1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

180 704 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Minh
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Văn Bào, PGS.TS. Phạm Lê Tuấn
Trường học Học viện Quân y
Chuyên ngành Vệ sinh xã hội học và Tổ chức y tế
Thể loại Luận án tiến sĩ y học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 3,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

Trang 1

Chuyên ngành: Vệ sinh xã hội học và Tổ chức y tế

Mã số: 60 72 73 15

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

Chuyên ngành: Vệ sinh xã hội học và Tổ chức y tế

Trang 3

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này, tôi đã nhận

được sự giúp đỡ tận tình của các thầy, các cô, các nhà khoa học, các anh, chị, bạn

bè, đồng nghiệp, những người thân trong gia đình và các các cơ quan có liên quan

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, các thầy, cô

giáo Bộ môn Tổ chức chỉ huy Quân y, các bộ môn liên quan, Phòng Sau Đại

học - Học viện Quân y đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi được học

tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Văn Bào và

PGS.TS Phạm Lê Tuấn, những người thầy đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi

trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận án tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn GS TS Nguyễn Tụ, Chủ tịch Hội đồng, các

thầy, các cô trong Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở, cấp Trường và các nhà

khoa học đã cho tôi những ý kiến quý giá để tôi hoàn thành tốt luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Sở Y tế, Sở Khoa học và

Công nghệ Hà Nội, Quận ủy, Uỷ ban nhân dân quận Hoàng Mai, Uỷ ban nhân

dân và Trạm Y tế các phường nghiên cứu, Hội Người khuyết tật, Trung tâm Y

tế quận Hoàng Mai đã tạo mọi điều kiện cho tôi được đi học, được triển khai

nghiên cứu đề tài khoa học cấp thành phố để có số liệu làm luận án Tôi xin

trân trọng cảm ơn những ngừời tàn tật quận Hoàng Mai và gia đình họ đã nhiệt

tình giúp đỡ và hợp tác có hiệu quả với tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Tôi vô cùng cảm ơn bố, mẹ và những người thân trong gia đình, các

bạn bè, đồng nghiệp, các cơ quan, đơn vị, cá nhân đã động viên và tạo mọi

điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt và biết ơn sâu sắc tới chồng

và các con thân yêu Những người đã luôn hỗ trợ, động viên, chia sẻ, sát cánh

bên tôi những lúc khó khăn, luôn dành thời gian cho tôi được tập trung vào

học tập và nghiên cứu

Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2012

Nguyễn Thị Minh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Minh

Trang 5

Trang Trang phụ bìa

1.1 Thực trạng tàn tật, nhu cầu chăm sóc sức khỏe và phục hồi

1.1.2 Tình hình phục hồi chức năng của người tàn tật 10 1.1.3 Tình hình chăm sóc sức khỏe người tàn tật 16 1.1.4 Nhu cầu về dịch vụ chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức

1.1.5 Các hình thức cung cấp dịch vụ cho người tàn tật 26

1.2 Một số mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục hồi

chức năng cho người tàn tật

Trang 6

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 39

2.2.3 Phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin 48

2.2.5 Nội dung các bước tiến hành nghiên cứu 49

2.2.7 Công tác đảm bảo cho hoạt động của mô hình 52

2.2.9 Đánh giá hiệu quả can thiệp của mô hình 53

3.1 Thực trạng tàn tật, nhu cầu chăm sóc sức khỏe và phục hồi

chức năng của người tàn tật tại quận Hoàng Mai, Hà Nội

(2009-2010)

58

Trang 7

Hoàng Mai, Hà Nội (2010-2011)

3.2.1 Xây dựng mô hình quản lý, chăm sóc sức khoẻ và phục hồi

chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, Hà Nội

4.1 Thực trạng tàn tật, nhu cầu chăm sóc sức khỏe và phục hồi

chức năng của người tàn tật tại quận Hoàng Mai, Hà Nội

107

4.2 Xây dựng và thử nghiệm mô hình quản lý, chăm sóc sức

khỏe và phục hồi chức năng cho người tàn tật tại quận

Hoàng Mai, Hà Nội

122

4.2.3 Hiệu quả của mô hình quản lý, chăm sóc sức khoẻ và phục

hồi chức năng cho người tàn tật tại quận

131

4.2.4 Một số ưu điểm, hạn chế và khả năng duy trì của mô hình 143

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC

GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

BSGĐ Bác sỹ gia đình

CBCT Cán bộ chương trình

CBR Community Based Rehabilitation ( Phục hồi chức năng

dựa vào cộng đồng) CBYT Cán bộ y tế

COPD Chronic Obstructive Pulmonary Disease (Bệnh phổi tắc

nghẽn mãn tính)

CSHQCT Chỉ số hiệu quả can thiệp

Trang 9

TTBYT Trang thiết bị y tế

TT- GDSK Truyền thông giáo dục sức khoẻ

TTYT Trung tâm y tế

TYT Trạm y tế

UNESCAP United Nations Economic Socialist Committee Asian

Pacific (Ủy ban Kinh tế Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc)

UNICEF United Nations Children’s Fund (Quỹ Nhi đồng Liên Hợp

Quốc) USAID United States Agency International Development (Tổ chức

Phát triển quốc tế Hoa kỳ) WHO World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

YTTH Y tá trung học

Trang 10

Bảng Tên bảng Trang

2.1 Một số đặc điểm kinh tế - xã hội, y tế của 4 phường nghiên cứu 44 3.1 Phân bố người tàn tật được điều tra tại các phường 58

3.3 Phân bố người tàn tật theo nghề nghiệp trước và sau khi bị

tàn tật

60

3.7 Người tàn tật lựa chọn cơ sở y tế để khám chữa bệnh 64 3.8 Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng về vận động của người

thời gian can thiệp

81

3.16 Số lượt người tàn tật được cấp cứu và khám chữa bệnh tại nhà

trong thời gian can thiệp

82

Trang 11

3.17 Số người, thành phần tham dự tập huấn 83 3.18 Đánh giá của cán bộ chương trình về chất lượng tập huấn 83 3.19 Nội dung, số lượng, thời lượng phát thanh về các vấn đề

chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng cho người tàn tật

84

3.20 Số lượng tờ gấp đã cấp phát tại 2 phường can thiệp 85 3.21 Kết quả tư vấn về chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng 85 3.22 Kết quả thực hiện các hoạt động phục hồi chức năng tại 4

3.24 Cán bộ chương trình thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe

trước và sau can thiệp

3.27 Hiệu quả nâng cao kiến thức, kỹ năng của cán bộ chương

trình trong áp dụng kiến thức tập huấn vào thực tiễn chăm

sóc sức khỏe và phục hồi chức năng cho người tàn tật

90

3.28 Người chăm sóc chính đánh giá về sự quan tâm của cộng

đồng đối với người tàn tật

91

3.29 Hiệu quả nâng cao kiến thức của người chăm sóc chính về

nội dung cần chăm sóc tại nhà

93

3.30 Các hoạt động phục hồi chức năng đã thực hiện trước và sau

can thiệp

94

Trang 12

3.31 Nội dung hướng dẫn tập luyện phục hồi chức năng trước và

sau can thiệp

95

3.32 Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng về vận động trước và sau

can thiệp

96

3.33 Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng về sinh hoạt hàng ngày

trước và sau can thiệp

98

3.34 Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng về độc lập trong sinh hoạt

trước và sau can thiệp

100

3.35 Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng trong giao tiếp trước và

sau can thiệp

101

3.36 Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng trong hòa nhập xã hội

trước và sau can thiệp

102

3.37 Nguyện vọng trong chăm sóc sức khỏe của người tàn tật

trước và sau can thiệp

105

3.38 Nguyện vọng trong phục hồi chức năng của người tàn tật

trước và sau can thiệp

106

Trang 13

Biểu đồ Tên biểu đồ Trang

3.9 Phân bố mức độ nhu cầu phục hồi chức năng về độc lập

trong sinh hoạt của người tàn tật

3.12 Tỷ lệ cận dịch vụ y tế trong 12 tháng qua trước và sau

can thiệp của người tàn tật

89

3.13 Gia đình người tàn tật nhận được thông tin về chăm sóc

sức khỏe, phục hồi chức năng

92

3.14 Hiệu quả nâng cao kiến thức của người chăm sóc chính

về tàn tật và phục hồi chức năng cho người tàn tật

92

3.15 Phân bố mức độ nhu cầu phục hồi chức năng vận động

trước và sau can thiệp

97

Trang 14

3.16 Phân bố mức độ nhu cầu phục hồi chức năng về sinh hoạt

hàng ngày trước và sau can thiệp

99

3.17 Phân bố mức độ nhu cầu phục hồi chức năng về độc lập

trong sinh hoạt trước và sau can thiệp

100

3.18 Phân bố mức độ nhu cầu phục hồi chức năng trong giao

tiếp trước và sau can thiệp

102

3.19 Phân bố mức độ nhu cầu phục hồi chức năng trong hòa

nhập xã hội trước và sau can thiệp

103

3.20 Cán bộ chương trình đánh giá kết quả hướng dẫn/tập

luyện phục hồi chức năng trước và sau can thiệp

104

3.21 Gia đình người tàn tật đánh giá mức độ kết quả điều trị

phục hồi chức năng trước và sau can thiệp

104

Trang 15

Sơ đồ Tên sơ đồ Trang

2.2 Đánh giá, so sánh trước - sau can thiệp và với nhóm

chứng

54

3.2 Sơ đồ khái quát mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và

phục hồi chức năng cho người tàn tật

Trang 16

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo ước tính tỷ lệ người tàn tật trên thế giới chiếm khoảng 10% dân

số, trong đó trên 340 triệu người ở các nước đang phát triển và hơn 98% người tàn tật không được quan tâm [33], [148] Con số này ngày càng gia tăng, dự báo của Tổ chức Y tế Thế giới, đến năm 2025 số người tàn tật vừa và nặng ở những nước kém phát triển sẽ lên tới 573 triệu người (năm 1992 là

290 triệu người, trung bình mỗi năm tăng 8,5 triệu người) [146] Tàn tật và ảnh hưởng của tàn tật đến sự phát triển của xã hội, cộng đồng đang là vấn đề nan giải và là vấn đề mang tính toàn cầu

Ở Việt Nam, ước tính khoảng 80% người tàn tật sống tại cộng đồng không có cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế phục hồi chức năng [33], [82] Hiện nay, theo số liệu của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, ước tính cả nước có khoảng 6,7 triệu người tàn tật chiếm khoảng 6,3% dân số với các dạng tàn tật và nhiều nguyên nhân gây tàn tật khác nhau [10]

Tại quận Hoàng Mai, Hà Nội, nghiên cứu thực trạng (2005) cho thấy tỷ

lệ mắc tàn tật tại quận là 9,5%; tỷ lệ người tàn tật có nhu cầu phục hồi chức năng là 17,0% [58] Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đã được triển khai tại quận, nhưng các hoạt động triển khai chủ yếu là tuyên truyền, phục hồi chức năng lồng ghép với hoạt động của một số chương trình

y tế nên kết quả còn hạn chế, chỉ mới đáp ứng phục hồi chức năng cho khoảng 20% người tàn tật có nhu cầu Việc chăm sóc sức khỏe người tàn tật có được quan tâm nhưng chỉ thực hiện lồng ghép vào một số các hoạt động như khám, cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho đối tượng đặc biệt, hoặc khám trong chương trình

từ thiện nhân đạo

Cũng như mọi người bình thường khác, người tàn tật luôn có nhu cầu được chăm sóc sức khoẻ, thậm chí còn có nhu cầu cao hơn và còn có thêm nhu cầu phục hồi chức năng Tuy nhiên, hiện nay cuộc sống của người tàn tật đang gặp khó khăn về nhiều mặt trong đó có việc tiếp cận với các dịch vụ y

Trang 17

tế, chăm sóc sức khỏe (ngay cả với các dịch vụ y tế thiết yếu nhất) Các khó khăn này bao gồm: tuyến y tế cơ sở (từ tuyến huyện trở xuống) chưa có mô hình chăm sóc sức khỏe người tàn tật một cách cụ thể và thống nhất, chưa có đầy đủ

và sẵn sàng các dịch vụ thích hợp; nhân viên y tế và cán bộ chuyên trách phục hồi chức năng chưa được đào tạo đầy đủ về chăm sóc sức khỏe người tàn tật; đối với các bệnh viện tuyến tỉnh và Trung ương, khả năng chi trả của người tàn tật cho các dịch vụ y tế luôn vượt quá khả năng của họ, điều kiện đi lại khó khăn…

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam tuy đã có nhiều nghiên cứu về người tàn tật và chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng nhưng hầu hết mới chỉ tập trung vào lĩnh vực phục hồi chức năng như chiến lược phát triển [14], [54], [60], [125], [138]; kinh nghiệm thực hiện chương trình [7], [57], [59], [128]; nguồn kinh phí để thực hiện [64], [80], [81], [111]; phương pháp và kết quả phục hồi chức năng cho một số dạng tàn tật tại cộng đồng [5], [24], [26], [39], [66]; năng lực của thành viên gia đình trong chương trình [62] Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm kiếm một mô hình khoa học, phù hợp nhằm khuyến khích, tạo điều kiện để người tàn tật có điều kiện tiếp cận được với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe gắn với phục hồi chức năng một cách thuận lợi và hiệu quả nhất nhằm cải thiện chất lượng sống cho người tàn tật là một vấn đề hết sức cần thiết

Để góp phần nâng cao chất lượng sống cho người tàn tật tại quận

Hoàng Mai nói riêng và người tàn tật nói chung, nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khoẻ và phục hồi chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội’’ là thực sự cần thiết

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Mô tả thực trạng tàn tật, xác định nhu cầu chăm sóc sức khoẻ và phục hồi chức năng của người tàn tật tại quận Hoàng Mai, Hà Nội (2009 - 2010)

2 Xây dựng và thử nghiệm mô hình quản lý, chăm sóc sức khoẻ và phục hồi chức năng cho người tàn tật tại một số phường của quận Hoàng Mai, Hà Nội (2010 - 2011)

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 THỰC TRẠNG TÀN TẬT, NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CỦA NGƯỜI TÀN TẬT

1.1.1 Tình hình người tàn tật

1.1.1.1 Tàn tật, quá trình tàn tật

Người tàn tật, theo Nghị quyết 3447 (kỳ họp lần thứ XXX) do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 9/12/1975, có nghĩa là một người bất kỳ (nam hay nữ) không có khả năng tự đảm bảo hoàn toàn hay một phần những nhu cầu cần thiết cho cuộc sống cá nhân và/ hoặc xã hội bình thường của mình do hậu quả của một khiếm khuyết (bẩm sinh hay mắc phải) [53]

Theo Đạo luật về người tàn tật của Hoa Kỳ (ADA - American with Disabilities Act) và Đạo luật chống phân biệt đối xử với người tàn tật của Anh năm 2005 (DDA - Disability Discrimination Act 2005), người tàn tật là người

có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng) [90], [98], [108]

Theo phân loại Quốc tế về khiếm khuyết, giảm khả năng và tàn tật của

Tổ chức Y tế Thế giới năm 1980 (WHO - ICIDH), có ba mức độ khuyết tật: khiếm khuyết (impairment), giảm khả năng (disability) và tàn tật (handicap) [43], [144] Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/ và sinh lý Khuyết tật (giảm khả năng) chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm

Trang 19

khuyết Tàn tật là tình trạng một người do khiếm khuyết, giảm khả năng làm cản trở người đó thực hiện vai trò của mình như một người bình thường trong gia đình, xã hội (phụ thuộc tuổi, giới tính và yếu tố văn hoá xã hội) Tuy nhiên, qua 20 năm thực hiện, bảng phân loại này bộc lộ nhược điểm là chưa thấy được tính tích cực của người khuyết tật và tác động của môi trường Vì vậy, năm 2003, Tổ chức Y tế Thế giới đã ban hành một bản phân loại mới trong đó khuyết tật là một từ chỉ chung cho: khiếm khuyết, hạn chế hoạt động

và hạn chế sự tham gia

Còn theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế người tàn tật, người khuyết tật trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác (DPI, 1982) Do vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống

Tại Việt Nam, Luật Người khuyết tật được Quốc hội thông qua và ban hành ngày 29/6/2010 quy định người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn [68]

1.1.1.2 Nguyên nhân gây tàn tật

Phân loại nguyên nhân gây tàn tật rất đa dạng và phong phú Việc xác định nguyên nhân gây tàn tật chủ yếu bằng phương pháp hồi cứu, phụ thuộc vào khả năng nhớ chính xác của NTT hoặc gia đình họ nên không tránh khỏi sai số lựa chọn Sự phân chia nguyên nhân trong các nghiên cứu chủ yếu theo các nhóm như: căn nguyên bẩm sinh, mắc phải, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, nạn nhân chiến tranh, các nguyên nhân khác Một số nghiên cứu đưa ra nguyên nhân cụ thể như bại não, bệnh phong, bỏng, tai nạn sinh hoạt…[132], [137] Nghiên cứu tại bệnh viện và các nghiên cứu tại cộng đồng nhưng có khám chuyên khoa sâu phân chia khá chi tiết nguyên nhân, chẩn đoán bệnh (Ví dụ dị tật bẩm sinh bao gồm: bàn chân khoèo, thừa ngón…) Các nghiên

Trang 20

cứu tại Việt Nam cho thấy nguyên nhân tàn tật do bệnh tật chiếm tỷ lệ cao nhất [3], [7], [38], [49]

Tổ chức Y tế Thế giới đã xếp nguyên nhân gây tàn tật theo 3 nhóm cơ bản: chính bản thân của tàn tật, thái độ sai lệch của xã hội và môi trường xung quanh không thích hợp với NTT Do vậy để giải quyết vấn đề về tàn tật phải

quan tâm đến cả 3 nguyên nhân gây tàn tật nêu trên [121], [126]

1.1.1.3 Phân loại và mức độ tàn tật

Có nhiều cách phân loại tàn tật, nhưng nhìn chung những cách phân chia này chỉ là tương đối

* Theo Tổ chức Y tế Thế giới

Tàn tật trong chương trình PHCN dựa vào cộng đồng được phân thành

7 nhóm như sau: khó khăn về học, khó khăn về nghe/ nói, khó khăn về nhìn, khó khăn về vận động, động kinh, hành vi xa lạ, mất cảm giác [16], [43]

* Theo Luật Người khuyết tật Việt Nam

Tàn tật được phân thành 6 nhóm: khuyết tật vận động, khuyết tật nghe/ nói, khuyết tật nhìn, khuyết tật thần kinh, tâm thần, khuyết tật trí tuệ và khuyết tật khác [68]

Mức độ khuyết tật được phân loại như sau:

- Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

- Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc hai trường hợp trên

1.1.1.4 Hậu quả của tàn tật

Tàn tật gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng về mặt vật chất, tinh thần và

xã hội NTT thường bị phân biệt đối xử, không tự tiếp cận được các dịch vụ

xã hội như y tế, giáo dục, dạy nghề; vì vậy NTT không thể khẳng định và phát huy các tiềm năng và khó có khả năng hòa nhập với xã hội như người bình

Trang 21

thường Bên cạnh đó, NTT luôn có tâm lý mặc cảm, tự ti và không tin tưởng vào khả năng của chính mình So với người bình thường, NTT thường có nhiều bệnh tật hơn và khả năng thích nghi với cuộc sống thấp hơn Tỷ lệ tử vong và tần suất mắc bệnh của NTT lớn hơn nhiều so với người không tàn tật Thường là do thiếu sự quan tâm của xã hội về yếu tố môi trường và tinh thần gây lên hoặc do biến chứng về tàn tật [143], [145] Đại đa số gia đình có NTT thường là gia đình nghèo tại cộng đồng do họ phải chi phí nhiều trong quá trình khám, chữa bệnh cho NTT Các thành viên trong gia đình thường mặc cảm về NTT và không nhận được sự cảm thông chia sẻ của mọi người trong cộng đồng Ngoài ra, tàn tật làm tăng chi phí trong y tế, giáo dục do triển khai các dịch vụ đáp ứng các nhu cầu của NTT

1.1.1.5 Tình hình người tàn tật trên thế giới và ở Việt Nam

* Trên thế giới

Hiện tại vẫn chưa có số liệu chính thức nào mô tả chung về tình hình NTT trên toàn thế giới và của từng khu vực Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới và Liên Hiệp Quốc vào năm 1996 trên thế giới có khoảng 500 triệu người bị tàn tật, trong đó trên 340 triệu người ở các nước đang phát triển, 140 triệu là trẻ em và hơn 90% người tàn tật không được quan tâm [43] Riêng khu vực Tây Thái Bình Dương có khoảng 100 triệu người tàn tật, trong đó 75% chưa được chăm sóc về y tế và xã hội [33], [43] Theo thống kê của Tổ chức NIC , số trẻ em tàn tật ở Bắc M là 6 triệu người, châu u 11 triệu, châu M La Tinh 13 triệu, châu Phi 18 triệu và cao nhất là châu là 88 triệu Theo ước tính thì tỷ lệ NTT trên thế giới chiếm khoảng 10% dân số [141] Con số này ngày càng gia tăng do các yếu tố gây tàn tật vẫn còn hiện hữu trên thế giới như chiến tranh, đói nghèo, bệnh tật, thảm hoạ thiên nhiên…

Trên thế giới các nghiên cứu về tàn tật đã được thực hiện nhiều nhất trong thập kỷ 80 - thập kỷ của người tàn tật do Liên Hiệp Quốc phát động

Trang 22

Rất nhiều nghiên cứu về tỷ lệ mắc tàn tật dựa theo số liệu của chương trình PHCN dựa vào cộng đồng

Theo WHO, tỷ lệ hiện mắc tàn tật tại Đông Nam dao động trong khoảng 6% đến 7% và ở hầu hết các nước cứ 10 người thì ít nhất có 1 người

bị thiểu năng về tinh thần, thể hình, hoặc giác quan [33] Các cuộc điều tra về tàn tật trên thế giới có nhiều cách đánh giá khác nhau để đo lường tàn tật, do vậy kết quả rất khác nhau Thậm chí ngay trong một quốc gia, tỷ lệ tàn tật cũng khác nhau Ví dụ tại Canada, tỷ lệ tàn tật được công bố trong năm 2001 từ các điều tra khác nhau thay đổi từ 13,7% đến 31,3% Tỷ lệ tàn tật tại M là 9,4% (2000), tại Brazil là 14,5% (2001), tại ganda là 3,5% (2001), Mexico là 2,3% (2000) và Ấn Độ là 2,1% (2001) [97] Cuộc điều tra của Zimbabwe tại 23 địa phương đã phát hiện 15% dân số bị tàn tật Tại Trung quốc chỉ tìm thấy 6,5% - 6,8% NTT trong dân số được điều tra [93], [96] Tại Lào khoảng 7 - 10% [131] Tại Hàn Quốc, tỷ lệ tàn tật trong toàn quốc rất thấp chỉ có 2,2% [149] Xấp xỉ 20% tại Nigeria năm 2008 [91]; Thổ Nhĩ Kỳ là 12,3% và Nicaragua là 10,1% [103]

Nghiên cứu tại một số nước đang phát triển cho thấy tỷ lệ NTT ước tính cao tới 20%, nếu tính cả gia đình và người thân của họ thì có đến 50% số dân chịu những ảnh hưởng bất lợi của tàn tật Tình trạng tàn tật gây tổn thất không

nhỏ về kinh tế, xã hội cho chính người bị tàn tật, gia đình họ và cộng đồng

Theo WHO, tỷ lệ tàn tật có xu hướng tăng từ 10% trong những năm của thập kỷ 80 lên tới 15% dân số trong năm 2004 Điều tra tỷ lệ tàn tật trên 59 nước trong hai năm 2002 - 2004 của WHO cho thấy tỷ lệ tàn tật trung bình ở người 18 tuổi trở lên là 15,6%, với tỷ lệ thấp nhất là 11,8% ở nước phát triển

và cao nhất là 18,0% ở nước đang phát triển trong đó số NTT có khó khăn nhiều trong các hoạt động chức năng chiếm 1 - 2% dân số [148]

* Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, trước năm 1987 chưa có số liệu điều tra cơ bản về NTT

Số lượng NTT do hậu quả của chiến tranh, tai nạn giao thông, tai nạn nghề

Trang 23

nghiệp, bệnh dịch khá cao; số trẻ em sinh ra bị tàn tật do chất độc màu da cam, do bệnh dịch, do môi trường sống cũng ngày càng tăng lên Tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu nào trong phạm vi cả nước xác định mô hình tàn tật nên chưa có số liệu chính thức về NTT Theo số liệu của ngành LĐ -TB -

XH, ước tính cả nước có khoảng 6,7 triệu NTT chiếm khoảng 6,3% dân số [10] Ước tính khoảng 80% người tàn tật sống tại cộng đồng không có cơ hội

tiếp cận các dịch vụ PHCN [33], [76]

Nghiên cứu về tàn tật tại Việt Nam được khởi động từ những năm của thập kỷ 80, được tiến hành bởi nhiều cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, cá nhân với các mục đích nghiên cứu khác nhau, trên các đối tượng khác nhau và với các thiết kế nghiên cứu khác nhau Các nghiên cứu được thực hiện tại nhiều địa điểm khác nhau Do đó, các số liệu về thực trạng tàn tật tại Việt Nam rất phong phú, đa dạng nhưng không dễ so sánh

Nghiên cứu của Bộ LĐ - TB - XH với sự hỗ trợ kinh phí của một số tổ chức nước ngoài năm 1983 trên 1,5 triệu NTT Năm 1994 - 1995 thực hiện điều tra tàn tật nặng trên 29% dân số trong cả nước với sự trợ giúp của Tổ chức Lao động thế giới (ILO); Bộ Y tế đã nghiên cứu thông qua việc triển

khai chương trình PHCNDVCĐ; Bộ Giáo dục và Đào tạo/ Viện Giáo dục và

Đào tạo phối hợp với Bộ Y tế hoặc các tổ chức phi chính phủ khác thực hiện một số nghiên cứu điều tra tàn tật ở trẻ em; các tổ chức phi chính phủ (Non Government Organization) có đóng góp lớn không những trong các nghiên cứu về tàn tật tại Việt Nam mà còn thực hiện hiệu quả các chương trình giúp NTT hoà nhập cộng đồng như chương trình PHCN dựa vào cộng đồng, hướng nghiệp và công ăn việc làm, giáo dục hoà nhập hoặc giáo dục đặc biệt…: Tổ chức Tầm nhìn thế giới (World Vision), Tổ chức ỷ ban quốc tế Chữ thập đỏ (International Commitee of Red Cross), Tổ chức Hỗ trợ và Phát triển (Catholic Relief Service-CRS), Tổ chức Pearl S Buck International [65]

Trang 24

Lồng ghép trong hoạt động của chương trình PHCNDVCĐ, một số tác giả đã nghiên cứu về tàn tật tại cộng đồng như: Vũ Quang Quyết nghiên cứu dịch tễ học về tàn tật tại Hà Nội năm 1996 [69] Đặng Đức Định - Hoàng Văn Vượng điều tra tình hình người tàn tật của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc [29] Cao Minh Châu, Nguyễn Xuân Nghiên, Trần Văn Chương (1993)

đã nhận xét tình hình tàn tật ở một huyện đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn

1993 - 2002 [25] Nguyễn Thị Minh Thuỷ nghiên cứu tình hình tàn tật tại Hà Tây [76] Trần Thị Thu Hà nghiên cứu bại não tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Và nghiên cứu về hoạt động PHCNDVCĐ tại Việt Nam từ năm 1987 đến

2004 của Trần Trọng Hải và cộng sự [33]

Hiện tại, có rất nhiều con số về tỷ lệ NTT ở Việt Nam từ những năm của thập kỷ 80 trở lại đây và các con số này cũng chỉ ra rằng tỷ lệ tàn tật có xu hướng tăng Theo Bộ LĐ - TB - XH, năm 1996 số NTT nặng là 1.295.700, năm 1999 là 1.305.000 [12] Theo báo cáo kết quả tóm tắt khảo sát mức sống

hộ gia đình năm 2006 của Tổng cục Thống kê về tỷ lệ tàn tật theo phương pháp đánh giá chức năng dựa trên Bảng phân loại chức năng (IC ) của WHO,

tỷ lệ NTT chung cả nước theo phương pháp này là 15,3% Như vậy, cứ bảy người dân Việt Nam có một người là NTT Vùng có tỷ lệ tàn tật cao nhất là Đông Nam Bộ, thấp nhất là Tây Bắc Tỷ lệ NTT khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (17,8% so với 14,4%) Tỷ lệ NTT nữ cao hơn nam (16,6%

so với 13,7%) là do nhóm dân số nữ cao tuổi chiếm tỷ trọng cao hơn nhiều so với nhóm dân số cao tuổi là nam giới Tỷ lệ về các nhóm tàn tật cũng có nhiều nguồn khác nhau như theo Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thì tàn tật về nhìn có 3,9 triệu lượt người (chiếm 33%); tàn tật về nghe có 2,5 triệu lượt người (chiếm 20%); tàn tật về vận động có 2,9 triệu người (chiếm 24%); tàn tật về ghi nhớ có 2,8 triệu người (chiếm 23%) [8]

Theo báo cáo thường niên năm 2010 của Ban Điều phối các hoạt động

hỗ trợ NTT Việt Nam, gần 8% hộ gia đình ở Việt Nam có NTT, bình quân

Trang 25

một hộ gia đình NTT có 1,12 NTT Kết quả điều tra mẫu cho thấy, trên 80%

hộ gia đình có NTT đang gặp phải khó khăn trong việc khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho NTT, hơn một nửa hộ gia đình (51,2%) gặp khó khăn trong việc chăm sóc, hỗ trợ NTT trong sinh hoạt hàng ngày và gần 55% hộ gia đình gặp khó khăn về việc làm và vốn sản xuất kinh doanh tạo việc làm cho NTT [3]

Nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của gia đình NTT trong PHCN dựa vào cộng đồng tại tỉnh Hải Dương năm 2007 cho thấy tỷ lệ tàn tật tại đây là 6,1% trong đó tỷ lệ NTT có nhu cầu PHCN là 1,9% Nhóm khó khăn vận động chiếm tỷ lệ cao nhất (34,5% số NTT) và đa tàn tật chiếm 14,5% Người tàn tật từ 7 - 98 tuổi, trong đó hầu hết là người lớn tàn tật (91,3%) và tỷ lệ NTT là nam giới chiếm 57,6% cao hơn nữ là 42,4% [62]

Năm 2008, tại Hà Nội, theo báo cáo thống kê của Sở Y tế [71], tỷ lệ mắc tàn tật là 5,7% Tại quận Hoàng Mai, nghiên cứu thực trạng năm 2005 cho thấy tỷ lệ mắc tàn tật tại quận là 9,5%; tỷ lệ hiện mắc ở nhóm tuổi từ 16 trở lên chiếm 91% tổng số NTT; tỷ lệ NTT có nhu cầu PHCN là 17,0% [58]

Các vấn đề xã hội của NTT được nhắc đến trong một số nghiên cứu như tình trạng kinh tế (phụ thuộc hay không), thu nhập, mối quan hệ xã hội, nghề nghiệp, trình độ văn hoá…Kết quả cho thấy tỷ lệ thất học ở NTT cao hơn hẳn so với người cùng tuổi mặc dù dạng tật không ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của họ, số NTT tham gia lao động thấp và tỉ lệ NTT có gia đình riêng không nhỏ (trên 50%) [69] Những NTT thường có một điểm chung: cuộc sống của họ rất khó khăn, họ luôn phải lệ thuộc vào gia đình, cộng đồng và xã hội [35]

1.1.2 Tình hình phục hồi chức năng của người tàn tật

1.1.2.1 Nhu cầu phục hồi chức năng

* Phục hồi chức năng

Trong xã hội phát triển, quan niệm về chăm sóc sức khoẻ con người

Trang 26

toàn diện phải bao gồm 4 yếu tố: nâng cao sức khoẻ (Promotion), phòng bệnh (Prevention), điều trị (Treatment) và phục hồi chức năng (Rehabilitation)

Có ba bước phòng ngừa tác động vào ba giai đoạn của quá trình tàn tật nhằm góp phần làm giảm bớt tỷ lệ người tàn tật:

Phòng ngừa bước 1: bao gồm các biện pháp để ngăn ngừa từ trạng thái

bệnh lý không chuyển thành khiếm khuyết

Phòng ngừa bước 2: gồm các biện pháp để ngăn ngừa tình trạng khiếm

khuyết không trở thành giảm khả năng

Phòng ngừa bước 3: các biện pháp để ngăn ngừa giảm khả năng không

trở thành tàn tật và hậu quả của tàn tật Đó chính là PHCN, thể dục, dụng cụ trợ giúp, giáo dục hướng nghiệp và giải quyết công ăn việc làm có thu nhập

Năm 1993, WHO đã định nghĩa: PHCN bao gồm các biện pháp y học, kinh tế xã hội học, giáo dục và k thuật phục hồi làm giảm tối đa tác động của giảm chức năng và tàn tật; đảm bảo cho NTT hội nhập hoặc tái hội nhập xã hội, có những cơ hội bình đẳng tham gia vào các hoạt động xã hội PHCN còn bao gồm các biện pháp luyện tập thay đổi môi trường xã hội [31]

Như vậy mục đích của PHCN chính là nhằm tăng cường khả năng còn lại của cá thể để giảm hậu quả của tàn tật Tác động làm thay đổi một cách tích cực suy nghĩ và thái độ của xã hội tạo nên sự chấp nhận của xã hội đối với NTT như một thành viên bình đẳng của xã hội Đây là một phương pháp tác động tích cực đối với NTT giúp họ các phương tiện và k năng hoà nhập

và tái hoà nhập xã hội [31], [43], [48], [61]

* Các hình thức phục hồi chức năng

Ngày nay ở Việt Nam và cũng như nhiều nước đang phát triển, PHCN vẫn tồn tại dưới 3 hình thức:

- PHCN dựa vào các viện, trung tâm: đây là hình thức PHCN có lâu

nhất Lợi ích của nó là người bệnh được hưởng k thuật, phương tiện PHCN toàn diện, hiện đại tại các bệnh viện, trung tâm PHCN, nhưng số người tàn tật

Trang 27

được PHCN theo hình thức này không nhiều, chỉ 1% - 5% người tàn tật được hưởng dịch vụ y tế do các cản trở về kinh phí và tâm lý

- PHCN ngoại viện: các cán bộ của trung tâm, viện đi xuống cộng đồng

để thực hiện việc PHCN cho người tàn tật Phương pháp này giúp cho người bệnh được tiếp cận với chất lượng PHCN tương đối tốt, số lượng các đối tượng được hưởng PHCN nhiều hơn 5% - 15% nhưng không được thường

xuyên và cũng có khó khăn về kinh phí

- PHCN dựa vào cộng đồng: là hình thức được WHO khuyến cáo từ

năm 1978 do lợi ích thiết thực của nó như: kinh phí thấp, số lượng NTT tham gia nhiều, người bệnh và cộng đồng tham gia tích cực và vì vậy họ dễ dàng hoà nhập xã hội hơn Tỷ lệ người được PHCN cao nhất vì số NTT được phục hồi khoảng 75% - 80% [17], [40], [61]

* Nhu cầu phục hồi chức năng

Nhu cầu PHCN là những nhu cầu cơ bản và chung nhất cho mọi người tàn tật, nhằm cải thiện tình trạng tàn tật, giúp họ có thể tự thực hiện vai trò của mình để tồn tại trong cộng đồng như những người khác cùng tuổi, giới tính, hoàn cảnh [20], [33]

Các nhu cầu cơ bản của NTT: đánh giá nhu cầu của NTT do Tổ chức Y

tế Thế giới đưa ra thông qua các nhu cầu cơ bản thiết yếu nhất Đó là nhu cầu trong vận động di chuyển, nhu cầu trong ngôn ngữ và giao tiếp, nhu cầu trong sinh hoạt hàng ngày và nhu cầu trong hòa nhập xã hội

Nếu NTT không thể tự làm được tất cả các hoạt động đó họ cần được huấn luyện, hay nói một cách khác người tàn tật đó có nhu cầu PHCN

Mục tiêu của PHCN dựa vào cộng đồng là giúp cho người tàn tật hòa nhập xã hội, nghĩa là khuyến khích họ tham gia tối đa vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Mục tiêu này đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của con người được Maslow đưa ra 5 mức độ từ thấp đến cao như sau: (1) nhu cầu về sinh lý, tồn tại, (2) nhu cầu an toàn, (3) nhu cầu xã hội, (4) nhu cầu được tôn

Trang 28

trọng và quan tâm của xã hội, (5) nhu cầu về khả năng nhận thức của bản thân, PHCN tại viện, các trung tâm chỉ đáp ứng được các nhu cầu 1, 2 PHCN dựa vào cộng đồng đáp ứng đầy đủ 5 nhu cầu cơ bản của con người [40]

Dựa trên cơ sở 5 mức độ nhu cầu cơ bản của con người đã được Maslow khái quát, qua nghiên cứu nhiều năm, ở nhiều nước trên thế giới và

cụ thể ở Việt Nam, năm 1988, Trần Trọng Hải và Parmani Mendis đã đưa ra

23 nhu cầu nhằm xác định nhu cầu phục hồi chức năng của người tàn tật [31]

Trong chương trình PHCNDVCĐ có sử dụng khái niệm NTT có nhu cầu PHCN và NTT không có nhu cầu PHCN dựa vào đánh giá 23 nhu cầu của

người tàn tật với kết quả cho điểm theo 3 mức độ [40], [43] ( Phụ lục 2)

0: tự thực hiện được hoạt động không cần sự hỗ trợ

1: có thể thực hiện được hoạt động với sự hỗ trợ

2: không thể thực hiện được hoạt động

Người tàn tật không có nhu cầu PHCN: là người tàn tật có tất cả 23 nhu cầu được đánh giá với kết quả ở mức độ 0

Người tàn tật có nhu cầu PHCN: là người tàn tật có từ 1 đến 23 nhu cầu cần được đánh giá với kết quả ở mức độ 1 hoặc 2

1.1.2.2 Nhu cầu phục hồi chức năng của người tàn tật trên thế giới và Việt Nam

* Trên thế giới

Một số nước đang phát triển hầu như không có PHCN Một số nước khác PHCN dựa vào bệnh viện chỉ phục vụ cho một số ít NTT Đây là hình thức PHCN thụ động, NTT sống trong các bệnh viện không có cơ hội tham gia vào các chương trình PHCN chủ động Ước tính có khoảng 2% - 3% NTT cần phải được PHCN [110] Tuy nhiên, ngày nay phục vụ y tế và các hoạt động cộng đồng ở các nước phát triển được cải thiện, tỷ lệ sống của NTT tăng lên (tăng tuổi thọ), vì vậy, tuy mong muốn giảm tỷ lệ NTT, nhưng thực tế tỷ

lệ NTT tăng lên[105], [140]

Trang 29

* Tại Việt Nam

Các nghiên cứu đánh giá nhu cầu PHCN hầu hết nằm trong chương trình nghiên cứu triển khai PHCNDVCĐ [19], [69], một số ít nghiên cứu điều tra nhu cầu PHCN riêng biệt như nhu cầu về phẫu thuật chỉnh hình, chân tay giả (nghiên cứu của Bộ LĐ - TB - XH năm 1994, Tổ chức Quốc tế người tàn tật, …)

- Nhu cầu phục hồi chức năng chung

Điều tra lượng giá nhu cầu PHCN của người tàn tật tại Việt Nam cho thấy khoảng 38,5% trong tổng số người bị tàn tật [9] Theo Vũ Quang Quyết

1996, nhu cầu PHCN cho NTT tại Hà Nội ước tính là 23,9% [69] Tỷ lệ NTT

có nhu cầu PHCN tại Bình Lục, Hà Nam (26,4%) [49], Hà Tây (40%) [76], Quảng Trị (36%) [2], Lê Chân, Đà Nẵng (22%) [83], Vĩnh Phúc (25,5%) [56]

và Hải Dương năm 2007 là 1,9% [62] Nhu cầu PHCN rất phong phú bao gồm nhu cầu về các dụng cụ hỗ trợ (nẹp, xe lăn…), về tập vận động, phẫu thuật chỉnh hình, chân tay giả, hỗ trợ trẻ đi học, việc làm [132], [139] Xác định tốt nhu cầu PHCN là bước quan trọng giúp cho việc chuẩn bị và thực hiện PHCN tại cộng đồng mang lại hiệu quả thiết thực cho NTT

Theo điều tra y tế Quốc gia năm 2001 - 2002, NTT có nhu cầu cần PHCN gần 40% [13], một nghiên cứu về NTT ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng cho thấy, tỷ lệ NTT có nhu cầu PHCN là 47,2% [19] Khoảng 30,2% NTT cần các phương tiện trợ giúp và 13,4% NTT cần được giúp đỡ sinh hoạt hàng ngày [13] NTT nặng đến mức không thể tự ăn uống hoặc đi vệ sinh được chiếm khoảng 13% NTT Người tàn tật ở thành thị và nông thôn cần phương tiện trợ giúp để khắc phục tàn tật chiếm khoảng 30%, tuy nhiên, tỷ lệ các phương tiện đã được trợ giúp cho NTT ở thành thị (39,7%) cao hơn ở nông thôn (19,6%)

- Nhu cầu PHCN theo từng dạng tật

Theo báo cáo của 46 tỉnh đã triển khai chương trình PHCN dựa vào

Trang 30

cộng đồng, tỷ lệ người tàn tật có nhu cầu PHCN chiếm 38,5% tổng số NTT Trong đó, khó khăn về vận động chiếm vị trí hàng đầu (36,6% đến 46,6%); khó khăn về nhìn (17,8%); tiếp theo là khó khăn về nghe, nói (15,4% đến 22%) Nhóm hành vi xa lạ và động kinh chiếm tỷ lệ thấp [33] Nhìn chung tỷ lệ NTT có nhu cầu PHCN trong các nghiên cứu đã công bố vào khoảng 1,6% - 2,1% dân số [43], [44] Trong đó nhóm NTT có khó khăn về vận động chiếm

tỷ lệ cao nhất (28,3% - 36%) và nhóm bị mất cảm giác là thấp nhất (0,3% - 1,9%) trong những nhóm tàn tật có nhu cầu PHCN [33], [69], [76]

- Nhu cầu phục hồi chức năng theo nhóm tuổi

Theo điều tra y tế Quốc gia năm 2001 - 2002, số trẻ em tàn tật trong độ tuổi từ 0 - 4 tuổi có nhu cầu cần được PHCN chiếm cao nhất, cụ thể: số trẻ có nhu cầu các phương tiện trợ giúp là 40,6%, cần được giúp đỡ sinh hoạt hàng ngày chiếm 51,4% NTT từ 60 tuổi trở lên, có nhu cầu trợ giúp hàng ngày là 20,4% và cần các phương tiện trợ giúp 36,5% NTT có nhu cầu học thêm về kiến thức và các k năng là 88,1% Người tàn tật trong độ tuổi lao động, không đi làm trong 12 tháng trước điều tra là 34,8% [13] Nghiên cứu tại Lương Sơn, Hòa Bình, trẻ em tàn tật có nhu cầu PHCN là 64,3% [45]; ở Thái Bình cho thấy, trẻ em tàn tật có nhu cầu đi học chiếm tỷ lệ cao (59,3%) [73]

- Các nhu cầu khác của người tàn tật

Trẻ em tàn tật có nhu cầu hội nhập xã hội chiếm tỷ lệ cao (66,7%), tiếp theo là nhu cầu về giao tiếp (40,7%) và nhu cầu vận động (29%) [73] Theo kết quả nghiên cứu về tình trạng tàn tật bẩm sinh của con các cựu chiến binh tại tỉnh Thái Bình, trẻ em tàn tật có nhu cầu cao nhất là hội nhập xã hội (74%), sau đến là nhu cầu về giao tiếp (69,7%), nhu cầu về vận động (41,5%)

và nhu cầu về sinh hoạt (31,6%) [79]

Nghiên cứu nhu cầu chăm sóc trẻ tàn tật vận động tại nhà trên địa bàn huyện Gia Lâm có 96,77% trẻ có nhu cầu về chăm sóc y tế, 62,1% có nhu cầu

về vận động, di chuyển [84] Theo kết quả nghiên cứu về nhu cầu trợ giúp tại

Trang 31

huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương thì tỷ lệ NTT cần trợ giúp là 22,3%, trong đó 9,8% cần động viên tinh thần là chính, 5% cần trợ giúp trong các sinh hoạt hàng ngày [77] Ở Lương Sơn, Hòa Bình thì phân bố nhu cầu trong sinh hoạt hàng ngày như sau: nhu cầu tự vệ sinh của trẻ chiếm cao nhất (76,5%), tiếp đến là nhu cầu tự đi đại, tiểu tiện (73,5%), nhu cầu tự thay quần áo chiếm 64,7% [45] Nhu cầu hòa nhập xã hội là một nhu cầu thực sự cần thiết cho NTT Đa số NTT đều có trí tuệ phát triển bình thường vì vậy việc đưa NTT đến trường chỉ phụ thuộc một phần nhỏ vào dạng tật và mức độ tật của NTT, chủ yếu phụ thuộc vào sự hiểu biết và quan tâm của gia đình, cộng đồng Theo đánh giá của Nguyễn Thị Minh Thủy nghiên cứu sau 4 năm tại 8 xã ở

Hà Tây cũ cho thấy: có đến 70% NTT có kết quả hòa nhập cộng đồng và tiến triển tốt, không tiến triển chỉ chiếm 9,2% [75]

1.1.3 Tình hình chăm sóc sức khỏe người tàn tật

1.1.3.1 Các vấn đề sức khoẻ của người tàn tật

Sức khỏe không tốt có thể dẫn đến tàn tật và ngược lại tàn tật có thể gây ra nhiều vấn đề sức khỏe Tình trạng sức khoẻ của NTT bao gồm: sức khoẻ tâm thần và trầm cảm, mệt mỏi, các vấn đề về ruột và bàng quang, tai nạn thương tích, thừa cân béo phì, tiểu đường, tim mạch, đau, co cứng, co rút, loét do đè ép, viêm khớp, cứng khớp, bệnh đường hô hấp [48], [61] Báo cáo sức khoẻ của NTT tại Úc trong 2 năm (2007 - 2008) thì những người bị tàn tật nặng dưới 65 tuổi thường mắc các loại bệnh là viêm khớp, bệnh tim, bệnh hô hấp, đau lưng, cổ, đau đầu, tiểu đường

Mất khả năng kiểm soát bàng quang và đường ruột

Thường gặp ở hầu hết bệnh nhân tổn thương tuỷ sống hoặc thoát vị tuỷ sống Sự mất kiểm soát này có thể gây nên bất tiện, lúng túng và những khó khăn về mặt tâm lý xã hội Hơn nữa nó còn gây nên những bệnh ngoài da, nhiễm trùng hệ thống tiết niệu và là một trong những nguyên nhân chính gây

tử vong ở người bị tổn thương tuỷ sống hoặc thoát vị tuỷ [133]

Trang 32

Dấu hiệu đau

Là một cảm giác khó chịu, xuất hiện cùng lúc với sự tổn thương của các mô tế bào, là dấu hiệu của bệnh tật và phải tìm ra nguyên nhân để chữa

[112] Có nhiều giả thuyết cho rằng những NTT đau nhiều hơn với mức độ

lớn hơn những người không tàn tật, tuy nhiên, dữ liệu hỗ trợ cho giả thuyết này chưa được hệ thống, kiểm tra và tổng kết [133]

Đau ở người bị tổn thương tuỷ sống thường chiếm tỷ lệ từ 11% - 96% Đau ở người đoạn chi: tỷ lệ đau rất khác nhau, 49% đến 85% người lớn và 38% đến 49% trẻ em Đau lưng ở người trưởng thành từ 52% đến 71% Đau ở người bại não: tỷ lệ đau là 66% đến 94% ở người lớn Nguyên nhân gây đau

do co cứng dẫn đến biến dạng xương, co rút, co cứng cổ, vẹo cột sống; sử dụng xe lăn, bán trật khớp háng, trào ngược dạ dày - thực quản [133]

Trầm cảm

Trầm cảm ảnh hưởng đến hơn 17 triệu người M mỗi năm Những triệu chứng về trầm cảm ở NTT cao gấp 2 - 10 lần ở những người không tàn tật [99] Gần một nửa (48%) của những người độ tuổi dưới 65 tuổi mắc tàn tật nặng có vấn đề sức khỏe tâm thần, so với 6% của những người không có tàn tật [92] Tỷ lệ phụ nữ có tàn tật vận động bị trầm cảm cao hơn 6 lần so với những phụ nữ không bị tàn tật vận động bị trầm cảm (51,0% so với 8,5%) [95]

Tỷ lệ động kinh khoảng từ 20% đến 30% trong số những NTT trí tuệ [96]

Thừa cân và béo phì

NTT có thể gặp khó khăn hơn trong việc cân đối ăn uống, kiểm soát trọng lượng và vận động cơ thể của họ Điều này có thể do chế độ dinh dưỡng không hợp lý, thuốc có thể thay đổi sự thèm ăn, gặp khó khăn với nhai hoặc nuốt thức ăn, tàn tật về vận động làm hạn chế luyện tập thể chất, thiếu môi

trường luyện tập thể chất, thiếu nguồn lực [129]

Theo thống kê tại bang Massachuses của M thì cứ một trong ba thanh niên tàn tật ở trung học thì có một thanh niên có nguy cơ bị béo phì; tỷ lệ

Trang 33

người lớn tàn tật bị béo phì cao gấp 2 lần tỷ lệ người lớn không có tàn tật bị béo phì (35,6%, 18,7%) [138] Phụ nữ tàn tật có nguy cơ bị béo phì và bệnh tim mạch cao hơn những phụ nữ không tàn tật [95] Theo một nghiên cứu của

Úc thì những NTT nặng bị thừa cân hoặc béo phì tuổi từ 35 - 64 có tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và bệnh tiểu đường (9%) cao hơn những người cùng tuổi không bị tàn tật (1%) [92] Khi nghiên cứu 443 phụ nữ tàn tật thể chất, Nosek

đã cho thấy có đến 56,2% có tăng huyết áp và tỷ lệ phụ nữ có tàn tật có tăng huyết áp cao gần gấp hai lần những phụ nữ không bị tàn tật có tăng huyết áp (56,2%, 21,4%) [122]

Theo Bản tin 83, tháng mười một năm 2010 về sức khỏe của người dân

Úc với tình trạng khuyết tật: những người tàn tật có tỷ lệ bị béo phì cao hơn (31,2%) so với những người không có tàn tật (19,6%), tỷ lệ NTT không hoạt động thể chất (22,4%) cao hơn những người không có tàn tật (11,9%) [96]

Tiểu đường

Tỷ lệ những NTT bị bệnh đái tháo đường cao hơn đáng kể so với những người không tàn tật Theo số liệu thống kê trong kế hoạch nhằm thúc đẩy tình trạng sức khoẻ của NTT thì tỷ lệ những NTT bị bệnh đái tháo đường

là 12,1% so với 4,3% của những người không có tàn tật [138] Theo Trung tâm nghiên cứu phụ nữ tàn tật của M , tỷ lệ phụ nữ có tàn tật vận động bị bệnh đái tháo đường cao hơn 5 lần so với tỷ lệ phụ nữ không có tàn tật vận động bị đái tháo đường (36,3%, 7,1%) [95] Tại Úc, khi so sánh tỷ lệ giữa những người có tàn tật nặng và những người không có tàn tật cho thấy tỷ lệ người bị đái tháo đường hoặc lượng đường trong máu cao trước tuổi 25 cao gấp 3 lần (23% so với 7%) [92]

Loét- còn gọi là lở loét giường, vết loét do đè ép

Loét do đè ép còn gọi là loét giường là loét trên các vùng xương do người bệnh nằm hoặc ngồi quá lâu không vận động Những người có tàn tật

Trang 34

đang nằm liệt giường hoặc sử dụng xe lăn hoặc bị mất cảm giác có nguy cơ lở loét áp lực phát triển

Teo cơ

Là hiện tượng bắp cơ bị teo nhỏ về thể tích do bất động lâu ngày hoặc

do tổn thương thần kinh chi phối Teo cơ do tổn thương thần kinh chi phối gặp trong các trường hợp: liệt do chấn thương, do viêm đa dây thần kinh hoặc

do một số bệnh chuyển hoá như đái tháo đường, thiếu vitamin B teo cơ khi

ấy thường nặng nề, hồi phục kém Điều trị bằng thuốc kết hợp với bài tập theo tầm vận động khớp, tập mạnh cơ và dụng cụ trợ giúp hoặc chỉnh hình

Co cứng cơ

Là hiện tượng cơ bị co cứng khi nghỉ ngơi Co cứng cơ thường gặp trong một số bệnh như: tai biến mạch máu não, liệt tuỷ sống và nhiều bệnh khác Các cơ co cứng gây hạn chế cử động của khớp, lâu ngày có thể dẫn tới

co rút cơ và cứng khớp Khi cơ bị co cứng cần duy trì bài tập theo tầm vận động khớp để ngăn ngừa cứng khớp Ngoài ra cần sử dụng dụng cụ chỉnh hình để duy trì tư thế đúng càng lâu càng tốt

Co rút cơ

Là tình trạng cơ và mô mềm bị co ngắn lại Ở những bệnh nhân liệt mềm, đau khớp hay liệt cứng gây nên mất cân bằng cơ lực thì co rút sẽ dễ phát triển Co rút làm cho khớp không thể cử động hết tầm được Co rút cơ làm cho việc PHCN trở lên khó khăn hơn

Một số vấn đề sức khỏe khác của người tàn tật

Khi so sánh tỷ lệ bị chấn thương trước tuổi 25 giữa NTT và người

Trang 35

không bị tàn tật thì tỷ lệ NTT bị một chấn thương trước tuổi 25 năm cao hơn những người không có tàn tật (69%, 63%) [92] Tỷ lệ NTT bị viêm khớp trước tuổi 25 là 14% so với 6% ở người không có tàn tật [92] Tỷ lệ NTT bị loãng xương trước tuổi 45 là 43% và người không có tàn tật là 31% [92] Tỷ

lệ phụ nữ tàn tật bị loãng xương cao gấp 5 lần so với phụ nữ không tàn tật (25,5%, 5,3%) [95] Theo điều tra y tế quốc gia của Úc thì có 20% NTT trưởng thành mắc bệnh hen suyễn trong khi đó chỉ có 7,8% những người không có tàn tật mắc bệnh hen suyễn [92]

Tại Việt Nam, NTT được quan tâm hỗ trợ qua nhiều hình thức, trong

đó có chăm sóc y tế, phục hồi chức năng Đã có nhiều nghiên cứu về tình hình tàn tật, phục hồi chức năng ở các địa bàn khác nhau trong cả nước Tuy nhiên, việc nghiên cứu để xác định cụ thể mối liên quan giữa bệnh tật và NTT còn hạn chế nên chưa có số liệu thống kê chính thức về sức khỏe của NTT

1.1.3.2 Tình hình chăm sóc sức khoẻ của người tàn tật trên thế giới và Việt Nam

* Trên thế giới

Với hệ thống CSSK của Hoa Kỳ thì nhiều người M có thể dễ dàng tiếp cận dịch vụ CSSK Tuy nhiên, không phải tất cả những người M đều có thể tiếp cận với chăm sóc y tế chất lượng cao, và có quá nhiều người M tàn tật không được tiếp cận đầy đủ hoặc không được CSSK Có đến 28% số NTT tham gia bảo hiểm có nhu cầu đặc biệt nhưng không được bảo hiểm chi trả

và 56% người M tàn tật nói rằng họ không nhận được hoạt động thể chất nào [127], [138]

Việc CSSK phụ nữ tàn tật đôi khi chỉ tập trung vào các vấn đề liên quan đến tàn tật của người phụ nữ, do đó bỏ qua việc khám và tư vấn cho các vấn đề sức khỏe khác Phụ nữ tàn tật ít có khả năng được khám vú và chụp X quang tuyến vú hơn phụ nữ không có tàn tật, ít có khả năng được sàng lọc bệnh lây truyền qua đường tình dục và ít có khả năng được tư vấn sức khỏe mang thai Lý do là vì thiếu hỗ trợ chăm sóc cá nhân, khó khăn để tiếp cận

Trang 36

phòng khám, bị giới hạn bởi các nhà cung cấp do thiếu bảo hiểm y tế

Trong nghiên cứu về mức độ tiếp cận và hài lòng với các dịch vụ CSSK ban đầu cho NTT sống ở vùng đô thị lớn nhất của Canada - khu vực Toronto cho thấy 17,4% cho biết gặp khó khăn khi tiếp cận dịch vụ BSGĐ và 8,0% cho biết họ bị từ chối điều trị y tế vì tàn tật của mình 19,4% thấy họ đã nhận được dịch vụ CSSK ban đầu không đầy đủ và 21,9% cảm thấy rằng nguyên nhân làm họ nhận được dịch vụ CSSK ban đầu không phù hợp là do tình trạng tàn tật của họ [94]

Một kết quả quan trọng của nghiên cứu này là nhiều bệnh nhân cảm thấy rằng BSGĐ của họ thiếu kiến thức về tàn tật và các dịch vụ có sẵn cho NTT Thật vậy, khi được hỏi lý do tại sao họ cảm thấy nhu cầu CSSK ban đầu chưa được đáp ứng, nhiều người trả lời rằng BSGĐ của họ thiếu sự đào tạo về tàn tật mà họ mắc phải Trong trường học về y tế, sinh viên được dạy rất ít về tàn tật hay cách xử lý những vấn đề mà NTT gặp phải Những người tham gia trong nghiên cứu này cho rằng chủ đề này nên được bao phủ rộng rãi hơn trong các chương trình đào tạo tại các trường y tế và BSGĐ của họ sẽ được hưởng lợi từ việc được tiếp tục đào tạo những vấn đề liên quan đến tàn tật Cũng trong nghiên cứu này để đánh giá sự hài lòng với những khía cạnh khác nhau của CSSK cho người tàn tật, những người tham gia được yêu cầu xếp hạng theo cảm nhận của họ đối với BSGĐ là rất hài lòng, một chút hài lòng, không có ý kiến, một chút không hài lòng, hoặc rất không hài lòng Kết quả

như sau: 82,1% người được hỏi đều rất hay phần nào hài lòng với dịch vụ y

tế do BSGĐ của họ cung cấp, 57,2% là rất hay phần nào hài lòng với thông tin liên quan đến tàn tật của mình được đưa ra bởi BSGĐ, 42,3% là rất hay phần nào hài lòng với thông tin về các dịch vụ cho người tàn tật [94]

* Tại Việt Nam

Theo báo cáo đánh giá các chương trình hỗ trợ cho NTT tại Đà Nẵng của Tổ chức Phát triển Quốc tế Hoa kỳ ( SAID), các dịch vụ sức khỏe cho

Trang 37

NTT hiện không được lồng ghép và NTT phải đến các cơ sở y tế thường xuyên để điều trị cho các vấn đề sức khỏe khác nhau, trong đó đi lại là một trong những khó khăn chính; hệ thống chuyển tuyến yếu kém và thiếu thông tin, sử dụng và thu thập thông tin hệ thống về sức khỏe của NTT cũng yếu kém Nhiều chương trình phát hiện sớm được thử nghiệm nhưng vẫn chưa có chính sách một cách hệ thống về phát hiện sớm và can thiệp sớm; nguồn lực tại các cơ sở y tế hạn chế mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc cải thiện cơ

sở vật chất và đào tạo cán bộ; NTT, mặc dù đã có bảo hiểm y tế, vẫn phải đương đầu với các khó khăn và rào cản trong tiếp cận dịch vụ [142]

Theo báo cáo thường niên năm 2010 của Ban Điều phối các hoạt động

hỗ trợ NTT Việt Nam, khung chính sách CSSK cho người tàn tật hiện tương đối đầy đủ cả về phát triển hạ tầng cơ sở y tế xã hội cho đến những ưu tiên trợ giúp chăm sóc y tế đối với NTT [3] Một số chính sách quan trọng như: Chiến lược phục hồi chức năng tại cộng đồng; Luật Bảo hiểm y tế; Luật Khám bệnh, chữa bệnh được Quốc hội thông qua đã cơ bản đảm bảo cơ sở pháp lý để thực hiện công tác CSSK cho người tàn tật

Cho đến nay, các địa phương đã cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 100% NTT thuộc hộ gia đình nghèo, thực hiện chỉnh hình PHCN và cấp dụng cụ chỉnh hình miễn phí cho khoảng 300 ngàn NTT; cung cấp phương tiện trợ giúp như:

xe lăn, xe đẩy, chân tay giả cho trên 100 ngàn người; phẫu thuật chỉnh hình và trợ giúp PHCN cho hàng trăm ngàn trẻ em tàn tật Mạng lưới trạm y tế xã đã phát triển ở hầu hết các tỉnh, thành phố của cả nước, 98,6% xã, phường có trạm y tế xã và 67,7% xã, phường có bác s và gần 85% thôn bản có cán bộ y

tế cộng đồng, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh tối thiểu cho người dân và NTT Mạng lưới PHCN dựa vào cộng đồng đã được phát triển ở 51/63 tỉnh, thành phố với hơn 50% số huyện, trên 50% số xã Theo đánh giá của ỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội năm 2008 có 52,4% NTT đi khám bệnh, PHCN nhận được sự hỗ trợ về kinh phí (giảm viện phí) Báo cáo về tình

Trang 38

hình thực hiện Quyết định số 239/2006/QĐ -TTg ngày 24/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án trợ giúp NTT giai đoạn 2006 - 2010 cho thấy, công tác CSSK người tàn tật đang được quan tâm thích đáng, phấn đấu đạt được mục tiêu và các chỉ tiêu của Đề án, đảm bảo khoảng 70% NTT được tiếp cận với y tế; hơn 3.000 NTT vận động được phẫu thuật chỉnh hình, PHCN; hoàn thiện tiêu chuẩn phân loại, phân hạng tàn tật; tăng cường năng lực chuyên môn chuyên ngành PHCN cho đội ngũ cán bộ y tế, đặc biệt là tuyến cơ sở; phát triển dịch vụ phát hiện sớm - can thiệp sớm tàn tật ở trẻ em [11]

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tích nhất định, nhưng công tác CSSK cho người tàn tật vẫn còn nhiều hạn chế Kết quả điều tra đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về người tàn tật năm 2008 của Bộ LĐ - TB - XH cho thấy 58,3% NTT và 80% hộ gia đình có người tàn tật còn đang gặp phải khó khăn trong việc khám chữa bệnh, CSSK Mặc dù hầu hết các xã đã có trạm y tế nhưng chất lượng còn hạn chế, mới có 46% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; đội ngũ y, bác sĩ ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn thiếu, chất lượng còn thấp, các trang thiết bị phục vụ chuyên môn còn thô sơ, lạc hậu, không đảm bảo chất lượng Phần lớn hộ gia đình có người tàn tật có hoàn cảnh kinh tế khó khăn (32,5% thuộc diện nghèo) nên khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế bị hạn chế, đặc biệt là tiếp cận với dịch vụ y tế chất lượng cao do những chi phí ngoài điều trị vượt quá khả năng tài chính của người tàn tật và hộ gia đình có người tàn tật; bên cạnh đó những thủ tục, quy định đối với việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế khi chuyển tuyến còn phức tạp với đa số người tàn tật [12]

Một số khó khăn, thách thức trong công tác CSSK người tàn tật:

- Các mô hình PHCNDVCĐ mặc dù được triển khai ở Việt Nam từ năm 1987, nhưng cho đến nay chủ yếu thực hiện các hoạt động trong phạm vi của lĩnh vực y tế, sự tham gia của các ngành thuộc các lĩnh vực khác còn hạn chế Nguồn kinh phí chi cho chương trình này còn rất hạn chế, chủ yếu dựa

Trang 39

vào các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nên kết quả thực hiện chưa cao

- Chất lượng của mạng lưới y tế tuyến cơ sở còn thấp, các trạm y tế xã thiếu trang thiết bị, trang thiết bị lạc hậu, không đảm bảo cơ số thuốc, thiếu bác s , nhân viên y tế có chuyên môn về PHCN; chưa có chính sách ưu đãi cho cán bộ y tế làm công tác PHCN và chăm sóc sức khỏe cho người tàn tật

- Chưa có chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng người tàn tật nhẹ không hưởng chính sách bảo trợ xã hội

- Sử dụng thẻ bảo hiểm y tế còn nhiều bất cập, nhất là trong việc chuyển tuyến khám chữa bệnh, điều trị - PHCN, một số danh mục k thuật PHCN đang thực hiện tại các cơ sở y tế chưa được qu bảo hiểm y tế chi trả, phần lớn các dụng cụ trợ giúp cho NTT chưa được bảo hiểm y tế thanh toán [3]

Một báo cáo về thực trạng trẻ em tàn tật tại An Giang và Đồng Nai do NIC tài trợ cho thấy nhìn chung trẻ tàn tật trong địa bàn nghiên cứu không được chăm sóc đầy đủ về mặt y tế và PHCN, song lại được chăm sóc chu đáo hơn về mặt dinh dưỡng và vệ sinh bởi gia đình Rào cản chính hiện đang tồn tại trong việc CSSK và PHCN là: bố mẹ trẻ tàn tật thiếu kiến thức và

k năng phòng bệnh và PHCN cho trẻ; thiếu niềm tin về khả năng tiến triển của trẻ; khoảng cách đến cơ sở y tế xa và đặc biệt là nghèo đói là những trở ngại trực tiếp đến việc bố mẹ dành thời gian CSSK và PHCN cho trẻ tàn tật

Ngoài ra, chăm sóc y tế cho trẻ tàn tật còn có những rào cản từ hệ thống dịch vụ do thiếu dịch vụ dự phòng và chẩn đoán sớm tàn tật; thiếu hệ thống tư vấn sức khỏe hiệu quả ở các tuyến; đội ngũ cộng tác viên y tế thôn/ấp đông đảo song lại kiêm nhiệm quá nhiều việc từ các chương trình CSSK của quốc gia đến các chương trình của các ngành dọc liên quan khác Trong khi đó, dịch vụ PHCN (cả bệnh viện và cộng đồng) còn hạn chế về cơ sở vật chất, thiết bị, nhân lực Việc thực hiện các chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ tàn tật vẫn còn nhiều hạn chế Nhiều trẻ tàn tật lẽ ra được hưởng chế

Trang 40

độ bảo trợ và được bảo hiểm y tế miễn phí nhưng vẫn bị bỏ sót do hệ thống giám sát, phân định và kiểm tra trẻ tàn tật tại cấp xã chưa thực hiện tốt [72]

1.1.4 Nhu cầu về dịch vụ chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng của người tàn tật

1.1.4.1 Nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu

Đây là nhu cầu đầu tiên để bảo tồn được cuộc sống của NTT Điều này đòi hỏi cán bộ y tế phải phát hiện được nhu cầu sức khoẻ của mỗi NTT trong cộng đồng của mình để lập kế hoạch và thực hiện các đáp ứng điều trị Mặc

dù hầu hết các quyết định xuất phát từ phía y tế, nhưng rất cần sự hỗ trợ của thành viên gia đình và các cá nhân liên quan khác để cho sự hỗ trợ CSSK cho NTT được thực hiện có hiệu quả tối đa CSSK ban đầu bao gồm cả phát hiện sớm, điều trị sớm, chăm sóc phục hồi sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật

1.1.4.2 Nhu cầu chăm sóc các vấn đề sức khỏe cấp tính

Co giật và các chấn thương khác do người bệnh tự gây ra cũng như các cấp cứu khác cũng cần được tính đến trong chăm sóc cho NTT Thành viên gia đình cần được huấn luyện để phát hiện sớm các biến chứng của bệnh hoặc các trường hợp nguy kịch của bệnh để báo cho cán bộ hoặc cơ sở y tế Gia đình cũng được tư vấn về các dịch vụ cấp cứu để chuyển NTT điều trị

1.1.4.3 Nhu cầu được phục hồi chức năng

NTT có thể mắc một hoặc nhiều tật (đa tật) và khoảng 40% trong số họ

có nhu cầu về PHCN [13] Hầu hết các nhu cầu PHCN đều có thể thực hiện tại gia đình với sự hỗ trợ và giám sát của cán bộ y tế Nhu cầu cần được phục hồi có thể là vận động và di chuyển, lời nói và giao tiếp, k năng tự chăm sóc,

k năng sống độc lập, học tập và lao động

1.3.4.4 Nhu cầu dịch vụ tư vấn

Các rối loạn về da, bệnh tim, rối loạn hô hấp, chỉnh hình và các rối loạn khác rất phổ biến ở NTT Để chất lượng chăm sóc được duy trì ở mức cao nhất, NTT và gia đình cần được tư vấn thường xuyên, liên tục và trong bất cứ

Ngày đăng: 16/04/2014, 03:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Tổng cục thống kê (2011), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009. Cấu trúc tuổi giới và tình trạng hôn nhân của dân số Việt nam, Hà Nội 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009. Cấu trúc tuổi giới và tình trạng hôn nhân của dân số Việt nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Tổng cục thống kê
Năm: 2011
10. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2009), Báo cáo tổng kết tình hình thi hành Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản pháp luật liên quan, Số 62/BC-LĐTBXH, ngày 15 tháng 7 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình thi hành Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản pháp luật liên quan
Tác giả: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Năm: 2009
12. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2008), Đánh giá việc thực hiện Bộ Luật Lao động đối với lao động là người tàn tật và pháp lệnh về người tàn tật, http://brec.vn/Upload/Documents/Bao cao phap luat-Phu luc-nghi dinh81-thong tu 23.doc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá việc thực hiện Bộ Luật Lao động đối với lao động là người tàn tật và pháp lệnh về người tàn tật
Tác giả: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Năm: 2008
13. Bộ Y tế - Tổng cục Thống kê (2001-2002), Báo cáo kết quả điều tra y tế Quốc gia năm 2001-2002, Hà Nội, 2003, tr.7-254, tr. 934-947 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra y tế Quốc gia năm 2001-2002
14. Bộ Y tế (2001), Đánh giá hoạt động công tác phát triển chuyên ngành Phục hồi chức năng 1997-2001 và kế hoạch phát triển đến năm 2005, Bộ Y tế, Hà Nội, tr.9-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hoạt động công tác phát triển chuyên ngành Phục hồi chức năng 1997-2001 và kế hoạch phát triển đến năm 2005
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2001
15. Bộ Y tế (1996), Định hướng chiến lược công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân đến năm 2000 và 2020, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chiến lược công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân đến năm 2000 và 2020
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1996
16. Bộ Y tế (2010), Hướng dẫn cán bộ phục hồi chức năng và cộng tác viên về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn cán bộ phục hồi chức năng và cộng tác viên về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2010
17. Bộ Y tế (2008), Hướng dẫn quản lý và thực hiện phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quản lý và thực hiện phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2008
19. Cao Minh Châu, Nguyễn Xuân Nghiên, Trần Văn Chương (1999), “Bản đánh giá chương trình Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng ở 5 tỉnh do AIFO và EU tài trợ trong thời gian 3 năm từ 31/12/1996 đến 31/12/1999”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học số 6, Hội phục hồi chức năng Việt Nam, NXB y học, Hà Nội, tr.131-138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đánh giá chương trình Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng ở 5 tỉnh do AIFO và EU tài trợ trong thời gian 3 năm từ 31/12/1996 đến 31/12/1999
Tác giả: Cao Minh Châu, Nguyễn Xuân Nghiên, Trần Văn Chương
Nhà XB: Hội phục hồi chức năng Việt Nam
Năm: 1999
20. Cao Minh Châu, Nguyễn Xuân Nghiên, Trần Văn Chương (1992), “Kết quả bước đầu về PHCN dựa vào cộng đồng”, Kỷ yếu chương trình nghiên cứu khoa học BV Bạch Mai, tr.172-174 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu về PHCN dựa vào cộng đồng”," Kỷ yếu chương trình nghiên cứu khoa học BV Bạch Mai
Tác giả: Cao Minh Châu, Nguyễn Xuân Nghiên, Trần Văn Chương
Năm: 1992
21. Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Túy và CS (2003), Sàng lọc và can thiệp vẹo cột sống cấu trúc của học sinh tại địa bàn TP Hải Phòng, Trường Đại học Y Hải Phòng, Đề tài cấp Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sàng lọc và can thiệp vẹo cột sống cấu trúc của học sinh tại địa bàn TP Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Túy và CS
Năm: 2003
23. Trần Văn Chương (2004), “Mô hình tàn tật ở một huyện núi cao tỉnh Hòa Bình qua chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng”, Tạp chí y học thực hành, 7 (483), tr.52-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tàn tật ở một huyện núi cao tỉnh Hòa Bình qua chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng”, "Tạp chí y học thực hành
Tác giả: Trần Văn Chương
Năm: 2004
24. Trần Văn Chương, Nguyễn Xuân Nghiên (1999), “Kết quả phục hồi chức năng tại nhà của người bệnh liệt nửa người trong chương trình Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội PHCN Việt Nam, tr.177-182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả phục hồi chức năng tại nhà của người bệnh liệt nửa người trong chương trình Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng”", Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội PHCN Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Chương, Nguyễn Xuân Nghiên
Năm: 1999
25. Trần Văn Chương, Cao Minh Châu và CS (1993), “Nhận xét tình hình người tàn tật ở 1 huyện đồng bằng Bắc Bộ qua triển khai chương trình PHCNDVCĐ”, Tạp chí phục hồi chức năng, NXB Y học, tr.59-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét tình hình người tàn tật ở 1 huyện đồng bằng Bắc Bộ qua triển khai chương trình PHCNDVCĐ
Tác giả: Trần Văn Chương, Cao Minh Châu, CS
Nhà XB: Tạp chí phục hồi chức năng
Năm: 1993
27. Đàm Viết Cương, Trần Thị Mai Oanh và cs. (2005), Dự án “Nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở vùng nông thôn Việt Nam”, Viện Chiến lược và Chính sách y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án “Nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở vùng nông thôn Việt Nam”
Tác giả: Đàm Viết Cương, Trần Thị Mai Oanh và cs
Năm: 2005
28. Đại hội đồng Uỷ ban kinh tế và xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (2001), Chương trình hành động của Thập kỷ người tàn tật khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. 1993-2002, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội. tr.119-141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hành động của Thập kỷ người tàn tật khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. 1993-2002
Tác giả: Đại hội đồng Uỷ ban kinh tế và xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
29. Đặng Đức Định, Hoàng Văn Vượng (1996), “Kết quả điều tra tình hình tàn tật của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội Phục hồi chức năng Việt Nam, tr.173-179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra tình hình tàn tật của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc”, "Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
Tác giả: Đặng Đức Định, Hoàng Văn Vượng
Năm: 1996
30. Trần Trọng Hải (1989), “Bước đầu đóng góp xây dựng mô hình tàn tật ở Việt Nam và kết quả bước đầu của chương trình PHCNDVCĐ tại Việt Nam”, Tạp chí PHCN, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.49- 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đóng góp xây dựng mô hình tàn tật ở Việt Nam và kết quả bước đầu của chương trình PHCNDVCĐ tại Việt Nam”," Tạp chí PHCN
Tác giả: Trần Trọng Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1989
31. Trần Trọng Hải và Cs (1995), Đại cương Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Tác giả: Trần Trọng Hải và Cs
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1995
32. Trần Trọng Hải (1996), “Nghiên cứu một số yếu tố đào tạo nhân lực cộng đồng và gia đình trong chương trình PHCNDVCĐ (CBR) cho trẻ em tàn tật ở Việt Nam”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học lần thứ 3, Hội PHCN Việt Nam, NXB y học, tr.235-249 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố đào tạo nhân lực cộng đồng và gia đình trong chương trình PHCNDVCĐ (CBR) cho trẻ em tàn tật ở Việt Nam”, "Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học lần thứ 3, Hội PHCN Việt Nam
Tác giả: Trần Trọng Hải
Nhà XB: NXB y học
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu (Trang 60)
Sơ đồ 2.2 Đánh giá, so sánh trước - sau can thiệp và với nhóm chứng. - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Sơ đồ 2.2 Đánh giá, so sánh trước - sau can thiệp và với nhóm chứng (Trang 69)
Bảng 3.5  Phân bố bệnh mắc phải theo dạng tàn tật (n = 2887) - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Bảng 3.5 Phân bố bệnh mắc phải theo dạng tàn tật (n = 2887) (Trang 77)
Bảng 3.9  Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng về sinh hoạt hàng ngày - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Bảng 3.9 Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng về sinh hoạt hàng ngày (Trang 81)
Bảng 3.10 Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng  về độc lập trong sinh hoạt - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Bảng 3.10 Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng về độc lập trong sinh hoạt (Trang 82)
Bảng 3.11  Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng về giao tiếp của người tàn tật (n = 2887) - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Bảng 3.11 Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng về giao tiếp của người tàn tật (n = 2887) (Trang 83)
Bảng 3.12  Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng trong hòa nhập xã hội - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Bảng 3.12 Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng trong hòa nhập xã hội (Trang 84)
Bảng 3.13  Tuyến phục hồi chức năng phù hợp theo dạng tàn tật - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Bảng 3.13 Tuyến phục hồi chức năng phù hợp theo dạng tàn tật (Trang 85)
Sơ đồ 3.1  Cơ chế quản lý, điều hành của mô hình - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Sơ đồ 3.1 Cơ chế quản lý, điều hành của mô hình (Trang 87)
Bảng 3.22  Kết quả thực hiện các hoạt động phục hồi chức năng tại 4 phường - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Bảng 3.22 Kết quả thực hiện các hoạt động phục hồi chức năng tại 4 phường (Trang 101)
Bảng 3.25  Người chăm sóc chính thực hiện chăm sóc sức khỏe cho người tàn tật - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Bảng 3.25 Người chăm sóc chính thực hiện chăm sóc sức khỏe cho người tàn tật (Trang 103)
Bảng 3.26  Người tàn tật tham gia các hoạt động thể lực trước và sau can thiệp - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Bảng 3.26 Người tàn tật tham gia các hoạt động thể lực trước và sau can thiệp (Trang 104)
Bảng 3.32  Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng về vận động trước và sau can thiệp - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Bảng 3.32 Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng về vận động trước và sau can thiệp (Trang 111)
Bảng 3.35  Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng  trong giao tiếp - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Bảng 3.35 Tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng trong giao tiếp (Trang 116)
Bảng 3.37  Nguyện vọng trong chăm sóc sức khỏe của người tàn tật - Nhiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục vụ chức năng cho người tàn tật tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Bảng 3.37 Nguyện vọng trong chăm sóc sức khỏe của người tàn tật (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w