1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh mới của việt nam

325 656 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh mới của Việt Nam
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng
Trường học Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Chuyên ngành Kinh tế Chính trị
Thể loại Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 325
Dung lượng 3,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư duy mới về quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT trên cơ sở cách tiếp cận hệ thống, liên ngành, và việc giải quyết tốt mối quan hệ này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc hoạc

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC

MÃ SỐ KX.04/06-10 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ GIAI ĐOẠN 2006 – 2010

ĐỀ TÀI QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH MỚI CỦA VIỆT NAM

MÃ SỐ: KX.04.12/06-10

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Nguyễn Xuân Thắng

Cơ quan chủ trì: Viện Kinh tế và Chính trị thế giới

Viện Khoa học xã hội Việt Nam

8082

Hà Nội – 2010

Trang 2

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Đồng chí Vũ Khoan

2 Đồng chí Trương Đình Tuyển

3 GS TSKH Nguyễn Mại

4 TSKH Lương Văn Kế

5 TS Lê Xuân Sang

6 TS Đại tá Lê Kim Dũng

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Các cấp độ độc lập 27

Bảng 1.2: Các thành tố tự chủ quốc gia 29

Bảng 1.3: Các hình thức liên kết kinh tế khu vực 45

CÁC HÌNH Hình 1.1: Kết cấu chủ quyền quốc gia .34

CÁC HỘP Hộp 2.1: Ý nghĩa của Hiệp định về biên giới biển Việt Nam - Thái Lan 144

LỜI MỞ ĐẦU 1

i) Tính cấp thiết của đề tài .1

ii) Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài .4

iii) Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài .5

iv) Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và dữ liệu sử dụng 11

v) Cấu trúc của báo cáo nghiên cứu 15

vi) Lợi ích của nghiên cứu 16

CHƯƠNG I: QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 19

I.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về chủ quyền quốc gia, độc lập, tự chủ 19

I.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về hội nhập kinh tế quốc tế 40

Trang 4

I.3 Mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế nhìn từ các góc độ 54 I.4 Kinh nghiệm xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của một số nước trên thế giới 75

CHƯƠNG II: THỰC TIỄN XỬ LÝ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP,

TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM QUA

25 NĂM ĐỔI MỚI 99

II.1 Sự tiến triển trong nhận thức của Đảng ta về xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế 99 II.2 Xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của

Việt Nam từ góc độ kinh tế: Bài học từ việc mở cửa kinh tế 119

II.3 Xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của

Việt Nam từ góc độ chính trị và đối ngoại: Bài học từ việc bình thường hóa

và phát triển quan hệ với Mỹ .131

II.4 Xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của

Việt Nam từ góc độ an ninh quốc-phòng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ: Bài học

từ việc gia nhập ASEAN .141

II.5 Xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của

Việt Nam từ góc độ văn hóa-xã hội: Bài học từ việc giữ gìn và phát huy bản

sắc văn hóa dân tộc 149

II.6 Xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của

Việt Nam từ góc độ thể chế: Bài học từ việc gia nhập WTO 156

CHƯƠNG III: HỆ QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP XỬ LÝ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH MỚI 167

Trang 5

III.1 Nhận diện bối cảnh quốc tế và khu vực giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 167 III.2 Nhận diện bối cảnh trong nước 178 III.3 Cơ hội và thách thức đối với mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 196 III.4 Hệ quan điểm, các định hướng chủ yếu và một số giải pháp về xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 206

KẾT LUẬN 242 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 248

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN

APSC Cộng đồng an ninh-chính trị ASEAN

ACSC Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN

ARF Diễn đàn khu vực ASEAN

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Dông Nam Á

ASEM Diễn đàn Á-Âu

Quốc BTA Hiệp định thương mại tự do song phương

CNXH Chủ nghĩa xã hội

CPI Chỉ số giá tiêu dùng

Trang 7

ĐPT Đang phát triển

FAO Tổ chức nông lương của Liên hợp quốc

FTA Hiệp định mậu dịch tự do

GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ

GATT Hiệp định chung về thuế quan và thuwong mại GDP Tổng sản phẩm nội địa

GNP Tổng sản phẩm quốc dân

HNKTQT Hội nhập kinh tế quốc tế

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

NAFTA Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ

NATO Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây dương

NGO Tổ chức phi chính phủ

Trang 8

ODA Viện trợ phát triển chính thức

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

OPEC Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ

PPP Sức mua tương đương

SCO Tổ chức hợp tác Thượng hải

SNG Cộng đồng các quốc gia độc lập (còn có cách viết tắt

khác là CIS) TAC Hiệp ước thân thiện và hợp tác Bali

WEF Diễn đàn kinh tế thế giới

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

i) Tính cấp thiết của đề tài

Hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) là xu thế tất yếu trong sự phát triển của tất cả các nền kinh tế và các quốc gia trong thế giới ngày nay Tất

cả các nước trên thế giới, dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, phát triển hay đang phát triển đều đang tham gia vào quá trình này Có nước chủ động và tích cực tham gia vì không muốn tự loại mình khỏi trào lưu phát triển của thế giới và muốn tranh thủ tốt nhất những cơ hội phát triển do HNKTQT đem lại, nhưng cũng có nước bị cuốn hút một cách thụ động vào quá trình này nên thiếu sự chuẩn bị sẵn sàng Cơ hội và thách thức do HNKTQT đem lại đối với các nước vì thế cũng khác nhau Thông thường, cơ hội sẽ nhiều hơn đối với những nước phát triển và chủ động chuẩn bị hội nhập, còn thách thức

sẽ nhiều hơn đối với những nước chậm phát triển và thiếu chủ động chuẩn tham gia vào quá trình này

Cùng đem lại những cơ hội và thách thức, HNKTQT có thể làm giảm hoặc cũng có thể tăng cường độc lập, tự chủ của các quốc gia tham gia vào quá trình này Nói một cách khác, HNKTQT có thể giúp một nước tăng cường sức mạnh, nâng cao vai trò và phát huy ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế, hoặc cũng có thể khiến cho nước đó bị lệ thuộc và chịu tác động nhiều hơn từ bên ngoài Vì thế, giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển và đang trong quá trình cải cách, mở cửa và hội nhập quốc tế Đối với Việt Nam, vấn đề này được đặt ra không chỉ trong bối cảnh đất nước đang tiến hành công cuộc Đổi mới, mà còn cần được nhìn nhận từ hoàn cảnh

Trang 10

lịch sử đặc thù là quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước

và với sứ mệnh lịch sử là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (CNXH)

Trong gần 25 năm đổi mới, bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) đến nay, Đảng ta đã có những bước trưởng thành rất lớn về tư tưởng

và hành động, trong đó có việc đổi mới tư duy nhận thức và tư duy về xử lý thực tiễn mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT Từ những lo ngại

ban đầu đối với việc mở cửa và hội nhập quốc tế cho đến chủ trương “thêm

bạn, bớt thù” và xác định “lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân là phải củng cố và giữ vững hoà bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế”

của Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khoá VI tháng 5 năm 1988, cho đến chủ

trương “đa phương hóa, đa dạng hóa” của Đại hội VII tháng 6 năm 1991 và đường lối “mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh

tế quốc tế” của Đại hội X, Đảng ta đã rút ra được bài học sâu sắc về: hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ

Nhờ vậy, trong gần 25 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết sách quan trọng về đổi mới trong lĩnh vực quan hệ đối ngoại và HNKTQT, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế, duy trì an ninh

và tăng cường vị thế của đất nước Tuy nhiên, quá trình HNKTQT của đất nước ta ngày càng sâu rộng trong một môi trường quốc tế đang thay đổi nhanh chóng vì toàn cầu hóa sẽ không chỉ tác động sâu sắc hơn đến nền kinh

tế mà cả những lĩnh vực nhạy cảm hơn đối với chủ quyền quốc gia như chính trị, văn hoá, xã hội và an ninh-quốc phòng

Do đó, việc giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT không thể giới hạn trong lĩnh vực kinh tế, mà phải được đặt trong khuôn khổ rộng lớn, mang tính hệ thống, bao trùm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, đối ngoại, văn hoá- xã hội, an ninh-quốc phòng và thể chế Tính chất đa chiều

Trang 11

phức tạp này đặt ra yêu cầu phải khắc phục bằng được những khoảng trống hiện tại trong cơ sở lý luận về vấn đề độc lập, tự chủ Khái niệm về độc lập,

tự chủ truyền thống cần được điều chỉnh dựa trên nhận thức khoa học vững chắc, cho phép thu nhận những nội dung mới, phù hợp với bối cảnh quốc tế, thế và lực mới của đất nước cũng như yêu cầu và nhiệm vụ phát triển của

Việt Nam Những nhận thức mới, một mặt, cần tiếp tục khẳng định những phương diện có tính nguyên tắc, bất di, bất dịch của độc lập, tự chủ; mặt

khác, cần làm rõ mối tương quan giữa độc lập, tự chủ và tiến trình HNKTQT

của đất nước, cũng như giữa độc lập và tự chủ trong tiến trình này Tư duy mới về quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT trên cơ sở cách tiếp cận hệ thống, liên ngành, và việc giải quyết tốt mối quan hệ này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc hoạch định chủ trương, đường lối, chiến lược và sách lược của Đảng và Nhà nước nhằm giữ vững ổn định chính trị-xã hội, xử

lý linh hoạt các thách thức, tận dụng mọi thời cơ, phát huy mọi tiềm năng, khai thác hiệu quả các lợi thế mở ra từ quá trình HNKTQT, đảm bảo thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN)

Đề tài “Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế

trong bối cảnh mới của Việt Nam,” mã số KX.04.12/06-10, là một cấu phần

của Chương trình khoa học xã hội trọng điểm cấp Nhà nước “Nghiên cứu

khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2006-2010,” mã số KX.04/06-10 do Hội

đồng lý luận Trung ương chủ trì nhằm làm sáng tỏ lý luận về một trong 8 mối quan hệ cơ bản trong quá trình Đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước ta

Những kiến nghị mà Đề tài KX.04.12/06-10 đưa ra đã góp phần bổ sung và phát triển Cương lĩnh 1991 của Đảng, phục vụ xây dựng dự thảo các

Trang 12

văn kiện cho Đại hội Đảng lần thứ XI Các luận cứ khoa học của Đề tài góp phần tạo dựng cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, sách lược đối nội và đối ngoại hiệu quả, góp phần đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, củng cố độc lập, tự chủ và phát triển bền vững đất nước trong thập niên sắp tới

ii) Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đề tài KX.04.12/06-10 thực hiện nghiên cứu nhằm:

• Luận giải những vấn đề mới dưới góc độ lý luận chính trị về khái niệm độc lập, tự chủ và HNKTQT cũng như mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT;

• Phân tích một cách hệ thống quá trình phát triển nhận thức của Đảng

ta về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT và đánh giá thực tiễn xử lý mối quan hệ này của nước ta qua 25 năm Đổi mới (1986-2010);

• Dự báo và đánh giá tác động của tình hình thế giới và khu vực giai đoạn 2011-2020 và bối cảnh trong nước đến mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT của Việt Nam;

• Xây dựng cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu, rộng của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới Đặc biệt, cung cấp những luận cứ khoa học mới dưới góc độ lý luận chính trị về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ

và HNKTQT nhằm phục vụ trực tiếp việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 và soạn thảo các văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng

• Làm tài liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy về lý thuyết và thực tiễn của vấn đề độc lập, tự chủ và HNKTQT trên thế giới cũng như lý

Trang 13

thuyết và thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT ở Việt Nam

iii) Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

Tình hình nghiên cứu ngoài nước:

Độc lập, tự chủ là những phạm trù đóng vai trò then chốt trong lĩnh vực chính trị và quan hệ quốc tế Độc lập, tự chủ thể hiện một cách khái quát lợi ích quốc gia, đồng thời phản ánh thế và lực của quốc gia đó Do vị thế quốc tế, sức mạnh tổng hợp, mức độ hội nhập và các chiến lược phát triển của các quốc gia không giống nhau nên quan điểm, đường lối, mức độ, lĩnh vực ưu tiên về độc lập, tự chủ rất khác nhau Tính đa chiều của bản thân khái niệm, cộng với sự đa dạng về cấu hình độc lập, tự chủ của các quốc gia khác nhau trong các thời điểm khác nhau là nguyên nhân khiến cho việc phân tích

và tổng hợp các tài liệu nước ngoài gặp nhiều khó khăn

Đối với các tác giả phương Tây và trước hết là Mỹ, vấn đề độc lập, tự chủ thường được xem xét dưới góc độ độc quyền theo đuổi các lợi ích toàn cầu bằng việc sử dụng trực tiếp sức mạnh áp đảo về chính trị, kinh tế, quân

sự, khoa học-công nghệ, hay gián tiếp thông qua các định chế kinh tế, chính trị, quân sự quốc tế nằm dưới sự kiểm soát, chi phối của họ Mặc dù có một

số khác biệt về phương thức và giải pháp, chẳng hạn giữa các học giả người Pháp như Raymon Aron, Maridone Touraine, Emmanuel Todd (phản ánh sự

lo ngại thường trực của Pháp về chủ quyền quốc gia trong khi liên minh với Mỹ), …và các đồng nghiệp Mỹ, mối quan tâm hàng đầu của họ đều thống nhất ở mục tiêu duy trì sức mạnh vượt trội và địa vị bá quyền của Mỹ và phương Tây trong quan hệ quốc tế, ngăn chặn bất cứ thế lực nào nổi lên tranh chấp địa vị đó Điểm nổi bật đầu tiên trong nhiều công trình của các học giả kỳ cựu của Mỹ trước đây như Spykman N.J., H Morgenthau, P

Trang 14

Kennedy …hay hiện nay như Joseph S Nye, Fareed Zakaria, Samuel Hungtington,…là cách tiếp cận hệ thống, dựa trên các cơ sở dữ liệu đồ sộ được sắp xếp, phân loại công phu Điểm nổi bật thứ hai là dựa trên một hay một vài chiều cạnh hiện thực, một số tác giả đã phát triển các hệ thống quan điểm, lý luận tương đối hoàn chỉnh, đóng vai trò hệ quy chiếu cho phép định

vị quỹ đạo chuyển dịch của các chủ thể quan hệ quốc tế, từ đó phán đoán, dự báo các xu thế Hạn chế cơ bản của đa số các công trình này là việc tuyệt đối hoá các lợi ích và gắn với chúng là địa vị độc tôn, lãnh đạo toàn cầu của Mỹ, bất chấp các định chế quốc tế cũng như lợi ích của các quốc gia khác Kiểu

tư duy theo chủ nghĩa quốc gia, dân tộc trung tâm, tuyệt đối hoá độc lập, tự chủ của một hay một nhóm quốc gia, điển hình như trong các công trình của

H Kissinger, Z Brzezinski, K Waltz,…đưa đến nhiều nhận định không đầy

đủ, thậm chí méo mó, sai lệch so với hiện thực Kiểu tư duy này đang vấp phải thách thức lớn khi phải đối mặt với các nguy cơ, đe doạ phi truyền thống, như chủ nghĩa khủng bố, tôn giáo, cực đoan, vấn đề môi trường, dịch bệnh, biến đổi khí hậu toàn cầu, khủng hoảng tài chính quốc tế,…

Cách tiếp cận hệ thống cũng là điểm mạnh trong các công trình của các học giả Nga Do mối đe doạ chính đối với độc lập, tự chủ của Nga là sự

bá quyền của Mỹ, nên các nghiên cứu của người Nga tập trung chủ yếu vào

so sánh lực lượng Nga-Mỹ, phân tích các khả năng, kịch bản, biện pháp hình thành trật tự thế giới đa cực Phần lớn các nhà nghiên cứu đều nhất trí trong việc xem năng lượng, tổ hợp quân sự-công nghiệp, vũ trụ,…như các công cụ chính đảm bảo cho địa vị độc lập, tự chủ của Nga với tư cách là một cường quốc thế giới, đồng thời thường bị chia rẽ trong đánh giá tình hình chính trị-

xã hội trong nước, ở mức độ đồng thuận của người dân, cũng như trong đường lối đối nội của ban lãnh đạo nước này

Trang 15

Các học giả Trung Quốc tiếp cận vấn đề độc lập, tự chủ chủ yếu từ quan điểm sự nổi lên của Trung Quốc và xử lý quan hệ Trung - Mỹ nhằm kiến tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự trỗi dậy được quảng bá là hoà bình của họ Tính hệ thống là điểm yếu của đa số các công trình này, tính giáo điều, rập khuôn điển hình cho giai đoạn trước cải cách mở cửa ít nhiều còn rơi rớt lại, đặc biệt trong việc xem xét vấn đề tranh chấp lãnh thổ, biển đảo với các nước láng giềng Mặt mạnh của người Trung Quốc là cách tiếp cận lịch sử và các phân tích tình huống theo kiểu “Binh pháp Tôn Tử” truyền thống khá sắc bén, mà hiện nay được gọi là lý thuyết trò chơi chiến lược

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và sự tuỳ thuộc lẫn nhau, các đe doạ và nguy cơ xuyên quốc gia gia tăng, độc lập tự chủ trở thành vấn đề nóng hổi, thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nước đang phát triển có quy mô vừa và nhỏ “Toàn cầu hoá, chủ quyền quốc gia và Thế giới Thứ ba” trở thành một trong những chủ đề thảo luận chính của Diễn đàn Hợp tác Nam-Nam do nhóm nước G-77 tổ chức Các vấn đề về chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền về nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh năng lượng,…thu hút được sự quan tâm lớn của các nước này Vấn đề độc lập, tự chủ về kinh tế trong điều kiện toàn cầu hoá và xâm nhập ồ ạt của các dòng vốn, các tập đoàn xuyên quốc gia, văn hoá ngoại lai,…được nhiều nước đặc biệt chú ý Những điểm yếu trong các nghiên cứu tại các nước đang phát triển là sự phân tán, dàn trải trên rất nhiều vấn đề, thiếu chiều sâu, các thông điệp đưa ra ngay cả trên các diễn đàn quốc tế lớn không đủ sức nặng, không thu được sự nhất trí cao

Mặc dù có sự phân tán, khác biệt lớn về cách tiếp cận, quan điểm, cơ

sở lý luận,…song đây là những nguồn tư liệu quan trọng trong việc tiếp cận

đề tài, giúp nhìn nhận vấn đề độc lập, tự chủ của Việt Nam từ nhiều góc độ

Trang 16

khác nhau Sự đan xen ngày càng lớn giữa lợi ích của ta và các đối tác nước ngoài bắt buộc phải có sự tham khảo nghiêm túc, kỹ càng các tài liệu này

Tình hình nghiên cứu trong nước:

Vấn đề độc lập, tự chủ của đất nước, đường lối độc lập tự chủ của Đảng ta luôn có vị trí cực kỳ quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh và các văn kiện của Đảng Thông cáo của Trung ương gửi

các cấp bộ đảng ngày 21/12/1941 đã lưu ý “ta có mạnh thì họ mới chịu đếm

xỉa đến Ta yếu thì ta chỉ là khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy.” Mối quan hệ giữa độc lập và tự chủ về kinh tế

đã được đề cập trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ III năm 1960 nhấn

mạnh rằng “xây dựng nền kinh tế của ta thành một nền kinh tế tự chủ, tương

đối hoàn chỉnh, làm cơ sở cho độc lập của nước nhà.”1 Cụm từ “độc lập tự chủ” lần đầu tiên xuất hiện trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IV năm

1976 khi nhấn mạnh đến vai trò then chốt của “đường lối chính trị, đường

lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta” trong kháng

chiến chống Mỹ thắng lợi và yêu cầu “giữ vững độc lập tự chủ” trong giai

đoạn mới.2 Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác định nội hàm mới của độc lập tự

chủ, lần đầu tiên chủ trương “gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự

chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Độc lập tự chủ về kinh tế tạo cơ

sở cho hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả Hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả tạo điều kiện cần thiết để xây dựng kinh tế độc lập tự chủ.” Văn

kiện Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định “thực hiện nhất quán đường

lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Chủ động

và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên

1 Văn kiện Đảng toàn tập Tập 21, tr 536

2 Văn kiện Đảng toàn tập Tập 37, tr 484 và 619

Trang 17

các lĩnh vực khác.” Những bước chuyển biến về tư duy, chủ trương, đường

lối độc lập tự chủ của Đảng ta qua các giai đoạn cho thấy: 1) Sự kết tinh từng bước tư duy về độc lập, tự chủ của Đảng; và 2) Sự vận dụng linh hoạt,

uyển chuyển các phạm trù này nhằm phục vụ cho mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ cụ thể

Nghiên cứu lý luận về độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá và HNKTQT của Việt Nam được phản ánh trong một số công trình gần đây (xem danh mục tài liệu tham khảo) Thành công chính của các công trình này là đã từng bước đi sâu phân tích và làm sáng tỏ cục diện quốc tế mới, cấu trúc và cơ chế vận hành của trật tự thế giới hiện hành, nhận diện ngày càng rõ hơn các nguy cơ và thách thức nhiều mặt đối với nền độc lập tự chủ, đặc biệt là trong các lĩnh vực then chốt như chính trị, tư tưởng, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, kinh tế, văn hoá, xã hội, đề xuất nhiều giải pháp chống lại các tác động tiêu cực từ bên ngoài cũng như âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch lợi dụng tiến trình hội nhập của Việt Nam Nhận thức về thế và lực của đất nước được làm rõ hơn Một số công trình đã bước đầu đưa ra các

dự báo về tình hình, xu hướng khu vực, thế giới, các lĩnh vực có liên quan đến lợi ích của Việt Nam

Bên cạnh thành công, các nghiên cứu trong nước vẫn còn tồn tại một

số hạn chế chủ yếu sau đây Thứ nhất là nội hàm khái niệm độc lập tự chủ

trong điều kiện đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế chưa được khắc hoạ một cách toàn diện; cơ sở lý luận về độc lập, tự chủ chưa tương thích với yêu cầu

và nhiệm vụ mới, đặc biệt nhận thức vấn đề chủ quyền quốc gia, chủ quyền nhà nước trong HNKTQT còn có những điểm chưa thống nhất Một mặt, phát triển và hội nhập-phát triển là những chủ đề chính trong rất nhiều nghiên cứu về kinh tế, trong khi đó, vấn đề độc lập, tự chủ trong kinh tế lại

Trang 18

được đề cập ở một số khía cạnh riêng lẻ như an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh tài chính,…nên thiếu tính toàn cục, hệ thống Mối quan

hệ giữa an ninh kinh tế và an ninh chính trị ít được đề cập Mặt khác, cho đến nay, các nghiên cứu về toàn cầu hoá và HNKTQT chủ yếu tập trung vào việc phân tích cơ hội, thách thức và đánh giá tác động, ít đi sâu làm rõ các quy luật vận động, vì vậy các giải pháp đề xuất chưa đảm bảo tính hệ thống, thiếu tính toán, cân nhắc về huy động, phân bổ nguồn lực nên mức độ khả thi chưa cao Chính thực tế chia tách và mất cân đối này đã tạo ra những khoảng trống trong lý luận về độc lập, tự chủ, cản trở giải quyết một cách toàn diện nhiều vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam, đặc biệt là tại giao diện giữa các lĩnh vực khác nhau như chính trị và kinh tế, an ninh và xã hội, đối nội và đối ngoại

Thứ hai là mặc dù đã hình thành sự thống nhất về mục tiêu, phương

châm chỉ đạo đẩy mạnh HNKTQT đồng thời không ngừng củng cố độc lập,

tự chủ, nhưng chưa có sự thống nhất về quan điểm giải pháp: các kiến nghị đưa ra ít nhiều thiếu tính hệ thống, đồng bộ, không phản ánh đúng sự đan xen phức tạp giữa cơ hội và thách thức trong hội nhập Các giải pháp được

đề xuất để đối phó với các nguy cơ lớn như tụt hậu phát triển, tham nhũng, chệch hướng XHCN, diễn biến hoà bình thường rơi vào hai thái cực: hoặc chung chung về nguyên tắc, thiếu tính cụ thể, hoặc cụ thể nhưng lại phiến diện, thậm chí mâu thuẫn nhau Điều này cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách không nhỏ giữa quan điểm và thực tiễn, cũng như khác biệt đáng kể trong nhận thức về các lợi ích quốc gia, đặc biệt là giữa hai lĩnh vực then chốt có tầm quan trọng sống còn là chính trị và kinh tế, tạo thành rào cản đối với việc cụ thể hoá đường lối, chủ trương của Đảng thành các chính sách, luật pháp thích hợp và hiệu quả

Trang 19

Nghiên cứu này kế thừa những thành quả nghiên cứu đi trước ở cả trong và ngoài nước, chắt lọc những nội dung và quan điểm bên ngoài phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam và chủ trương, đường lối của Đảng, đồng thời

hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn các công trình trong nước cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT để hoàn thành các mục tiêu và yêu cầu được đặt ra

iv) Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và dữ liệu sử dụng

Cách tiếp cận

Cách tiếp cận hệ thống: Khi xem xét về khái niệm, nghiên cứu này coi độc lập, tự chủ không phải là một quyền đơn nhất, mà là một tập hợp gồm nhiều quyền và nghĩa vụ khác nhau về lãnh thổ, chính trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại Tương tự, HNKTQT cũng không phải chỉ là một quá trình kinh tế mà

nó còn liên quan hay tác động đến các quá trình khác như hội nhập về thể chế, văn hóa-xã hội, chính sách , như là các khía cạnh của quá trình hội nhập quốc tế Ngay cả trong quá trình hội nhập kinh tế thì cũng tồn tại nhiều tuyến, nhiều tầng khác nhau như đa phương, toàn cầu, khu vực, tiểu vùng hay các mối quan hệ song phương Vì thế, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT cần được tiếp cận từ nhiều chiều cạnh khác

nhau, gồm: khía cạnh kinh tế, chính trị, đối ngoại, văn hóa-xã hội, an

ninh-quốc phòng và thể chế

Cách tiếp cận biện chứng: Nghiên cứu này cho rằng có mối quan hệ biện chứng giữa độc lập và tự chủ, sự phụ thuộc của độc lập, tự chủ vào bối cảnh quốc tế, cũng như vào thế và lực của đất nước Độc lập và tự chủ như hai mặt cần và đủ của một vấn đề thống nhất - sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia Tương tự, HNKTQT vừa đem lại cơ hội song cũng đem lại những thách thức cho quá trình phát triển của một quốc gia Mối quan hệ

Trang 20

giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT là mối quan hệ mang tính chất vừa mâu thuẫn, vừa thống nhất Thí dụ, HNKTQT có thể làm giảm độc lập, tự chủ của một quốc gia khi khiến cho quốc gia đó bị lệ thuộc nhiều hơn vào bên ngoài Ngược lại, HNKTQT cũng có thể làm tăng cường sức mạnh quốc gia,

từ đó tăng cường khả năng giữ vững độc lập, tự chủ của quốc gia đó

Cách tiếp cận lịch sử: Nghiên cứu kết hợp tổng kết lý luận và phân tích thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT của Việt Nam qua 25 năm Đổi mới Đặc biệt, nghiên cứu tổng kết và đánh giá sự tiến triển trong nhận thức của Đảng ta về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt kể từ khi đất nước

ta tiến hành Đổi mới

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, cụ thể là:

Phương pháp so sánh: Nghiên cứu so sánh kinh nghiệm xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT qua các trường hợp của Trung Quốc, Malaixia, Mêhicô và Ucraina Trường hợp nghiên cứu về Trung Quốc tập trung phân tích sự thay đổi nhận thức về độc lập, tự chủ trong quá trình HNKTQT của nước này Malaixia và Mêhicô là hai trường hợp cho thấy những thành công và hạn chế trong việc xây dựng một nền kinh tế độc lập,

tự chủ và hội nhập Cuối cùng, trường hợp của Ucraina là kinh nghiệm thất bại trong việc xử lý mối quan hệ với các nước lớn và giữ vững độc lập, tự chủ về mặt chính trị nội bộ trong quá trình hội nhập quốc tế

Phương pháp phân tích lịch sử và nghiên cứu trường hợp: Nghiên cứu phân tích thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT qua

Trang 21

25 năm đổi mới của Việt Nam và rút ra bài học kinh nghiệm qua các trường hợp nghiên cứu tiêu biểu

Phương pháp hội thảo, tọa đàm và phỏng vấn sâu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn, trao đổi trực tiếp và thông qua các hội thảo, các tọa đàm khoa học khác nhau với những người làm công tác quản lý, kinh doanh, đào tạo, nghiên cứu…về chủ đề có liên quan, từ đó hình thành các ý tưởng, trao đổi với các chuyên gia chuyên sâu để đưa ra các kết luận

Đặc biệt, nhóm nghiên cứu của Đề tài đã đi thực tế ở Mêhicô và các địa phương ở trong nước (Lạng Sơn, Hải Phòng, Quảng Ninh ở miền Bắc và Kiên Giang, Cần Thơ và TP Hồ Chí Minh ở miền Nam) để tìm hiểu kinh nghiệm và thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT Đồng thời, Đề tài cũng đã tổ chức và phối hợp tổ chức 03 cuộc hội thảo và nhiều buổi tọa đàm để lấy ý kiến từ các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan

Các nguồn tư liệu, cơ sở dữ liệu và nguồn số liệu

Nghiên cứu sử dụng cả nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm các nguồn tư liệu trong nước và quốc tế, các văn kiện của Đảng, tư liệu của các cơ quan hoạch định chính sách và quản lý, tư liệu nghiên cứu của các tổ chức nghiên cứu và các cá nhân trong và ngoài nước Nguồn dữ liệu sơ cấp là dữ liệu thu thập được từ phỏng vấn sâu, hội thảo, tọa đàm và trao đổi ý kiến với các chuyên gia

Trang 22

Thời gian nghiên cứu chủ yếu kể từ khi nước ta tiến hành Đổi mới (năm 1986) đến nay song có tham chiếu đến khoảng thời gian trước đó để làm bối cảnh lịch sử cho vấn đề cần nghiên cứu Thời gian dự báo của nghiên cứu khi phân tích bối cảnh quốc tế và khu vực và tác động đến mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT của Việt Nam là đến năm 2020 với tầm nhìn đến năm 2030

Mặc dù mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT có thể xem xét

từ nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, nghiên cứu này chỉ tập trung vào

năm góc độ chủ yếu là: kinh tế, chính trị-đối ngoại, an ninh-quốc phòng,

văn hóa-xã hội, và thể chế kinh tế

Thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT của Việt Nam nhìn từ mỗi góc độ kể trên sẽ được tiếp cận phân tích và minh họa thông qua một trường hợp nghiên cứu, cụ thể:

- Thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT nhìn

từ góc độ kinh tế được nghiên cứu thông qua việc mở cửa và đổi mới nền kinh tế đất nước

- Thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT nhìn

từ góc độ chính trị và đối ngoại được nghiên cứu thông qua việc bình thường hóa và phát triển quan hệ với Mỹ với tính chất là một nước lớn, có ảnh hưởng quan trọng, mang tính chất khai thông, đối với tiến trình hội nhập quốc tế nói chung và HNKTQT nói riêng của Việt Nam

- Thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT nhìn

từ góc độ an ninh quốc-phòng được nghiên cứu thông qua việc gia nhập và hội nhập sâu hơn vào ASEAN của Việt Nam, với tính chất là một chiến lược lâu dài nhằm xây dựng môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực, góp

Trang 23

phần đảm bảo an ninh của đất nước, đồng thời xây dựng và thắt chặt lòng tin với các nước láng giềng khu vực để giải quyết thuận lợi các tranh chấp về biên giới, lãnh thổ với các nước này

- Thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT từ góc độ văn hóa-xã hội được nghiên cứu thông qua việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, với tính chất vừa là yêu cầu vừa là thách thức to lớn đối với sự phát triển văn hóa-xã hội của đất nước trong thời kỳ Đổi mới; và

- Thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT nhìn

từ góc độ thể chế (kinh tế) được nghiên cứu thông qua việc gia nhập WTO, với tính chất là bước ngoặt tạo ra sự thay đổi lớn về thể chế kinh tế trong tiến trình HNKTQT của Việt Nam

Những nghiên cứu trường hợp kể trên không tập trung phân tích diễn

biến của các quá trình, mà chú trọng phân tích ý nghĩa của các sự kiện, đánh

giá các tác động tích cực và tiêu cực của các quá trình, đồng thời rút ra các bài học từ thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT của

Việt Nam từ các góc độ khác nhau

v) Cấu trúc của báo cáo nghiên cứu

Ngoài các phần Lời nói đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Báo cáo tổng hợp của nghiên cứu (báo cáo này) được chia làm ba chương:

Chương 1: Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc

tế: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương này sẽ trình bày các vấn đề lý luận về độc lập, tự chủ, và HNKTQT; bản chất mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT nhìn từ các góc độ kinh tế, chính trị-đối ngoại, an ninh-quốc phòng, văn hóa-xã hội

và thể chế (kinh tế); kinh nghiệm xử lý mối quan hệ này của Trung Quốc,

Trang 24

Malaixia, Mêhicô và Ucraina

Chương 2: Thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội

nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam qua 25 năm Đổi mới (1986-2010)

Chương này sẽ trình bày sự tiến triển trong nhận thức của Đảng ta về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT của Việt Nam, đặc biệt kể từ năm 1986 đến nay, và thực tiễn xử lý mối quan hệ này từ các góc độ khác

nhau và rút ra các bài học qua các trường hợp nghiên cứu là: 1) bài học từ việc mở cửa và đổi mới kinh tế (nhìn từ góc độ kinh tế); 2) bài học từ việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ (nhìn từ góc độ chính trị và đối ngoại); 3)

bài học từ việc gia nhập ASEAN (nhìn từ góc độ an ninh-quốc phòng, nhất

là giữ gìn biên giới lãnh thổ); 4) bài học từ việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc (nhìn từ góc độ văn hóa-xã hội); và 5) bài học từ việc gia nhập WTO

(nhìn từ góc độ thể chế kinh tế)

Chương 3: Định hướng và giải pháp chiến lược xử lý mối quan hệ

giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh mới

Chương này đề xuất các kiến nghị về định hướng và giải pháp chiến lược xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT của Việt Nam trong bối cảnh mới của quốc tế, khu vực và trong nước giai đoạn 2011-2020

và tầm nhìn đến năm 2030 cho các cơ quan hoạch định chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đặc biệt, nhằm đóng góp, bổ sung Cương lĩnh và xây dựng các văn kiện cho Đại hội lần thứ XI của Đảng

vi) Lợi ích của nghiên cứu

Nghiên cứu này góp phần quan trọng cung cấp luận cứ khoa học (cơ

sở lý luận và thực tiễn) làm rõ mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và

Trang 25

HNKTQT trong bối cảnh mới của Việt Nam, giúp cho các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội đề ra định hướng và hoạch định chính sách HNKTQT và đối ngoại của Việt Nam

Đặc biệt, nghiên cứu đưa ra các luận cứ khoa học nhằm bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 của Đảng, góp phần chuẩn bị các dự thảo văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI cũng như góp phần tham gia xây dựng chủ thuyết phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới

Kết quả của nghiên cứu này là nguồn tư liệu hữu ích cho các tổ chức,

cơ quan và các cá nhân trong công tác nghiên cứu, giảng dạy

Đề tài KX.04.12/06-10 do GS TS Nguyễn Xuân Thắng làm Chủ nhiệm và được thực hiện cùng với sự đóng góp của nhiều nhà nghiên cứu và chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan như quan hệ quốc tế, kinh tế quốc tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, triết học, lịch sử…

Xin trân trọng cảm ơn ý kiến, các bài viết và nguồn tư liệu quý báu mà các nhà khoa học đồng nghiệp, các nhà quản lý và các chuyên gia đã đóng góp và chia sẻ với Đề tài mà trong phạm vi bản báo cáo này khó có thể nêu được hết tên

Xin trân trọng cảm ơn Viện Kinh tế và Chính trị thế giới thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Văn phòng các Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước và Vụ Khoa học Tự nhiên và Xã hội thuộc

Bộ Khoa học và Công nghệ, Ban chủ nhiệm Chương trình KX.04/06-10 thuộc Hội đồng lý luận Trung ương, Đại sứ quán Việt Nam tại Mêhicô, các

Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cần Thơ và Kiên Giang cùng nhiều tổ chức khác đã hết sức giúp đỡ nhóm nghiên cứu của Đề tài trong quá trình thực hiện nghiên cứu và khảo sát thực tế

Cuối cùng, vì đây là kết quả của một công trình nghiên cứu tương đối

Trang 26

mới lại được tiến hành trong điều kiện thời gian và nguồn lực hạn chế nên không tránh khỏi một số thiếu sót nên rất mong có được sự góp ý quý báu từ phía người đọc

Hà Nội, tháng 06 năm 2010

Trang 27

CHƯƠNG I QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC

TẾ: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

I.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA, ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ

I.1.1 Các khái niệm về chủ quyền quốc gia và độc lập, tự chủ

Chủ quyền quốc gia (CQQG) là khái niệm được nhà triết học và kinh

tế gia Pháp Jean Bodin nêu lên lần đầu tiên vào năm 1576, nhưng phải đợi đến năm 1648, khi hiệp ước Westphalia được ký kết tại Munster và Osnabrück (Đức), chấm dứt cuộc chiến kéo dài 30 năm giữa các nước châu

Âu, vấn đề CQQG mới được đặt ra như là khái niệm nền tảng của "luật pháp châu Âu" để chi phối các quan hệ giữa các nước liên quan Hiệp ước Westphalia được coi là điểm khởi đầu cho sự hình thành và tiến hoá của luật pháp quốc tế về CQQG Quan niệm truyền thống về CQQG (chủ quyền Westphalia) xem rằng đây là “một ý tưởng về việc tồn tại một thực thể quyền lực chính trị tuyệt đối và cuối cùng trong một cộng đồng chính trị.”3

Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam: CQQG là thuộc tính chính trị - pháp lý không thể tách rời của quốc gia Nội dung của CQQG gồm quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế.4 Do đó, về đối nội, CQQG thể hiện ở khả năng quyền lực của một nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá của mình mà không chịu bất kỳ một sự can thiệp nào từ bên ngoài Về đối ngoại, mỗi nhà nước quốc gia – dân tộc, trước hết phải là một

3 Hinsley, F.H 1986 Sovereignty Second Edition (Cambridge: Cambridge University Press) Tr 25, 26

4 http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx ?

Trang 28

chủ thể bình đẳng và độc lập, tự quyết định các vấn đề đối nội và đối ngoại của mình Đây là hai nội dung gắn bó chặt chẽ với nhau và là tiền đề cho nhau CQQG cũng có thể được coi là quyền lực chính trị cơ bản của một nước, được gắn với một nhà nước có chủ quyền, tự quyết định và chịu trách nhiệm về những vấn đề trong nước và quốc tế mà không bị chi phối hay kiểm soát bởi bất kỳ một thế lực bên ngoài nào.5 Điều này đã được thể hiện trong pháp luật của từng quốc gia, cũng như trong các văn bản pháp lý quốc

tế, và trở thành một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại.6

Theo mô hình ban đầu về chủ quyền (còn gọi là Mô hình Westphalia), mỗi quốc gia là một thành viên của cộng đồng quốc tế, bình đẳng với các quốc gia khác và có toàn quyền tự chủ trong những hoạt động phục vụ lợi ích của mình trên lãnh thổ của mình và không được can thiệp vào nội bộ nước khác Để được các quốc gia khác công nhận chủ quyền của mình, mỗi quốc gia cũng phải công nhận chủ quyền và chấp nhận sự giới hạn trong hành động của mình để tôn trọng chủ quyền của nước khác Các quốc gia cũng phải chấp nhận những giới hạn khác khi thực hiện những nghĩa vụ quốc tế, thậm chí thoả hiệp với nước khác hay tham gia vào một hình thức tập hợp đa quốc gia

Một số học giả đã làm giàu thêm các khái niệm về chủ quyền quốc gia

bằng cách chia chủ quyền thành chủ quyền trong quốc gia và chủ quyền của

quốc gia Chủ quyền có liên quan tới một dạng quan hệ trong nội bộ quốc gia là quyền lực tối cao (supremacy), cũng như một dạng quan hệ giữa quốc

5 Webster's International Encyclopedia

6 Hiến chương Liên hợp quốc quy định: mỗi quốc gia cần được tôn trọng và bảo đảm sự bình đẳng về chủ quyền, không một quốc gia nào được can thiệp hoặc khống chế, xâm phạm chủ quyền của một quốc gia độc lập khác

Trang 29

gia với các bên bên ngoài là độc lập Hai khía cạnh quyền tối cao và độc lập thường liên quan tương ứng đến chủ quyền nội bộ và chủ quyền bên ngoài.7

Theo Stephen Krasner (1999), trên thực tế, thuật ngữ “chủ quyền” thường được sử dụng một cách linh hoạt dưới bốn hình thức khác nhau là chủ quyền pháp lý quốc tế, chủ quyền Westphalia, chủ quyền nội bộ, và chủ quyền tuỳ thuộc lẫn nhau Chủ quyền pháp lý quốc tế dùng để chỉ tập quán gắn liền với sự công nhận quốc tế lẫn nhau giữa các lãnh thổ có tư cách pháp

lý chính thức Chủ quyền Westphalia dùng để chỉ hình thức tổ chức về mặt chính trị bằng cách loại trừ các nhân tố bên ngoài ra khỏi cơ chế quyền lực trong một lãnh thổ nhất định Chủ quyền nội bộ dùng để chỉ quyền lực chính trị chính thức trong một đất nước và khả năng của nhà cầm quyền có thể kiểm soát hiệu quả mọi thứ trong phạm vi biên giới lãnh thổ quốc gia Chủ quyền tuỳ thuộc lẫn nhau dùng để chỉ khả năng của nhà cầm quyền có thể kiểm soát các hoạt động xuyên biên giới, như trao đổi về thông tin, hàng hoá

và con người

Chủ quyền pháp lý quốc tế và chủ quyền Westphalia dựa trên sự tồn tại của một chính thể (authority) nhưng không dựa trên khả năng kiểm soát của chính quyền Chủ quyền nội bộ dựa trên có sự tồn tại của chính quyền

và cả khả năng kiểm soát của chính quyền đó Chủ quyền tuỳ thuộc lẫn nhau dựa trên khả năng kiểm soát Bốn hình thức chủ quyền này không phải lúc nào cũng cùng tồn tại và tỷ lệ thuận với nhau Thí dụ, Đài Loan có chủ quyền Westphalia trong khi không có chủ quyền pháp lý quốc tế Và trong rất nhiều trường hợp, một chính phủ khi thực hiện chủ quyền pháp lý quốc tế bằng cách ký kết các hiệp định tự do thương mại và đầu tư có thể làm suy yếu chủ quyền tuỳ thuộc lẫn nhau Krasner (1999) cho rằng, tùy từng thời

7 Steven Lee (2006) “Puzzle of sovereignity” Hobart and William Smith Colleges

Trang 30

điểm và lợi ích quốc gia, các nhà lãnh đạo quốc gia sẽ quyết định ưu tiên từng loại chủ quyền khác nhau khiến cho CQQG không phải là một cái gì mang tính chất tuyệt đối, không thể bị vi phạm Tuy nhiên, bất chấp những

vi phạm này, trong suốt chiều dài lịch sử của các quốc gia, CQQG vẫn được nhiều người nói đến và yêu cầu phải tôn trọng.8

Các quan niệm và ý nghĩa của CQQG cũng có thể không giống nhau ở mỗi phần của thế giới Trong tác phẩm “Sự tan rã của các quốc gia-dân tộc,” Robert Cooper (2003) cho rằng thế giới ngày nay có thể được phân chia thành ba khu vực: khu vực tiền hiện đại, khu vực hiện đại và khu vực hậu

hiện đại Khu vực thế giới tiền hiện đại dùng để chỉ một thế giới bất ổn định,

nơi không có các nhà nước hay đế chế để duy trì trật tự hoặc là nơi mà nhà nước không thực hiện được chức năng cơ bản của mình là độc quyền sử dụng vũ lực một cách chính đáng Nhà nước suy yếu khiến cho các chủ thể phi nhà nước như các nhóm tội phạm, ly khai và khủng bố lớn mạnh Thí dụ

về khu vực này là các lãnh thổ “không được cai trị” ở châu Phi như

Somalia, Sudan và Liberia Khu vực thế giới hiện đại là nơi các quốc gia dân

tộc truyền thống tồn tại trong một hệ thống quan hệ quốc tế vô chính phủ (anarchy) Các quốc gia dân tộc này có độc lập chủ quyền tuyệt đối Nhà nước độc quyền sử dụng vũ lực trong nước và một nước có thể sử dụng vũ lực để chống lại các nước khác Trong khu vực thế giới hiện đại, cân bằng quyền lực là hình thức duy trì ổn định, vì thế nơi đây có trật tự song cũng có nhiều rủi ro Phần lớn các quốc gia hiện nay tập trung ở khu vực thế giới

hiện đại này Khu vực thế giới hậu hiện đại là nơi hệ thống quốc gia của thế

giới hiện đại sụp đổ song sự sụp đổ này không dẫn đến hỗn loạn như của thế giới tiền hiện đại mà tạo ra trật tự mới, ổn định hơn Thế giới hậu hiện đại

8 Stephen Krasner (1999) Sovereignty: Organized Hypocrisy (Princeton: Princeton University Press) Tr.3, 4, 5, 7, 58

Trang 31

không dựa trên cân bằng quyền lực, không nhấn mạnh chủ quyền tuyệt đối hoặc khu biệt giữa công việc trong và ngoài nước Khác với thế giới hiện đại, các quốc gia của thế giới hậu hiện đại có tinh thần đoàn kết và yêu chuộng hòa bình hơn Trong thế giới hậu hiện đại, biên giới quốc gia lãnh thổ “cứng” kém quan trọng hơn Các yếu tố truyền thống của chủ quyền quốc gia nhường chỗ cho sự tùy thuộc và giám sát lẫn nhau Lợi ích quốc gia

và các biện pháp để đạt lợi ích quốc gia đã vượt ra ngoài việc bảo vệ và duy trì chủ quyền quốc gia Trong thế giới này, nhân nhượng một số cấu phần truyền thống của chủ quyền quốc gia không đem lại rủi ro mà lại tạo ra an

ninh, thịnh vượng và ổn định hơn do điều này tạo ra tùy thuộc lẫn nhau.9

Cũng như CQQG, vấn đề về độc lập, tự chủ là những vấn đề không mới, thậm chí rất cũ song thường gây tranh cãi gay gắt tại nhiều nước do tính phức tạp, đan xen lẫn nhau và dễ biến đổi về bản chất và nội dung của chúng trong quá trình phát triển của từng nước, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế ngày càng trở nên sâu và rộng hơn trên toàn thế giới

Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa: "Tự chủ" là loại quyền đặc biệt để có thể kiểm soát được một khu vực về quyền cai trị, con người hay bản thân một ai đó "Độc lập" là chế độ tự trị của một đất nước, một quốc gia bởi chính người dân sinh sống ở đó, nghĩa là có chủ quyền tối

cao Các học giả nước ngoài như David Held (2002) cho rằng “Tự chủ là

việc không phân chia và không ngăn trở quyền lực để hình thành và củng cố luật pháp, và đặc điểm này xác định đặc tính của một quốc gia.” 10 Theo

định nghĩa của John Austin (1955) thì “Một quốc gia tự chủ khi có một bộ

máy nội bộ điều khiển xã hội một cách hiệu quả và không bị chỉ huy/điều

9 Robert Cooper 2003 The Breaking of Nations (Grove Press) Tr 16, 18, 22, 26, 27, 36, 37

10 David Held (2002): Law of State, Law of Peoples: Three Models of Sovereignty, tr.4

Trang 32

hành bởi bất cứ một lực lượng bên ngoài nào.” 11 Định nghĩa này tuy tương đối đầy đủ song chỉ đúng trong bối cảnh một quốc gia “độc lập,” theo nghĩa

“cô độc” nghĩa là không tham gia các công ước, điều ước quốc tế hay khu vực

Khái niệm độc lập, tự chủ ra đời cùng với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Độc lập, tự chủ là quyền của mọi dân tộc được tự quyết định vận mệnh của mình; trước hết là giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột của các nước đế quốc, quyết định chế độ chính trị- xã hội bằng cách thiết lập một nhà nước- dân tộc, xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với thể chế chính trị- xã hội và một nền kinh tế dân tộc được định hướng theo những mục tiêu của từng nước

Độc lập dân tộc còn là phong trào xã hội quốc tế từ sau Chiến tranh

thế giới lần thứ hai, báo hiệu sự sụp đổ không gì ngăn cản được của chủ nghĩa thực dân (cũ và mới) Phong trào xã hội đó đã thức tỉnh hơn 3/4 các dân tộc trên thế giới vùng lên đòi được hưởng các quyền con người chính đáng thích ứng với nền văn hóa của mỗi dân tộc Từ khi giành được độc lập, mỗi nước đã chọn con đường phát triển riêng và thu được những thành quả rất khác nhau Có nhiều nước đã phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao, trở thành những nước công nghiệp mới; nhưng cũng có không ít nước, sau khi giành được độc lập đã diễn ra tình trạng tranh giành quyền lực giữa các phe phái, thậm chí nội chiến triền mien, điển hình là ở Châu Phi; hoặc giới cầm quyền trở nên độc tài, áp dụng những chính sách không phù hợp với xu thế thời đại đã trở nên tụt hậu, nghèo đói

11 John Austin, The province of Jurisprudence Determined (London: Weidenfeld and Nocolson, 1955; orig published 1832), p.195

Trang 33

Các trạng thái phát triển trái ngược nhau giữa các nước sau khi giành được độc lập đã chứng tỏ rằng, giành độc lập dân tộc là mục tiêu quan

trọng nhất khi đất nước còn bị ngoại bang đô hộ; nhưng bảo vệ nền độc lập

đó và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ mới là mục tiêu lâu dài của mỗi dân tộc Mục tiêu đó có được thực hiện hay không và cần bao nhiêu thời

gian để một nước vốn có nền kinh tế lạc hậu, lệ thuộc bên ngoài trở thành một quốc gia hùng mạnh, thịnh vượng, người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc tùy thuộc chủ yếu vào việc Chính phủ vạch ra các chiến lược phát triển, khai thác được lợi thế và tiềm năng của dân tộc trong thời đại mới

Độc lập trong cụm từ “độc lập dân tộc” thường đi với cụm từ “tự chủ” thành một cụm từ chung “độc lập, tự chủ” nhằm làm rõ hơn nội hàm của chúng, vừa là thể hiện mối quan hệ với bên ngoài, vừa thể hiện sự vận động bên trong Độc lập, tự chủ để chỉ khả năng của một thực thể (trong trường hợp này là một quốc gia) trong việc tự mình quyết định mọi công việc đối nội, đối ngoại của quốc gia đó: lựa chọn thể chế chính tri (quân chủ lập hiến, cộng hoà tổng thống, cộng hoà nghị viện, dân chủ cộng hoà, cộng hoà xã hội chủ nghĩa….) và về đường lối đối nội, đối ngoại mà không lệ thuộc vào bất cứ quốc gia nào, không bị can thiệp và chi phối bởi quốc gia nào, cũng không chịu ảnh hưởng, hoặc “theo đuôi” một quốc gia nào.12

Độc lập không phải là một quyền đơn nhất, mà là một tập hợp gồm nhiều quyền và nghĩa vụ khác nhau Chỉ những quyền và nghĩa vụ nào được

các quốc gia tiến hành “trao đổi tương đương,” tức là công nhận lẫn nhau, thì mới có hiệu lực pháp lý trong phạm vi quan hệ giữa các quốc gia đó

12 Trương Đình Tuyển 2009 Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam: Nhìn

từ góc độ chính trị Báo cáo chuyên đề

Trang 34

Thứ nhất, cần phân biệt độc lập trong các lĩnh vực đối ngoại, chính trị,

kinh tế, xã hội, lãnh thổ Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) năm 1946 và Tuyên bố của LHQ năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đã pháp điển hoá độc lập quốc gia thành các cấu phần sau: quyền toàn vẹn lãnh thổ, quyền bình đẳng, quyền dân tộc tự quyết, nghĩa vụ tôn trọng các quyền con người cơ bản, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế Các quyền và nghĩa

vụ này có mối quan hệ qua lại chặt chẽ, ràng buộc và thúc đẩy lẫn nhau, nhưng vẫn mang tính độc lập tương đối Trên thực tế, hai quốc gia có thể công nhận quyền độc lập của nhau một cách đầy đủ hoặc từng phần riêng biệt Ví dụ, một quốc gia có thể công nhận một chính thể ở một nước khác, nhưng không công nhận chủ quyền lãnh thổ của chính thể đó.13 Ngược lại, một quốc gia có thể công nhận chủ quyền lãnh thổ của một nước, nhưng không công nhận chính thể cầm quyền tại nước đó vì nghi ngờ tính hợp hiến của nó.14

Tương tự như vậy, độc lập trong đối nội không phải luôn đi kèm với độc lập về đối ngoại Các khu vực tự trị, nước cộng hoà tự trị trực thuộc hay các bang trong thành phần một quốc gia liên bang thường không có quyền độc lập về đối ngoại, trong khi có thể được trao những quyền độc lập lớn về đối nội Ngược lại, có các chính phủ không có chủ quyền lãnh thổ, nhưng lại

có đặc quyền ngoại giao như Malta (thuộc Italia), các công quốc (condominium) chỉ có chủ quyền hình thức của triều đình như Monaco

13 Chẳng hạn, vào giai đoạn cuối Hội nghị Pari về Việt Nam, phía Mỹ buộc phải công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, nhưng không công nhận Miền Nam thuộc chủ quyền lãnh thổ của Chính phủ này

14 Mặc dù vẫn công nhận độc lập của Ucraina, Mỹ và các nước phương Tây đã không công nhận chính phủ của ông Yanukovich sau cuộc bầu cử tháng 4/2004 dẫn đến cuộc “cách mạng cam”

Trang 35

(thuộc Pháp), vương quốc Xứ Wales (thuộc Anh) vẫn có quy chế quan sát viên tại LHQ

Thứ hai, quyền độc lập trên danh nghĩa pháp lý trong mỗi lĩnh vực có

thể có nhiều cấp độ khác nhau Bảng 1.1 cho thấy một số cấp độ cơ bản từ thấp đến cao của quyền độc lập thường gặp trong quan hệ quốc tế

và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, nhưng lại tạm thời chia cắt lãnh thổ Việt Nam thành hai khu vực hành chính Miền Bắc và Miền Nam có chính quyền riêng Nền độc lập trọn vẹn của dân tộc chỉ giành được sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975

Thứ ba, số lượng và tầm ảnh hưởng quốc tế của các quốc gia công

nhận nền độc lập cho một quốc gia khác cũng có ý nghĩa rất quan trọng Càng có nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế có tầm ảnh hưởng lớn công nhận, thì không gian đối ngoại của quốc gia được công nhận nền độc lập càng mở rộng, càng có nhiều cơ hội tham gia vào các hoạt động, tổ chức quốc tế, thiết lập các quan hệ hợp tác cùng có lợi, tiếp cận thị trường và thu hút các nguồn

Trang 36

lực bên ngoài Ví dụ, Đài Loan hiện chỉ còn được 23 quốc gia quốc gia nhỏ công nhận độc lập, nhưng vẫn là thành viên của IMF, WTO, APEC với tư cách là một nền kinh tế Tỉnh tự trị Kosovo thuộc Cộng hoà Serbia đơn phương tuyên bố độc lập đã được Mỹ, Anh, Pháp, Úc và hơn 40 nước khác công nhận Hai nước cộng hoà tự trị Nam Ôxêchia và Ápkhazia vốn thuộc Grudia được Nga “giải phóng” mới chỉ được Nga và một vài nước khác công nhận

Độc lập mới chỉ thể hiện chủ quyền quốc gia về mặt pháp lý Nếu không có sức mạnh bảo vệ và thực thi, thì quyền chính đáng này và những lợi ích hợp pháp từ nó có thể bị xâm phạm, lợi dụng, thậm chí tước đoạt Tự chủ chính là thực lực tổng hợp của quốc gia, là năng lực huy động, tập hợp

và sử dụng mọi sức mạnh để thực hiện chủ quyền hợp pháp Tự chủ cũng có kết cấu phức tạp

Thứ nhất, các lĩnh vực chủ quyền khác nhau đòi hỏi những năng lực

tự chủ không hoàn toàn giống nhau Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đòi hỏi phải có sức mạnh quốc phòng, năng lực ngoại giao; để đảm bảo chủ quyền

về chính trị cần phải có năng lực lãnh đạo, điều hành đất nước, có uy tín và ảnh hưởng quốc tế; để thực thi chủ quyền về kinh tế thì cần có tiềm lực, sức cạnh tranh kinh tế cao, duy trì được ổn định vĩ mô; để giữ gìn chủ quyền về mặt xã hội cần phải có năng lực quản trị, định hướng, đạt được đồng thuận

xã hội, đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm được trật tự, an toàn xã hội

Thứ hai, sức mạnh tự chủ bao gồm hai thành phần: sức mạnh cứng và sức mạnh mềm Sức mạnh cứng là khả năng tác động, áp đặt ý chí của mình

lên đối tác khác bằng răn đe Sức mạnh cứng bao gồm nguồn nhân lực, lãnh thổ, tài nguyên, tiềm lực kinh tế, quân sự, các quan hệ chính trị, kinh tế, quân sự chiến lược, Sức mạnh mềm là khả năng lôi cuốn, thuyết phục

Trang 37

người khác bằng lẽ phải, chính nghĩa, uy tín hay sức hấp dẫn của mình Sức mạnh mềm của một quốc gia gồm các giá trị văn hoá, tinh thần, khả năng sáng tạo, sự đồng thuận xã hội và đoàn kết toàn dân, khả năng lãnh đạo, điều hành đất nước, hệ thống thể chế trong nước, uy tín và ảnh hưởng quốc tế,

Năng lực tự chủ cần được đảm bảo bằng việc huy động và sử dụng

hiệu quả cả các nguồn nội lực và ngoại lực, kết hợp thành sức mạnh tổng

hợp của quốc gia, trong đó nội lực đóng vai trò chủ đạo

- Tiềm lực khoa học-công nghệ

- Các giá trị văn hoá, tinh thần;

- Năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước;

Ngoại lực

- Các liên minh chính trị, kinh tế, quân

sự, quan hệ chiến lược

- Các nguồn vốn, công nghệ hiện đại, nhân lực chất lượng cao có thể thu hút

- Các tri thức, lý luận, mô hình phát triển tiên tiến trên thế giới

- Sự ủng hộ về tinh thần của các nước bè bạn và các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hoà bình

Thứ ba, tự chủ hàm ý có năng lực hoạch định chủ trương, đường lối,

chiến lược, chính sách đối nội và đối ngoại phù hợp, hiệu quả, đồng thời có khả năng xử lý, đáp trả tốt nhất các thách thức, rủi ro, thậm chí các tình huống khủng hoảng, xung đột có nguồn gốc cả từ bên ngoài và bên trong, đe doạ chủ quyền, an ninh quốc gia cũng như trật tự, an toàn xã hội Rõ ràng là

Trang 38

nếu không có một cơ chế phối hợp hiệu quả, có khả năng thích nghi, ứng phó nhanh chóng với hoàn cảnh thay đổi, thì việc sở hữu các sức mạnh và nguồn lực to lớn trở thành sự lãng phí, không mang lại kết quả mong muốn

I.1.2 Sự kết hợp độc lập, tự chủ trong chủ quyền quốc gia

Độc lập và tự chủ là những phạm trù đóng vai trò then chốt trong các

lĩnh vực chính trị, luật pháp và quan hệ quốc tế Về mặt khái niệm, độc lập

dùng để chỉ trạng thái của một chủ thể không bị phụ thuộc, không chịu sự

khống chế của các thế lực khác, còn tự chủ dùng để chỉ năng lực bên trong

của chủ thể cho phép tự kiểm soát và làm chủ tình hình, chủ động đưa ra các quyết sách nhằm thực hiện các mục tiêu mà mình đề ra Như vậy, độc lập phản ánh nhiều hơn khía cạnh bên ngoài; còn tự chủ phản ánh nhiều hơn

khía cạnh bên trong của cùng một hiện tượng Đó là hai khái niệm thống

nhất, nhưng không đồng nhất

Thực ra, không có một thực thể nào tồn tại một cách độc lập mà luôn luôn quan hệ tương tác với một thực thể khác trong một hệ thống Hệ thống này lại tương tác với một hệ thống khác cùng bậc trong một hệ thống lớn hơn Một thực thể chỉ thể hiện mình trong mối quan hệ với thực thể khác

Đây cũng là phép biện chứng của tự nhiên và xã hội Đối với các chủ thể

quốc gia, tính thống nhất của cặp phạm trù độc lập và tự chủ thể hiện một đặc trưng cơ bản nhất, cũng như một thuộc tính thiết yếu nhất – đó là chủ quyền quốc gia Theo lý luận về luật quốc tế, chủ quyền là địa vị pháp lý tối

cao của mỗi quốc gia về đối nội và đối ngoại trong tất cả các lĩnh vực lãnh thổ, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Chủ quyền liên kết ba yếu tố dân cư, lãnh thổ và chính quyền hợp thành một chủ thể quốc gia thống nhất Sự kết hợp biện chứng giữa hai mặt độc lập và tự chủ hợp trong một khái niệm thống nhất – chủ quyền quốc gia phản ánh sự thực thi hợp pháp quyền lực

Trang 39

của quốc gia ấy, trong đó độc lập phản ánh khía cạnh “quyền” hay quyền

hạn, còn tự chủ phản ánh khía cạnh “lực” hay thực lực của quốc gia đó đặt

trong mối tương quan với “quyền” và “lực” của các quốc gia và chủ thể quốc tế khác Sự kết hợp này hàm ý mỗi quốc gia vừa là một tác nhân riêng biệt, tự quyết về đối nội, vừa là một pháp nhân bình đẳng, bất khả xâm phạm

về đối ngoại, có quyền ký kết các thoả thuận song phương và đa phương, tham gia hoặc rút khỏi các cam kết và tổ chức quốc tế

Điều đáng lưu ý là cần tránh lẫn lộn hai khái niệm “quyền tự chủ” và

“chủ quyền quốc gia,” mặc dù nhiều khi người ta thường dùng khái niệm

“chủ quyền quốc gia” để hàm ý đến “quyền tự chủ quốc gia.” Thật ra hai cụm từ này là hai mặt của một vấn đề: chủ quyền là một khái niệm mang

tính pháp lý (tiếng Latinh là de jure), trong khi qưyền tự chủ là biểu hiện trên thực tế (tiếng Latinh là de factor) của khái niệm ấy Chính vì vậy, khái

niệm chủ quyền thường được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm cả hai mặt này.15 Trong công pháp quốc tế, chủ quyền là quyền lực tối cao ban hành và

áp dụng các luật lệ và chính sách, điều hành/quản lý mọi hoạt động xã hội và chính trị trong một nước Theo khái niệm này, không có nước nào có chủ quyền bị xâm phạm, thậm chí cả những nước thành viên của Liên minh châu

Âu, bởi vì, ở bình diện quốc gia, chưa có hệ thống nào thay thế các nhà nước trong chức năng ấy Vấn đề ở đây là các nhà nước thật sự chủ động tới đâu trong việc chọn lựa chính sách, luật lệ và biện pháp thi hành lại là chuyện khác Quyền tự chủ này giới hạn bởi nhiều ràng buộc và cản trở, ở cả bình diện quốc gia và quốc tế, do nhiều nhân tố, như: hệ thống pháp lý quốc tế,

15 Đỗ Tuyết Khanh (2006), “Quyền tự chủ quốc gia và chuẩn quốc tế trong kinh tế”, Tạp chí Nghiên cứu & Thảo luận, số 9 tháng 11/2006

Trang 40

tình hình kinh tế và chính trị trên thế giới và tương quan lực lượng (cục diện) giữa các nước

Độc lập phản ánh chủ quyền de jure, tức là chủ quyền trên danh

nghĩa, chủ quyền về khía cạnh pháp lý, được nhân dân trong nước ủy quyền

và cộng đồng quốc tế công nhận Một nền độc lập tự xưng, tự tuyên bố,

không được ai công nhận, thì không có giá trị pháp lý Nói cách khác, đây là khuôn khổ, ranh giới pháp lý bên trong và bên ngoài của quốc gia trên tất cả các mặt lãnh thổ, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Khác với chủ nghĩa biệt lập hay tình trạng cô lập – phản ánh việc quốc gia, vì lý do chủ quan hay khách quan, tách rời khỏi môi trường quốc tế, cắt đứt các quan hệ đối ngoại, độc lập một không phải là một quyền đơn nhất, mà là một tập hợp gồm nhiều quyền và nghĩa vụ khác nhau của quốc gia16, không loại trừ, mà còn

ngầm định khả năng hợp tác về chủ quyền giữa các quốc gia Tuy nhiên, chủ

quyền được công nhận trên danh nghĩa chỉ là điều kiện cần, mà chưa phải là điều kiện đủ để bảo đảm cho chủ quyền trên thực tế Tự chủ chính là năng lực hiện thực hoá chủ quyền quốc gia trên thực tế, là thực lực của quốc gia, tức là chủ quyền de facto17 Đây chính là điều kiện đủ cho việc thực hiện chủ quyền

Các quốc gia có thể bình đẳng về quyền độc lập trên danh nghĩa, chứ không bình đẳng về sức mạnh tự chủ trong thực tế Ngay cả một quốc gia có nền độc lập đầy đủ, nếu không có thực lực vẫn có thể bị lệ thuộc, bị chia cắt, thậm chí bị xóa sổ bởi các thế lực bên ngoài, hoặc mất kiểm soát, bị chia rẽ,

16 Hiến chương LHQ năm 1946 và Tuyên bố của LHQ năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

đã pháp điển hoá độc lập quốc gia thành các quyền và nghĩa vụ sau: về đối nội là quyền dân tộc tự quyết, nghĩa vụ tôn trọng các quyền con người cơ bản; về đối ngoại là quyền toàn vẹn lãnh thổ, quyền bình đẳng

giữa các quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế

17 Trong tiếng Anh, nhóm tác giả phân biệt tự trị (autonomy) với tự chủ (self-governance, self-control) Tự trị dùng để chỉ quyền cai quản các cộng việc trong phạm vi lãnh thổ của mình

Ngày đăng: 16/04/2014, 09:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chỉ đạo Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm Đổi Mới ở Việt Nam. Việt Nam 20 năm Đổi Mới. Nxb Chính trị Quốc gia, H.:2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Chỉ đạo Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm Đổi Mới ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
2. Bộ Ngoại giao Việt Nam. Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000. Nxb Chính trị Quốc gia, H.: 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Ngoại giao Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
3. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. Nxb Sự thật, H.: 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
4. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb Sự thật, H.: 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
5. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Nxb Sự thật, H.: 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
6. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, H.: 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
7. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia, H.: 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
8. Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông cáo ngày 21/12/1941 của Trung ương gửi các cấp bộ đảng “Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng”. Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, H.: 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam. "Thông cáo ngày 21/12/1941 của Trung ương gửi các cấp bộ đảng “Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
9. D−ơng Phú Hiệp, Vũ Văn Hà. Toàn cầu hoá kinh tế. Nxb Khoa học xã hội, H.: 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: D−ơng Phú Hiệp, Vũ Văn Hà
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
10. Đặng Hữu. Kinh tế tri thức: thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia, H.: 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Hữu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
11. Đinh Quý Độ. Trật tự kinh tế thế giới hai thập niên đầu thế kỷ XXI. Nxb ThÕ giíi, H.: 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Quý Độ
Nhà XB: Nxb ThÕ giíi
12. Đỗ Tuyết Khanh. Quyền tự chủ quốc gia và chuẩn quốc tế trong kinh tế// Tạp chí Thời Đại Mới, số 9, tháng 11/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Tuyết Khanh
13. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng. Tập 4, tr. 56-58. Nxb Chính trị Quốc gia, H.: 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
14. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi. Tập 12, tr. 560- 563. Nxb Chính trị Quốc gia, H.: 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
15. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Trả lời ông Vaxiđép Rao, thông tín viên hãng Roitơ. Tập 5, tr. 134-138. Nxb Chính trị Quốc gia, H.: 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
17. Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 1996-2000. Chương trình KHXH.06. Về những vấn đề CNTB hiện đại (Chủ nhiệm: PGS.TS. Đỗ Lộc Diệp) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 1996-2000
18. Hội đồng lý luận Trung ương. Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Toàn cầu hoá và vấn đề hôi nhập của Việt Nam”. Hà Nội, tháng 1 năm 2000 (Tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội đồng lý luận Trung ương". Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Toàn cầu hoá và vấn đề hôi nhập của Việt Nam
19. Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2001-2005. Chương trình KX.08. Những đặc điểm chủ yếu, những xu thế của thế giới và khu vực trong hai thập niên đầu Thế kỷ XXI (Chủ nhiệm GS. Nguyễn Đức Bình) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2001-2005
22. Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2001-2005. Chương trình KX.06. Dự báo chiến tranh kiểu mới của địch, đề xuất các chủ trương, giải pháp đối phó (Chủ nhiệm: Trung tướng PGS.TS. Trương Khánh Châu) (Lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2001-2005
24. Hội đồng Lý luận Trung ương. Kỷ yếu hội thảo khoa học “Toàn cầu hoá và vấn đề hội nhập của Việt Nam”. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội đồng Lý luận Trung ương. "Kỷ yếu hội thảo khoa học “Toàn cầu hoá và vấn đề hội nhập của Việt Nam

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Các thành tố tự chủ quốc gia - Quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh mới của việt nam
Bảng 1.2 Các thành tố tự chủ quốc gia (Trang 37)
Hình 1.1: Kết cấu chủ quyền quốc gia - Quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh mới của việt nam
Hình 1.1 Kết cấu chủ quyền quốc gia (Trang 42)
Bảng 1.3: Các hình thức liên kết kinh tế khu vực - Quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh mới của việt nam
Bảng 1.3 Các hình thức liên kết kinh tế khu vực (Trang 53)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w