Đề tài : “ Nghiên cứu ứng dụng công nghệ biến tính protein để sản xuất một số sản phẩm từ thịt cá Mè” được triển khai ứng dụng không những làm phong phú thêm các sản phẩm thực phẩm mà
Trang 1trường cao đẳng công nghiệp thực phẩm
Chủ nhiệm đề tài: Trần thị Minh Thọ
Cơ quan chủ trì: Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương
7855
08/4/2010
Phú Thọ, 12/2009
Trang 2Báo cáo đề tài
Môc lôc MỞ ĐẦU 6
PHẦN 1 : TỔNG QUAN 8
1.1 Nguyên liệu cá Mè 8
1.1.1.Tình hình nuôi trồng cá nước ngọt ở Việt Nam 8
1.1.2 Tình hình nuôi trồng cá Mè ở Việt Nam 10
1.1.3 Thành phần và tính chất nguyên liệu cá Mè 10
1 2 Tình hình và công nghệ sản xuất thịt cá xay 14
1.3 Khả năng tạo gel của thịt cá xay 15
1.3.1 Một số nét chung về sự hình thành gel 15
1.3.2 Điều kiện hình thành gel 16
1.3.3 Cơ chế tạo gel 16
1.3.4 Sự chuyển đổi cấu trúc từ hệ sol (paste) sang dạng gel: 17
1.3.5 Sự hình thành hệ khung mạng protein trong gel: 18
PHẦN 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Vật liệu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Phương pháp thực nghiệm 21
2.2.2 Các phương pháp phân tích hoá học 26
2.2.3 Phương pháp đánh giá cảm quan 26
2.2.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu vi sinh vật 27
PHẦN 3 KẾT QUẢ 31
3.1 Kết quả nghiên cứu khảo sát nguyên liệu cá Mè 31
3.1.1 Xác định thành phần khối lượng và tỉ lệ thu hồi phi lê cá 31
3.1.2 Xác định thành phần hóa học của thịt cá 31
3.2 Kết quả nghiên cứu công nghệ biến tính protein 32
3.2.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng biến tính của protein 32
Trang 33.2.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ nước rửa đến chất lượng
surimi 35
3.2.3 Nghiên cứu sử dụng tác nhân hóa học (NaCl và NaHCO3 ) gây biến tính và khả năng tạo gel của protein đến chất lượng surimi 36
3.3 Kết quả nghiên cứu công nghệ sản xuất một số sản phẩm từ surimi 41 3.3.1 Ảnh hưởng của tinh bột tới chất lượng sản phẩm 41
3.3.2 Ảnh hưởng của hàm lượng trứng tới chất lượng của sản phẩm: 44
3.3.3 Ảnh hưởng của dầu thưc vật tới chất lượng sản phẩm 45
3.3.4 Kết quả nghiên cứu quy trình công nghệ chế biến xúc xích và chả cá mè 46
3.3.5 Kết quả nghiên cứu công nghệ chế biến canh cá ăn liền dạng viên 51
3.4 Kết quả nghiên cứu công nghệ cá Mè muối 56
3.4.1 Công thức cho dịch muối cá 56
3.4.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ ngâm đến chất lượng sản phẩm 57
3.4.3 Ảnh hưởng của chế độ sấy đến chất lượng sản phẩm 58
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 66
Trang 4Báo cáo đề tài
C¸c b¶ng Bảng 2 1: Các công thức nước sốt thử nghiệm 24
Bảng 2 2: Bảng công thức phối trộn dịch muối 25
Bảng 2 3: Thử bằng uốn gập 26
Bảng 3 1: Thành phần khối lượng của cá Mè 31
Bảng 3 2: Thành phần hoá học của thịt cá mè (đã phi lê và bỏ da) 31
Bảng 3 3: Ảnh hưởng của chế độ ủ tới độ bền của gel 33
Bảng 3 4: Ảnh hưởng của tỷ lệ nước rửa đến chất lượng surimi 35
Bảng 3 5: Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của dung dịch rửa đến chất lượng surimi 37
Bảng 3 6: ảnh hưởng của hàm lượng bột tới chất lượng của sản phẩm 41
Bảng 3 7: So sánh các loại bột 43
Bảng 3 8: Ảnh hưởng của hàm lượng trứng tới chất lượng của sản phẩm 44
Bảng 3 9: Ảnh hưởng của dầu thực vật tới chất lượng của sản phẩm 45
Bảng 3 10: Bảng thành phần xúc xích cá 46
Bảng 3 11: Công thức phối trộn sản phẩm chả cá 47
Bảng 3 12: Đánh giá chất lượng xúc xích và chả cá 47
Bảng 3 13: Kết quả kiểm tra chỉ số vi sinh vật 48
Bảng 3 14: Công thức phối trộn cho cá viên: 51
Bảng 3 15: Thành phần hoá học cơ bản của nguyên liệu cà chua 52
Bảng 3 16: Kết quả đánh giá màu sắc nước sốt cà chua 52
Bảng 3 17: Các công thức nước sốt thử nghiệm 53
Bảng 3 18: Điểm đánh giá cảm quan nước sốt (theo thang điểm 5) 53
Bảng 3 19: Công thức cho gia vị 54
Bảng 3 20: Bảng đánh giá cảm quan của cá Mè muối khi tiến hành tiêm ngâm ở các dịch pha khác nhau 57
Bảng 3 21: Bảng kết quả đánh giá cảm quan của cá Mè muối ở nhiệt độ ngâm khác nhau 57
Trang 5Bảng 3 22: Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ sấy sơ bộ đến tính chất
cảm quan và độ ẩm của sản phẩm 59
Bảng 3 23: Kết quả đánh giá chất lượng của sản phẩm cá Mè muối 61
Bảng 3 24: Kết quả đánh giá cảm quan của sản phẩm cá Mè muối 61
Trang 6Báo cáo đề tài
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây ngành nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh
Tăng năng suất, tăng sản lượng luôn là mục tiêu của mọi hoạt động canh tác
Các cơ quan khuyến nông làm nhiệm vụ giúp nông dân thực hiện tốt hoạt động
này, nhưng không cơ quan nào giúp họ xác định giới hạn của sự phát triển Một
số loài cá nước ngọt được nuôi phổ biến như cá rô phi, cá mè, cá trắm do khả
năng chịu đựng điều kiện ngoại cảnh tốt, chu kỳ nuôi ngắn, ăn tạp, tốc độ sinh
trưởng nhanh, thịt cá ngon và phù hợp nuôi trong điều kiện gia đình ở nông
thôn Nhiều mô hình nuôi như nuôi lồng bè, nuôi cá tra với kết quả khả quan Cá
Mè trắng và Mè hoa được bán ra thị trường ở dạng tươi nguyên con với giá
thành còn thấp
Để tăng hiệu quả sử dụng cho các loài cá này, tạo ra các sản phẩm có giá
trị cao bằng cách tách thịt cá xay nhỏ, rửa sạch đưa cấp đông, bảo quản được gọi
là surimi Từ surimi chế biến các sản phẩm mô phỏng có giá trị thương phẩm
cao
Surimi là dạng bột nhuyễn (paste) ổn định, có màu sắc đặc trưng, không
mùi, không vị, ít mỡ, có tính đông (gel) nhất định và là sản phẩm có hàm lượng
protein cao, dễ hấp thụ đối với con người
Theo các chuyên gia FAO thì trong lĩnh vực thực phẩm, cá xay mà dạng
tốt nhất của nó là Surimi sẽ là cơ sở thực phẩm tương lai
Bằng các tác nhân vật lý, hóa học gây biến tính protein cho cấu trúc sản
phẩm từ surimi có độ dai, độ giòn mà không sử dụng hoá chất Từ đó chế biến ra
các hải đặc sản giả như thịt tôm, thịt cua, điệp, mực, xúc xích, chạo tôm
Đề tài : “ Nghiên cứu ứng dụng công nghệ biến tính protein để sản xuất
một số sản phẩm từ thịt cá Mè” được triển khai ứng dụng không những làm
phong phú thêm các sản phẩm thực phẩm mà còn nâng cao giá trị một số loài cá
Trang 7nước ngọt ở nước ta Điều đó sẽ đảm bảo tính ổn định cho nuôi trồng, sản xuất
và tiêu dùng sản phẩm
Mục tiêu
Ứng dụng công nghệ biến tính protein để chế biến một số sản phẩm thực
phẩm có giá trị gia tăng từ thịt cá Mè
Nội dung các phần nghiên cứu của đề tài sẽ bao gồm các phần sau:
1 Nghiên cứu công nghệ biến tính từ thịt cá mè
- Nghiên cứu chế độ xử lý nhiệt đến khả năng tạo gel của protein
- Nghiên cứu tác nhân hoá học gây biến tính protein và khả năng tạo
gel của protein
1 Nghiên cứu công nghệ chế biến một số sản phẩm thực phẩm
- Cá Mè muối thái lát
- Canh cá mè ăn liền dạng viên
- Chả cá Mè
- Xúc xích cá Mè
2 Phân tích thành phần dinh dưỡng của cá Mè nguyên liệu và các
sản phẩm sau chế biến bao gồm:
- Xác định thành phần hóa học của nguyên liệu
- Các thành phần hoá học cơ bản: protein, lipit, nước, tro (tổng số)
Trang 8Báo cáo đề tài PHẦN 1 : TỔNG QUAN
1.1 Nguyên liệu cá Mè
1.1.1.Tình hình nuôi trồng cá nước ngọt ở Việt Nam
Nước ta có tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản với diện tích mặt
nước trên 1,7 triệu hecta và có nhiều đối tượng nuôi trồng giá trị kinh tế cao có
thể xuất khẩu Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng đã
khẳng định “Phát huy lợi thế về thuỷ sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn,
vươn lên hàng đầu trong khu vực Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản nước
ngọt, nước lợ, và nước mặn, nhất là nuôi tôm theo phương thức tiến bộ, hiệu quả
và bền vững môi trường”
Nhằm phát huy tiềm năng về thuỷ sản để phát triển kinh tế đất nước, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 224/1999/QĐ-TTg ngày
08/12/1999 phê duyệt Chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản thời kỳ 1999 -
2010 với mục tiêu: “Phát triển nuôi trồng thuỷ sản nhằm đảm bảo an ninh thực
phẩm và tạo nguồn nguyên liệu chủ yếu cho xuất khẩu, phấn đấu đến năm 2010
nuôi trồng thuỷ sản đạt sản lượng trên 2 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu
trên 2,5 tỷ USD, tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 2 triệu lao động, góp phần
tích cực vào phát triển kinh tế xã hội đất nước và an ninh ven biển”
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 về
một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản
phẩm nông nghiệp, trong đó xác định: “Giữ ổn định khoảng 4 triệu hecta đất có
điều kiện tưới tiêu chủ động để sản xuất lúa Với các loại đất sản xuất lúa kém
hiệu quả thì chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm khác có hiệu quả cao hơn,
như đất khô hạn chuyển sang trồng màu, đất trũng, đất ven biển chuyển sang
nuôi trồng thuỷ sản ” Nghị quyết có tầm quan trọng đặc biệt, thúc đẩy quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và đối
với nuôi trồng thuỷ sản nói riêng.Việc chuyển đổi diện tích đất trồng lúa năng
Trang 9suất thấp, các vùng trồng lúa 1 vụ bấp bênh, các vùng trồng cói hiệu quả kém,
các vùng đất cát, đất hoang hoá sang nuôi trồng thuỷ sản làm tăng diện tích các
loại hình mặt nước và sản lượng thuỷ sản nuôi trồng Qua đó tiềm năng đất đai
được khai thác hiệu quả hơn, đồng thời đã tạo ra một nghề mới có thu nhập cao
cho nhiều vùng nông thôn Nhân dân từ chỗ chỉ biết canh tác cây lúa bằng kinh
nghiệm giản đơn đã thực sự tiếp xúc và áp dụng những thành tựu nghiên cứu
khoa học mới, nâng cao kiến thức, kỹ năng, trình độ kỹ thuật, biết hạch toán
kinh tế và đầu tư hợp lý cho sản xuất Hoạt động dịch vụ nuôi trồng thuỷ sản ra
đời như dịch vụ giống, thức ăn, tiêu thụ sản phẩm đã tạo nhiều việc làm cho
nhân dân Nhiều doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đã đầu tư rất lớn vào
nuôi tôm công nghiệp ở những vùng nông thôn, đã xây dựng cơ sở hạ tầng,
đường giao thông cho địa phương, xây dựng nhà máy chế biến thức ăn, chế biến
sản phẩm xuất khẩu, đưa điện, đưa cơ giới, cơ khí hoá về nông thôn, đào tạo kỹ
thuật cho con em nông dân trở thành công nhân kỹ thuật nuôi tôm, công nhân
chế biến thuỷ sản, tăng hàm lượng tri thức, khoa học trong sản phẩm thuỷ sản
Điều đó đã thực sự góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
Chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản góp phần
làm tăng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng cả nước
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản ước tính đến năm 2010 khoảng 1 triệu ha
với tổng sản lượng nuôi trồng 2 triệu tấn trong đó thuỷ sản nước ngọt 900.000
tấn
Nuôi thuỷ sản nước ngọt phát triển mạnh khắp các vùng trong cả nước,
hình thức nuôi đa dạng như nuôi trong ao hồ nhỏ, nuôi trong lồng bè trên sông,
hồ chứa, nuôi luân xen canh thuỷ sản - lúa… Đối tượng nuôi phong phú, trong
đó có nhiều đối tượng nuôi tạo sản phẩm hàng hoá lớn cho thị trường tiêu dùng
trong nước, một số đối tượng nuôi tạo nguyên liệu quan trọng cho chế biến xuất
khẩu Đối tượng nuôi chủ yếu là cá Tra, cá Basa, cá rô phi đơn tính, tôm càng
xanh
Trang 10Báo cáo đề tài
1.1.2 Tình hình nuôi trồng cá Mè ở Việt Nam
Nước ta có lợi thế về diện tích mặt nước ngọt và lợ (120.000 ha ao hồ
nhỏ, 340.000 ha hồ chứa nước, 580.000 ha ruộng trũng, nhiều hệ thống sông
ngòi là những vùng nước có thể nuôi cá Mè có khả năng mở rộng diện tích sản
xuất với sản lượng lớn Cá mè trắng và mè hoa là những loài cá nuôi ghép chính
ở trong ao, nhất là ở những ao mà nước màu mỡ, giàu các sinh vật thức ăn tự
nhiên cho cá Thường cá mè được nuôi lẫn trong ao với cá Trắm, cá chép Sản
lượng cá truyền thống chiếm 1/3 so với tổng lượng cá nước ngọt
1.1.3 Thành phần và tính chất nguyên liệu cá Mè
a Phân loại cá mè:
Chi cá mè (Hypophthalmichthys) có thể gọi là chi cá chép đầu to Chi này chỉ
có 3 loài, cả 3 loài đều là cá được nuôi nhiều ở Trung Quốc và Việt nam Có thể
gọi là cá mè phương bắc Ba loài của chi Hypophthalmichthys là:
• Hypophthalmichthys harmandi – Cá mè trắng Việt nam
• Hypophthalmichthys molitrix – cá Mè trắng Hoa Nam
• Hypophthalmichthys nobilis (đồng nghĩa: Aristichthys nobilis, Leuciscus
nobilis) – Cá mè hoa
Cá mè có thân dẹp, dài thon, vảy rất nhỏ, có màu trắng, trong cơ thể có
những tuyến tiết ra một chất có mùi tanh Hai loài cá mè trắng Việt Nam và cá
mè trắng Hoa Nam có vảy óng ánh nên các nước tây phương gọi là "cá chép
bạc", như trong tiếng Anh gọi cá mè trắng Việt Nam là silver carp và cá mè
trắng Hoa Nam là largescale silver carp Cả 3 loài đều có đầu to, to nhất là loài
Hypophthalmichthys nobilis
Trang 11Hypophthalmichthys molitrix (cá mè trắng Hoa Nam) và Hypophthalmichthys
nobilis (cá mè Hoa) có thể đạt chiều dài trên 100 cm và trọng lượng trên 25 kg
Hypophthalmichthys harmandi (cá mè trắng Việt Nam) có thể đạt chiều dài 54
cm, chưa tìm được hồ sơ ghi trọng lượng tối đa có thể đạt được của loài cá này
Trang 12Báo cáo đề tài
Cá mè có 1 vây lưng, hai vây mang và 3 vây bụng, đuôi hình chữ V
Cá mè có giá trị thực phẩm tương đối cao, phần ăn được chiếm khoảng
78.5-82.9% khối lượng chung Cá mè sống ở tầng nước trên, ăn các loài thực vật
phù du, chúng đi thành từng đàn và cá thể nuôi gép với nhiều loài cá khác (chép,
trôi)
b Thµnh phÇn ho¸ häc cña thÞt c¸
Thành phần hoá học của thịt cá gồm có: Nước,protit, lipit, gluxit,
muối vô cơ, hoocmon Những thành phần có lượng tương đối nhiều là
nước, protit, lipit và muối vô cơ Lượng gluxit thường rất ít và tồn tại
dưới dạng glycogen
* Protit
Protit trong thịt cá có một giá trị thực phẩm cao vì có tất cả những
axit amin cần thiết cho người
Protit trong thịt cá có thể chia làm 3 nhóm cơ bản:
Protein của chất cơ ( Sarcoplasmic protein ) Protein của mô liên kết (Stroma protein) Protein của tơ cơ (Myofibrillar Protein)
Protein của mô liên kết (Stroma protein)
Protein của mô liên kết thuộc loại protein khung mạng: Là những protein
của mạng, màng sợi cơ, màng ty thể và của mô liên kết.Trong đó có tới trên
50% lượng protein của khung là colagel và elastin
Lượng protein của mô liên kết chiếm % rất nhỏ so với protein tơ cơ nên
sự có mặt của chúng không ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tạo gel của surimi
Protein tơ cơ (Myofibrillar Protein)
Protein tơ cơ chiếm trên 50% lượng protein của cơ, có thể chia thành hai
nhóm:
Protein co rút như myosin, actin
Trang 13Protein điều hoà co rút như tropomyosin, troponin, α-elastin, β-elastin
protein M, protein C
Protein tơ cơ góp phần vào sự tạo thành gel khi nâng nhiệt Những
protein này hoà tan trong dung dịch muối NaCl (1-8%) nhưng không hoà tan
trong nước Để tạo gel surimi bằng quá trình gia nhiệt, thêm muối vào để tăng
khả năng hoà tan và như vậy tăng khả năng phân tán của protein
Protein của chất cơ (Sarcoplasmic protein)
Mioglobin là protein quyết định màu sắc của thịt, cá
Protein của chất cơ hoà tan trong nước nên được loại bỏ bởi quá trình rửa,
tách nước trong sản xuất surimi Nếu Protein của chất cơ không được loại bỏ sẽ
làm giảm nồng độ protein tơ cơ Khi gia nhiệt protein của chất cơ bị biến tính và
làm giảm khả năng tạo gel của surimi [14] Sự biến tính là sự duỗi mạch của
protein cấu trúc bậc 2, bậc 3 và cấu trúc bậc 4 Sự biến tính làm lộ ra bề mặt
hoạt động của protein dẫn tới tác động qua lại giữa protein – protein, protein của
chất cơ được giữ lại và như vậy làm cho surimi có màu Sự biến tính có thể xảy
ra trong suốt quá trình rửa, tách nước nếu nhiệt độ tăng quá cao Sự có mặt
protein heme (hay nguyên tử Fe của heme) ở surimi đã rửa là chất xúc tác quá
trình oxy hoá lipit (thường là photpholipit màng tế bào) Sự oxy hoá chất béo
góp phần cho sự biến tính protein tơ cơ và như vậy sẽ làm giảm khả năng tạo gel
của nó [14]
* Muối khoáng
Lượng muối khoáng trong thịt cá không lớn(1-1,5%) nhưng rất cần
thiết cho cơ thể của người như: photpho, magie, kali, natri, sắt, đồng, iôt,
coban, mangan Những chất này có một giá trị sinh lý quan trọng
* Vitamin
Trong cá có những vitamin chính của ba nhóm:
- Nhóm vitamin A (A1, A2, A3)
- Nhóm vitamin B(B1, B2)
- Nhóm vitamin D (D1, D2,D3)
Trang 14Báo cáo đề tài
Lượng vitamin này phân bố không đều trong các cơ quan của cá
Một lượng lớn vitamin A, D trong mỡ và trong nội tạng của cá, vitamin
nhóm B trong gan và mắt của cá Trong thịt cá lượng vitamin rất ít Thành
phần hoá học của thịt cá không cố định mà thay đổi tuỳ theo tuổi, giống
cá, thời gian trong năm (trạng thái sinh lí của cá), điều kiện thức ăn và
những nhân tố khác
1 2 Tình hình và công nghệ sản xuất thịt cá xay
Trong những năm gần đây một trong những hướng quan trọng đã thực
hiện thành công đối với công nghiệp chế biến cá trên thế giới là sản xuất các sản
phẩm từ thịt cá xay
Các nước đứng đầu trong sản xuất tiêu thụ mặt hàng này là Nhật, Mỹ, Đài
Loan, Singapo… Đầu những năm 80 Nhật là quốc gia sản xuất hơn 90% sản
lượng surimi trên toàn thế giới, mức sản lượng cao nhất là: 414.000 nghìn tấn
vào năm 1984, vào năm 1983 Nhật xuất khẩu vào khoảng 1709 tấn surimi và
30.000 tấn giả tôm vào thị trường Mĩ và Châu Âu [8] Chính sự thành công này
của Nhật trong lĩnh vực sản xuất surimi đã thúc đẩy sự tham gia của các quốc
gia khác Mỹ là một ví dụ, bắt đầu sản xuất surimi từ năm 1988 với sản lượng
58.000 nghìn tấn, chỉ sau 4 năm đã có sản lượng vượt Nhật, đến năm 1997 sản
lượng đã lên tới 210.000 nghìn tấn và hiện nay đang dẫn đầu thế giới với sản
lượng 1/2 sản lượng chung của toàn thế giới
Gần đây các quốc gia khác như Đài Loan, Trung Quốc, Pháp, Singapo…
cũng sản xuất thịt cá xay nói chung và surimi nói riêng với sản lượng ngày một
tăng Theo thông tin từ báo cáo khoa học năm 1992 – 1993, đã có 5 cơ sở nhập
các dây chuyền thiết bị sản xuất surimi hiện đại từ các nước phát triển, tuy nhiên
hầu như chưa triển khai vào sản xuất Để có thể sản xuất và phát triển sản phẩm
từ thịt cá xay thì việc nghiên cứu nguyên liệu và quy trình sản xuất là một công
việc rất cần thiết
Theo hội thảo công nghệ mới sản xuất surimi ở Thái Lan 8/1998: Việt
Nam là một nước có triển vọng lớn xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm surimi Cho
Trang 15đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về thịt cá xay Tuy nhiên, đối với
mỗi loại nguyên liệu có đặc tính khác nhau thì công nghệ sản xuất sẽ khác nhau
ta cần có những nghiên cứu cụ thể Qua thực tế cho thấy một số giống cá nước
ngọt như cá rô phi có thể là nguyên liệu tốt cho sản xuất thịt cá xay và các sản
phẩm cao cấp như surimi
Thịt cá xay là sản phẩm truyền thống của các nước Châu á Cá nguyên
liệu tiến hành rửa, phi lê, xay nhỏ, băm nhuyễn và phối trộn các nguyên liệu
phụ, định hình, xử lí nhiệt, bảo quản được sản phẩm thịt cá xay Thịt cá xay nhỏ
trước khi băm nhuyễn nếu được rửa bằng nước đá để loại bỏ các protein hình
cầu, chất mầu, mùi hoà tan sau đó rửa nước muối được gọi là “surimi” [15]
Ở Việt Nam các sản phẩm từ thịt cá xay là những sản phẩm truyền thống
ví dụ như giò cá, chả cá Tuy nhiên những năm gần đây nhu cầu về sản phẩm
này ngày một lớn, đặc biệt là nhu cầu xuất khẩu sang thị trường Châu Âu, Nhật
Bản… Theo các chuyên gia FAO trong lĩnh vực thực phẩm cho biết thịt cá xay
có thể là cơ sở thực phẩm trong tương lai, và tiến tới sản xuất các sản phẩm cao
cấp hơn như “surimi” Đã có một số công trình nghiên cứu về sản phẩm này từ
nguyên liệu cá nhám, cá đù, cá mối, cá basa…Trên thực tế Việt Nam hiện đang
có triển vọng sản xuất xúc xích cá từ một số loài cá thịt trắng như cá rô phi, cá
thác lác [9]
1.3 Khả năng tạo gel của thịt cá xay
1.3.1 Một số nét chung về sự hình thành gel
Ở nhiệt độ thấp, khi gia nhiệt vừa phải, protein biến tính do các cấu trúc
bậc cao bị phá huỷ, mạch protein duỗi ra, tập chung lại gần nhau và tiếp xúc với
nhau và liên kết lại với nhau tạo thành mạng lưới không gian 3 chiều, gọi là sự
tạo gel [10]
Trang 16Báo cáo đề tài
1.3.2 Điều kiện hình thành gel
Sự ra nhiệt, trong đa số trường hợp là rất cần thiết cho quá trình tạo gel
Việc làm lạnh sau đó cũng cũng cần thiết và đôi khi một sự axit hoá nhẹ nhàng
cũng có ích Thêm muối đặc biệt là ion canxi có thể cũng cần, hoặc là để tăng
tốc độ tạo gel hoặc là để tăng độ cứng cho gel
Nhiều protein có thể tạo gel không cần gia nhiệt mà chỉ cần một sự thuỷ
phân enzim vừa phải, một sự thêm đơn giản các ion canxi, hoặc một sự kiềm
hoá kèm theo trung hoà hoặc đưa PH đến điểm đẳng điện (sản xuất đậu phụ)
[14]
1.3.3 Cơ chế tạo gel
Hỗn hợp thịt cá sau khi xay trở thành hệ sol nhớt dính hay bột nhuyễn
(paste) Hỗn hợp bột nhuyễn không thể hình thành được nếu thiếu sự có mặt của
muối Trong hình 1.1 là ảnh chụp trên kính hiển vi điện tử phóng to của hai loại
bột nhuyễn làm surimi khi có và không có mặt NaCl để so sánh
Hình 1.1: Ảnh chụp trên kính hiển vi điện tử phóng to của hai loại bột nhuyễn làm surimi
khi có và không có mặt NaCl Ảnh bên trái là bột nhyễn surimi của cá thu khi xay thịt cá
với NaCl trong 25 phút, ảnh bên phải là ảnh chụp bột nhuyễn không có NaCl
Cấu trúc vi mô của các sợi tơ cơ hoàn toàn biến mất ở ảnh đầu tiên, trong
khi đó chúng vẫn nguyên ở ảnh thứ hai Điều này giải thích bởi việc thêm muối
vào hỗn hợp làm các protein của tơ cơ hoà tan vào nước Đồng thời, các myosin
Trang 17trong dung dịch liên kết với các sợi actin để tạo nên các phân tử lớn actomyosin
(hình 1.2)
Hình 1.2 : Sự tạo thành actomyosin từ tơ cơ: A : sợi actin , M: Myosin
Cả hai loại myosin và actomyosin đều đóng vai trò chủ đạo trong việc
hình thành hệ gel của surimi và tạo nên các tính chất tương ứng với đặc tính cuả
hệ gel [14] Người ta đã phát hiện ra rằng trong một số loại surimi, liên kết với
actin làm biến đổi các tính chất tạo gel của myosin nhưng tropomyosin dường
như không có ảnh hưởng đến sự hình thành gel [14] Tuy nhiên, các tính chất tạo
gel của actomyosin chủ yếu phụ thuộc vào tỷ lệ của myosin trong phân tử, trong
đó tính chất đặc trưng riêng của myosin do tỷ lệ của phần mạch phân tử lượng
lớn quyết đinh [14]
1.3.4 Sự chuyển đổi cấu trúc từ hệ sol (paste) sang dạng gel:
Một số nguyên liệu ở dạng hoà tan có khả năng tạo gel khi gia nhiệt như:
Tinh bột, lòng trắng trứng, bột nhuyễn thịt cá xay… Tuy nhiên gel tạo thành
không thể chuyển về trạng thái ban đầu khi hoà tan trở lại Ngược lại một số
dịch nóng như aga – aga, gelatin thì lại có khả năng chuyển về trạng thái cũ khi
gia nhiệt Sự chuyển đổi cấu trúc từ hệ sol sang hệ gel là nhờ sự hình thành cấu
trúc mạng không gian mà trong đó có ít nhất 3 liên kết cầu nối hay từng đoạn
mạch polyme xoắn kết với nhau tạo thành ( Hình 1.3) Trong gelatin, aga mạng
lưới không gian 3 chiều chủ yếu là liên kết hydro, liên kết này sẽ bị đứt khi gia
nhiệt Khi để nguội các liên kết này sẽ tái hợp và hình thành gel [14]
a
Trang 18Báo cáo đề tài
Hình 1.3: Sự tạo thành cấu trúc mạng không gian ở a và b không hình thành cấu trúc mạng
không gian, Các liên kết, : Các nút liên kết
1.3.5 Sự hình thành hệ khung mạng protein trong gel:
Có 4 loại liên kết chính tham gia vào sự hình thành mạng không gian:
Liên kết hidro, liên kết cầu muối, liên kết cầu đi sunfua tương tác kị nước [7]
• Liên kết hidro: Người ta cho rằng, các liên kết hidro trong các phân tử
giữa các axit amin mang điện tích của phân tử protein đóng vai trò
quan trọng trong việc ổn định cấu trúc gel trong thực phẩm Thêm vào
đó, nhiều axit amin có khả năng tạo thành các liên kết hidro giữa các
nhóm -OH của tirozin, serin, treonin với các nhóm -COOH của
glutamic hoặc của aspatic Các liên kết hidro được hình thành như sau:
Trong đó R là gốc axit amin Ái lực của liên kết hidro là nhờ lực
Coulomb ái lực này sẽ bị yếu đi khi gia nhiệt, ngược lại ái lực tương tác kỵ
nước sẽ tăng lên khi gia nhiệt Đây là nguyên nhân tại sao khi gel gelatin chảy
Trang 19+O 2
ra khi gia nhiệt , bởi vì cấu trúc của nó được hình thành bởi các liên kết hidro
giữa các gốc hidroprolin Khi gia nhiệt các kiên kết hidro bị đứt, nhưng khi để
nguội liên kết tái hợp và gel lại hình thành Nhiệt độ càng thấp thì liên kết hidro
càng được tăng cường và củng cố vì càng có điều kiện tạo ra nhiều cầu hidro
Liên kết hidro là liên kết yếu, tạo ra một độ linh động nào đó giữa các phân tử
đối với nhau, do đó làm làm cho gel có độ dẻo nhất định Các liên kết hidro giữa
các mạch trong protein rất bền, Tại đây các phân tử nước không thể thấm qua
được Điều này giải thích tại sao cấu trúc xoắn α và β của protein khá bền trong
nước
• Liên kết cầu muối: Là liên kết được hình thành do các lực hút tĩnh điện
của các nhóm tích điện trái dấu (giữa các nhóm tích điện âm –COO-
với Na+, và nhóm tích điện dương –NH3+ và ion Cl-), hoặc giữa các
nhóm tích điện cùng dấu thông qua các ion đa hoá trị Ca++ [7]
• Liên kết cầu disunfua: Khi gia nhiệt ở nhiệt độ cao (t0>400C) , liên kết
diunfua được tạo thành
Liên kết cầu disunfua (-S-S-) giữa các phân tử được tạo thành khi oxy hoá
2 gốc cystein
Protein – SH + HS – Protein Protein – S – S – Protein
Trong trường hợp này gel có tính bất thuận nghịch bởi nhiệt, rất chắc và bền
Sự gia nhiệt có thể làm phơi bày các nhóm - SH ở bên trong, do đó xúc
tiến việc hình thành hoặc trao đổi các cầu diunfua Khi có mặt chất oxy hoá liên
kết cầu diunfua sẽ không xảy ra vì các gốc cystein vẫn còn lại ở phía ngoài bề
mặt phân tử protein của tơ cơ trong gel đã gia nhiệt Thêm vào nữa là khả năng
oxy hoá- khử của gel đã gia nhiệt là khá thấp Nhưng người ta đã tìm thấy sự
hình thành các cầu disunfua như vậy trong actomyosin của cá chép Nó cho thấy
rằng trong gel đã qua gia nhiệt có những liên kết có thể bị phân tách khi cho
thêm chất khử lẫn urê hay guanidin hidroclorit trong khi bình thường các liên
kết này không dễ dàng bị phân huỷ khi chỉ có mặt mỗi chất khử Người ta cho
Trang 20Báo cáo đề tài
rằng sự trao đổi disunfit diễn ra khi gia nhiệt hỗn hợp bột nhuyễn surimi làm cho
các mối liên kết –S – S – nội phân tử chuyển thành các mối liên kết – S – S –
giữa các phân tử Gel surimi được chặt hơn không chỉ khi cho thêm chất oxy hoá
trước khi gia nhiệt mà còn cả khi thêm các chất khử như axit ascorbic và cystein
+ 2RSH + RSSR
(Chuỗi polipeptit) (RSH –cystein)
Người ta đã chứng minh rằng ở nhiệt độ cao hơn ( 800C hay hơn nữa ) thì
sự hình thành liên kết cầu – S – S – sẽ diễn ra mạnh mẽ đối với cá chép Điều
này cho thấy rằng hiện tượng duỗi mạch của protein tơ cơ diễn ra mạnh mẽ ở
nhiệt độ cao và gốc cystein kỵ nước thì quay ra phía ngoài nhiều hơn
Khi có mặt nhiều nhóm –SH và -S-S- sẽ tăng cường hệ thống mạng giữa các
phân tử và gel tạo ra bền với nhiệt
• Tương tác kị nước: Liên kết tạo ra do tương tác giữa các nhóm kị
nước (ưa béo) Tương tác kị nước được tăng cường khi nhiệt độ tăng
[7]
Trang 21PHẦN 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
+ Dầu thực vật (dầu lạc, dầu hướng dương…)
+ Muối ăn (hàm lượng NaCl >95%)
+ Đường kính (trắng, độ tinh khiết >97%)
2.2.1.1 Nghiên cứu công nghệ biến tính protein từ thịt cá mè
Để nghiên cứu các yếu tố công nghệ biến tính protein, chúng tôi chọn qui
trình sản xuất surimi có các bước công nghệ chung:
Trang 22Báo cáo đề tài
Cá mè → phi lê → Thịt cá → Tách xương, da → Rửa → Xay nhỏ → phối trộn
→ surimi
Cá mè có trọng lượng từ 1.5kg đến 2 kg, tiến hành phi lê tách bỏ đầu,
đuôi, vây thu được thịt cá Thịt cá sau khi được tách da, bỏ xương tiến hành
rửa và xay nhỏ sau đó phối trộn với muối để điều chỉnh độ ẩm của thịt cá thu
được surimi Toàn bộ các công đoạn trên đều tiến hành dưới 100C
a Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự biến tính protein
Để nghiên cứu công nghệ biến tính protein, cá được xay nhuyễn với muối
và điều chỉnh độ ẩm của khối thịt cá < 80% Duy trì nhiệt độ khi xay dưới 10oC
Sau khi xay, bột nhuyễn được nhồi vào vỏ PVC (dài 30cm, đường kính 3cm )
và ủ ở nhiệt độ với thời gian như sau:
- Nhiệt độ 25oC trong thời gian 1h, 2h, 3h, 4h, 6h,
- Nhiệt độ 40oC trong thời gian 0.5h, 1h, 2h, 3h, 4h
- Nhiệt độ 55oC trong thời gian 0.5h, 1h, 2h, 4h
- Nhiệt độ 65oC trong thời gian 0.5h, 1h, 2h, 4h
Các mẫu sau khi ủ được đun nóng ở nhiệt độ 90oC trong thời gian 30 phút
và làm lạnh sản phẩm ngay trong nước đá trong thời gian 15 phút Tiến hành đo
độ bền chắc của gel với mẫu dài 30mm trong khi các mẫu dài 4-5mm thử uốn
gập
b Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ nước rửa đến chất lượng surimi
Để nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ nước rửa đến chất lượng surimi chúng
tôi tiến hành nghiên cứu với tỉ lệ nước: cá là 2:1; 3:1; 4:1; 5:1; 6:1 sau đó sác
định các chỉ tiêu về độ ẩm; độ trắng, mùi của surimi, hàm lượng protein và lipit
c Nghiên cứu ảnh hưởng tác nhân hóa học (NaCl và NaHCO3 ) gây biến tính
và khả năng tạo gel của protein đến chất lượng surimi
Để nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình rửa đến chất lượng surimi tiến
hành rửa thịt cá bằng dung dịch rửa và ở các nồng độ:
Trang 23NaCl 0,15%
NaCl 0,15% + NaHCO3 0,2% ; NaCl 0,2% + NaHCO3 0,2%
2.2.1.2 Nghiên cứu công nghệ chế biến một số sản phẩm từ surimi
a Nghiên cứu ảnh hưởng của phụ gia tới chất lượng sản phẩm
Để nghiên cứu ảnh hưởng của phụ gia tới chất lượng sản phẩm, tiến hành
phối trộn với các gia vị muối, tinh bột biến tính, protein lòng trắng trứng gà
Sản phẩm được đánh giá chất lượng bằng phương pháp cảm quan
b Nghiên cứu công thức nước sốt cho canh cá viên
Để nghiên cứu công nghệ nấu nước sốt cà chua, chúng tôi sử dụng quy
trình sản xuất bột cà chua như sau:
Cà chua tươi → Lựa chọn, vặt cuống, rửa → hấp → làm nguội → xay → chà →
bột cà chua
Chế độ hấp: thêm 10% nước so với nguyên liệu cà chua rồi hấp ở 100oC
trong thời gian 20 phút
Để nghiên cứu công thức phối trộn ta dựa vào các công thức ở các tài liệu
tham khảo và tiến hành phối trộn theo các công thức được trình bày trong bảng
sau:
Trang 24Báo cáo đề tài
Bảng 2 1: Các công thức nước sốt thử nghiệm
Nguyên liệu Công thức 1 (%) Công thức 2 (%) Công thức 3 (%)
Đánh giá chất lượng nước sốt bằng phương pháp cảm quan về màu sắc,
trạng thái, độ sánh, độ khô…, từ đó chọn công thức tối ưu để sản xuất
2.2.1.3 Nghiên cứu công nghệ cá mè muối
a Nghiên cứu công thức pha dịch muối tiêm ngâm
Trong quá trình ngâm muối sản phẩm có một số thay đổi không mong
muốn do hệ enzim proteaza Cathepsin và sự phát triển của vi khuẩn lactic lên
men dị hình [16] Sự phát triển của vi khuẩn giảm khi nồng độ muối tối thiểu
6% Tiến hành pha dịch muối với nồng độ muối từ 6-8% Công thức cho dung
dịch tiêm ngâm được pha chế theo 3 công thức sau:
Trang 25Bảng 2 2: Bảng công thức phối trộn dịch muối
Tỷ lệ (%)
TT Tên nguyên liệu
Công thức 1 Công thức 2 Công thức 3
Sau khi tiến hành tiêm ngâm theo các công thức pha dịch trên, tiến hành
đánh giá cảm quan từ đó lựa cho công thức pha dịch phù hợp
b Nghiên cứu thời gian ngâm ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
Tiến hành ngâm ở nhiệt độ thường trong thời gian 2h, 4-60C trong thời
gian 24h và 10-120C trong thời gian 18h Sau khi ngâm được sấy ở nhiệt độ
750C trong thời gian 2h và được đánh giá cảm quan
c Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian sấy đến chất lượng sản phẩm
Mục đích của quá trình sấy giảm độ ẩm của sản phẩm làm chín sản phẩm
Thịt cá sau khi ngâm muối có độ ẩm 82%
Tại nhiệt độ 55-600C là nhiệt độ thích hợp nhất cho proteaza kiềm và
trung tính trong thịt cá hoạt động thuỷ phân protein gây phá huỷ cấu trúc của sản
phẩm do vậy tiến hành sấy sơ bộ ở nhiệt độ 650C, 700C ở thời gian khác nhau
4h, 5h, 6h và theo dõi sự biến đổi độ ẩm của bán sản phẩm, đánh giá chất lượng
cảm quan
Để sản phẩm có thể ăn liền thì đảm bảo nhiệt độ tại tâm sản phẩm đạt
680C và duy trì ở nhiệt độ đó 15 phút Do vậy lựa chọn nhiệt độ sấy sản phẩm
phải cao để thắng được trở lực của lớp màng tạo điều kiện ẩm tiếp tục thoát ra
Trang 26Báo cáo đề tài
đồng thời đảm bảo nhiệt độ tâm đạt 680C Tuy nhiên nếu nhiệt độ cao quá cho
sản phẩm bị quá khô và xơ cứng đồng thời sản phẩm bị sẫm màu do phản ứng
caramen của đường Theo một số tài liệu tham khảo[16] cho thấy sấy cá ở nhiệt
độ 850C là thích hợp do vậy chúng tôi lựa chọn nhiệt độ trên để tiến hành nghiên
cứu Tiến hành sấy cá ở nhiệt độ 850C đến khi tâm sản phẩm đạt 68-700C và duy
trì tại nhiệt độ tâm đó trong thời gian 15 phút Sau khi sấy, sản phẩm được đánh
giá chất lượng cảm quan
2.2.2 Các phương pháp phân tích hoá học
- Xác định độ ẩm bằng phương pháp sấy tới khối lượng không đổi ở nhiệt
- Xác định hàm lượng tro tổng: Tiến hành theo TCVN 4327 – 86 Tiến hành
đốt tro trong lò nhiệt độ 550 – 6000C
2.2.3 Phương pháp đánh giá cảm quan
Thử bằng uốn gập (folding test):
Lấy 5 miếng surimi có độ dầy 4-5mm, gập đôi mẫu, tiếp đó gập tư Tiến
hành quan sát và phân hạng như sau:
Bảng 2 3: Thử bằng uốn gập
- Gẫy ( nhưng 2 miếng dính vào nhau khi gập đôi) C Kém
- Gẫy hoàn toàn thành 2 miếng khi gập đôi D Rất kém
Trang 272.2.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu vi sinh vật
a Xác định tổng số vi sinh vật hiếu khí:
Nguyên tắc: Sử dụng kĩ thuật số đĩa, đếm số khuẩn lạc trên môi trường
thạch, sau khi ủ hiếu khí ở nhiệt độ 300C trong thời gian từ 48-72 giờ Số lượng
vi khuẩn hiếu khí trong 1g mẫu sản phẩm thực phẩm kiểm nghiệm được tính
theo số khuẩn lạc đếm được từ các đĩa nuôi cấy theo các đậm độ pha loãng
Môi trường: (Môi trường thạch thường glucoza)
Pepton: 10g NaCl : 50g Cao thịt: 5g Glucoza: 1g Thạch : 15-20g Nước cất: 1000ml
b Xác định tổng số Coliforms và E.coli
Nguyên tắc: tiến hành theo phương pháp MPN (phương pháp nhiều ống)
và sử dụng bảng chỉ số MPN để tính kết quả
Tổng số coliform được xác định bằng số ống dương tính sau khi nuôi cấy
vào các ống canh thang lactoza mật bò ở 350C -370C trong thời gian là 24-48
giờ
Tổng số E coli được xác định bằng các tính chất sinh hoá từ những ống
dương tính nói trên sau khi làm các thử nghiệm IMViC
Môi trường và thuốc thử:
Canh thang lactose loãng 13g/l
Canh thang lactose đặc 16g/l
Canh thang lactose mật bò loãng
Canh thang latose mật bò đặc
Thạch Endo hoặc thạch Eosin Methy Blue agar (EMB)
Trang 28Báo cáo đề tài
Thạch Desoxycholate latose (DCL) hoặc thạch Desoxycholate Citrat
lactose saccarose (DCLS) hoặc thạch Macconkey
Nguyên tắc: Sử dụng kĩ thuật cấy láng, đếm số khuẩn lạc nghi ngờ trên
môi trường thạch sau khi ủ hiếu khí ở 370C trong 24-48 giờ Khuẩn lạc nghi ngờ
là S aureus sẽ có trung tâm đen và xung quanh có vòng trong suốt trên môi
trường Baird-Parker có lòng đỏ trứng và tellurit de potassium
Xác định S aureus bằng thử nghiệm đông huyết tương
Môi trường và thuốc thử:
Nước đệm Pepton 9%
Canh thang BHI (Brain heart infusion broth)
Môi trường Baird-Parker
Huyết tương thỏ
Dung dịch lòng đỏ trứng
Potasium tellurit
d Xác định Salmonela
Trang 29Nguyên tắc: Dựa trên kĩ thuật hiện Salmonella trong thực phẩm theo
phương pháp của FAO gồm các bước sau:
Chuẩn bị mẫu và đồng nhất mẫu
Trước khi tăng sinh
Môi trường nuôi cấy và thuốc thử:
Nước đệm peptôn 2 %
Canh thang Selenit
Thạch SS (Salmonella Shigella agar)
Thạch xanh brilliant
Môi trường KIA
Môi trường Mannit di động
Môi trường ure indol
Môi trường Lysin decacboxylaza
Môi trường Ornithin decacboxylaza
Môi trường Acginin dehyđrolaza
Môi trường ONPG
Thuốc thử Kovac
e Xác định Clostridium Perfingens
Nguyên tắc: Vi khuẩn C perfringens trong môi trường thạch chọn lọc
trong điều kiện kị khí sẽ phát triển thành các khuẩn lạc có màu đen Chọn khuẩn
lạc điển hình, xác định tính chất sinh vật hoá học theo thường quy
Môi trường, thuốc thử:
Thạch Tryptose Sulfide Cycloserin (TSC agar)
Môi trường lactôza gelatin
Canh thang gan cục hoặc canh thang thịt
Canh thang nuôi cấy nha bào
Dung dịch thioglycolat
Dung dịch đệm glycerin – salt
Trang 30Báo cáo đề tài
Nước muối đệm pepton 0.9%
Thuốc nhuộn Gram
f Tiêu chuẩn để xác định C perfringens:
Trực khuẩn ngắn: Gr (+); Có nha bào; Khuẩn lạc màu đen trên TSC; Nitrit: (+);
iron-milk: (+); Lactoza (+); Gelatin (+); Hơi (+)
g Xác định tổng số bào tử nấm men, nấm mốc
Nguyên tắc: Sử dụng kỹ thuật đổ đĩa đếm khóm nấm trên môi trường
thạch, sau khi ủ hiếu khí ở nhiệt độ 28 $ 10C trong thời gian từ 5 đến 7 ngày
Số lương bào tử nấm men, nấm mốc trong 1g mẫu sản phẩm kiểm nghiệm được
tính theo số khóm nấm đếm được từ các đĩa nuôi cấy theo các đậm độ pha loãng
− Xác định Coliforms, E coli: Theo phương pháp nhiều ống (MPN)
− Xác định tổng số bào tử nấm men, nấm mốc: Tiến hành lấy mẫu theo
TCVN 4886 – 89 Nguyên tắc sử dụng kỹ thuật đổ đĩa đếm khóm nấm
trên môi trường thạch sau khi ủ hiếu khí ở 28 ± 10C trong 5 – 7 ngày
− S aureus: Sử dụng kỹ thuật cấy láng, đếm khuẩn lạc nghi ngờ trên môt
trường thạch sau khi ủ hiếu khí ở điều kiện 370C/24 – 49h
− Salmonella: Tiến hành theo TCVN 4829-1989 (37oC/48h)
− Cl Perfringens: Tiến hành theo TCVN4991-1989 (37oC/24h)
Trang 31PHẦN 3 KẾT QUẢ
3.1 Kết quả nghiên cứu khảo sát nguyên liệu cá Mè
3.1.1 Xác định thành phần khối lượng và tỉ lệ thu hồi phi lê cá
Tiến hành khảo sát với loại cá có khối lượng 1500-2000 g/con Sau khi đã
thực hiện các bước phân riêng các thành phần khối lượng của cá, cân riêng các
thành phần thu được, làm song song ba mẫu, lấy giá trị trung bình ta có bảng số
Vây, da, nội tạng 4,60
Qua bảng trên ta thấy rằng các thành phần kém dinh dưỡng và không có
giá trị sử dụng như đầu, xương, vây, da, ruột …chiếm tỉ lệ khối lượng lớn của cơ
thể cá Để tận dụng nguyên liệu ta nên dùng các phần này để làm thức ăn gia
Trang 32Báo cáo đề tài
Qua bảng trên ta thấy giá trị dinh dưỡng của thịt cá Mè thông qua cá chỉ
số hoá học không thua kém một số loại cá nước ngọt cũng như cá nước mặn vẫn
được đánh giá là các loại cá có giá trị dinh dưỡng cao như cá chép, cá chắm đen,
cá thu, cá vược Tuy nhiên hàm lượng mỡ cao ( 4,67%) và có mùi tanh Với
hàm lượng này chưa phù hợp sản xuất surimi và các sản phẩm mô phỏng từ
surimi do vậy trong quá trình rửa thịt cá cần có dung dịch rửa phù hợp để loại bỏ
mỡ, mùi cũng như tăng tăng khả năng tạo gel của protein
3.2 Kết quả nghiên cứu công nghệ biến tính protein
3.2.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng biến tính của
protein
Ở nhiệt độ thấp, khi gia nhiệt vừa phải, protein biến tính do các cấu trúc
bậc cao bị phá huỷ, mạch protein duỗi ra, tập chung lại gần nhau và tiếp xúc với
nhau và liên kết lại với nhau tạo thành mạng lưới không gian 3 chiều, gọi là sự
tạo gel Gel chắc và bền sẽ cho cấu trúc sản phẩm dai và đàn hồi Sự hình thành
gel bởi nhiệt khi protein từ dung dịch đều qua các bước:
Giai đoạn phân li thuận nghịch cấu trúc bậc bốn thành các dưới đơn vị
hoặc monome Giai đoạn này xảy ra khi gia nhiệt vừa phải, các dưới đơn vị,
hoặc các monome tập hợp lại với nhau
Giai đoạn biến tính không thuận nghịch các cấu trúc bậc hai, bậc ba: Các
phân tử protein giãn mạch xuất hiện những nhóm kị nước, nhờ tương tác kị nước
giữa protein – protein làm cho quá trình tập hợp xảy ra liên tục, mặt khác gia
nhiệt làm phơi bày các nhóm – SH tạo điều kiện thuận lợi, xúc tiến tạo thành
liên kết disunfur làm tăng cường hệ thống mạng, sự có mặt của các ion canxi tạo
nên liên kết cầu muối giúp cho khung mạng rắn chắc hơn Trong trường hợp giai
đoạn tập hợp xảy ra chậm hơn so với giai đoạn biến tính thì càng có điều kiện
thuận lợi để các mạch polipeptit đã giãn mạch từng phần dễ dàng định hướng
trước khi tập hợp lại với nhau, tạo thành tập hợp có trật tự đồng đều, đàn hồi và
không bị tách dịch [14]
Trang 33Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian tới độ bền chắc
của gel được thể hiện ở bảng 3.3
Bảng 3 3: Ảnh hưởng của chế độ ủ tới độ bền của gel
Qua kết quả chỉ ra ở bảng 3.3 cho thấy:
Mẫu kiểm chứng không qua ủ, gia nhiệt luôn ở 900C trong thời gian 30
phút có độ bền gel yếu, rạn khi gập đôi
Khi gia nhiệt cấu trúc được cải thiện hơn
Các mẫu ủ ở nhiệt độ 250C, khi tiến hành ủ trong trong 1h có độ bền
tương đối tốt chỉ có một trong năm mẫu có vết rạn khi gập tư Khi tăng thời gian
ủ lên đến 4h thì cho cấu trúc tốt nhất
Tại 400C độ bền gel tốt (loại AA, cả năm mẫu gập 4 không có vết rạn) Có
thể giải thích hiện tượng này như sau:
Ở nhiệt độ thấp, protein biến tính và liên kết lại với nhau tạo thành mạng
lưới không gian 3 chiều Các liên kết này được hình thành do sự tương tác kị
nước Bình thường trong chuỗi mạch protein các gốc axit amin ưa nước được
bao bọc xung quanh bởi các phân tử nước, các gốc kị nước quay vào phía trong
mạch
Trang 34Báo cáo đề tài
Mặt khác khi nhiệt độ tăng các phân tử nước linh động làm cho các cầu
hidro (liên kết các gốc ưa nước và nước) bị yếu đi, các gốc kị nước quay ra phía
ngoài làm cho các mạch polipeptit sít lại gần nhau, làm cho khối gel cứng hơn
Khi gia nhiệt sẽ làm phơi bày các nhóm HS-, xúc tiến việc tạo thành các cầu đi
sunfur, dẫn đến các phân tử gel tạo ra bền với nhiệt [15]
Theo Samejia và cộng sự (1981) [14], ở 400C các liên kết disunfua ở phần
đầu myosin S1 là phổ biến, gel có bất thuận nghịch bởi nhiệt, rất bền, chắc
Theo Niwa và cộng sự cho rằng ở 400C actomyosin và myosin nặng
không bền nhiệt được tách ra khỏi actin, tropinin, tropomyosin, đông tụ tạo gel
Khi ủ tại nhiệt độ 550C thì cấu trúc của gel yếu, thời gian ủ càng dài thì
cấu trúc gel càng yếu
Hiện tượng này được giải thích là do sự phân huỷ protein thịt cá trong
thời gian ủ bởi các enzim có trong thịt cá Trong thịt cá có một lượng lớn enzim
bền nhiệt các enzim này hoạt động mạnh phân cắt các protein tơ cơ mạnh nhất
vào khoảng 500C -700C Tại 550C là nhiệt độ thích hợp cho enzim Cathepsin-L
phân huỷ myozsin, actin, α-actin Thời gian càng dài thì lượng protein bị phân
huỷ càng nhiều dẫn đến làm giảm cấu trúc bền của gel, gel tạo thành có độ đàn
hồi kém [14]
Khi ủ ở nhiệt độ 650C, đây là nhiệt độ tối ưu cho các enzim kiềm hoạt
động, các enzim kiềm phân hủy hầu hết các protein như protein tơ cơ,
miochondriel, lyosomal, mirosomal… [12] Chỉ ủ sau 1h chất lượng gel đã giảm
khá nhiều mẫu khi gập đôi bị gẫy, tuy nhiên hai nửa vẫn dính vào nhau, nhưng
khi tăng thời gian ủ lên 2h thì cấu trúc gel bị phá huỷ gần như hoàn toàn, gập đôi
gẫy và hai mẫu tách rời nhau
Kết luận: Qua kết quả trên ta thấy rằng với chế độ ủ ở 250C trong thời
gian 4h (AA) cho cấu trúc tốt và ủ ở 400C ở tại 30 phút (Chỉ có một trong 5 mẫu
có vết rạn khi gập 4), với 1, 2h đều cho ta cấu trúc tốt (không có vết rạn khi gập
tư), tuy nhiên để lựa chọn một công nghệ thì ta phải kết hợp nhiều yếu tố, chất
Trang 35lượng sản phẩm, tính kinh tế, tính phù hợp… vậy ta chọn chế độ ủ tại 400C trong
thời gian 30 phút cho các thí nghiệm sau
3.2.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ nước rửa đến chất lượng
surimi
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của lượng nước rửa đến các thành phần
của thịt cá Mè được thể hiện ở bảng 3.4
Bảng 3 4: Ảnh hưởng của tỷ lệ nước rửa đến chất lượng surimi
Lipit (%)
Độ trắng Mùi
Kết quả bảng 3.4 cho thấy độ ẩm của thịt cá tăng khi lượng nước tăng Độ
ẩm của thịt cá tăng nhanh khi tỷ lệ nước lên đến 3/1 sau đó tăng chậm
Khi tăng tỷ lệ nước /cá thì hàm lượng protein giảm đi Hàm lượng protein
giảm là do một số chất đạm (Protein của chất cơ, axit amin ) hoà tan ra dung
dịch rửa Vấn đề này cần được nghiên cứu để thu hồi protein từ dung dịch rửa
Hàm lượng protein giảm mạnh khi tỷ lệ nước tăng đến 3/1 sau đó giảm từ từ
khi tiếp tục tăng tỷ lệ nước Điều này có thể là do nồng độ chất hoà tan đạt gần
đến trạng thái cân bằng ở tỷ lệ nước/cá là 3/1
Màu sắc của surimi là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng của
sản phẩm
Trang 36Báo cáo đề tài
Kết quả nghiên cứu trong bảng 3.4 cho thấy màu sắc của surimi được cải
thiện rõ khi tỷ lệ cá/nước lầ 3/1 Độ trắng của hầu như không tăng khi tỷ lệ
nước từ 4/1 đến 6/1 Điều này cũng tương ứng với biến đổi hàm lượng protein
theo tỷ lệ nước rửa ở tỷ lệ nước/cá là 3/1 thì nồng độ chất hoà tan đạt gần đến
trạng thái cân bằng do vậy độ trắng của surimi hầu như không tăng khi tăng tỷ lệ
nước
Kết luận: Tỷ lệ nước/cá: 3/1 thích hợp nhất cho việc loại bỏ màu sắc và
hàm lượng protein tổn thất ít nhất
3.2.3 Nghiên cứu sử dụng tác nhân hóa học (NaCl và NaHCO3 ) gây biến
tính và khả năng tạo gel của protein đến chất lượng surimi
Sử dụng nước thường trong quá trình rửa không loại bỏ triệt để hàm lượng lipit
trong thịt cá Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng dung dịch rửa có nồng độ
Trang 37Bảng 3 5: Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của dung dịch rửa đến chất lượng
surimi
Dung
dịch rửa pH
Độ ẩm (%)
Protein (%)
Lipit
Độ bền chắc gel Kiểm
Trang 38Báo cáo đề tài
Nhận xét: Kết quả bảng 3.5 và đồ thị 1 cho thấy khi giữ nguyên nồng độ của
NaHCO3 và thay đổi nồng độ muối từ 0,15% đến 0,25% thì độ ẩm surimi giảm
Các hiện tượng trên có thể giải thích bởi muối tạo áp suất thẩm thấu có xu
hướng kéo nước tự do từ trong khối thịt xay ra ngoài do đó nước dễ bị tách khi
lọc ép Bên cạnh đó nước muối có tác dụng hoà tan một phân protein thịt cá gây
hao hụt trọng lượng thành phẩm Việc rửa bằng nước muối có tác dụng làm tăng
khả năng hoà tan myosin là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến khả năng tạo gel
của protein
Trang 39Đồ thị 2: Biến đổỉ độ ẩm ở nồng độ dung dịch muối 0.15% và thay đổi nồng độ NaHCO3
0 20 40 60 80 100
Nhận xét: Kết quả bảng 3.5 và đồ thị 2 cho thấy khi giữ nguyên nồng độ muối
là 0,15% và tăng nồng độ NaHCO3 thì độ ẩm của surimi tăng Điều này chứng
tỏ sự có mặt của NaHCO3 có tác dụng giữ nước của thịt cá gây khó khăn cho
quá trình ép tách nước do vậy không nên sử dụng nồng độ NaHCO3 cao Gel có
chất lượng tốt không thể hình thành nếu pH của thịt cá ngoài vung 6-8 [15] do
vậy NaHCO3 được sử dụng nhằm điều chỉnh pH của thịt cá
Trang 40Báo cáo đề tài
Đồ thị 4: Biến đổỉ protein và lipit ở nồng độ dung dịch muối cố định 0.15% và thay đổi nồng độ NaHCO3
0 3 6 9 12 15
Nhận xét: Kết quả bảng 3.5 và đồ thị 3 cho thấy nếu nồng độ dung dịch muối
càng tăng thì hàm lượng protein càng giảm Các protein chất cơ hoà tan trong
nước do vậy quá trình rửa nhằm loại bỏ sắc tố này đồng thời tăng khả năng tạo
gel Việc sử dụng nước muối có nồng độ cao gây tổn thất protein tơ cơ đặc biệt
là myosin
Nhận xét: Kết quả bảng 3.5 và đồ thị 4 cho thấy nồng độ NaHCO3 càng tăng thì
hàm lượng lipit giảm đáng kể, kết quả này tương tự với kết luận của Yutaka
Shimizu và cộng sự [14] Điều này giải thích lipit tan trong môi trường kiềm
Về màu sắc của surimi từ màu hơi trắng ( phớt vàng) đến màu rất trắng khi nồng
đô NaHCO3càng tăng Lý do là nồng độ NaHCO3 cao có tác dụng khử triệt để
sắc tố hem của protein chất cơ nên màu sắc được cải thiện rõ rệt Nhưng nếu
nồng độ NaHCO3cao hơn 0,4% thì protein thịt cá bị biến tính và màu của surimi
trở nên đục
Về mùi, khi tăng nồng độ NaHCO3 thì mùi của surimi cải thiện rõ Tuy
nhiên khi nồng độ NaHCO3 càng tăng thì surimi có mùi xà phòng đồng thời cấu
trúc sản phẩm kém
Kết luận chung: Từ bảng 3.5 và đồ thị 1,2,3,4 cho thấy dung dịch muối kiềm
NaCl 0,2% +NaHCO3 0,2% là thích hợp nhất vì tại dung dịch này có tác dụng
cải thiện pH của thịt cá do đó tăng khả năng tạo gel của protein cho cấu trúc tốt (