1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao

183 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Tác giả Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I
Người hướng dẫn TS. Lê Xân, TS. Phạm Hữu Giục, TS. Nguyễn Thiện Thành
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ thuật nuôi trồng thủy sản
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 6,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ KHOA HỌC BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP NHÀ NƯỚC KC06/06-10 BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI TÊN ĐỀ TÀI: Nghiên cứu q

Trang 1

BỘ KHOA HỌC BỘ NÔNG NGHIỆP

VÀ CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP NHÀ NƯỚC KC06/06-10

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI

TÊN ĐỀ TÀI: Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có

giá trị kinh tế cao.

MÃ SỐ: KC06.04/06-10

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I

Chủ nhiệm đề tài: TS Lê Xân

8569

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

BỘ KHOA HỌC BỘ NÔNG NGHIỆP

VÀ CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP NHÀ NƯỚC KC06/06-10

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI

TÊN ĐỀ TÀI: Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá

BAN CHỦ NHIỆM CHƯƠNG TRÌNH BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

KT CHỦ NHIỆM VĂN PHÒNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÓ CHỦ NHIỆM KT GIÁM ĐÓC

PHÓ GIÁM ĐỐC

TS PHẠM HỮU GIỤC TS NGUYỄN THIỆN THÀNH

Hà Nội - 2010

Trang 3

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

Viện NCNTTS I Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I

Viện NCNTTS III Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III

NACA Mạng lưới Nuôi trồng Thủy sản Châu Á

ACIAR Tổ chức Hợp tác quốc tế nghiên cứu phát triển Nông

nghiệp Úc

DLG Tăng trưởng tuyệt đối trung bình/ngày về chiều dài Trung tâm QGGHSMB Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Quá trình quản lý chăm sóc và thức ăn ương cá song

da báo giai đoạn cá bột đến cá giống

Hình 3.3 Tăng trưởng khối lượng cá SC giai đoạn 55 - 90 ngày

tuổi khi sử dụng các loại thức ăn khác nhau 91Hình 3.4 Tăng trưởng chiều dài cá SC giai đoạn 55 - 90 ngày

tuổi khi sử dụng các loại thức ăn khác nhau

Hình 3.7 Tăng trưởng chiều dài cá SC ương từ cá hương lên cá

giống trong hệ lọc sinh học

103

Hình 3.8 Tăng trưởng khối lượng cá SC ương từ cá hương lên

cá giống trong hệ lọc sinh học

Trang 5

xi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Liều lượng và tần suất sử dụng hoocmon 17α-MT kích

thích chuyển giới tính cho cá Song Chuột 19 Bảng 2.2 Liều lượng và tần suất sử dụng hoocmon 17α-MT kích

thích chuyển giới tính cho cá Song Vằn 20 Bảng 2.3 Liều lượng VTM bổ sung cho đàn cá chuyển đực bằng

Bảng 3.2 Kết quả nuôi vỗ cá Song Chuột bố mẹ 61

Bảng 3.3 Kết quả sinh sản cá Song Chuột tại Cát Bà 61

Bảng 3.4 Kết quả kích thích sinh sản cá Song Chuột 2 phương

Bảng 3.5 Kết quả theo dõi sức sinh sản cá Song Chuột năm 2010 63

Bảng 3.6 Thời gian chuyển giai đoạn của phôi cá Song Chuột 64

Bảng 3.7 Tỷ lệ chuyển đổi giới tính tự nhiên và chuyển đổi nhân

Bảng 3.9 Kết quả sinh sản cá SV theo 2 phương pháp khác nhau 69

Bảng 3.10 Sức sinh sản cá Song Vằn tuổi 5+nuôi tại Cát Bà 70

Bảng 3.11 Kết quả sinh sản của cá Song Vằn tại Cát Bà 71

Bảng 3.12 Thời gian sinh sản và sức sinh sản thực tế của cá Song

Bảng 3.13 Kích thước tham gia sinh sản lần đầu của cá Song Da

Báo

75

Trang 6

xii

Bảng 3.15 Các giai đoạn phát triển phôi và thời gian phát triển

Bảng 3.16 Kết quả lưu giữ một số loài tảo ở các phương pháp khác

Bảng 3.17 Kết quả nuôi sinh khối vi tảo trong các bình cầu 10L 81 Bảng 3.18 Kết quả nuôi sinh khối trong các bình nhựa 20L 81 Bảng 3.19 Kết quả nuôi sinh khối trong các túi nilong 50L 82 Bảng 3.20 Kết quả thí nghiệm tạo trứng nghỉ bằng một số phương

Bảng 3.21 Diễn biến sự gia tăng mật độ B plicatilis trong phương

Bảng 3.22 Diễn biến sự gia tăng mật độ B rotundiformis trong

Bảng 3.23: Diễn biến gia tăng mật độ B plicatilis trong quá trình

Bảng 3.24 Diễn biến sự gia tăng mật độ B.rotundiformis trong quá

Bảng 3.25 Tỷ lệ sống (%) của ấu trùng cá Song Chuột 3 - 20 ngày

tuổi với các phương pháp cường hoá Luân trùng khác

Bảng 3.26: Tỷ lệ sống (%) của cá Song Chuột giai đoạn 20- 55

ngày tuổi khi ương bằng thức ăn khác nhau (TB±SD) 89 Bảng 3.27 Tỷ lệ sống và sinh trưởng (TL) cá Song DB 1- 15 ngày

tuổi sử dụng trứng Hàu và Luân trùng siêu nhỏ

Bảng 3.28 Chiều dài cá và tỷ lệ sống của cá khi sử dụng Artemia

và bổ sung Copepoda (giai đoạn 20 đến 45 ngày tuổi)

Bảng 3.29 Tăng trưởng về chiều dài (mm), tỷ lệ sống (%) của cá

Song Da Báo khi sử dụng thức ăn khác nhau (TB±SD)

94

Bảng 3.30 Chiều dài (mm) và tỷ lệ sống (%)trung bình của cá Song Da Báo ương bằng Artemia kết hợp với thức ăn

Trang 7

Bảng 3.34 Chiều dài thân (TLmm) cá Song Chuột khi ương bằng

Bảng 3.35 Tỷ lệ sống (%) cá Song Chuột khi ương với thời gian

Bảng 3.36 Chiều dài thân (TLmm) cá Song Chuột với thời gian

Bảng 3.37 Tỷ lệ sống (%) cá Song Chuột giai đoạn cá bột lên cá

Bảng 3.38 Chiều dài thân (TLmm) cá Song Chuột ương ở các mật

Bảng 3.39 Tăng trưởng tương đối (%) về chiều dài và khối lượng

cá Song Chuột giai đoạn 55 – 90 ngày tuổi 101 Bảng 3.40 Tốc độ tăng trưởng tương đối (%) về chiều dài và khối

lượng của cá hương cá SC nuôi trong hệ lọc sinh học 103 Bảng 3.41 Tỷ lệ sống (%) của ấu trùng cá SV ở các độ mặn khác

Trang 8

xiv

Bảng 3.46 Tỷ lệ sống (%) cá SV ở các bể nuôi có mật độ luân

Bảng 3.47 Tăng trưởng chiều dài thân (mm) cá SV trong các bể

ương có với mật độ luân trùng khác nhau (TB±SD) 109 Bảng 3.48 Tỷ lệ sống (%) cá SV với tần suất cho ăn khác nhau

Bảng 3.51 Kết quả ương cá SV ương ở ao nước mặn 112

Bảng 3.52 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tỷ lệ sống và tăng trưởng

Bảng 3.53 Kết quả ương ấu trùng cá song Da Báo đến 3 ngày tuổi 114

Bảng 3.55 Tăng trưởng chiều dài toàn thân cá Song Da Báo 116

Bảng 3.56 Các yếu tố môi trường trong bể ương ấu trùng, cá

Bảng 3.57 Sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá SC nuôi ở mật độ khác

Bảng 3.58 Sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá Song Vằn nuôi ở mật

Bảng 3.59 Sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá Song Chuột nuôi bằng

Bảng 3.60 Sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá Song Vằn nuôi bằng

Bảng 3.61 Kết quả nuôi cá Song Chuột và cá Song Vằn bằng thức

Bảng 3.62 Kết quả thí nghiệm nuôi thương phẩm cá Song Vằn ở

Bảng 3.63 Giá trị trung bình các thông số môi trường trong quá

trình nuôi cá SC trong hệ lọc sinh học 125

Trang 9

xv

Bảng 3.64 Giá trị các yếu tố dinh dưỡng, khoáng (mg/L) 126

Bảng 3.66 Tăng trưởng tương đối khối lượng và chiều dài cá SC

Bảng 3.67 Kết quả ương cá Song Da Báo ở lồng ở các nhóm kích

Bảng 3.68 Diễn biến các yếu tố môi trường tại lồng nuôi cá Song

DB 122 Bảng 3.69: Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình ngày về chiều

Bảng 3.70: Kết quả nuôi thương phẩm cá Song Da Báo ở lồng biển 134

Bảng 3.71 Hiệu quả kinh tế cá Song Da Báo nuôi thương phẩm

bằng lồng biển 135 Bảng 3.72 Tần số bắt gặp (TSBG) vi khuẩn từ cá song bệnh lở loét

Bảng 3.73 Thành phần ký sinh trùng trên các mẫu cá song Da Báo

và cá song Vằn bệnh 141 Bảng 3.74 Tính nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh 143

Bảng 3.75 Bệnh thường gặp ở cá song và hiệu quả phòng trị 146

Bảng 3.76 Kết quả kiểm tra bệnh VNN trên cá song nuôi thương

Bảng 3.77 Kết quả phân tích bệnh vi khuẩn trên cá Song nuôi

thương phẩm tại Quảng Ninh, Hải Phòng 148 Bảng 3.78 Thành phần loài KST trên cá Song nuôi thương phẩm ở

Bảng 3.79 Kết quả kiểm tra bệnh nấm trên cá Song Chuột, song

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết cần thực hiện đề tài dự án

Trong các loài cá rạn san hô, 3 loài: cá Song Chuột Cromileptes altivelis Valencienes 1828 , Song Vằn Epinephelus fuscoguttatus Forsskal 1775, Song

Da Báo Plectropomus leopadus Lacépede 1802 là những loài qúi hiếm, có giá trị

cao Đặc biệt, cá Song Chuột có giá bán tại thị trường Hồng Kông trong 5 năm gần đây luôn dao động từ 60-70USD/kg [53] Thông tin cá nhân cho biết: tại Thành phố Hồ Chí Minh, cá Song Chuột được bán với giá >1.000.000 VNĐ/kg

Cá Song Chuột không những là thực phẩm quí hiếm mà còn được sử dụng làm

cá cảnh cho giới thượng lưu ở nhiều nước Ả rập và Trung Đông [36] Cá Song

Vằn (còn gọi là cá mú hổ, mú cọp) có tỷ lệ thịt lớn hơn một số loài cá Song

khác, thịt trắng và thơm ngon nên có giá từ 17-20 USD/kg Cá Song Da Báo

(còn gọi là mú sao) là loài qúi hiếm, cơ thể luôn biến màu nhưng nổi bật là màu

đỏ với các chấm xanh màu lông cổ vịt óng ánh, thịt trắng thơm ngon Giá bán của cá Song Da Báo dao động từ 25-30USD/kg Tại thị trường Việt Nam, cá Song Vằn, Song Da Báo được bán trong các nhà hàng sang trọng và xuất khẩu tiểu ngạch đi Hồng Kông, Singapo, Trung Quốc, Đài Loan với giá bán cá Song Vằn là 400-450.000đ/kg, cá Song Da Báo 700.000đ/kg Cả 3 loài cá đều là đối tượng nuôi chủ yếu của nhiều nước nhiệt đới đặc biệt là các nước châu Á, Đông Nam Á và Việt Nam [34] Ngoài mục đích thực phẩm chất lượng cao, phát triển nuôi các loài cá này còn có giá trị bảo tồn các loài cá rạn san hô đang bị suy giảm nguồn lợi do khai thác quá mức và do các rạn san hô ngày càng bị thu hẹp

Cá Song Chuột, Song Vằn, Song Da Báo đều có phân bố ở biển Việt Nam nhưng số lượng không đáng kể và ngày càng bị suy giảm Đặc biệt, mười năm trước đây không quá hiếm cá Song Chuột, nhưng hiện nay chỉ đôi khi mới bắt được một vài cá thể tại Phú Quốc Để bắt được cá Song Chuột, người thợ lặn đã phải lặn sâu và dùng Xyanua gây mê cá Cá Song Vằn (Mú Cọp) hiện còn chỉ phân bố chủ yếu ở một số vùng biển miền Trung Cá Song Da Báo có phân bố ở

cả miền Nam, miền Trung và miền Bắc nhưng số lượng cũng không đáng kể Giá bán ở thị trường trong nước cao, cộng với nhiều thương gia từ Hồng Kông, Trung Quốc luôn tìm mua cá thịt đã khuyến khích người dân tìm mọi biện pháp để khai thác kể cả những biện pháp bị cấm Đặc biệt từ những năm 2008 đến nay, thương nhân Malaixia, Singapo, Đài Loan săn tìm mua cá giống làm cho nguồn lợi cá giống tự nhiên các loài cá này ngày càng bị suy giảm

Trang 11

Nhận thức được tầm quan trọng, giá trị kinh tế và nhu cầu của thị trường cũng như nhu cầu bảo tồn các loài hải sản qúi hiếm, có giá trị cao; tháng 11/2007, Bộ Khoa học & Công nghệ đã giao cho Viện nghiên cứu Nuôi trồng

Thủy sản I thực hiện đề tài: “Nghiên cứu qui trình công nghệ sản xuất giống và

nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao”

Nghiên cứu chủ động công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Song Chuột, cá Song Vằn và cá Song Da Báo có ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn lớn

Trong điều kiện nguồn lợi tự nhiên đặc biệt là các loài cá thuộc nhóm cá rạn san hô quí hiếm ngày càng suy giảm, việc sản xuất thành công giống nhân tạo là biên pháp tích cực nhất để phục vụ nhu cầu thực phẩm chất lượng cao của con người và góp phần phục hồi nguồn lợi tự nhiên Xu hướng tập trung nghiên cứu các đối tượng sinh vật biển, cụ thể là công nghệ sản xuất giống cá biển để phục hồi nguồn lợi được hầu hết các nước có biển đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi cá biển là lĩnh vực phức tạp, tổng hợp từ nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của từng đối tượng đến nghiên cứu nhu cầu về điều kiện môi trường, chủng loại và lượng thức ăn cho từng giai đoạn, từng loài cá; nghiên cứu bệnh của mỗi loài khi chúng sống trong điều kiện nuôi v.v Việt Nam hay bất kỳ nước nào có thành tựu đều đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp khoa học chung của thế giới làm tiền đề để nghiên cứu các loài khác

Việt Nam có thế mạnh về biển và nuôi cá biển, con đường mà Việt Nam lựa chọn cho tương lai là tiến ra biển để phát triển kinh tế bền vững, tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống nhân dân Nghiên cứu thành công công nghệ sản xuất giống các loài cá biển sẽ góp phần nhỏ mở màn cho sự nghiệp tiến ra biển

để phát triển bền vững đất nước Những phân tích trên thể hiện đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn

Trang 12

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 3 loài cá biển có giá trị kinh tế cao có

hệ thống phân loại như sau:

Loài 1: Epinephelus fuscoguttatus, Forskal 1775

Tên Tiếng Anh: Tiger Grouper; Tiếng Việt: cá Song Hổ, cá Song Vằn, cá

Mú Cọp

Tên tiếng Anh: Coral trout; Tiếng Viêt: cá Song Da Báo, cá Mú Sao

Tên tiếng Anh: Mouse Grouper, tiếng Việt: cá Mú Chuột, cá Song Chuột

3 Mục tiêu của đề tài:

Đề tài có 02 mục tiêu chính:

• Tạo ra qui trình công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm các

loài: cá Song Chuột (Crommileptes altivelis), cá Song Vằn (E.fuscoguttatus), cá Song Da Báo (Plectropomus leopadus) Qui trình công nghệ với các chỉ tiêu

sau:

Quy trình công nghệ sản xuất giống cá Song Chuột, Song Vằn, Song Da Báo: Tỷ lệ sống từ cá bột lên cá giống: Cá Song Chuột: >3%; cá Song Vằn:> 4%, cá Song Da Báo >1%

Trang 13

Quy trình công nghệ nuôi thương phẩm cá Song Chuột, Song Vằn, Song

Da Báo bằng lồng trên biển: Đạt tỷ lệ sống 50% Năng suất: cá Song Chuột

>5kg/m3.; Song Vằn > 10kg và Song Da Báo >6kg/m3

• Góp phần xây dựng đàn cá bố mẹ và hậu bị một số loài cá biển phục vụ sản xuất : Cụ thể : cá Song Chuột bố mẹ 50 con, cá hậu bị: 200 con; cá Song Da Báo bố mẹ 50 con, hậu bị 200 con; cá Song Vằn bố mẹ 100 con, hậu bị

200 con

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Phạm vi thời gian: đề tài được tiến hành trong 3 năm, từ tháng

12/2007 đến tháng 11/2010

4.2 Phạm vi không gian: Đề tài triển khai ở một số địa điểm sau: nghiên

cứu sản xuất giống tại Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc, tại xã Xuân Đám, đảo Cát bà huyện đảo Cát Hải, TP Hải Phòng và Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Trung, tại khu vực Sông Lô, TP Nha Trang tỉnh Khánh Hòa Nghiên cứu công nghệ nuôi cá Song Vằn, cá Song Chuột vịnh Cát Bà, huyện Cát Hải, Thành phố Hải Phòng; nuôi cá Song Da Báo tại vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5.1 Ý nghĩa khoa học

Trong tình hình nguồn lợi tự nhiên ngày càng giảm sút, nhu cầu về thực phẩm chất lượng cao, đặc biệt là thực phẩm có nguồn gốc từ biển ngày càng lớn, hầu hết các nước có biển đều quan tâm đầu tư cho nuôi trồng các đối tượng hải sản, mong muốn bổ sung và thay thế một lượng lớn hải sản mà khai thác tự nhiên không còn đáp ứng Để có thể phát triển nuôi trồng vấn đề đầu tiên phải chủ động được con giống Sản xuất giống nhân tạo các đối tượng nuôi là biện pháp và là việc làm đầu tiên phải đầu tư

Đến nay, trên thế giới chỉ có Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan đã chủ động sản xuất giống nhân tạo được trên 10 loài cá biển Các nước Đông Nam Á

và nhiều nước ở các khu vực khác chỉ mới thành công trên 1-5 loài Cùng với kết quả của đề tài, đến nay Việt Nam đã có thể chủ động sản xuất giống được trên 8 loài cá biển Như vậy, Việt Nam trở thành một trong những nước chủ động sản xuất giống nhân tạo được nhiều loài cá biển so với các nước trong khu vực Nghiên cứu thành công một đối tượng cá biển sẽ đóng góp vào sự hiểu biết chung của nhân loại về biển, tạo điều kiện cho các nước khác tham khảo

Trang 14

- Tất cả các nước có biển đều mong muốn và có chiến lược đầu tư nghiên cứu chủ động sản xuất giống nhiều loài cá biển Chiến lược đó không những nhằm phục vụ nuôi đa loài mà còn có tác dụng trong việc bảo tồn và phát triển nguồn lợi những loài cá có giá trị kinh tế cao ngoài tự nhiên Hàng năm, Nhật Bản đã thả ra vùng biển của họ hàng trăm triệu con giống từ các trại sản xuất giống nhân tạo Nhờ đó, nguồn lợi ven bờ của Nhật Bản không những không suy giảm mà so với năm 1960 có những loài nguồn lợi tự nhiên đã tăng lên đến 5% Bởi vậy, việc triển khai đề tài là một định hướng tốt, có ý nghĩa lâu dài trong đời sống kinh tế, xã hội và bảo tồn nguồn lợi đa dạng sinh học của tự nhiên

- Chủ động CN sản xuất giống cá song Chấm Nâu, cá Giò, cá Hồng Mỹ,

cá Song Chuột, Song Vằn, Song Da báo có giá trị tham khảo khi nghiên cứu các loài cá biển tiếp theo

- Lần đầu tiên trên thế giới và ở Việt Nam đã thử nghiệm công nghệ ương

cá giống và nuôi cá thịt thương phẩm cá Song Chuột trong hệ thống lọc sinh học, sử dụng nước tuần hoàn Kết quả có giá trị tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm tạo nên những sản phẩm có giá trị kinh tế cao, an toàn vệ sinh thực phẩm và thân thiện với mối trường

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Triển khai đề tài đã là cơ hội để làm chủ công nghệ mới và công nghệ này

sẽ được nhiều cơ sở ứng dụng lâu dài Đây cũng là cơ hội để đào tạo đội ngũ cán

bộ, chuyên gia Tài sản của đề tài là vật tư, trang thiết bị và đàn cá bố mẹ sẽ tạo điều kiên cho tổ chức chủ trì tiếp tục nghiên cứu, sản xuất phục vụ đất nước và tạo ra nhiều việc làm cho xã hội Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân sẽ là nguồn nhân lực nòng cốt đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất

5.3 Ý nghĩa môi trường

Các nội dung nghiên cứu về ương cá hương lên cá giống, nuôi cá thương phẩm đều ưu tiên nghiên cứu thức ăn tổng hợp, nghiên cứu nuôi trong hệ thống tuần hoàn là những cơ sở ban đầu để hạn chế sử dụng thức ăn tươi, hạn chế nước thải và chất thải, hạn chế tác động môi trường khi sản xuất một khối lượng lớn sản phẩm

Qua 3 năm triển khai, các nội dung đã được thực hiện bao gồm:

1 Nghiên cứu kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ

Trang 15

2 Nghiên cứu thức ăn cho ấu trùng cá hương, cá giống và cá thịt thương phẩm

3 Nghiên cứu công nghệ ương nuôi ấu trùng, cá hương, cá giống

4 Nghiên cứu công nghệ nuôi thương phẩm

5 Theo dõi một số bệnh thường gặp ở 3 loài và đề xuất các biện pháp phòng trị

Trên cơ bản, các nội dung đã được triển khai nghiêm túc, hoàn thành các mục tiêu và các điều khoản của Hợp đồng đã ký Tuy nhiên, do 3 loài cá này là những đối tượng khó, thời gian nghiên cứu ngắn nên một số mục tiêu cụ thể của

đề tài chưa được giải quyết mỹ mãn, trong những năm tới cần tiếp tục nghiên cứu

Quá trình triển khai đề tài, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của

Bộ KHCN, Văn phòng các Chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước, Văn phòng Chương trình KC06, Lãnh đạo và các phòng chức năng của Viện nghiên cứu NTTS I, Viện nghiên cứu NTTS III, Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc, Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Trung Tập thể cán bộ thực hiện đề tài xin được trân trọng cám ơn

Chủ nhiệm đề tài cũng xin được cám ơn tất cả các cán bộ khoa học trực tiếp triển khai đã cố gắng hết sức mình để các nội dung của đề tài có kết quả cao nhất

Trang 16

Từ cuối những năm 90 của thế ký trước, giá trị các sản phẩm thực phẩm

từ biển đã tăng >300%, giá trị thương mại hàng năm >60 tỷ USD Riêng sản phẩm nuôi trồng thủy sản đã cung cấp >30% nhu cầu Protein cho nhân loại Ước tính đến năm 2020, chỉ riêng thị trường Hoa kỳ nhu cầu seafood cần từ 600 triệu đến 1,0 tỷ pounds [31] Như vậy, nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi trồng các sản phẩm biển đã và phải phát triển nhanh chóng

Tiêu chí của việc lựa chọn đối tượng nuôi là : Giá trị dinh dưỡng cao; dễ

thuần hóa trong điều kiện nhân tạo; có thể chủ động sản xuất được giống nhân tạo; có thể sản xuất được một lượng lớn sản phẩm và có nhu cầu thị trường lớn

Nhiều loài giáp xác, nhuyễn thể, rong biển và cá biển là đối tượng nuôi có hiệu quả kinh tế cao Với hơn 20 năm phát triển và chủ yếu là từ những năm cuối của thế kỷ 20, thế giới đã lựa chọn khoảng hơn 20 loài cá biển đạt được những tiêu chí trên và trở thành đối tượng nuôi Trong 20 loài, ngoài một số loài có sản lượng lớn và có thương hiệu riêng biệt như cá Hồi, cá Ngừ Vây Xanh, có gần 10 loài thuộc nhóm cá Song - cá Mú (grouper), một số loài thuộc nhóm cá Hồng

(Lutjanus spp), cá Tráp (Pagrus spp)

Cá Song Chuột (Cromileptes altivelis) Song Vằn (Epinephelus

fuscoguttatus) và Song Da Báo (Plectropomus leopadus) - là những đối tượng

có giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng cao, nhu cầu thị trường lớn, phân bố rộng,

dễ thích nghi với điều kiện nhân tạo Bởi vậy, nhiều nước trên thế giới đã và đang tập trung nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi 3 loài cá trên

Hầu hết các nước châu Á đều chủ trương phát triển nuôi đa loài và cố gắng tập trung nghiên cứu để chủ động công nghệ sản xuất giống các đối tượng nuôi Tuy nhiên đến nay chỉ mới có Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan chủ động được công nghệ sản xuất giống nhân tạo trên 20 loài, Indonexia khoảng 6 loài còn các nước khác mỗi nước thành công 1-2 loài Đến năm 2009, VN đã chủ động CN sản xuất giống 7 loài cá biển (cá Song Chấm Nâu, cá Giò, cá Hồng

Trang 17

Mỹ, cá Vược, cá Vược Mõm nhọn, cá Chim Vây Vàng, cá Hồng Thác) Việc nghiên cứu xây dựng qui trình công nghệ sản xuất giống, kỹ thuật nuôi và chuẩn

bị đàn cá hậu bị cá Song Chuột, Song Vằn và Song Da Báo là cấp thiết vì đây là

3 loài cá có giá trị kinh tế cao so với các loài cá biển khác Đối với 3 loài này, thông tin về tình hình nghiên cứu công nghệ sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm 3 loài trên thế giới và trong nước có thể được tóm tắt như sau:

1.1.1.Cá song chuột (C altivelis):

Cá song chuột, tên tiếng Anh là Mouse Grouper, Tên khoa học:

Cromileptes altivelis Valencienes 1828 với 6 synonym khác (đều là Valencienes

1828).[30]

Cá Song Chuột có giá bán cao nhất so với hầu hết các loài cá biển khác bán tại thị trường Hồng kông: giá cao nhất (thời kỳ chỉ mới có cá tự nhiên (1999-2000) 110-120 USD/kg Khi Indonexia chủ động được cá giống và phát triển nuôi (2003-2004) giá cá Song Chuột tại Hồng Kông dao động từ 60-90USD Đầu năm 2010, tại thị trường Hồng Kông, giá bán dao động từ 60-70USD/kg [53] Ngoài mục đích thực phẩm, cá Song Chuột còn được làm cá cảnh do màu sắc đẹp; chậm lớn nên có thể nuôi trong bể kính; được người chơi

cá cảnh (nhất là các nước Ả rập) rất ưa thích; 60% cá giống của Indonexia xuất bán ra nước ngoài là làm cá cảnh và chủ yếu xuất đi các nước Arập Giá cá Song Chuột giai đoạn cá hương (3cm) được bán tại Indonexia từ 2,0-2,5USD/con

Cá Song Chuột phân bố chủ yếu ở các nước nhiệt đới: từ Ấn Độ tới Châu Đại Dương, từ Indonexia, Philippines, Trung Quốc, Nhật bản tới đảo Palau Trong tự nhiên, cá Song Chuột sống trong các vực nước tương đối nông, từ 2-

40 m, trong các vùng đầm phá, vịnh đảo ven bờ có đáy là những rạn đá, rạn san

hô có nước biển trong sạch, điều kiện môi trường ít biến động

Được sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), năm 1999 lần đầu tiên Indonexia cho sinh sản nhân tạo cá Song Chuột thành công Từ đó, Indonexia luôn là nước dẫn đầu về sản xuất giống và nuôi cá Song Chuột Năm 2002, Indonexia đã sản xuất 617.800 con [39] Tỷ lệ sống 0,1-0,2%o Từ năm 2002, Indonexia được sự hỗ trợ của JICA Nhật Bản và ACIAR (Ôtstrâylia) tập trung nghiên cứu cải thiện công nghệ sản xuất giống cá Song Chuột Cuối năm 2003, công nghệ sản xuất giống cá Song Chuột của Indonexia đã khá ổn định: Tỷ lệ sống dao động từ 3- 20%, có mẻ đạt tới 40% cá 40 ngày tuổi.Về lợi nhuận cá giống, Sugama và ctv (2004) thông

Trang 18

báo: ở Indonexia các trại qui mô nhỏ có vay vốn ngân hàng tính toán sản xuất giống có thể thu lãi 12% [41] Tiếp theo Indonexia là Malaixia và Austrâylia Austrâylia thành công năm 2005, sản xuất được 100.000 con cá giống Thái Lan cũng nghiên cứu từ năm 2005 nhưng chưa thành công [31] Tuy nhiên, ở tất cả các nước này, bệnh do VNN gây nên với cá Song Chuột bố mẹ, ấu trùng, cá giống, cá thịt… vẫn là vấn đề nan giải Tỷ lệ sống nói trên chỉ tính cho những

mẻ nuôi thành công đến cá giống Mẻ cá nào đã phát bệnh do VNN thì tử vong gần như 100% và không được tính tỷ lệ sống cho cả mùa sản xuất [43]

Về nuôi thương phẩm: Chỉ mới có công bố kết quả thí nghiệm nuôi đến

khối lượng 234g/con (chưa đạt cá thương phẩm), chưa có công trình nghiên cứu nào công bố về nuôi đến cỡ cá thương phẩm và năng suất nuôi (kg/m3 nước) Trung tâm Phát triển nghề cá Đông Nam Á và NACA xuất bản Sổ tay Kỹ thuật nuôi cá Song Chuột nhưng cũng giới thiệu sơ lược và chưa có chỉ tiêu cụ thể

Như vậy, tại thời điểm năm 2007, chỉ có Indonexia đã thành công trong sản xuất giống và nuôi cá Song Chuột Tuy nhiên, tỷ lệ sống trong sản xuất giống chưa ổn định, chưa có công bố nghiên cứu về công nghệ nuôi thương phẩm Với một số nước khác như Thái Lan, Austrâylia đã có những nghiên cứu ban đầu nhưng chưa thành công

1.1.2 Cá Song Vằn (Song Hổ, Mú Cọp) Tên tiếng Anh (Tiger Grouper),

tên khoa học : Epinephelus fuscoguttatus với 10 tên synonym (6 của Forsskal

1775 và 4 của Valencienes 1828).[30]

Cá Song Vằn có sản lượng thấp hơn cá Song Chấm Nâu (cá Song Chấm Nâu chiếm khoảng 60% thị phần, cá Song Vằn khoảng 10%) nhưng có giá bán cao hơn từ 20-30% so với cá Song Chấm Nâu Giá 1kg cá Song Vằn dao động

kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Song Vằn khó hơn, phức tạp hơn nhưng khi nuôi

cá thương phẩm, cá Song Vằn ít bị bệnh hơn, tỷ lệ sống cao hơn cá Song Chấm Nâu Giá bán cá Song Vằn cao hơn, nhu cầu thị trường cũng lớn nhưng thị phần thấp hơn so với cá song chấm nâu có thể là do công nghệ sản xuất giống nhân

Trang 19

10

tạo cá Song Vằn mới thành công ở ít nước, số lượng cá giống ít, chưa đáp ứng cho nhu cầu nuôi

Các nghiên cứu mới đây cho rằng sức sinh sản của cá Song Vằn thấp Cá

bố mẹ sau 4 tuổi mới có thể thành thục và tham gia sinh sản Lượng trứng/ lần

đẻ dao động từ 200.000-500.000 trứng tùy kích thước cá cái [22] Nhìn chung, tài liệu nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá Song Vằn ít được công bố

Năm 2004-2005 đã có những nghiên cứu sâu về giai đoạn ấu trùng và cá giống: Giai đoạn ương ấu trùng : Suwirya và ctv (2004) công bố trong giai đoạn sớm (từ lúc nở đến 20 ngày tuổi) Lipid đóng vai trò quan trọng trong cung cấp năng lượng và bảo vệ màng tế bào Sự thiếu hụt lipid do phải cung cấp nhiều cho năng lương sẽ ảnh hưởng đến màng tế bào Bởi vậy các acid béo tối quan trọng EPA và DHA cần phải được cung cấp qua con đường cường hóa luân

trùng bằng tảo đơn bào Nanochloropsis và dung dịch Selco Những ngày đầu

luân trùng siêu nhỏ là thức ăn không thể thiếu Chưa có công trình công bố những nghiên cứu về quá trình thành thục, đặc điểm đẻ trứng, sự phát triển phôi, quá trình biến thái, phát triển và sinh trưởng các giai đoạn ấu trùng và các yếu tố ảnh hưởng Năm 2004, Sudaryano và CTV công bố đã quan sát thấy cá song vằn tại đảo Komodo, Indonexia đẻ tự nhiên trong lồng, không sử dụng kích dục tố [42].Tương tự cá song chuột, cá song vằn cũng đẻ vào những ngày cuối tháng

âm lịch vào thời gian 21-23h trong ngày; các đợt đẻ diễn ra vào tháng 10,11,12,2,3,6 từ năm 2000-2003

- Đến giai đoạn cá hương cá giống : Setiadharma và ctv (2005) công bố

tỷ lệ sống của cá ương ở bể có độ sâu 30cm là tốt nhất : 74,27% và cá cũng lớn nhanh nhất (Tb 5,91cm; 4,52g) so với ương ở bể sâu 60cm( 56,6%- 5,92cm-3,91g) và 90cm (52,1%- 5,8cm- 3,81%) Mấu chốt của vấn đề là bể ương truyền thống và phổ biến có độ sâu >1,0m tạo điều kiện cho cá dễ ăn thịt lẫn nhau và gây stress do phải lẩn tránh Về khẩu phần thức ăn nhân tạo cho cá giống cá Song Vằn, Suwirya, K và ctv (2004) công bố thức ăn để cá giống sinh trưởng tốt nhất phải có hàm lượng Protein 47%, Lipid 9% Tác giả cũng kết luận rằng: khác với cá song chuột cá song vằn cần khẩu phần n3- HUFA 2,5% Giai đoạn nuôi lớn ở lồng, Laining và ctv (2004) công bố với khẩu phần ăn đạt 4,7Kcal/g hàm lượng Protein thô 51% cá song vằn có tốc độ sinh trưởng tốt nhất Sutarmat

và ctv (2004) thí nghiệm thức ăn viên khô, thức ăn ẩm và cá tươi cho thấy sau

90 ngày nuôi thức ăn viên khô cá có tỷ lệ sống cao nhất (96%), thức ăn ẩm 93,3%, thức ăn là cá tươi 90,0% Hệ số thức ăn tương ứng là 1,59- 3,5 và 5,04,

Trang 20

11

các chỉ số về tốc độ sinh trưởng/ngày, sản lượng kg/m3 không sai khác nhau nhiều Như vậy, cá Song Vằn có tốc độ sinh trưởng tương đương với cá Song Chấm Nâu nhưng tỷ lệ sống khi nuôi thành cá thương phẩm thường cao hơn Các công bố nói trên đều nuôi cá Song Vằn trong lồng trên biển, chưa có công

bố nào về nuôi cá Song Vằn trong ao đất như cá Song Chấm Nâu mặc dù chúng tôi đã quan sát thấy Đài Loan có nuôi cá Song Vằn trong ao đất

Cá Song Vằn được Đài Loan sản xuất đại trà ngay từ những năm

2001-2002 nhưng Đài Loan rất ít công bố Cùng với cá Song Chuột, Indonexia cũng

đã nghiên cứu thành công đối tượng cá Song Vằn nhưng công nghệ chưa ổn định như cá Song Chuột

1.1.3 Cá Song Da Báo

Cá song da báo, tiếng Anh gọi là : Coral trout Miền Nam Việt Nam gọi là

cá Mú Sao, miền Bắc gọi là Song Nọi Cá có màu đỏ toàn thân với các chấm xanh màu xanh cổ vịt rất đẹp trông như da báo và cũng có đặc tính biến màu tùy điều kiện môi trường Cá Song Da Báo còn có 10 synonym Tên khoa học

chính thức hiện nay là Plectropomus leopadus Lacépede 1802 [30]

Do là một loài cá có thịt trắng, thơm ngon, màu sắc đẹp nên nó là đối tượng nuôi không những làm thực phẩm mà còn làm cá cảnh Tại thị trường Hồng Kông, các đám cưới sang trọng của giới thượng lưu nhất thiết thực đơn phải có cá Song Da Báo Bởi vậy, cá Song Da Báo được các tác giả Rimmer M., Sarah Kistle và Geoffrey Muldoon (2004) chọn để nghiên cứu “ Tiêu chuẩn hóa các loại thực phẩm là cá rạn san hô sống bằng việc đánh dấu từng con cá bằng thẻ”.nhằm nâng cao giá trị của cá rạn san hô sống Thẻ chứa đầy đủ các thông tin: nơi đánh bắt, ngư cụ đánh bắt để người mua hiểu rõ lý lịch từng con

Nhiều nước đã tập trung nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo và nuôi cá Song Da Báo Năm 2002, chúng tôi đến thăm Viện nghiên cứu Goldon, Viện lớn nhất nghiên cứu về sản xuất giống cá biển của Indonexia (được Nhật Bản tài trợ tài chính và Kỹ thuật từ năm 1997), các cán bộ khoa học của Viện đã giới thiệu đàn cá bố mẹ 100 con, độ tuổi 4-5 tuổi, khối lượng 3-5kg/con Đàn cá này đã được cho sinh sản nhân tạo nhưng chưa thành công Đến tháng 06/2004 Sih Yang Sim công bố lần đầu tiên Indonexia cho sinh sản nhân tạo thành công [39] : cá đẻ vào tháng 01/2004 và đến tháng 4/2004 thu được 100 con cá giống Cũng

tác giả này dịch từ cột “ Nông nghiệp và Khoa học” báo Thairath Newspaper

của Thái Lan thông tin: Sau 3 lần cho đẻ thành công (tháng 7, tháng 8/2003)

Trang 21

12

nhưng ấu trùng chỉ sống đến ngày thứ 6, lần thứ 4 (tháng 10/2003) Thái lan đã lần đầu tiên thành công, ương được 49 con cá giống 100 ngày tuổi dài 6cm, khối lượng 3,5g

Năm 2005, Hidayat Adi và ctv [8] công bố: Trung tâm Phát triển nuôi biển Quốc gia của Indonexia cho đẻ thành công cá Song Da Báo lần đầu tiên từ năm 1995 nhưng cá chỉ sống được đến ngày thứ 24 Các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá Song Da Báo được làm liên tục hơn 10 năm (1995-2005) và đến nay

2005 họ mới thành công Ấu trùng được ương trong bể 10m3 mật độ 10 con/l Sau 60 ngày, cá đạt chiều dài 3,2cm, tỷ lệ sống 0,3% Từ 3,2cm cá được ương trong bể 3m3 cho đến chiều dài 13-18cm, khối lượng 19,8-26g Giai đoạn này cá

có tỷ lệ sống 78% Thức ăn cho giai đoạn đầu là luân trùng B Plicatilis có kích

thước <70micron ? (ngày thứ 3-8), sau đó 100 micron(ngày thứ 19-26), tiếp đó

là Artemia và thức ăn viên Những thông tin trên cho thấy, công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá song da báo đang là vấn đề nan giải, Một số thành công ít ỏi trong thí nghiệm, sau đó vẫn chưa phát triển thêm, cần có những công trình nghiên cứu tiếp

Về nuôi thương phẩm: Chưa tìm được tài liệu công bố về nuôi thương phẩm cá Song Da Báo

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI ĐỀ TÀI PHẢI NGHIÊN CỨU GIẢI QUYẾT

Theo Rimmer 2004, các nước Châu Á chiếm hơn 90% sản lượng cá biển nuôi của thế giới Với VN, trước năm 2000, chúng ta chỉ mới thành công bước

đầu 1 loài (cá giò (Rachycentron canadum- Viện nghiên cứu Hải sản) thì đến năm 2010 chúng ta đã thành công thêm 4 loài : cá Vược (Lates calcarifer), cá Vược Mõm nhọn (Psamoperca weigensis), cá Song Chấm Nâu (Epinephelus

coioides) và cá Hồng Mỹ (Scyaenop ocellatus) Tại thời điểm 2007 nếu đánh giá

Về trình độ của công nghệ sản xuất giống của 5 loài nói trên, Việt Nam ở mức

trung bình so với các nước Đông Nam Á Về số lượng loài, Việt Nam đứng sau Nhật bản, Trung Quốc, Đài Loan và Indonexia Tuy nhiên sản lượng cá biển

nuôi của VN còn thấp do nghề nuôi cá biển và nguồn giống nhân tạo của VN

mới thực sự phát triển 2-3 năm gần đây và chưa được đầu tư đúng mức

Sản xuất giống và nuôi cá biển là công nghệ phức tạp, nhiều rủi ro, đòi hởi đầu tư thời gian và kinh phí lớn Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu phát triển chung của đất nước và cạnh tranh với các nước trong khu vực, việc triển khai

Trang 22

13

nghiên cứu 3 loài cá Song Chuột, Song Vằn và Song Da Báo là cần thiết Để có thể đạt được mục tiêu đề ra các vấn đề cần giải quyết là:

Cá bố mẹ : Đây là khâu then chốt đầu tiên Do cá bố mẹ có kích thước

lớn, không vận chuyển được nên khó có thể nhập từ nước ngoài Có thể thu thập một vài con từ tự nhiên nhưng khó có thể thuần hóa hoặc có cá đực cá cái đồng nhất Mục tiêu > 20.000 con cá giống mỗi loài và 50-200 con cá bố mẹ hậu bị đòi hỏi phải có đàn bố mẹ mỗi loài hàng trăm con

Chúng ta chưa nắm được đặc điểm sinh sản, sức sinh sản, quá trình phát

triển tuyến sinh dục,… của cả 3 loài nói trên, tài liệu tham khảo rất hạn chế, tính

rủi ro không nhỏ Do vậy để giải quyết được khó khăn này trước hết phải tiến

hành nội dung nghiên cứu cá bố mẹ gồm: nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh

sản; kỹ thuật nuôi vỗ; kỹ thuật chuyển đổi giới tính (sử dụng hoocmon và không

sử dụng hoocmon); ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, dinh dưỡng; bệnh của

cá bố mẹ của mỗi loài…

Thức ăn : Đây là khâu then chốt thứ 2 Khi mới nở chưa rõ luân trùng

siêu nhỏ đã thực sự hợp cỡ với miệng của ấu trùng Tiếp đó là luân trùng cỡ trung bình và lớn (6-20) có khối lượng 0,405 µg Khó khăn hiện nay của công

nghệ này ở chỗ chưa cung cấp đủ số lượng và chất lượng luân trùng các cỡ, đặc biệt là luân trùng siêu nhỏ dòng SS đúng thời điểm cho ấu trùng Loài luân trùng này không có phân bố tự nhiên ở Việt Nam mà được nhập từ nước ngoài từ năm

2000 nên: Về số lượng : Khi nghiên cứu cho đẻ 1 loài, có thể sản xuất được 1-2

tỷ con/ngày để đủ cung cấp cho ấu trùng cá Nhưng khi đồng thời nghiên cứu 3 loài, có mùa đẻ trứng trùng nhau thì giải quyết đủ lượng luân trùng SS phải được

đưa lên hàng đầu Việc lưu giữ giống luân trùng từ năm 2000 bằng phương pháp

sinh sản vô tính có thể dẫn đến thoái hóa về chất lượng, tăng trưởng quần đàn kém Trước đây (khoảng năm 1981-1982) chúng ta đã nghiên cứu sản xuất luân

trùng cỡ lớn (B plicatilic) bằng cả 2 phương pháp cho sinh sản vô tính và hữu

tính nhưng công trình chưa được hoàn thiện, việc tạo trứng sau đó cho nở để sinh sản hữu tính không hiệu quả Với dòng luân trùng siêu nhỏ nhập ngoại, chúng ta mới lưu giữ bằng sinh sản vô tính Bởi vậy, ngoài việc ứng dụng công nghệ đã có cần nghiên cứu công nghệ lưu giữ cả 2 dòng luân trùng bằng trứng nghỉ thông qua sinh sản hữu tính; nghiên cứu công nghệ nuôi sinh khối đạt mật

độ >1000 cá thể/ml; công nghệ gây nuôi luân trùng trong ao ngoài trời

Về tảo: Tuy chúng ta đã có công nghệ lưu giữ và nuôi sinh khối 2 loài tảo đơn bào tối quan trọng trong sản xuất giống cá biển (N oculata và I galbana)

Trang 23

14

đã đuợc xây dựng nhưng so với thành tựu hiện nay của nhiều nước trên thế giới (nhất là các nước Châu Âu: Tây ban Nha, Đan Mạch, Nauy ) mật độ tế bào/ml dẫn đến năng suất nuôi của chúng ta còn rất thấp Phương pháp lưu giữ giống chưa chuẩn dẫn đến tảo bị tạp, các loài khác lấn át Trình độ công nghệ nuôi sinh khối còn thấp Hiện nay, ngay Viện nghiên cứu NTTS I là cơ sở nuôi đạt mật độ

cao nhưng cũng chỉ mới đạt 26, 20 triệu TB/ml (với I galbana) và 58,32 triệu tb/ml (với N oculata) Trong khi đó ở Tây Ban Nha và một số nước khác con số

là hàng trăm triệu tb/ml Cần được tiếp tục nghiên cứu để nâng mật độ tảo đủ cung cấp cho nuôi luân trùng, bổ sung vào bể ương ấu trùng cá và tiết kiệm kinh phí Hơn nữa, trong nuôi sinh khối tảo nếu điều kiện nuôi tốt thu được mật độ cao đồng nghĩa với chất lượng tảo tốt Chất lượng tảo xấu không thể nuôi được mật độ cao và ngược lại Do vậy, cần nghiên cứu nâng cao, ứng dụng công nghệ tiên tiến của thế giới để từng bước hiện đại hóa công nghệ sản xuất thức ăn tươi sống đảm bảo chủ động về số lượng chất lượng

Uơng nuôi ấu trùng Cá Song Vằn, Song Chuột, Song Da Báo đều là

những loài cá rạn san hô, cá và ấu trùng đều sống trong điều kiên môi trường hoàn toàn trong sạch, ổn định Công nghệ ương ấu trùng 3 loài này chắc chắn phức tạp và khó khăn hơn các loài khác nên mới chỉ có một số rất ít nước thành công trên qui mô thí nghiệm và tỷ lệ sống cũng rất thấp Do vậy, đề tài cần được triển khai trên nhiều hướng, nhiều mô hình và phương thức ương để hạn chế rủi

ro, hạ giá thành; đơn giản bớt các khâu công nghệ để giảm suất đầu tư cho các

trại giống nhằm nhanh chóng ứng dụng công nghệ ra sản xuất

Trừ cá Song Chuột ở Indonexia, tỷ lệ sống của ấu trùng cá Song Vằn khi ương cá hương lên cá giống trong bể dung tích nhỏ đặt trong nhà rất thấp: 0,3-1% Cá Song Da Báo gần như chưa thành công Chưa có công bố nào về đặc điểm sinh học, đặc điểm dinh dưỡng, loại và cỡ mồi, tập tính bắt mồi, thời gian dinh dưỡng bằng noãn hoàng của ấu trùng mỗi loài

Nuôi thương phẩm: Để công nghệ được ổn định, đề tài cần tiến hành các

nghiên cứu sử dụng thức ăn tổng hợp Phải triển khai ngay việc ứng dụng, nghiên cứu một số loại thức ăn cho cá hương, cá giống, cá thịt thương phẩm Bước đầu đưa ra được công thức thức ăn cho ít nhất là cá Song Chuột và cá Song Vằn

Bệnh và phòng trị bệnh Bất cứ loài cá nào khi đưa vào nuôi đều phát

sinh bệnh Hiện nay, chưa có thuốc đặc trị cho các bệnh cá biển trừ một số biện pháp phòng và trị đơn giản như tắm kháng sinh, tắm nước ngọt… Các bệnh do

Trang 24

15

vi khuẩn, virus đã tìm ra tác nhân gây bệnh, đưa ra được một số biện pháp phòng bệnh nhưng chưa có biện pháp phòng trị triệt để Trước hết, đề tài cần kiểm soát chặt chẽ đàn cá bố mẹ, đề phòng lây lan bệnh từ loài này sang loài khác, đưa ra được các biện pháp phòng trị bệnh cho cá thương phẩm của 3 loài nuôi ở bè

1.3 CÁC THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI TRONG THỜI GIAN TRIỂN KHAI ĐỀ TÀI VÀ HIỆN NAY

1.3.1 Cá Song Chuột

Đến năm 2010, công nghệ sản xuất giống cá Song Chuột ở Indonexia đã tương đối ổn định Hiện nay, Indonexia có 125 trại sản xuất cá giống ở các qui mô khác nhau và tập trung chủ yếu tại đảo du lịch Ba li, Lampung và Đông Java Cá giống được xuất khẩu đi nhiều nước và vùng lãnh thổ: Trung Quốc, Singapo, Úc, Malaixia, Thái Lan, Việt Nam, Đài Loan, các Tiểu vương quốc Ả Rập, Hoa Kỳ Về nuôi thương phẩm: với nguồn giống gần 100% là giống nhân tạo, nuôi chủ yếu bằng lồng ở ven các đảo, mật độ thả 12-15con/m3, thời gian nuôi 18-20 tháng, cỡ cá thu hoạch 0,4-0,6kg/con, tỷ lệ sống đạt 60-80%, năng suất nuôi 6-7kg/m3, giá bán tại lồng 45-48USD/kg [53]

1.3.2 Cá Song Vằn

Sau các nghiên cứu được cập nhật từ năm 2007 đến nay trừ có một công

bố của Rachmansyah và ctv (2009) về thức ăn cho cá Song Vằn, chưa có công

bố nào mới về những kết quả tiến bộ trong sản xuất giống và nuôi cá Song Vằn

1.3.3 Cá Song Da Báo

Đến năm 2010, vẫn chưa có công bố mới về những tiến bộ về sản xuất giống và nuôi cá Song Da Báo so với những công bố từ năm 2006 Kongkeo, H, (2010) vẫn xác định nguồn cá giống tự nhiên vẫn là chủ yếu cho các cơ sở nuôi thương phẩm Bằng quan hệ cá nhân, chúng tôi đã liên lạc bằng thư điện tử với một số nhà khoa học về giống thủy sản ở Indonexia, Úc nhưng họ vẫn đang tiếp tục nghiên cứu và chưa có công bố về thành công mới (Richard.knuckey@dpi.qld.gov.au; www dpi gld gov.au)

Trang 25

16

CHƯƠNG 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ NUÔI VỖ CÁ

BỐ MẸ

Trong nghiên cứu sản xuất nhân tạo giống cá biển, cá bố mẹ là yếu tố quan trọng đầu tiên và cũng là vấn đề khó khăn, phải đầu tư lớn trong một thời gian dài Hầu hết các loài cá biển là đối tượng nuôi thành thục sinh dục ở tuổi 4-

5+, việc thu thập cá bố mẹ thành thục sinh dục ở tự nhiên là vấn đề không thể Bởi vậy, cá bố mẹ phải được thu thập, tuyển chọn, chuẩn bị trước 4- 5 năm

Cá bố mẹ mỗi loài có đặc điểm sinh học sinh sản khác nhau Số lượng, chất lượng đàn cá bố mẹ là yếu tố ban đầu quyết định số lượng và chất lượng đàn con Số lượng, chất lượng đàn bố mẹ lại tuỳ thuộc vào kỹ thuật nuôi vỗ thích hợp cho mỗi loài

2.1.1 CÁCH TIẾP CẬN

Nguồn cá bố mẹ

Đề tài bắt đầu được triển khai cuối năm 2007 Cá bố mẹ cá Song Chuột và

cá Song Vằn được tuyển chọn từ sản phẩm của đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu đặc

điểm sinh học, kỹ thuật nuôi thương phẩm 5 loài cá biển có giá trị kinh tế cao”

Cá Song Da Báo bố mẹ được Viện nghiên cứu NTTS III tuyển chọn từ nhiệm vụ thường xuyên “Lưu giữ quĩ gen nước mặn”

Tổng số cá bố mẹ hậu bị cá Song Chuột được tuyển chọn 250 con, thời điểm này cá ở tuổi 3+, khối lượng trung bình >520 g Tuyến sinh dục đã phát triển đến giai đoạn II,III và chủ yếu là giai đoạn III

Cá Song Vằn cũng được tuyển chọn 250 con (100 con từ nguồn cá giống nhập từ Đài Loan và 150 con từ Indonexia) Cuối năm 2007, cá ở tuổi 3+, khối lượng trung bình 2,8 kg, một số cá thể đầu đàn đạt > 4,0 kg

Cá Song Da Báo được Viện NCNTTS III thu thập ở vùng biển Khánh Hòa Khối lượng từ 0,5-5,0 kg/cá thể Cá được lưu giữ trong lồng bè trên biển và nuôi phát dục trong điều kiện bể xi măng

Trang 26

17

Việc xác định tuổi cá Song Da Báo được tiến hành bằng việc xác định các

vòng sinh trưởng biểu hiện trên vảy Thời điểm này Viện III tuyển chọn được 40

con, khối lượng trung bình 2,5kg/con, đã bắt đầu tham gia sinh sản

Tất cả 3 đàn cá bố mẹ hậu bị đều chủ yếu là cá cái Do vậy, các nghiên cứu về sinh học sinh sản được ưu tiên triển khai Sau đó là những nghiên cứu chuyển đổi giới tính để có đàn cá được tham gia sinh sản đáp ứng tỷ lệ đực cái xấp xỉ 1/1 và tiếp đó là nghiên cứu kỹ thuật nuôi vỗ, cho đẻ

Nuôi vỗ, chuyển đổi giới tính

Ứng dụng công nghệ nuôi vỗ cá bố mẹ, chuyển đổi giới tính bằng việc sử dụng 17α Methyltestosteron trong qui trình công nghệ sản xuất giống cá Song Chấm Nâu để triển khai cho cả 3 loài Tuỳ kết quả cụ thể để điều chỉnh chủng loại, liều lượng nguyên vật liệu cho phù hợp

Phòng trị bệnh

Ứng dụng qui trình phòng trị bệnh cho cá Song Chấm Nâu và một số loài

cá biển đã nghiên cứu để phòng và trị bệnh cho 3 loài cá nghiên cứu

2.1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản

Cá Song Chuột, Song Vằn, Song Da Báo đều là cá rạn san hô thuộc bộ cá

Vược (Perciformes) và là những loài cá nhiệt đới nên có đặc điểm chung là sinh

sản quanh năm Tuy nhiên, thời gian sinh sản chính khác nhau ở mỗi loài và ngay trong cùng một loài cũng có thể có mùa sinh sản khác nhau tùy đặc điểm khí hậu thời tiết của vùng địa lý chúng đang sống Để có thể sinh sản nhân tạo, cần thiết phải nghiên cứu sâu đặc điểm sinh sản của từng loài, nghiên cứu các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục, từ đó đưa ra những tác động tích cực đúng thời điểm Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của 3 loài được áp dụng tương tự nhau: bao gồm nghiên cứu hình thái ngoài của tuyến sinh dục, cấu trúc mô học, đặc điểm đẻ trứng và nhu cầu sinh thái cần thiết cho quá trình sinh sản

a/ Phương pháp nghiên cứu mô học tuyến sinh dục

Mẫu tuyến sinh dục được thu định kỳ từ tháng 2/1009 đến tháng 8/2009

Số lượng mẫu thu 5con/lần/ tháng với cá Song Chuột, 3con/lần/tháng với cá

Trang 27

18

Song Vằn và 2con/lần/tháng với cá Song Da Báo Tiêu bản tuyến sinh dục thu được ở các tháng được cố định và cắt lát với lát cắt mỏng 5 µm – 7 µm

Phân tích tổ chức mô học tuyến sinh dục thông qua cắt lát tế bào; áp dụng

06 thang bậc của Sakun và Buskaia (1978) [31] để phân tích giới tính, mức độ thành thục

b/ Nghiên cứu hình thái ngoài tuyến sinh dục

Đặt cá nằm ngửa, dùng dao và kéo giải phẫu bụng cá thẳng từ lỗ hậu môn lên đến hết phần dưới miệng sau đó tìm tuyến sinh dục quan sát hình thái, màu sắc và đo kích thước buồng trứng Trong khi mổ cố gắng không gây tổn thương ruột Quá trình thực hiện được ghi chép và chụp ảnh để mô tả (Hình 1 PL)

Sau khi giải phẫu, các chỉ tiêu sau được xác đinh:

Wo: Khối lượng cá bỏ nội quan (gr)

Wtsd: Khối lượng tuyến sinh dục (gr)

c/ Xác định sức sinh sản tuyệt đối, tương đối

- Xác định sức sinh sản tuyệt đối: (chỉ xác định những cá thể có buồng trứng thành thục chuẩn bị tham gia đẻ trứng )

Wtsd

Fa = N * _

P

Trong đó: Fa : Sức sinh sản tuyệt đối (trứng)

Wtsd: Khối lượng tuyến sinh dục (gr)

P : Khối lượng mẫu (gr)

N : Số lượng trứng trong mẫu (trứng)

Sức sinh sản thực tế (Chỉ tiến hành khi cá đẻ)

Số trứng thu được sau khi cá đẻ

Sức sinh sản thực tế =

(trứng/kg cá cái) Khối lượng cá cái đẻ

Trang 28

Trong đó: Fa : Sức sinh sản tuyệt đối (trứng)

Frg : Sức sinh sản tương đối (trứng/g)

W0 : Khối lượng cá thể cái (g)

2.1.2.2 Chuyển đổi giới tính

Các loài cá thuộc họ Serranidae, đặc biệt là họ phụ Epinephelinae có đặc

điểm chung là biến tính cái-đực Khi nhỏ cho đến tuổi thứ 3-4 hầu hết là con cái, rất ít cá thể (thường khoảng <10%) tự chuyển đổi giới tính trở thành con đực Đến tuổi thứ 6-7 các con cái mới tự chuyển thành con đực Do đặc điểm này mà ngoài tự nhiên, tuy có sức sinh sản lớn nhưng tỷ lệ thụ tinh của trứng thấp nên những loài cá này thường có số lượng cá thể ít Trong sinh sản nhân tạo nhiều loài cá biển, vấn đề quan trọng đầu tiên cần quan tâm là tạo được số lượng

cá đực tương đương với số lượng cá cái 17α Methyl Testosterone (17α-MT) được lựa chọn như là một hooc môn hiệu quả nhất cho việc kích thích chuyển đổi giới tính cho nhiều loài cá biển và cá nước ngọt Lê Xân (2005) đã sử dụng

17α-MT để chuyển đổi giới tính cá Song Chấm Nâu (E coioides) ở tuổi 4+ (là loài cá 7 tuổi mới tự chuyển đổi sang cá đực) 17α-MT được đưa vào cơ thể cá bằng 2 hình thức: tiêm trực tiếp hoặc đưa vào thức ăn cho cá ăn Kết quả 80- 90% cá Song Chấm Nâu được bổ sung 17α-MT đã chuyển đổi giới tính mà không ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng, trứng thụ tinh và ấu trùng, cá hương

cá giống của thế hệ sau Bổ sung 17α-MT được bắt đầu tối thiểu 3-4 tháng trước

vụ cá đẻ khi tuyến sinh dục mới bắt đầu giai đoạn II, III

a/ Chuyển đổi giới tính cá Song Chuột

• Chuyển giới tính tự nhiên (không sử dụng hoocmon ) Số lượng: 55 con

• Chuyển giới tính có sử dụng 17α Methyl Testosterone (17α-MT) Sử dụng kết hợp đồng thời 02 phương thức cho ăn và tiêm cơ để đưa 17α-MT vào

cơ thể cá cần chuyển giới tính Số lượng 55 con

Trang 29

20

Bảng 2.1 Liều lượng và tần suất sử dụng hoocmon 17α-MT kích thích

chuyển giới tính cho cá Song Chuột

Cho ăn Tiêm Liều lượng Tần suất Liều lượng Tần suất

Thời gian

mg/kg Ngày/lần mg/kg Ngày/lần

b/ Chuyển đổi giới tính cá Song Vằn

• Chuyển giới tính tự nhiên (không sử dụng hoocmon ) Số lượng : 60 con

• Chuyển giới tính có sử dụng 17α Methyl Testosterone (17α-MT) Tương

tự cá Song Chuột cũng sử dụng kết hợp 02 phương thức cho ăn và tiêm

cơ để đưa 17α-MT vào cơ thể cá Song Vằn cần chuyển giới tính Số lượng 60

con

Bảng 2.2 Liều lượng và tần suất sử dụng hoocmon 17α-MT kích thích

chuyển giới tính cho cá Song Vằn

Cho ăn Tiêm Liều lượng Tần suất Liều lượng Tần suất

Thời gian

mg/kg Ngày/lần mg/kg Ngày/lần Tháng 1 – tháng 3 3,5 5 1,0 20*

* Từ tháng 1 - tháng 3 đưa 17α-MT vào cơ thể cá bằng phương pháp tiêm

kết hợp cho ăn

* Từ tháng 4 đến tháng 7 chỉ bổ sung 17α-MT bằng cho ăn

c/ Chuyển đổi giới tính cá Song Da Báo

Sử dụng dụng cụ cấy chuyên dùng bằng đồng 2 lớp ruột đưa ống nhựa

chuyên dùng có chứa 17α –MT vào cơ thể cá được tuyển chọn ở vị trí bề lưng

(Hình 28 PL)

Mỗi cá thể cá Song Da Báo được đánh dấu bằng chíp điện tử để dễ xác

định, số lượng cá thí nghiệm 24 cá thể được chia làm 2 nhóm :

- Nhóm 1: nhóm đối chứng (ĐC): 8 cá thể

Trang 30

21

- Nhóm 2: nhóm sử dụng kích thích tố 17α –MT:16 cá thể; lượng sử dụng

1000 µg/kg khối lượng cơ thể (BW)

2.1.2.3 Nuôi vỗ thành thục

a/ Địa điểm và hình thức nuôi

Cá Song Chuột và cá Song Vằn được nuôi tại bè cá của Trung Tâm Quốc Gia Giống Hải Sản Miền Bắc – Cát Bà - Hải Phòng Cá Song Da Báo được nuôi tại Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Trung, Nha Trang, Khánh Hòa; Từ năm 2008, Trung tâm QGGHS miền Bắc nuôi bổ sung thêm 50 con

Cá bố mẹ tại Cát Bà được nuôi trong lồng lưới cỡ 3 x3 x3m và 3 x 6 x

3m đặt tại nơi có độ sâu >6m khi thủy triều thấp nhất Tại Nha Trang, cá Song

Da Báo bố mẹ được nuôi trong bể xi măng dung tích 40m3 độ sâu 2,0m

b/ Cho ăn, chăm sóc quản lý

Cá bố mẹ của 3 loài đều được nuôi vỗ bằng cá tươi chất lượng cao như cá Nhâm, cá Nục, Mực Khẩu phần ăn: 3% - 5% khối lượng thân/ngày tùy theo tình trạng sức khỏe, thời tiết để đáp ứng thỏa mãn nhu cầu thức ăn Ngoài ra, định kỳ có bổ sung thêm các loại vitamin, khoáng chất Liều lượng bổ sung khác nhau giữa các đàn bố mẹ và các khoảng thời gian nuôi vỗ (Bảng 2.3; 2.4)

Bảng 2.3 Liều lượng VTM bổ sung cho đàn cá chuyển đực bằng 17 α-MT

A B1 C E TH D Omega KhoángThời gian

T1 – T3 2000 5 20 100 30 200 0 11 T4 – T6 (song Chuột)

T4-T7( Vằn, Da Báo) 3000 10 30 200 40 250 400 15

Trang 31

đo kích thước và xác định mức độ thành thục và thời gian chuyển cá lên bể đẻ

Cá đã tuyển chọn được chuyển lên trại giống bằng tàu có văng thông thủy đưa lên bể đẻ bằng băng ca chuyên dùng cho mỗi loài Tỷ lệ cá đực/cá cái: 8/10 hoặc 10/10 Mật độ cá bố mẹ đưa vào bể đẻ luôn luôn < 2con/m3 nước

Cho đẻ tự nhiên:

Định kỳ vệ sinh bể vào buổi sáng và thay nước 1 lần vào khoảng 9h sáng, tạo vòng xoáy sao cho lượng nước trong bể luôn ngập 2/3 cơ thể cá, duy trì trong 30 phút để kích thích cá sinh sản, sau đó cấp nước đầy bể và cho chảy tràn nhẹ đảm bảo thay 200 – 300% nước và cho nước chảy liên tục với tốc độ 20m3/h, sự thay đổi nước mới và nhiệt độ nước, kết hợp dòng chảy sẽ kích thích

cá đẻ trứng và phóng tinh

Cho đẻ nhân tạo:

Cá được đưa lên bể, sau khi cá trở lại ăn bình thường ta tiến hành bắt cá

để tiêm kích dục tố HCG + LRHA3 với liều lượng thuốc tiêm như sau:

- Đối với cá đực: 0,5 mg HCG + 500 IU LRHA3 / 1kg cá đực

- Đối với cá cái: 1 mg HCG + 1000 IU LRHA3 / 1kg cá cái

Trang 32

23

b/ Phương pháp ấp nở

Ngay sau khi thụ tinh, trứng cá biển hình thành màng trương nước và bắt đầu phân cắt Tỷ trọng của trứng giảm Do vậy, trứng thụ tinh sẽ nổi Trứng không thụ tinh sẽ chìm Những trứng có hình thành màng trương nước nhưng không phân cắt, phát triển không tốt thường ở trạng thái lơ lửng, chất lượng không tốt Bởi vậy, chỉ nên lựa chọn các trứng nổi để ương Xác định tỷ lệ thụ tinh qua lượng trứng nổi

Các loài cá Song thường đẻ trước 10h đêm Bể đẻ được thiết kế có ga thu trứng nên duy trì nước chảy tràn với lưu lượng thích hợp, trứng sẽ trôi ra ga thu trứng Tuy nhiên để có thể thu hết trứng thụ tinh, ngay sáng sớm hôm sau có thể tắt khí, dùng vợt mềm vớt nhẹ Các thí nghiệm cho cá đẻ ở bè ngoài biển phải

sử dụng phương pháp vớt trứng bằng vợt mềm

Trứng sau khi thu được xác định tỷ lệ thu tinh và chất lượng trứng Sau

đó, trứng có chất lượng tốt được xử lý bằng iodin 15 ppm trong 15 phút rồi rửa bằng nước biển đã qua xử lý để tránh nhiễm khuẩn trước khi chuyển vào bể ấp

Bể ấp đều có hình trụ, dung tích 300; 400 lít; hay 1000lít tuỳ lượng trứng Mật độ trứng ấp khoảng 500-700 trứng/l Bể được sục khí nhẹ và có hệ thống nước chảy tràn đảm bảo thay được tối thiểu 200% nước/ trong suốt thời gian ấp (khoảng 24h)

Sau khi trứng nở, xác định tỷ lệ nở theo phương pháp thông dụng

-Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý trên phần mềm Microsoff Excel và

Ấu trùng cá biển (còn gọi là cá bột) là giai đoạn bắt đầu từ cá mới nở đến khi chúng trải qua hết các giai đoạn biến thái, phát triển trở thành cá hương Sau khi nở, ấu trùng dinh dưỡng bằng noãn hoàng Tuỳ thuộc từng loài mà có thời gian dinh dưỡng bằng noãn hoàng từ 2-4 ngày Hết thời kỳ dinh dưỡng bằng

Trang 33

24

noãn hoàng ấu trùng cá bắt đầu ăn thức ăn ngoài Đây là giai đoạn quan trọng

đầu tiên mà người nuôi phải lưu ý để cung cấp thức ăn đúng thời điểm và đặc biệt là phù hợp về cỡ thức ăn, loại thức ăn Thời gian biến thái phát triển dài

hay ngắn tuỳ loài và mỗi giai đoạn biến thái nhỏ chúng cần có một số loại thức

ăn khác nhau Trong tự nhiên, ấu trùng giai đoạn này thường ăn sinh vật phù du

mà chủ yếu là động vật phù du Các nghiên cứu về cá Song Chấm Nâu, cá Giò

và một số loài cá biển nói chung đều cho thấy: giai đoạn này thức ăn thích hợp nhất là luân trùng (Rotifer), tiếp đó là ấu trùng Nauplius của Artemia, một số loài là ấu trùng của Copepoda hoặc Copepoda trưởng thành Kết thúc quá trình biến thái, ấu trùng (cá bột) chuyển thành cá hương có cơ thể hoàn toàn giống với

cá trưởng thành

Ở giai đoạn cá hương, cá vẫn tiếp tục ăn sinh vật phù du có kích thước lớn hơn Nếu được luyện, cá có thể ăn thức ăn tổng hợp Tuỳ loài, tuỳ khả năng thích nghi với môi trường nuôi lớn (growing) mà người ta kết thúc giai đoạn cá hương, chuyển sang gọi là cá giống khác nhau Cá Song Chấm Nâu, cá hết biến thái (cá hương) có kích thước từ 2,0 đến 4,0cm Trên 4,0cm là cá giống đã có thể đưa ra nuôi lớn Cá hương cá Giò có chiều dài từ 4-8cm, >8cm là cá giống

Cá giống ăn thức ăn đặc trưng của loài chủ yếu là cá nhỏ, giáp xác, nhuyễn thể

Cá hương, cá giống có thể ăn thức ăn tổng hợp nếu được làm quen

Để nắm được đặc điểm thức ăn, chế độ ăn của mỗi giai đoạn của 3 loài cá Song Chuột, Song Vằn, Song Da Báo, các nghiên cứu về: đặc điểm dinh dưỡng, thức ăn cho cá bột, cá hương, cá giống được triển khai

Các loài tảo đơn bào như Nannochloropsis ocullata, Isochrysis galbana

là thức ăn quan trọng của luân trùng và copepoda Đáp ứng đủ số lượng, đảm bảo chất lượng các loài tảo này sẽ đáp ứng được số lượng và chất lượng Luân trùng, Copepoda cho ương nuôi cá bột, cá hương

Cách tiếp cận: Các đề tài nghiên cứu về cá Song Chấm Nâu, cá Giò, cá

Hồng Mỹ đã nghiên cứu kỹ thuật lưu giữ giống và nuôi sinh khối của các loài tảo đơn bào là thức ăn thích hợp và phổ biến cho Luân trùng, Copepoda Để nâng một bước về trình độ công nghệ, tính ổn định của công nghệ, luôn đảm bảo đáp ứng về chất lượng và số lượng của luân trùng, nội dung nghiên cứu thứ 2 của đề tài sẽ áp dụng qui trình công nghệ nuôi đã được nghiên cứu từ các đề tài trước và tập trung nghiên cứu: các phương pháp lưu giữ và nuôi sinh khối tăng

Trang 34

25

tốc tảo đơn bào đạt chất lượng cao; lưu giữ và nuôi sinh khối 2 dòng luân trùng

B plicatilis và B rotundiformis đạt chất lượng cao

Với mục đi đích từng bước thay thế thức ăn tươi bằng thức ăn tổng hợp cho các giai đoạn ương nuôi sử dụng các loại thức ăn hiện có trên thị trường và thông qua các mối quan hệ nhập khẩu thức ăn cho cá hương nhất là thời gian đầu vừa hết biến thái

2.2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LƯU GIỮ VÀ NUÔI SINH KHỐI TẢO ĐƠN BÀO VÀ LUÂN TRÙNG

2.2.1.1 Đối tượng nuôi

a/ Tảo

Hiện tại, Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc, Viện nghiên cứu NTTS I đang lưu giữ 12 giống tảo đơn bào thuộc một số ngành tảo Đề tài tập trung nghiên cứu các đối tượng đang được sử dụng nhiều trong ương giống hải sản đặc biệt là sử dụng cho nuôi sinh khối luân trùng:(Hình 29PL)

Nannochloropsis oculata ( N oculata)

Tetraselmis chuii (T chuii)

Isochrysis galbana (I galbana)

Chroomonas salina (C salina)

Chaetoceros muelleri (C muelleri)

b/ Luân trùng

Đối tượng nghiên cứu là 2 dòng luân trùng: dòng luân trùng cỡ lớn bản

địa (B plicatilis) và dòng luân trùng siêu nhỏ (B rotundiformis) nhập từ

Indonexia năm 2006

2.2.1.2 Phương pháp lưu giữ giống và nuôi sinh khối tảo và luân trùng

a/ Lưu giữ giống tảo

Các phương pháp lưu giữ đã được thực hiện gồm lưu giữ trên môi trường thạch, lưu giữ trên môi trường lỏng ở nhiệt độ 4oC, 20oC.Tất cả thao tác được tiến hành trong điều kiện vô trùng nhằm hạn chế khả năng lây nhiễm của các vi sinh vật: Các dụng cụ sử dụng, nguồn nước và môi trường nuôi cấy được tiệt trùng trong các tủ sấy và nồi hấp chuyên dụng Nguồn nước sử dụng cho lưu giữ

Trang 35

26

được lọc qua hệ thống lọc cát, lõi lọc 0,2µ, độ mặn 28-30‰ và được tiệt trùng ở

1250C trong 15 phút ở tủ sấy hoặc đun sôi trong 15 phút

Nguồn vi tảo được lưu giữ trong ống Pyrex 30ml, bình tam giác 250ml Các ống tảo lưu giữ được đặt trong khu vực có ánh sáng yếu (500lux)

• Lưu giữ trong môi trường lỏng ở 4 0 C (lưu giữ trong tủ bảo quản)

Nguồn tảo giống gốc được nhân nuôi trở lại Khi tảo phát triển đến pha logarit được sử dụng cho nghiên cứu lưu giữ Tảo được giữ ở mật độ thấp trong các ống Pyrex và được cho hạ nhiệt trước khi đưa vào tủ bảo quản Sử dụng 25 ống Pyrex cho mỗi giống tảo nghiên cứu Mỗi tháng lấy hai ống đưa ra nhân nuôi trở lại Kiểm tra hình dạng, mầu sắc tế bào tảo, khả năng phát triển khi đựợc nhân nuôi trở lại để kết luận hiệu quả của phương pháp lưu giữ đối với mỗi loài tảo

• Lưu giữ trong môi trường lỏng ở 20 0 (trong phòng điều hòa nhiệt độ)

Thao tác tương tự như lưu giữ ở 40C Các ống tảo lưu giữ được để ở

200C, ánh sáng yếu Mỗi giống tảo đựoc lưu giữ trong 25 ống Pyrex Mỗi tháng kiểm tra 03 ống về hình dạng, mầu sắc tế bào tảo và kết hợp nhân nuôi trở lại để kết luận hiệu quả của phương pháp

• Lưu giữ trên môi trường thạch

Chuẩn bị môi trường thạch cho nghiên cứu: Các đĩa lồng (đĩa Peptri) được rửa sạch và tiệt trùng ở 1250 C trong 15 phút Agar sử dụng là marine agar (tối ưu) hoặc agar dinh dưỡng Cân 10g agar hòa vào nguồn nước biển đã chuẩn bi,

bổ sung môi trường nuôi F2 Cho dung dịch vào bình và đun nhỏ lửa Khi agar

đã tan đều, chuyển agar vào các đĩa Peptri (độ dày lớp thạch trong đĩa 3mm) Đưa các đĩa Peptri này vào hấp ở 1250C trong 15 phút, để nguội và chuẩn bị cho cấy tảo giống lưu giữ (Hình 29 PL)

Cấy tảo trên môi trường thạch: áp dụng qui trình kỹ thuật cấy vi khuẩn trên môi trường thạch: Sử dụng 15 đĩa Peptri để cấy cho mỗi giống tảo Khi tảo phát triển thì trên đĩa thạch hình thành các khuẩn lạc mang mầu sắc của loài tảo

đó Sau một thời gian nhất định tảo sẽ phát triển kín đường cấy Khi tảo phát triển dầy (đường cấy có mầu tảo đậm), san tảo sang các đĩa Peptri khác

Trang 36

27

b/ Lưu giữ giống Luân trùng

Chủ động giống luân trùng đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của một trại giống cá biển Bởi vậy, lưu giữ giống luân trùng luôn là việc làm thường xuyên và cần thiết

Hiện nay, có 2 phương pháp lưu giữ giống luân trùng: Lưu giữ bằng trứng nghỉ và lưu giữ quần thể Lưu giữ quần thể có kỹ thuật đơn giản hơn nhưng giống dễ bị nhiễm tạp, nhiễm khuẩn khó lưu giữ lâu dài và có xu hướng thoái hoá Lưu giữ bằng trứng nghỉ tiên tiến hơn, lưu giữ được lâu dài, đảm bảo trứng thuần chủng và khả năng thoái hoá ít Tuy nhiên, lưu giữ bằng trứng nghỉ có kỹ thuật phức tạp, khó tạo nên trứng nghỉ hoặc trứng nghỉ không nở sau khi lưu giữ Để nắm được ưu nhược điểm và biện pháp kỹ thuật của mỗi phương pháp,

đề tài đã tiến hành triển khai nghiên cứu cả 2 phương pháp

• Phương pháp lưu giữ bằng trứng nghỉ

Phương pháp kích thích để quần thể luân trùng tạo trứng nghỉ

Trong điều kiện bình thường, luân trùng sinh sản đơn tính Quần thể là những cá thể cái Khi môi trường có những thay đổi bất lợi, quần thể luân trùng

có sự xuất hiện của con đực và quá trình sinh sản hữu tính diễn ra Sản phẩm của quá trình sinh sản này là các con cái sinh ra các trứng nghỉ Những thay đổi bất lợi về độ mặn, nhiệt độ, sự thiếu hụt nguồn thức ăn kích thích quần thể luân trùng tạo trứng nghỉ Do vậy, để lấy nguồn trứng nghỉ phục vụ lưu giữ, quần thể luân trùng đang được nuôi trong điều kiện bình thường được bỏ đói ở mức độ thích hợp Khi quan sát thấy trong quần thể có sự xuất hiện của con đực (cá thể

có kích thước chỉ bằng 30 - 50% kích thước bình thường) là thời điểm quần thể luân trùng có khả năng sinh ra trứng nghỉ Trứng nghỉ được thu bằng cách gạn lọc nhiều lần, loại bỏ tạp chất và các cá thể luân trùng và được lưu giữ ở tủ bảo quản có nhiệt độ 4-6oC

• Phương pháp lưu giữ quần thể:

Quần thể luân trùng được lưu giữ ở mật độ thấp trong các bình tam giác

có dung tích 3L Thức ăn sử dụng trong quá trình lưu giữ là tảo N oculata, I

galbana Định kì 5 – 7 ngày san giống sang bình mới Hàng năm, đưa giống ra

nuôi sinh khối và tiến hành phân lập lấy giống thuần để lưu giữ tiếp

Trang 37

28

c/ Nghiên cứu nuôi sinh khối tảo

Vi tảo được nuôi sinh khối trong các bình cầu 10L, bình nhựa 20L, túi nilong 50 L (Hình 29 PL) Hàng ngày kiểm tra mật độ tảo trong các nghiệm thức Xác định hiệu quả của mỗi hình thức nuôi qua mật độ cực đại, thời gian đạt mật độ cực đại Tảo được nuôi trong môi trường Conway, ánh sáng đèn neong với chu kỳ sáng/tối 18h/6h, cường độ ánh sáng 8000 lux, nhiệt độ môi trường duy trì ở 240C – 260C, độ mặn 28‰

d/ Nghiên cứu nuôi sinh khối Luân trùng

Nguyên tắc của kĩ thuật nuôi sinh khối đạt mật độ cao là quản lí tốt môi trường bể nuôi và cung cấp thức ăn chất lượng tốt Dựa trên kết quả nghiên cứu

về nuôi sinh khối vi tảo mật độ cao, nguồn tảo từ hệ thống nuôi sinh khối mật độ cao đã được sử dụng cho nuôi sinh khối Luân trùng

Các thí nghiệm nuôi sinh khối Luân trùng được thực hiện trong các bể

Composit dung tích 400L Thức ăn sử dụng là hỗn hợp tảo N oculata, I

galbana, T chuii và bổ sung men bánh mỳ khi cần thiết Mật độ vi tảo trong các

bể nuôi được duy trì 1.106 tb/ml, bổ sung men bánh mì 1 lần/2g/ngày/1triệu Luân trùng (Bảng 2.5)

Bảng 2.5 Chế độ cung cấp thức ăn trong quá trình nuôi sinh khối Luân trùng

Chỉ tiêu / Thời gian cho ăn 6 giờ 11 giờ 16 giờ 21 giờ

Thức ăn Vi tảo Vi tảo Vi tảo Nấm men

2.2.2 NGHIÊN CỨU THỨC ĂN CHO ẤU TRÙNG, CÁ HƯƠNG VÀ

CÁ GIỐNG

2.2.2.1 Nghiên cứu thức ăn cho cá Song Chuột

Cá bột vừa mở miệng ăn thức ăn ngoài chỉ bắt được con mồi hợp cỡ miệng, ở trạng thái phù du với tốc độ bơi vừa phải và đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng Không thoả mãn yêu cầu này, cá sẽ chết ngay sau khi hết noãn hoàng Những thí nghiệm về thức ăn ban đầu cho cá bột nhằm mong muốn đáp ứng được số lượng, cỡ và chất lượng thức ăn trong những ngày đầu tiên khi ương ấu trùng cá

Trang 38

29

- Thời gian nghiên cứu: 1/1/2008 - 25/12/2009

- Địa điểm nghiên cứu: Khu B, Trung tâm quốc gia giống hải sản Miền Bắc, Xuân Đám - Cát Hải - Hải Phòng

a/ Thí nghiệm ảnh hưởng của các phương pháp cường hoá Luân trùng đến tỷ lệ sống của ấu trùng cá Song Chuột giai đoạn 3 - 20 ngày tuổi

- Điều kiện thí nghiệm: Thời gian cường hoá luân trùng: 12giờ Mật độ Luân trùng cường hoá 2000con/ml Mật độ cá bột trong bể ương 20con/l

- Qui mô thí nghiệm: 9bể 400l ương ấu trùng.Thí nghiệm được lặp 3 lần

• NT1: sử dụng Luân trùng cường hoá bằng tảo (I.galbana, N oculata)

• NT2: sử dụng Luân trùng cường hoá bằng DHA selco protein

• NT3: sử dụng Luân trùng được nuôi hoàn toàn bằng tảo (I.galbana và

N.oculata) không cường hoá

b/ Thí nghiệm ảnh hưởng của một số loại thức ăn đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá Song Chuột giai đoạn 20- 55 ngày tuổi

- Điều kiện thí nghiệm: Cá 20 ngày tuổi khoẻ mạnh; Mật độ ương 0,5 con/L

- Qui mô thí nghiệm: 12 bể; dung tích thí nghiệm: bể 400L; DO 5-6 mg/L; nhiệt độ 29-31oC; pH 7,8 - 8,3, Thay nước 100%/ngày; Thức ăn tổng hợp được cho ăn 3lần/ngày (6h,10h,14h) ; Thức ăn sống (Artemia, copepoda) cho ăn vào 17h,mật độ1 – 3 con/ml Các nghiệm thức:

• NT1: Thức ăn Otohimi nhật bản + Artemia vĩnh châu

• NT2: Thức ăn Otohimi nhật bản + Copepoda

• NT3: Thức ăn NRD của hãng INVE + Artemia vĩnh châu

• NT4: Thức ăn NRD của hãng INVE + Copepoda

c/ Thí nghiệm ảnh hưởng của một số loại thức ăn đến sinh trưởng và

tỷ lệ sống của cá Song Chuột giai đoạn 55 - 90 ngày tuổi

- Điều kiện thí nghiệm

- Cá Song Chuột 55 ngày tuổi khoẻ mạnh, đã qua biến thái

- Dung tích bể thí nghiệm: bể 400L; Mật độ cá thí nghiệm: 100con/bể400L; DO 5 - 6 mg/L; nhiệt độ 29 - 31oC; pH 7,8 - 8,3; Thay nước 300%/ngày (cho chảy tràn)

Tần suất cho ăn 5lần/ngày vào 6h, 9h,12h, 15h và 18h Các nghiệm thức:

• NT1: Sử dụng thức ăn Otohimi nhật bản (C2)

• NT2: Sử dụng thức ăn NRD hãng Inve (G8, G12)

• NT3: Sử dụng thức ăn cá biển CP

Trang 39

30

2.2.2.2 Nghiên cứu thức ăn cho cá Song Da Báo

• Nguồn cá bột, cá giống Song Da Báo và địa điểm thí nghiệm

Các thí nghiệm ương ấu trùng lên cá giống sử dụng ấu trùng do đề tài sản

xuất và được thực hiện tại Trại nghiên cứu sản xuất cá biển Trung tâm quốc gia

giống Hải sản miền Trung

Các thí nghiệm nuôi thương phẩm thực hiện tại lồng nuôi của Trung tâm

tại Vũng ngán, vịnh Nha Trang Thí nghiêm triển khai năm 2008 sử dụng cá

hương, cá giống là sản phẩm của đề tài Thí nghiệm năm 2010 sử dụng cá khai

thác ngoài tự nhiên có kích thước trung bình 12,68 cm khối lượng thân 31,65 g

• Thức ăn tươi sống và thức ăn viên cho ương nuôi cá bột, cá hương

Chế độ cho ăn các giai đoạn ấu trùng, cá hương cá giống cá Song Da

S và S rotifer được làm giàu (SELCO Protein)

Artemia nauplii Artemia star II

Trang 40

31

Luân trùng đựợc thu tại các đìa nuôi tôm Dòng luân trùng có kích thước nhỏ hơn có nguồn gốc từ Indonesia được phân lập lưu giữ và đưa vào bể nuôi

với mật độ 120 ct/ml Thức ăn cho luân trùng là tảo N.oculata và men bánh mì

Sau 5 -6 ngày nuôi mật độ luân trùng đạt đến 800 -1000 ct/ml với chiều dài từ 160,3 ± 16,1 µm và 118,2 ± 19,1 µm Sử dụng túi vớt thực vật phù du có kích thước mắt lưới 42 µm để thu hoạch Trước khi đưa vào bể ương cá bột, luân trùng được làm giàu bằng DHA protein Selco (INVE®, Bỉ); sử dụng lưới có mắt

90 µ để lọc luân trùng có kích thước nhỏ hơn và lớn hơn 90 µm cho thí nghiệm

Ấu trùng hàu (trochophora) thu được bằng kích thích hàu đẻ tự nhiên hoặc thu tinh nhân tạo

Cá bột mới nở được thí nghiệm với mật độ cá bột ban đầu 30 con/l trong các bể composit có dung tích 300 lít, chế độ chăm sóc như Hình 3.2

Artemia được sử dụng trong ương nuôi cá bột cá hương là Artemia Vĩnh Châu, sử dụng Naụplius và Artemia trưởng thành được làm giàu bằng DHA protein selco trước khi đưa vào thí nghiệm thức ăn

Copepoda được thu vớt từ ao đìa nuôi tôm, rửa sạch sau đó xử lý loại bỏ mầm bệnh bằng Iodin 5 ppm trong 5 phút, dùng lưới có mắt phù hợp để thu copepod có kích thước 180 – 200 µm

Thức ăn tổng hơp sử dụng giai đoạn cá giống, cá hương là các loại thức

ăn chuyên cho cá biển: Thức ăn của công ty INVE có cỡ hạt: Loại ½ (100 – 200

µm) loại 3/5 (300 – 500 µm); loại 5/8 (500 -800 µm); có hàm lượng protein thô lớn hơn 45% và >55 %); Thức ăn của Công ty Unipresident (Protein >43%)

Cá tươi sử dụng làm thức ăn trong thí nghiệm này là cá Nục, cá Mối Ấu trùng Hàu và Luân trùng được đưa vào bể ương cá bột từ ngày thứ 2 đến hết đến ngày thứ 5; Luân trùng được duy trì đến ngày 20 ở mật độ 20 ct/ml Xác định mật độ ấu trùng Hàu và Luân trùng vào 8h sáng và 14h chiều, để bổ sung duy trì mật độ Giảm dần mật độ Luân trùng đến ngày thứ 18 chỉ duy trì mật độ 10 ct/ml và Artemia nauplii được bổ sung từ ngày 18 đến ngày 25 Artemia được tăng dần kích thước từ Nauplius đến Artemia tiền truởng thành (giai đoạn starII)

và làm giàu bằng Selco đến ngày 30, mật độ 1 -3 ct/ml đến ngày 50 Bổ sung Copepod vào bể ấu trùng từ ngày thứ 20 đến ngày thứ 50 ở mật độ 1-3ct/ml Ngày 20 bắt đầu tập cho cá ăn thức ăn tổng hợp kích thước nhỏ và tăng dần kích thước với số lượng theo nhu cầu của cá bột, cá giống Trong suốt thời gian có

Ngày đăng: 16/04/2014, 07:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Như Văn Cẩn, 1999. Tìm hiểu khả năng thích nghi và đánh giá chất lượng luân trùng Brachionus Plicatilis dòng kích thước lớn, nuôi sinh khối tại Nha Trang bằng một số loại thức ăn khác nhau. Luận văn cao học Trường Đại học Thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu khả năng thích nghi và đánh giá chất lượng luân trùng Brachionus Plicatilis dòng kích thước lớn, nuôi sinh khối tại Nha Trang bằng một số loại thức ăn khác nhau
Tác giả: Như Văn Cẩn
Nhà XB: Trường Đại học Thủy sản
Năm: 1999
2. Hoàng Thị Bích Đào, 2000. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và biện pháp nuôi thu sinh khối luân trùng Brachionus plicatilis. Hôi thảo khoa học toàn quốc về nuôi trồng thuỷ sản, 1998. Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1, 2000. Trang 248 – 252 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brachionus plicatilis
5. Hà Ký, 1992. Phương pháp nghiên cứu tác nhân gây bệnh ký sinh trùng ở cá (dịch từ bản gốc của V.A. Musselius), Bộ Thủy Sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu tác nhân gây bệnh ký sinh trùng ở cá
6. Nguyễn Thị Kim Liên, 2008. Nuôi luân trùng siêu nhỏ Brachionus rotundiformis bằng tảo Chlorella và nấm men. Tạp chí khoa học 2008, trang 67 – 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brachionus rotundiformis
7. Bùi Quang Tề, 1995. Thực hành chẩn đoán bệnh tôm cá, Viện NCNTTSI, Bộ Thuỷ Sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành chẩn đoán bệnh tôm cá
8. Bùi Quang Tề, 1998. “Chẩn đoán và phòng trị một số bệnh truyền nhiễm ở cá nuôi lồng và thuỷ đặc sản”, Báo cáo đề tài khoa học, 1996- 1998; Viện NCNTTS I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán và phòng trị một số bệnh truyền nhiễm ở cá nuôi lồng và thuỷ đặc sản”, "Báo cáo đề tài khoa học
9. Phan Thị Vân, Bùi Ngọc Thanh, 2004. Những dấu hiệu mô bệnh học VNN trên cá Song chấm nâu (Epinephelus coioides) tại Hải Phòng và Nghệ An). Báo cáo Khoa học, Thư viện,Viện nghiên cứu NTTS I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epinephelus coioides
10. Lê Xân, 2005. Công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá song chấm nâu (E. coioides) Báo cáo Tổng kết đề tài KC06.13.NN.232 trang. Thư viện Quốc gia, Trung tâm Thông tin tư liệu Quốc gia, Thư viện Viện nghiên cứu NTTS I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá song chấm nâu (E. coioides)
Tác giả: Lê Xân
Nhà XB: Thư viện Quốc gia
Năm: 2005
3. Trần Vỹ Hích, Phạm Thị Duyên, 2007. Bệnh hoại tử thần kinh ở cá biển nuôi tại Khánh Hòa. Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản số 1/2008 Trường Đại học Nha Trang Khác
4. Lê Thị Mỹ Hoa, Trần Quang Đức, Vũ Thọ Sơn, Lê Lan Hương, 2009. Xây dựng mô hình nuôi cá bằng lồng bè trên biển đạt hiệu quả kinh tế.Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài của Sổ khoa học và công nghệ tỉnh Khánh Hòa Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bố trí thí nghiệm cá Song Da Báo: - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm cá Song Da Báo: (Trang 57)
Hình 3.3. Tăng trưởng khối lượng cá SC giai đoạn 55 - 90 ngày tuổi khi - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Hình 3.3. Tăng trưởng khối lượng cá SC giai đoạn 55 - 90 ngày tuổi khi (Trang 100)
Hình 3.4. Tăng trưởng chiều dài cá SC giai đoạn 55 - 90 ngày tuổi khi sử  dụng các loại thức ăn khác nhau - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Hình 3.4. Tăng trưởng chiều dài cá SC giai đoạn 55 - 90 ngày tuổi khi sử dụng các loại thức ăn khác nhau (Trang 100)
Hình 3.6. Tăng trưởng khối lượng cá Song Chuột giai đoạn 55 - 90 ngày  tuổi. - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Hình 3.6. Tăng trưởng khối lượng cá Song Chuột giai đoạn 55 - 90 ngày tuổi (Trang 111)
Hình 3.8. Tăng trưởng khối lượng cá SC ương từ cá hương lên cá giống  trong hệ lọc sinh học - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Hình 3.8. Tăng trưởng khối lượng cá SC ương từ cá hương lên cá giống trong hệ lọc sinh học (Trang 113)
Hình 3.10: Tăng trưởng chiều dài của cá Song Da Báo. - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Hình 3.10 Tăng trưởng chiều dài của cá Song Da Báo (Trang 125)
Hình 3.13: Tỷ lệ sống (%) cá SC nuôi trong hệ thống lọc sinh học tuần  hoàn. - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Hình 3.13 Tỷ lệ sống (%) cá SC nuôi trong hệ thống lọc sinh học tuần hoàn (Trang 138)
Bảng 3.68: Diễn biến các yếu tố môi trường tại lồng nuôi cá Song DB. - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Bảng 3.68 Diễn biến các yếu tố môi trường tại lồng nuôi cá Song DB (Trang 140)
Hình 2.  Hình thái ngoài tuyến sinh - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Hình 2. Hình thái ngoài tuyến sinh (Trang 172)
Hình 23 : Bể nuôi phát dục và cho đẻ cá song da báo tại Nha Trang. - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Hình 23 Bể nuôi phát dục và cho đẻ cá song da báo tại Nha Trang (Trang 178)
Hình 24: Quá trình phát triển các giai đoạn tuyến sinh dục cá cái cá song da báo - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Hình 24 Quá trình phát triển các giai đoạn tuyến sinh dục cá cái cá song da báo (Trang 178)
Hình 25.  Quá trình phát triển tuyến sinh dục đực cá song DB sau 90 ngày . - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Hình 25. Quá trình phát triển tuyến sinh dục đực cá song DB sau 90 ngày (Trang 179)
Hình 28: Chuẩn bị vật liệu và dụng cụ chuyển đổi giới tính cá song da báo - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Hình 28 Chuẩn bị vật liệu và dụng cụ chuyển đổi giới tính cá song da báo (Trang 180)
Hình 32: Lưới cũ sử dụng trong lọc sinh học. - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Hình 32 Lưới cũ sử dụng trong lọc sinh học (Trang 182)
Hình 30: hệ thống bể lọc sinh học xử lý nước. - Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao
Hình 30 hệ thống bể lọc sinh học xử lý nước (Trang 182)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w