TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ các vùng đất kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản ở mỗi hệ sinh thái theo rất nhiều mô hình khác nhau, mỗi mô hình có đem lạ
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN KINH TẾ VÀ QUY HOẠCH THUỶ SẢN
BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH
CHUYỂN ĐỔI SANG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Lê Tiêu La
7558
18/11/2009
Hà Nội, Tháng 12 năm 2008
Trang 2DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN
3 ThS Phạm Thị Hồng Vân Viện Kinh tế và Quy
hoạch thuỷ sản Thư ký
4 ThS Nguyễn Tuấn Anh Viện Kinh tế và Quy
hoạch thuỷ sản
Thành viên
5 ThS Hồ Công Hường Viện Kinh tế và Quy
hoạch thuỷ sản Thành viên
6 CN Vũ thị Hồng Ngân Viện Kinh tế và Quy
8 CN Trần Hoài Giang Viện Kinh tế và Quy
hoạch thuỷ sản Thành viên
9 ThS Phùng Giang Hải Viện Kinh tế và Quy
Trang 3TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ các vùng đất kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản ở mỗi hệ sinh thái theo rất nhiều mô hình khác nhau, mỗi mô hình có đem lại hiệu quả tác động tích cực cũng như tiêu cực khác nhau về kinh
tế, xã hội và môi trường sinh thái Vì vậy việc tiến hành đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long” nhằm đánh giá được tính ổn định và khả năng nhân rộng các mô hình nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) trong vùng chuyển đổi ở Đồng bằng sông Cửu Long làm cơ sở cho xây dựng các chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản cũng như phát triển kinh tế-xã hội của vùng
là một yêu cầu cần thiết
Mục tiêu cụ thể của đề tài nghiên cứu gồm:
- Đánh giá được hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường của các mô hình nuôi trồng thuỷ sản trong vùng chuyển đổi theo từng vùng sinh thái
- Đưa ra các giải pháp phát triển và nhân rộng các mô hình nuôi trồng thuỷ sản bền vững phù hợp từng vùng sinh thái vùng chuyển đổi
- Góp phần hoàn thiện bộ chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản
Đối tượng nghiên cứu ở đây là chủ thể hoạt động nuôi trồng thuỷ sản (con người trong hộ gia đình, hợp tác xã, công ty, …), hiệu quả hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có tác động tích cực hay tiêu cực tới kinh tế - xã hội - môi trường đều thông qua hoạt động chủ quan của con người và con người vừa là tác nhân gây tác động, vừa là đối tượng chịu tác động ngược lại, đó là một chu trình tác động khép kín
Theo tính chất vùng nước, hệ sinh thái có hoạt động nuôi trồng thuỷ sản trong các vùng chuyển đổi của Đồng Bằng sông Cửu long bao gồm hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước lợ; trong hệ sinh thái nước ngọt bao gồm phân hệ sinh thái ruộng trũng, bãi bồi ven sông, sau này bổ sung thêm phân hệ sinh thái
ao vườn; trong hệ sinh thái nước lợ bao gồm phân hệ sinh thái ruộng trũng nhiễm mặn (RTNM), rừng ngập mặn (RNM) và bãi triều
Các mô hình chuyển đổi sang NTTS ở ĐBSCL rất đa dạng, trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu không thể tiến hành đánh giá tất cả các mô hình Trên
cơ sở nghiên cứu các tài liệu thứ cấp, tham khảo ý kiến các chuyên gia về NTTS
và cán bộ quản lý NTTS của 13 tỉnh ĐBSCL, đề tài đã lựa chọn 14 mô hình chuyển đổi phổ biến tại ĐBSCL thuộc 6 phân hệ sinh thái của hai hệ sinh thái nước ngọt và nước mặn lợ để tiến hành nghiên cứu đánh giá theo bộ tiêu chí và chỉ số ngư trại bền vững (ASI) bao gồm các khía cạnh về kinh tế-kỹ thuật, xã hội, môi trường sinh thái
Trang 4Kết quả nghiên cứu đã đánh giá được hiệu quả của các mô hình chuyển đổi sang NTTS so với trước khi chuyển đổi, phân tích nguyên nhân những tồn tại của các mô hình Đề tài nghiên cứu cũng đưa ra các đánh giá ban đầu về khả năng nhân rộng và chuyển đổi lại của các mô hình chuyển đổi sang NTTS theo
hệ sinh thái Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp để phát triển bền vững các
mô hình chuyển đổi sang NTTS nói riêng, phát triển bền vững ngành thủy sản nói chung
Trang 5MỤC LỤC
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN 2
TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 3
MỤC LỤC 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
CHÚ GIẢI CÁC CHỮ VIÊT TẮT, KÝ HIỆU, ĐƠN VỊ ĐO 10
LỜI MỞ ĐẦU 11
Phần thứ nhất Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1 Tình hình nghiên cứu đánh giá hiệu quả chuyển đổi sang NTTS ở ngoài nước 13
2 Tình hình nghiên cứu đánh giá hiệu quả chuyển đổi sang NTTS ở trong nước 14
Phần thứ hai Phương pháp nghiên cứu 1 Đối tượng nghiên cứu: 17
2 Bộ tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi 18
3 Phương pháp nghiên cứu đã sử dụng 20
Phần thứ ba Kết quả nghiên cứu 1 Đánh giá chung thực trạng chuyển đổi sang NTTS của vùng ĐBSCL 26
1.1 Chuyển đổi diện tích 26
1.2 Hiệu quả chung về kinh tế 29
1.3 Hiệu quả chung về xã hội 32
1.4 Hiệu quả chung về môi trường sinh thái 35
2 Đánh giá hiệu quả từng mô hình chuyển đổi sang NTTS theo vùng sinh thái 36
2.1 Mô tả đặc điểm kinh tế-kỹ thuật các mô hình chuyển đổi 36
2.2 Hiệu quả kinh tế các mô hình chuyển đổi 46
2.3 Hiệu quả môi trường các mô hình chuyển đổi 69
2.4 Hiệu quả xã hội các mô hình chuyển đổi 75
2.5 Tính bền vững của các mô hình chuyển đổi 90
Trang 63 Đánh giá các nguyên nhân thành công, thất bại và các bài học kinh nghiệm trong chuyển
đổi cơ cấu sản xuất sang nuôi trồng thuỷ sản ở vùng ĐBSCL .96
3.1 Các khó khăn, tồn tại gặp phải trong quá trình chuyển đổi 96
3.2 Các nguyên nhân 99
3.3 Các bài học kinh nghiệm 102
4 Đánh giá khả năng nhân rộng và chuyển đổi lại của các mô hình trong vùng ĐBSCL 103 4.1 Hệ sinh thái nước ngọt 103
4.2 Hệ sinh thái nước mặn lợ 106
5 Đề xuất các giải pháp phát triển bền vững 110
5.1 Giải pháp chung cho các vùng chuyển đổi 110
5.2 Giải pháp đặc thù theo các vùng sinh thái 123
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 127
LỜI CẢM ƠN 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO 131
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Kết quả số phiếu phỏng vấn hộ gia đình chuyển đổi sang NTTS của 14
mô hình 22
Bảng 2 Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản ĐBSCL qua các năm 26
Bảng 3 Kết quả chuyển đổi diện tích đất sang NTTS từ năm 2000 – 2006 28
Bảng 4 Sản lượng NTTS phân theo địa phương vùng ĐBSCL 29
Bảng 5 Giá trị xuất khẩu thủy sản vùng ĐBSCL 31
Bảng 6 Doanh thu các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái ruộng trũng nước ngọt 47
Bảng 7 Thu nhập các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái ruộng trũng nước ngọt 47
Bảng 8 Thu nhập các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái ruộng trũng nước ngọt 48
Bảng 9 Tỷ suất thu nhập/đầu tư XDCB các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái ruộng trũng nước ngọt 48
Bảng 10 Doanh thu các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái ao vườn nước ngọt 49
Bảng 11 Thu nhập các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái ao vườn nước ngọt 50
Bảng 12 Thu nhập/ngày công lao động gia đình các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái ao vườn nước ngọt 50
Bảng 13 Tỷ suất thu nhập/vốn đầu tư XDCB các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái ao vườn nước ngọt 51
Bảng 14 Doanh thu của mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái bãi bồi nước ngọt 51
Bảng 15 Thu nhập của mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái bãi bồi nước ngọt 52
Bảng 16 Thu nhập/ngày công lao động gia đình các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái bãi bồi nước ngọt 52
Bảng 17 Tỷ suất thu nhập/vốn đầu tư XDCB các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái bãi bồi nước ngọt 53
Bảng 18 Doanh thu của các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái ruộng trũng nhiễm mặn 53
Bảng 19 Thu nhập của các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái ruộng trũng nhiễm mặn 54
Bảng 20 Thu nhập/ngày công lao động gia đình các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái ruộng trũng nhiễm mặn 55
Trang 8Bảng 21 Tỷ suất thu nhập/vốn đầu tư XDCB của các mô hình chuyển đổi sang
NTTS thuộc phân hệ sinh thái ruộng trũng nhiễm mặn 56
Bảng 22 Doanh thu của các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái bãi triều 56
Bảng 23 Thu nhập của các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái bãi triều 57
Bảng 24 Thu nhập/ngày công lao động gia đình các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái bãi triều 58
Bảng 25 Tỷ suất thu nhập/vốn đầu tư XDCB của các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái bãi triều 59
Bảng 26 Doanh thu của mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái rừng ngập mặn 60
Bảng 27 Thu nhập của mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái rừng ngập mặn 60
Bảng 28 Thu nhập/ngày công lao động gia đình các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái bãi triều 61
Bảng 29 Tỷ suất thu nhập/vốn đầu tư XDCB của mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái rừng ngập mặn 61
Bảng 30 So sánh mức giá trị doanh thu trung bình/ha giữa các mô hình CĐ 62
Bảng 31 So sánh mức giá trị thu nhập trung bình/ha giữa các mô hình CĐ 63
Bảng 32 So sánh mức giá trị/ngày công lao động gia đình giữa các mô hình chuyển đổi 65
Bảng 33 So sánh mức tỷ suất thu nhập/vốn đầu tư XDCB giữa các mô hình chuyển đổi 66
Bảng 34 Tổng hợp so sánh mức hiệu quả của các mô hình chuyển đổi 67
Bảng 35 Đánh giá của các hộ CĐ sang NTTS đối với việc tiếp cận giáo dục 76 Bảng 36 Đánh giá của các hộ CĐ sang NTTS đối với tiếp cận việc làm 79
Bảng 37 Đánh giá của các hộ chuyển đổi sang NTTS về phong cách sống 81
Bảng 38 Mâu thuẫn giữa những người NTTS 82
Bảng 39 Mâu thuẫn trong gia đình các hộ NTTS 84
Bảng 40 Đánh giá cuộc sống của gia đình so với trước khi CĐ sang NTTS 87
Bảng 41 Kết quả đánh giá ngư trại bền vững các mô hình chuyển đổi từ đất ruộng trũng nước ngọt sang NTTS 90
Bảng 42 Kết quả đánh giá ngư trại bền vững các mô hình chuyển đổi từ đất vườn sang NTTS 91
Bảng 43 Kết quả đánh giá ngư trại bền vững mô hình chuyển đổi từ đất bãi bồi sang nuôi cá tra 92
Bảng 44 Kết quả đánh giá ngư trại bền vững các mô hình chuyển đổi từ đất ruộng trũng nhiễm mặn sang nuôi tôm 93
Trang 9Bảng 45 Kết quả đánh giá ngư trại bền vững mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi tôm 94 Bảng 46 Kết quả đánh giá ngư trại bền vững mô hình chuyển đổi từ đất rừng ngập mặn sang kết hợp nuôi tôm 95 Bảng 47 Tổng hợp kết quả đánh giá ngư trại bền vững các mô hình CĐ 95 Bảng 48 Các khó khăn cơ bản trong NTTS 97
Trang 10CHÚ GIẢI CÁC CHỮ VIÊT TẮT, KÝ HIỆU, ĐƠN VỊ ĐO
CĐ Chuyển đổi
FAO Tổ chức Nông Lương Thế giới
ASI Chỉ số ngư trại bền vững
(Aquaculture Sustainable Index)
Lúa – TCX Lúa - tôm càng xanh
TCX BTC Tôm càng xanh theo phương thức
nuôi bán thâm canh SXKD Sản xuất kinh doanh
HTCS Hạ tầng cơ sở
HTTL Hệ thống thuỷ lợi
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
Từ sau khi có Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, trong đó xác định: “Giữ ổn định khoảng 4 triệu hecta đất có điều kiện tưới tiêu chủ động để sản xuất lúa Với các loại đất sản xuất lúa kém hiệu quả thì chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm khác có hiệu quả cao hơn, như đất khô hạn chuyển sang trồng màu, đất trũng, đất ven biển chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản ” - vấn đề chuyển đổi (CĐ) cơ cấu sản xuất từ đất trồng lúa kém hiệu quả, đất làm muối, đất vườn và đất hoang hoá khác (bãi bồi ven sông, bãi triều, đất cát) sang nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) đã diễn ra mạnh mẽ trên toàn quốc, đặc biệt là ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Theo báo cáo “Đánh giá kết quả thực hiện chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản giai đoạn 2000 – 2005 và biện pháp thực hiện đến năm 2010”: tổng diện tích chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản của vùng ĐBSCL từ năm 1999 đến hết năm 2005 là 310.841 ha, chiếm 82,4% diện tích chuyển đổi của cả nước, trong đó từ đất trồng lúa là 297.187 ha, với các đối tượng nuôi chính là tôm sú, nhuyễn thể cho hệ sinh thái nước lợ; cá tra, cá ba sa, tôm càng xanh (TCX), cá truyền thống cho hệ sinh thái nước ngọt
Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ các vùng đất kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản đã đem lại hiệu quả tác động tích cực to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường nhưng bên cạnh đó cũng nảy sinh các tác động tiêu cực như phân hoá giàu nghèo, mâu thuẫn trong sử dụng đất, ô nhiễm môi trường, Vì vậy việc tiến hành đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long” là một yêu cầu cần thiết
Mục tiêu chung của đề tài nghiên cứu:
Đánh giá được tính ổn định và khả năng nhân rộng các mô hình nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) trong vùng chuyển đổi ở Đồng bằng sông Cửu Long làm
cơ sở cho xây dựng các chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản cũng như phát triển kinh tế-xã hội của vùng
Mục tiêu cụ thể của đề tài nghiên cứu:
- Đánh giá được hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường của các mô hình nuôi trồng thuỷ sản trong vùng chuyển đổi theo từng vùng sinh thái
- Đưa ra các giải pháp phát triển và nhân rộng các mô hình nuôi trồng thuỷ sản bền vững phù hợp từng vùng sinh thái vùng chuyển đổi
- Góp phần hoàn thiện bộ chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản
Trang 12Đề tài nghiên cứu sẽ làm rõ được các hiệu quả tác động tích cực về kinh
tế, xã hội, môi trường, đồng thời cũng làm rõ các tác động tiêu cực, các nguyên nhân, các bài học kinh nghiệm của việc chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản ở ĐBSCL theo vùng sinh thái, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp để phát huy các hiệu quả tác động tích cực, giảm thiểu các tác động tiêu cực, đánh giá khả năng nhân rộng và chuyển đổi lại của các mô hình chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản ở vùng ĐBSCL theo vùng sinh thái, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, chiến lược và quy hoạch, góp phần phát triển bền vững và nhân rộng các
mô hình chuyển đổi sang NTTS ở vùng ĐBSCL đồng thời góp phần phát triển bền vững ngành NTTS nói riêng, ngành thủy sản nói chung
Trên cơ sở 24 chuyên đề nghiên cứu sâu, các kết quả phân tích mẫu môi trường và kết quả đánh giá tính bền vững của ngư trại theo phương pháp chỉ số, Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu đề tài đã thực hiện
Báo cáo Tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài gồm 5 phần chính:
Mở đầu
Phần thứ nhất: Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Phần thứ hai: Phương pháp nghiên cứu
Phần thứ ba: Kết quả nghiên cứu
Kết luận và kiến nghị
Trang 13PHẦN THỨ NHẤT TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1 Tình hình nghiên cứu đánh giá hiệu quả chuyển đổi sang NTTS ở ngoài nước
Phát triển bền vững, trong đó có phát triển NTTS bền vững, đang là mục tiêu của toàn cầu Ở một số nuớc có ngành NTTS phát triển như: Trung Quốc, Thái Lan, In đô nê xi a, đã có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá hiệu quả
và tác động của NTTS về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường để nhằm mục tiêu phát triển bền vững nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của việc chuyển đổi sang NTTS
Những cố gắng sử dụng tiêu chí, chỉ tiêu để đánh giá độ bền vững của nuôi trồng thuỷ sản được phác thảo lần đầu tiên bởi Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) năm 1997 FAO đề xuất các tiêu chí gồm:
- Khả năng cấp nước và cân bằng nước
- Thời tiết / khí hậu
Đây mới chỉ là những tiêu chí được đề xuất có tính hướng dẫn, chưa được
áp dụng trên thực tế
Gần đây nhất (năm 2002), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã công bố trên mạng Internet tài liệu Bách khoa thư về các chỉ thị môi trường đô thị, gồm 97 chỉ thị đơn Trong bộ chỉ thị này, các vấn đề về chất lượng sinh thái
đô thị, về đặc trưng xã hội - nhân văn đô thị cũng đã được tính đến Cùng thời gian này, hai trường đại học của Mỹ (Đại học Yale và Đại học Columbia) đã phối hợp xây dựng lần đầu tiên chỉ số bền vững về môi trường (Environmental Sustainability Index = ESI) sử dụng trong Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2002 Chỉ số ESI được tính toán từ 20 chỉ thị phức hợp, mỗi chỉ thị phức hợp được tổ hợp từ 2 đến 8 chỉ tiêu Báo cáo này cũng tính ESI cho 142 nước trên thế giới trong đó có Việt Nam
Để đánh giá hiệu quả của chuyển đổi sang NTTS cũng sẽ kế thừa, chọn lọc sử dụng các tiêu chí, chỉ tiêu đã có của quốc tế trong đánh giá sự bền vững hay hiệu quả và tác động của NTTS khi phù hợp với khả năng, điều kiện của Việt Nam
Trang 142 Tình hình nghiên cứu đánh giá hiệu quả chuyển đổi sang NTTS ở trong nước
Từ trước tới nay chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu đánh giá toàn diện hiệu quả kinh tế-xã hội-môi trường các mô hình chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản trong các vùng chuyển đổi ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng như trong toàn quốc Tuy nhiên, trong ngành Nông nghiệp cũng như ngành Thuỷ sản đã có một số đề tài nghiên cứu đánh giá tác động của ngành thuỷ sản tới nền kinh tế quốc dân, đánh giá tác động tiêu cực của NTTS mặn lợ về mặt xã hội, đánh giá hiệu quả kinh tế-kỹ thuật của các mô hình nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất nông nghiệp, đánh giá tác động môi trường trong hoạt động NTTS, Các
đề tài này cũng đã đưa ra được hệ thống các tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá về kinh
tế, xã hội, môi trường theo phạm vi đề tài, nhưng không đánh giá riêng cho các vùng chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản Trong đó có những đề tài liên quan nhiều đến đề tài nghiên cứu có sự tham gia của một số thành viên đề tài như sau:
(1) Đề tài “Đánh giá tác động của ngành Thuỷ sản tới nền kinh tế quốc dân” đã đưa ra được hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu và thực hiện đánh giá tác động của toàn ngành Thuỷ sản tới nền kinh tế quốc dân bao gồm:
- Tác động về mặt kinh tế:
1/ Tác động của phát triển thuỷ sản tới thu nhập quốc dân toàn quốc
2/ Tác động của phát triển thuỷ sản tới thu nhập xuất khẩu và phát triển thương mại Quốc tế
3/ Tác động của phát triển thuỷ sản tới quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn ven biển
4/ Tác động của phát triển thuỷ sản tới phát triển nguồn nhân lực
5/ Tác động của phát triển thuỷ sản tới đổi mới cơ chế chính sách và đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp
- Tác động về mặt môi trường sinh thái và tài nguyên thuỷ sản: Tác động của phát triển thuỷ sản tới môi trường
(2) Đề tài “Xây dựng hồ sơ các mô hình nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam”
đã đưa ra được các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật của 20 mô hình nuôi trồng thuỷ sản trên phạm vi toàn quốc, các mô hình này không mang đặc điểm chuyển đổi
(3) Đề tài “Đánh giá tác động tiêu cực về mặt xã hội của NTTS mặn lợ và
Trang 15các giải pháp” đã đưa ra hệ thống các tiêu chí đánh giá tác động của NTTS mặn
lợ về mặt xã hội như: văn hoá, giáo dục, việc làm, công bằng xã hội, thu nhập
(4) Đề tài “Đánh giá môi trường trong NTTS ven biển Việt Nam và đề xuất các giải pháp quản lý” đã đưa ra được hệ thống các tiêu chí đánh giá môi trường trong NTTS ven biển Việt Nam đồng thời đã đưa ra phương pháp lượng giá các chi phí môi trường của việc NTTS ven biển Việt Nam bằng cách tính chi phí lợi ích mở rộng của các mô hình NTTS
(5) Đề tài “Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường phục vụ sản xuất thuỷ sản bền vững” với chuyên đề “Đánh giá môi trường trong hoạt động NTTS ven biển Đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất các giải pháp quản lý” đã sử dụng tổng hợp các bộ công cụ (chỉ số ngư trại bền vững (ASI – Aquaculture Sustainable Index), chi phí lợi ích mở rộng, hiệu quả kinh tế, ) để đánh giá môi trường trong hoạt động NTTS ven biển ĐBSCL và trên cơ sở đó đề xuất hệ thống các giải pháp về quản lý
(6) Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho quy hoạch chi tiết sử dụng hợp lý vùng NTTS, sản xuất muối huyện Nghĩa Hưng” đã đưa ra được bộ chỉ số ngư trại bền vững trong NTTS
Ngoài ra, tại một số vùng chuyển đổi có xây dựng và phê duyệt dự án chuyển đổi, trong đó có đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế và thu hút lao động của các vùng dự án chuyển đổi nhưng cũng chưa có đánh giá sau thời gian chuyển đổi
Trong lĩnh vực đánh giá phát triển bền vững (PTBV), những khởi động đầu tiên về phương pháp luận thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Năm
1997, trong khuôn khổ của Dự án Năng lực thế kỷ 21, Bộ KH&ĐT đề xuất bộ chỉ tiêu gồm 3 nhóm: kinh tế, xã hội và môi trường gồm 10 chỉ tiêu mỗi loại Hai năm sau, năm 1999, trong báo cáo "Tiến trình hướng tới Phát triển bền vững của Việt Nam", bộ chỉ tiêu nói trên được nâng cấp thành bộ chỉ thị về PTBV của Việt Nam gồm:
Nhóm phát triển xã hội: 14 chỉ thị
Nhóm phát triển kinh tế: 4 chỉ thị
Nhóm bảo vệ môi trường: 5 chỉ thị
Những sáng kiến để xây dựng và phát triển phương pháp đánh giá PTBV của Bộ KH&ĐT mới chỉ là những gợi ý về phương pháp luận Trong số các "chỉ thị" hoặc " chỉ tiêu" được đề xuất, có những chỉ tiêu được định lượng hoá và đáp ứng đủ yêu cầu của một chỉ thị, tuy nhiên vẫn còn không ít chỉ tiêu chí là các tiêu chí định tính Trên thực tế, chưa có địa phương nào áp dụng toàn bộ các chỉ tiêu này trong đánh giá PTBV của địa phương mình
Chỉ số dùng để đánh giá độ bền vững cấp ngư trại được Nguyễn Đình Hoè
và Vũ Văn Hiếu đề xuất lần đầu năm 2002 Các tác giả trên cơ sở khai triển
Trang 16phương pháp bền vững sinh học (BS - biology sustainable) đã xây dựng chỉ số bền vững ngư trại ASI và ứng dụng ASI để đánh giá độ bền vững của một số ngư trại của tỉnh Khánh Hoà Nghiên cứu này là thử nghiệm bước đầu Tiếp sau
đó, chuyên đề “Xây dựng chỉ số ngư trại bền vững trong nuôi trồng thuỷ sản” là một bộ phận của đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho qui hoạch chi tiết sử dụng hợp lý vùng nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất muối huyện Nghĩa Hưng” do Viện Kinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản chủ trì Mục tiêu của chuyên đề là xây dựng các chỉ số tổng hợp để đánh giá ở cấp trang trại và cấp vùng nuôi thuỷ sản ven biển, thử nghiệm ở vùng nuôi tôm cửa sông châu thổ Nghĩa Hưng – Nam Định Bộ chỉ số được nghiên cứu xây dựng gồm 4 chỉ số: 2 chỉ số đánh giá cấp vùng và 2 chỉ số đánh giá cấp trang trại cho vùng sinh thái Thuỷ sản ven biển nói trên
Như vậy, nghiên cứu đánh giá hiệu quả chuyển đổi sang NTTS ở vùng ĐBSCL là một vấn đề lần đầu tiên được đề xuất nhưng đã có rất nhiều cơ sở khoa học, lý luận và thực tiễn để đề tài nghiên cứu có thể kế thừa, bổ sung hoàn thiện bộ tiêu chí cũng như phương pháp đánh giá hiệu quả mô hình chuyển đổi sang NTTS
Mặc dù các đề tài nghiên cứu trong nước có liên quan đã đưa ra được hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá hoạt động của ngành Thuỷ sản hoặc hoạt động của nuôi trồng thuỷ sản về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, kỹ thuật công nghệ nhưng chưa có đề tài nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể cho vùng chuyển đổi hoặc các mô hình chuyển đổi
Đề tài “Đánh giá hiệu quả mô hình chuyển đổi sản nuôi trồng thuỷ sản ở vùng ĐBSCL” sẽ kế thừa kết quả của các đề tài liên quan nhưng tập trung đánh giá được hiệu quả các mô hình chuyển đổi để làm rõ tính ổn định, bền vững
cũng như khả năng nhân rộng của các mô hình
Trang 17PHẦN THỨ HAI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu ở đây là chủ thể hoạt động nuôi trồng thuỷ sản (con người trong hộ gia đình, hợp tác xã, công ty, …), hiệu quả hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có tác động tích cực hay tiêu cực tới kinh tế - xã hội - môi trường đều thông qua hoạt động chủ quan của con người và con người vừa là tác nhân gây tác động, vừa là đối tượng chịu tác động ngược lại, đó là một chu trình tác động khép kín
Mặt khác, hoạt động nuôi trồng thuỷ sản của Việt nam hiện nay là hoạt động của con người tác động vào hệ sinh thái, hiệu quả hoạt động nuôi trồng thuỷ sản phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của hệ sinh thái Theo tính chất vùng nước, hệ sinh thái có hoạt động nuôi trồng thuỷ sản trong các vùng chuyển đổi của Đồng Bằng sông Cửu long bao gồm hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước lợ; trong hệ sinh thái nước ngọt bao gồm hệ sinh thái ruộng trũng và hệ sinh thái bãi bồi ven sông; trong hệ sinh thái nước lợ bao gồm hệ sinh thái ruộng trũng nhiễm mặn (RTNM), rừng ngập mặn (RNM) và bãi triều
Vì vậy để đánh giá được hiệu quả tổng hợp về kinh tế-xã hội-môi trường của các mô hình chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản theo vùng sinh thái, phương pháp tiếp cận chủ đạo là tiếp cận hệ thống kín và tiếp cận hệ sinh thái
Dựa trên cách tiếp cận này sẽ thấy được mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động nuôi trồng thuỷ sản của con người và hiệu quả tác động tới chính con người của các mô hình nuôi trồng thuỷ sản trong từng hệ sinh thái, từ đó thấy rõ được các nguyên nhân gây ra hiệu quả tác động để làm cơ sở cho việc hình thành các giải pháp khả thi để phát huy các tác động tích cực, giảm thiểu các tác động tiêu cực góp phần nhân rộng và phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản phù hợp với các hệ sinh thái vùng
Để đánh giá một hệ thống phức tạp (hoạt động chuyển đổi sang NTTS) gồm nhiều chức năng (kinh tế, xã hội, môi trường) người ta phải chọn mỗi chức năng một hoặc vài đặc điểm đặc trưng làm cơ sở để đánh giá Những đặc điểm đặc trưng đó được gọi là tiêu chí đánh giá Kết quả của các tiêu chí phản ánh quá trình đang xảy ra trong một hệ thống, cho chúng ta biết hướng phát triển (biến đổi) của một hệ thống: tăng, giảm hay ổn định
Nuôi trồng thuỷ sản ven biển Việt Nam đã và đang trở thành nghề đem lại những hiệu quả khác nhau về kinh tế, xã hội, môi trường Tuy nhiên, để đánh giá đúng hiệu quả ngành này mang lại không thể chỉ nhìn vào một khía cạnh riêng biệt nào mà cần phải có cái nhìn tổng thể Vì vậy, phải cố gắng tiếp cận một số phương pháp đánh giá xét đến hiệu quả tổng hợp của mô hình nuôi Một trong số các phương pháp này là tính chỉ số ngư trại bền vững (ASI) cho các mô
Trang 18hình chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản Theo phương pháp này, không chỉ tính xem xét đến lợi nhuận kinh tế thuần mà tính đến cả các yếu tố xã hội, môi trường trong quá trình chuyển đổi Đây là phương pháp đã được dùng trên thế giới và đang được phát triển áp dụng trong điều kiện nước ta
Các hoạt động chuyển đổi sang NTTS rất đa dạng, việc lựa chọn mô hình đánh giá sẽ dựa trên hai tiêu chí : đóng góp về sản lượng và giá trị, hình thức tổ chức quản lý, từ đó lựa chọn các mô hình chuyển đổi theo đối tượng nuôi (tôm,
cá, ), loại hình nuôi (chuyên, kết hợp, luân canh), phương thức nuôi (quảng canh cải tiến (QCCT), bán thâm canh (BTC), thâm canh (TC)), tổ chức sản xuất (hộ gia đình-trang trại, hợp tác xã, nông trường)
Đây là nghiên cứu đánh giá mô hình nên không tiến hành điều tra tất
cả các vùng chuyển đổi ở ĐBSCL mà sẽ lựa chọn địa điểm điều tra nghiên cứu điển hình theo từng mô hình nuôi trồng thuỷ sản và theo vùng sinh thái,
đồng thời tiến hành thu thập các tài liệu thứ cấp (kế thừa các kết quả nghiên cứu
đã có) của toàn vùng để hình thành cơ sở dữ liệu cho đề tài Căn cứ vào cơ sở dữ liệu đó tiến hành phân tích, đối chứng đánh giá hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường, kinh tế-kỹ thuật trước và sau khi chuyển đổi chung cho toàn vùng và cho từng mô hình
2 Bộ tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi a) Đánh giá hiệu quả chung về chuyển đổi sang NTTS của cả vùng ĐBSCL
1 Chuyển đổi diện tích: Sự biến động diện tích chuyển đổi, chuyển đổi lại
2 Hiệu quả kinh tế:
- Sản lượng và giá trị sản lượng
- Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế: tỷ trọng giá trị sản lượng của chuyển đổi sang NTTS trong tổng giá trị sản lượng thuỷ sản
- Thu nhập xuất khẩu và phát triển thị trường
- Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn vùng
3 Hiệu quả xã hội
- Tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý: theo các mô hình hộ gia đình-trang trại, hợp tác xã, nông trường
- Công bằng xã hội : khoảng cách giàu nghèo, xoá đói giảm nghèo, tiếp cận các dịch vụ xã hội, sử dụng đất
- An ninh lương thực và thực phẩm: diện tích, sản lượng lương thực và NTTS
- Phát triển nguồn nhân lực: Trình độ văn hoá, khoa học công nghệ
Trang 19- Đổi mới cơ chế chính sách và đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp
4 Hiệu quả môi trường sinh thái:
- Đa dạng sinh học
- Nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên
- Ảnh hưởng tới môi trường xung quanh
b) Đánh giá hiệu quả theo từng mô hình chuyển đổi sang NTTS theo 4 nhóm tiêu chí:
1 Hiệu quả kinh tế: hiệu quả sử dụng đất và nguồn nhân lực: doanh thu/ha, thu nhập/ha; thu nhập/công lao động gia đình, tỷ suất thu nhập/vốn đầu
tư xây dựng cơ bản (XDCB)
2 Hiệu quả xã hội: Giải quyết việc làm cho lao động: lao động/ha; khoảng cách giàu nghèo, xoá đói giảm nghèo, tiếp cận các dịch vụ xã hội, sử dụng đất
3 Hiệu quả môi trường sinh thái: đặc tính hoá, lý môi trường đất và nước; đặc tính dinh dưỡng môi trường đất và nước; ảnh hưởng tới môi trường xung quanh
4 Tính bền vững của từng mô hình: chỉ số ngư trại bền vững
Các tiêu chí, chỉ tiêu cụ thể cho đánh giá hiệu quả các mô hình: Xem phụ lục số 1
Lần đầu tiên, bộ tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi sang NTTS được đề cập một cách tổng hợp trên cả ba khía cạnh về kinh tế,
xã hội, môi truờng của sự phát triển bền vững Bộ tiêu chí, chỉ tiêu ở đây đã kế thừa các nghiên cứu đơn lẻ cho từng khía cạnh của các vấn đề liên quan, đồng thời trên cơ sở mục tiêu của đề tài và phân tích thực tế, nhóm nghiên cứu đã hiệu chỉnh và phát triển hai tiêu chí:
(1) Thay chỉ tiêu lợi nhuận trong tiêu chí hiệu quả kinh tế bằng chỉ tiêu
thu nhập – do hoạt động NTTS mang nhiều đặc trưng của sản xuất nông nghiệp
nên rất khó để xác định chính xác chi phí công lao động, chi phí thức ăn và khấu hao tài sản cố định, chỉ tiêu thu nhập ở đây bao gồm cả công lao động gia đình, thu nhập hỗn hợp từ việc sử dụng các phụ phẩm nông nghiệp do gia đình tự sản xuất hoặc tự kiếm được; giá trị khấu hao được ước tính trên mức sản xuất trung bình của các hộ
(2) Đề xuất và áp dụng tính chỉ số ngư trại bền vững ASI2, hiệu chỉnh phần mềm tính chỉ số ngư trại bền vững ASI2 cho các mô hình chuyển đổi trên
cơ sở phát triển phương pháp tính chỉ số ngư trại bền vững ASI1 (Xem chi tiết ở phần sau)
Trang 203 Phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
Các mô hình chuyển đổi sang NTTS ở ĐBSCL rất đa dạng, trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu không thể tiến hành đánh giá tất cả các mô hình Trên
cơ sở nghiên cứu các tài liệu thứ cấp, tham khảo ý kiến các chuyên gia về NTTS
và cán bộ quản lý NTTS của 13 tỉnh ĐBSCL, đề tài đã lựa chọn 14 mô hình chuyển đổi phổ biến tại ĐBSCL thuộc hai hệ sinh thái nước ngọt và nước mặn
lợ để tiến hành nghiên cứu đánh giá
Hệ sinh thái ruộng trũng nhiễm mặn
(4 mô hình
CĐ từ RTNM sang: chuyên tôm theo các
PT nuôi TC, BTC, QCCT;
luân canh tôm)
lúa-Hệ sinh thái bãi triều
(2 mô hình
CĐ từ đất làm muối sang: Nuôi chuyên tôm theo phương thức
TC và BTC
Hệ sinh thái rừng ngập mặn
(1 mô hình
CĐ từ RNM sang: Kết hợp nuôi tôm trong rừng ngập mặn)
Hiệu quả hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, các yếu tố đầu ra:
- Kinh tế
- Xã hội
Trang 21Hiệu quả của mô hình chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản sẽ được đánh giá thông qua việc thu thập dữ liệu để đánh giá theo hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu định tính và định lượng do đó phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài đã sử dụng bao gồm:
1) Phương pháp thu thập thông tin:
a) Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp:
- Sử dụng phương pháp thống kê số liệu: Đã thực hiện ký hợp đồng với 13 tỉnh thuộc ĐBSCL để cung cấp tư liệu về tình hình chuyển đổi theo đề cương
- Nghiên cứu tài liệu thứ cấp (chuyên khảo): Tiến hành thu thập các báo cáo, tài liệu của địa phương, của trung ương liên quan đến tình hình NTTS và chuyển đổi sang NTTS
b) Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp:
b.1) Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp mang tính định tính:
- Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm tập trung có sự tham gia của
người dân: Đã thực hiện 14 cuộc họp thảo luận nhóm có sự tham gia của người dân thực hiện mô hình chuyển đổi (Xem phụ lục số 3 Bộ câu hỏi thảo luận nhóm người dân chuyển đổi sang NTTS)
- Sử dụng phương pháp chuyên gia: Đã thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu
để thu thập ý kiến các cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, huyện và cấp xã (Xem phụ lục số 2 Phiếu phỏng vấn sâu cán bộ quản lý)
b.2) Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp mang tính định lượng:
- Sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu thông qua phỏng vấn trực tiếp
theo bảng hỏi cấu trúc (Xem Phụ lục số 4 Bảng phỏng vấn hộ gia đình chuyển đổi sang NTTS) Phương pháp điều tra chọn mẫu này được được sử dụng nhằm
đo lường thực trạng về hiệu quả kinh tế-kỹ thuật, xã hội, môi trường của hoạt
động chuyển đổi sang NTTS của năm 2006 so với trước khi chuyển đổi Phương pháp điều tra chọn mẫu đã được thử nghiệm tại Sóc Trăng trước khi sử dụng chính thức
Phương pháp chọn mẫu: Để thu thập được thông tin chính xác, có tính đại diện cao và có thể so sánh, đề tài đặc biệt coi trọng việc sử dụng các phương pháp thích hợp để chọn mẫu nghiên cứu Về cơ bản, mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp phân vùng sinh thái - hành chính kết hợp với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có định hướng tại cấp cơ sở Trên cơ sở phân tích các đặc trưng của tổng thể lĩnh vực chuyển đổi sang NTTS của ĐBSCL chọn tỉnh theo 5 phân hệ sinh thái và 14 mô hình chuyển đổi sang NTTS phổ biến ở ĐBSCL
Do thực tế sản xuất (năm 2006 và 2007) đã có nhiều biến đổi so với thời gian khảo sát để xây dựng đề cương (năm 2005), sau chuyến điều tra khảo sát thực tế, chủ nhiềm đề tài đã đề xuất và được phép chuyển đổi hai mô hình
Trang 22nghiên cứu từ: (1) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi chuyên tôm càng xanh theo phương thức thâm canh, (2) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi kết hợp tôm càng xanh, sang nghiên cứu đánh giá hai mô hình mới: (1) Mô hình chuyển đổi đất vườn sang nuôi nuôi cá tra, (2) Mô hình chuyển đổi đất vườn sang kết hợp nuôi cá truyền thống, thuộc phân hệ sinh thái ao vườn nước ngọt Tại mỗi tỉnh, căn cứ trên số hộ tham gia NTTS của tỉnh đó để xác định cỡ mẫu và địa bàn (huyện, xã) để điều tra thu thập thông tin Mẫu điều tra
sẽ được chọn ngẫu nhiên theo danh sách các hộ gia đình chuyển đổi sang NTTS tại địa bàn điều tra
Bảng 1 Kết quả số phiếu phỏng vấn hộ gia đình chuyển đổi sang NTTS của 14
01 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang luân
02 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang kết hợp
nuôi cá
47 Cần Thơ
03 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi
luân canh lúa - tôm càng xanh
50 Cần Thơ,
Hậu Giang
04 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi
chuyên canh tôm càng xanh theo phương thức
nuôi bán thâm canh
30 Cần Thơ,
Hậu Giang
Phân hệ sinh thái ao vườn nước ngọt
05 Mô hình chuyển đổi từ đất vườn sang nuôi chuyên
Phân hệ sinh thái ruộng nhiễm mặn
08 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn
sang nuôi chuyên tôm theo phương thức nuôi TC
56 Sóc Trăng,
Bạc Liêu
09 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn
sang nuôi chuyên tôm theo phương thức nuôi bán
thâm canh
44 Sóc Trăng,
Bạc Liêu
10 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn
sang chuyên canh tôm theo phương thức nuôi
QCCT
51 Cà Mau
Trang 2311 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn
sang nuôi luân canh lúa - tôm
50 Bạc Liêu
Phân hệ sinh thái bãi triều
12 Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi
chuyên tôm theo phương thức nuôi bán thâm canh 46 Trà Vinh
13 Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi
chuyên tôm theo phương thức nuôi thâm canh
52 Trà Vinh
Phân hệ sinh thái rừng ngập mặn
14 Mô hình chuyển đổi từ đất rừng ngập mặn sang
kết hợp nuôi tôm
51 Cà Mau
- Sử dụng phương pháp thu mẫu môi trường: Để đảm bảo bao quát được các chỉ tiêu đánh giá về môi trường, về thời điểm: mẫu môi trường sẽ được lấy làm 3 đợt trong năm vào thời điểm: mùa mưa, mùa khô và giao mùa; về địa điểm: mẫu môi trường sẽ được lấy ở 3 vị trí: nguồn nước cấp, nguồn nước thải
và trong ao nuôi Thu mẫu môi trường và phân tích mẫu môi trường được thực hiện bởi Trung Tâm Quốc gia Quan Trắc, Cảnh báo Môi trường và PNDB Thủy sản Khu vực Nam Bộ - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II – là đơn vị chuyên ngành có năng lực và nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu môi trường
2) Phương pháp phân tích: Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng
các phương phápphân tích cơ bản sau:
- Phân tích thống kê, so sánh các chỉ số dựa trên phần mềm phân tích kinh tế-xã hội SPSS và EXCEL
- Phân tích mẫu môi trường: Các yếu tố môi trường đều được phân tích bằng hệ thống máy và các phương pháp đảm bảo độ chính xác cao Các yếu tố:
pH, nhiệt độ, độ mặn, độ trong, độ kiềm, H2S được phân tích ngay tại hiện trường Các yếu tố COD, BOD, độ cứng, N-NH3, N-NO2, N-NO3, P-PO4, tảo, vi khuẩn được phân tích tại Trung tâm Quốc gia Quan trắc Cảnh báo Môi trường
và Phòng ngừa Dịch bệnh Thủy sản Khu vực Nam bộ - Viện NCNTTS II
- Lựa chọn, phân tích, tổng hợp các tiêu chí liên quan đến phát triển bền vững đề xuất và áp dụng tính chỉ số ngư trại bền vững ASI2, hiệu chỉnh phần mềm tính chỉ số ngư trại bền vững ASI2 cho các mô hình chuyển đổi:
Chỉ số ASI (Aquacultural Sustainability Index) do Nguyễn Đình Hoè
và Vũ Văn Hiếu xây dựng dựa trên biểu đồ BS (biology sustainable) của IUCN, quan tâm đến hai mảng phúc lợi sinh thái và phúc lợi nhân văn (ASI1), chỉ số này phù hợp trong quá trình đánh giá tính bền vững của các mô hình nuôi tôm trong các vùng sinh thái nhạy cảm, vấn đề bảo tồn là quan trọng nhất Tuy nhiên, chỉ số này không phù hợp trong việc đánh giá tính bền vững các mô hình chuyển đổi sang nuôi thuỷ sản với mục tiêu kinh tế-xã hội
Trang 24cũng rất quan trọng Vì vậy, trên cơ sở kiến tạo chỉ số ASI1, chỉ số ASI2 được phát triển và kiến tạo dựa trên 3 mảng chỉ số là các phúc lợi kinh tế, xã hội và môi trường (3 nhóm tiêu chí cơ bản của PTBV), phù hợp với đánh giá tính bền vững cho các mô hình chuyển đổi sang nuôi thuỷ sản
Sự phát triển đồng đều giữa 3 mảng chỉ số trên sẽ đảm bảo cho sự phát triển bền vững của cả hệ thống Sự mất cân bằng giữa 3 mảng chỉ số sẽ gây nên sự phát triển không bền vững của hệ thống Nếu phát triển chỉ quan tâm đến một trong 3 mảng sẽ tạo ra các hệ thống không bền vững
Trên cơ sở xác định được các vấn đề cốt lõi trong hệ thống nuôi thuỷ sản, các chỉ thị đơn để đánh giá mức độ bền vững của hệ thống nuôi thuỷ sản được xây dựng theo 3 mảng: kinh tế, xã hội và môi trường và mỗi mảng có 3 chỉ thị đơn có trọng số ngang bằng (c=1/3) nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa 3 mảng trong phát triển bền vững:
Xã hội (I1 - ASI 2S): Kỹ thuật NTTS (Số năm kinh nghiệm: Người phụ trách kỹ thuật của ao nuôi đã có bao nhiêu năm kinh nghiệm trong nuôi trồng thuỷ sản?; Trình độ kỹ thuật: Người phụ trách kỹ thuật của ao nuôi đã qua những lớp đào tạo, tập huấn nào?); Chấp hành pháp luật (Chất lượng sản phẩm:
Có sử dụng khuốc kháng sinh không?; Quy hoạch vùng nuôi: Ao NTTS có nằm trong vùng quy hoạch cho NTTS không?); Mức lương của người lao động của
ao nuôi (Lương tháng trung bình của người dân làm công trong ngư trại là bao nhiêu?)
Môi trường (I2 - ASI 2Env): Xử lý nước cấp (Diện tích ao xử lý nước cấp là bao nhiêu?); Xử lý nước thải (Diện tích ao xử lý nước thải là bao nhiêu?); Tỷ lệ thiệt hại do dịch bệnh ((Tỷ lệ thuỷ sản bị chết do dịch bệnh là bao nhiêu?)
Kinh tế (I3 - ASI 2Eco): Thu nhập/ha/năm (Thu nhập/ha/năm là bao nhiêu?); Thu nhập trên vốn lưu động (Tỷ suất thu nhập trên vốn lưu động là bao nghiêu?); Thương hiệu sản phẩm (Xuất xứ sản phẩm: Ao nuôi có hồ sơ xuất sứ sản phẩm không?; Thương hiệu sản phẩm: Thuỷ sản từ ao nuôi có thương hiệu hay không?)
Mức độ bền vững được đánh giá theo thang điểm như sau:
Trang 25phần mềm để tính chỉ số ASI2 để thuận tiện trong việc đánh giá mức độ bền vững cho các ngư trại thực hiện chuyển đổi sang NTTS
3) Phương pháp chuyên gia: tổ chức các hội thảo khoa học, xin ý kiến
chuyên gia góp ý cho các báo cáo
Trang 26PHẦN THỨ BA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Đánh giá chung thực trạng chuyển đổi sang NTTS của vùng ĐBSCL
1.1 Chuyển đổi diện tích
Từ sau khi có Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính
phủ về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu và tiêu thụ sản
phẩm nông nghiệp, trong đó xác định: “Giữ ổn định khoảng 4 triệu hecta đất có
điều kiện tưới tiêu chủ động để sản xuất lúa Với các loại đất sản xuất lúa kém
hiệu quả thì chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm khác có hiệu quả cao hơn,
như đất khô hạn chuyển sang trồng màu, đất trũng, đất ven biển chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản ” – phong trào chuyển đổi cơ cấu sản xuất sang nuôi trồng
thuỷ sản đã diễn ra mạnh mẽ trên toàn quốc, đặc biệt là ở khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long Tổng diện tích chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản của vùng
ĐBSCL từ năm 1999 đến hết năm 2005 là 310.841 ha, chiếm 82,4% diện tích
chuyển đổi của cả nước, trong đó chuyển đổi từ đất trồng lúa là 297.187 ha (chiếm 96% diện tích chuyển đổi) [12]; đến năm 2006 tổng diện tích chuyển đổi
sang NTTS của ĐBSCL đạt 376.230 ha, tăng thêm hơn 60.000 ha so với năm
2005; với các đối tượng nuôi chính là tôm sú, nhuyễn thể cho hệ sinh thái nước
lợ; cá tra, cá ba sa, tôm càng xanh, cá truyền thống cho hệ sinh thái nước ngọt –
góp phần làm tăng liên tục tổng diện tích mặt nước NTTS ở ĐBSCL
Bảng 2 Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản ĐBSCL qua các năm
Trang 27Tỉnh có diện tích chuyển đổi sang NTTS nhiều nhất là Cà Mau: trên 167.000 ha, chiếm hơn 44% tổng diện tích chuyển đổi sang NTTS của vùng; tiếp theo là các tỉnh Bạc Liêu: 65.000 ha, Kiên Giang: 52.200 ha, Sóc Trăng: 26.390 ha, Bến Tre: 17.500, Cần Thơ: 12.420 ha, Trà Vinh: 8.500 ha, Long An: 7.530 ha, Tiền Giang: 7.300 ha, Hậu Giang: 5.000 ha, Vĩnh Long: 3.900 ha, Đồng Tháp: 1.170 ha, An Giang: 320 ha
Các mô hình chuyển đổi phổ biến hiện nay của vùng theo hệ sinh thái gồm:
Hệ sinh thái nước ngọt gồm 7 mô hình chuyển đổi:
- Phân hệ sinh thái ruộng trũng nước ngọt:
MH1 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang luân canh lúa – cá
MH2 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang kết hợp nuôi cá
MH3 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi luân canh lúa - tôm càng xanh (lúa – TCX)
MH4 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi chuyên canh tôm càng xanh theo phương thức nuôi bán thâm canh (TCX BTC)
- Phân hệ sinh thái ao vườn
MH5 Mô hình chuyển đổi từ đất vườn sang nuôi chuyên cá tra
MH6 Mô hình từ đất vườn sang kết hợp nuôi cá truyền thống
- Phân hệ sinh thái bãi bồi
MH7 Mô hình chuyên cá tra vùng bãi bồi ven sông
Hệ sinh thái nước mặn lợ gồm 7 mô hình chuyển đổi:
- Phân hệ sinh thái ruộng nhiễm mặn
MH8 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi chuyên tôm theo phương thức nuôi TC
MH9 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi chuyên tôm theo phương thức nuôi BTC
MH10 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang chuyên canh tôm theo phương thức nuôi QCCT
MH11 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi luân canh lúa - tôm
- Phân hệ sinh thái bãi triều
MH12 Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi chuyên tôm theo phương thức nuôi TC
MH13 Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi chuyên tôm theo phương thức nuôi BTC
- Phân hệ sinh thái rừng ngập mặn
MH14 Mô hình chuyển đổi từ đất rừng ngập mặn sang kết hợp nuôi tôm
Trang 28Kết quả diện tích chuyển đổi điều tra tại 13 tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 2000 đến năm 2006 như sau:
Bảng 3. Kết quả chuyển đổi diện tích đất sang NTTS từ năm 2000 – 2006
Đơn vị: ha
1 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang luân canh lúa - cá 14.240
2 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang kết hợp nuôi cá 20.590
3 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi luân canh lúa - tôm càng xanh 1.180
4 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi chuyên canh tôm càng xanh theo phương thức nuôi bán thâm canh 5.500
5 Mô hình chuyển đổi từ đất vườn sang nuôi chuyên cá tra 2.750
6 Mô hình từ đất vườn sang kết hợp nuôi cá truyền thống 12.340
7 Mô hình chuyên cá tra vùng bãi bồi ven sông 640
1 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi chuyên tôm theo phương thức nuôi thâm canh
2 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi chuyên tôm theo phương thức nuôi bán thâm canh
48.710
3 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang chuyên
canh tôm theo phương thức nuôi QCCT 98.100
4 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi luân
5 Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi chuyên tôm theo phương thức nuôi bán thâm canh 1.260
6 Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi chuyên tôm
theo phương thức nuôi thâm canh 1.820
7 Mô hình chuyển đổi từ đất rừng ngập mặn sang kết hợp nuôi tôm 38.070
Nguồn: Tổng hợp báo cáo của các địa phương năm 2007
Trang 29So với diện tích NTTS của vùng năm 2006, diện tích chuyển đổi chiếm 54% Cho đến năm 2006, chưa có hiện tượng chuyển đổi lại sản xuất lúa hoặc muối từ các diện tích đã chuyển đổi sang NTTS.
1.2 Hiệu quả chung về kinh tế
Kết quả thực hiện chuyển đổi sang NTTS thời gian qua đã cho thấy hiệu quả đáng kể về mặt kinh tế đối với ngành NTTS nói riêng, ngành thủy sản và nền kinh tế của đất nước nói chung
1.2.1 Tăng trưởng sản lượng và giá trị sản lượng NTTS
Chuyển đổi diện tích đất kém hiệu quả, đất hoang hóa sang NTTS đã đóng góp một tỷ lệ đáng kể vào sự gia tăng sản lượng, giá trị sản lượng NTTS của vùng
Bảng 4 Sản lượng NTTS phân theo địa phương vùng ĐBSCL
Trang 30Theo số liệu, sản lượng thủy sản của các tỉnh ĐBSCL trong giai đoạn từ
2000 – 2007 của cả vùng cũng như của từng tỉnh có xu hướng tăng liên tục Năm 2000 sản lượng thủy sản nuôi trồng là 365.234 tấn, đến năm 2007 sản lượng đạt 1.558.749 tấn, tăng gấp 4,3 lần so năm 2000 [6] Đây là thành quả to lớn của ngành NTTS, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của sản lượng NTTS
từ các diện tích chuyển đổi Sản lượng từ các diện tích chuyển đổi đóng góp khoảng 25% trong tổng sản lượng NTTS của vùng ĐBSCL
Chuyển đổi diện tích sang NTTS cũng góp phần làm tăng liên tục giá trị sản lượng từ NTTS trong giai đoạn từ năm 2000 – 2007: giá trị sản lượng NTTS năm 2000 của toàn vùng ĐBSCL đạt 10.056 tỷ đồng, năm 2007 đạt 36.485 tỷ đồng, tăng gấp 3,6 lần so năm 2000 Chuyển đổi diện tích sang NTTS đóng góp trên 25% trong sản lượng NTTS của vùng ĐBSCL nhưng đóng góp tới gần 30% trong giá trị sản lượng NTTS vì đối tượng nuôi tại các vùng chuyển đổi chủ yếu
là tôm – đối tượng có giá trị kinh tế cao
Xét khía cạnh tương quan giữa diện tích, sản lượng và giá trị sản lượng: diện tích chuyển đổi sang NTTS chiếm tới 54% diện tích NTTS của vùng ĐBSCL nhưng sản lượng chỉ chiếm trên 25% và giá trị sản lượng chiếm trên 35% là do trong cơ cấu sản lượng và giá trị sản lượng ở ĐBSCL chủ yếu là từ đóng góp của sản lượng và giá trị sản lượng cá tra với năng suất siêu cao
1.2.2 Tăng kim ngạch xuất khẩu và mở rộng thị trường sản phẩm thủy sản
Chuyển đổi diện tích đất kém hiệu quả, đất hoang hóa sang NTTS cũng đã đóng góp một tỷ lệ đáng kể vào sự gia tăng giá trị xuất khẩu thủy sản và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản của vùng
Giá trị xuất khẩu thủy sản của vùng ĐBSCL tăng liên tục trong giai đoạn
từ năm 2000 đến nay (xem bảng trang sau), với sản lượng nguyên liệu đóng góp chủ yếu là từ NTTS, khoảng 60%, trong đó tỷ lệ sản lượng nguyên liệu từ các diện tích chuyển đổi chiếm 20%
Chuyển đổi diện tích sang NTTS ở ĐBSCL cùng với sự phát triển của ngành Thuỷ sản nói chung, đặc biệt là hệ thống chế biến xuất khẩu thuỷ sản, đã góp phần mở ra một thời kỳ phát triển mới cho quan hệ thương mại quốc tế Nếu năm 1996, quan hệ thương mại quốc tế của ngành Thuỷ sản mới chỉ dừng ở con
số 30 nước thì đến năm 2001, hàng thuỷ sản Việt Nam đã có bán tại 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 con số này đã là 75 nước và vùng lãnh thổ, năm 2007 con số này là trên 80 Quan hệ thương mại thuỷ sản được mở rộng tại Mỹ và các nước EU là một đóng góp đáng kể của ngành Thuỷ sản trong việc mở rộng quan
hệ thương mại quốc tế của nền kinh tế Việt Nam Cũng trên cơ sở này, tạo điều kiện cho Việt Nam hiểu đầy đủ hơn về pháp luật và thông lệ quốc tế giúp cho kinh tế thủy sản Việt Nam nói riêng, kinh tế Việt nam nói chung, thâm nhập ngày càng sâu rộng hơn vào khu vực và thế giới
Trang 31
Bảng 5 Giá trị xuất khẩu thủy sản vùng ĐBSCL
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: Niên giám thống kê và Báo cáo của Sở NNPTNT các tỉnh ĐBSCL
1.2.3 Thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
Chuyển đổi diện tích sang NTTS, tự bản thân sự chuyển đổi đã có những yêu cầu phát triển về cơ sở hạ tầng, cùng với sự đầu tư hỗ trợ của Chính phủ và của cả bản thân các cơ sở, hộ gia đình tham gia chuyển đổi sang NTTS, đã có tác động rõ rệt tới cơ sở vật chất hạ tầng ĐBSCL Hệ thống thủy lợi, giao thông, đường điện đến các vùng chuyển đổi tập trung đã được cải thiện một bước đáng
kể, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất Nhiều doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đã đầu tư rất lớn vào nuôi tôm công nghiệp ở những vùng nông thôn, đã xây dựng cơ sở hạ tầng, đường giao thông cho địa phương, xây dựng nhà máy chế biến thức ăn, chế biến sản phẩm xuất khẩu, đưa điện, đưa cơ giới, cơ khí hoá
về nông thôn, đào tạo kỹ thuật cho con em nông dân trở thành công nhân kỹ thuật nuôi tôm, công nhân chế biến thuỷ sản, tăng hàm lượng tri thức, khoa học trong sản phẩm thuỷ sản Điều đó đã thực sự góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
Các mô hình nuôi thủy sản mặc dù phải bỏ ra chi phí đầu tư ban đầu lớn hơn so với trồng lúa, hoặc làm vườn, và làm muối,… nhưng hầu hết đều đem lại doanh thu, thu nhập cao hơn, có mô hình cho thu nhập tăng từ 4 – 10 lần so với trước khi chuyển đổi đã góp phần cải thiện kinh tế gia đình, đặc biệt là những hộ nghèo Do có thu nhập từ NTTS cao hơn trước, người dân có tích lũy để cải tạo
Trang 32nhà cửa, đóng góp với địa phương xây dựng cơ sở hạ tầng làm cho bộ mặt nông thôn ở những vùng chuyển đổi sang NTTS của ĐBSCL được nâng cấp đáng kể
Tuy nhiên, rất cần lưu ý bên cạnh những kết quả khả quan đạt được còn
có một số vùng, một số hộ sản xuất thu hiệu quả kinh tế thấp, thậm chí không có lãi hoặc thua lỗ do môi trường ô nhiễm, chất lượng nguồn giống không đảm bảo,
cơ sở hạ tầng kỹ thuật không đạt yêu cầu
1.3 Hiệu quả chung về xã hội
Bên cạnh rất nhiều hiệu quả tích cực về kinh tế, chuyển đổi sang NTTS cũng mang lại rất nhiều hiệu quả tích cực về mặt xã hội
1.3.1 Phát triển nguồn nhân lực
Việc chuyển đổi diện tích đất trồng lúa năng suất thấp, các vùng trồng lúa
1 vụ bấp bênh, các vùng đất hoang hoá sang nuôi trồng thuỷ sản làm tăng diện tích các loại hình mặt nước và sản lượng thuỷ sản nuôi trồng Qua đó tiềm năng đất đai được khai thác hiệu quả hơn, đồng thời đã tạo ra một nghề mới có thu nhập cao cho nhiều vùng nông thôn, hình thành thêm những vùng sản xuất hàng hóa tập trung Nhân dân từ chỗ chỉ biết canh tác cây lúa bằng kinh nghiệm giản đơn đã thực sự tiếp xúc và áp dụng những thành tựu nghiên cứu khoa học mới, nâng cao kiến thức, kỹ năng, trình độ kỹ thuật, biết hạch toán kinh tế và đầu tư hợp lý cho sản xuất Đồng thời, do tính phức tạp trong phát triển NTTS tại các vùng chuyển đổi đòi hỏi lực lượng cán bộ quản lý cũng phải tự nâng cao kiến thức và được đào tạo để có đủ năng lực quản lý giải quyết tốt các vấn đề nảy sinh trong phát triển sản xuất nên trình độ cán bộ quản lý tại các Sở, ban, ngành liên quan cũng được nâng lên một bước
1.3.2 Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất và quản lý
Do yêu cầu phải hợp tác trong NTTS, nhất là về sử dụng nguồn nước và bảo vệ môi trường, trao đổi kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm, nên mặc dù vẫn sản xuất theo hộ gia đình, chưa hình thành nhiều các tổ chức sản xuất có mối quan
hệ kinh tế chặt như các hợp tác xã, công ty liên doanh, … nhưng đã hình thành nhiều các loại hình hợp tác tổ chức sản xuất trong NTTS như: tổ, đội nuôi thủy sản; bên cạnh đó, các hợp tác xã NTTS đã hình thành thì ngày càng được củng
cố vững chắc hơn, chắc chắn sẽ trở thành những điển hình hạt nhân để góp phần nhân rộng mô hình tổ chức sản xuất hợp tác trong tương lai, làm tăng khả năng cạnh tranh của sản xuất NTTS trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh
đó các hình thức liên kết sản xuất 2 nhà, 3 nhà, 4 nhà cũng đang được tạo điều kiện và khuyến khích phát triển tại các vùng chuyển đổi sang NTTS
Các phương thức quản lý theo quy trình thực hành nuôi tốt (GAP), quản
lý vùng nuôi trên cơ sở cộng đồng, … đang được chú ý phát triển trong các vùng NTTS nói chung, các vùng chuyển đổi sang NTTS nói riêng để góp phần tăng hiệu quả kinh tế và đảm bảo an toàn vùng nuôi, hướng tới sự phát triển bền vững
Trang 331.3.3 Tạo việc làm và công bằng xã hội
Bên cạnh hoạt động NTTS, các hoạt động dịch vụ nuôi trồng thuỷ sản ra đời như dịch vụ giống, thức ăn, tiêu thụ sản phẩm đã tạo thêm nhiều việc làm cho người dân trong vùng chuyển đổi Thu nhập cao hơn từ chuyển đổi sang NTTS đã tạo điều kiện tốt hơn cho người dân vùng chuyển đổi tiếp cận các dịch
vụ giáo dục, y tế, văn hóa, … Các vấn đề về: việc làm, ổn định thu nhập, thu nhập/lao động, khám chữa bệnh tại bệnh viện, đầu tư cho con đi học, sử dụng nước sạch, lượng đạm trong bữa ăn … đều tốt hơn trước khi chuyển đổi Không
có hiện tượng bắt con phải bỏ học để lao động, càng có thêm thu nhập, trẻ em trong độ tuổi đi học càng có điều kiện tốt hơn để đi học
Phụ nữ ngày càng được tham gia nhiều hơn vào các hoạt động xã hội, quyết định sản xuất, quyết định chi tiêu trong gia đình Sức khỏe của cộng đồng nói chung, phụ nữ nói riêng đều có xu hướng khỏe hơn Các bệnh phụ nữ giảm đáng kể do có điều kiện dùng nước sạch Các tệ nạn xã hội không tăng do thanh niên có việc làm
Thu nhập tốt hơn từ chuyển đổi sang NTTS đã góp phần làm giảm tỷ lệ
hộ nghèo của vùng ĐBSCL: Từ năm 1992 đến năm 1998, tốc độ xóa đói giảm nghèo và tăng thu nhập ở vùng ĐBSCL chậm hơn so với các vùng khác trong cả nước, gây nên mối lo ngại là khu vực này đang mất thế cạnh tranh Từ năm 2002 đến nay cho thấy, ngược lại với xu thế giảm nghèo chậm lại ở các vùng khác trong cả nước, tỷ lệ hộ nghèo ở vùng ĐBSCL giảm khá nhanh với tỷ lệ nghèo chung giảm từ 37% xuống còn 15% năm 2005, 13% năm 2006 và 12,4% năm
2007 (theo chuẩn mới) [3] Phát triển NTTS, đặc biệt mô hình lúa-cá, đang trở thành một giải pháp hữu hiệu cho xóa đói giảm nghèo của vùng ĐBSCL nói riêng, của cả nước nói chung
Cho đến nay, không có mẫu thuẫn đáng kể xảy ra trong sản xuất cũng như trong sinh hoạt và đời sống hàng ngày
1.3.4 An ninh lương thực và thực phẩm
Sự bùng phát phong trào chuyển đổi sang NTTS không theo quy hoạch những năm 2001, 2002 đã được điều chỉnh Cho đến nay, việc chuyển đổi các vùng diện tích nông, lâm nghiệp kém hiệu quả, các vùng đất hoang hóa, các vùng RNM được phép kết hợp NTTS đã không gây ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh lương thực của vùng và quốc gia Xét ở quy mô hộ gia đình, chuyển đổi sang NTTS còn có hiệu quả tích cực cho an ninh lương thực do có thu nhập tăng nên hộ gia đình thoát khỏi tình trạng nghèo đói
Chuyển đổi diện tích sang NTTS đã có ảnh hưởng tích cực tới an ninh thực phẩm, một mặt thu nhập tăng sẽ giúp cho người dân mua được nhiều hơn
số lượng thực phẩm, mặt khác tạo thêm nguồn đạm động vật sẵn có tại chỗ cho người dân
Trang 341.3.5 Đổi mới cơ chế chính sách
Chính từ thực tiễn của việc chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản đã có tác động rất lớn tới việc hình thành những chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với việc định hướng và khuyến khích phát triển sản xuất hàng hoá Một trong những chính sách quan trọng được ra đời đó là Nghị quyết
số 09/2000/NQ-CP của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đã cho phép chuyển đổi những vùng đất canh tác nông nghiệp kém hiệu quả và khuyến khích khai thác những vùng đất hoang hoá để nuôi trồng thuỷ sản Đây là căn cứ để các địa phương điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xây dựng quy hoạch thuỷ sản, các dự án nuôi trồng quy mô lớn, nhờ vậy đã giải quyết được vấn đề chuyển đổi tự phát Để hỗ trợ phát triển NTTS nói chung, chuyển đổi sang NTTS nói riêng, trong những năm qua, Chính phủ đã cụ thể hoá chủ trương của Đảng thành một số chính sách phát triển kinh tế như:
- Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP của Chính phủ về kinh tế trang trại
- Quyết định số 103/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển gíống thuỷ sản,
- Quyết định số 132/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về về đầu tư
hạ tầng làng nghề nông thôn, giao thông nông thôn và hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản
- Quyết định số 112/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình phát triển giống thuỷ sản đến năm 2010,
- Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản trên biển và hải đảo
- Việc tiêu thụ sản phẩm thủy sản cũng góp phần cho việc ban hành Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ sản phẩm hàng hoá theo hợp đồng của Thủ tướng Chính phủ để giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm được tốt hơn, gắn trách nhiệm của người sản xuất với cơ sở chế biến tiêu thụ, tạo
sự công bằng hơn trong phân phối thu nhập từ người sản xuất tới người chế biến
và tiêu thụ sản phẩm
Ngoài chính sách chung của Nhà nước, các địa phương đã vận dụng xây dựng cơ chế chính sách riêng Các tỉnh thuộc ĐBSCL đã ban hành nhiều văn bản về phát triển thuỷ sản bao gồm các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định của Tỉnh
ủy, UBND tỉnh về phê duyệt Chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản, các cơ chế chính sách về đất đai (giao đất, miễn giảm thuế sử dụng đất, miễn giảm tiền thuê đất một số năm đầu) về tín dụng (cho vay ưu đãi), về đầu tư (hỗ trợ các mức khác nhau đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết bị, giống, tiền thuê chuyên gia…), hỗ trợ rủi ro, trợ giá cước vận chuyển giống cho các vùng khó khăn Ngoài ra ở nhiều nơi, chính quyền cấp huyện cũng có cơ chế khuyến khích phát triển nuôi trồng thuỷ sản
Trang 35Nhờ có các chính sách được ban hành kịp thời đã tạo hành lang pháp lý và điều kiện thuận lợi thúc đẩy cho nuôi trồng thuỷ sản nói chung, chuyển đổi sang NTTS nói riêng, phát triển nhanh và hiệu quả hơn
Vấn đề hiểu biết về chính sách, pháp luật được nâng cao do chính yêu cầu sản xuất đòi hỏi người dân phải tìm hiểu, mặt khác do thu nhập được nâng cao nên hộ gia đình có thêm nhiều phương tiện nghe nhìn, từ đó lại càng tác động tích cực đến sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cộng đồng
Bên cạnh những hiệu quả tích cực về mặt xã hội, cần lưu ý đến một số khía cạnh xã hội có thể chịu tác động tiêu cực từ chuyển đổi sang NTTS như: Phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét, một số hộ do nuôi thủy sản thất bại nên
nợ đọng khó trả tăng lên, không đảm bảo công bằng xã hội, dễ mắc các tệ nạn xã hội khi có thu nhập nhiều hơn, gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới sức khỏe, đời sống của cộng đồng dẫn tới mâu thuẫn xã hội nảy sinh
1.4 Hiệu quả chung về môi trường sinh thái
Nhìn chung, các mô hình nuôi kết hợp hoặc luân canh lúa-thủy sản (tôm, cá) lại có tác dụng tốt trong cải tạo môi trường làm giảm dịch bệnh cho các giống loài thủy sản nuôi do hạn chế sử dụng thuốc sâu và thuốc bảo vệ thực vật nên giảm ô nhiễm môi trường nước, từ đó tạo môi trường tốt cho các giống loài thủy sản tự nhiên phát triển Lượng cua, ốc, cá đồng, tôm đồng, tự nhiên tại những vùng chuyển đổi kết hợp lúa – thủy sản được đánh giá là ngày càng nhiều
Việc chuyển đổi sang NTTS tại những vùng thực hiện tốt việc xử lý chất thải hoặc nuôi ở mật độ thấp với các đối tượng nuôi không gây hại tới môi trường sinh thái, bên cạnh đó hiện nay hệ thống thủy lợi đã tương đối hoàn chỉnh nên không gây ảnh hưởng tiêu cực tới đa dạng sinh học hay làm nhiễm mặn nguồn nước, nguồn lợi thủy sản tự nhiên cũng không vì chuyển đổi sang NTTS mà suy giảm
Tuy nhiên ở một số vùng nuôi tập trung với mật độ giống nuôi cao lại không thực hiện nghiêm các quy định về xử lý chất thải Chất thải từ các ao nuôi thải thẳng ra môi trường không qua xử lý, nên cũng có gây ra các hiệu quả tiêu cực tới môi trường sinh thái như:
Làm giảm đa dạng sinh học: các cây, con sống ở vùng nước sau cống xả
thải của các vùng nuôi giảm nhiều, thậm chí không xuất hiện, sau khi thực hiện chuyển đổi sang NTTS, nhất là ở những vùng chuyển đổi sang nuôi cá tra với mật độ cao
Làm giảm nguồn lợi thủy sản tự nhiên: Do xả thải nước và chất thải
không qua xử lý trong NTTS và của hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt nên chất lượng môi trường nước ngày càng suy giảm làm giảm nguồn lợi thủy sản tự nhiên không chỉ ở trong vùng chuyển đổi mà còn ở cả các vùng chịu tác động lan tỏa theo chất xả thải không qua xử lý
Trang 36Ảnh hưởng tới môi trường xung quanh: Bên cạnh việc ảnh hưởng tiêu
cực tới đa dạng sinh học, nguồn lợi thủy sinh, một số vùng chuyển đổi sang NTTS còn gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường sống của chính người dân vì nguồn nước sinh hoạt và không khí bị ô nhiễm từ nguồn chất thải không được
xử lý của các ao NTTS, gây ảnh hưởng tới sức khỏe và đời sống của người dân Vấn đề này cũng nghiêm trọng đối với một số vùng chuyển đổi sang nuôi cá tra với mật độ cao
Bên cạnh sự ô nhiễm môi trường, cộng với trình độ kỹ thuật, quản lý, đặc biệt quản lý chất lượng giống thủy sản, còn nhiều hạn chế, kèm theo đó là các khó khăn về kinh tế, thiếu vốn đầu tư và ý thức bảo vệ môi trường chưa cao nên qua các năm chuyển đổi, tại một số vùng môi trường nuôi ngày càng suy thoái, dịch bệnh, tình trạng tôm cá chết xảy ra đã khiến cho năng suất nuôi trồng ngày càng suy giảm và chất lượng sản phẩm không đạt được những tiêu chuẩn khá khắt khe của các nước nhập khẩu trên thế giới… cho nên số hộ nuôi đạt lợi nhuận cao không còn nhiều như trước đây nữa Đây là một điểm hạn chế lớn của các mô hình NTTS nói chung, mô hình chuyển đổi sang NTTS nói riêng ở một
số vùng, nhất là các vùng chuyển đổi sang nuôi tôm nước lợ theo phương thức thâm canh và bán thâm canh
2 Đánh giá hiệu quả từng mô hình chuyển đổi sang NTTS theo vùng sinh thái
2.1 Mô tả đặc điểm kinh tế-kỹ thuật các mô hình chuyển đổi
1) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang luân canh lúa – cá (MH 01)
Mô hình luân canh lúa cá có các đối tượng nuôi rất đa dạng, thường là những loài cá bản địa và nhập nội, chủ yếu là cá mè vinh, rô phi, chép; ngoài ra còn có thêm các loài khác như cá trôi Ấn, rô đồng, mè trắng
Ruộng được sử dụng cho mô hình là ruộng 2 vụ lúa, nay nuôi luân canh;
từ tháng 5, 6 đến tháng 10 nuôi cá, từ tháng 10 đến tháng 5 (năm sau) trồng 2 vụ lúa Hầu hết đất canh tác là đất ruộng được giao quyền sử dụng đất dài hạn trên
10 năm với quy mô vùng nuôi rất đa dạng nhưng chủ yếu từ 1 – 5 ha
Diện tích ruộng luân canh lúa cá nhỏ nhất là 0,5 ha, lớn nhất là 2 ha Độ sâu ruộng nuôi cũng rất đa dạng, trung bình ở mức từ 1-1,2m chiếm 71,2% tùy thuộc vào đầu tư ban đầu, độ sâu của ruộng nuôi tương đối phù hợp cho nuôi cá
Phần lớn các hộ đều không có ao xử lý nước cấp và nước thải
Giống cá thả là cá giống lớn từ 3 – 10 cm, tùy theo loài; mật độ nuôi cũng tùy theo khả năng thức ăn, thông thường thả từ 5-10 con/m2 Nguồn gốc con giống được người dân mua thông qua các đại lý bán và ương giống tại địa phương nhưng chủ yếu là nguồn giống từ các địa phương khác
Đầu tư XDCB: Trước chuyển đổi, diện tích ruộng được trồng lúa 2 vụ đã
có từ lâu đời nên không có sự đầu tư XDCB Khi chuyển đổi sang mô hình luân
Trang 37canh lúa - cá, các hộ phải đào mương, kè bờ ruộng, xây cống và mua sắm các dụng cụ như máy bơm, thuyền, lưới, … Trung bình hộ nuôi phải đầu tư khoảng 3,64 triệu đồng/ha, hộ đầu tư thấp nhất là 1 triệu đồng/ha, hộ đầu tư cao nhất là
12 triệu đồng/ha
2) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang kết hợp nuôi cá (MH 02)
Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang kết hợp nuôi cá có các đối tượng nuôi rất đa dạng, thường là những loài cá bản địa và nhập nội, chủ yếu là
cá mè vinh, rô phi, chép; ngoài ra còn có thêm các loài khác như cá trôi Ấn, rô đồng, mè trắng Năng suất nuôi cá trong ruộng lúa theo kết quả điều tra trung bình đạt 0,4 tấn/ha (giao động 0,3-1,2 tấn/ha) tùy theo giống thả, chế độ cho ăn
và trình độ kỹ thuật, khả năng chăm sóc của người nuôi Diện tích mương thường chiếm 20-30% diện tích ruộng Thời gian thả nuôi tùy địa phương, thường vụ Đông Xuân-Hè Thu (đối với 2 lúa-1 thủy sản) và sau Đông Xuân (đối với 1 lúa-1 thủy sản) Mô hình này phổ biến các tỉnh Vĩnh Long (Tam Bình, Măng Thít), Đồng Tháp…
Ruộng được sử dụng cho mô hình là ruộng 2 vụ lúa, nay kết hợp thêm một vụ cá Hầu hết đất canh tác là đất ruộng được giao quyền sử dụng đất dài hạn 20 năm với quy mô vùng nuôi rất đa dạng nhưng chủ yếu từ 1 – 2 ha
Diện tích ruộng kết hợp nuôi cá nhỏ nhất là 0,45 ha, lớn nhất là 4,5 ha Độ sâu mương nuôi cũng rất đa dạng, tùy thuộc vào đầu tư ban đầu, từ thấp hơn 0,8 – trên 1,3 m; dưới 0,8 m có 23% số hộ, từ 0,8 - <1 m có 12%, từ 1 – 1,2 m có 33%, trên 1,3 m có 33% Như vậy độ sâu của mương đã tương đối phù hợp cho nuôi cá
Phần lớn các hộ đều không có ao xử lý nước cấp và nước thải, chỉ có 20%
số hộ có ao xử lý nước cấp và nước thải – tuy vậy, đây cũng là tỷ lệ tương đối cao đối với mô hình này Trong số hộ có ao xử lý nước cấp, diện tích ao xử lý nước cấp dao động từ 0,1 – 0,3 ha, tỉ lệ diện tích ao xử lý nước cấp so với diện tích ao nuôi nhỏ hơn trung bình khoảng 7 - 10 lần
Đối tượng thủy sản nuôi: chủ yếu là các loài cá truyền thống như mè, trôi, trắm, chép Giống cá thả là cá giống lớn từ 5 – 12 cm, tùy theo loài; mật độ nuôi cũng tùy theo khả năng thức ăn, thông thường thả từ 8 – 11 con/m2 Nguồn gốc con giống được người dân mua thông qua các đại lý bán và ương giống tại địa phương nhưng chủ yếu là nguồn giống từ các địa phương khác
Mùa vụ: Mô hình này gồm 2 vụ lúa và 1 vụ cá: tháng 2,3 cấy lúa hè thu và thả cá Thời gian thả trước hoặc sau khi cấy lúa 7 ngày, nuôi cá qua cả vụ đông xuân, thu hoạch lúa xong sẽ thu cá vào tháng 10
Đầu tư XDCB: Trước chuyển đổi, diện tích ruộng được trồng lúa 2 vụ đã
có từ lâu đời nên không có sự đầu tư XDCB Khi chuyển đổi sang mô hình trồng lúa kết hợp NTTS, các hộ phải đào mương, kè bờ ruộng, xây cống và mua sắm các dụng cụ như máy bơm, thuyền, lưới, thuê đất … Trung bình hộ nuôi phải
Trang 38đầu tư khoảng 5,21 triệu đồng/ha, hộ đầu tư thấp nhất là 0,86 triệu đồng/ha, hộ đầu tư cao nhất là 14,27 triệu đồng/ha
3) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi luân canh lúa - tôm càng xanh (MH 03)
Ruộng được sử dụng cho mô hình là ruộng 3 vụ lúa, nay thay 1 hoặc 2 vụ lúa bằng một vụ TCX tùy điều kiện từng địa phương Mẫu khảo sát ở đây cho
mô hình thay 2 vụ lúa hè – thu và thu đông bằng một vụ TCX
Hầu hết đất canh tác là đất ruộng được giao quyền sử dụng đất lâu dài với quy mô vùng nuôi rất đa dạng nhưng chủ yếu từ 0,5 đến dưới 1 ha
Diện tích ruộng luân canh lúa - TCX nhỏ nhất là 0,5 ha, lớn nhất là 2,5 ha
Độ sâu mương nuôi phổ biến ở mức 0,8 m chiếm 88% số hộ, từ 0,8 - <1 m có 12% Như vậy độ sâu của mương đã tương đối phù hợp cho nuôi TCX
Phần lớn các hộ đều không có ao xử lý nước cấp và nước thải (100% số
hộ được điều tra), đồng nghĩa với việc không có hộ nào thực hiện xử lý nước cấp và nước thải Lý do chính để không xử lý là do hạn hẹp về diện tích nhưng
cơ bản là do nguồn nước của vùng chưa bị ô nhiễm ảnh hưởng đến tôm nuôi
Đối tượng thủy sản nuôi chính là TCX, có một số hộ thả ghép thêm cá
mè, trôi ấn Giống TCX thả là tôm bột với mật độ từ 5 – 8 con/m2 ruộng nuôi Các hộ gia đình thường ương tôm bột ngay tại ruộng nuôi 3 – 4 tuần trước khi thả ra ruộng nhằm hạn chế sự hao hụt và dễ chăm sóc tôm ở giai đoạn còn nhỏ Tôm bột được ương ở một phần mương trong ruộng bằng cách dùng lưới mùng ngăn một phần mương Năng suất nuôi trung bình đạt từ 1 – 1,5 tấn tôm/ha
Mùa vụ: Mô hình này gồm 1 vụ lúa và 1 vụ tôm: tháng 2, 3 chuẩn bị thả tôm, nuôi đến tháng 8, 9 thu hoạch; tháng 10 xuống giống lúa cho vụ đông – xuân
Đầu tư XDCB: Trước chuyển đổi, diện tích ruộng được trồng lúa 3 vụ đã
có từ lâu đời nên đầu tư XDCB ở mức thấp và ổn định qua các năm, dao động xung quanh 0,93 – 0,94 triệu đồng/ha Khi chuyển đổi sang mô hình luân canh lúa - TCX, các hộ phải đào mương, kè bờ ruộng, xây cống và mua sắm các dụng
cụ như máy bơm, thuyền, lưới … Trung bình hộ nuôi đầu tư thêm khoảng 6,68 triệu đồng/ha, hộ đầu tư thấp nhất là 2,67 triệu đồng/ha, hộ đầu tư cao nhất là 13,3 triệu đồng/ha
4) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi chuyên canh tôm càng xanh theo phương thức nuôi bán thâm canh (MH 04)
Mật độ giống tôm thả trung bình 13,8±2,9 con/m2, trong đó cao nhất 20 con/m2 và mật độ thả thấp nhất 10 con Nguồn tôm giống chủ yếu được cung cấp tại địa phương chiếm 60%, từ nơi khác chiếm 40%
Năng suất nuôi tôm theo kết quả điều tra trung bình đạt 1,76 tấn/ha (giao động 1,06-2,18 tấn/ha) tùy theo mật độ giống thả, chế độ cho ăn và trình độ kỹ thuật, khả năng chăm sóc của người nuôi
Trang 39Nhìn chung diện tích ao nuôi tương đối phù hợp so với tiêu chuẩn ao nuôi, trung bình mỗi hộ khoảng 1,25±0,11 ha, trong đó diện tích bình quân mỗi
ao nuôi khoảng 0,74 ± 0,13 ha/ao, ao lớn nhất 2,0 ha và ao nhỏ nhất 0,2 ha Số
ao nuôi có diện tích dưới 1 ha chỉ chiếm 20% và tỷ lệ số ao có diện tích từ 1-5
ha chiếm 80%
Theo tiêu chuẩn ngành độ sâu ao nuôi tôm càng xanh bán thâm canh từ 1,2-1,5 m là thích hợp nhất; trong khi đó vùng nghiên cứu đạt 1,2±0,03m, bao gồm độ sâu ao nuôi từ 1-1,2m chiếm 88,9% và chỉ có 11,1% số ao có độ sâu trên 1,2m
Số lượng cống cấp nước trung bình cho mỗi ao là 1 cống/ao chiếm 77,8%
và tập trung nhiều ở ao có diện tích dưới 2 ha; khoảng 22,2% ao nuôi tôm có từ 2-3 cống cấp nước và tập trung ở các ao có diện tích trên 2 ha Tương tự như thế, tỷ lệ số ao có 1 cống thoát chiếm 87,5% và 2-3 cống chiếm 12,5% Mặc dù
đa số các ao nuôi tôm càng xanh bán thâm canh có 1 cống cấp và 1 cống thoát riêng biệt, nhưng do vùng chưa được quy hoạch nên các ao nuôi còn dùng chung
hệ thống kênh cấp và kênh tiêu chung trong vùng và thậm chí còn chung giữa kênh cấp và kênh tiêu chung (chiếm 50%) Như vậy, việc nuôi tôm càng xanh của vùng chuyển đổi vẫn tiềm ẩn nhiều vấn đề về môi trường và dịch bệnh
Mùa vụ: mùa vụ chính từ tháng 2 – tháng 9, mùa vụ phụ từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau
Đầu tư XDCB: Trước chuyển đổi, do đất ở vùng trũng nên diện tích ruộng phải đào đắp bờ bao lửng nhiều, trung bình hộ làm ruộng phải đầu tư khoảng 7,7 triệu đồng/ha, hộ đầu tư thấp nhất là 3,5 triệu đồng/ha, hộ đầu tư cao nhất là 14,7 triệu đồng/ha Khi chuyển đổi sang mô hình trồng lúa kết hợp NTTS, các hộ phải đào mương, kè bờ ruộng, xây cống và mua sắm các dụng cụ như máy bơm, thuyền, lưới, … nên cũng phải tăng đầu tư Trung bình hộ chuyển đổi sang nuôi tôm phải đầu tư khoảng 34,85 triệu đồng/ha, hộ đầu tư thấp nhất là 5 triệu đồng/ha, hộ đầu tư cao nhất là 60 triệu đồng/ha
5) Mô hình chuyển đổi từ đất vườn sang nuôi chuyên cá tra (MH 05)
Diện tích nuôi cá tra trong đất vườn không lớn, trung bình mỗi ao nuôi có diện tích 0,3±0,21 ha/ao, trong đó ao lớn nhất là 0,8 ha và nhỏ nhất khoảng 0,05
ha Tỷ lệ diện tích nuôi trên 0,5 ha chiếm 30% số hộ, còn lại chủ yếu dưới 0,5 ha/ao và quy mô diện tích nuôi nhỏ hơn so với nuôi cá tra bãi bồi (0,5-0,8ha/ao)
Độ sâu ao nuôi luôn đạt ở mức 3,6±0,05m, trong đó độ sâu lớn nhất 4 m và nhỏ nhất 3 m; nếu so với tiêu chuẩn ao nuôi cá tra thâm canh thì mức nước ao nuôi luôn cao hơn tiêu chuẩn 0,6 m (tiêu chuẩn 2-3m, số 28 TCN 170-2001)
Với đặc thù nuôi cá tra vườn có thể thay nước dựa vào thuỷ triều Do đó,
số hộ có 1 cống cấp nước chiếm 90% và 2-3 cống/ao chiếm 10% Trong khi đó,
tỷ lệ số ao có 1 cống tiêu lại chiếm 71,4%, có 2-3 cống chiếm 14,3% và không
có cống tiêu chiếm 14,3% (chỉ tiêu bằng máy bơm)
Trang 40Hiện nay, việc nuôi cá tra vườn ở ĐBSCL chủ yếu sử dụng thức ăn tự chế biến/hay thức ăn phối trộn từ các nguyên liệu sẵn có của địa phương và thức ăn viên công nghiệp (thức ăn viên nổi) có hàm lượng protein dao động từ 20 - 28 % cung cấp cho cá nuôi trong hệ thống qua các giai đoạn phát triển Nhìn chung hệ
số thức ăn trung bình đối với thức ăn công nghiệp trong nuôi cá tra vườn đạt 1,81±1,04; trong khi đó đối với nhóm thức ăn tự chế đạt bình quân 3,41±1,52, lớn nhất 4,84 và nhỏ nhất 3,01
Mật độ giống thả nuôi đạt bình quân 25,66±112,62 con/m2 ao, trong đó mật độ thả cao nhất là 44 con/m2 và thấp nhất 6 con/m2 Trong khi đó, khuyến cáo của các nhà khoa học trong nuôi cá trao ao đất ở ĐBSCL thả cá (kích cỡ 10-
15 cm/con) thường 8-10 con/m2 ao, và nếu trong điều kiện thay nước tốt thả
20-40 con/m2;
Năng suất nuôi cá tra trên đất vườn ở ĐBSCL năm 2006 đạt bình quân 132,57±62,46 tấn/ha, cao nhất 240 tấn/ha và thấp nhất 42 tấn/ha Trong đó, khoảng 40% số hộ có năng suất đạt dưới 100 tấn/ha, chỉ có 30% số hộ có năng suất 100-200 tấn/ha và trên 200 tấn/ha chiếm 30%
Đầu tư XDCB: Cơ cấu đầu tư của các hộ nuôi cá tra vườn ở ĐBSCL có sự khác nhau nhiều giữa các hộ với nhau Trung bình mức đầu tư cho nuôi cá tra đạt 86,9 triệu đồng/ha, cao nhất 210 triệu/ha và thấp nhất chỉ có 48 triệu/ha Đối với nuôi cá tra vườn cần phải đầu tư về cơ sở hạ tầng và chi phí sản xuất cao hơn rất nhiều so với làm vườn ở ĐBSCL, đây là một trong lý do chính mà người dân
ở vùng khi chuyển đổi đất làm vườn sang nuôi cá tra đều có nhu cầu vay vốn rất cao
6) Mô hình chuyển đổi từ đất vườn sang nuôi cá truyền thống (MH 06)
Hầu hết đất canh tác là đất thổ cư được giao quyền sử dụng đất dài hạn với quy mô vùng nuôi rất đa dạng nhưng chủ yếu là dưới 0,5 ha (50% số hộ), hộ
có diện tích ao nuôi nhỏ nhất là 0,3 ha; còn lại là từ 0,5 – 1 ha, rất ít hộ có diện tích ao nuôi lớn hơn 1 ha, có 1 hộ có diện tích chuyển đổi lớn nhất là 3 ha, chia làm nhiều ao Đối tương nuôi của mô hình này chủ yếu là cá rô đồng và cá thát lát
Độ sâu ao nuôi cũng rất đa dạng, tùy thuộc vào đầu tư ban đầu, phổ biến
là ở mức trên 1,2 m (70%) và từ thấp hơn 1 – 1,2 m (30%) Như vậy độ sâu của
ao đã tương đối phù hợp cho nuôi cá
Phần lớn các hộ đều không có ao xử lý nước cấp và nước thải, chỉ có 20%
số hộ có ao xử lý nước cấp và nước thải, đây là vấn đề cần chú ý giải quyết đối với mô hình này vì các ao nuôi đều ở trong khu dân cư, vấn đề bị ô nhiễm và gây ô nhiễm nếu không có hệ thống ao xử lý nước cấp và nước thải sẽ rất dễ xảy
ra
Giống cá thả là cá giống lớn có kích thước tùy theo loài; mật độ nuôi cũng tùy theo loài nuôi và khả năng thức ăn Theo kết quả điều tra mẫu, thông thường thả từ 2,3 - 3 con/m2 đối với cá rô đồng và từ 1 – 1,5 con/m2 đối với cá thát lát