Nghiên cứu điều trị rách sụn chêm do chấn thương bằng khâu nội soi
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển sâu rộng, gia tăng các
phương tiện giao thông và tập luyện thể thao làm cho tỷ lệ chấn thương trong đó
có chấn thương khớp gối ngày càng tăng Thương tổn sụn chêm do chấn thương
kín khớp gối thường gặp, chiếm 68 - 75%, nhiều hơn so với các loại tổn thương
sụn chêm do các nguyên nhân khác [27]
Đối với thương tổn sụn chêm, các phương pháp điều trị kinh điển như
“nắn lại” sụn bị rách hoặc bất động khớp gối sau chấn thương đã có những kết
quả nhất định Kết quả điều trị các phương pháp này phụ thuộc vào tính chất,
hình thái và vị trí của đường rách, tuy nhiên có nhược điểm là thời gian bất
động kéo dài sau chấn thương do đó có những hạn chế
Phương pháp điều trị phẫu thuật mở khớp gối để cắt sụn chêm bán
phần hay toàn phần đã được áp dụng trong một thời gian dài nhưng nhược
điểm của phương pháp này là phải bất động sau phẫu thuật, thời gian điều
trị kéo dài, nguy cơ nhiễm khuẩn cao, dễ bỏ sót tổn thương và gây nhiều
thương tổn phần mềm do đó kết quả phục hồi cơ năng cho khớp gối bị hạn
chế
Nhờ kỹ thuật chụp cộng hưởng từ hạt nhân cho phép thấy rõ hình ảnh
tổn thương của các thành phần bên trong khớp, giúp phẫu thuật viên đưa ra
chẩn đoán và phương pháp điều trị thích hợp, có ý nghĩa rất lớn trong việc
tránh được những hậu quả không đáng có phát sinh từ thương tổn này như
hạn chế vận động của khớp gối, teo cơ, thoái hóa khớp cũng như việc phục
hồi vận động khớp gối
Phẫu thuật nội soi khớp gối lần đầu tiên được tiến hành trên thế giới vào
năm 1955 do Watanabe M thực hiện [31] và đã có nhiều sự phát triển nhanh
chóng Từ đóNhờ từng bước hoàn thiện và được ứng dụng ngày càng rộng rãi
với nhiều ưu điểm: chẩn đoán chính xác các thương tổn bên trong khớp gối,
Style Definition: TOC 3: Indent: Left: 0.39",
Hanging: 0.5", Tab stops: 6.1", Right,Leader:
… + Not at 6.1"
Style Definition: TOC 2: Indent: Left: 0.19",
Hanging: 0.3"
Trang 2xử trí triệt để các thương tổn đó Các tác giả đều đi đến kết luận rằng những phẫu thuật thực hiện dưới nội soi chính xác hơn so với những phẫu thuật cùng loại theo phương pháp kinh điển, rút ngắn thời gian nằm viện và nhanh chóng phục hồi chức năng sau phẫu thuật, giúp người bệnh trở lại đời sống sinh hoạt
và lao động bình thường [27] Quan trọng hơn cả là kết luận thông qua nhiều công trình nghiên cứu, các tác giả đều thống nhất đó là việc cắt bỏ sụn chêm
sẽ làm tăng nguy cơ thoái hóa khớp sau này
Nhờ những hiểu biết ngày càng rõ hơn về nguồn cấp máu và mô bệnh học của sụn chêm, người ta thấy rằng có những tổn thương rách sụn chêm vẫn
có thể khâu phục hồi, vết rách có thể liền trở lại Năm 1969, Hiroshi Ikeuchi
đã tiến hành trường hợp phẫu thuật nội soi khâu sụn chêm đầu tiên bằng kỹ thuật khâu từ trong ra ngoài (Inside - out) Sau đó Henning, Albrecht, Olsen… tiếp tục phát triển kỹ thuật này
Cho đến năm 1985 Waren đưa ra kỹ thuật nội soi khâu sụn chêm từ ngoài vào trong (Outside - in) cho các trường hợp rách sụn chêm do chấn thương Tiếp theo đó, nhờ các tiến bộ về dụng cụ, đã xuất hiện kỹ thuật khâu sụn chêm hoàn toàn từ bên trong (All inside) Tuy nhiên kỹ thuật nội soi khâu rách sụn chêm từ ngoài vào trong và từ trong ra ngoài vẫn được nhiều phẫu thuật viên áp dụng vì kỹ thuật đơn giản, không cần dụng cụ phức tạp
Những kỹ thuật chẩn đoán và điều trị thương tổn rách sụn chêm tại Việt Nam trước năm 1994 có thể nói là còn rất sơ sài Hầu hết các tổn thương trong khớp gối kể cả sụn chêm đều được xử trí thông qua phẫu thuật mở khớp
và cũng vì thế kết quả của phẫu thuật mang lại chưa cao và có nhiều biến chứng Bắt đầu từ những năm tiếp theo cho đến nay, kỹ thuật nội soi khớp mới được phát triển, ứng dụng ngày một sâu rộng ở nhiều bệnh viện và trung tâm trong cả nước và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong chẩn đoán và điều trị thương tổn sụn chêm Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị rách sụn chêm còn ít, nhất là tham khảo y văn trong
Trang 3nước chưa thấy có đề tài nào đề cập riêng về phẫu thuật nội soi khâu sụn chêm
Năm 2012, Nguyễn Quốc Dũng đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ của mình với đề tài “Nghiên cứu hình thái tổn thương sụn chêm khớp gối và đánh giá kết quả điều trị bằng phẫu thuật nội soi cắt sụn chêm” Trong công trình nghiên cứu, tác giả cũng đã thông báo 44 trường hợp sụn chêm khớp gối được khâu lại Toàn bộ các trường hợp chỉ được thực hiện bằng kỹ thuật khâu từ
trong ra ngoài Kết quả kiểm tra từ 3-12 tháng cho thấy về lâm sàng theo thang điểm Lysholm đều đạt kết quả rất tốt và tốt, không có kết quả kém Tuy nhiên, tác giả chưa có được hình ảnh cận lâm sàng để minh chứng cho những kết quả đã đạt được [3]
Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu điều trị rách sụn chtrênm do chấn thương bằng khâu nội soi” với 2 mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, hình thái tổn thương rách sụn chêm do chấn thương trên bệnh nhân được phẫu thuật khâu nội soi
2 Đánh giá kết quả điều trị rách sụn chêm do chấn thương bằng phương pháp khâu nội soi
Trang 4CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1.1 Sụn chêm trong
Sụn chêm trong có hình chữ C, dài khoảng 5 - 6 cm, đi từ diện trước
gai chạy vòng theo mâm chày trong ra phía sau và bám vào diện sau gai, bờ
ngoại vi dính chặt vào bao khớp trong
Sừng sau (16 - 20 mm) rộng hơn sừng trước (8 - 10 mm), sừng trước bám
chắc vào mâm chày ngay phía trước gai chày trước và dây chằng chéo trước
Sừng sau bám vào mâm chày sau ngay phía trước nơi bám dây chằng chéo sau,
liên quan chặt chẽ với dây chằng bên trong sau và gân cơ bán mạc…Chính mối
quan hệ giải phẫu với các thành phần xung quanh đã làm hạn chế sự di chuyển
của sụn chêm trong khi vận động gấp duỗi gối, điều này giải thích vì sao thương
tổn sụn chêm trong hay gặp trong chấn thương khớp gối [25]
1.1.2 Sụn chêm ngoài
1 Sừng sau sụn chêm trong
2 Dây chằng bên trong
3 Sừng trước sụn chêm trong
4 Dây chằng ngang
5 Dây chằng chéo trước
6 Sừng trước sụn chêm ngoài
7 Dây chằng bên ngoài
8 Cơ khoeo
9 Sừng sau sụn chêm ngoài
10 Dây chằng sụn chêm - đùi
11 Dây chằng chéo sau Hình 1.1: Sụn chêm liên quan với các thành phần trong khớp
* Nguồn : Sémiologie Traumatologie du Genou – Lerat J L (2005)Functional
anatomy and biomechanics of the meniscus - Caldwell G.L (1994) [25]
Formatted: Font: Not Italic
Formatted: Condensed by 0.2 pt
Formatted: Condensed by 0.2 pt
Formatted: Font: 12 pt Formatted: Centered Formatted: Font: 12 pt, French (France) Formatted: Font: 12 pt
Formatted: Font: 12 pt, Italic
Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic Formatted: Font: 12 pt, Italic Formatted: Font: 12 pt Formatted: List Paragraph, Centered, Indent:
First line: 0", Tab stops: 0.39", Left
Trang 5Sụn chêm ngoài có hình chữ O mở vào trong, phủ bề mặt khớp mâm
chày và rộng hơn sụn chêm trong, nó xuất phát từ diện trước gai, hơi ra phía
ngoài một chút so với điểm bám của dây chằng chéo trước ở mâm chày
Sừng trước và sừng sau của sụn chêm ngoài rộng bằng nhau, kích thước
khoảng 12-13 mm Sụn chêm ngoài chạy vòng ra sau theo bờ mâm chày ngoài
và bám vào diện sau gai cùng với dây chằng đùi - sụn chêm và dây chằng chéo
sau [25]
1.1.3 Thần kinh và mạch máu nuôi sụn chêm
Mạch máu nuôi sụn chêm :
Hình 1.2: Sơ đồ cấp máu cho sụn chêm
* Nguồn: Direct real time measurement of meniscal blood flow - Swiontkowski M F
(1988) [78]
Mạch máu nuôi dưỡng sụn chêm đều được tách ra từ các nhánh của
động mạch khoeo Ở khoeo, động mạch khoeo chia ra 5 nhánh bên:
- Hai nhánh trung tâm đi vào bao khớp phía sau và tạo thành mạng
mạch nuôi dưỡng bao khớp
- Sau đó động mạch khoeo chia thành những nhánh nhỏ là: động mạch
gối trên, gối giữa và gối dưới:
+ Động mạch gối giữa chạy xuyên qua bao khớp phía sau và chia thành
3 nhánh cấp máu cho dây chằng chéo sau, vùng cạnh sụn chêm trong và vùng
cạnh sụn chêm ngoài
+ Động mạch gối dưới gồm nhánh bên trong và bên ngoài xuyên qua
bao khớp ở mặt trước tạo thành mạng mạch dưới gân bánh chè Từ mạng
Động mạch gối dưới
Formatted: Line spacing: Multiple 1.3 li
Formatted: Font: 12 pt Formatted: Line spacing: Multiple 1.35 li
Trang 6mạch này có các nhánh nhỏ đi vào vùng cạnh hai sụn chêm ở phía trước
Nhánh động mạch gối ngoài và trong cấp máu cho sụn chêm ngoài và sụn
chêm trong C, các nhánh tách ra từ động mạch này cấp máu cho hai sụn chêm
giảm dần từ bờ ngoại vi nơi sụn chêm tiếp giáp với bao khớp đến bờ tự do Sự
phân bố mạch máu nuôi sụn chêm được nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra
rằng:, sự cấp máu nuôi chia làm ba vùng, đặc biệt nổi bật vùng sừng trước và
sừng sau, còn ở thânsừng giữa chỉ có phần nền của sụn chêm được cấp máu [91],
[95]
Hình 1.3: Hình ảnh cộng hưởng từ về cấp máu cho sụn chêm
* Nguồn: Direct real time measurement of meniscal blood flow - Swiontkowski M F
(1988) [78]
Những công trình nghiên cứu của Arnoczky S P năm 1983 và ,
Benedetto K P năm 1985 cho thấy rằng sự cấp máu ở vùng sừng trước và
sừng sau và phần rìa sụn chêm rất phong phú và giảm đi rõ rệt ở bờ tự do
[14], [18] Năm 1988, nghiên cứu của Swiontkowski M F đo lượng cấp máu
cho sụn chêm bằng laser doppler cũng cho kết quả tương tự và ngay tại vùng
được cấp máu, vòng nối giữa các mao mạch là rất hiếm [78]
- Vùng giàu mạch máu nuôi (vùng đỏ - đỏ): chiếm 1/3 ngoài, vùng này
có đầy đủ mạch máu nuôi, rách vùng này dễ phục hồi nếu phát hiện sớm và
điều trị đúng
- Vùng trung gian (vùng đỏ - trắng): ở 1/3 giữa mạch máu nuôi, mạch
máu bắt đầu giảm dần, tổn thương có thể lành khi điều trị đúng nhưng kết quả
đem lại với tỷ lệ thấp hơn
Formatted: Condensed by 0.2 pt
Formatted: Condensed by 0.2 pt
Formatted: Condensed by 0.2 pt Formatted: Condensed by 0.2 pt Formatted: Condensed by 0.2 pt
Formatted: Line spacing: Multiple 1.3 li Formatted: Font: 12 pt
Formatted: Not Expanded by / Condensed by
Trang 7- Vùng vô mạch (vùng trắng - trắng): 1/3 trong không có mạch máu
nuôi, rách ở đây không có khả năng phục hồi nên thường điều trị cắt bỏ đi
phần rách
Đây là cơ sở quan trọng cho việc chỉ định khâu sụn chêm bị rách do
chấn thương
Hình 1.4: Phân vùng sụn chêm theo cấp máu
* Nguồn: Direct real time measurement of meniscal blood flow - Swiontkowski M F
(1988) [78]
Thần kinh:
Thần kinh đi theo cùng mạch máu, nằm trong lớp áo ngoài của mạch
máu và đi vào sụn chêm phân nhánh cùng các bó sợi collagen tạo thành mạng
lưới Các sợi thần kinh tập trung chủ yếu một phần ba rìa ngoài của sụn chêm
và đóng vai trò bảo vệ khớp chống lại những cử động bất thường [77]
Năm 1958, tác giả Viernstein K đã nêu sụn chêm được cấu tạo bởi 65%
sợi collagen, 16% chondrotinsulfat, 19% là nước và các thành phần khác Khi
sụn chêm bị thoái hóa, lượng chondrotinsulfat sẽ giảm đi còn khoảng 5%,
thay thế vào đó sẽ là các tổ chức xơ, còn thành phần collagen gần như không
thay đổi Thành phần xơ sụn của sụn chêm chủ yếu là collagen týp I (chiếm
90%), gần giống như gân và sụn [81]
Theo nghiên cứu của Adam M E và Muir H năm 1981; McNicol D và
Roughley P J năm 1980 cho thấy có sự khác nhau về tỷ lệ của proteoglycan
và glycosaminglycan trong cấu trúc của sụn chêm và sụn khớp [9], [55]
Trang 8Ngoài ra, theo Mc Nicol D và Roughley P J cho rằng tỷ lệ proteoglycan
trong sụn chêm của người trưởng thành chỉ bằng 1/8 sụn khớp và trong thành
phần sụn chêm còn có dermaltalsulifat với hàm lượng khoảng 29%, đây là
thành phần không có trong sụn khớp
Năm 1984, Insall J N nhận thấy trong cấu trúc sụn còn có một cấu trúc
quan trọng là proteoglycan Cấu trúc này được tạo bởi từ glycosaminoglycan
và protein Sự sắp xếp các phân tử proteinglycan giữa các bó sợi collagen đã
tạo cho sụn chêm có khả năng đàn hồi chống đỡ lại lực kéo và lực đẩy của lồi
cầu đùi khi gấp, duỗi gối [40] Các sợi này sắp xếp với nhau theo không gian
ba chiều và đan chéo nhau rất chắc: loại ngang chiếm 2/3 trong, xếp nhiều từ
trong ra ngoài chịu sức tải ép, loại dọc đi vòng quanh chiếm 1/3 ngoài chịu
sức căng, loại đứng dọc ở vùng trung gian nối kết các sợi trên Nhờ cấu trúc
mô học này giúp sụn chêm có tác dụng truyền tải lực [35], [91], [93], [95]
Theo Walker P S các bó sợi collagen chạy vòng cung và đan chéo lẫn
nhau ở phần rìa và phần giữa sụn chêm có tác dụng trong vai trò hấp phụ lực
của vùng này khi khớp gối duỗi thẳng ở tư thế đứng [83]
Ở vùng ngoại vi sát bao khớp, các bó sợi collagen chạy song song có vai trò
chịu lực kéo và lực đẩy của lồi cầu đùi trên mâm chày khi gấp duỗi gối [83]
Do có sự sắp xếp khác nhau của các bó sợi collagen ở trong các vị trí
khác nhau của sụn chêm, nên dẫn đến các hình thái tổn thương giải phẫu bệnh
khác nhau:, ví dụ như tổn thương ở phần rìa sụn chêm sát bao khớp thường là
đường rách dọc, tổn thương tại phần tự do thường là tổn thương rách ngang
hoặc rách hình vạt
Sợi đứng dọc Sợi dọc
Formatted: Line spacing: Multiple 1.45 li
Trang 9Hình 1.5: Cấu trúc mô học và phân tử sụn chêm
* Nguồn: The meniscus: review of basic principles with application to Surgery and
Rehabilitation - Timothy Brindle (2001) [81]
Năm 1911, Fick R nghiên cứu cấu trúc sụn chêm ở người trưởng thành
đã nhận thấy những bó sợi chun bao quanh tổ chức xơ sụn thành một lớp
mỏng và nằm trong lớp tổ chức liên kết Các bó sợi này sắp xếp theo hình
vòng cung chạy từ phần nền sụn chêm ra đến phần rìa [35]
Năm 1936, nghiên cứu của Tobler T vào năm 1936 cũng cho thấy cấu
trúc sụn chêm của trẻ sơ sinh là những mô liên kết sắp xếp dạng lượn sóng
xen kẽ với những bó sợi chun [97]
Theo công trình nghiên cứu của Reinbach W năm 1954 [93], Bullough
P G năm 1970 [21] và Walker P S năm 1975 [83] cho thấynêu lên rằng sự
sắp xếp của các bó sợi chun và tổ chức xơ sụn theo cấu trúc không gian 3 chiều
đã đảm bảo cho sụn chêm thực hiện vai trò hấp thu lực, phân phối và dàn đều
lực
Năm 1986, Beaupre A R quan sát trên kính hiển vi điện tử nhận thấy
các bó sợi nằm ngang ở bờ tự do giúp cho sụn chêm có khả năng hấp thu lực,
các bó sợi chạy song song ở phần nền sát bao khớp giúp cho sụn chêm chịu
lực căng, kéo và các bó sợi đan chéo giúp cho sụn chêm có khả năng thay đổi
hình dạng, qua đó tăng diện tích tiếp xúc của lồi cầu đùi với mâm chày khi
gấp, duỗi gối [17]
1.3 CƠ SINH HỌC CỦA SỤN CHÊM
Sợi ngang
Sợi collagen Dịch kẽ
Formatted: Font: 12 pt Formatted: Line spacing: single
Trang 10Theo kết quả của nhiều công trình nghiên cứu, trong trạng thái đi kKhớp
gối chịu 4,5 - 6,2 lần trọng lượng của cơ thể trong khi đi, riêng mâm chày
chịu nặng đến 72,2% trọng lượng cơ thể, lực tác động qua sụn chêm ở tư thế
gối gấp và duỗi khác nhau Theo Burke và Ahmed thì: có 50% lực chịu nặng
sẽ truyền qua sụn chêm trong tư thế gối duỗi thẳng, 85% lực chịu nặng sẽ
truyền qua sụn chêm ở tư thế gấp gối [23]
Voloshin và Wosk so sánh thấy ở những khớp gối còn sụn chêm có khả
năng hấp thu lực và giảm sốc cao hơn 20% so những khớp gối đã bị cắt sụn
chêm Khi cắt một phần sụn chêm thì diện tích tiếp xúc mâm chày với lồi cầu
đùi sẽ giảm 10% và tăng điểm chịu lực lên 65% Sau khi cắt bỏ toàn bộ sụn
chêm toàn bộ, mặt tiếp xúc này giảm 75% và tăng điểm chịu lực lên từ 235
đến 700% so với bình thường [77]
Cơ chế gây thương tổn sụn chêm được Smile [76] phân tích và chia
thànhra bốn lực chính: lực ép từ trên xuống, lực xoay, dạng hay khép và, gấp
hay duỗi Tuy nhiên, các lực trên thông thường phối hợp với nhau khi gây
thương tổn sụn chêm, tùy ưu thế của lực nào mạnh mà khi gây thương tổn sụn
chêm sẽ cho ra hình tháidạng thương tổn khác nhau
Hình 1.6: Cơ chế gây tổn thương sụn chêm của gối
* Nguồn : Sémiologie TraumatologieLa pathalogie mécanisque du Genou -
SaragagliaLerat J L (200 53 ) [105]
Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt, Not Italic
Trang 11Ở các độ tuổi khác nhau thì độ dày, độ chắc và chất lượng lớp sụn của
mặt khớp cũnghày và đùi khác nhau Chính vì vậy, do đó khi bị chấn thương
sẽ gây ra những kiểu thương tổn khác nhau Ở những nNgười trẻ, mặt sụn
khớp dày, khả năng đàn hồi và, hấp thu lực còn tốt nên thường thấy đường
rách dọc Ngược lại, ở nNgười trưởng thànhlớn trên 30 tuổi, chất lượng sụn
thường bắt đầu suy giảm, khả nănghông hấp thu được các lực xoay kém hơn
nên cho rahay gặp đườnghình dạng rách ngang hoặc rách chéo Ở nNgười già,
sụn khớp thoái hoá nhiều, lớp sụn mất đi, khe khớp gối hẹp lại, cử động lăn
của lồi cầu trên mâm chày bị ma sát nhiều, nên thường thấy những đườngcó
rách nham nhở [105]
Kiểu rách dọc thường gặp khi mức độ chấn thương quá lớn ở tư thế gối
duỗi tối đa, làm cho mâm chày xoay ngoài quá mức Khi mảnh rách dọc sụn
chêm quá lớn và có dạng hình quai xách, quai này di chuyển vào trong khuyết
lồi cầu và gây kẹt khớp [76], [77]
1.4 VAI TRÒ CỦA SỤN CHÊM
chày
Sụn chêm chịu đựng khoảng 45% trọng lượng của cơ thể và di động trên
bề mặt mâm chày song song với việc gấp duỗi gối Mặt cong của sụn chêm có
tác dụng phân phối lực và chuyển bớt từ 30% - 55% lực sang ngang, khi có đủ
sụn chêm thì diện tiếp xúc tăng lên 2,5 lần, khi không có sụn chêm sức ép từ
trên lồi cầu xuống mâm chày sẽ tập trung vào một diện tích nhỏ hơn, lâu ngày
dẫn đến hư mặt khớp ảnh hưởng chức năng của gối
Các tác giả như: Burke D L và Kurosawa H T chỉ ra rằng sụn chêm
ngoài chịu tác động trọng lực cơ thể hơn sụn chêm trong (71% so với 29%) [23]
Đây cũng là nguyên nhân gây tổn thương sụn chêm trong nhiều hơn sụn chêm
ngoài trong chấn thương gối
Theo Kummer B hình dạng giải phẫu sụn chêm có vai trò trong việc
phân phối lực, dàn đều lực tác động của cơ thể xuống khớp gối Khi khớp gối
Formatted: Font color: Auto
Trang 12ở tư thế duỗi thẳng, trọng lực cơ thể sẽ dồn vào vị trí thấp nhất của lồi cầu và
mâm chày Tại vị trí mâm chày được sụn chêm che phủ, cũng sẽ có một phản
lực thẳng góc với bề mặt sụn chêm Tuy nhiên nhờ hình dạng là một hình
chêm nên tổng hợp lực sẽ là lực đẩy ngang về phía rìa của mâm chày Nhờ
vậy trọng lực cơ thể tác động lên mâm chày được dàn đều [91]
Fairbank là người đầu tiên đánh giá chức năng chịu lực của sụn chêm
Ông đã quan sát và theo dõi trong một thời gian dài sau khi cắt toàn bộ sụn
chêm của khớp gối thì thấy có sự thay đổi lực tác động lên mặt khớp và sự thay
đổi này làm tăng thoái hoá khớp Baratz M E và Mengator sau một quá trình
nghiên cứu cũng thừa nhận điều này [16]
Năm 1911, khi nói về vai trò của sụn chêm, Fick R xem sụn chêm như một
miếng đệm có vai trò giảm sự va đập và chấn động của lồi cầu đùi với mâm chày
khi gấp duỗi gối [35]
Sự chuyển động và thay đổi hình dạng của sụn chêm trong quá trình gấp,
duỗi gối cũng như các động tác xoay trong, xoay ngoài của khớp gối đảm bảo
vai trò hấp phụ lực của sụn chêm Khi gấp gối, cả hai sụn chêm cùng trượt dần
trên mâm chày ra phía sau và ngược lại khi duỗi gối cả hai sụn chêm cùng trượt
dần trên mâm chày ra phía trước Qua đó diện tiếp xúc giữa lồi cầu đùi và mâm
chày tăng lên, lực tác động giữa lồi cầu đùi và mâm chày giảm đi
1.4.3 Chức năng tăng diện tiếp xúc giữa lồi cầu đùi với mâm chày
Nhờ có sụn chêm mà diện tích tiếp xúc giữa lồi cầu đùi và mâm chày
tăng lên Các nghiên cứu có sử dụng cảm ứng lực của Helne H.J năm 1981
[37], của Baratz M.E năm 1986 [16] cho thấy sau khi cắt bỏ sụn chêm làm
cho giảm đáng kể diện tiếp xúc giữa lồi cầu và mâm chày
1.4.4 Chức năng dàn đều dịch khớp
Sụn chêm tạo sự tương hợp giữa hai mặt tiếp xúc giữa lồi cầu đùi và
mâm chày, qua đó phân bố đều hoạt dịch bôi trơn giúp dinh dưỡng sụn khớp
Formatted: Swedish (Sweden) Formatted: Font color: Auto
Formatted: Swedish (Sweden)
Trang 131.4.5 Các vai trò khác
Sụn chêm góp phần cho sự vững chắc của khớp gối Bên cạnh đó với cấu
trúc mật độ dày các cảm thụ bản thể tập trung ở sừng sau sụn chêm đã giúp
cho chúng có vai trò bảo vệ khớp gối chống lại các cử động xoay và duỗi gối
quá mức Ngoài ra sụn chêm còn có tác dụng lấp đầy khe khớp gối, tránh cho
bao khớp và hoạt mạc không bị kẹt vào khe khớp [95]
Tóm lại:, qua giải phẫu, cấu tạo mô học, cơ sinh học và vai trò của sụn
chêm ta thấy rằng: trong chấn thương sụn chêm trong dễ tổn thương hơn sụn
chêm ngoài Bên cạnh đó , tuổi trẻ sụn chêm thường rách dọc , nNếu cắt bỏ
sụn chêm sẽ làm tăng nguy cơ thoái hóa khớp gối, do đó rách sụn chêm ở
vùng đỏ - đỏ, đỏ - trắng cần khâu bảo tồn để tránh các biến chứng này
1.5 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN THƯƠNG TỔN SỤN CHÊM
1.5.1 Lâm sàng
1.5.1.1 Đau chói hay đau khe khớp
Trong thăm khám, khi ấn ngón tay vào khớp gối của người bệnh đồng
thời với việc để cho khớp vận động gấp duỗi thường thấy triệu chứng đau chói
ở khe khớp Triệu chứng này cho phép người thầy thuốc nghĩ đến có thương
tổn sụn chêm
Giải thích nguyên nhân đau khi sụn chêm bị thương tổn cho đến nay vẫn
chưa sáng tỏ Theo De Palma A F thì khi phần nền sụn chêm bị thương tổn có
thể rách bao khớp hoặc cùng với lực chấn thương có thể gây giãn hoặc đứt dây
chằng bên, lúc đó sẽ gây cảm giác đau cho bệnh nhân [32] Tuy nhiên trong
trường hợp không có tổn thương dây chằng và bao khớp phối hợp hoặc tổn
thương phần rìa sụn chêm (vị trí không có mạch máu và thần kinh) thì giải
thích về nguyên nhân gây đau cho đến nay vẫn chưa thật rõ ràngkhông giải
thích được
1.5.1.2 Kẹt khớp
Là dấu hiệu thường gặp trong thương tổn sụn chêm, được người bệnh
phàn nàn Tuy nhiên theo nhiều tác giả thì kẹt khớpnhưng không phải là dấu
Formatted: Indent: First line: 0.39", Line
spacing: Multiple 1.4 li
Formatted: Font: Not Bold, Not Italic
Formatted: Condensed by 0.1 pt Formatted: Font: Not Bold, Not Italic,
Condensed by 0.1 pt
Formatted: A3, Left, Line spacing: Multiple
1.4 li, Widow/Orphan control
Formatted: Line spacing: Multiple 1.4 li
Trang 14hiệu đặc hiệu
Ngoài thương tổn rách sụn chêm, kẹt khớp còn có thể gặp trong bệnh lý
như: sụn chêm hình đĩa, chuột khớp, sai khớp xương bánh chè, các bệnh lý
sụn khớp hoặc hiếm gặp hơn nhưlà trong bệnh lý phát triển phì đạiquá phát
dây chằng Hoffa [70]
1.5.1.3 Tràn máu khớp gối
Là dấu hiệu hay gặphằng định nhất trong chấn thương khớp Khi có tổn
thương sụn chêm, Tuy nhiên cần phân biệt rõ tính đặc trưng của tràn máu
khớp gối trong thương tổn sụn chêm với thương tổn dây chằng Trong tổn
sau chấn thương, khác với những Còn khi chấn thương có tổn thương dây
chằng, tràn máu khớp gối thường xuất hiện ngay trong những giờ đầu
Tuy nhiên, theo Triliat A trong những trường hợp chấn thương mạnh
gây tổn thương sừng sau của sụn chêm kèm theo có rách bao khớp phía sau
thì dịch khớp kèm theo máu tụ sẽ chảy ra ngoài khớp và nằm tại tổ chức dưới
da ngay những giờ đầu [106]
1.5.1.4 Các nghiệm pháp lâm sàng
Có nhiều nghiệm pháp, nhưng nhìn chung có thể chia thành những nhóm
như sau:
- Tìm đĐ iểm ấn đau khu trú:
+ Nghiệm pháp Bragrad: được Bragard K mô tả lần đầu tiên năm
1930 dựa trên sự dịch chuyển của sụn chêm khi gối gấp và xoay Nếu tổn
thương sụn chêm trong, bệnh nhân sẽ đau vùng khe khớp gối bên trong khi
cẳng chân xoay trong và ngược lại sẽ đau vùng khe khớp gối bên ngoài khi
xoay cẳng chân ra ngoài với bệnh nhân tổn thương sụn chêm ngoài [88]
+ Nghiệm pháp Steinmann II:
Thực hiện tương tự như nghiệm pháp Bragrad nhưng ngón tay người
khám đặt vào khe khớp Tay còn lại nắm cổ chân bệnh nhân và từ từ gấp gối
lại khi đánh giá tổn thương sừng sau và duỗi gối ra khi đánh giá tổn thương
Formatted: Line spacing: Multiple 1.35 li
Trang 15sừng trước Dấu hiệu này dựa trên sự dịch chuyển của sụn chêm trên mâm chày khi gấp duỗi gối [76]
- Đau khi đè ép:
+ Nghiệm pháp Boehler:
Năm 1955, Boehler L phát hiện thương tổn sụn chêm qua cảm giác đau của bệnh nhân khi sụn chêm bị đè ép giữa lồi cầu và mâm chày Để đánh giá thương tổn sụn chêm trong tác giả làm động tác há khe khớp bên ngoài qua đó
ép khe khớp bên trong và làm ngược lại khi đánh giá thương tổn sụn chêm ngoài Nếu bệnh nhân thấy có xuất hiện cảm giác đau tại khe khớp bị ép thì sụn chêm bên đó bị tổn thương và theo dõi dây chằng bên đối diện bị tổn thương [99]
+ Nghiệm pháp Kroemer K.:
Được Kroemer K mô tả năm 1944, thực hiện tương tự dấu hiệu của Boehler Tuy nhiên song song với việc làm há khe khớp bên trong hoặc bên ngoài thì tiến hành gấp duỗi gối Khi tiến hành song song hai quá trình này sẽ phát hiện ra dấu hiệu đau của sụn chêm khi bị đè ép được chính xác hơn [89]
+ Nghiệm pháp Payr E.:
Năm 1936, Payr E mô tả dấu hiệu đánh giá thương tổn sừng sau sụn chêm trong khi ép khe khớp bên trong và gấp gối quá mức Dấu hiệu dương tính khi bệnh nhân đau khe khớp bên trong ở tư thế ngồi xếp bằng hoặc có thể thực hiện ở tư thế nằm [51]
+ Nghiệm pháp Cabot:
Dấu hiệu Cabot để đánh giá thương tổn sừng sau sụn chêm ngoài khi
há khe khớp bên ngoài và gấp gối quá mức [100]
- Đau khi mâm chày xoay quanh lồi cầu đùi:
+ Nghiệm pháp Steinmann I:
Vì sụn chêm trượt trên mâm chày khi gấp duỗi gối nên khi thực hiện nghiệm pháp ở các tư thế gấp duỗi gối khác nhau có thể chẩn đoán được khu trú vị trí sụn chêm bị tổn thương [90]
- Đau khi gấp, duỗi gối và xoay cẳng chân:
Trang 16+ Nghiệm pháp Mac Murray: được Mc Muray mô tả năm 1942 dựa trên
hiện tượng “lục khục” trong khớp gối khi sụn chêm bị rách [51]
- Đau khi sụn chêm bị ép và xoay cẳng chân:
+ Nghiệm pháp Apley: được Apley mô tả năm 1947, dựa vào cảm giác đau
của bệnh nhân khi sụn chêm rách bị ép giữa lồi cầu đùi và mâm chày [13] Theo
Wirth C.J nghiệm pháp Apley có thể đạt được độ chính xác đến 85% trong
xác định thương tổn sụn chêm [98]
Ngoài ra còn có nhiều nghiệm pháp thăm khám sụn chêm như Test de
Cyriax, Test troisier, Test Cridu ménique [39], [69], [104]
Theo Zippel H tuỳ theo từng nghiệm pháp thăm khám lâm sàng mà tỷ lệ
chẩn đoán thương tổn sụn chêm có độ chính xác khoảng 60 đến 95% [99]
Ricklin P cho rằng cần phối hợp nhiều nghiệm pháp khác nhau để có tỷ lệ
chẩn đoán chính xác cao nhất Tác giả khuyên khi nghiệm pháp dương tính có
thể nghĩ đến thương tổn sụn chêm nhưng cũng không nên loại trừ trong
trường hợp nghiệm pháp âm tính [94]
Tóm lại, mỗi nghiệm pháp chẩn đoán rách sụn chêm có độ chính xác
khác nhau tuỳ theo thói quen thăm khám của thầy thuốc Vì vậy để có một kết
quả chẩn đoán chính xác và khách quan hơn, nên phối hợp các nghiệm pháp
khi thăm khám
1.5.2.1 Chụp X - quang thẳng, nghiêng
Đây là phương pháp hay dùng trong chấn thương khớp gối, tuy nhiên cần
chụp cả hai bên khớp để so sánh X - quang khớp gối không xác định được
thương tổn sụn chêm mà chỉ cho phép loại trừ các bệnh lýí khác như dị vật khớp
gối, thoái hoá khớp, viêm xương sụn khớp kèm theo
1.5.2.2 Chụp khớp gối có cản quang sụn chêm khớp gối
Có 3 phương pháp được thực hiện tuỳ thuộc vào chất cản quang được sử
cả hai loại Đây là phương pháp có xâm lấn, có thể gây biến chứng nhiễm
Formatted: Line spacing: Multiple 1.45 li
Trang 17Ngày nay, nhờ có những phương pháp chẩn đoáàn hiện đại, chụp X - quang
có cản quang khớp gối chỉ mang ý nghĩa lịch sử, ít giá trị trong chẩn đoán rách
sụn chêm [58]
1.5.2.3 Chụp cắt lớp vi tính (CT sca n ner) có cản quang
Để phát hiện rách sụn chêm, cả hai phương pháp: CTscanner tiêm thuốc
nội khớp và chụp cộng hưởng từ đều có độ chính xác như nhau Nhưng CT
scanner có thuận lợi thêm là mô tả cấu trúc xương và do có độ phân giải
không gian cao nên có thể thấy rõ hơn những đường ráchrách rất nhỏ
Mặt khác, CT scanner tiêm thuốc nội khớp cung cấp hình ảnh sụn chêm
chính xác, ngay cả sau khi có cấy ghép hoặc bệnh nhân đang mang thiết bị
chỉnh hình trong hoặc quanh khớp Đặc biệt là đối với CT scanner đa lát cắt
càng cho hình ảnh rõ nét hơn Do đó CT scanner tiêm thuốc cản quang nội
khớp là một lựa chọn có giá trị ở bệnh nhân có chống chỉ định với chụp cộng
hưởng từ hoặc ở bệnh nhân có đặt thiết bị chỉnh hình khớp gối
Hình 1.7: So sánh hình ảnh rách sụn chêm A: Trên CT scanner có tiêm thuốc cản quang nội khớp: thấy không đồng đều
ở đỉnh sụn chêm ngoài B: Trên cộng hưởng từ: không thấy tổn thương
*Nguồn:The diagnosis of meniscal tears in athletes: a comparison of clinical and magnetic
resonance imaging invertigation - Muellner T., (1997) [58]
Bất tiện chủ yếu của kỹ thuật này là phải sử dụng tia xạ và nguy cơ liên
quan với việc tiêm thuốc trực tiếp nội khớp như nhiễm trùng khớp hoặc phản
ứng dị ứng với thuốc cản quang iode [58]
1.5.2.4 Siêu âm khớp
Formatted: Condensed by 0.2 pt Formatted: Condensed by 0.2 pt Formatted: Condensed by 0.2 pt
Formatted: Centered, No bullets or
Trang 18Năm 1986, Rabenseinfner L sử dụng đầu dò siêu âm tần số 7,5 MHz
chẩn đoán chính xác thương tổn đường rách dọc theo chiều dài sừng sau sụn
chêm Tác giả nhận thấy với những tổn thương sừng sau sụn chêm rất dễ dàng
nhận thấy trên siêu âm [92]
Hình 1.8: Hình ảnh rách sụn chêm trên siêu âm
*Nguồn: Die sonographiesche Untersuchung des Kniegelenkes - eine experimentle ind
klinische Studie - Rabenseifner L (1986) [92]
Gergross H và cộng sự (1986) khi đối chiếu kết quả giữa siêu âm và qua
nội soi khớp nhận thấy tỷ lệ chẩn đoán xác định của siêu âm trong thương tổn
sụn chêm khoảng 70 đến 90% tuỳ thuộc vào kinh nghiệm của người làm siêu
âm Tác giả nhận thấy qua siêu âm có thể phát hiện được sự thay đổi cấu trúc
sụn chêm dù những thay đổi cấu trúc này rất nhỏ Sự thay đổi này có thể
không gây rách sụn chêm vào thời điểm đó nhưng sẽ dẫn đến hiện tượng rách
sụn chêm sau này [102]
1.5.2.5 Chụp cộng hưởng từ
Phương pháp tạo ảnh cộng hưởng từ được Bloch và Purcell phát hiện
năm 1945 Đến năm 1976 -1980 các tác giả Mansfeild, Damian mới ghi được
hình ảnh đầu tiên trên người Ngày nay phương pháp này được ứng dụng rộng
rãi vì có độ tin cậy cao trong chẩn đoán thương tổn sụn chêm
Formatted: Font: 12 pt, Italic Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic Formatted: Font: 12 pt, Italic Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic Formatted: Font: 12 pt, Italic, English (United
States)
Formatted: Swedish (Sweden)
Formatted: Swedish (Sweden) Formatted: Swedish (Sweden)
Trang 19Hình 1.9: Hình rách sụn chêm thể hiện Ttín hiệu cao dạng một đường đậm
trên hình T2W tận cùng ở bề mặt trên sụn chêm
*Nguồn: The diagnosis of meniscal tears in athletes: a comparison of clinical and
magnetic resonance imaging invertigation - , chứng tỏ có Muellner T (1997) [58]rách sụn
chêm
Hình 1.10: Hình ảnh rách thân sụn chêm trong và ngoài
*Nguồn: The diagnosis of meniscal tears in athletes: a comparison of clinical and
magnetic resonance imaging invertigation - Muellner T (1997) [58]
Cả hai đều có mảnh di lệch và kiểu rách này được xem là không vững
Hình 1.11 : (A) T2W và (B) T2W GRE:.sụn chêm rách kiểu quai xách (Ddấu
hiệu dây chằng chéo sau kép) (đầu mũi tên) cho thấysụn chêm rách kiểu quai
xách
*Nguồn: The diagnosis of meniscal tears in athletes: a comparison of clinical and
magnetic resonance imaging invertigation - Muellner T (1997) [58]
Các dấu hiệu tổn thương sụn chêm trên cộng hưởng từ:
+ Về tín hiệu: tăng tín hiệu trên T2W ít nhất phải là 1 bờ của sụn chêm
Formatted: Font: Not Bold
Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt, Italic Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic Formatted: Font: 12 pt, Italic
Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt, Italic Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic Formatted: Font: 12 pt, Italic Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: Calibri, 11 pt, Not Bold, Font
color: Auto, English (United States)
Formatted: Font: Calibri, 11 pt, English
Trang 20+ Về hình thái: thấy các đường rách (đường bờ gợn sóng, không đều), hoặc
các hình ảnh đặc biệt giúp cho chẩn đoán rách sụn chêm dù không thấy đường
rách như: dấu hiệu “2 sừng trước” (do sừng sau bị rách đẩy ra phía trước), dấu
hiệu “quai xô nước”, “dây chằng chéo sau kép” trong rách quai xách, dấu hiệu
sụn chêm bị mỏng đi ở phía bao khớp, dày lên về phía bờ tự do…
Theo Steinbrich W nếu phối hợp với thăm khám lâm sàng thì độ chính
xác của chụp cộng hưởng từ khoảng 90% [95] Tuy nhiên phương pháp này
có nhược điểm đắt tiền và kết quả phụ thuộc vào người đọc, chất lượng máy
Do vậy một số tác giả cho rằng, điều quan trọng nhất vẫn là khai thác bệnh sử
và khám lâm sàng [95]
1.5.2.6 Thăm khám khớp bằng nội soiNội soi khớp chẩn đoán:
Có thể thấy, dựa vào khám lâm sàng và các phương pháp chẩn đoán hình
ảnh thông thường đã có thể biết đượcThương tổn sụn chêm có thương tổn hay
không, tuy nhiênđã được các nhà khoa học có kinh nghiệm đấy cũng mới chỉ
là dựa vào khám lâm sàng và hình ảnh học để chẩn đoán sơ bộ trước, k, tuy
nhiên kết quả chưa đạt như mong muốn vì không thể biếtchưa xác định rõ
ràng vị trí rách, loại rách Nội soi khớp cho phép quan sát và tiếp xúc trực tiếp
từng thành phần trong ổ khớp nên là một kỹ thuật chẩn đoán chính xác nhất,
giúp phẫu thuật viên đề ra được giải pháp điều trị cụ thể và tiên lượng được
mọi diễn biến đối với khớp Các tác giả đều nước ngoài cho rằng, sau khi đã
có chẩn đoán lâm sàngsơ bộ, nghi ngờ có thương tổn thì tốt nhất bước cuối
cùng là thực hiện nội soi khớp gối để vừa xác định lại chẩn đoán vừa có thể
đồng thờilà phương tiện kỹ thuật cao để điều trị tổn thương [70] sụn chêm
Năm 1913, Eugen Bircherhận thấy việc chẩn đoán chính xác bệnh lý ở
khớp nói chung và sụn chêm nói riêng là rất khó khăn, từ năm 1913 Eugen
Bircher, một phẫu thuật viên Thụy Sỹ đã quan tâm đến việc làm thế nào để có
thể quan sát và đánh giá các thay đổi bệnh lý của các thành phần trong khớp
gối
Năm 1921, lần đầu tiên ông công bố kết quả 18 trường hợp được nội soi
Formatted: French (France) Formatted: French (France)
Trang 21khớp gối, trong đó 13 trường hợp được chẩn đoán chính xác, 3 trường hợp không rõ ràng và 2 ca bị lao khớp nên không quan sát được [31]
Cũng trong thời gian này tại Nhật Bản, Kenji Takagi đã thành công trong việc sử dụng nội soi để đánh giá những thương tổn ở những bệnh nhân bị lao khớp gối bằng cách đưa ống kính soi qua đường rò của khớp
Sau những thành công của Eugen Bircher và Kenji Takagi, việc sử dụng nội soi để chẩn đoán bệnh lý khớp gối đã được ứng dụng rộng rãi ở một số nước trên thế giới Ví dụ như: tại Mỹ năm 1925 bởi Philipp Kreuscher, tại Hà Lan và Đức năm 1937 bởi Hustinx Roland và Rene Sommer, tại Pháp năm
1955 bởi Hurter [39], [65], [90], [101] Các tác giả đều thừa nhận rằng với: những ống kính có kích thước nhỏ đã giúp cho việc có thể quan sát rõ các thành phần trong khớp, đánh giá những thay đổi bệnh lý, từ đó đưa ra những chỉ định điều trị thích hợp [16], [104]
Có thể thấy, nNội soi khớp gối là phương pháp tốt nhất để xác định các tổn thương trong khớp gối, mọi hình ảnh tổn thương đều được quan sát bằng mắt thường thông qua camera đưa hình ảnh từ bên trong gối ra màn hình Với
kỹ thuật nội soi, ta có thể thấy được trực tiếp vị trí rách, loại rách, màu sắc thật của sụn chêm và các tổn thương phối hợp Tuy nhiên, đây là phương pháp can thiệp nên có thể có nguy cơ nhiễm khuẩn, thực hiện phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy định về vô khuẩn
1.6 HÌNH THÁI TỔN THƯƠNG RÁCH SỤN CHÊM
Tuỳ theo thời gian, vị trí, tính chất và hình thái đường rách mà phân chia thành nhiều loại khác nhau
1.6.1 Theo vị trí sừng của sụn chêm
+ Rách sừng trước sụn chêm
+ Rách sừng sau sụn chêm
+ Rách sừng giữa sụn chêm (thân)
1.6.2 Theo tính chất thời gian
+ Rách mới: trong vòng ba tuần đầu tiên kể từ khi chấn thương
Trang 22+ Rách cũ: ngoài thời gian ba tuần sau chấn thương.
1.6.3 Theo phân vùng cấp máu sụn chêm
- Vùng đỏ - đỏ (vùng giàu mạch máu nuôi): chiếm 1/3 ngoài, vùng này
có đầy đủ mạch máu nuôi, rách vùng này dễ liền nếu phát hiện sớm và khâu
phục hồi
- Vùng đỏ - trắng (vùng trung gian): ở 1/3 giữa mạch máu nuôi, mạch
máu bắt đầu giảm dần, tổn thương có thể liền khi điều trị đúng nhưng kết quả
đem lại với tỷ lệ thấp hơn
- Vùng trắng - trắng (vùng vô mạch): 1/3 trong không có mạch máu nuôi,
rách ở đây không có khả năng liến lại nên thường điều trị cắt bỏ đi phần rách
Trên thực tế lâm sàng việc xác định ranh giới các vùng này dựa vào màu
sắc rất khó khăn Năm 1990 de Haven K E đã nghiên cứu giải phẫu và chỉ ra
rằng vùng sụn chêm từ sát bao khớp ra 3mm về phía bờ tự do là vùng đỏ - đỏ,
tiếp theo vùng sụn chêm cách bao khớp từ 3 đến 5 mm là vùng đỏ - trắng, còn lại
là vùng trắng - trắng [31]
1.6.4 Theo hình thái đường rách
Phân loại hình ảnh thương tổn sụn chêm theo hình thái đường rách
được đề cập nhiều vì cần thiết cho việc chẩn đoán và điều trị
- Theo cách phân loại tổn thương kinh điển của Trillat chia làm 3 độ
và áp dụng cho sụn chêm trong [81]
+ Độ I: đường rách dọc nằm phía sau dây chằng bên trong
+ Độ II: đường rách kéo dài ra phía trước tạo nên một cái quai, có thể
trật gây ra kẹt khớp, quai này có thể đứt rời ở phần trước, sau hoặc giữa và
trật ra phía sau lồi cầu đùi
+ Độ III: như độ II nhưng quai này trật thường xuyên
- Phân loại theo O’Connor
Trong những phân loại thương tổn sụn chêm được đề cập, thì phân loại
Formatted: Swedish (Sweden) Formatted: Swedish (Sweden)
Formatted: Font: Not Bold, Not Italic Formatted: Swedish (Sweden)
Formatted: Swedish (Sweden)
Trang 23của O’Connor được coi là đầy đủ và được áp dụng nhiều nhất:
Hình 1.12: Phân loại tổn thương sụn chêm theo O’Connor
A: rách dọc B: rách chéo C: rách nan quạt D: rách ngang E: rách biến dạng
*Nguồn: Meniscal Injuries in Active Patients - Theodore T (2004) [80]
+ Rách dọc: đường rách dọc theo bờ chu vi của sụn chêm Khi đường
rách này dài gây kẹt khớp thì gọi là rách dọc kiểu quai xách
Hình 1.13: Hình ảnh nội soi sụn chêm rách dọc kiểu quai xách
Nguồn: Meniscal Injuries in Active Patients - Theodore T (2004) [80]
+ Rách chéo cũng được xem như là rách kiểu vạt: thường gặp và xảy
ra tại điểm nối 1/3 giữa và 1/3 sau
Formatted: Centered, No bullets or
numbering
Formatted: Font: 12 pt, Italic
Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic Formatted: Font: 12 pt, Italic Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic Formatted: Indent: Left: 0.06"
Formatted: Justified Formatted: Hinh, Tab stops: Not at 0"
Trang 24Hình1.14: Hình ảnh nội soi sụn chêm rách chéo
*Nguồn: Meniscal Injuries in Active Patients - Theodore T (2004) [80]
+ Rách hình tia (nan quạt): cũng thường xảy ra ở những vị trí điểm nối
1/3 giữa và 1/3 sau, chúng kéo dài từ mép tự do ngang qua sụn chêm đến phía
ngoại vi Kiểu rách này làm mất khả năng phân phối lực ra phía ngoại biên
của sụn chêm thường phải cắt sụn chêm toàn bộ
Hình 1.15: Hình ảnh nội soi sụn chêm rách hình tia
*Nguồn: Meniscal Injuries in Active Patients - Theodore T (2004) [80]
+ Rách ngang (rách theo chiều dày): thường xảy ra ở những người già,
chúng kéo dài từ bờ tự do ra phía ngoại biên, thường thoái hóa chất bên trong
sụn chêm Kiểu rách này chia sụn chêm thành hai phần phía trên và dưới
Hình 1.16: Hình ảnh nội soi sụn chêm rách ngang
*Nguồn: Meniscal Injuries in Active Patients - Theodore T (2004) [80]
+ Đường rách biến dạng: cũng thường xảy ra ở người già, kiểu rách này
thường gặp thay đổi mặt khớp và xảy ra ở nhiều mặt phẳng khác nhau
Formatted: Font: 12 pt Formatted: English (United States)
Formatted: Font: 12 pt Formatted: English (United States)
Formatted: Font: 12 pt Formatted: English (United States)
Trang 25Hình 1.17: Hình ảnh nội soi sụn chêm rách biến dạng
*Nguồn: Meniscal Injuries in Active Patients - Theodore T (2004) [80]
1.7 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ RÁCH SỤN CHÊM
1.7.1 Điều trị bảo tồn :
Sụn chêm và những thương tổn của sụn chêm nó đã được biết đến từ thời
Hippocrates Lúc đó người ta cho rằng, đó là biểu hiện của sự sai khớp và
việc điều trị đơn thuần là nắn lại cho đúng
Năm 1731, Bass J đã mô tả hai trường hợp bệnh nhân được nắn lại sụn
chêm ngoài bằng cách dùng ngón tay ấn vào khe khớp bên ngoài
Năm 1773, William Bronfield cũng đã mô tả cách nắn sụn chêm bằng
cách nắm lấy cổ chân bệnh nhân từ từ kéo và gấp dần gối lại Sụn chêm sẽ trở
về vị trí giải phẫu
Năm 1803, VonHey cũng đưa ra phương pháp nắn lại sụn chêm khớp gối
khi bị kẹt khớp bằng cách duỗi mạnh khớp gối sau đó từ từ gấp lại
Tuy nhiên, khi điều trị bảo tồn thì thời gian bất động bột kéo dài Bên
cạnh đó, phương pháp này cũng có nhược điểm là không xác định được chính
xác đường rách nhỏ hay lớn, rách dọc theo thân sụn chêm hay rách phức tạp,
rách vùng rìa nơi cấp máu tốt hay là vùng vô mạch dẫn đến tỷ lệ thành công
thấp Theo Dehaven K.E tỷ lệ thành công là 38% [28] Do đó ngày nay các
tác giả trên thế giới gần như chọn biện pháp can thiệp tích cực là can thiệp
phẫu thuật trừ các trường hợp: đường rách dọc thân nhưng không hết chiều
dày; hoặc đường rách dọc hết chiều dày dưới 10mm và phần sụn chêm rách di
Formatted: Font: 12 pt Formatted: English (United States)
Trang 26lệch ít hơn 3 3mm khi dùng que thăm dò; hoặc đường rách ngang dưới 5
5mm
1.7.2 Điều trị bằng phẫu thuật
- Phẫu thuật mở:
Năm 1867, Bradhurst W đã thực hiện thành công ca phẫu thuật sụn chêm
bằng cách phẫu thuật mở và đã lấy ra toàn bộ sụn chêm rách Tuy nhiên kết quả
mang lại chưa cao, hay gặp nhiễm khuẩntrùng khớp và ảnh hưởng đến vận động
khớp
Thomas Annandale [88] vào giữa thế kỷ XIX đã đưa ra khái niệm về
thương tổn sụn chêm Năm 1885, trong chuyên luận “Kết quả cắt bỏ sụn hình
bán nguyệt trong việc bảo tồn chức năng vận động khớp gối”, tác giả đề cập
tới việc lấy bỏ đi phần sụn chêm tổn thương bằng mở khớp
- Phẫu thuật nội soi:
Ca phẫu thuật nội soi khớp đầu tiên được thực hiện bởi Watanabe M vào
ngày 9 tháng 3 năm 1955 Qua nội soi ông đã lấy ra được một khối u tế bào
khổng lồ vàng ở túi bịt cơ tứ đầu Đến ngày 4 tháng 5 năm 1962 ông đã thực
hiện ca phẫu thuật đầu tiên cắt sụn chêm khớp gối qua nội soi
Sau thành công của Watanabe M phẫu thuật nội soi khớp gối đã được
phát triển mạnh mẽ Năm 1974, O’Connor B đã thực hiện phẫu thuật cắt sụn
chêm khớp gối qua nội soi tại Mỹ và đạt kết quả tốt McGinty J B đã ứng
dụng kỹ thuật điện tử để truyền hình ảnh trong khớp lên màn hình giúp cho
việc quan sát, đánh giá và xử lý các tổn thương chính xác và thuận lợi hơn
Từ đó đến nay, phẫu thuật nội soi khớp ngày càng ứng dụng rộng rãi.,
Bergstrom (1983) , nghiên cứu 58 ca cắt bán phần sụn chêm, so sánh giữa
phẫu thuật nội soi và phẫu thuật mở khớp, tác giả đi đến kết luận: phẫu thuật
nội soi có nhiều ưu điểm hơn so phẫu thuật phẫu thuật mở [88]
Các tác giả như: Pettrone F A.(1982), Martens M A (1986), Simpson
Formatted: Line spacing: Multiple 1.45 li
Trang 27D A (1986) và Lohnert J (1986) đều đi đến kết luận: phẫu thuật cắt sụn
chêm khớp gối qua nội soi cho kết quả tốt hơn, thời gian phục hồi chức năng
vận động khớp nhanh hơn, rút ngắn thời gian nằm viện, nhanh chóng đưa
bệnh nhân trở lại cuộc sống lao động bình thường so phẫu thuật phẫu thuật
mở [42], [53]
Phải đến thế kỷ XX, khi sự hiểu biết về giải phẫu chức năng cũng như
vai trò cơ sinh học của sụn chêm trong vận động của khớp gối được đầy đủ.,
Ccác nhà khoa học phẫu thuật chỉnh hình đã tìm cách để có thể xử lý chính
xác các thương tổn sụn chêm trên nguyên tắc bảo vệ tối đa phần sụn chêm
còn lành Phẫu thuật nội soi ra đời đáp ứng được điều đó
1.7.2.1 Phẫu thuật thay thế sụn chêm
Phẫu thuật thay thế sụn chêm được thực hiện lần đầu tiên bởi Lexer E
(1916), khi sử dụng một dải mỡ tự thân của bệnh nhân để thay thế cho toàn bộ
sụn chêm bị tổn thương Nhưng phải đến năm 1933, kết quả này mới được
công bố khi Gebhardt K với kỹ thuật tương tự đã thành công khi áp dụng trên
thực nghiệm [23]
Cho đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng các chất
liệu khác nhau trong phẫu thuật thay thế sụn chêm Toyonaga T (1983) sử
dụng lưới sợi Teflon thay thế sụn chêm ngoài [10] Năm 1986, Veth R.P.H
sử dụng sợi Cacbon - Polyurethan - Polyactid để thay thế sụn chêm bị thương
tổn và đã cho kết quả tốt [83]
Việc sử dụng các chất liệu sinh học cũng được ứng sử dụng mạnh mẽ
Năm 1986, Johnson L sử dụng mảnh ghép sụn chêm tự thân lấy ở sừng trước
thay thế cho sừng sau sụn chêm trong để làm tăng độ vững chắc khớp gối và
cho kết quả tốt [82]
Formatted: Italian (Italy) Formatted: Line spacing: Multiple 1.4 li Formatted: Italian (Italy)
Formatted: Italian (Italy)
Formatted: Italian (Italy) Formatted: Italian (Italy)
Trang 28Hình 1.18: Mảnh ghép sụn chêm nhân tạo
* Nguồn: “Meniscal Repair and Transplantation: Indications, Techniques,
Rehabilitation and Clinical Outcome”, Journal of Orthropaedic & Sports Physical
Therapy - Timothy P (2006) [82]
Phẫu thuật ghép sụn chêm đồng loại được Wirth C J thực hiện lần đầu
tiên tại Đức vào ngày 25 tháng 5 năm 1984 tại Đức Tác giả sử dụng sụn
chêm tử thi được tiệt trùng bằng tia gama, bảo quản đông khô ở -30ºC để,
ghép phục hồi sụn chêm trong để nhằm làm tăng độ vững chắc khớp gối ở
những bệnh nhân đã bị tổn thương hoàn toàn sụn chêm trong [98] Kết quả
được đánh giá sau 2 năm thực hiện ở 23 bệnh nhân dựa vào mức độ phục hồi
sự vững chắc khớp gối trên lâm sàng và hình ảnh thăm khám qua nội soi
Toàn bộ số bệnh nhân phục hồi được độsự vững củachắc khớp gối Trên X -
quang và thông qua thăm khám bằng nội soi khớp, toàn bộ sụn chêm ghép đã liền
chắc với bao khớp, kích thước sụn chêm được giữ nguyên ở 22 trường hợp Có
một trường hợp sụn chêm bị teo nhỏ 1/3 kích thước, một trường hợp xuất hiện
phản ứng viêm tại bao khớp Không có trường hợp nào xuất hiện phản ứng
thải loại mảnh ghép Kết quả này phù hợp với những nghiên cứu về miễn dịch
học đối với các chất liệu ghép đồng loại kém biệt hoá (homostatis) như gân,
xương, sụn, cân, dây chằng được thực hiện bởi Brown K L (1982), Goldberg
V M., Friedlander G E (1983) [60], [98]
Formatted: Font: 12 pt
Formatted: Font: 12 pt, Not Italic
Trang 29Hình 1.19: Mảnh ghép sụn chêm đồng loại
Nguồn: “Meniscal Repair and Transplantation: Indications, Techniques,
Rehabilitation and Clinical Outcome”, Journal of Orthropaedic &
Sports Physical Therapy - Timothy P (2006) [82]
Hình 1.20: Ghép sụn chêm đồng loại
* Nguồn: “Meniscal Repair and Transplantation: Indications, Techniques,
Rehabilitation and Clinical Outcome”, Journal of Orthropaedic & Sports Physical
Therapy - Timothy P (2006) [82]
Tuy nhiên cho tới nay, gần như các chỉ định thay thế sụn chêm thường
hay áp dụng ở trẻ em có dị tật sụn chêm hình đĩa bẩm sinh là chủ yếu [24],
[60], [82], [85], [99]
1.7.2.2 Phẫu thuật cắt sụn chêm
- Cắt sụn chêm toàn phần: là sụn chêm được cắt hoàn toàn đến sáttận
bao khớp Trước đây, với kỹ thuật mở khớp, phần lớn sụn chêm rách đều
được lấy bỏ hoàn toàn hoặc là gần hoàn toàn.cắt sụn chêm toàn phần được chỉ
định điều trị cho những bệnh nhân tổn thương sụn chêm Nhiều tác giả còn
Lúc đó một số tác giả cho rằng: tổn thương sụn chêm là yếu tố gây đau và hạn
Formatted: Line spacing: 1.5 lines Formatted: Line spacing: Multiple 1.25 li
Formatted: Font: Not Italic
Formatted: Line spacing: Multiple 1.25 li Formatted: Font: 12 pt
Formatted: Font: 12 pt, Not Italic
Trang 30chế vận động của gối, chỉ cần lấy bỏ là đủ Fairbank mô tả sự thay đổi mặt khớp thoái hoá trên phim chụp X - quang sau khi theo dõi 14 năm với 80 bệnh nhân, tác giả nhận thấy tất cả các trường hợpthấy 33% đều có thay đổi rõ trên phim chụp X - quang, những hình ảnh như 43% xuất hiện chồi xương, 32% xuất hiện hẹp khe khớp và và 18% biến dạng mặt khớp Hiện nay, tỷ lệ phải cắt bỏ hoàn toàn sụn chêm còn rất hãn hữu Các tác giải đều thống nhất nhận định rằng, phần sụn chêm lành còn lại dù có bé cũng vẫn còn tác dụng tốt trong việc ngăn cản quá trình thoái hóa khớp tiến triển.Về sau do sự hiểu biết
về chức năng và cơ chế cơ sinh học quan trọng của sụn chêm, nên phương pháp cắt sụn chêm toàn bộ hiện nay ít dùng
- Cắt một phần sụn chêm: là phẫu thuật cắt bỏ phần sụn chêm bị tổn
thương Robert Jones (1909) và Don King (1936) là những người đi tiên phong trong việc cắt bỏ một phần sụn chêm Các tác giả nhận thấy rằng cắt một phần có nhiều ưu điểm so với cắt toàn bộ sụn chêm như: ít gây chấn thương trong phẫu thuật, lượng máu tụ sau phẫu thuật ít hơn, giữ được tối đa phần sụn chêm lành để đảm bảo chức năng vận động của khớp cho nên giảm
tỷ lệ thoái hoá khớp sau nàysau phẫu thuật
Rõ ràng là phẫu thuật cắt sụn chêm một phần có nhiều ưu điểm hơn so cắt sụn chêm toàn bộ, Huckell (1964) [50] tìm thấy chỉ có 40% gối bình thường ở bệnh nhân cắt sụn chêm toàn bộ sau khi theo dõi 12 đến 22 năm Andersson - Molina nghiên cứu sự thay đổi mặt khớp trên phim chụp X -quang 14 năm theo dõi sau phẫu thuật và thấy rằng: 6/18 bệnh nhân hẹp khe khớp khi cắt bỏ một phần sụn chêm, 13/18 bệnh nhân hẹp khe khớp sau khi cắt toàn bộ sụn chêm [80]
Tuy nhiên không phải lúc nào cũng thực hiện cắt một phần sụn chêm được, nhất là những tổn thương phức tạp, rách ở sừng sau hay mặt dưới sụn chêm Bên cạnh đó một số những tổn thương sụn chêm có thể khâu bảo tồn sẽ cho kết quả tốt hơn
Trang 31Hình 1.21: Hình ảnh nội soi rách sụn chêm và sau khi cắt sụn chêm một phần
*Nguồn: Meniscal repair - Wirth C R (1981) [85]
1.7.2.3 Phẫu thuật khâu lại sụn chêm nội soi
Đối với những sụn chêm rách do nguyên nhân chấn thương, nguyên tắc bảo
vệ được tối đa là tốt nhất Người ta tìm cách khâu lại những đường rách mới, ở
những sụn chêm bình thường.rách sụn chêm do chấn thương có chỉ định khâu thì
khâu bảo tồn sụn chêm nội soi là phương pháp xử trí tốt nhất vì giúp tránh được
các biến chứng sau cắt sụn chêm như: thoái hóa, hạn chế chức năng vận động
khớp gối
Phẫu thuật khâu sụn chêm được thực hiện đầu tiên bởi Thomas Annandale
(1885) bằng phẫu thuật mở khớp Sau đó các tác giả như: Lexer E (1931),
Jonasch (1964) thực hiện và kết quả mang lại cũng chưa rõ rệt [101]
Năm 1969, Ikeuchi là người ứng dụng đầu tiên phẫu thuật nội soi để
khâu sụn chêm Đến năm 1976, ông báo cáo kết quả khâu 4 trường hợp đầu
tiên, có 3 trường hợp thành công Năm 1978, Price C T vVà Allen W C
Bbáo cáo 36 trường hợp rách dọc sụn chêm ở phần rìa, kết quả có 30 trường
hợp không còn các triệu chứng điển hình của thương tổn là kẹt khớp, “lục
khục” trong khớp và khụy gối [70]
Nhờ những hiểu biết ngày càng rõ hơn về nguồn cấp máu, mô bệnh học,
người ta thấy rằng có những tổn thương sụn chêm có thể khâu phục hồi, bên cạnh
đó với sự phát triển của phẫu thuật nội soi đã đem lại kết quả tốt hơn
Phải đến thập niên 80, quá trình khâu sụn chêm mới được ứng dụng
rộng rãi trên thế giới như: Henning (1980), Wirth (1981), Marshall D J
(1982) Các tác giả đã đưa ra chỉ định và kỹ thuật cụ thể cho quá trình khâu
Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt, Italic Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic Formatted: Font: 12 pt, Italic Formatted: Font: 12 pt, Italic, English (United
States)
Formatted: Italian (Italy) Formatted: Italian (Italy) Formatted: Italian (Italy)
Formatted: Font: Not Bold
Formatted: Font: Not Bold
Trang 32sụn chêm [55], [825], [825]
* Chỉ định: hiện nay, hầu hết các tác giả đều thống nhất với chỉ định
của Timmy P.:
+ Vị trí rách vùng giàu mạch máu nơi tiếp giáp với bao khớp (vùng
đỏ - đỏ và vùng đỏ - trắng), đối với bệnh nhân trẻ tuổi cân nhắc khâu cả
vùng trắng - trắng
+ Tốt nhất là rách mới không quá 8 tuần
+ Tốt nhất là khâu ở bệnh nhân dưới 45 tuổi, tuy nhiên các nghiên cứu
gần đây thấy rằng kết quả cũng tốt ở bệnh nhân lớn tuổi
+ Khớp gối được khâu sụn phải vững, kết quả sẽ không tốt nếu khớp gối
mất vững [82]
* Các phương pháp khâu sụn chêm qua nội soi:
- Khâu sụn chêm từ trong khớp ra ngoài (inside - out)
Năm 1969 Hiroshi Ikeuchi tiến hành trường hợp phẫu thuật nội soi khâu
sụn chêm đầu tiên bằng kỹ thuật khâu từ trong ra ngoài (Inside - out) Sau đó
Denning (1983), Albrecht, Olsen (1993)… tiếp tục phát triển kỹ thuật này
Hình 1.22: Khâu sụn chêm từ trong khớp ra ngoài
(A: hình nội soi, B: sơ đồ minh họa)
*Nguồn: Surgical treatment for meniscal injuries of the knee in adults - Howell J R
(2006) [39]
Ưu điểm của kỹ thuật này là ta có thể dễ dàng tiếp xúc với vị trí cần
khâu ở nơi sụn bị tổn thương Tuy nhiên kỹ thuật này đòi hỏi phải có dụng cụ
chuyên dụng, vì không thể định vị chính xác đầu ra ở ngoài khớp nên dễ gây
Formatted: Font: 12 pt, Italic Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic Formatted: Font: 12 pt, Italic Formatted: Font: 12 pt, Italic, English (United
States)
Trang 33tổn thương thần kinh mác chung (trong khâu sụn chêm ngoài) và tổn thương
thần kinh hiển hoặc các nhánh của nó (trong khâu sụn chêm trong), ngoài ra
còn gặp khó khăn trong khâu các vị trí sừng trước và sừng sau của sụn [39]
- Khâu sụn chêm hoàn toàn trong khớp (all inside)
Là kỹ thuật khâu khó khăn nhất, phức tạp nhất được Morgan mô tả lần
đầu tiên vào năm 1991, sử dụng các dụng cụ khâu chỉ chuyên dụng các hình
dạng khác nhau… thường dùng để khâu thân và sừng sau sụn chêm Sau đó
với sự phát triển khoa học kỹ thuật các mỏ neo nhân tạo như Rapidloc
(Mitek-Johnson & (Mitek-Johnson), T-Fax… đã giúp cho kỹ thuật dễ dàng và nhanh chóng
hơn, tuy nhiên chi phí cao, do đó hạn chế cho việc áp dụng trên lâm sàng, đặc
biệt là ở nước ta
Hình 1.23: Khâu sụn chêm qua nội soi hoàn toàn trong khớp
*Nguồn: Arthroscopic all - inside repair using the Meniscus Arrow: long - term clinical
follow - up of 113 patients - Siebold R (2007) [75]
- Khâu sụn chêm từ ngoài vào trong khớp (outside - in)
Kỹ thuật này do Waren trình bày lần đầu tiên vào năm 1985 Với ưu
điểm đơn giản, không đòi hỏi dụng cụ chuyên dùng phức tạp, chi phí rất thấp,
tránh được các nhược điểm tổn thương thần kinh hiển, thần kinh mác… đã
giúp kỹ thuật này được ứng dụng một cách rộng rãi Tuy nhiên kỹ thuật này
cũng có nhược điểm như: khó định vị chính xác đầu kim vào đúng chỗ cần
khâu của sụn, khó khăn trong khâu sừng sau [39]
Formatted: Font: 12 pt, Italic Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt, Italic Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic Formatted: Font: 12 pt, Italic Formatted: Font: 12 pt, Italic, English (United
States)
Trang 34Hình 1.24: Sơ đồ khâu sụn chêm theo kỹ thuật từ ngoài vào trong
* Nguồn: Arthroscopic Meniscal Repair with use of outside - in technique - Scott A R
(2000 ) [72])
Ngày nay với những tiến bộ của các phương tiện kỹ thuật, các hiểu biết
ngày càng sâu cơ chế lành sụn, cấp máu cho sụn giúp cho kết quả khâu rách
sụn chêm do chấn thương ngày càng tốt hơn Năm 2008, Haklar khâu các rách
dọc sụn chêm ngoài cho 64 sụn chêm đạt kết quả rất tốt và tốt trên 90% [36],
Adreson (2010) báo cáo khâu 57 trường hợp rách sụn chêm, theo dõi sau 2
năm, kết quả rất tốt và tốt chiếm 52/57 trường hợp [12]
Các nghiên cứu trên thực nghiệm cũng như cận lâm sàng, lâm sàng
năm 2011 như: Likes R L [49], Ruiz Iban [71] (nghiên cứu thực nghiệm),
Seo H.S [73] (nghiên cứu qua second look), Hoffelner [38] (nghiên cứu qua
hình ảnh cộng hưởng từ và phóng xạ) đều có kết luận: nếu khâu sụn chêm ở
vùng cấp máu tốt (vùng đỏ - đỏ, đỏ - trắng) sẽ giúp lền sẹo nhanh hơn và khả
năng liền sẹo cao
Một số nghiên cứu thực nghiệm trên động vật của các tác giả như:
Pollo F.E (2004) [66], Weinand C (2006) [84], Ruiz (2011) [71] tiến hành
khâu sụn chêm ở vùng vô mạch (vùng trắng - trắng) kết hợp với sử dụng tế
bào gốc lấy từ tế bào mỡ trung mô Nhưng các nghiên cứu này chưa được ứng
dụng trên thực tế lâm sàng
Quá trình liền sẹo của sụn chêm bị rách diễn ra trong khoảng 10 tuần,
nhưng phải sau vài tháng mới bắt đầu xuất hiện tế bào sụn tại chỗ tổn thương
Tại nơi này, bên cạnh tổ chức xơ sợi còn có những tế bào sụn trong hyaline
giúp cho đảm bảo chức năng sinh học của sụn chêm sau khi liền sẹo Bằng
phương pháp chụp cộng hưởng từMRI - 3Tesla và hình ảnh nội soi (second -
Formatted: Font: 12 pt
Trang 35look), các tác giả Feng H (2008) [34], Choi (2009) [28], Hoffelner (2011)
[38], Seo (2011) [73] đã chứng minh rằng sau 6 tháng quá trình liền sẹo gần
như hoàn toàn, nếu trường hợp nào chưa liền sẹo, xem như thất bại
Ngoài ra gần đây, có một số tác giả đề ra phương pháp khâu sụn chêm
có sử dụng cục máu đông ngoại sinh cho các đường rách ngang, sử dụng tấm
lưới collagen (từ năm 2003), thường chỉ định cho rách phức tạp tuy nhiên
chưa được công nhận rộng rãi [44]
Hình 1.25: Tạo cục máu đông ngoại sinh
* Nguồn: Repair of horizontal meniscal cleavage tear with exogenous fibrin clots –
Kamimura Tamiko (2011)
Hình 1.26: Khâu sụn chêm có sử dụng cục máu đông ngoại sinh
* Nguồn: Repair of horizontal meniscal cleavage tear with exogenous fibrin clots
-Kamimura Tamiko (2011)
Hình 1.27: Sử dụng tấm lưới collagen trong khâu rách sụn chêm
*Nguồn: A new surgical technique for arthroscopic repair of the meniscus root tear -
Trang 361.7.2.4 Đánh giá kết quả sau khi khâu sụn chêm
- Đánh giá kết quả dựa vào cảm giác chủ quan
Dựa vào cảm giác chủ quan và mức độ hài lòng của người bệnh,
O’Donoghue (1955), Tapper và Hoover (1969) đã đưa ra tiêu chuẩn đánh
giá kết quả các phẫu thuật tại khớp gối Mặc dù có những bất cập như
không lượng hoá được các triệu chứng lâm sàng còn tồn tại sau phẫu thuật,
các chỉ tiêu đánh giá phụ thuộc nhiều vào cảm giác chủ quan của người
bệnh C, các phương pháp này đã được nhiều tác giả sử dụng trong thập
niên 70 của thế kỷ XX
Đánh giá phẫu thuật theo tiêu chuẩn của Tapper và Hoover [79]: rất tốt
(khớp gối bình thường, không đau), tốt (đau nhẹ khi vận động mạnh nhưng
không hạn chế vận động), vừa (đau thường xuyên khi cử động, hạn chế vận động
nhẹ), xấu (đau cả khi nghỉ ngơi, ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày)
- Đánh giá kết quả dựa vào các dấu hiệu lâm sàng khách quan
Có thể kể đến những thang điểm đánh giá chức năng vận động khớp
sau phẫu thuật như thang điểm của Lysholm đưa ra năm 19811, [50], của
Marshall năm 1982, của Slocum năm 1984 [50] Những thang điểm này dùng
để đánh giá kết quả chung sau những phẫu thuật vùng khớp gối, căn cứ vào
các dấu hiệu lâm sàng như đau, sưng gối, kẹt khớp và lỏng khớp cũng như
dựa vào khả năng phục hồi chức năng vận động khớp như đi lại, lên cầu
thang, ngồi xổm và cần dùng dụng cụ trợ giúp khi đi lại để đưa ra những phân
loại kết quả khác nhau Tuy nhiên đánh giá dựa vào thang điểm Lysholm: rất
tốt (91-100 điểm), tốt (77- 90 điểm), trung bình (68 - 76 điểm), xấu (dưới 68
điểm) hay được sử dụng vì đơn giản, thuận lợi
1.7.3 Nghiên cứu ở Việt Nam
Việc chẩn đoán và điều trị phẫu thuật khớp gối nói chung và sụn chêm nói
riêng trước đây còn gặp nhiều khó khăn, do không quan sát hết tất cả các thành
phần thương tổn của khớp gối Sự ra đời và phát triển mạnh của kỹ thuật nội soi
khớp đã giúp cho trong chẩn đoán và điều trị thương tổn sụn chêm đãb bước sang
một cuộc cách mạng mới
Formatted: Indent: First line: 0.5"
Formatted: Swedish (Sweden) Formatted: Swedish (Sweden)
Formatted: Swedish (Sweden) Formatted: Swedish (Sweden) Formatted: Swedish (Sweden) Formatted: Swedish (Sweden)
Trang 37Tại bệnh viện chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn
Văn Quang (1994) bước đầu dùng nội soi khớp để chẩn đoán và điều trị thương
tổn sụn chêm, tuy nhiên gặp nhiều khó khăn do không đầy đủ dụng cụ [6]
Nguyễn Tiến Bình (2000), Phạm Chí Lăng và cộng sự (2000), trong
thông báo khoa học báo cáo ứng dụng nội soi trong điều trị cắt bán phần
sụn chêm bước đầu cho kết quả tốt [1], [6]
Nguyễn Quốc Dũng và cộng sự (2003), báo cáo kết quả nghiên cứu sử
dụng nội soi cắt sụn chêm với 122 trường hợp và Trịnh Đức Thọ qua phẫu
thuật cắt sụn chêm cho 35 trường hợp cũng cho kết quả rất tốt [2], [7]
Nguyễn Mạnh Khánh và cộng sự (2004), với 34 bệnh nhân thương tổn
sụn chêm do chấn thương được phẫu thuật nội soi cắt lọc cho kết quả tốt [5]
Năm 2004, Lê Anh Việt ở Bệnh viện 354 [8] cũng có báo cáo về nội soi cắt
lọc sụn chêm cho kết quả tương tự
Trương Kim Hùng (2009) qua nghiên cứu 116 trường hợp thương tổn
sụn chêm, qua đó mô tả hình thái tổn thương qua nội soi: 56,2% rách dọc,
20% rách chéo, 9,6% rách phức tạp, 7,2% rách ngang và 4% rách nan quạt
Tác giả cho rằng kết quả phẫu thuật cắt sụn chêm phụ thuộc vào: hình thái
thương tổn, thời điểm can thiệp phẫu thuật và tập luyện sau đó
Năm 2012 tác giả Nguyễn Quốc Dũng, trong luận án Tiến sỹ của mình
có 442/450 trường hợp rách sụn chêm được khâu Tuy nhiên tác giả chỉ khâu
với kỹ thuật từ trong ra ngoàải với loại rách dọc ở thân và sừng sau sụn chêm
trong và thân sụn chêm ngoài Kết quả nhóm khâu là rất tốt [3]
Tuy nhiên, các nghiên cứu về rách sụn chêm nói chung và trong chấn
thương nói riêng còn lẻ tẻ,.Các nghiên cứu này đa phần tập trung vào cắt lọc
sụn chêm, rất ít nghiên cứu riêng biệt về khâu rách sụn chêm trong chấn
thương; đồng thời chưa đưa ra một cách khái quát, các kiến nghị trong vấn đề
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân rách sụn chêm do chấn thương
được chẩn đoán và phẫu thuật nội soi khớp gối, trong đó chúng tôi chọn ra
nhóm bệnh nhân được khâu sụn chêm tại bệnh viện Thống Nhất - thành phố
Hồ Chí Minh, từ tháng 6 năm 2007 đến tháng 12 năm 2011 Nhóm còn lại
không có chỉ định khâu chúng tôi thực hiện nghiên cứu khác
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Bệnh nhân được chẩn đoán bị rách sụn chêm do chấn thương và được
phẫu thuật khâu qua nội soi không phân biệt tuổi, giới
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Tổn thương sụn chêm có kèm theo trật khớp gối, lỏng gối do tổn
thương dây chằng, gãy xương vùng gối
- Bệnh nhân có kèm theo thương tổn bề mặt sụn khớp lồi cầu đùi, mâm
chày và mặt sau xương bánh chè độ IV theo cách phân loại của Outerbridge
K K.:
+ Độ I: mặt sụn khớp mềm và có những vị trí bị phồng lên
+ Độ II: có những đường nứt trên mặt sụn nhưng ngắn hơn 1,25cm
+ Độ III: có những đường nứt trên mặt sụn nhưng dài hơn 1,25cm,
chưa có tổn thương đến lớp xương xốp dưới sụn
+ Độ IV: thương tổn sụn khớp sâu, rộng gây lộ phần xương xốp
dưới sụn
- Các bệnh nhân vì những lý do khác nhau không theo dõi được
2.1.3 Chỉ định phẫu thuật
Formatted: Font: Not Italic
Formatted: Font: Bold Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt,
Bold
Formatted: Normal, Justified, Line spacing:
1.5 lines
Trang 39- Triệu chứng điển hình với đau khe khớp khi thăm khám, lục khục
trong khớp hay kẹt khớp, giới hạn tầm vận động của khớp
- Dấu hiệu ngồi xổm hay lên xuống cầu thang khó khăn
- Thăm khám lâm sàng có một nghiệm pháp dương tính trong các
nghiệm pháp: Appley, Mc Murray, Steimann I
- Điều trị bảo tồn thất bại
- Chụp cộng hưởng từ có tổn thương sụn chêm
Chỉ định khâu sụn chêm:
Trong nghiên cứu, chúng tôi thống nhất với chỉ định khâu của Timmy P.:
+ Vị trí rách vùng giàu mạch máu nơi tiếp giáp với bao khớp (vùng đỏ
- đỏ và vùng đỏ - trắng), đối với bệnh nhân trẻ tuổi cân nhắc khâu cả vùng
trắng - trắng
+ Tốt nhất là rách mới không quá 8 tuần Đối với bệnh nhân trẻ tuổi cân
nhắc chỉ định khi rách trên 8 tuần
+ Tốt nhất là khâu ở bệnh nhân dưới 45 tuổi, nếu trên 45 tuổi cần cân
nhắc [91]
Với những hiểu biết ngày càng rõ hơn về vai trò của sụn chêm, quá
trình và cơ chế liền sụn, cùng với các biến chứng về lâu dài do cắt sụn chêm
gây nên Các tác giả trên thế giới và chúng tôi đều quan niệm cần khâu bảo
tồn tối đa các rách sụn chêm do chấn thương khi có thể, để tránh các biến
chứng lâu dài như: hạn chế vận động, mất vững, thoái hóa khớp gối
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
+ Nghiên cứu tiến cứu bằng phương pháp mô tả cắt ngang, theo dõi dọc
+ Nghiên cứu mô tả cắt ngang để nghiên cứu lâm sàng
+ Thăm khám và chẩn đoán theo bệnh án mẫu
+ Kiểm tra bệnh nhân sau phẫu thuật về lâm sàng, chức năng khớp gối
theo thang điểm Tapper và Hoover, Lysholm theo lịch hẹn sau phẫu thuật 1
Formatted: Font: Not Italic Formatted: Indent: First line: 0.38" Formatted: Font: Not Bold
Trang 40tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, 18 tháng và 24 tháng So sánh các kết quả phẫu thuật tại các thời điểm này
2.2.2 Tiến hành nghiên cứu:
Từ tháng 6 năm 2007 đến tháng 12 năm 2011, chúng tôi thu thập được
72 bệnh nhân (72 sụn chêm) rách sụn chêm do chấn thương được phẫu thuật khâu qua nội soi tại bệnh viện Thống Nhất – thành phố Hồ Chí Minh Chúng tôi có phiếu nghiên cứu với các chỉ tiêu được đánh giá:
2.2.2.1 Các yếu tố dịch tễ
- Tuổi, giới
- Nguyên nhân và cơ chế chấn thương
- Bên gối bị tổn thương, thời gian từ khi chấn thương đến khi phẫu thuật, thời gian nằm viện
2.2.2.2 Các thăm khám lâm sàng
- Các dấu hiệu cơ năng: đau, sưng gối, lục khục khớp, kẹt khớp, teo cơ
tứ đầu đùi…
- Đánh giá biên độ vận động của khớp gối, mức độ teo cơ đùi nếu có
- Đánh giá bảng điểm Lysholm trước phẫu thuật
- Thăm khám khớp gối cơ bản phát hiện các tổn thương phối hợp
- Các nghiệm pháp thăm khám đánh giá tổn thương sụn chêm:
+ Nghiệm pháp Steinmann I:
Bệnh nhân nằm ngửa, gấp háng và gấp gối Một tay người khám ôm lấy khớp gối, tay còn lại ôm lấy bàn chân bệnh nhân và xoay trong hoặc xoay ngoài cẳng chân để đánh giá thương tổn sụn chêm ngoài hoặc sụn chêm trong tương ứng qua cảm giác đau của bệnh nhân
Vì sụn chêm trượt trên mâm chày khi gấp duỗi gối nên khi thực hiện nghiệm pháp ở các tư thế gấp duỗi gối khác nhau có thể chẩn đoán được khu
trú vị trí sụn chêm bị tổn thương [21]