Tuy nhiên, những nghiên cứu về Sứa còn rất hạn chế; hiện chưa có được thông tin đầy đủ về thành phần loài Sứa kinh tế quan trọng, chưa có được số liệu về nguồn lợi và hiện trạng khai thá
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
224 Lê Lai, Hải Phòng
-
BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC KỸ THUẬT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỢI SỨA VÙNG VEN BIỂN VIỆT NAM, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ
Trang 2BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
224 Lê Lai, Hải Phòng
-
BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC KỸ THUẬT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỢI SỨA VÙNG VEN BIỂN VIỆT NAM, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ
(Đề tài độc lập cấp Bộ)
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Dương Thạo
Hải Phòng, tháng 12 năm 2011
© Bản quyền thuộc Viện Nghiên cứu Hải sản
Đơn xin sao chép toàn bộ hoặc từng phần tài liệu này phải được gửi đến Viện
trưởng VNCHS trừ trường hợp sử dụng bởi mục đích nghiên cứu.
Trang 3DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH ĐỀ TÀI
1 TS Nguyễn Dương Thạo Viện Nghiên cứu Hải sản, Bộ NN&PTNT
22 TS Chu Văn Thuộc Viện Tài nguyên và Môi trường biển,
Viện KH&CN Việt Nam
Trang 4TÓM TẮT BÁO CÁO TỔNG KẾT
Nhóm Sứa có giá trị kinh tế (Sứa thủy sản) là động vật phù du biển thuộc ngành Xoang tràng, có trữ lượng khá lớn ở biển nước ta Sứa dùng để chế biến đặc sản có giá trị kinh tế cao Những năm gần đây, Sứa đã trở thành nguồn lợi hải sản quan trọng, là đối tượng khai thác với vốn đầu tư thấp nhưng cho thu nhập cao của ngư dân nhiều tỉnh ven biển Tuy nhiên, những nghiên cứu về Sứa còn rất hạn chế; hiện chưa có được thông tin đầy đủ về thành phần loài Sứa kinh
tế quan trọng, chưa có được số liệu về nguồn lợi và hiện trạng khai thác Sứa ở vùng ven biển Việt Nam
Đề tài “Nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi Sứa vùng ven biển Việt Nam, đề
xuất giải pháp khai thác và bảo vệ” được thực hiện từ tháng 1/2009 - 12/2011
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ vùng ven biển Việt Nam từ độ sâu 30m trở vào bờ Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá được nguồn lợi và hiện trạng khai thác nhóm Sứa kinh tế (chủ yếu là Sứa trắng, Sứa rô, Sứa đỏ,…) ở vùng ven biển Việt Nam, đề xuất được các giải pháp về quản lý, khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi Sứa biển
Các phương pháp điều tra, nghiên cứu, tính toán mà đề tài sử dụng là chuyên ngành, theo các quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn của quốc gia, của ngành thủy sản
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định được thành phần, phân bố, trữ lượng, mùa vụ và khả năng khai thác 4 loài Sứa kinh tế quan trọng ở vùng ven
biển nước ta là Sứa trắng (Rhopilema hispidum), Sứa rô (Crambione
mastigophora), Sứa đỏ (Rhopilema esculentum) và Sứa Lobonema smithii; đã xác
định được 4 yếu tố sinh thái của môi trường có liên quan từ tương đối mật thiết đến mật thiết với nguồn lợi Sứa biển; đó là nhiệt độ không khí, nhiệt độ nước biển, độ muối nước biển và số lượng động vật phù du Đề tài đã tiến hành điều tra, đánh giá được hiện trạng khai thác Sứa ở các tỉnh ven biển Việt Nam, đánh giá được hiệu quả kinh tế của các đội tàu và các nghề khai thác; tìm hiểu ảnh hưởng của Sứa đối với hoạt động du lịch - tắm biển Dựa trên kết quả điều tra, nghiên cứu, đề tài đã đề xuất được các giải pháp khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi Sứa biển, đề xuất các biện pháp hạn chế tác hại của Sứa và bảo đảm an toàn cho du khách khi tắm biển
Nhìn chung, đề tài đã hoàn thành toàn bộ nội dung nghiên cứu theo tiến độ
và đạt được mục tiêu đề ra, các số liệu điều tra khảo sát có độ tin cậy cao Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi Sứa biển, góp phần phát triển kinh
tế - xã hội, phân công lại lao động, chuyển dịch nhiều nghề khai thác hải sản ở khu vực gần bờ sang khai thác Sứa để bảo vệ và tái tạo nguồn lợi
Trang 5MỤC LỤC
BẢNG CHÚ GIẢI CÁC CHỮ VIẾT TẮT viDANH MỤC CÁC BẢNG vii
5.1 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÙNG VEN BIỂN VIỆT NAM TRONG
5.2 THÀNH PHẦN, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC HÌNH THÁI VÀ PHÂN BỐ
CỦA MỘT SỐ LOÀI SỨA KINH TẾ QUAN TRỌNG 39
5.2.1.2 Thành phần nhóm Sứa kinh tế quan trọng ở vùng ven biển Việt Nam 39
Trang 65.2.2 Đặc điểm sinh học hình thái của một số loài Sứa kinh tế quan trọng 40
5.2.2.1 Đặc điểm sinh học hình thái theo bậc phân loại 40
5.2.2.2 Đường kính dù, tương quan giữa đường kính dù và khối lượng 45
5.3 TRỮ LƯỢNG, MÙA VỤ, KHẢ NĂNG KHAI THÁC CÁC LOÀI SỨA
KINH TẾ Ở VÙNG VEN BIỂN VIỆT NAM 58
5.4 MỐI LIÊN QUAN GIỮA MỘT SỐ YẾU TỐ KHÍ TƯỢNG, HẢI DƯƠNG,
THỦY SINH VẬT VỚI NGUỒN LỢI SỨA 62
5.5 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC SỨA Ở CÁC TỈNH VEN BIỂN VIỆT NAM 64
5.5.2 Đặc điểm mùa vụ và ngư trường khai thác 67
5.5.2.2 Ven biển Trung Bộ 67
5.5.3 Đặc điểm kỹ thuật tàu và trang thiết bị 68
5.5.4 Đặc điểm kỹ thuật ngư cụ khai thác 71
5.5.5 Ước tính sản lượng khai thác Sứa ở ven biển Việt Nam 74
Trang 75.5.6 Hiệu quả kinh tế của các đội tàu khai thác Sứa 78
5.5.7 Tìm hiểu ảnh hưởng của nghề khai thác và chế biến Sứa đối với môi
5.6 TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA SỨA ĐẾN CÁC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH -
TẮM BIỂN, CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TOÀN CHO DU KHÁCH 83
5.6.1 Những tác động có hại của Sứa biển 83
5.6.3 Ảnh hưởng của Sứa đến ngành du lịch biển 84
5.6.5 Các biện pháp phòng tránh và xử lý tác hại của Sứa khi tắm biển 89
5.7 CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI SỨA BIỂN 93
5.7.1 Một số vấn đề tồn tại chủ yếu cần giải quyết 93
5.7.1.1 Tồn tại các vấn đề liên quan đến nguồn lợi Sứa 93
5.7.1.2 Tồn tại các vấn đề liên quan đến khai thác Sứa 93
5.7.1.3 Tồn tại các vấn đề liên quan đến chế biến Sứa 94
5.7.2 Các giải pháp khai thác và bảo vệ nguồn lợi Sứa biển 95
5.7.2.2 Các giải pháp khai thác nguồn lợi Sứa biển 96
5.7.2.5 Áp dụng nghiêm chỉnh Luật Thuỷ sản trong quản lý khai thác Sứa 97
Trang 86 FAO Tổ chức nông lương Liên hiệp quốc (Food and
Agriculture Organization of the United Nations)
8 KT&BVNLTS Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
9 KHKT Khoa học kỹ thuật
10 LNTB Lợi nhuận trung bình
11 QT&PT Quan trắc và Phân tích
12 QCVN Quy chuẩn Việt Nam
20 TNMT Tài nguyên Môi trường
21 TT-BTS Thông tư - Bộ Thuỷ sản
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG BÁO CÁO
Bảng 1 Tần suất hướng gió (%) trong các đợt khảo sát ở vùng ven biển Việt Nam 24Bảng 2 Tần suất cấp sóng (%) trong các đợt khảo sát ở vùng ven biển Việt Nam 24Bảng 3 Giá trị trung bình một số thông số môi trường nước biển 26Bảng 4 Hàm lượng N-NO2-, N-NO3-, N-NH4+ (mg/l) trong nước biển 29Bảng 5 Hàm lượng P-PO43- (mg/l) trong nước biển 30Bảng 6 Hàm lượng Si-SiO32- (mg/l) trong nước biển 31Bảng 7 Hàm lượng T-N và T-P (mg/l) trong nước biển 31Bảng 8 Mật độ Thực vật phù du ở vùng ven biển Việt Nam 32Bảng 9 Sinh vật lượng Động vật phù du ở vùng ven biển Việt Nam 35Bảng 10 Mật độ trứng cá - cá con ở vùng ven biển Việt Nam 37Bảng 11 Cấu trúc quần xã Sứa ở vùng ven biển Việt Nam 39Bảng 12 Mật độ nguồn lợi các loài Sứa kinh tế ở vùng ven biển Việt Nam 48Bảng 13 Mật độ trung bình Sứa kinh tế theo dải độ sâu ở vùng ven biển Vịnh Bắc Bộ 49Bảng 14 Mật độ trung bình Sứa kinh tế theo dải độ sâu ở vùng ven biển Trung Bộ 50Bảng 15 Mật độ trung bình Sứa kinh tế theo dải độ sâu ở vùng ven biển Đông Nam Bộ 50Bảng 16 Mật độ trung bình Sứa kinh tế theo dải độ sâu ở vùng ven biển Tây Nam Bộ 51Bảng 17 Trữ lượng nguồn lợi Sứa kinh tế ước tính ở các vùng ven biển Việt Nam 58Bảng 18 Mùa vụ xuất hiện và độ sâu nơi phân bố của các loài Sứa kinh tế 59Bảng 19 Khả năng khai thác nguồn lợi Sứa kinh tế ước tính ở vùng ven biển Việt Nam 61Bảng 20 Phương trình hồi quy giữa nguồn lợi Sứa và một số yếu tố môi trường 63Bảng 21 Cơ cấu đội tàu khai thác hải sản ở một số tỉnh ven biển 64Bảng 22 Nghề khai thác Sứa theo nhóm công suất tàu ở từng địa phương 65Bảng 23 Số lượng tàu khai thác Sứa ở ven biển Bắc Bộ 66Bảng 24 Số lượng tàu khai thác Sứa ở ven biển Trung Bộ 66Bảng 25 Số lượng tàu khai thác Sứa ở ven biển Tây Nam Bộ 66Bảng 26 Đặc điểm kỹ thuật tàu khai thác Sứa ở ven biển Bắc Bộ 69Bảng 27 Trang thiết bị trên tàu khai thác Sứa ở ven biển Bắc Bộ 69
Trang 10Bảng 28 Đặc điểm kỹ thuật tàu khai thác Sứa ở ven biển Trung Bộ 70Bảng 29 Trang thiết bị trên tàu khai thác Sứa ở ven biển Trung Bộ 70Bảng 30 Đặc điểm kỹ thuật tàu khai thác Sứa ở ven biển Tây Nam Bộ 71Bảng 31 Trang thiết bị trên tàu khai thác Sứa ở ven biển Tây Nam Bộ 71Bảng 32 Đặc điểm kỹ thuật ngư cụ khai thác Sứa ở ven biển Bắc Bộ 72Bảng 33 Đặc điểm kỹ thuật ngư cụ khai thác Sứa ở ven biển Trung Bộ 73Bảng 34 Đặc điểm kỹ thuật ngư cụ khai thác Sứa ở ven biển Tây Nam Bộ 73Bảng 35 Năng suất khai thác Sứa ở ven biển Bắc Bộ 74Bảng 36 Cường lực khai thác Sứa của các đội tàu ở ven biển Bắc Bộ 75Bảng 37 Sản lượng khai thác Sứa ở ven biển Bắc Bộ 76Bảng 38 Năng suất khai thác Sứa ở ven biển Trung Bộ 76Bảng 39 Cường lực khai thác Sứa của các đội tàu ở ven biển Trung Bộ 76Bảng 40 Sản lượng khai thác Sứa ở ven biển Trung Bộ 77Bảng 41 Năng suất khai thác Sứa ở ven biển Tây Nam Bộ 77Bảng 42 Cường lực khai thác Sứa của các đội tàu ở ven biển Tây Nam Bộ 78Bảng 43 Sản lượng khai thác Sứa ở ven biển Tây Nam Bộ 78Bảng 44 Doanh thu, chi phí và LNTB/ mùa của đội tàu khai thác Sứa ở ven
Bảng 45 Doanh thu, chi phí và LNTB/ mùa của đội tàu khai thác Sứa ở ven
Bảng 46 Doanh thu, chi phí và LNTB/ mùa của đội tàu khai thác Sứa ở ven
Bảng 47 Thống kê một số tai nạn vì Sứa đốt ở các nước châu Á 87
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG BÁO CÁO
Hình 1 Phân bố độ muối nước biển (‰) vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ 27Hình 2 Phân bố độ muối nước biển (‰) vùng ven biển Đông Nam Bộ 27Hình 3 Phân bố độ muối nước biển (‰) vùng ven biển Tây Nam Bộ 28Hình 4 Phân bố mật độ TVPD ở vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ 33Hình 5 Phân bố mật độ TVPD ở vùng ven biển Đông Nam Bộ 34Hình 6 Phân bố mật độ TVPD ở vùng ven biển Tây Nam Bộ 34Hình 7 Phân bố khối lượng ĐVPD ở vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ 35Hình 8 Phân bố khối lượng ĐVPD ở vùng ven biển Đông Nam Bộ 36Hình 9 Phân bố khối lượng ĐVPD ở vùng ven biển Tây Nam Bộ 36Hình 10 Phân bố mật độ TCCC ở vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ 37Hình 11 Phân bố mật độ TCCC ở vùng ven biển Đông Nam Bộ 38Hình 12 Phân bố mật độ TCCC ở vùng ven biển Tây Nam Bộ 38Hình 13 Tương quan giữa đường kính dù và khối lượng của Sứa trắng ở vùng
ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ và Trung Bộ 45Hình 14 Tương quan giữa đường kính dù và khối lượng của Sứa trắng ở vùng
Hình 15 Tương quan giữa đường kính dù và khối lượng của Sứa đỏ ở vùng ven
Hình 16 Tương quan giữa đường kính dù và khối lượng của Sứa rô ở vùng ven
Hình 17 Tương quan giữa đường kính dù và khối lượng của Sứa Lobonema
Hình 18 Phân bố khối lượng Sứa kinh tế (tấn/km2) ở vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ 53Hình 19 Phân bố khối lượng Sứa trắng (tấn/km2) ở vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ 53Hình 20 Phân bố khối lượng Sứa đỏ (tấn/km2) ở vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ 54Hình 21 Phân bố khối lượng Sứa kinh tế (tấn/km2) ở vùng ven biển Trung Bộ 54Hình 22 Phân bố khối lượng Sứa trắng (tấn/km2) ở vùng ven biển Trung Bộ 55Hình 23 Phân bố khối lượng Sứa rô (tấn/km2) ở vùng ven biển Trung Bộ 55Hình 24 Phân bố khối lượng Sứa kinh tế (tấn/km2) ở vùng ven biển Đông Nam Bộ 56
Trang 12Hình 25 Phân bố khối lượng Sứa trắng (tấn/km2) ở vùng ven biển Đông Nam Bộ 56
Hình 26 Phân bố khối lượng Sứa L smithii (tấn/km2) ở vùng ven biển Đông Nam Bộ 56Hình 27 Phân bố khối lượng Sứa kinh tế (tấn/km2) ở vùng ven biển Tây Nam Bộ 57Hình 28 Phân bố khối lượng Sứa trắng (tấn/km2) ở vùng ven biển Tây Nam Bộ 57
Hình 29 Phân bố khối lượng Sứa L smithii (tấn/km2) ở vùng ven biển Tây Nam Bộ 57Hình 30 Thời gian khai thác Sứa ở ven biển Bắc Bộ 67Hình 31 Thời gian khai thác Sứa ở ven biển Trung Bộ 67Hình 32 Thời gian khai thác Sứa ở ven biển Tây Nam Bộ 68Hình 33 Sứa biển chết dạt vào bãi tắm Cửa Lò 85
Hình 34 Sứa ngứa (Chrysaora sp) 88
Hình 35 Muống biển ở bãi tắm Đồ Sơn - Hải Phòng 92
Trang 131 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhóm Sứa có giá trị kinh tế (edible jellyfish) là động vật phù du biển thuộc ngành Xoang tràng có trữ lượng khá lớn ở biển nước ta Sứa dùng để chế biến đặc sản có giá trị kinh tế cao Những năm gần đây, Sứa đã trở thành nguồn lợi hải sản có giá trị, là đối tượng khai thác với vốn đầu tư thấp nhưng cho thu nhập cao của ngư dân nhiều tỉnh ven biển Bắc Bộ Một số địa phương mà nguồn lợi hải sản đã cạn kiệt như Thịnh Long (Nam Định), Quảng Xương (Thanh Hóa), nghề khai thác và chế biến Sứa đã làm đổi mới cả một vùng quê nghèo Nhiều hộ ngư dân chuyển nghề từ khai thác tôm cá ven bờ sang khai thác hay chế biến Sứa
đã trở lên khá giả; trong vụ khai thác nhiều hộ ngư dân có mức thu nhập từ 15 -
30 triệu đồng/tháng Phần lớn sản phẩm Sứa qua sơ chế được bán cho thương nhân Trung Quốc tại Việt Nam hoặc xuất khẩu sang Trung Quốc bằng đường tiểu ngạnh Thị trường tiêu thụ Sứa trên thế giới hiện đã mở rộng sang Hàn Quốc, Nhật Bản v.v Nhu cầu các sản phẩm chế biến từ Sứa của thị trường ngày một gia tăng, đặc biệt là ở Trung Quốc Ngoài giá trị làm thực phẩm, một số sản phẩm chiết xuất từ Sứa còn được sử dụng trong dược phẩm, các sản phẩm mỹ phẩm, chất phụ gia của thức ăn và một số sản phẩm giá trị khác Trên thế giới, nghiên cứu về Sứa được coi trọng trong nhiều thập niên gần đây Tuy nhiên, đến nay ở nước ta Sứa mới bắt đầu được quan tâm nghiên cứu, chủ yếu là thành phần loài; hiện chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhóm Sứa kinh tế, chưa có được dữ liệu về nguồn lợi Sứa làm cơ sở khoa học cho khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi
Nguồn lợi hải sản ở vùng biển ven bờ Việt Nam đã suy giảm nghiêm trọng Ngành thủy sản đang cố gắng phát triển năng lực khai thác ra xa bờ, tìm thêm ngư trường và đối tượng khai thác mới nhằm giảm bớt sức ép của việc khai thác cạn kiệt, cơ cấu lại ngành nghề để bảo vệ và tái tạo nguồn lợi hải sản Nghiên cứu nguồn lợi Sứa biển sẽ góp phần giải quyết các vấn đề cấp bách nêu trên của ngành thủy sản
Sứa là thủy sinh vật biển rất nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường Mùa
vụ xuất hiện Sứa thường ngắn và thay đổi theo từng vùng địa lý Hàng năm, mùa
vụ khai thác Sứa ở từng vùng có thể đến sớm hay muộn tùy theo điều kiện thời tiết, điều kiện môi trường nước biển Một số công trình trên thế giới đã nghiên cứu sự xuất hiện và phân bố của Sứa theo các điều kiện hải dương học, sử dụng Sứa như vật chỉ thị môi trường Ở Việt Nam còn thiếu các thông tin về sinh thái môi trường liên quan đến Sứa biển Việc nghiên cứu các điều kiện môi trường liên quan đến sự xuất hiện, phân bố của Sứa sẽ là cơ sở khoa học cho việc dự báo nguồn lợi
Sứa là sinh vật tiêu thụ trong chuỗi thức ăn của hệ sinh thái biển ven bờ Chúng phàm ăn nên sinh trưởng rất nhanh, từ ấu trùng dạng đĩa 2 - 3gam sau 3 tháng khối lượng có thể đạt tới 10 kg Trong quá trình sinh trưởng, Sứa ăn rất nhiều động vật phù du cỡ nhỏ trong đó có trứng cá và cá con trôi nổi ở lớp nước tầng mặt Vì vậy, sự phát triển quá mức của Sứa có thể dẫn đến làm suy giảm
Trang 14nguồn lợi biển do chúng cạnh tranh thức ăn với cá hoặc trực tiếp tiêu thụ trứng
cá, cá con, cạnh tranh không gian sống với các động vật biển khác Việc khai thác cạn kiệt nguồn lợi hải sản ven bờ cũng như ảnh hưởng của một số chất thải
từ hoạt động kinh tế của con người đổ ra biển đã tạo điều kiện cho Sứa phát triển quá mức có thể dẫn đến làm mất cân bằng tự nhiên đối với quần xã sinh vật biển
Vì vậy, xác định được trữ lượng và khả năng khai thác nhóm Sứa kinh tế sẽ làm
cơ sở khoa học cho việc khai thác hợp lý, vừa tận dụng tối đa nguồn lợi Sứa biển, vừa bảo vệ được nguồn lợi hải sản
Việc khai thác Sứa không hợp lý ở một số địa phương dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi, ô nhiễm môi trường biển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến một số hoạt động kinh tế biển Xây dựng được các giải pháp khai thác hợp lý để bảo vệ nguồn lợi và môi trường biển là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rõ rệt cho ngành thủy sản và các địa phương ven biển
Từ cơ sở khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
“Nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi Sứa vùng ven biển Việt Nam, đề xuất giải pháp
khai thác và bảo vệ”; thời gian thực hiện trong 3 năm (2009 - 2011) do Viện
Nghiên cứu Hải sản là cơ quan chủ trì Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học góp phần phát triển kinh tế - xã hội, phân công lại lao động, chuyển dịch nhiều nghề khai thác hải sản ở khu vực gần bờ sang khai thác Sứa để bảo vệ và tái tạo nguồn lợi
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
Trên thế giới, nghiên cứu về Sứa đã có từ hàng trăm năm nay, chủ yếu là thành phần khu hệ Những năm gần đây, Sứa biển bắt đầu được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn do vai trò quan trọng của chúng trong hệ sinh thái Những thông tin chung về Sứa như hệ thống phân loại, đặc điểm sinh học, vòng đời, phân bố, độc tính, tầm quan trọng đối với con người, v.v được công bố trong nhiều công trình nghiên cứu sinh học biển
Về thành phần khu hệ, người có công trình nghiên cứu khá đầy đủ thành phần khu hệ Sứa ở vùng biển ôn đới là Yamaji Năm 1973, ông đã công bố 133 loài Sứa sinh sống ở vùng biển Nhật Bản thuộc lớp Thủy tức (Hydrozoa) và lớp Sứa chính thức (Scyphozoa) Bouillon (1995) tìm thấy 47 loài Sứa ở vùng biển ven bờ New Zealand, trong đó có 15 loài mới đã được mô tả chi tiết Hơn 100 loài Sứa sinh sống ở vùng biển phía nam Đại Tây Dương cũng được Boltovskoy (1999) thống kê và mô tả trong công trình nghiên cứu chung về động vật phù du của vùng biển này Phân bố địa lý của 11 loài Sứa ăn được trên thế giới được thông báo và mô tả vắn tắt trong công trình nghiên cứu của Kramp (1961), Omori
& Nakano (2001)
Ngoài những nghiên cứu về thành phần loài, đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm hình thái, vòng đời, tập tính sống, bắt mồi, sinh trưởng, sinh sản, mùa vụ xuất hiện, độc tính, vai trò của Sứa trong hệ sinh thái v.v Sứa là sinh vật phân tính, ít khi tìm thấy cá thể lưỡng tính Khi sinh sản hầu hết chúng đều phóng tinh trùng và trứng vào trong nước, khi đó trứng sẽ được
Trang 15thụ tinh và phát triển qua một số giai đoạn để trở thành cá thể trưởng thành
Trong vòng đời, phần lớn các loài Sứa đều trải qua 2 giai đoạn Giai đoạn đầu
tiên là polyp, trứng thụ tinh trong nước phát triển thành một dạng ấu trùng gọi là
planula Planula là một ấu trùng nhỏ được bao bọc bởi các tiêm mao Nó định cư trên một bề mặt chắc chắn và phát triển thành một polyp Polyp này có xúc tu bao quanh miệng để bắt thức ăn trôi qua Miệng và các xúc tu của polyp hướng lên trên, trông giống với loài Thủy tức Sau một thời gian phát triển, polyp bắt đầu sinh sản vô tính bằng cách mọc chồi và ở lớp Sứa chính thức được gọi là một polyp phân đoạn (hay ấu trùng dạng chén) Các ấu trùng dạng chén có thể sinh sản bằng cách mọc chồi và phát triển thành ấu trùng sống phù du được gọi là
ephyra (ấu trùng dạng đĩa) Giai đoạn thứ hai là medusa (Sứa), được phát triển
từ ephyra có cơ thể hình dù, tỏa tròn Các xúc tu của medusa là các tua mọc ra từ viền mép chuông Một số ít loài Sứa có thể sinh sản ra các medusae mới bằng cách mọc chồi trực tiếp từ cơ thể mẹ Các vị trí nảy chồi cũng khác nhau tùy theo loài, từ các mấu lồi trên xúc tu, từ cán dù phía trên miệng hoặc từ tuyến sinh dục thấy ở lớp Hydrozoa (Mills, 1987)
Minh họa vòng đời của Sứa biển (Nguồn: www.infovisual.info/jellyfish)
Những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu về vòng đời và sinh sản của Sứa được công bố Eggers & Jarms (2007) nghiên cứu sự phát triển giai
đoạn ấu trùng ephyra của 2 loài Atorella vanhoeffeni và Nausithoe maculata
trong quá trình hình thành chuỗi đốt sinh sản Holst (2007) nghiên cứu vòng đời
của Rhizostoma octopus trong phòng thí nghiệm từ giai đoạn ấu trùng planula
đến giai đoạn medusa Calder (1973) cũng công bố kết quả quan sát vòng đời
Rhopilema verrilli từ giai đoạn ấu trùng planula đến giai đoạn medusa Ohtsu và
cs (2007) đã kích thích chín muồi sinh dục và cho đẻ thành công loài
Nemopilema nomurai trong phòng thí nghiệm
Tuổi thọ của Sứa có thể kéo dài từ vài giờ (ở một số loài thuộc lớp Thủy
tức) đến vài tháng Loài Turritopsis dohrnii có thể coi là “bất tử” do khả năng
biến đổi giữa medusa và polyp (Piraino và cs, 1996) Đa số các loài Sứa lớn sống
ở vùng nước ven bờ đều có thể sống từ 2 - 6 tháng, trong thời gian đó đường
Trang 16kính thân của chúng phát triển từ 1 - 2mm đến hàng chục cm Chúng ăn liên tục
và phát triển đến kích thước trưởng thành khá nhanh Sau khi đạt đến kích thước trưởng thành, nếu đủ thức ăn chúng sẽ đẻ trứng hàng ngày Hầu hết các loài đẻ trứng đều bị ảnh hưởng bởi ánh sáng, do đó toàn bộ quần thể Sứa đều đẻ trứng vào cùng một thời gian trong ngày, thường vào lúc tối trời hoặc bình minh (Mills
& Claudia, 1983)
Sứa phàm ăn và sinh trưởng nhanh, đối với các loài thuộc bộ Rhizostomeae, chúng ăn các thức ăn là sinh vật phù du (Omori và cs, 2001) Các loài tảo cát, tảo
lông và giáp xác phù du kích thước nhỏ được tiêu hóa ngoại bào bởi Rhopilema
esculenta Sứa biển cũng là vật dữ tiêu thụ trứng cá và cá con (Holst và cs, 2006)
Các loại thức ăn chính của Sứa là động vật phù du cỡ nhỏ như Oithona nana,
Paracalanus parvus,… và ấu trùng động vật phù du trong bộ Calanoida và
Cyclopoida của phân lớp Copepoda (Malej và cs, 2006)
Finenco (2003) nghiên cứu biến động quần thể loài Beroe ovata và tác động
của chúng lên quần xã sinh vật phù du ở vịnh Sevastopol của biển Đen Kết quả
nghiên cứu cho biết, sự xuất hiện và tác dụng ăn thịt loài Nemiopsi leidyi (Sứa lược) của Sứa Beroe ovata đã làm phong phú trở lại quần xã sinh vật phù du trong
đó có cá con
Theo Boltovskoy (1999), có 2 yếu tố quan trọng liên quan tới sự phân bố của Sứa ở vùng biển ven bờ, đó là hướng gió và dòng chảy mùa hè, tiếp theo là các yếu tố khác như sự tập trung của thức ăn là động vật phù du
Sparks và cs (2001) đã thông báo kết quả quan sát về phân bố số lượng
theo thời gian và không gian của 2 loài Chrysaora hysoscella và Aequorea
aequorea ở vùng biển phía bắc Bengula (Namibia); trong đó, sinh khối của Sứa
được ước tính và sử dụng như một thông số đầu vào quan trọng trong mô hình năng lượng của hệ sinh thái
Sotje và cs (2006) sử dụng thiết bị vận hành từ xa để quan sát sự phân bố
và tập tính của Sứa Periphylla periphylla ở 3 vịnh hẹp thuộc biển Nauy Kết quả
nghiên cứu cho thấy, động vật phù du có liên quan mật thiết đến độ phong phú
của Sứa Phần lớn động vật phù du có xu hướng phân bố bên trên tập hợp loài P
Periphylla, thể hiện độ phong phú cao nhất ở độ sâu từ 100 - 200m Từ ước tính
nhu cầu trao đổi chất của P Periphylla, đã xác định được tác động ăn thịt hàng
ngày lên quần thể con mồi trung bình là 13% Quan sát trong phòng thí nghiệm cũng cho biết cách thức săn mồi và phản ứng của cơ thể Sứa khi gặp các tác nhân kích thích hóa học và cơ học trong nước
Barz và cs (2007) khi nghiên cứu chu kỳ xuất hiện hàng năm của Sứa ở khu vực phía nam biển Bắc nhận thấy có 3 kiểu xuất hiện theo mùa: (1) xuất hiện
sớm Cyanea lamarckii (tháng 2 - tháng 8), (2) xuất hiện vào thời gian giữa năm
C capillata và A aurita (tháng 4 - tháng 8), (3) xuất hiện muộn C hysoscella
(tháng 7 - tháng 9) Cyanea lamarckii là loài bắt gặp thường xuyên và phong phú
nhất trong năm ở phía nam biển Bắc
Malej và cs (2006) công bố mô hình di cư thẳng đứng và các mối tương tác
Trang 17về dinh dưỡng của Sứa Aurelia sp ở vùng biển hồ Mljet thuộc biển Adriatic Đa phần thời gian Aurelia phân bố ở đáy của tầng nước có sự thay đổi nhiệt độ đột
ngột (tầng nhảy vọt), ở nhiệt độ thấp hơn 190C Khi trời tối, Aurelia di cư thẳng
đứng lên tầng mặt, tập trung ở tầng nhiệt nhảy vọt hoặc ngay trên tầng nước này; đêm đến, chúng di chuyển xuống tầng nước sâu hơn, dưới 25m
Sự phát triển bùng nổ của Sứa trong tự nhiên được sinh sản từ những polyp sống đáy thường vào mùa xuân khi có nhiều ánh sáng mặt trời và sinh vật phù
du, cho nên Sứa xuất hiện khá đột ngột và thường với số lượng lớn, thậm chí ngay cả khi một hệ sinh thái đang trong trạng thái cân bằng (Mills, 2001)
Sứa cũng có nhiều địch hại Các động vặt ăn Sứa bao gồm các loài cá ngừ,
cá mập, cá kiếm và rùa biển Chim biển đôi khi cũng ăn các loại giáp xác cộng sinh sống trên dù Sứa gần bề mặt nước biển, chắc chắn cũng ăn luôn động vật chủ là Sứa
Về tác hại của Sứa biển, bao gồm khả năng gây hại của một số loài Sứa độc
hoặc làm cản trở hoạt động sản xuất ở một số lĩnh vực như sản xuất điện, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản v.v; đặc biệt là sự cạnh tranh thức ăn, chiếm lĩnh không gian sống hay gây hại đối với ấu trùng cá
Theo Titelman & Hansson (2005) Sứa là vật dữ trong chuỗi thức ăn, chúng chọn ăn ấu trùng tôm, cá trước các loại thức ăn khác
Uye & Shimauchi (2005) đã nghiên cứu sự biến động quần thể, khả năng
ăn, tiêu hoá, sinh trưởng và nguồn cácbon của Sứa Aurelia aurita ở vùng biển
ven bờ Nhật Bản Khi đánh giá phổ và lượng thức ăn trong dạ dày của 71 cá thể
A aurita có trọng lượng mỗi con từ 20 - 100g thấy rằng thức ăn của chúng trong
giai đoạn này chủ yếu là động vật phù du cỡ nhỏ cùng với một số lượng lớn ấu trùng phù du Đó là các loại Copepoda giai đoạn con non và trưởng thành của một số loài chiếm ưu thế trong thuỷ vực Số lượng con mồi mà Sứa tiêu thụ tỷ lệ thuận với kích thước, trung bình có 8.289 cá thể động vật phù du bị ăn bởi 1.260g Sứa Thời gian tiêu thụ thức ăn của Sứa với thức ăn là Copepoda mất từ 1- 2 giờ
Barz & Hirche (2007) nghiên cứu phổ thức ăn của Sứa ở khu vực phía nam
biển Bắc cho biết, thức ăn của 3 loài Cyanea lamarckii, C capillata và
Chrysaora hysoscella là một số loài động vật chân chèo và giáp xác, và vì thế
làm cho chúng trở thành đối thủ cạnh tranh tiềm năng của ấu trùng cá Kết quả phân tích thành phần thức ăn cho biết, Sứa cũng ăn trứng cá và cá con ở tất cả các tháng trong năm
Một trong các đặc điểm hình thái của sinh vật trong nhóm động vật Xoang tràng là có các tế bào châm (thích ty bào) để bắt mồi và tự vệ Việc khó phát hiện
ra sự có mặt của Sứa cùng với tính độc cao của dịch phóng ra từ các tế bào châm
đã làm cho một số loài Sứa trở thành mối nguy hiểm tiềm tàng Đến nay, các nhà sinh học biển trên thế giới đã thông kê được gần một chục loài Sứa có độc tính
thực sự gây nguy hiểm cho con người như Physalia physalis (Sứa lửa) sống ở vùng biển ấm Nhật Bản, Chironex fleckeri (Sứa kim) phân bố từ Thái Bình Dương
Trang 18đến Ấn Độ Dương, Chiropsalmus quadrigatus phân bố ở vùng biển Australia 3 loài Sứa độc khác cũng thường gặp ở một số vùng biển trên thế giới là Chrysaora
quinquecirrha, Stomolophus meleagris, Pilema pulmo Nagai (2003) đã thông báo
những tiến bộ gần đây trong nghiên cứu độc tố của Sứa; công bố những loại chất độc, khả năng gây độc đối với người và động vật được tìm thấy trong một số loài
như Chiropsalmus quadrigatus, Chironex fleckeri v.v
Sự phát triển quá mức của Sứa trong những năm gần đây ở nhiều nơi trên thế giới đã gây thiệt hại cho nhiều ngành kinh tế biển, ảnh hưởng đến hoạt động du lịch - tắm biển Ở nhiều nước châu Âu và châu Á như Tây Ban Nha, Pháp, Nhật Bản, Philippin, Malaysia, … và cả ở Việt Nam hàng năm vào mùa du lịch có rất nhiều du khách bị bỏng hay bị dị ứng do chạm phải Sứa khi tắm biển
Ở vùng biển Địa Trung Hải thuộc Tây Ban Nha, Sứa Pelagia noctiluca xuất
hiện dày đặc trong một vài năm gần đây được nhiều nhà khoa học cho rằng là do
sự thay đổi của khí hậu Các vùng nước ưu dưỡng có hàm lượng oxy thấp thường
là vùng Sứa ưa thích, vì vậy chúng phát triển mạnh hơn các loài cá Sự gia tăng của Sứa là dấu hiệu của một số biến cố đã xảy ra trong hệ sinh thái (The Washington Post, May 6, 2002)
Holst & Jarms (2007) từ nghiên cứu tập tính định cư của ấu trùng planula
và sự phát triển của chúng đến thời kỳ polyp của 5 loài Sứa là Aurelia aurita,
Cyanea capillata, C lamarckii, Chrysaora hysoscella và Rhizostoma octopus đã
nhận định, việc ngày càng có nhiều các loại chất nền nhân tạo được thải ra biển
và các hoạt động xây dựng công trình dưới biển đã làm tăng diện tích phân bố của polyp Sứa cả ở khu vực ven bờ và ngoài khơi Theo đó, sự tăng số lượng ấu trùng ephyra từ các polyp có thể là nguyên nhân dẫn đến việc ngày càng có nhiều đợt Sứa xuất hiện với số lượng lớn trên khắp thế giới trong vài thập kỷ qua
Về vai trò tích cực của Sứa trong hệ sinh thái biển, những nghiên cứu gần
đây cho thấy Sứa đóng một vai trò chủ đạo trong việc chuyển cacbon giữa mạng thức ăn tầng mặt và tầng đáy ở các hệ sinh thái ven bờ (Pitt và cs, 2007) Một số
loài Sứa liên quan trực tiếp đến sự sống sót của cá con Loài cá Tuyết (Merlangius
merlangus) sống ở biển Bắc; cá con thường sống ẩn náu dưới dù Sứa để tránh bị
ăn thịt bằng cách trú ẩn giữa các xúc tu Kết quả tính toán đã chỉ ra mối tương
quan có ý nghĩa thống kê giữa sự sống sót của cá Tuyết và độ phong phú của 2 loài Sứa Cyanea lamarckii và C capillata (Lynam và cs, 2006)
Với giá trị làm thực phẩm, tất cả các loài Sứa ăn được đều thuộc bộ
Rhizostomeae đặc biệt là loài Rhopilema esculentum rất được ưa chuộng Cơ thể
của các loài này lớn, dai và cứng với phần thân dày (Omori và cs, 2001) Hơn một nghìn năm qua, người Trung Quốc coi Sứa như một loại thức ăn quan trọng Sứa khô nửa chừng tiêu biểu cho ngành hải sản hàng triệu đô la ở châu Á Phương pháp chế biến truyền thống bao gồm các công đoạn ngâm trong hỗn hợp muối ăn và phèn, sau đó khử muối Quá trình chế biến làm cho Sứa khô hơn và chua hơn, đồng thời làm cho miếng Sứa cứng và giòn Gần đây, lợi tức của Mỹ
từ việc dùng Sứa Stomolophus meleagris làm thức ăn tăng lên do nhu cầu tiêu dùng cao ở Châu Á Với độ phong phú của S meleagris ở khu vực ven bờ nước
Trang 19Mỹ thì việc đánh bắt loài Sứa này đã mang lại nhiều lợi ích to lớn về kinh tế và môi trường (Hsieh và cs, 2001)
Các sản phẩm chế biến từ 2 loài Sứa Stomolophus meleagris và Rhopilema
sp ngày càng được ưa chuộng trên thị trường vì cơ thể chúng chứa khoảng 95% nước và 3 - 6% protein, cung cấp một lượng calo thấp rất thích hợp với nhu cầu cuộc sống hiện đại của con người (Hsieh và cs, 2001)
Trong ngành công nghệ sinh học và dược phẩm, ngay từ năm 1961, khi nghiên cứu về sự phát quang sinh học, các nhà khoa học đã phát hiện ra protein
GFP (green fluorescent protein) ở loài Sứa Aequorea victoria Từ đó, loại protein
này trở thành một công cụ cực kỳ hữu ích, được sử dụng chủ yếu trong các nghiên cứu khoa học về mô và gen, tạo ra bước ngoặt lớn trong khoa học đánh dấu Kỹ thuật cấy gen liên quan đến gen tạo GFP (Pieribone & Gruber, 2006) Nọc độc của một số loài Sứa đang là mối quan tâm để tìm hiểu bản chất độc tố, tạo tiền đề cho các nghiên cứu tìm kiếm các hoạt chất từ sinh vật biển và ứng dụng chúng, đặc biệt trong việc nghiên cứu vacxin kháng lại chất độc của Sứa Một số nghiên cứu sinh hóa học cho thấy, thịt Sứa tuy chứa chất dinh dưỡng thấp song có một số chất rất quý, đặc biệt là các loại vitamin không thay thế và axit nicitinic Lượng cholesterol có trong Sứa là rất thấp, < 0,35mg/100g Sứa tươi Sứa tươi lại rất giàu khoáng chất như Na, Ca, K, Mg (Hsied và cs,
1996) Chất tạo keo (colagen) chiết xuất từ Sứa được sử dụng trong nhiều ứng
dụng khoa học khác nhau, bao gồm cả việc điều trị bệnh viêm khớp mãn tính, thuốc chữa trị bỏng và làm da nhân tạo (Pieribone & Gruber, 2006)
Về khai thác và tiêu thụ Sứa, ít nhất có 11 loài thuộc 5 họ Cepheidae,
Catostylidae, Lobonematidae, Rhizostomatidae và Stomolophidae của bộ Rhizostomeae được khai thác làm thực phẩm trên khắp thế giới Lượng Sứa đánh bắt trung bình hàng năm giai đoạn 1988 - 1999 ở Đông Nam Á ước tính là 169.000 tấn Sứa tươi và trên thế giới ước khoảng 321.000 tấn Mùa khai thác đối với mỗi loại Sứa khác nhau ở từng vùng biển với các bãi khai thác chính nằm ở Đông Nam Á Ở Thái Lan, Sứa được khai thác dọc theo vịnh Thái Lan từ Rayong đến Songkla từ tháng 5 đến tháng 7 và xung quanh Ranong nằm trong biển Andaman từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Ở Trung Quốc, Sứa được khai thác từ hơn 1.700 năm qua, việc khai thác được tiến hành dọc theo vùng biển ven
bờ Sứa đã trở thành một mặt hàng hải sản quan trọng của các nước Đông Nam
Á do nhu cầu ngày càng tăng của thị trường Nhật Bản Gần đây, hàng năm Nhật Bản nhập khẩu từ 5.400 - 10.000 tấn các sản phẩm Sứa, giá trị khoảng 25,5 triệu
đô la Mỹ từ Philippine, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore và Myanmar Các loại Sứa ăn được ở Đông Nam Á được khai thác gồm khoảng hơn
8 loài (Omori và cs, 2001) Từ năm 1970 việc đánh bắt Sứa ngày càng tăng, gần như theo cấp số nhân và trong những năm gần đây, lượng đánh bắt hàng năm trên thế giới đã vượt quá 500.000 tấn Mặc dù theo truyền thống lượng Sứa đánh bắt được giới hạn chủ yếu trong các vùng nước châu Á, nhưng một lượng Sứa nhỏ cũng được khai thác bởi các nước Australia, Mỹ, Anh, Namibia, Thổ Nhĩ Kỳ
và Canada (FAO, 2000)
Trang 20Sản lượng nhập khẩu Sứa của Nhật Bản từ 5 nước Đông Nam Á (Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Myanmar) và Trung Quốc hàng năm là rất lớn đến hàng chục nghìn tấn nhưng sản lượng nhập khẩu từ Việt Nam lại rất nhỏ so với các nước khác, chiếm khoảng 1% (Omori và cs, 2001)
Sứa có thể được đánh bắt bởi nhiều loại dụng cụ nghề cá, bao gồm lưới đăng, lưới rê trôi, lưới kéo, lưới vây, vợt, te xiệp, lưới rùng bãi biển và móc câu Loại lưới đăng điển hình có miệng hình chữ nhật, được đặt ở độ sâu 2 - 10m ngang qua một dòng thuỷ triều Các lưới rê trôi, lưới kéo cũng được sử dụng kéo ngang qua dòng chảy với hệ thống phao nổi và chì Các vợt hoặc cần câu với lưỡi sắt sắc nhọn ở đầu cũng được sử dụng phổ biến cho việc đánh bắt Không có
sự khác biệt nào trong phương pháp khai thác Sứa áp dụng cho các loài hay các địa phương Việc khai thác được ngư dân thực hiện vào ban ngày khi Sứa xuất hiện nhiều trên bề mặt nước biển Về tự nhiên, điều kiện thời tiết và thủy triều ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động khai thác vì Sứa tập trung trên bề mặt nước khi biển lặng Đặc điểm của nghề Sứa là có sự biến đổi bất thường của việc đánh bắt hàng năm với một mùa đánh bắt ngắn (Omori và cs, 2001)
Những năm gần đây, một số công trình nghiên cứu về Sứa ở các nước châu Á, tập trung vào các lĩnh vực khai thác, nuôi và tái tạo nguồn lợi đã được công bố Muhammed và cs (2007) cho biết những thông tin về 2 loài Sứa ăn được
Catostylus mosaicus và Rhizostoma pulmo ở các vùng biển gần bờ của Pakistan
Chúng rất phong phú trong suốt thời gian từ tháng 3 đến tháng 8, đỉnh cao vào
tháng 6 và tháng 7 Kết quả khảo sát cho biết Catostylus mosaicus phong phú hơn Rhizostoma pulmo Nghề khai thác thương mại ở Pakistan chỉ mới bắt đầu
với quy mô nhỏ, cả 2 loài Sứa trên đều được khai thác, chế biến và xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á
Ở Trung Quốc, do nhu cầu của thị trường ngày một tăng nên nhiều nghiên cứu về sinh học, kỹ thuật sinh sản và nuôi đang tập trung vào loài Sứa đỏ (You
và cs, 2007)
Với mục đích tạo nguồn lợi và tăng sản lượng đánh bắt, các nhà sinh học biển Trung Quốc trong nhiều năm đã nghiên cứu làm gia tăng nguồn lợi Sứa đỏ
(Rhopilema esculentum) ở vịnh Liaodong của Trung Quốc Năm 2005 - 2006, sự
tái tạo nguồn lợi được thực hiện lần đầu tiên trên quy mô lớn với 414 triệu ấu trùng juvenile (đường kính dù >1cm) được thả vào vịnh Liaodong Tỷ lệ bắt lại trong số Sứa thả ra là 3,0% và 3,2% và ngư dân đã thu được 159 triệu nhân dân
tệ trong thời gian này Tỷ lệ đầu vào (chi phí nuôi ấu trùng juvenile) và đầu ra (giá trị bán được) vào khoảng 1/18 Giá trị thương mại cao của sự tái tạo nguồn lợi Sứa đỏ đã tạo ra một công việc kinh doanh rất thành công ở vịnh Liaodong (Dong và cs, 2009)
Trong công trình nghiên cứu mới nhất về nhóm Sứa kinh tế, Kitamura
&Omori (2010) đã xác định tên khoa học 6 loại Sứa thương mại ở các nước Malaysia, Indonesia và Myanma và thông báo một số kết quả tìm hiểu về nghề Sứa ở các nước Đông Nam Á
Trang 21● Có thể thấy, các nhà khoa học trên thế giới ngày càng quan tâm nghiên cứu Sứa biển ở mọi lĩnh vực, từ nghiên cứu cơ bản,… đến công nghệ sinh học Những năm gần đây, một số hướng nghiên cứu được chú trọng với một số công trình nghiên cứu mang lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội như nghiên cứu nhóm Sứa độc, nghiên cứu tìm kiếm các hoạt chất sinh học từ Sứa biển, nghiên cứu kỹ thuật nuôi và tái tạo nguồn lợi v.v Tuy vậy, trên thế giới vẫn còn ít các thông tin, các công trình nghiên cứu về nguồn lợi và khai thác Sứa biển
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Ở Việt Nam, Sứa biển bắt đầu được nghiên cứu trong khoảng 50 năm trở lại đây, song cho đến nay cũng chưa được coi trọng đúng mức, chỉ có một số công bố
về thành phần loài do nhiều tác giả coi Sứa không phải là thức ăn của cá, chưa coi
trọng vai trò của chúng trong hệ sinh thái biển
Shirota (1966), trong công trình nghiên cứu sinh vật phù du ở các vùng nước nội địa và vùng biển ven bờ miền Nam Việt Nam, lần đầu tiên công bố danh mục 98 loài Sứa nằm trong 2 phân ngành, 2 lớp và 10 bộ Ngành Sứa lược (Ctenophora) hiện nay được tác giả xếp vào phân ngành của ngành Xoang tràng (Coelenterata) Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở việc xác định thành phần loài và cung cấp hình ảnh minh họa về hình dạng bên ngoài của Sứa Cũng tương tự như nghiên cứu của Shirota (1966), một số công trình nghiên cứu động vật phù du biển tiếp sau cũng chỉ công bố thành phần loài Sứa trong các đợt khảo sát; thiếu các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, đặc trưng phân bố v.v Trong báo cáo của một số dự án và đề tài điều tra biển, Sứa chỉ được thống
kê trong thành phần khu hệ động vật phù du
Chương trình NAGA (1959-1961) đã ghi nhận được 31 loài Sứa ống (Siphonophora) và 17 loài Sứa dù (Scyphozoa) ở vùng biển phía nam Biển Đông, trong khi vịnh Thái Lan chỉ bắt gặp 7 loài Sứa ống và 13 loài Sứa dù (Alvarino, 1963) Trong báo cáo kết quả điều tra tổng hợp Vịnh Bắc Bộ của Đội điều tra liên hợp Việt - Trung (1965) đã thống kê được 16 loài Sứa ống Đề tài điều tra sinh vật vùng triều và vùng cửa sông Hồng, sông Ninh Cơ và sông Đáy tỉnh Hà Nam Ninh (1970 - 1971) đã thống kê được 6 loài Sứa trong tổng số 104 loài động vật phù du (Nguyễn Văn Khôi & Dương Thị Thơm, 1980) Chương trình điều tra tổng hợp biển Thuận Hải - Minh Hải (1978 - 1980) đã thống kê được 20 loài Sứa biển (Nguyễn Văn Khôi và cs, 1991) v.v
Những năm gần đây ở Việt Nam, Sứa biển bắt đầu được chú ý do vai trò quan trọng của chúng trong hệ sinh thái và giá trị kinh tế
Một số đặc điểm sinh học cơ bản của nhóm Sứa kinh tế đã được tổng hợp trong các tài liệu “Sổ tay nuôi một số động vật thủy sản nước mặn” của Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia (2005) và “Bách khoa thủy sản” của Hội nghề cá Việt Nam (2007):
- Hình thái ngoài: Cơ thể nhóm Sứa biển ăn được có cấu tạo gồm 2 phần, phần
dù (thân) và phần tay Thân Sứa hình bán cầu hơi dẹp, trong suốt, phía lưng lồi cao và mỏng dần từ đỉnh ra xung quanh tạo thành mép dù hay vạt bờ dù Mép dù
Trang 22mỏng, uốn lượn và tạo thành các thùy nhỏ đều đặn Mặt dưới thân (mặt bụng) có nhiều nếp cơ vòng như những vòng tròn đồng tâm Hoạt động của các nếp cơ giúp cho Sứa di chuyển phù phiêu trong nước Sứa có 8 tay, cứ 2 tay chập lại ở một gốc chung Các gốc của 4 đôi tay tạo thành tấm đáy của xoang sinh dục ở giữa mặt bụng Mỗi tay của Sứa biển gồm 3 thùy (cánh): 1 thùy bụng (cánh trong) và 2 thùy lưng (cánh ngoài) Thùy bụng dài và mép ngoài của các thùy bụng ở từng đôi tay chập lại với nhau ở gốc tay Từ 4 gốc tay, các thùy bụng gặp nhau tại giao điểm chung ở chính giữa mặt ngoài tấm đáy xoang sinh dục Hai thùy lưng ngắn hơn và gốc của mép ngoài tự do Dọc theo mép ngoài, các thùy tay gấp nếp nhiều và có các cơ quan bám Đầu ngọn các tay có tua cảm giác hình sợi mảnh Trên các tay Sứa có các gai chứa chất có thể gây mẩn ngứa hay dị ứng Xen kẽ giữa các đôi tay có 4 lỗ sinh dục thông với khoang sinh dục Giữa mỗi cửa sinh dục có một mấu lồi nhỏ gọi là gờ sinh dục
- Tập tính sống: Sứa sống phù phiêu trên mặt nước ở vùng cửa sông, ven biển, nơi có độ sâu từ 5 - 30m, có khi đến 40m Di chuyển của Sứa trong môi trường nước thường cả chủ động và bị động; di chuyển chủ động dựa vào sự vận động của các cơ và sự uốn lượn của mép dù; di chuyển bị động là phù phiêu, bị cuốn theo dòng nước Khi biển êm, ban ngày có nhiều mây Sứa thường nổi trên mặt nước Khi biển động, nắng gắt hay vào lúc xẩm tối Sứa thường di chuyển xuống tầng nước sâu hơn
- Sinh sản: Sứa biển là động vật phân tính, tuy nhiên khó phân biệt được giới tính trong tự nhiên Sứa có 2 phương thức sinh sản là hữu tính khi sống trôi nổi và vô tính khi sống cố định
- Bắt mồi và sinh trưởng: Cơ quan bắt mồi của Sứa là các tay miệng Sứa bắt sinh vật phù du cỡ nhỏ làm thức ăn như các loài giáp xác Chân chèo (Copepoda), Râu ngành (Cladocera), Luân trùng (Rotifera), ấu trùng của động vật 2 mảnh vỏ (Bivalvia) và một số loài sinh vật phù du khác Khi tuyến sinh dục chín muồi là lúc Sứa có tốc độ sinh trưởng lớn nhất Sau khi bắt đầu sinh sản, tốc độ sinh trưởng của Sứa giảm xuống trị số âm, cơ thể co lại, khối lượng giảm dần cho đến khi chết Sứa có thể sống được tới 6 tháng
Theo Nguyễn Dương Thạo (2008), Sứa Diphyes chamissonic là một trong 7
loài ưu thế của quần xã động vật phù du ở vùng nước khơi biển Tây Nam Bộ thuộc vịnh Thái Lan, chúng xuất hiện nhiều ở các bãi cá truyền thống trong vịnh Nguyễn Thị Thu và cs (2008) đã thống kê được 121 loài Sứa phân bố ở vùng biển Việt Nam, xác định được thành phần hóa học của loài Sứa trắng gồm
5 hợp chất thiên nhiên có thể dùng làm nguyên liệu cho sản xuất mỹ phẩm Về ảnh hưởng của Sứa đối với nguồn lợi thủy sản, các quan sát cho thấy trung bình một con Sứa roi sống trong các đầm quảng canh khu vực Phù Long và Tiên Lãng (Hải Phòng) có đường kính 4 - 7cm tương ứng với khối lượng 50 - 100g ăn hết
128 cá thể động vật phù du, trong đó có từ 15 - 20 cá bột trong một ngày Sứa trắng và Sứa đỏ có kích thước từ 20 - 40cm tương ứng với khối lượng từ 5 - 8kg
ăn hết từ 7 - 11 cá thể tôm con hay cá con trong một ngày
Trang 23Về nguồn lợi Sứa biển Việt Nam, các thông tin, số liệu hiện có rất tản mạn
và sơ lược Mùa vụ khai thác Sứa có thể là quanh năm ở vùng biển ven bờ Việt Nam; tuy nhiên, theo các vùng địa lý lại có sự khác biệt Mùa vụ của nhóm Sứa kinh tế bước đầu được ghi nhận ở vùng biển phía tây Vịnh Bắc Bộ thường từ tháng 3 đến tháng 6, vùng ven biển Trung Bộ thường từ tháng 2 - 5 và tháng 7 -
10, vùng ven biển Đông Nam Bộ thường từ tháng 8 - 10, vùng biển Tây Nam Bộ thuộc Vịnh Thái Lan từ tháng 11, tháng 12 đến tháng 3 năm sau (Omori và cs, 2001; Nguyễn Thị Thu và cs, 2008)
Hiện có 2 loài Sứa được khai thác ở các tỉnh phía Bắc là Sứa trắng và Sứa đỏ Mùa vụ khai thác Sứa tập trung từ tháng 3 đến tháng 5 với sản lượng khai thác trung bình hàng năm tới hàng trăm nghìn tấn, nghề khai thác chính là vợt xúc và lưới đăng (Nguyễn Thị Thu và cs, 2008) Năm 2011, với giá bán trên thị trường của ngư dân cho các cơ sở thu mua để sơ chế từ 15.000 - 30.000 đ/con Sứa trắng (15 - 30kg/con), 80.000 - 150.000đ/con Sứa đỏ (5 - 10kg/con), giá trị sản lượng hàng năm ở nhiều địa phương ven biển Bắc Bộ ước đạt hàng chục tỷ đồng Sản phẩm Sứa sau khi sơ chế được đưa sang Trung Quốc bán với giá đắt gấp nhiều lần khi thu mua
Qua tìm hiểu nghề Sứa ở miền Bắc Việt Nam, Nishikawan và cs (2008) cho rằng để đạt được sự bền vững và phù hợp hơn cho nghề khai thác cần phải tích luỹ thêm những hiểu biết khoa học về các loài Sứa ăn được cũng như thiết lập một hệ thống quan trắc các điều kiện lý - hoá của môi trường Để hiểu được kích thước quần đàn, các nghiên cứu về sinh sản vô tính như khả năng hình thành đoạn mầm ở polyp liên quan đến sự thay đổi của môi trường là rất cần thiết
● Do vai trò quan trọng trong hệ sinh thái và lợi ích kinh tế - xã hội, Sứa biển mới bắt đầu được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam trong một vài năm gần đây Tuy nhiên, các thông tin và số liệu hiện có về Sứa còn sơ lược, một số nghiên cứu đã thực hiện còn hạn chế về nội dung, chủ yếu tập trung vào thành phần loài, hiện chưa có số liệu về nguồn lợi và tình hình khai thác Sứa ở vùng ven biển
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
• Mục tiêu tổng quát
Có được cơ sở dữ liệu về nguồn lợi và hiện trạng khai thác Sứa ở vùng ven biển
Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp khai thác và bảo vệ hợp lý
3 1 Tiếp cận trên cơ sở khoa học
Cơ sở khoa học cho sử dụng hợp lý nguồn lợi Sứa dựa trên các luận cứ khoa học cơ bản về:
Trang 24- Phân tích, đánh giá hiện trạng và xu thế biến động nguồn lợi Sứa ở vùng biển ven bờ; ước tính được trữ lượng, từ đó đề xuất khả năng khai thác bền vững
- Phân tích, đánh giá hiện trạng khai thác nguồn lợi Sứa, xác định được hiệu quả
và ảnh hưởng của các ngư cụ và hình thức khai thác đến nguồn lợi Sứa; trên cơ
sở đó đề xuất các biện pháp khai thác hợp lý để bảo vệ nguồn lợi
3 2 Tiếp cận theo hướng sinh thái môi trường
Trong hệ sinh thái biển, Sứa là sinh vật rất nhạy cảm; sự xuất hiện, phân
bố của Sứa liên quan mật thiết với các yếu tố sinh thái của môi trường Vì vậy, nghiên cứu nguồn lợi Sứa biển cần gắn liền với nghiên cứu các yếu tố
sinh thái môi trường để phục vụ công tác dự báo nguồn lợi
3 3 Tiếp cận theo hướng phối hợp liên ngành
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu có liên quan đến nhiều bộ, nhiều ngành; vì
vậy muốn bảo vệ nguồn lợi Sứa và khai thác hợp lý cần có sự phối hợp liên ngành nhằm có được một cơ chế quản lý thống nhất, đồng bộ giữa các bộ, ngành
liên quan
- Nghiên cứu nguồn lợi Sứa cần có sự phối hợp thực hiện của các cơ quan nghiên cứu khoa học chuyên ngành, các cơ quan quản lý ở các địa phương để có được các điều kiện thuận lợi khi triển khai đề tài, tận dụng được năng lực và kinh
nghiệm trong công tác điều tra, nghiên cứu
- Điều tra, phỏng vấn các hoạt động khai thác Sứa ở các tỉnh có ngư trường khai thác trọng điểm để thu thập số liệu; kết hợp với số liệu từ hoạt động khảo sát mặt rộng trên biển để đánh giá được hiện trạng khai thác Sứa ở các tỉnh ven biển nước ta
- Xin ý kiến tư vấn và trao đổi các vấn đề nghiên cứu với các chuyên gia nhằm chia sẻ kinh nghiệm, nâng cao năng lực nghiên cứu cho cán bộ tham gia đề tài
4 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4 1 Vật liệu nghiên cứu
• Đối tượng và tàu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là các loài Sứa kinh tế (edible jellyfish - Sứa ăn được) còn gọi là Sứa thủy sản nằm trong bộ Sứa miệng rễ (Rhizostomeae) của lớp Sứa chính thức (Scyphozoa) phân bố ở biển Việt Nam
Trang 25- Tàu điều tra nguồn lợi Sứa và các điều kiện môi trường liên quan: sử dụng tàu đánh cá của ngư dân có công suất 200cv để khảo sát và bảo đảm an toàn cho người và thiết bị nghiên cứu trong các chuyến điều tra dài ngày trên biển
• Địa điểm nghiên cứu:
- Không gian điều tra, nghiên cứu mặt rộng dọc theo vùng ven biển Việt Nam từ Quảng Ninh đến Kiên Giang trong phạm vi có độ sâu nhỏ hơn 30m nước với 156 trạm khảo sát nguồn lợi Sứa và quan trắc các thông số môi trường liên quan: + Vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ: từ Quảng Ninh đến Quảng Trị (21030’-
- Điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác Sứa ở các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh
đến Kiên Giang, tập trung vào 10 tỉnh trọng điểm có nghề Sứa biển là Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Định, Phú Yên, Kiên Giang Giám sát các hoạt động khai thác và thu số liệu về Sứa ở 4 ngư trường khai thác Sứa trọng điểm là Quảng Ninh, Hải Phòng, Khánh Hòa, Kiên Giang
- Tìm hiểu ảnh hưởng của Sứa đối với hoạt động du lịch - tắm biển ở các bãi tắm danh tiếng: Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Nha Trang (Khánh Hòa), Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu)
• Thời gian nghiên cứu và số liệu điều tra, khảo sát
- Đề tài được thực hiện trong 3 năm (2009 - 2011) Theo các thông tin và tài liệu hiện có, hàng năm nhóm Sứa kinh tế có thể xuất hiện sớm hay muộn tùy điều kiện thời tiết, môi trường của từng vùng nên việc khảo sát nghiên cứu nguồn lợi Sứa đã được tiến hành 2 lượt cho mỗi vùng biển vào thời gian xuất hiện của nhóm Sứa kinh tế
+ Vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ: đã thực hiện 2 chuyến khảo sát vào tháng 4-5/2009 và tháng 3-4/2010 trên hệ thống 48 trạm khảo sát với 96 mẻ lưới + Vùng ven biển Trung Bộ: thực hiện 2 chuyến khảo sát vào tháng 5-6/2009 và tháng 4-5/2010 trên hệ thống 40 trạm khảo sát với 80 mẻ lưới
+ Vùng ven biển Đông Nam Bộ: thực hiện 2 chuyến khảo sát vào tháng 10/2009 và tháng 10-11/2010 trên hệ thống 44 trạm khảo sát với 88 mẻ lưới + Vùng ven biển Tây Nam Bộ: thực hiện 2 chuyến khảo sát vào tháng 10-11/2009 và tháng 4-5/2011 trên hệ thống 24 trạm khảo sát với 48 mẻ lưới
9 Trong 3 năm (2009 9 2011) thực hiện 10 đợt giám sát khai thác và thu số liệu về
Trang 26Sứa trong mùa Sứa ở 4 ngư trường trọng điểm: Hải Phòng (3 đợt), Quảng Ninh (3 đợt); Khánh Hòa (3 đợt), Kiên Giang (1 đợt) Tổng biểu mẫu số liệu thu được là 450 biểu ở các nghề vợt và nghề lưới kéo
- Thực hiện 2 đợt điều tra, phỏng vấn hiện trạng khai thác Sứa trong 2 năm 2009
và 2010 (1 đợt/năm) ở các tỉnh ven biển có nghề Sứa biển Điều tra diện rộng ở
28 tỉnh ven biển; tập trung điều tra vào 10 tỉnh trọng điểm là Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Định, Phú Yên, Kiên Giang Tổng số phiếu thu được qua 2 đợt điều tra phỏng vấn hiện trạng khai thác Sứa ở các tỉnh ven biển là 1.958 phiếu; trong đó, nghề lưới kéo
207 phiếu, nghề lưới đáy 225 phiếu, nghề vợt 871 phiếu, nghề lưới rê 655 phiếu
4 2 Nội dung nghiên cứu
1) Tổng quan tình hình nghiên cứu nguồn lợi Sứa và các điều kiện môi trường liên quan ở vùng ven biển Việt Nam
Kế thừa, tổng hợp các số liệu và các công trình nghiên cứu về Sứa và các điều kiện môi trường liên quan ở vùng ven biển Việt Nam
2) Nghiên cứu thành phần loài, phân bố, trữ lượng, mùa vụ, khả năng khai thác các loài Sứa kinh tế ở vùng ven biển Việt Nam
- Xác định thành phần loài Sứa, đặc điểm sinh học hình thái một số loài Sứa kinh
tế quan trọng
- Nghiên cứu đặc trưng phân bố các loài Sứa kinh tế theo không gian và thời gian
- Ước tính trữ lượng (Standing biomass) các loài Sứa kinh tế (chủ yếu là Sứa trắng, Sứa rô, Sứa đỏ)
- Xác định mùa vụ xuất hiện các loài Sứa kinh tế
- Đánh giá khả năng khai thác các loài Sứa kinh tế
- Bản đồ phân bố mật độ chung, mật độ các loài Sứa kinh tế, bản đồ số tỷ lệ 1: 1.000.000
3) Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng môi trường liên quan đến nguồn lợi Sứa
ở vùng ven biển Việt Nam
- Đánh giá hiện trạng môi trường vùng ven biển Việt Nam trong mùa khai thác
Sứa: các yếu tố khí tượng - hải văn (nhiệt độ không khí, gió, dòng chảy); các yếu
tố hải dương (t0C, S‰, DO, pH, độ đục, PO4, SiO3, NO2, NO3, NH4, Nts, Pts), các yếu tố thủy sinh vật (thực vật phù du, động vật phù du, trứng cá - cá con)
- Tìm hiểu mối liên quan giữa một số yếu tố khí tượng, hải dương, thủy sinh vật với sự xuất hiện, phân bố của nhóm Sứa kinh tế Tìm hiểu ảnh hưởng của một số nghề khai thác Sứa đến ô nhiễm môi trường biển
- Bản đồ các yếu tố hải văn, hải dương, thủy sinh vật ở vùng biển nghiên cứu trong mùa khai thác Sứa, bản đồ số tỷ lệ 1: 1.000.000
4) Điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác Sứa ở các tỉnh ven biển Việt Nam, ảnh hưởng của Sứa đối với hoạt động du lịch - tắm biển
Trang 27- Điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác Sứa (các loại nghề và số lượng tàu thuyền
sử dụng, mùa vụ khai thác, thành phần sản lượng, năng suất khai thác, sản lượng
khai thác, ngư trường khai thác, hiệu quả kinh tế)
- Tìm hiểu ảnh hưởng của Sứa đối với hoạt động du lịch - tắm biển
5) Đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi Sứa biển
- Giải pháp về chuyển đổi cơ cấu sản xuất, quy hoạch khai thác bền vững;
- Giải pháp về tổ chức sản xuất, quản lý khai thác để bảo vệ nguồn lợi và môi
trường biển;
- Giải pháp về kỹ thuật, lựa chọn ngư cụ và công nghệ khai thác phù hợp;
- Giải pháp về tuyên truyền bảo vệ nguồn lợi và môi trường biển, các biện pháp bảo đảm an toàn cho du khách khi tắm biển
4 3 Phương pháp nghiên cứu
4.3.1 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện nội dung 1
Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có: tổng hợp các số liệu, thông tin của các đề tài, dự án điều tra biển về Sứa và các điều kiện môi trường liên quan ở biển Việt Nam
4.3.2 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện nội dung 2, 3
Phương pháp nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi Sứa và các điều kiện môi trường liên quan dựa vào các phương pháp khảo sát tài nguyên và sinh vật biển truyền thống, phương pháp quan trắc và phân tích môi trường đã ban hành như: Quy định tạm thời về điều tra nghiên cứu biển của Uỷ ban KH&KT Nhà nước (1981), Kỹ thuật thu mẫu các loài “Động vật phù du Gelatin” của Raskooff (2003), Quy định phương pháp QT&PT môi trường của Bộ Tài nguyên&Môi trường (1999) Sử dụng phương pháp phân tích tương quan và hồi quy để tìm hiểu mối liên quan giữ môi trường và nguồn lợi Sứa biển
• Phương pháp nghiên cứu nguồn lợi Sứa được tóm tắt như sau:
Thiết bị và phương pháp thu mẫu Sứa
Do Sứa là động vật sống phù du trong các tầng nước nên thiết bị sử dụng thu mẫu các loài Sứa kinh tế là lưới chuyên dụng thu mẫu động vật phù du cỡ lớn và vợt xúc
- Thu mẫu định tính để xác định thành phần loài Sứa: bằng vợt xúc và lưới kéo miện tròn Vợt xúc có miệng hình tròn đường kính 50cm, lưới kéo miệng tròn
đường kính 1,5m; kích thước mắt lưới 60mm
- Thu mẫu định lượng để xác định sinh vật lượng, tính toán mật độ và trữ lượng (tức thời): Lưới kéo sử dụng thu mẫu định lượng Sứa là lưới chuyên dụng do đề tài thiết kế dựa theo mẫu lưới kéo trong “Giáo trình kỹ thuật khai thác thủy sản” của Trường Đại học Cần Thơ (2008) do Hà Phước Hùng chủ biên Lưới có ưu điểm là “có thể khai thác ở cả tầng đáy, tầng giữa và tầng trên Khung rường lưới
do cấu trúc cố định nên có ưu điểm là tạo độ mở ngang và mở cao ổn định nhưng nhược điểm là không thể tăng kích thước lên quá lớn bởi khó cho việc
Trang 28bố trí trên tàu” Tuy nhiên nhược điểm này có thể khắc phục do tàu khảo sát Sứa
mà đề tài sử dụng có kích thước khá lớn với chiều dài (Lmax) là 18m, chiều rộng (Bmax) là 5,4m; lưới được đặt và thả khi khai thác ở khu vực đuôi tàu Lưới có miệng hình chữ nhật, diện tích miệng 10m2 (5 x 2,0m), thân lưới dài 14,94m, kích thước mắt lưới 2a = 60mm Khung lưới bằng thép, phía trên miệng lưới được gắn phao để giữ cho khung và lưới nổi khi điều chỉnh kéo ở các tầng nước khác nhau (Phụ lục 2: Hình 1, Hình 2, Bảng 1)
Vị trí các trạm đánh lưới được thiết kế theo các tuyến mặt cắt song song với đường vĩ tuyến và theo dải độ sâu (0 - 10m, 10 - 20m, 20 - 30m) Khoảng cách giữa các mặt cắt là 15 hải lý, giữa các trạm 10 - 20 hải lý tùy theo địa hình khu vực biển khảo sát Khi thu mẫu, tàu chạy ổn định với tốc độ khoảng 2 hải lý/giờ Tại mỗi trạm khảo sát, lưới đánh bắt Sứa được kéo ở 3 tầng nước khác nhau là tầng gần đáy, tầng giữa và tầng mặt để xác định mật độ từ đó ước tính trữ lượng Thời gian kéo lưới ở mỗi trạm tùy độ phong phú của Sứa, thường từ 1 - 2 giờ, trong đó thời gian kéo lưới ở mỗi tầng là như nhau Mật độ Sứa của trạm khảo sát là mật độ trung bình khi kéo ở cả 3 tầng nước Cố định mẫu Sứa bằng dung dịch Formaldehyde (HCHO) 6 - 8% và bảo quản mẫu trong các thùng nhựa
Phương pháp phân tích mẫu Sứa
- Phương pháp xác định thành phần loài:
Thành phần các loài Sứa kinh tế được xác định bằng phương pháp so sánh hình thái; dựa trên các chỉ tiêu hình thái ngoài để định loại, gồm màu sắc và đặc điểm mặt ngoài dù, hình dạng viền bờ dù, đặc điểm cơ quan đường bên, đặc điểm tay miệng và phần phụ trên các tay miệng v.v
Tài liệu chính sử dụng phân loại các loài Sứa kinh tế dựa vào các tài liệu của Omori & Nakano (2001), Kitamura & Omori (2010); đồng thời tham khảo thêm các tài liệu phân loại của Kramp (1961), Yamaji (1973), Omori (1981), Cornelius (1997), Omori & Kitamura (2004)
Việc định loại các loài Sứa kinh tế được tiến hành ngay tại hiện trường (trên tàu khảo sát); đồng thời các loài Sứa kinh tế còn được chụp ảnh và lấy mẫu về phân tích kiểm tra trong phòng thí nghiệm
Phân tích kiểm tra các loài Sứa kinh tế còn được thực hiện ở “bến Sứa” trong mùa khai thác tại các ngư trường trọng điểm như Vân Đồn (Quảng Ninh),
Đồ Sơn (Hải Phòng), Cam Ranh (Khánh Hòa), Hà Tiên (Kiên Giang)
Phân tích mẫu Sứa bằng kính lúp, kính hiển vi phân tích Will (Thụy Sĩ) có
độ phóng đại từ 8 - 120 lần
- Phương pháp định lượng các loài Sứa kinh tế:
+ Tiến hành đo đạc đường kính dù và cân khối lượng các loài Sứa kinh tế trong mẫu định lượng; tính toán mật độ nguồn lợi (tấn/km2) và trữ lượng tức thời (tấn) các loài Sứa kinh tế theo các dải độ sâu, cho từng vùng biển
- Phương pháp xác định mùa vụ Sứa kinh tế ở vùng ven biển Việt Nam: bằng phương pháp điều tra, phỏng vấn ngư dân khai thác Sứa và từ kết quả điều tra,
khảo sát biển trực tiếp của đề tài
Trang 29• Phương pháp QT&PT các yếu tố môi trường được tóm tắt như sau:
- Nhiệt độ không khí, hướng và tốc độ gió đo bằng máy khí tượng (Đài Loan)
- Dòng chảy xác định bằng máy dòng chảy tự ghi (Nhật)
- Các thông số: t0C, S‰, DO, pH của nước biển đo tại hiện trường bằng máy đa năng WTW - 330i (Đức)
- Độ đục nước biển đo tại hiện trường bằng máy Turbidimeter 2100P (Mỹ)
- Hàm lượng các muối dinh dưỡng trong nước biển PO43-, SiO32-, NO2-, NO3-,
NH4+ xác định bằng phương pháp trắc quang trên máy DR/2010 (Mỹ) tại hiện trường bằng hóa chất của hãng sản xuất
- Hàm lượng NTS (nitơ tổng số) và PTS (phôtpho tổng số) trong nước biển: mẫu thu ngoài hiện trường và được phân tích trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp trắc quang trên máy UV/vis Jenway 6105 theo TCVN 5987-1995 (NTS) và TCVN 6202-1996 (PTS)
- Thủy sinh vật: mẫu thực vật phù du thu bằng lưới kéo chuyên dụng hình chóp, miệng hình tròn đường kính 0,5m, mắt lưới 80micron Mẫu động vật phù du thu bằng lưới kéo chuyên dụng hình chóp, miệng hình tròn đường kính 0,5m, mắt lưới 330 micron Mẫu trứng cá - cá con thu bằng lưới kéo chuyên dụng hình chóp, miệng hình tròn đường kính 0,5m, mắt lưới 450 micron Miệng các loại lưới được gắn lưu tốc kế để đo lượng nước qua lưới, lưới được kéo thẳng đứng
từ đáy lên mặt nước Cố định mẫu bằng dung dịch Formaldehyde 5% Phân tích mẫu thủy sinh vật trên kính hiển vi giải phẫu Olympus và kính hiển vi huỳnh quang Nikon (Nhật)
4.3.3 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện nội dung 4
Đánh giá hiện trạng khai thác Sứa ở các tỉnh ven biển bao gồm giám sát các hoạt động khai thác Sứa ở các tỉnh trọng điểm và điều tra phỏng vấn thu thập số
liệu ở các tỉnh ven biển có nghề khai thác Sứa
Hoạt động giám sát để thu thập số liệu thực hiện ở các ngư trường khai thác Sứa trọng điểm, quá trình giám sát được tiến hành đối với một số nghề khai thác chính là vợt xúc và lưới kéo
Phương pháp điều tra, phỏng vấn:
● Điều tra thứ cấp: Điều tra thu thập số liệu tại các cơ quan quản lý nghề cá địa phương (Sở Nông nghiệp&PTNT, Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, các Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư,…); thu thập các số liệu về cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản, cơ cấu nghề khai thác Sứa, sản lượng khai thác, tình hình thu mua và chế biến Sứa
● Điều tra sơ cấp:
- Điều tra tại các bến cá: Phỏng vấn trực tiếp chủ tàu, thuyền trưởng các đội tàu làm nghề khai thác Sứa, thu thập các thông tin về tàu thuyền làm nghề khai thác, ngư cụ khai thác, sản lượng và mùa vụ khai thác, doanh thu, chi phí
- Điều tra tại các cơ sở chế biến Sứa: Thời điểm điều tra, hầu hết các cơ quan quản lý đều không có được số liệu thống kê về sản lượng Sứa khai thác hàng
Trang 30năm Vì vậy, sau khi nắm được sơ bộ số lượng, địa chỉ của các cơ sở thu mua và
chế biến, đề tài đã tiến hành thu thập số liệu về sản lượng Sứa thu mua được của
các cơ sở nhằm xác định sản lượng khai thác của mỗi địa phương
- Tìm hiểu ảnh hưởng của Sứa đối với hoạt động du lịch - tắm biển: thu thập
thông tin, số liệu qua internet; điều tra, phỏng vấn du khách và các cơ quan chức
năng liên quan để tìm hiểu ảnh hưởng của Sứa đối với hoạt động du lịch - tắm
biển và tìm hiểu các biện pháp xử lý, phòng tránh
4.3.4 Các phương pháp sử dụng để thực hiện nội dung 5
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, phân tích và đánh giá tổng hợp, từ đó đề
xuất các giải pháp khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi Sứa biển
4.3.5 Phương pháp phân tích số liệu, kỹ thuật sử dụng
● Môi trường:
Số liệu các yếu tố môi trường được xử lý theo phương pháp thống kê toán
học thông dụng Tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố môi trường và nguồn lợi
Sứa kinh tế được phân tích theo phương pháp tương quan và hồi quy
Đánh giá khuynh hướng và mức độ của sự liên quan giữa nguồn lợi Sứa (số
lượng, khối lượng) với các yếu tố sinh thái của môi trường thông qua hệ số
tương quan r (Correlation coefficient) bao gồm hệ số tương quan cặp và hệ số
tương quan đa yếu tố
Nếu: ⏐ r ⏐< 0,2 quan hệ không mật thiết;⏐ r ⏐= 0,2 đến gần 0,4 quan hệ ít
mật thiết;⏐ r ⏐= 0,4 đến gần 0,6 quan hệ tương đối mật thiết;⏐ r ⏐= 0,6 đến gần
0,8 quan hệ mật thiết; ⏐ r ⏐= 0,8 đến gần 1 quan hệ rất mật thiết; ⏐ r ⏐= 1 quan
hệ hoàn toàn mật thiết
Thiết lập phương trình hồi quy để xác định mối liên quan định lượng giữa
nguồn lợi Sứa kinh tế với các yếu tố môi trường bằng phương pháp phân tích hồi
quy đa biến Lựa chọn và lần lượt đưa các biến nghiên cứu vào mô hình để làm
tăng tính khái quát của mô hình, đồng thời lựa chọn mô hình phù hợp (có ý nghĩa
thống kê)
Do vùng biển nghiên cứu rộng lớn, nguồn số liệu thu được còn hạn chế và
để đơn giản trong tính toán và ứng dụng thực tiễn, mô hình tương quan tuyến
tính đã được lựa chọn để xây dựng với phương trình toán học dạng tổng quát là :
y = b0 + b1x1 + b2x2 + + bnxn
Trong đó: y là biến phụ thuộc (số lượng hoặc khối lượng) của Sứa kinh tế;
bo: hằng số; b1, b2, bn: hệ số của các biến độc lập; x1, x2,… xn: các biến độc lập
số 1, số 2, số n (nhiệt độ, độ muối,…); n: là số biến độc lập
Theo Nguyễn Ngọc Kiểng (1996), trong thống kê học của nghiên cứu khoa
học, hầu như tất cả mọi trường hợp của mô hình toán học dạng phi tuyến tính
đều có thể “tuyến tính hoá” thành dạng tổng quát trên
Ý nghĩa thống kê của các hệ số trong phương trình tương quan được đánh
giá bằng trắc nghiệm t (phân phối Student) Tính chất thích hợp của phương trình
Trang 31tương quan được đánh giá bằng trắc nghiệm F (phân phối Fisher) Các mô hình
được xây dựng bảo đảm độ tin cậy trong miền giới hạn của các biến nghiên cứu
● Nguồn lợi:
- Thành phần các loài Sứa kinh tế bắt gặp trong các mẻ lưới được tính toán chi tiết cho từng loài Tương quan đường kính dù - khối lượng Sứa được tính toán theo phương pháp hồi quy lặp phi tuyến:
b
W = × a D
Trong đó: W là khối lượng cá thể (gam hoặc kg), D: đường kính dù của cá thể (cm),
a: hệ số dị hóa, b: hệ số đồng hóa
- Mật độ Sứa kinh tế tại các trạm điều tra:
Mật độ Sứa kinh tế (CPUA) tại các trạm điều tra được xác định theo phương pháp tính toán mật độ cho nhóm động vật phù du biển (theo hướng dẫn trong phương pháp QT&PT môi trường của Bộ KHCN&MT, 1999) :
được (tấn); Vn : lượng nước qua lưới (km3) (Vn = V1 +V2 + V3; V1 là lượng nước qua lưới kéo ở tầng thứ 1 - tầng đáy; V2 là lượng nước qua lưới kéo ở tầng thứ 2
- tầng giữa; V3 là lượng nước qua lưới kéo ở tầng thứ 3 - tầng mặt); h là độ sâu nơi kéo lưới (km) Lượng nước qua lưới kéo ở mỗi tầng nước bằng diện tích miệng lưới nhân với quãng đường mà lưới kéo qua
- Mật độ Sứa kinh tế trung bình theo dải độ sâu:
Khi phân tích số liệu sản lượng Sứa kinh tế, số liệu sản lượng của các đối tượng nghiên cứu thường rất lớn hoặc rất nhỏ, thậm chí có những trạm nghiên cứu không bắt gặp; nghĩa là nguồn số liệu dùng để tính toán trữ lượng không tuân theo luật phân bố chuẩn Do vậy nếu tính mật độ Sứa trung bình ở mỗi dải
độ sâu theo phương pháp phân bố chuẩn sẽ có sai số lớn Vì vậy mật độ Sứa trung bình (CPUA j) của từng dải độ sâu được xác định theo phương pháp Pennington (1983), phương pháp tính như sau:
Gọi n là tổng số trạm nghiên cứu của dải độ sâu, m là số trạm nghiên cứu có sản lượng và (n - m) là số trạm nghiên cứu không có sản lượng
Đặt {LnCPUA} = {Lncpua1, Lncpua2, …, Lncpuam} là logarit tự nhiên của CPUA của các mẻ có sản lượng, và: y= LnCPUA; t=Var (LnCPUA)
Theo Pennington (1983), giá trị CPUA trung bình và phương sai sau khi logarit hoá sẽ được tính ngược lại theo công thức (2) và (3):
Trang 321)
2/()
exp(
1
m
m n
cpua
m t
G y n m CPUA
1
11
21
1)
()
2exp(
)(
2 1
2
m
m n
cpua
m t
n
m G n
m t G n
m y n
m
CPUA
Var
m m
+
−+
−+
=
2
1 2
!)
32) (
3).(
1.(
)1(1
1)(
j j m
j j m m
m m
t m
t m
m t
- Trữ lượng Sứa kinh tế:
Trữ lượng Sứa tức thời (B) được ước tính theo phương pháp diện tích của Gulland (1969) Để tăng độ tin cậy khi ước tính trữ lượng, vùng khảo sát được chia thành nhiều dải độ sâu khác nhau (n dải độ sâu) Trữ lượng Sứa tức thời ở mỗi dải độ sâu được ước tính theo công thức (5) Trữ lượng vùng biển nghiên cứu bằng tổng trữ lượng của các dải độ sâu theo công thức (6)
q
A CPUA
B j = j j (5) ∑
=
= n
j total Bj B
1
(6)
Trong đó: Bj là trữ lượng của dải độ sâu thứ j (tấn); Btotal: tổng trữ lượng của vùng biển nghiên cứu (tấn); Aj: diện tích của dải độ sâu thứ j (km2); CPUA j: mật độ trung bình của Sứa ở dải độ sâu thứ j (tấn/km2) được tính theo phương pháp Pennington (1983); q: hệ số đánh bắt
Theo Pauly (1980), hệ số đánh bắt nhóm cá đáy bằng lưới giã đơn đánh bắt ở vùng Đông Nam Á, q = 0,5 Do chưa có điều kiện thực nghiệm xác định hệ
số đánh bắt nhóm Sứa kinh tế bằng lưới kéo ở hiện trường; trong nghiên cứu này
hệ số đánh bắt của Sứa được đề tài lấy theo kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu động vật phù du sử dụng lưới kéo để thu mẫu của chủ nhiệm đề tài đồng thời tham khảo ý kiến của nhiều chuyên gia sinh học chuyên nghiên cứu động vật phù
du của Viện Nghiên cứu Hải sản, hệ số q được sử dụng là 0,8 (q = 0,8)
- Khả năng khai thác bền vững:
Đến nay trên thế giới chưa có phương pháp ước tính khả năng khai thác bền vững cho Sứa Một số tác giả ước tính khả năng khai thác bền vững cho cá theo công thức: MSY = a x Btotal
Trang 33Trong đó: MSY là khả năng khai thác bền vững (tấn), a: hệ số, Btotal: trữ lượng tức thời của đối tượng trong vùng biển nghiên cứu (tấn)
Một số tác giả thường sử dụng hệ số a = 0,5 để tính toán cho cá Đối với nhóm Sứa kinh tế, đến nay trên thế giới và trong nước chưa có các công trình và tài liệu nào nghiên cứu và công bố về vấn đề này So với cá, nhóm Sứa kinh tế có vòng đời ngắn hơn (thường từ 3 - 6 tháng), khả năng sinh trưởng lại nhanh và có
cả 2 kiểu sinh sản hữu tính và vô tính nên khả năng khai thác Sứa trong tổng trữ lượng nguồn lợi phải cao hơn cá để tận dụng được nguồn lợi Tuy nhiên không thể khai thác tối đa (a = 1) vì cần phải để lại một phần của trữ lượng để tái tạo nguồn lợi (Sứa khai thác cũng là Sứa ở giai đoạn trưởng thành đang tham gia sinh sản) Do chưa có tài liệu cũng như chưa có các nghiên cứu chuyên sâu về khả năng khai thác nhóm Sứa kinh tế nên bước đầu đề tài đề nghị tạm thời sử dụng hệ số a = 0,7 để tính toán
CPUE là năng suất khai thác trung bình của tàu i, n: là số tàu khảo sát
- Cường lực khai thác Sứa của đội tàu:
Cường lực khai thác Sứa của từng nghề được tính toán dựa vào số lượng tàu thuyền của từng loại nghề, tổng số ngày có thể hoạt động trong năm (tổng hợp trong các mẫu phiếu phỏng vấn)
i i i
Trong đó: Ei là cường lực khai thác của đội tàu i (tàu x ngày), Fi: số tàu hoạt động khai thác của đội tàu i (tàu), Di: số ngày có thể khai thác trong năm của đội tàu i
- Ước tính sản lượng khai thác:
Sản lượng khai thác của từng đội tàu được tính toán dựa vào tổng cường lực khai thác và năng suất khai thác từng đội tàu
- Xác định chỉ số kinh tế (Nguyễn Thị Kim Anh, 2006; Long L.K và cs, 2008):
Các chỉ số kinh tế của đội tàu khai thác hải sản như: tổng doanh thu, tổng thu nhập, chi phí sản xuất (chi phí cố định, chi phí biến đổi) và lợi nhuận ròng của đội tàu được xác định phù hợp với thực tế nghiên cứu nghề cá tại Việt Nam
Trang 34+ Tổng doanh thu: bằng tổng giá trị của tổng sản lượng khai thác theo thời giá
tại thời điểm bán theo mỗi chuyến biển Tổng doanh thu trung bình năm của tàu được tính bằng doanh thu trung bình chuyến biển nhân với số chuyến biển thực hiện trong năm
+ Tổng thu nhập: bằng tổng doanh thu trừ đi chi phí biến đổi không bao gồm chi
phí lao động, nghĩa là tổng thu nhập của tàu bao gồm cả chi phí lao động
+ Chi phí biển đổi: là tổng chi phí hoạt động bao gồm chi phí nhiên liệu, nước
đá, thực phẩm, chi phí sửa chữa nhỏ, chi phí lao động và chi khác Chi phí biến đổi phụ thuộc vào mỗi chuyến biển và tổng chi phí biến đổi trung bình năm được tính bằng chi phí biến đổi trung bình từng chuyến nhân với tổng số chuyến biển trong năm
+ Chi phí cố định: là tổng các chi phí về khấu hao phương tiện khai thác, lãi suất
vay vốn, bảo hiểm, thuế và chi phí sửa chữa lớn
+ Tổng giá trị gia tăng: bằng tổng doanh thu trừ đi chi phí biến đổi (không tính chi phí lao động) và chi phí cố định (không gồm khấu hao phương tiện và lãi suất) + Tổng dòng tiền: bằng tổng doanh thu trừ đi chí phí biến đổi và chi phí cố định (không bao gồm khấu hao phương tiện và lãi suất)
+ Lợi nhuận ròng: bằng tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí sản xuất (chi phí biến
đổi và chi phí cố định) hay chính bằng tổng dòng tiền trừ đi khấu hao phương tiện và lãi suất vốn vay
Cách xác định các chỉ số kinh tế trên được tóm tắt như sau:
Tổng doanh thu
- Chi phí biến đổi (chưa tính chi phí lao động)
= Tổng thu nhập
- Chi phí cố định (không bao gồm khấu hao, lãi vay)
= Tổng giá trị tăng thêm
- Chi phí lao động
= Tổng dòng tiền
- Khấu hao phương tiện
- Lãi suất vay vốn (nếu có)
Trang 355 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
5.1 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÙNG VEN BIỂN VIỆT NAM TRONG MÙA KHAI THÁC SỨA
5.1.1 Khí tượng - thủy văn
+ Nhiệt độ không khí
Đặc điểm chung của nhiệt độ không khí vùng ven biển Việt Nam trong thời gian điều tra là biên độ dao động trong những tháng mùa Đông lớn hơn những tháng mùa Hè, biên độ dao động ở vùng ven biển phía Nam nhỏ hơn phía Bắc Vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ: nhiệt độ không khí trong thời gian điều tra dao động từ 20,4 - 29,1oC, trung bình 24,9oC Do ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ trung bình của không khí tháng 3-4/2010 là 23,6oC, thấp hơn khá nhiều so với tháng 4-5/2009 (trung bình 26,2oC) Dải nhiệt độ <22,0oC trong tháng 3-4/2010 kéo dài từ vùng ven biển Quảng Ninh xuống tới Nam Định, nhưng trong tháng 4-5/2009 chỉ giới hạn ở ven biển Quảng Ninh Nhiệt độ không khí tăng dần từ phía bắc xuống phía nam vùng biển điều tra
Vùng ven biển Trung Bộ: nhiệt độ trung bình của không khí trong thời gian điều tra là 28,5oC cao hơn vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ Các giá trị nhiệt
độ quan trắc được dao động từ 23,8 - 31,4oC trong tháng 4-5/2010 và từ 27,0 - 33,1oC trong tháng 5 - 6/2009
Vùng ven biển Đông Nam Bộ: nhiệt độ không khí trong các chuyến điều tra dao động từ 26,6 - 31,7oC; nhiệt độ trung bình của không khí tháng 9-10/2009 là 29,4oC ít chênh lệch so với tháng 10-11/2010 là 29,0oC
Vùng ven biển Tây Nam Bộ: nhiệt độ không khí khá cao với biên độ dao động nhỏ Tháng 10-11/2009 nhiệt độ không khí dao động từ 27,4 - 31,2oC, trung bình 29,3oC Tháng 4-5/2011 nhiệt độ không khí dao động từ 29,1 - 32,4oC, trung bình 30,7oC
+ Gió, sóng
Vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ: do thời điểm điều tra vào thời kỳ chuyển tiếp giữa 2 mùa gió Đông Bắc và Tây Nam nên hướng gió không ổn định; tuy nhiên, hướng Đông Bắc và Đông Nam có tần suất chiếm tỷ lệ cao hơn Trong chuyến điều tra tháng 4-5/2009, hướng gió thịnh hành là Đông Nam với tần suất 33,3%, tốc độ gió trung bình 3,2m/s Tháng 3-4/2010 do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc mạnh nên hướng gió Đông Bắc là chủ đạo với tần suất 37,5%, tốc độ gió trung bình 5,3m/s Hướng sóng chủ yếu là hướng Đông Bắc, Đông đến Đông Nam Chuyến điều tra tháng 4-5/2009 sóng cấp II có tần suất ưu thế chiếm 60,4%, chuyến điều tra vào tháng 3-4/2010 sóng cấp III có tần suất ưu thế chiếm 52,1% (Bảng 1, Bảng 2)
Vùng ven biển Trung Bộ: thời gian điều tra vào kỳ chuyển tiếp giữa 2 mùa gió cùng với ảnh hưởng của địa hình nên gió đổi khá nhiều hướng Tháng 5-6/2009 hướng gió có tần suất cao hơn cả chiếm khoảng 30% là hướng Đông Nam, tốc độ gió trung bình 4,9m/s Tháng 4-5/2010 hướng gió có tần suất cao
Trang 36hơn là hướng Đông chiếm khoảng 30%, tốc độ gió trung bình 3,9m/s Cấp sóng trong vùng biển chủ yếu là cấp II, ít gặp sóng cấp IV (Bảng 1, Bảng 2)
Vùng ven biển Đông Nam Bộ: hướng gió thịnh hành là Tây Nam với tần suất 36,4% trong chuyến điều tra vào tháng 9-10/2009 và hướng Đông với tần suất 45,5% trong chuyến điều tra tháng 10-11/2010, tốc độ gió trung bình đạt 4,5m/s Cấp sóng quan trắc được trong 2 chuyến điều tra chủ yếu là cấp II; hiếm gặp sóng đạt cấp IV và chỉ quan trắc được khi xuất hiện gió Đông đến Đông Nam (Bảng 1, Bảng 2)
Vùng ven biển Tây Nam Bộ: thường có gió nhẹ, sóng ở cấp độ nhỏ trong các chuyến điều tra Tháng 10-11/2009, hướng gió thịnh hành trên vùng biển là gió Đông Bắc với tần suất 54,1%, tốc độ gió trung bình đạt 3,2m/s, sóng chủ yếu
là cấp II Tháng 4-5/2011 hướng gió thịnh hành là Tây Nam với tần suất 58,3%, tốc độ gió trung bình 2,8m/s, sóng chủ yếu là cấp I (Bảng 1, Bảng 2)
Bảng 1 Tần suất hướng gió (%) trong các đợt khảo sát ở vùng ven biển Việt Nam
Trang 37hệ thống dòng chảy gió mùa Đông Bắc và hệ thống dòng chảy gió mùa Tây Nam Tuy nhiên, do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và chế độ thuỷ văn nên dòng chảy ở 4 vùng ven biển có những điểm khác biệt Kết quả đo hướng và tốc
độ dòng chảy ở các vùng biển là dòng tổng hợp của dòng chảy gió, dòng gradien
và dòng triều
Vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ: hệ thống dòng chảy chịu tác động cơ bản của chế độ triều, dòng chảy của các sông lớn trong mùa lũ và dòng chảy áp sát bờ Dòng chảy có hướng từ Bắc xuống Nam trong cả 3 mùa Thu, Đông và Xuân (tháng 9 - tháng 5 năm sau) và có hướng ngược lại xuất hiện trong mùa gió Tây Nam (tháng 6 - tháng 8) với tốc độ nhỏ và phạm vi hẹp (Nguyễn Văn Âu, 2002) Trong thời gian điều tra, hướng dòng chảy ưu thế có hướng Nam đến Tây Nam, tốc độ dòng chảy mạnh nhất đạt 60cm/s Khu vực gần đảo Cô Tô và ven biển Hà Tĩnh thường có tốc độ dòng chảy lớn Tháng 3-4/2010 tốc độ dòng chảy trung bình trong vùng biển là 35,8cm/s, cao hơn tháng 4-5/2009 có tốc độ trung bình 26,7cm/s; dòng chảy tầng mặt thường có tốc độ mạnh hơn tầng đáy
Vùng ven biển Trung Bộ: dòng chảy ven bờ mang đặc điểm của dòng chảy
ở ngoài khơi do sự chi phối của nước từ Biển Đông đưa vào, ảnh hưởng của nước từ lục địa không đáng kể Nhìn chung, hướng dòng chảy trong cả 2 chuyến điều tra thay đổi khá phức tạp, đặc biệt là những trạm gần bờ do hướng dòng chảy còn bị chi phối bởi địa hình Tháng 5-6/2009 tốc độ dòng chảy trung bình là 28,7cm/s và đạt 32,2cm/s trong đợt quan trắc tháng 4-5/2010; có sự thay đổi khá lớn hướng và tốc độ dòng chảy giữa tầng mặt và tầng đáy
Vùng ven biển Đông Nam Bộ: dòng chảy chủ yếu có hướng Đông Nam do chịu ảnh hưởng mạnh của nguồn nước trong lục địa từ hệ thống sông Cửu Long đưa ra Trong thời gian điều tra, tốc độ dòng chảy khá yếu, chuyến điều tra tháng 9-10/2009 tốc độ trung bình là 14,9cm/s và tốc độ trung bình 9,9cm/s trong chuyến điều tra tháng 10-11/2010 Hướng và tốc độ dòng chảy thay đổi khá phức tạp, khu vực gần cửa sông Cửu Long hướng dòng chảy chủ yếu là hướng Đông Nam, các khu vực khác hướng dòng chảy biến đổi không theo quy luật
Vùng ven biển Tây Nam Bộ: vào mùa gió Tây Nam, dòng chảy có hướng Đông đến Đông Nam; ngược lại, trong mùa gió Đông Bắc hệ thống dòng chảy có hướng Tây Bắc đến Bắc Chuyến điều tra tháng 10-11/2009 dòng chảy chủ yếu
có hướng Tây Bắc với tốc độ trung bình 17,0cm/s Chuyến điều tra tháng 5/2011, dòng chảy chủ yếu có hướng Đông Nam với tốc độ trung bình 39,0cm/s Dải sát bờ hướng dòng chảy chịu ảnh hưởng của thuỷ triều lên xuống, khu vực biển gần mũi Cà Mau dòng chảy thường có tốc độ lớn nhất so với toàn vùng
4-5.1.2 Môi trường nước biển
5.1.2.1 Các thông số môi trường cơ bản
Các thông số môi trường nước cơ bản ở vùng ven biển Việt Nam được quan trắc bao gồm nhiệt độ nước biển, độ muối, hàm lượng ôxy hòa tan, độ pH và độ đục; kết quả quan trắc được trình bày trong Bảng 3
Trang 38Bảng 3 Giá trị trung bình một số thông số môi trường nước biển
+ Nhiệt độ nước biển
Vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ: tháng 4-5/2009 nhiệt độ nước biển dao
động từ 22,7 - 27,6oC, trung bình 24,9oC; tháng 3-4/2010 nhiệt độ nước biển thấp
hơn, dao động từ 18,3 - 25,5oC, trung bình 22,0oC Nhiệt độ nước biển tầng mặt
cao hơn rõ rệt so với tầng đáy (Bảng 3)
Vùng ven biển Trung Bộ: nhiệt độ trung bình của nước biển tháng 5-6/2009
là 27,2oC và tháng 4-5/2010 là 26,6oC, chênh lệch nhiệt độ nước biển giữa tầng
mặt và tầng đáy khá rõ (Bảng 3)
Vùng ven biển Đông Nam Bộ: nhiệt độ nước biển tương đối cao và ổn định
Tháng 9-10/2009 nhiệt độ trung bình của nước biển là 28,2 oC và tháng
10-11/2010 là 29,2 oC, mức chênh nhiệt độ giữa 2 tầng nước không lớn (Bảng 3)
Vùng ven biển Tây Nam Bộ: nhiệt độ nước biển có sự khác biệt rõ rệt giữa 2
chuyến điều tra và có giá trị cao nhất trong 4 vùng biển khảo sát Nhiệt độ trung
bình của nước biển tháng 10-11/2009 là 28,7oC, tháng 4-5/2011 là 30,1oC, sự
chênh lệch nhiệt độ giữa tầng mặt và tầng đáy nhỏ (Bảng 3)
+ Độ muối nước biển
Vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ: độ muối trung bình của nước biển
tháng 4-5/2009 là 30,8‰, ít biến động so với tháng 3-4/2010 là 31,0‰; độ muối
thể hiện rõ sự phân tầng, tầng mặt luôn thấp hơn tầng đáy (Bảng 3) Theo mặt
rộng, độ muối nước biển có xu thế tăng dần từ bờ ra khơi, khu vực cửa Ba Lạt
luôn có độ muối thấp nhất so với toàn vùng, khu vực ven biển từ Hà Tĩnh đến
Quảng Bình độ muối cao và ổn định hơn so với khu vực phía bắc Các đường
đẳng muối thấp có hướng kéo dài từ cửa Ba Lạt xuống phía nam Vịnh do tác
động của dòng chảy ven bờ và nguồn nước ngọt từ lục địa đổ ra biển (Hình 1)
Vùng ven biển Trung Bộ: độ muối nước biển có giá trị cao và khá ổn định,
tháng 5-6/2009 độ muối trung bình của nước biển là 32,4‰, tháng 4-5/2010 là
32,7‰ Mức chênh độ muối nước biển giữa tầng mặt và tầng đáy ở vùng ven
biển Trung Bộ nhỏ, thể hiện tính khá đồng nhất của khối nước (Bảng 3)
Trang 39Tháng 4 - 5/2009 Tháng 3 - 4/2010
Hình 1 Phân bố độ muối nước biển (‰) vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ
Vùng ven biển Đông Nam Bộ: độ muối trung bình của nước biển vào tháng 9-10/2009 là 30,6‰ và tháng 10-11/2010 là 30,9‰, có sự phân tầng giữa tầng mặt và tầng đáy Khu vực ven biển phía bắc biển Đông Nam Bộ từ Ninh Thuận đến Bình Thuận nước biển có độ muối cao và ổn định, khu vực phía nam từ nam Vũng Tàu đến Cà Mau nước biển có độ muối thấp hơn do chịu ảnh hưởng nguồn nước ngọt của hệ thống sông Cửu Long (Bảng 3, Hình 2)
Tháng 9 - 10/2009 Tháng 10 - 11/2010
Hình 2 Phân bố độ muối nước biển (‰) vùng ven biển Đông Nam Bộ
Vùng ven biển Tây Nam Bộ: độ muối nước biển thấp hơn so với các vùng ven biển khác, tháng 10-11/2009 độ muối trung bình của nước biển là 29,9‰ và
Trang 40tháng 4-5/2010 là 31,0‰ Theo mặt rộng, độ muối tăng dần từ bờ ra khơi Khu vực ven biển Kiên Giang nước biển luôn có độ muối <30,5‰ (Bảng 3, Hình 3)
Tháng 10 - 11/2009 Tháng 4 - 5/2011
Hình 3 Phân bố độ muối nước biển (‰) vùng ven biển Tây Nam Bộ
Đặc điểm chung độ muối nước biển ở các vùng biển điều tra là khoảng biến động rộng, có sự phân tầng giữa tầng mặt và tầng đáy, tăng dần từ bờ ra khơi do ảnh hưởng của nước ngọt lục địa do sông rạch đưa ra biển Tuy nhiên, do khác biệt về điều kiện tự nhiên (thuỷ triều, lượng nước từ lục địa, dòng chảy, ) mà độ muối của mỗi vùng có nét khác biệt, trong đó vùng ven biển Trung Bộ nước biển
có độ muối cao và ổn định hơn các vùng khác
+ Hàm lượng oxy hoà tan (DO)
Hàm lượng DO trong nước biển ở các vùng ven biển Việt Nam đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 10:2008 (GHCP > 5mg/l) cho vùng bảo tồn thuỷ sinh Hàm lượng DO trung bình ở tầng mặt dao động trong khoảng 6,2 - 6,9mg/l và ở tầng đáy từ 5,7 - 6,1mg/l (Bảng 3)
Vùng ven biển Trung Bộ: độ đục thấp, nước biển trong hơn so với các vùng ven biển khác của Việt Nam; độ đục trung bình của nước biển tháng 5-6/2009 là 1,99 NTU và tháng 4-5/2010 là 1,87 NTU (Bảng 3)