1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuyên đề thực tập phân tích cấu trúc tài chính khách sạn hotel de l opera hanoi

51 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề thực tập phân tích cấu trúc tài chính khách sạn Hotel De L’Opera Hanoi
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Phân Tích Cấu Trúc Tài Chính
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 525 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp (5)
    • 1.1 Một số vấn đề chung về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp (0)
    • 1.2 Khái niệm và ý nghĩa phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp (6)
      • 1.2.1 Khái niệm phân tích cấu trúc tài chính (6)
      • 1.2.2 Ý nghĩa của việc phân tích cấu trúc tài chính (7)
    • 1.3 Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp (8)
      • 1.3.1 Phân tích cơ cấu tài sản (8)
      • 1.3.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn (13)
      • 1.3.3 Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn (18)
    • 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp (21)
      • 1.4.1 Đặc điểm của nền kinh tế (21)
      • 1.4.2 Đặc điểm của ngành kinh doanh (23)
      • 1.4.3 Giai đoạn phát triển trong chu kì sống của doanh nghiệp (0)
  • Chương 2: Phân tích cấu trúc tài chính khách sạn Hotel De L’Opera Hanoi (25)
    • 2.1 Giới thiệu chung về khách sạn (25)
    • 2.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh (25)
    • 2.3 Đặc điểm bộ máy quản lý của khách sạn (27)
    • 2.4 Tổ chức công tác kế toán tại khách sạn (30)
      • 2.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán (30)
      • 2.4.2 Hình thức tổ chức sổ sách kế toán (32)
    • 2.5 Phân trích cấu trúc tài chính của khách sạn (0)
      • 2.5.1 Phân tích cấu trúc tài sản của khách sạn (33)
      • 2.5.2 Phân tích cấu trúc nguồn vốn khách sạn (39)
        • 2.5.2.1 Phân tích tính tự chủ về tài chính (39)
        • 2.5.2.2 Phân tích tính ổn định tài chính của nguồn tài trợ (42)
      • 2.5.3 Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn (44)
  • Chương 3: Một số biện pháp cải thiện cấu trúc tài chính khách sạn Hotel De L’Opera Hanoi (0)
    • 3.1 Nhận xét cấu trúc tài chính khách sạn (46)
      • 3.1.1 Ưu điểm (46)
      • 3.1.2 Nhược điểm (47)
    • 3.2 Phương hướng phát triển của khách sạn trong thời gian tới (47)
    • 3.3 Một số biện pháp cải thiện cấu trúc tài chính khách sạn Hotel De L’Opera Hanoi (48)
  • Kết luận (50)

Nội dung

MỤC LỤC MỤC LỤC Lời mở đầu 4 Chương 1 Cơ sở lý luận về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 5 1 1 Một số vấn đề chung về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 5 1 2 Khái niệm và ý nghĩa phân[.]

Trang 1

MỤC LỤC

Lời mở đầu 4

Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 5

1.1 Một số vấn đề chung về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 5

1.2 Khái niệm và ý nghĩa phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 6

1.2.1 Khái niệm phân tích cấu trúc tài chính 7

1.2.2 Ý nghĩa của việc phân tích cấu trúc tài chính 5

1.3 Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp 8

1.3.1 Phân tích cơ cấu tài sản 8

1.3.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn 13

1.3.3 Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn 18

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp 21

1.4.1 Đặc điểm của nền kinh tế 21

1.4.2 Đặc điểm của ngành kinh doanh 23

1.4.3 Giai đoạn phát triển trong chu kì sống của doanh nghiệp 23

Chương 2: Phân tích cấu trúc tài chính khách sạn Hotel De L’Opera Hanoi 2.1 Giới thiệu chung về khách sạn 25

2.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh 25

2.3 Đặc điểm bộ máy quản lý của khách sạn 27

2.4 Tổ chức công tác kế toán tại khách sạn 30

2.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán 30

2.4.2 Hình thức tổ chức sổ sách kế toán 32

2.5 Phân trích cấu trúc tài chính của khách sạn 33

2.5.1 Phân tích cấu trúc tài sản của khách sạn 33

2.5.2 Phân tích cấu trúc nguồn vốn khách sạn 39

2.5.2.1 Phân tích tính tự chủ về tài chính 39

Trang 2

2.5.2.2 Phân tích tính ổn định tài chính của nguồn tài trợ 42

2.5.3 Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn 44

Chương 3: Một số biện pháp cải thiện cấu trúc tài chính khách sạn Hotel De L’Opera Hanoi 46

3.1 Nhận xét cấu trúc tài chính khách sạn 46

3.1.1 Ưu điểm 46

3.1.2 Nhược điểm 47

3.2 Phương hướng phát triển của khách sạn trong thời gian tới 47

3.3 Một số biện pháp cải thiện cấu trúc tài chính khách sạn Hotel De L’Opera Hanoi 48

Kết luận 50

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, sự cạnhtranh trong kinh doanh ngày càng trở nên gay gắt Để đứng vững trên thị trường, để cóđược các quyết định kinh doanh đúng đắn, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng đều quantâm đến tình hình tài chính, nó được đặt lên hàng đầu vì ổn định tình hình tài chính là

cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Xuất phát từ nhu cầu quản lý kinh

tế ngày càng cao, các doanh nghiệp đã có sự quan tâm thích đáng đến công tác phântích tình hình tài chính Việc phân tích tình hình tài chính giúp cho thông tin cung cấptrên các Báo cáo tài chính thực sự có ý nghĩa với người sử dụng Qua phân tích họ cócăn cứ để đánh gi tốt hơn tình hình sử dụng vốn cũng như thực trạng hoạt động củadoanh nghiệp, xác định được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ cũng như xu hướng tácđộng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh, từ đó các đối tượng quan tâm có thể raquyết định tối ưu nhất Bên cạch đó việc phân tích cấu trúc tài chính còn cho ta biếtđược nguồn vốn đơn vị đang sử dụng được hình thành từ những nguồn tài trợ nào?Trong điều kiện như thế nào thì doanh nghiệp cần huy động thêm nguồn vốn cho hoạtđộng của mình? Đồng thời, phân tích cấu trúc tài chính sẽ giúp ta đánh giá được hiệuquả hoạt động cũng như mức rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải Nhận thức đượctầm quan trọng của vấn đề trên và để hiểu sâu hơn trong thực tiễn, trong thời gian thực

tập tại Khách sạn Hotel De L’Opera Hanoi em đã lựa chọn đề tài: “Phân tích cấu trúc

tài chính khách sạn Hotel De L’Opera Hanoi” làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp của

mình Nội dung chuyên đề gồm ba phần:

Phần 1: Cơ sở lý luận về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Phần 2: Phân tích cấu trúc tài chính khách sạn Hotel De L’Opera Hanoi

Phần 3: Một số biện pháp cải thiện cấu trúc tài chính khách sạn Hotel De

L’Opera Hanoi

Trang 5

Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích cấu trúc tài chính

doanh nghiệp

1 Một số vấn đề chung về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp

1.1 Khái niệm về cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là toàn bộ các quan hệ tài chính biểu hiện qua quá trìnhhuy động và sử dụng vốn nhằm tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp Chức năng huyđộng còn gọi là chức năng tài trợ, là quá trình tạo ra các luồng tiền vào từ các nguồnlực bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để doanh nghiệp hoạt động lâu dài với chi phíthấp Chức năng sử dụng vốn hay còn gọi là đầu tư liên quan đến việc phân bổ vốn ởđâu, khi nào sao cho vốn được sử dụng có hiệu quả nhất

Cấu trúc tài chính là một khái niệm rộng phản ánh tổng thể tình hình tài chính củadoanh nghiệp trên hai mặt, đó là cơ cấu nguồn vốn và quá trình huy động vốn, phảnánh chính sách tài trợ của doanh nghiệp Cơ cấu tài sản gắn liền với việc sử dụng vốn,

nó chịu sự tác động của các chiến lược kinh doanh, thể hiện mối quan hệ, sự vận độngcủa các yếu tố nguồn vốn và tài sản nhằm tối đa hóa lợi nhuận

Cấu trúc tài sản là những quan hệ kinh tế nhằm phản ánh tình hình vốn của doanhnghiệp, là việc bố trí vốn vào từng loại tài sản trong tổng tài sản của doanh nghiệp.Cấu trúc vốn là những quan hệ tài chính phản ánh quá trình huy động vốn gắnliền với chính sách tài trợ của doanh nghiệp nhằm đảm bảo vốn trong hoạt động sảnxuất kinh doanh Cấu trúc nguồn vốn thể hiện cơ cấu nguồn vốn dùng để đầu tư vào tàisản của doanh nghiệp

Mối quan hệ giữa cấu trúc tài sản và cấu trúc nguồn vốn thể hiện sự cân bằng tàichính của doanh nghiệp Cấu trúc tài sản chỉ ra phần tài sản trên bảng cân đối kế toán

Trang 6

của doanh nghiệp gồm hai bộ phận: tài sản cố định có thời gian lưu chuyển trên mộtnăm và tài sản lưu động có thời gian lưu chuyển trong một năm hay một chu kì kinhdoanh.

Cấu trúc nguồn vốn phản ánh việc sử dụng vốn với những trách nhiệm pháp lýnhất định Đối với nguồn vốn vay, doanh nghiệp phải thanh toán cả tiền gốc và lãitrong một thời gian xác định, được quy định trong hợp đồng giữa doanh nghiệp vàngân hàng cung cấp tín dụng Đối với nguồn vốn chủ sở hữu, mặc dù không phải chịusức ép thanh toán song chủ sở hữu kì vọng về sự gia tăng vốn Như vậy, cấu trúc nguồnvốn phản ánh tính tự chủ về tài chính và tính ổn định trong tài trợ của doanh nghiệp.Mặt khác, do sự vận động tài sản tách rời với thời gian sử dụng vốn nên các nguồn vốnphải huy động như thế nào là hợp lý, tức là với chi phí thấp nhất và giảm được áp lựcthanh toán Nói một cách khác, cấu trúc tài sản và cấu trúc nguồn vốn có liên quan đếntính an toàn, tính bền vững và cân đối trong tài trợ sử dụng vốn của doanh nghiệp

1.2 Khái niệm và ý nghĩa phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm phân tích cấu trúc tài chính

Cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp thường được các nhà quản lý xem xéttheo nghĩa rộng, tức là xem xét cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữatài sản với nguồn vốn Thông qua phân tích cơ cấu tài sản, nhà quản lý sẽ nắm bắt đượctình hình sử dụng vốn, phân tích cơ cấu nguồn vốn để thấy được tình hình và chínhsách huy động vốn còn mối quan hệ giữa tài sản, nguồn vốn lại cho biết chính sách sửdụng vốn của doanh nghiệp

Phân tích cấu trúc tài chính là việc phân tích tình hình huy động, sử dụng vốn củadoanh nghiệp Qua đó, giúp nhà quản lý nắm được tình hình phân bổ tài sản, nguồn tàitrợ tài sản cũng như nhận biết các dấu hiệu ảnh hưởng đến cân bằng tài chính Nhàquản lý sẽ dựa vào đây làm căn cứ để ra các quyết định điều chỉnh chính sách huy động

và sử dụng vốn của mình, bảo đảm cho doanh nghiệp có một cấu trúc tài chính lành

Trang 7

mạnh, hiệu quả và tránh được những rủi ro trong kinh doanh Đồng thời, những kếtluận rút ra sau khi phân tích cấu trúc tài chính sẽ góp phần củng cố những đánh giákhái quát về tình hình tài chính trước đó.

1.2.2 Ý nghĩa của việc phân tích cấu trúc tài chính

Phân tích cấu trúc tài chính được sử dụng như một công cụ khảo sát cơ bản trongviệc lựa chọn các quyết định đầu tư Ngoài ra, nó còn được sử dụng như công cụ dựđoán các điều kiện và kết quả tài chính trong tương lai, và là công cụ đánh giá của nhàquản trị doanh nghiệp Các chỉ tiêu phân tích là đối tượng được quan tâm hàng đầu củanhà quản trị, nhà cung cấp tín dụng, nhà đầu tư

Đối với nhà quản trị, phân tích cấu trúc tài chính là cơ sở để lựa chọn các nguồntài trợ và phân bổ nguồn vốn một cách thích hợp cho hoạt động sản xuất, kinh doanhnhằm giúp doanh nghiệp tồn tại, làm ăn có lãi

Đối với người cho vay (nhà cung cấp tín dụng), các chỉ tiêu phân tích tài chínhphản ánh phần nào mức độ rủi ro không thu hồi được nợ từ doanh nghiệp Đối với cáckhoản tín dụng ngắn hạn, người cho vay thường quan tâm đến khả năng chuyển hóathành tiền của tài sản lưu động và tốc độ lưu chuyển của tài sản lưu động Trong khi đểđánh giá các khoản tín dụng dài hạn, người cho vay lại quan tâm đến khả năng sinh lờicủa doanh nghiệp, nguồn lực để đáp ứng các khoản thanh toán dài hạn

Đối với nhà đầu tư, họ cần biết tình hình thu nhập của chủ sở hữu, lợi tức cổ phần

và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư Đó là một trong những căn cứ giúp họ ra quyếtđịnh có bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không

Trang 8

1.3 Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp

1.3.1 Phân tích cơ cấu tài sản

Bên cạnh việc tổ chức, huy động vốn cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh,doanh nghiệp phải biết cách sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý, có hiệu quả Điềunày không những giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí huy động vốn mà còn tiếtkiệm được số vốn đã huy động Sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn vốn được thể hiện

ở chỗ: số vốn đã huy động được đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh hay bộ phận tài sảnnào Vì thế phân tích tình hình sử dụng vốn bao giờ cũng được thực hiện trước hếtbằng cách phân tích cơ cấu tài sản Qua phân tích cơ cấu tài sản, các nhà quản lý sẽnắm được tình hình sử dụng số vốn đã huy động, biết được việc sử dụng số vốn đã huyđộng có phù hợp với lĩnh vực kinh doanh và có phục vụ tích cực cho mục đích kinhdoanh của doanh nghiệp hay không

Phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính tỷ trọngcủa từng bộ phận tài sản trong tổng số tài sản và so sánh giữa kì phân tích với kì gốc

Tỷ trọng của từng tài sản bộ phận trong tổng số tài sản được xác định bằng công thức:

Giá trị tài sản loại i

Tổng tài sảnViệc xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếmtrong tổng số tài sản giữa kì phân tích với kì gốc giúp nhà quản lý đánh giá khái quáttình hình phân bổ nguồn vốn nhưng lại không cho biết các nhân tố tác động đến cơ cấutài sản của doanh nghiệp Vì vậy, để biết được chính xác tình hình sử dụng vốn, nắmđược các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến sự biếnđộng về cơ cấu tài sản, người ta còn kết hợp cả phân tích ngang, tức là so sánh sự biếnđộng giữa kì phân tích với kì gốc (cả về số tuyệt đối và tương đối) trên tổng số tài sản

Trang 9

theo từng loại tài sản Bên cạnh đó, nhà phân tích cũng cần xem xét xu hướng biếnđộng của từng bộ phận tài sản theo thời gian để thấy được mức độ hợp lý của việc phân

bổ và so sánh với cấu trúc chung của ngành

Để thuận tiện cho việc đánh giá cơ cấu, tài sản, khi phân tích có thể lập bảng sau:

Mục “Số tiền” ở cột “Cuối năm” phản ánh trị số của từng chỉ tiêu ở thời điểmcuối kì tương ứng, mục “Tỷ trọng” lại phản ánh tỷ trọng của từng bộ phận tài sảnchiếm trong tổng số tài sản Ở cột “Cuối năm N so với cuối năm…”, mục “Số tiền”

Số tiền

Tỷ trọng

Số tiền

Tỷ trọng

Số tiền

Tỷ trọng

Số tiền

Tỷ trọng

Số tiền

Tỷ lệ

Số tiền

Tỷ lệ

Số tiền

Tỷ lệ

Trang 10

phản ánh sự biến động về số tuyệt đối của tổng tài sản cũng như từng loại tài sản theothời gian trong khi mục “Tỷ lệ” lại phản ánh sự biến động về số tương đối.

Qua việc phân tích bảng trên, các nhà quản lý sẽ thấy được những đặc trưng trong

cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, xác định được tính hợp lý của việc sử dụng vốn, quyếtđịnh đầu tư vào loại tài sản nào, thời điểm nào, xác định được việc gia tăng hay cắtgiảm hàng tồn kho cũng như mức dự trữ hàng tồn kho hợp lý trong từng thời kì để saocho có đủ lượng hàng tồn kho cần thiết đáp ứng cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh vànhu cầu tiêu thụ của thị trường mà không làm tăng chi phí hàng tồn kho Bên cạnh đó,nhà quản lý đưa ra được những chính sách thích hợp về thanh toán để vừa khuyếnkhích được khách hàng, vừa thu hồi vốn kịp thời, tránh bị chiếm dụng vốn

Khi tiến hành phân tích, đánh giá, nhà quản lý cần lưu ý một số chỉ tiêu sau:

Về tiền và các khoản tương đương tiền: chỉ tiêu này có tính chất thời điểm khi

được nêu trong “Bảng cân đối kế toán” Tức là khoản mục này có thể tăng hoặc giảmkhông phải do ứ đọng vốn hay thiếu tiền mà có thể doanh nghiệp đang có kế hoạch tậptrung tiền để chuẩn bị đầu tư, mua sắm tài sản hay do doanh nghiệp vừa mới đầu tưvào một số lĩnh vực kinh doanh Để khắc phục nhược điểm này, cần liên hệ với tìnhhình biến động của chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của tiền và cáckhoản tương đương tiền” Đồng thời căn cứ vào nhu cầu thực tế về tiền của doanhnghiệp trong từng giai đoạn để nhận xét

Về đầu tư tài chính: đầu tư tài chính là một hoạt động quan trọng của doanh

nghiệp nhằm phát huy mọi tiềm năng sẵn có cũng như lợi thế của doanh nghiệp đểnâng cao hiệu quả kinh doanh Đầu tư tài chính trong doanh nghiệp bao gồm đầu tưgóp vốn (công ty con, công ty liên kết…) và đầu tư chứng khoán ngắn hạn, dài hạn.Khi xem xét khoản mục này, cần chú ý chính sách đầu tư của doanh nghiệp bởi khôngphải doanh nghiệp nào cũng có điều kiện tài chính như nhau Môi trường đầu tư cũng

có ảnh hưởng đến tỷ trọng khoản mục này Cụ thể, một doanh nghiệp ở trong môi

Trang 11

trường mà thị trường chứng khoán chưa phát triển thì chắc chắn đầu tư tài chính chưathể cao được Đầu tư tài chính chính là cơ hội để doanh nghiệp sử dụng số vốn dư thừa

có hiệu quả, nắm bắt cũng như học hỏi kiến thức và kinh nghiệm quản lý từ đối tácnhằm phát triển doanh nghiệp

Về các khoản phải thu: các khoản phải thu có nhiều loại, trong đó chủ yếu là các

khoản phải thu người mua và tiền đặt trước cho người bán Đây là số vốn doanh nghiệp

bị người mua và người bán chiếm dụng Khi xem xét nội dung này cần liên hệ vớiphương thức tiêu thụ (bán buôn, bán lẻ), chính sách tín dụng thương mại (ngắn hạn haydài hạn), chính sách thanh toán tiền hàng (chiết khấu thanh toán), khả năng quản lý nợcũng như năng lực tài chính của khách hàng Nếu doanh nghiệp áp dụng phương thứcbán lẻ là chủ yếu thì số nợ phải thu sẽ thấp do thu được tiền ngay, ngược lại nếu doanhnghiệp áp dụng phương thức bán buôn thì khoản phải thu sẽ cao.Hoặc với chính sáchtín dụng bán hàng khác nhau, nợ phải thu trong thời kì doanh nghiệp áp dụng chínhsách tín dụng bán hàng dài hạn sẽ lớn hơn số nợ phải thu trong thời kì chính sách tíndụng ngắn hạn Do chính sách tín dụng bán hàng có quan hệ chặt chẽ với lượng hànghóa tiêu thụ và là một biện pháp để kích thích tiêu thụ vì vậy khi phân tích cần liên hệvới lượng hàng tiêu thụ để đánh giá Ngoài ra, chính sách chiết khấu cũng có quan hệtrực tiếp với số nợ phải thu nên doanh nghiệp cần xây dựng và vận hành một chínhsách chiết khấu hợp lý, hiệu quả Để tránh tình trạng gia tăng nợ xấu, nợ khó đòi,doanh nghiệp phải tìm hiểu kỹ năng lực tài chính và tình hình thanh toán của kháchhàng trước khi đặt quan hệ làm ăn

Về hàng tồn kho: để đảm bảo cho quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục,

không bị gián đoạn đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được lượng hàng tồn kho dự trữhợp lý Mục tiêu của doanh nghiệp là có được lượng hàng tồn kho dự trữ hợp lý để vừađáp ứng được nhu cầu kinh doanh liên tục vừa không tăng chi phí tồn kho gây tồn đọngvốn Lượng dự trữ hợp lý phụ thuộc chủ yếu vào những nhân tố sau:

Trang 12

Tính thời vụ trong kinh doanh: tỷ trọng hàng tồn kho sẽ cao trong thời kì nhu cầu

về sản phẩm lớn và những thời điểm khác, lượng hàng tồn kho sẽ thấp hơn

Giai đoạn phát triển của doanh nghiệp: khi sản phẩm, hàng hóa đang ở giai đoạntăng trưởng, lượng dự trữ hàng tồn kho thường cao nhằm đáp ứng nhu cầu chiếm lĩnhthị trường Khi sản phẩm ở trong giai đoạn suy thoái, lượng hàng tồn kho được giảm ởmức thấp nhất nhằm tránh rủi ro

Đặc điểm loại hình doanh nghiệp: nếu là doanh nghiệp kinh doanh thương mại, tỷtrọng hàng tồn kho thường lớn do đối tượng kinh doanh của các doanh nghiệp này làhàng hóa Ngược lại, trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ (nhà hàng, kháchsạn…) hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng thấp Ngoài ra, khoản mục hàng tồn khocòn chịu sự tác động của các yếu tố khác như: quy mô sản xuất - tiêu thụ (lượng vật tưtiêu dùng hay hàng hóa tiêu thụ bình quân một ngày đêm), mức độ chuyên môn hóa, hệthống cung cấp hay tình hình tài chính của doanh nghiệp

Về tài sản cố định: tỷ trọng tài sản cố định trong tổng số tài sản phụ thuộc vào

các yếu tố sau:

Ngành nghề lĩnh vực kinh doanh

Chính sách và chu kì hoạt động của doanh nghiệp: trong giai đoạn đầu tư pháttriển, tỷ trọng tài sản cố định sẽ cao, trong giai đoạn suy thoái doanh nghiệp thanh lýtài sản cố định thì tỷ trọng sẽ thấp

Phương pháp khấu hao mà doanh nghiệp áp dụng bởi phương pháp khấu haokhác nhau sẽ có mức khấu hao khác nhau

Bên cạnh đó, khi phân tích cần đi sâu xem xét tỷ trọng của từng bộ phận tài sản

cố định (tài sản hữu hình, tài sản vô hình, tài sản thuê tài chính) nhằm đánh giá chínhxác hơn tình hình đầu tư và cơ cấu tài sản cố dịnh của doanh nghiệp Cần chú trọng

Trang 13

một số bộ phận tài sản vô hình như: nhãn hiệu hàng hóa, quyền phát hành, bản quyền,bằng sáng chế…vì trong nền kinh tế thị trường, giá trị các bộ phận này có xu hướngtăng.

Về bất động sản đầu tư: bất động sản đầu tư trong các doanh nghiệp bao gồm

quyền sử dụng đất (do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua lại), nhà hoặc một phần nhà, cơ sở

hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chínhnắm giữ Doanh nghiệp nắm giữ những tài sản này không phải để bán trong kỳ hoạtđộng kinh doanh hay sử dụng cho hoạt động sản xuất – kinh doanh mà để cho thuêhoặc chờ tăng giá để bán Khi xem xét tỷ trọng của bất động sản đầu tư chiếm trongtổng số tài sản, cần liên hệ với chính sách, chủ trương kinh doanh bất động sản củadoanh nghiệp cũng như hiệu quả kinh doanh lĩnh vực này để đánh giá

1.3.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn

Để tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải xác định nhu cầu đầu

tư, tiến hành tạo lập, tìm kiếm, tổ chức và huy động vốn Doanh nghiệp có thể huyđộng vốn cho nhu cầu kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có hai nguồnchính là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả

Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp ban đầu

và bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh Ngoài ra vốn chủ sở hữu còn bao gồmmột số khoản khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như: chênh lệch tỷgiá hối đoái, chênh lệch đánh giá lại tài sản, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, các quỹdoanh nghiệp…Vốn chủ sở hữu không phải các khoản nợ nên doanh nghiệp khôngphải cam kết thanh toán

Nợ phải trả phản ánh số vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng trong quá trình hoạtđộng, vì thế doanh nghiệp phải cam kết thanh toán và có trách nhiệm thanh toán Phânchia theo thời hạn thanh toán, nợ phải trả của doanh nghiệp bao gồm: nợ ngắn hạn (các

Trang 14

khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong vòng một năm hay một kìkinh doanh) và nợ dài hạn (các khoản nợ từ một năm trở lên).

Nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn, tiết kiệm chi phí huy động, chi phí sử dụng vốn

và đảm bảo an ninh tài chính cho doanh nghiệp, nhà quản lý cần phân tích để nắmđược cơ cấu vốn huy động, biết được trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người chovay, nhà cung cấp…Đồng thời, nhà quản lý cũng nắm được mức độ độc lập về tàichính cũng như xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn huy động

Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn được xácđịnh như sau:

kỳ gốc Bên cạnh đó, việc xem xét xu hướng biến động của chúng theo thời gian là cầnthiết để nhằm thấy được mức độ hợp lý và an ninh tài chính của doanh nghiệp trongviệc huy động vốn Nhằm thuận tiện cho việc đánh giá, khi phân tích có thể lập bảngsau:

Trang 15

Bên cạnh đó, để phân tích tính độc lập về tài chính của doanh nghiệp, người tathường dựa vào một số chỉ tiêu sau:

Hệ số tài trợ: chỉ tiêu này cho biết trong tổng số nguồn vốn tài trợ tài sản của

doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm mấy phần Trị số của chỉ tiêu càng lớn,chứng tỏ khả năng tự đảm bảo về tài chính càng cao, mức độ độc lập về tài chính càngtăng và ngược lại

Vốn chủ sở hữu

Hệ số tự tài trợ = *100%

Tổng nguồn vốn

Chỉ tiêu “Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu” cho biết cơ cấu nguồn tài trợ tài sản

của doanh nghiệp, cứ một đồng tài sản tài trợ bằng vốn chủ sở hữu thì tương ứng vớimấy đồng tài trợ bằng nợ phải trả Tương tự, chỉ tiêu “Hệ số nợ so với tổng nguồn vốn”lại cho biết, trong một đồng vốn tài trợ tài sản của doanh nghiệp thì có mấy đồng nợphải trả.

Số tiền

Tỷ trọng

Số tiền

Tỷ trọng

Số tiền

Tỷ trọng

Số tiền

Tỷ trọng

Số tiền

Tỷ lệ

Số tiền

Tỷ lệ

Số tiền

Tỷ lệ

Trang 16

“Hệ số nợ so với tổng nguồn vốn” cao sẽ rất khó khăn khi thuyết phục tổ chức tín dụngcho vay Vì vậy, doanh nghiệp cần có giải pháp thích hợp để giảm số nợ phải trả vàtăng số vốn chủ sở hữu

Khi phân tích cấu trúc nguồn vốn, sự ổn định về nguồn tài trợ luôn là một trongnhững vấn đề được quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp, bởi nó quyết định đến hiệuquả và phương hướng hoạt động lâu dài Căn cứ theo thời gian huy động, sử dụng vốn,nguồn vốn được chia làm 2 loại là: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.Nguồn vốn thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sửdụng trong thời gian dài, bao gồm: vốn chủ sở hữu, các khoản nợ dài hạn Nguồn vốnnày thường được sử dụng để đầu tư TSCĐ và một bộ phận TSLĐ thường xuyên, cần

Trang 17

thiết Nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanhnghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời, bất thườngphát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cách phân loại nàygiúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thờigian sử dụng, lập kế hoạch tài chính và hình thành những dự định về tổ chức vốn trongtương lai Để đánh giá sự ổn định về nguồn tài trợ, người ta xây dựng các chỉ tiêu sau:

Nguồn vốn thường xuyên

Trang 18

1.3.3 Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn

Để thấy được rõ chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp, bên cạnh việc phântích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, nhà quản lý cần phân tíchthêm mối quan hệ giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản Chính sách sử dụng vốncủa một doanh nghiệp không chỉ phản ánh nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh màcòn quan hệ trực tiếp đến an ninh tài chính, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, dovậy tác động trực tiếp đến hiệu quả cũng như rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp Đểphân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, các nhà phân tích thường tính ra và

so sánh các chỉ tiêu sau:

Hệ số nợ so với tài sản: là chỉ tiêu phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh

nghiệp bằng các khoản nợ Trị số của hệ số này càng cao chứng tỏ mức độ phụ thuộccủa chủ nợ vào doanh nghiệp càng lớn, mức độ độc lập về tài chính càng thấp Do vậy,doanh nghiêp càng có ít cơ hội và khả năng để tiếp nhận các khoản vay do các ngânhàng không mặn mà với các doanh nghiệp có hệ số nợ so với tài sản cao

Nợ phải trả

Hệ số nợ so với tài sản =

Tài sảnChỉ tiêu này có nhiều trị số khác nhau, phản ánh các chính sách sử dụng vốn khácnhau của doanh nghiệp Khi trị số của chỉ tiêu này = 1, toàn bộ nợ phải trả của doanhnghiệp được sử dụng để tài trợ toàn bộ tài sản dùng cho hoạt động; khi trị số của chỉtiêu này > 1, số nợ phải trả được doanh nghiệp sử dụng vừa để bù lỗ vừa để tài trợ tàisản của mình Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1 bao nhiêu, chứng tỏ số lỗ lũy kếcủa doanh nghiệp càng lớn bấy nhiêu Ngược lại, trị số của chỉ tiêu càng nhỏ hơn 1 baonhiêu, số nợ phải trả được doanh nghiệp sử dụng để tài trợ tài trợ tài sản càng giảm bấynhiêu

Trang 19

Hệ số nợ so với tài sản còn có thể được biến đổi để trở thành công thức sau: Tài sản – Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: khác với mục đích sử dụng khi đánh giá

khái quát khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp, chỉ tiêu “Hệ số khả năngthanh toán tổng quát” sử dụng trong trường hợp này lại có mục đích đánh giá chínhsách sử dụng vốn của doanh nghiệp

Tổng tài sản

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =

Tổng nợ phải trảCác nhà quản lý sẽ căn cứ vào trị số cụ thể của chỉ tiêu này để đưa ra nhận định

cụ thể Khi trị số của chỉ tiêu này =1, toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được tài trợbằng nợ phải trả và khi đó, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp = 0 Khi trị số của chỉtiêu > 1, doanh nghiệp sử dụng cả nợ phải trả và vốn chủ sở hữu để tài trợ tài sản Trị

số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, mức độ tham gia tài trợ tài sản của doanh nghiệp từ

nợ phải trả càng giảm và ngược lại Khi trị số của chỉ tiêu này càng tiến dần về 1, mức

độ tham gia tài trợ tài sản từ nợ phải trả càng lớn Trong trường hợp trị số của chỉ tiêunày < 1, doanh nghiệp đang trong tình trạng thua lỗ, số lỗ lũy kế lớn hơn toàn bộ vốn

Trang 20

chủ sở hữu, dẫn đến vốn chủ sở hữu bị âm Lúc này doanh nghiệp buộc phải sử dụngkhoản nợ phải trả để vừa bù lỗ vừa tài trợ tài sản của mình.

Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu: chỉ tiêu này phản ánh mức độ đầu tư vào

tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu này nếu lớn hơn 1,chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng cả vốn chủ sở hữu và nợ phải trả để tài trợ tài sản Trị

số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1 bao nhiêu, mức độ sử dụng nợ phải trả để tài trợ tàisản càng cao bấy nhiêu và ngược lại Trường hợp trị số của chỉ tiêu < 0, nợ phải trả củadoanh nghiệp vừa để bù lỗ, vừa để trang trải tài sản cho hoạt động Chỉ tiêu này đượctính như sau:

Tài sản

Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu =

Vốn chủ sở hữuNhằm thuận tiện cho việc đánh giá mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, qua đóthấy rõ được chính sách huy động và sử dụng vốn, khi phân tích, có thể lập bảng sau:

Những nội dung mà nhà quản lý nắm được thông qua bảng trên bao gồm: trị sốcủa từng chỉ tiêu ở thời điểm cuối kì tương ứng (cuối năm N và các năm liền kề trước

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát

Hế số tài sản so với vốn chủ sở hữu

Trang 21

năm N) ở các cột B, C, D, E Mức độ biến động về số tuyệt đối của từng chỉ tiêu theothời gian (tăng hay giảm bao nhiêu) thể hiện ở các cột F, H, K Các cột G, I, L phảnảnh sự thay đổi theo % của chỉ tiêu qua các năm.

Bằng việc xem xét bảng phân tích trên, nhà quản lý sẽ thấy được những đặc trưngtrong chính sách huy động, sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng như xác định được tínhhợp lý và an toàn của việc huy động vốn Đây là cơ sở để nhà quản lý đưa ra quyếtđịnh huy động nguồn vốn nào với mức độ bao nhiêu là hợp lý, bảo đảm hiệu quả kinhdoanh cao nhất và an ninh tài chính bền vững nhất

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Theo lý thuyết tài chính doanh nghiệp, khi xác lập cấu trúc tài chính của doanhnghiệp phải kết hợp cả hai yếu tố rủi ro và tỷ suất sinh lợi xem chúng tác động như thếnào đến giá cổ phần hay giá trị thị trường của doanh nghiệp Trong một số trường hợp,khi lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp có triển vọng tốt, dự kiến sẽ vượt qua điểmhòa vốn và làm cho thu nhập trên mỗi cổ phẩn tăng lên song chưa hẳn doanh nghiệp cóthể yên tâm xác lập một cấu trúc tài chính thiên về sử dụng nợ Lý do là rủi ro tăng lênvượt quá tỷ suất sinh lợi mà các cổ đông nhận được do không thể lường hết được rủi rotrong kinh doanh, từ đó dẫn đến rủi ro tài chính hay tỷ suất lợi nhuận mà họ nhận đượckhông đủ bù đắp cho rủi ro tài chính Tuy nhiên, trong thực tế khi hoạch định cấu trúctài chính, doanh nghiệp thường phụ thuộc vào một số đặc điểm cơ bản sau:

1.4.1 Đặc điểm của nền kinh tế

Khi doanh nghiệp ấn định một cấu trúc tài chính, doanh nghiệp phải gắn bó với

nó trong một khoảng thời gian Vì vậy, khi thiết lập cấu trúc tài chính nên kết hợp giữatình hình thực tiễn tại doanh nghiệp và một số dự báo về triển vọng kinh tế

Về mức độ hoạt động kinh doanh: nếu dự kiến mức độ hoạt động kinh doanh

gia tăng, điều đó có nghĩa là nhu cầu tài sản và vốn để tài trợ việc mua các tài sản này

Trang 22

sẽ gia tăng Việc mở rộng hoạt động kinh doanh nhanh chóng sẽ làm cho khả năng huyđộng trở nên quan trọng hơn trong việc xây dựng các cấu trúc tài chính Ngoài ra, tácđộng của các thay đổi dự kiến trong mức độ hoạt động kinh doanh chung sẽ dẫn đếncác kết quả khác nhau rất lớn đối với các ngành khác nhau.

Về triển vọng thị trường vốn: nếu doanh nghiệp dự báo vốn vay quá tốn kém

hay khan hiếm, doanh nghiệp có thể sẽ tăng độ nghiêng đòn bẩy tài chính ngay, cónghĩa là tăng tỷ trọng nợ phải trả so với tỷ trọng vốn chủ sở hữu Nếu dự kiến lãi suấtsụt giảm, điều này sẽ khuyến khích doanh nghiệp hạn chế vay tiền, nhưng vẫn duy trì

vị thế dễ điều động nhằm hưởng lợi của tiền vay rẻ hơn về sau Như vậy, lãi suất đóngmột vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định thiên về sử dụng nợ hay vốn cổphần của doanh nghiệp Vào thời kì nền kinh tế lạm phát ở mức cao, vượt quá sức chịuđựng của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ tự điều chỉnh cấu trúc tài chính (tỷ trọng nợ

và tỷ trọng vốn chủ sở hữu) sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn

Thuế suất: chi phí lãi vay được xem như “lá chắn thuế” của doanh nghiệp, bởi

thuế thu nhập doanh nghiệp tính trên mức lợi nhuận sau khi đã trừ đi chi phí lãi vay.Việc gia tăng thuế suất áp dụng làm gia tăng mong muốn sử dụng công cụ nợ so với sửdụng công cụ vốn xét theo quan điểm lợi nhuận Thuế suất thuế thu nhập cá nhân sẽ tácđộng đến việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp Các cổ đông không chịu thuế thu nhập

cá nhân cho phần lợi nhuận doanh nghiệp của họ nhưng phải nộp thuế cho phần lợinhuận chia cho họ khi nhận cổ tức Vậy việc tăng thuế thu nhập cá nhân sẽ khuyếnkhích một số doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận và sử dụng nhiều lợi nhuận giữ lại để táiđầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp sẽ phần nào dựa vào cácmức thuế suất của thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân để hoạch địnhcấu trúc tài chính tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp

Trang 23

1.4.2 Đặc điểm của ngành kinh doanh

Mỗi ngành nghề kinh doanh có cấu trúc tài chính khác nhau, thông thường sẽ docác đặc tính như ngành kinh doanh, biến động theo chu kì và tính chất cạnh tranh quyếtđịnh Sự khác biết rõ nhất có thể kể đến chính là giữa các ngân hàng thương mại vàdoanh nghiệp Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt với các đặc điểmnhư: kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác, hoạt động kinh doanh luôn gắn liềnvới một số rủi ro mà ngân hàng buộc phải chấp nhận với mức độ mạo hiểm nhất định.Ngoài ra, do có được chức năng huy động vốn đặc thù mà không doanh nghiệp nàokhác có được nên vốn chủ sở hữu của ngân hàng chiếm một tỷ lệ thấp trong tổng nguồnvốn hoạt động Vì vậy, ngành nghề cũng doanh cũng là một căn cứ để hoạch định cấutrúc tài chính hợp lý, hiệu quả

1.4.3 Giai đoạn phát triển trong chu kỳ sống của doanh nghiệp

Yếu tố này vừa mang tính thực tiễn vừa mang tính kỹ thuật trong quá trình hoạchđịnh cấu trúc tài chính Trước tiễn, tính thực tiễn thể hiện ở chỗ các doanh nghiệp nhìnchung thường trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, trưởng thành và suy tàn.Giai đoạn mới được thành lập, tỷ lệ thất bại cao, nguồn vốn trong giai đoạn này chủyếu từ các nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư mạo hiểm Trong giai đoạn này, doanh nghiệpđược tài trợ bằng vốn cổ phần sẽ tốt hơn là sử dụng những nguồn vốn phải thanh toán

cố định, nên hạn chế chia cổ tức để giữ lại lợi nhuận phục vụ cho việc đầu tư

Giai đoạn phát triển nhanh, rủi ro kinh doanh vẫn ở mức cao, vì thế cần chú ý đếnkhả năng điều động để đảm bảo khi cần có thể tiếp xúc với nguồn vốn ngay với cácđiều kiện ở mức có thể chấp nhận được Lợi nhuận cần được giữ lại do triển vọng tăngtrưởng cao trong tương lai

Trang 24

Giai đoạn trưởng thành, các doanh nghiệp cần chuẩn bị để đối phó với các tácđộng tài chính, chính sách cổ tức trong giai đoạn này nên chia ở mức cao do triển vọngtăng trưởng ở mức thấp, không nên để sảy ra hiện tượng dư thừa tài chính.

Ở giai đoạn suy giảm dài hạn, doanh nghiệp phải xây dựng một cấu trúc tài chínhcho phép dễ dàng thu hẹp các nguồn vốn sử dụng Như vậy, trừ giai đoạn đầu doanhnghiệp không có nhiều sự lựa chọn, các giai đoạn sau mang tính kỹ thuật để tìm ra cấutrúc tài chính tối ưu

Trang 25

Chương 2: Phân tích cấu trúc tài chính khách sạn Hotel De

L’Opera Hanoi

2.1 Giới thiệu chung về khách sạn

Hotel De L’Opera Hanoi là một khách sạn 5 sao theo tiêu chuẩn quốc tế có địachỉ tại số 29 Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội Đơn vị sở hữu của De L’Opera hiện làCông ty cổ phần Thương mại du lịch Dân chủ, trực thuộc Tổng công ty Du lịch HàNội, nắm giữ 100% vốn đầu tư Khách sạn có tiền thân là khách sạn Dân Chủ, sau nàyđược phá đi để xây dựng khách sạn mới ngay trên nền khách sạn Dân Chủ cũ và đượcđổi tên thành khách sạn Hotel De L’Opera Hanoi Khách sạn chính thức đi vào hoạtđộng từ năm 2011, có tất cả 8 tầng, bao gồm 107 phòng ngủ, 3 phòng hội thảo với sứcchứa trung bình, bể bơi, phòng tập thể dục…

Với vị trí thuận lợi, thiết kế hiện đại cũng như mới đi vào hoạt động được mộtthời gian ngắn nên khách sạn thu hút được lượng lớn khách du lịch quốc tế, công vụ cảtrong và ngoài nước Nguồn khách nước ngoài chủ yếu là từ các nước châu Á như:Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan…và các nước châu Âu như: Đức, ThụyĐiển, Thụy Sĩ, Anh, Tây Ban Nha…

2.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh

Khách sạn là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt trong đó hoạt động sản xuấtkinh doanh có nhiều điểm khác biệt so với các doanh nghiệp thông thường Thay vìcung cấp các sản phẩm hữu hình thì sản phẩm mà khách sạn mang đến cho khách hàng

là các sản phẩm vô hình, đó chính là các trải nghiệm khi sử dụng dịch vụ Đặc điểmcủa các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ đó chính là không có hoặclượng hàng tồn kho rất thấp bởi sản phẩm kinh doanh là vô hình, không có sản phẩm

Ngày đăng: 24/03/2023, 11:45

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w