QUAN NIỆM VỀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG – LÝ LUẬN
Vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng, lý luận trước hết phải xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác tư tưởng, lý luận và từ mục tiêu đổi mới công tác tư tưởng, lý luận theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí Vị trí công tác tư tưởng, lý luận hiện nay được Nghị quyết đó xác định là: một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Ðảng; là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ, tuyên truyền, giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, khẳng định và nâng cao vai trò tiên phong của Ðảng về chính trị, lý luận, trí tuệ, văn hóa và đạo đức; thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Từ vị trí đó, công tác tư tưởng, lý luận phải đóng vai trò quan trọng vào việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Ðảng, làm cho hệ tư tưởng của Ðảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, những tinh hoa văn hóa thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội
Trang 18Tiếp đó phải xác định mục tiêu vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng,
lý luận là: củng cố, tăng cường sự thống nhất tư tưởng, chính trị trong Ðảng, sự đồng thuận về chính trị, tinh thần trong nhân dân; bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phát huy sức mạnh của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, của đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao ý chí phấn đấu thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng đất nước thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đồng thời, phải góp phần tích cực thực hiện có hiệu quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Ðảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Ðảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, các
tổ chức Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh Thông qua vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng, lý luận, sẽ vượt qua tình trạng còn không ít lạc hậu, yếu kém hiện nay; đồng thời phải đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả, góp phần củng cố tư tưởng, phát triển trình độ lý luận chính trị, tri thức của Ðảng và hệ thống chính trị nói chung, nhằm góp phần khẳng định vai trò tiên phong của Đảng Cộng sản Việt Nam
Như vậy vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng, lý luận là nhiệm vụ của toàn Ðảng, của tất cả đảng viên, trước hết là cấp ủy các cấp và bí thư cấp ủy, của cả hệ thống chính trị với sự tham gia, đóng góp của nhân dân; trong đó lực lượng nòng cốt là đội ngũ chuyên trách làm công tác tư tưởng,
lý luận của Ðảng Để vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng, lý luận, phải phát huy dân chủ, khai thác mọi tiềm năng sáng tạo của toàn Ðảng và toàn
xã hội Việc vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng, lý luận không được xa rời tính đặc trưng của công tác này là công tác đối với con người Do đó, phải nắm vững những vấn đề có tính quy luật riêng của công tác này để có thái độ, phương pháp khoa học, nhằm kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu định hướng tư tưởng, lý luận với sự tự nguyện, giữa lý trí với tình cảm, giữa lời nói với việc làm, giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính, tích cực đẩy lùi tiêu cực; phải gắn bó mật thiết và phục vụ có hiệu quả công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, nhằm góp phần nâng cao đời sống tinh thần và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Đối với công tác tư tưởng, hiện nay, việc vận dụng sáng tạo, phát triển
tư tưởng cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Trang 19- Nâng cao nhận thức trong toàn Đảng và trong xã hội về vai trò của công tác tư tưởng và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ðảng đối với công tác tư tưởng Việc vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng, lý luận phải giải quyết mối quan hệ không thể tách rời nhau giữa nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Nội dung này có ý nghĩa quyết định để Ðảng lãnh đạo công tác tư tưởng Do đó, yêu cầu hàng đầu là đề cao trách nhiệm của toàn Ðảng đối với việc vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng; thí dụ cần xây dựng và thực hiện quy chế toàn Đảng, từ Trung ương đến cơ
sở và mọi đảng viên có trách nhiệm trực tiếp làm công tác tư tưởng hay xây dựng và thực hiện cơ chế cấp ủy Đảng tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân
- Triển khai sâu rộng nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức đối với các tầng lớp nhân dân, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ; trong đó cần nhấn mạnh việc xây dựng và thực hiện các chuẩn mực đạo đức phù hợp với từng đối tượng, xây dựng cơ chế giám sát đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và tổ chức thực hiện rộng khắp, có chiều sâu, thiết thực, hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
- Xây dựng và phát triển các giá trị tư tưởng văn học và nghệ thuật
- Triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", âm mưu thực hiện đa nguyên chính trị, hình thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch
- Xác định các nhiệm vụ và giải pháp của công tác thông tin đối ngoại như củng cố tổ chức, tăng cường cán bộ, phương tiện hoạt động và mở rộng phạm vi, nâng cao hiệu quả của lĩnh vực công tác rất quan trọng này
- Tập trung xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác tư tưởng, lý luận, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật theo hướng hiện đại để công tác này đáp ứng yêu cầu mới; đặc biệt cần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn bị xây dựng Chiến lược công tác tư tưởng trong tình hình mới
Ðối với công tác lý luận, hiện nay việc vận dụng sáng tạo, phát triển lý luận cần tập trung vào các nhiệm vụ sau: vận dụng sáng tạo và phát triển
Trang 20chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm làm rõ những giá trị bền vững và chỉ ra những vấn đề cần bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tế đất nước và thời đại; tiếp tục làm sáng tỏ nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta; tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, về đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng, về phát huy và thực thi dân chủ trong Ðảng, về nâng cao tầm trí tuệ, văn hóa của Ðảng; đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục lý luận trong hệ thống các nhà trường với những yêu cầu mới nhằm đáp ứng trình độ và nhu cầu ngày càng cao và mới của đảng viên và nhân dân; khẩn trương xây dựng và ban hành quy chế dân chủ trong hoạt động lý luận và công tác chỉ đạo, quản lý nghiên cứu lý luận
2 VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội chủ yếu xuất phát từ thực tế đất nước và thời đại để vận dụng một cách độc lập, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội phù hợp với đất nước Cho nên
có thể xuất phát từ phương pháp, quan điểm của Hồ Chí Minh để xây dựng một quan niệm đúng về vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình Việt Nam giai đoạn hiện nay
Một là, học tập sáng tạo tinh thần (phương pháp) xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình đồng thời học tập sáng tạo các quan điểm nền tảng của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
Hồ Chí Minh cho rằng, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin trước hết là
“học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình”; đồng thời “học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế nước ta” Theo tinh thần này thì việc vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội trước tiên và cơ bản là học tập sáng tạo phương pháp làm việc biện chứng ở mỗi người để sự nghiệp phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa thực sự là sự nghiệp sáng tạo của bản thân nhân
Trang 21dân, chứ không phải là “sự nghiệp được áp đặt từ trên xuống” Phương pháp này được đúc rút từ chính quan điểm của các nhà kinh điển Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội và cũng đang được thể hiện ngày càng sống động trong các quan điểm đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng ta
Các vấn đề “chủ nghĩa xã hội là gì?” và “chủ nghĩa xã hội như thế nào?”, theo Hồ Chí Minh, luôn luôn gắn với bản thân con người, với thực
tế đất nước và thời đại; do đó, phải gắn việc học tập sáng tạo của bản thân mỗi người về những chân lý phổ biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội với việc nắm bắt các chân lý phổ biến của thực tế đất nước và thời đại nhằm xây dựng được các quan điểm độc lập, tự chủ về chủ nghĩa
xã hội phù hợp với Việt Nam hiện nay Chỉ như vậy mới bảo đảm sự vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội phù hợp với Việt Nam hiện nay (tất nhiên là cũng đồng thời phù hợp với thời đại ngày nay); cụ thể là phù hợp với công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh trong bối cảnh toàn cầu hóa
Hai là, xuất phát từ thực tế của đất nước hiện nay để tổng kết thực tiễn nhằm dần dần hiểu được tính quy luật phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trên cơ sở nhận thức lại, bổ sung, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, một đường lối đúng chỉ có thể là đường lối của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội được vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của dân tộc Theo tinh thần này, vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội là phải nâng cao việc tu dưỡng tư tưởng Hồ Chí Minh để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp của Hồ Chí Minh mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới, phân tích những đặc điểm của Việt Nam hiện nay, nhằm dần dần hiểu được những vấn đề có tính quy luật phát triển của công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay, chứ không phải để học thuộc lòng từng câu, từng chữ và “làm theo” một cách máy móc tư tưởng Hồ Chí Minh “Khi vận dụng thì bổ sung, làm phong phú lý luận bằng những kết
Trang 22luận rút ra từ trong thực tiễn cách mạng nước ta”1 Trong việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, dù sao cũng không thể cấm bổ sung bằng cách đưa thêm vào đó những cứ liệu mà Hồ Chí Minh ở thời kỳ mình không thể có được2 Nói một cách khái quát, để vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế Việt Nam để nhận thức lại, bổ sung và phát triển sáng tạo bằng những kết luận rút ra từ thực tiễn đổi mới hiện nay
Quan điểm này phù hợp với quan điểm của các nhà kinh điển Mác – Lênin C.Mác đã lưu ý những người xã hội chủ nghĩa Pháp rằng, ông chưa bao giờ là người mácxít Ph.Ăngghen cũng nhắc lại với những người theo chủ nghĩa duy vật kinh tế về quan niệm trên của C.Mác Ông viết: “Về quan niệm duy vật lịch sử lúc này có nhiều người bạn dùng quan niệm ấy là cái cớ để không nghiên cứu lịch sử Tình hình ấy cũng hoàn toàn giống như Mác nói về “những người mácxít” Pháp vào cuối những năm 70 (thế kỷ XIX – người trích) Tôi chỉ biết một điều là tôi không phải là người mácxít”3 V.I.Lênin theo tinh thần này đã khẳng định rằng, lý luận mà C.Mác và Ph.Ăngghen nêu lên chỉ đặt nền móng cho những người xã hội chủ nghĩa phát triển hơn nữa về mọi mặt4
Chắc chắn Hồ Chí Minh cũng đồng ý với những quan điểm này của các nhà kinh điển Mác – Lênin Cũng như C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, Hồ Chí Minh không muốn nhân danh “tư tưởng” của mình để giải thích và hành động không đúng với quan điểm, học thuyết của Mác – Lênin Và sâu sa hơn, Hồ Chí Minh không tán thành những “vận dụng sáng tạo, phát triển” nhân danh tư tưởng của Mác – Lênin để thoát ly thực tế đất nước hiện nay
Ba là, thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội phù hợp
hơn với Việt Nam hiện nay
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, H, 2000, t.8, tr.497.
2 Phỏng theo cách diễn đạt về chủ nghĩa Mác trong bài “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ
và Nam Kỳ” viết năm 1924, nghi là của tác giả Nguyễn Ái Quốc, xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000, tr.465.
3 C Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, HN, 1997, t.37, tr.603.
4 Xem V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.232.
Trang 23Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh Vận dụng sáng tạo, phát triển “tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình” và “những chân lý phổ biến” phải gắn với việc thực hành tinh thần xử trí những chân lý phổ biến
đó Hồ Chí Minh quan niệm: “Do thực hành mà tìm ra sự thật Lại do thực hành mà chứng thực sự thật và phát triển sự thật Từ hiểu biết bằng cảm giác tiến lên hiểu biết bằng lý trí Lại từ hiểu biết bằng lý trí tiến lên thực hành lãnh đạo cách mạng, cải tạo thế giới Và nội dung của thực hành và hiểu biết lần sau cao hơn lần trước Đó là nội dung vấn đề hiểu biết trong duy vật biện chứng Đó là quan điểm biết và làm thống nhất của duy vật biện chứng”1 Thông qua thực hành nâng tầm hoạt động thực tiễn tiệm cận với tư duy lý luận; đồng thời thông qua tổng kết thực tiễn định hướng việc vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp hơn với thực
tế đang biến đổi ngày một sâu sắc hơn ở Việt Nam và thế giới hiện nay
Từ cách tiếp cận đó, chúng tôi quan niệm vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội phù hợp với Việt Nam
hiện nay là: xuất phát từ thực tế của đất nước và thời đại ngày nay để chủ
động học tập, nhận thức lại, bổ sung, phát triển và thực hành một cách sáng tạo “tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình” và những chân lý phổ biến của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa
xã hội nhằm tổng kết thực tiễn và tiếp tục xây dựng lý luận phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với Việt Nam hiện nay
3 NỘI HÀM KHÁI NIỆM VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Một là, xác định những nguyên tắc định hướng đối với việc vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
Vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, về nguyên tắc, không được chệch hướng bản chất, đặc điểm cơ bản của
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, HN, 1995, t.6, tr.257.
Trang 24tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội Do đó, việc vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội phải có nguyên tắc Các nguyên tắc định hướng chung đối với việc vận dụng sáng tạo, phát triển
tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội không nằm ngoài những quan điểm nền tảng hay những quan điểm có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội Đó là:
- Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là chủ nghĩa xã hội được vận dụng sáng tạo, phát triển một cách có nguyên tắc hệ thống quan điểm nền tảng của các nhà kinh điển Mác – Lênin và Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, phù hợp với Việt Nam và thời đại ngày nay
- Để kiên định và từng bước thực hiện mục tiêu lý tưởng (hay mục tiêu cuối cùng) của chủ nghĩa xã hội, phải “từ từ từng bậc” tiến lên chủ nghĩa xã hội Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, do đó, là một cuộc chiến đấu và chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu rất lâu dài, gian khổ nhưng vô cùng vẻ vang
Vì vậy, phải có cách làm, biện pháp và bước đi hợp lý nhằm tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội theo phương châm vừa phát triển vừa củng cố; tôn
trọng quy luật khách quan, không chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn
- Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp sáng tạo của Đảng
và của nhân dân trên cơ sở khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng theo phương châm: thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý luận, lý luận lãnh đạo thực hành; và đem tài dân, sức dân, của dân, làm lợi cho dân
- Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công khi giải quyết đúng mối quan hệ giữa lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân, giữa lợi ích các dân tộc lớn nhỏ, giai tầng xã hội (giai cấp, tầng lớp, cộng đồng tôn giáo, xã hội, văn hóa) và đất nước, giữa lợi ích quốc gia và quốc tế
Hai là, vận dụng sáng tạo, phát triển các nguyên tắc, phương pháp luận của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
Tư tưởng Hồ Chí Minh, do được xây dựng trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, nên có thuộc tính tự đổi mới, tự phát triển để luôn luôn phản ánh chính xác các điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa không ngừng biến đổi và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng có năng lực thâu thái tinh hoa tư tưởng - văn hóa dân tộc và nhân loại để có thể giữ vai trò nền
Trang 25tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho các hoạt động giải thích - cải biến thực tiễn Một nhân tố tác động và quy định cơ bản đến thuộc tính tự đổi mới, tự phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh là phải thường xuyên vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng này phù hợp vời thực tế đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là trong giai đoạn xây dựng một nước công nghiệp theo hướng hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa Việc vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội nên được thực hiện theo các nguyên tắc phương pháp luận sau đây:
Thực chất của công cuộc đổi mới là “chống lại những cái gì đã cũ kỹ,
hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”1, là tìm tòi phương thức (con đường) xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với Việt Nam hiện nay Công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang tạo điều kiện và đặt ra yêu cầu mới đối với việc nhận thức lại, bổ sung, phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, nhằm tiếp tục xây dựng, phát triển tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Đảng và của nhân dân ngày càng sâu sắc hơn, sát hợp hơn với thực chất tư tưởng của Hồ Chí Minh (đồng thời của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin) phù hợp với Việt Nam và thời đại ngày nay Sau đây là những điểm đáng lưu ý:
- Phát triển một cách khoa học trên cơ sở các giá trị nhân văn, giàu bản sắc văn hóa Việt Nam trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội
Việc vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh đã và sẽ tạo cơ
sở lý luận - thực tiễn thuận lợi cho việc thực hành một cách phổ biến trong Đảng, trong dân đường lối tiếp tục đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bởi lẽ, thông qua đó có thể kế thừa, phát huy “phương pháp làm việc biện chứng” của chủ nghĩa Mác phù hợp với tư duy trực giác tổng hợp truyền thống Việt Nam; có thể thực hành lòng nhân ái Việt Nam, cụ thể là thực hành, bồi dưỡng tình cảm và các hành động cụ thể trong việc giúp đỡ người nghèo, người bệnh, người già, tôn trọng phụ nữ, nêu gương tốt cho trẻ và giữ chữ Tín trong quan hệ kinh tế, quan hệ người - người đồng thời trau dồi phẩm chất, năng lực ứng xử văn hóa; có thể thực hành lối ứng xử cân bằng giữa kinh tế
và văn hóa, giữa phát triển kinh tế - xã hội và môi trường văn hóa, giữa hội nhập quốc tế và bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa Việt Nam; có thể thực
1 Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội 1989, tr.43.
Trang 26hành nếp sống thiên về hành động với ý chí, nghị lực tự lực, tự cường, đoàn kết cộng đồng (đồng bào) dân tộc để xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa, và để đất nước không bị hòa tan trong “mặt phẳng” toàn cầu hóa cùng với quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế không chỉ trên lĩnh vực kinh tế
- Không bắt hiện thực phải khuôn theo
Trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thường xuất hiện vấn đề về mối quan hệ giữa kiên định mục tiêu lý tưởng (hay mục tiêu cuối cùng) của chủ nghĩa xã hội và thực hiện các mục tiêu hiện thực nhằm từng bước tiến tới mục tiêu lý tưởng đó; mà biểu hiện cụ thể là phải giải quyết vấn đề giữa “tiến nhanh, tiến mạnh” với “tiến vững chắc”, “từ từ từng bậc” lên chủ nghĩa xã hội Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phương châm chỉ đạo việc xử lý vấn đề này là: thực hành sinh ra hiểu biết
và tiến lên lý luận; lý luận lãnh đạo thực hành cũng phải được đặt trong và thông mối quan hệ đó Hồ Chí Minh coi trọng sự quá độ thận trọng, dần dần lên chủ nghĩa xã hội Theo Hồ Chí Minh, tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội thực chất là tư tưởng cách mạng không ngừng với những bước
đi liên tục, bước sau bao giờ cũng phải vững chắc hơn bước trước
Thực hành là một phạm trù nền tảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, và
là tiêu chí cơ bản đánh giá việc “làm theo” một cách sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh Cho nên vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết và cơ bản là thực hành việc đổi mới cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình mới hiện nay1 Việc vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, theo đúng phương pháp Hồ Chí Minh, chủ yếu là thúc đẩy các hoạt động thực tiễn đổi mới cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội từ cơ sở Thông qua việc vận dụng, phát triển sáng tạo nguyên tắc phương pháp luận này của Hồ Chí Minh sẽ khái quát được những quan điểm lý luận mới về cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; cụ thể sẽ góp phần tích cực vào việc giải thích, làm sáng tỏ, bổ sung và tiếp tục phát triển cương lĩnh, đường lối, chủ trương, luật pháp, chính sách của Đảng, Nhà nước trong giai đoạn xây dựng một nước công nghiệp theo hướng hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ
1 Xem Mạch Quang Thắng (Chủ biên): Hồ Chí Minh - Nhà cách mạng sáng tạo, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr 214 - 217.
Trang 27sở kết quả thực hành sáng tạo của nhân dân, chứ không mô hình hóa chủ
nghĩa xã hội để bắt hiện thực phải khuôn theo
- Phân biệt mục tiêu lý tưởng và mục tiêu hiện thực trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội
Để kiên định và từng bước thực hiện được mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa, phải xác định đúng mục tiêu hiện thực trong mỗi giai đoạn của thời kỳ quá độ “lâu dài, quanh co, phức tạp” lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt trong trường hợp thực hiện kiểu quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội như Việt Nam Vận dụng sáng tạo, phát triển nguyên tắc phương pháp luận này của Hồ Chí Minh hiện nay có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi Việt Nam đã cơ bản thoát ra khỏi nhóm nước kém phát triển và gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình để xây dựng một nước công nghiệp theo hướng hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa
- Xác định con đường và điều kiện, cách làm, biện pháp, bước đi lên chủ nghĩa xã hội
Khái niệm “con đường” ngày nay tất nhiên vẫn được hiểu theo tư
tưởng Hồ Chí Minh, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; là mặt đối lập với con đường tư bản chủ nghĩa Từ đó cần có sự nhận thức về điều kiện và hoạch định cách làm, biện pháp, bước đi nhằm từng bước thực hiện một cách nhất quán mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa
Vận dụng sáng tạo, phát triển nguyên tắc phương pháp luận này của
Hồ Chí Minh hiện nay đòi hỏi phải làm rõ mối quan hệ giữa điều kiện của đất nước với cách làm, biện pháp và bước đi với sự tác động của quá trình xây dựng một nước công nghiệp theo hướng hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa; trong đó đặc biệt phải chú ý đến sự tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, trong bối cảnh toàn cầu hóa chủ yếu theo kiểu tư bản chủ nghĩa
- Kết hợp sự sáng tạo của Đảng và của nhân dân nhằm xây dựng một nước công nghiệp theo hướng hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa
Vận dụng sáng tạo, phát triển nguyên tắc phương pháp luận này của
Hồ Chí Minh hiện nay đòi hỏi Đảng, một mặt, phải tiếp tục đổi mới
Trang 28phương thức lãnh đạo theo hướng khắc phục phong cách mệnh lệnh - hành chính để chuyển mạnh sang phong cách dân chủ, trước tiên trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, để sao cho mỗi đảng viên của Đảng phải phấn đấu nhằm tự mình giành được vị trí tiền phong và vai trò dẫn dắt quần chúng, chứ không thụ động hưởng vị trí tiên phong và địa vị cầm quyền của Đảng như hiện nay Mặt khác, phải tiếp tục mở rộng dân chủ trong xã hội để sự nghiệp xây dựng một nước công nghiệp theo hướng hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa thực sự “do nhân dân tự làm lấy” như quan điểm của Hồ Chí Minh
- Vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội phù hợp với thời đại
Vận dụng sáng tạo, phát triển nguyên tắc phương pháp luận này của
Hồ Chí Minh hiện nay đòi hỏi cách tiếp cận thời đại sát hợp và rõ nét hơn; thấy đầy đủ hơn tính chất lâu dài, quanh co, phức tạp trong “thời đại lớn” (V.I.Lênin) quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mà trước mắt là “thời đại nhỏ” hiện nay với đặc trưng là chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa - lũng đoạn toàn cầu và
sự phát triển đa dạng của con đường xã hội chủ nghĩa; và đánh giá đúng hơn tiềm năng phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại Từ đó có quan điểm đúng về liên minh quốc tế xã hội chủ nghĩa, về quan điểm là bạn với tất cả các nước trên thế giới cũng như mối quan hệ với chủ nghĩa tư bản hiện đại Vận dụng sáng tạo, phát triển nguyên tắc phương pháp luận này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định cách làm, biện pháp và bước đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là đối với những vấn đề liên quan đến an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế
Ba là, vận dụng sáng tạo, phát triển các quan điểm có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh về các lĩnh vực của đời sống xã hội trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội
Có thể hệ thống hóa các quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội theo các lĩnh vực: a) kinh tế; b) chính trị; c) xã hội; d) văn hóa; đ) quốc phòng - an ninh; e) quốc tế Việc vận dụng sáng tạo, phát triển các quan điểm theo những lĩnh vực này nhằm góp phần bảo đảm và giữ vững bốn trụ cột phát triển của công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là trong giai đoạn xây dựng một nước công nghiệp theo hướng hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa, là: phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng
Trang 29tâm; xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; văn hóa là nền tảng tinh thần; quốc phòng - an ninh là trọng yếu thường xuyên Vận dụng sáng tạo, phát triển các quan điểm theo những lĩnh vực này nhằm đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, đồng thời mở ra khả năng sáng tạo, phát triển hơn nữa
tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội trong thực tế
II CÁC NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Phương pháp luận của Hồ Chí Minh gồm 3 cấp độ: a) Các quan điểm
có tính phương pháp (hay các nguyên tắc) chung; b) Các quan điểm có tính phương pháp (hay các nguyên tắc) bảo đảm sự nghiệp phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; c) Các quan điểm có tính phương pháp (hay các nguyên tắc) thực hiện sự nghiệp phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa
1 CÁC NGUYÊN TẮC CHUNG (PHƯƠNG PHÁP LUẬN HỒ CHÍ MINH)
1.1 Gắn thực hành với hiểu biết lý luận, theo nguyên tắc đi từ cụ thể đến trừu tượng và trở về thực hành
Nguyên tắc phương pháp luận này của Hồ Chí Minh là kết quả kế thừa, phát triển sáng tạo tư duy trực giác tổng hợp truyền thống dân tộc trên
cơ sở phương pháp biện chứng duy vật theo phương châm: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”1
Hồ Chí Minh hiểu mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận phải qua nấc thang hiểu biết của dân; và nhấn mạnh hoạt động thực tiễn có hiểu biết, (và cao hơn) có lý luận, chính là hoạt động thực hành Ở Hồ Chí Minh, con đường biện chứng của nhận thức chân lý nói riêng và nhận thức thực tại khách
1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2006, t.29, tr.179.
Trang 30quan nói chung, không dừng lại ở nấc thang tư duy trừu tượng, mà có tính liên tục: từ cụ thể sinh động đến thực hành Nhưng bản thân việc thực hành
ở Hồ Chí Minh vừa mang tính cụ thể sinh động trực tiếp, vừa mang tính tổng hợp cao Thực tế này chứng tỏ cái cụ thể sinh động, trực tiếp đã được
Hồ Chí Minh tiếp cận, xem xét bằng tư duy tổng hợp Có thể đó là sự kết hợp giữa cách thức tư duy trực giác tổng hợp truyền thống Việt Nam với những phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin
Đặc điểm nổi bật ở Hồ Chí Minh, kể cả khi chưa đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, là Người xem xét những hiện tượng, sự vật cụ thể một cách biện chứng và theo lối tư duy trực giác tổng hợp truyền thống kết hợp với hành động thực tế Từ khi tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, các hoạt động thực hành của Người được gắn với việc bổ sung, phát triển lý luận và phương pháp luận duy vật biện chứng Một mặt, Hồ Chí Minh khẳng định
và thực hành một cách sáng tạo các quan điểm, học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin Mặt khác, trong quá trình thực hành đó, Hồ Chí Minh sớm phát hiện yêu cầu phải bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin bằng
“những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” và “củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”
Phương pháp đi từ cụ thể đến thực hành với nấc trung gian trừu tượng hóa, một mặt, giúp Hồ Chí Minh hướng thẳng vào những sự vật, hiện tượng có tính điển hình, tính tổng hợp; mặt khác, nhờ đó, Hồ Chí Minh khái quát những cái cụ thể có tính điển hình, tính tổng hợp thành những tư tưởng có tính khả thi cao Quan điểm thực hành, vì thế, quán xuyến từ việc quan sát, tiếp cận, đánh giá, cải biến cái cụ thể có tính điển hình, tính tổng hợp, đến phương châm tư tưởng và hành động thực tế
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Hiểu biết do thực hành mà ra Hiểu biết lại trải qua thực hành mà thành lý luận Lý luận ấy lại phải dùng vào thực hành Đó là quá trình liên tiếp của hiểu biết”1 Quan điểm về thực hành, có thể nói, quán xuyến phương pháp hiểu biết của Hồ Chí Minh Đối với Hồ Chí Minh, thực hành và hiểu biết có quan hệ biện chứng Thông qua mối quan hệ giữa thực hành và hiểu biết, nội dung hiểu biết nói chung, lý luận nói riêng, ngày càng sâu sắc hơn, có tính khái quát hơn và cũng có tính khả
Trang 31thi hơn Đồng thời, nội dung thực hành cũng có tính sâu sắc hơn, tính lý luận hơn và có tính hiệu quả hơn
Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong chủ nghĩa Mác – Lênin được Hồ Chí Minh thể hiện, thực hiện theo mối quan hệ giữa thực hành với hiểu biết và lý luận Thực hành là cơ sở xuất phát, là quá trình sinh thành, phát triển hiểu biết thành lý luận; lý luận ấy lại phải được dùng vào thực hành cải biến thế giới Chỉ với chức năng và tác dụng như vậy, thực hành mới cao hơn và có tính quyết định lý luận nói riêng, hiểu biết nói chung Lý luận được đặt trong mối quan hệ với hiểu biết và thực hành là lý luận trong vận động, trong hành động Lý luận, theo Hồ Chí Minh, sở dĩ là quan trọng,
“là vì nó dạy ta hành động Nếu đưa một lý luận rất đúng ra nói rồi xếp nó lại một xó, không đưa ra thực hành, thì lý luận ấy thành lý luận suông”1
Do đặt lý luận trong mối quan hệ giữa thực hành và hiểu biết nên Hồ Chí Minh tạo được sự thống nhất có tính liên tục từ cụ thể “trực quan sinh động” đến tư duy trừu tượng và trở về thực hành ở trình độ ngày một cao hơn Đó là quan điểm phương pháp luận “biết và làm thống nhất” ở Hồ Chí Minh, trên cơ sở phát triển sáng tạo quan điểm giải thích gắn liền với cải biến thế giới trong chủ nghĩa Mác – Lênin
1.2 Gắn toàn diện với trọng điểm, để phát hiện và giải quyết linh hoạt mâu thuẫn trong quá trình phát triển
Phương pháp làm việc biện chứng của Hồ Chí Minh do hướng vào sự thực hành nên Người ưu tiên xem xét, giải quyết các mối quan hệ, dĩ nhiên, trên cơ sở nắm vững tính chất, đặc điểm, xu thế của từng yếu tố riêng rẽ
Hồ Chí Minh xác định phải “nhìn quanh chân trời” (faire un tour d’horizon) như cách Người nói vui trong các cuộc họp của Bộ Chính trị2 Tức là nhìn toàn diện tình hình thế giới và trong nước, từ chính trị đến quân
sự, kinh tế, xã hội và văn hóa, để phát hiện những trọng điểm cấp bách với tính cách là những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển Những mâu thuẫn ấy trở thành trọng điểm của toàn cục, của hệ thống Phát hiện trọng điểm với tính cách là mâu thuẫn từ cách nhìn toàn diện cũng cho
1 Xem Võ Nguyên Giáp (Chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt
Nam, Sđd, tr.308.
2 Xem Võ Nguyên Giáp (Chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt
Nam, Sđd, tr.308.
Trang 32phép huy động được toàn lực vào việc giải quyết mâu thuẫn ấy bằng phương pháp có trọng tâm và hiệu quả
Phương pháp nhìn toàn cục để phát hiện trọng điểm với tính cách là mâu thuẫn, nghĩa là nhìn toàn diện không ở trạng thái tĩnh mà ở trạng thái vận động Trọng điểm trong vận động thường thể hiện dưới dạng mâu thuẫn với sự vận động của toàn cục Cho nên phương pháp của Hồ Chí Minh là coi trọng phân hóa, thu hẹp, cô lập tới mức cao nhất sự tác động của mâu thuẫn đến sự vận động của toàn cục
Xử lý mâu thuẫn và lợi dụng mâu thuẫn đều thuộc vào phương pháp giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt ở Hồ Chí Minh Có những ví dụ mẫu mực về nghệ thuật giải quyết mâu thuẫn ở Hồ Chí Minh, như vào thời điểm cách mạng mới thành công, chính quyền dân chủ cộng hòa phải chịu
áp lực của nhiều loại kẻ thù đến mức ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” Bản thân mâu thuẫn là mặt đối lập của thống nhất và phát triển Nhưng phát hiện kịp thời và giải quyết chính xác mâu thuẫn thì lại khai thông và thúc đẩy sự hình thành động cơ mới cho sự phát triển theo hướng thống nhất và tiến bộ mới
Chính Hồ Chí Minh đã hướng dẫn: “Khi việc gì có mâu thuẫn, khi phải tìm cách giải quyết, tức là có vấn đề Khi đã có vấn đề, ta phải nghiên cứu rõ cái gốc mâu thuẫn trong vấn đề đó là gì Phải điều tra, phải nghiên cứu cái mâu thuẫn đó Phải phân tích rõ ràng và có hệ thống, phải biết rõ cái nào là mâu thuẫn chính, cái nào là mâu thuẫn phụ Phải đề ra cách giải quyết
Gặp một vấn đề, đều phải kinh qua ba bước: đề nó ra, phân tách nó (điều tra, nghiên cứu, sắp đặt), giải quyết nó”1
1.3 Gắn nắm vững cái tất yếu với ứng phó sáng tạo trước cái ngẫu nhiên có nguyên tắc
Nhiều nhà nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh coi đây là nguyên tắc xem xét và thực hành số 1 của Hồ Chí Minh Cho đến nay, những lý giải về cái bất biến thì đã rõ; nhưng việc lý giải khía cạnh “ứng vạn biến” thì còn ít chú ý đến tính nguyên tắc trong quá trình ứng phó sáng tạo ở Hồ Chí Minh
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.302.
Trang 33Thực tế cho thấy rằng, “ứng vạn biến” ở Hồ Chí Minh là có nguyên tắc như lẽ sống của Người, là không tùy tiện với những điều nhỏ nhặt, không tùy tiện trong sách lược để rút cuộc làm tan vỡ chiến lược Với lẽ sống như vậy, Hồ Chí Minh thực hành phương pháp “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trên cơ sở kế thừa, phát triển sáng tạo lối ứng xử cân bằng linh hoạt của truyền thống dân tộc trên lập trường thế giới quan duy vật biện chứng Lối ứng xử cân bằng linh hoạt của truyền thống dân tộc có tác dụng lớn trong sự nghiệp giữ nước, trong việc tiếp biến văn hóa Trung Hoa, Ấn
Độ và văn hóa nước ngoài nói chung Song lối ứng xử này có mặt trái là thói tùy tiện do sự tác động của nguyên tắc trọng tình cảm Sự cảm xúc (chứ không phải lý tính) thường dung dưỡng tình trạng nước đôi giữa lệ làng và phép nước, giữa tình và lý, mà rốt cuộc là trong không ít trường hợp làm phương hại cái bất biến
Là nhà biện chứng duy vật, một mặt Hồ Chí Minh không tùy tiện trong “ứng vạn biến”; mặt khác Hồ Chí Minh quan niệm “cái bất biến” không phải là trạng thái đứng im tuyệt đối mà là trạng thái đứng yên tương đối Bởi lẽ, đứng yên tương đối theo Ph.Ăngghen thực chất là một dạng vận động đặc biệt ở trạng thái cân bằng1 Trong tinh thần này, Hồ Chí Minh thường xem xét những “cái bất biến” ở dạng vận động trong trạng thái cân bằng; cụ thể là xem xét theo quan điểm lịch sử - cụ thể và toàn diện để có điểm tựa cân bằng, nhằm “ứng vạn biến” và nhằm bảo đảm sự cân bằng thống nhất giữa “cái bất biến” và “ứng vạn biến”
“Trong thế giới cái gì cũng biến hóa, tư tưởng của con người cũng biến hóa” thì vấn đề đặt ra là luôn phải phát hiện ra và dựa vào những cái bất biến tương đối, để tự chủ trước ứng vạn biến; đồng thời ứng vạn biến có nguyên tắc để không hy sinh cái lâu dài cho cái trước mắt, cái căn bản cho cái nhất thời, cái tất nhiên cho cái ngẫu nhiên
Phương pháp “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là một nguyên tắc được hình thành trong tình thế hiểm nghèo phải đối mặt với giặc ngoài thù trong của chính quyền cách mạng còn non trẻ trong buổi đầu dựng nước Việt Nam mới Từ một nguyên tắc chỉ đạo về mặt chính trị đối nội, đối ngoại, nó trở thành một phương pháp luận tư tưởng có tính triết học sâu sắc; và được vận
1 C Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.20, tr.740.
Trang 34dụng trong nhiều lĩnh vực, cấp độ của đời sống xã hội
Nếu khái quát ở tầm triết học thì “dĩ bất biến, ứng vạn biến” là nắm vững cái tất nhiên và chủ động trước cái ngẫu nhiên Nắm vững cái tất nhiên, tức là nắm vững cái tất yếu, nguyên lý, quy luật trong mỗi hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, để chủ động trước mỗi hiện tượng, sự vật xuất hiện ngẫu nhiên, đang tác động hoặc liên quan đến cái tất nhiên, nhằm có được nhận thức và hành động sáng tạo song không làm phương hại đến cái tất nhiên Chiếm lĩnh được mối quan hệ tất yếu đó thì có thể tự do hành động
Hồ Chí Minh đã tự do hành động trong điều kiện phải nắm vững nhiều cái tất yếu phức tạp trong thời đại của mình Hồ Chí Minh đã thành công trong toàn bộ cuộc đời hoạt động và trong rất nhiều tình thế ngẫu nhiên mà bản thân Người đã trải qua Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là những nguyên lý không thay đổi ở Hồ Chí Minh Trong thực tế, Hồ Chí Minh đã xem xét và giữ vững nguyên lý đó theo quan điểm lịch sử - cụ thể Chính vì thế, Hồ Chí Minh đã ứng phó sáng tạo bằng cách mở rộng tối đa sự ủng hộ, đoàn kết trong và ngoài nước để cô lập kẻ thù và cả những cái ngẫu nhiên, nhằm giữ vững độc lập dân tộc và nâng tầm độc lập dân tộc từ trình độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội
1.4 Chú ý trí tuệ, phẩm chất sáng tạo cá nhân và coi trọng đoàn kết sáng tạo của toàn dân theo nguyên tắc “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”
Hồ Chí Minh chú ý đến năng lực, phẩm chất sáng tạo cá nhân; từ đó chỉ rõ vai trò của mỗi cá nhân, mỗi nhóm người tùy theo điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của họ Hồ Chí Minh xem xét phẩm chất đạo đức không tách rời năng lực, ý chí, nghị lực cá nhân Đối với Hồ Chí Minh, trí tuệ, dũng khí cá nhân có vai trò tổ chức, dìu dắt để bảo đảm cho sự bền vững và tiến
bộ của sự nghiệp chung Và bản thân Hồ Chí Minh đã hơn một lần thể hiện, khẳng định trí tuệ, dũng khí cá nhân, ở những thời điểm then chốt của lịch sử; ví dụ khi quyết định Đảng rút vào hoạt động bí mật (11-1945) và khi ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, v.v., Hồ Chí Minh cho rằng, trong quá trình cách mạng, “nếu chỉ có sự hăng hái của quần chúng mà không có sự hăng hái của nhóm trung kiên để tổ chức và dìu dắt, thì sự hăng hái của quần chúng sẽ không bền và không thể tiến tới”
Trang 35Hồ Chí Minh chú ý đến sự đóng góp khác nhau của mỗi hạng người đối với sự nghiệp chung Hồ Chí Minh viết: “Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa, và hạng kém Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa, nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn Người lãnh đạo phải dùng hạng hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do trung kiên đó mà nâng cao hạng vừa vừa và kéo hạng kém tiến lên”1
Như vậy, phương pháp luận của Hồ Chí Minh là chú ý đến năng lực, phẩm chất sáng tạo cá nhân; từ đó chỉ rõ vai trò của mỗi cá nhân, mỗi nhóm người tùy theo điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của họ Nhưng Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa tính chất bẩm sinh, thiên phú của phẩm chất, năng lực
cá nhân Vì thế, vai trò của các hạng người, nhất là hạng hăng hái, trung kiên chỉ được phát huy trong sự đoàn kết của các hạng người, trong sự đoàn kết toàn dân tộc
Bởi lẽ, sức sáng tạo của mỗi cá nhân chỉ là hữu hạn trong sức sáng tạo
vô hạn của toàn dân Đoàn kết để sáng tạo với sự chú ý đến phẩm chất, năng lực sáng tạo của mỗi cá nhân, để hướng cái sáng tạo hữu hạn của cá nhân vào sự sáng tạo vô hạn của toàn dân và để sáng tạo vô hạn của toàn dân được lâu bền, được tiến bộ Vì thế, Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh chữ “đồng”, như đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng bào, đồng minh, đồng chí Hồ Chí Minh coi trọng đoàn kết toàn dân tộc và coi đó là động lực sáng tạo Nhưng Hồ Chí Minh không xem “Dân”, “Nhân dân”, “Toàn dân” là một khối quần chúng đồng nhất, mà là đồng bào, gồm những người
có phẩm chất, năng lực khác nhau; những nhóm người trung kiên, hăng hái khác nhau; các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc khác nhau; đồng bào trong nước, đồng bào ngoài nước Mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng ấy, bên cạnh những lợi ích chung, vẫn có tính cách riêng hay sở trường riêng, đời sống riêng và quyền lợi riêng Cho nên phải chú ý đến những cái riêng đó trong đoàn kết toàn dân để sáng tạo Nếu trái lại, sự đoàn kết sẽ không lâu bền và không đạt được kết quả tiến bộ
Một nguyên tắc quan trọng là huy động được các nguồn lực trong dân (tài dân, sức dân và của dân) để sáng tạo Chỉ như vậy mới tự chủ, tự lực
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.289.
Trang 36cánh sinh trong hoạt động sáng tạo Và mỗi người dân, mỗi cộng đồng và toàn dân, thông qua đó, thực sự là người sáng tạo
Cuối cùng, nguyên tắc có tính mục tiêu là phải hướng mọi hoạt động sáng tạo vào làm lợi cho dân Mỗi người dân, mỗi cộng đồng và toàn dân không được hưởng hạnh phúc thì mọi hoạt động sáng tạo của họ cũng không có nghĩa lý gì
Phương pháp luận của Hồ Chí Minh là đoàn kết toàn dân, phát hiện vai trò lực lượng sản xuất hàng đầu và vai trò tiên phong chính trị của giai cấp công nhân thông qua Đảng của nó trong sự nghiệp đoàn kết và thành công của cách mạng Việt Nam
1.5 Tư duy tổng hợp - tích hợp nguồn lực và văn hóa trên cơ sở tự lập, tự cường
Một đặc điểm nổi bật trong phương pháp luận Hồ Chí Minh là phương pháp tư duy tổng hợp để sáng tạo Đây là sự kế thừa, phát triển tư duy trực giác tổng hợp và nếp sống khoan hòa thiên về hành động trong truyền thống văn hóa dân tộc Sự kế thừa phát triển này diễn ra trên lập trường duy vật biện chứng
Phương pháp tư duy tổng hợp có quan hệ với tư duy toàn diện; song giữa chúng có sự khác biệt Phương pháp tư duy toàn diện, một mặt, để phát hiện trọng điểm, phát hiện mâu thuẫn; mặt khác, để phát hiện các mối quan hệ, sự tác động lẫn nhau của các nhân tố riêng rẽ nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp Tư duy toàn diện là nhìn nhận, xem xét hiện trạng một cách đồng bộ, hệ thống
Còn phương pháp tư duy tổng hợp nắm bắt toàn bộ sự vật, hiện tượng
ở trạng thái vận động và xem xét chúng dưới dạng nguồn lực Nó nắm bắt không phải toàn bộ các yếu tố riêng rẽ như ở cách thức tư duy toàn diện,
mà là toàn bộ các mối quan hệ, các nhân tố tác động lẫn nhau, kết hợp lẫn nhau; và quan trọng hơn, nó nắm bắt toàn bộ các nguồn lực để tích hợp, huy động sức mạnh tổng hợp, nhằm tạo ra thế và lực mới trong tương quan lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều
Phương pháp tư duy tổng hợp được hình thành rất sớm và có tính nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh Đó là quan điểm về sức mạnh tổng hợp
Trang 37của cuộc cách mạng ở chính quốc và cuộc cách mạng ở các nước thuộc địa trong việc đánh đổ chủ nghĩa thực dân, đế quốc Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh nêu phương châm “văn hóa hóa kháng chiến” là để thực hiện “toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến” Chiến lược đồng thời thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (1960-1975) đã tổng hợp được sức mạnh cả nước và sức mạnh thời đại Tổng hợp sức mạnh cả nước là tổng hợp sức mạnh “ba mũi giáp công” ở miền Nam và sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội, văn hóa ở miền Bắc Sức mạnh thời đại, trong giai đoạn lịch sử lúc đó, là tổng hợp sức mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa, của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
và phong trào đấu tranh cho hòa bình của nhân dân thế giới
Phương pháp tư duy tổng hợp ở Hồ Chí Minh là tổng hợp các yếu tố riêng rẽ để tạo ra lực mới; là việc tổng hợp các nguồn lực khác nhau để tạo
ra thế mới Lực không mạnh nhưng thế mạnh sẽ xoay chuyển được tình thế
từ yếu sang mạnh, từ ít sang nhiều Lực không đủ mạnh nhưng thế yếu thì kiên trì để xoay chuyển tình thế Thế và lực đều không mạnh nhưng khéo tổng hợp chúng lại sẽ tạo ra điều kiện mới, tiền đề mới Sự tổng hợp nhuần nhuyễn sẽ trở thành tích hợp nhu và cương (đúng lúc đúng nơi) để lấy nhu thắng cương; tích hợp yếu và mạnh (có trọng tâm trọng điểm) để lấy yếu thắng mạnh; tích hợp ít và nhiều (được tập trung đúng lúc đúng nơi) để lấy
ít địch nhiều; tích hợp thế và lực (theo định hướng cụ thể) để lấy thế thắng lực; tích hợp nhân nghĩa và trí dũng để lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo
Hồ Chí Minh sở dĩ là một nhà biện chứng duy vật triệt để, căn bản chính là ở chỗ: tổng hợp nguồn lực và văn hóa ở mức nhuần nhuyễn trên nền móng truyền thống văn hóa Việt Nam và phương pháp biện chứng duy vật vững chắc Có thể gọi trình độ tổng hợp đó là tích hợp: từ tích hợp nguồn lực đến tích hợp đa văn hóa Sự tích hợp nguồn lực hay tích hợp tinh hoa văn hóa Đông - Tây là tổng hợp nguồn lực văn hóa trong mối quan hệ với thế, với thời cơ và bằng nghệ thuật; là tổng hợp nhuần nhuyễn giữa cách thức tư duy, trí tuệ, tình cảm và hành động, đến mức thống nhất cách nghĩ, cách sống, cách thực hành Nhờ tích hợp nguồn lực và văn hóa, Hồ Chí Minh đã thống nhất tư tưởng sống và thực hành để cải biến thế giới
Trang 38Người không phải là một nhà biện chứng “một nửa” chỉ nhìn thấy tính dung hợp hay tính tổng hợp của các yếu tố riêng lẻ trong trạng thái tĩnh; và rốt cuộc là chỉ giải thích, mà không thúc đẩy cải biến thế giới Ở Hồ Chí Minh, tích hợp nguồn lực và tinh hoa văn hóa Đông - Tây là sự tổng hợp một cách biện chứng “đến tận đỉnh” (V.I.Lênin) trong trạng thái vận động,
để sống và thực hành với tư cách một danh nhân văn hóa
1.6 Giữ chữ Tín trong nhân cách văn hóa để tin ở dân, học hỏi dân, dựa vào dân trong đổi mới và sáng tạo
Chữ Tín lớn nhất ở Hồ Chí Minh là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc
và hạnh phúc của quốc dân, kể cả khi “phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo” hay khi là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước có uy tín rất cao, sức hấp dẫn rất lớn Suốt đời Người tâm niệm với chữ Tín đó “như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận” Giữ chữ TÍN là yêu cầu và kết quả chung của việc thực hành các giá trị NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ trong truyền thống Nho giáo nói riêng và truyền thống văn hóa Việt Nam nói chung
Quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân là đức tin ở Hồ Chí Minh Suốt đời Hồ Chí Minh trân trọng và giữ vững đức tin đó, kể cả trong những điều nhỏ nhặt của cuộc sống thường nhật Và quan trọng hơn là Hồ Chí Minh giữ vững niềm tin sâu sắc đối với năng lực hiểu biết, thực hành sáng tạo của nhân dân với tinh thần “độc lập, tự chủ, tự cường” để thực hiện quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân Phương châm tư tưởng
và thực hành đức tin ở Hồ Chí Minh là “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”; là “có chủ nghĩa làm cốt” và sống với nhau có tình, có nghĩa Muốn vậy, phải thực hành và phát huy dân chủ, mà mấu chốt là thực hiện
tự phê bình và phê bình trong xây dựng Đảng và trong thực hành, phát huy dân chủ
Để giữ chữ Tín, một mặt phải thường xuyên tiến hành tự phê bình, Hồ Chí Minh xác định tự phê bình thường xuyên hàng ngày như soi gương, rửa mặt Tự phê bình là tự chỉ trích, tự soi vào mình hay tự phản biện, để thấy
rõ mình hơn và người khác giúp mình thấy rõ mình hơn
Mặt khác, để thực hiện chữ Tín, Hồ Chí Minh coi trọng sự phê bình Phê bình là chịu sự phản biện, giám sát của mọi người, của xã hội Đây là
Trang 39một đặc điểm đồng thời là nguyên tắc thực hành, phát huy dân chủ
Tự phê bình và phê bình được Hồ Chí Minh coi là nguyên tắc xây dựng trong Đảng, song cũng là nguyên tắc có tính phương pháp luận của thực hành, của hiểu biết và của lý luận Giấu giếm khuyết điểm của mình sẽ khiến cho “Đảng hỏng” và con người hỏng Thông qua tự phê bình và phê bình để nhận rõ khuyết điểm, sửa chữa khuyết điểm Đó là cách thức để đảng viên và mỗi người “tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”
Giữ chữ Tín bằng phương thức dân chủ, trước hết là tự phê bình và phê bình với cái tâm trong sáng và trí tuệ tỉnh táo hay “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” Giữ chữ Tín bằng phương thức dân chủ là để xác lập niềm tin ở dân và niềm tin trong dân, xác lập niềm tin giữa con người với con người Niềm tin dựa trên sự học hỏi dân Chỉ nhờ vậy mới có thể
“đem tài dân, sức dân, của dân, làm lợi cho dân”
Hồ Chí Minh xem xét tài dân, sức dân, của dân, lợi của dân trong hoàn cảnh “xã hội, con người luôn đổi mới” Người phát động phong trào “Đời sống mới”, nêu cao tấm gương “Người tốt, việc tốt” và phát động phong trào thi đua với các điển hình tiên tiến, là để thúc đẩy nhân tố mới trong tài trí của dân, nguồn lực của dân, của cải trong dân và mang lại lợi ích mới cho dân
“Xã hội, con người đều đổi mới, không đổi mới là lạc hậu” Đổi mới
là thể hiện sự sáng tạo, là kết quả của sự sáng tạo Song đổi mới, sáng tạo phải dựa vào việc giữ vững chữ Tín với cái tâm trong sáng và trí tuệ tỉnh táo Giữ vững chữ Tín là kiên định thực hiện lý tưởng, mục tiêu hoạt động của Đảng: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Giữ vững chữ Tín
là thực hành tấm gương đạo đức trong sáng; là có niềm tin và có quan hệ không thay đổi với dân, với đồng chí, với đồng minh, với bạn; là không ngừng học tập và rèn luyện, không ngừng “tự chỉnh đốn”, “tự đổi mới” để nâng mình đồng thời nâng tầm mỗi con người, nhằm đoàn kết sáng tạo Trong tu dưỡng bản thân và thực tế hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã vận dụng nhiều tư tưởng nhân văn khác nhau theo phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác Không một lĩnh vực nào phương pháp tư duy và phương pháp làm việc của Hồ Chí Minh đi chệch lý luận và phương pháp luận duy vật biện chứng Có thể nói, chính là xuất phát từ phương
Trang 40pháp luận đó mà Hồ Chí Minh tránh được sự giáo điều trong nhận thức và trong hành vi đạo đức, văn hóa Qua đó chứng tỏ sự tích hợp tư tưởng, đạo đức không dừng lại ở mức hỗn dung, mà đã trở thành một hệ thống phát triển
Nhờ nhận thức được phương pháp luận đúng; và coi lương tri với tính cách là hạt nhân nuôi dưỡng, thúc đẩy tư tưởng nhân văn không nhất thời
và không vụ lợi, nên trong tư tưởng, nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh nổi bật là chữ Tín Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh không có tính vụ lợi, dù nhỏ đến đâu và dưới khía cạnh nào chăng nữa; do đó, hạn chế được những cái gọi là “đạo đức tình thế”, “nhân đạo tình thế” để hướng vào nền văn hóa nhân bản bền vững
Chữ Tín là đặc trưng của nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh: đó là đức tin vào lý tưởng, vào mục tiêu đã lựa chọn; là trọng lời hứa và biết tin vào người khác, vào nhân dân, vào đất nước với niềm lạc quan trong sáng Đây
là cái bất biến trong nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh Chính từ cái bất biến này mà phương pháp luận sáng tạo của Hồ Chí Minh thấm đẫm bản sắc nhân văn của truyền thống phương pháp luận Việt Nam
2 CÁC NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (PHƯƠNG PHÁP LUẬN HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI)
2.1 Xuất phát từ thực tế Việt Nam để vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội phù hợp
Việc vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội ở Hồ Chí Minh là có nguyên tắc Tính nguyên tắc đó thể hiện
ở việc vận dụng sáng tạo “tinh thần xử trí (hay phương pháp - người trích) mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình”, và “những chân lý phổ biến” của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội
Một mặt, tính nguyên tắc này không cản trở, mà tạo điều kiện cho việc xuất phát từ thực tế Việt Nam để vận dụng sáng tạo, phát triển các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội một cách độc lập, tự