Tuyển tập Kết quả Khoa học và Công nghệ được Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam – Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xuất bản hàng năm, đến nay là Số 22; đây là tập hợp kết quả nghiên cứu của Viện thông qua việc thực hiện các đề tài khoa học công nghệ cấp Quốc gia, cấp Bộ và cấp địa phương, các dự án chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất, các nhiệm vụ đột xuất phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh phía Nam,... được tập thể cán bộ khoa học thuộc Viện rút ra từ những vấn đề khoa học công nghệ tiêu biểu xây dựng thành các bài báo khoa học; Ngoài ra, Tuyển tập đón nhận nhiều bài báo khoa học chuyên ngành đến từ các nhà khoa học, các giảng viên đại học và sau đại học, các học viên cao học, các nghiên cứu sinh ở trong và ngoài Viện.Tuyển tập Kết quả Khoa học và Công nghệ đã được Cục Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia cấp mã số chuẩn quốc tế ISSN 0866 7292 cho xuất bản phẩm nhiều kỳ, được tính điểm trong danh mục Tạp chí khoa học của Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước.Tuyển tập Kết quả Khoa học và Công nghệ năm 20212022 (số 22) gồm các bài báo thuộc các lĩnh vực:1.Thủy nông kỹ thuật tài nguyên nước môi trường2.Xây dựng công trình thủy chỉnh trị sông bảo vệ bờ sông, bờ biển phòng chống thiên tai3.Địa chất nền móng vật liệu xây dựng công nghệ mới, vật liệu mới trong xây dựng thủy lợiChúng tôi hy vọng Tuyển tập sẽ là tài liệu chuyên khảo có giá trị khoa học cho các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu, cán bộ giảng dạy, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các trường Đại học kỹ thuật chuyên ngành, độc giả trong và ngoài ngành
Trang 1TUYỂN TẬP KẾT QUẢ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2021-2022
Trang 3VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI MIỀN NAM
TUYỂN TẬP KẾT QUẢ
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2021-2022
Số 22
ISSN 0866 - 7292
Tp Hồ Chí Minh, năm 2022
Trang 4DANH SÁCH BAN BIÊN TẬP
12 TS Nguyễn Đình Vượng Ủy viên thường trực;
Thư ký Ban biên tập
Trang 5MỤC LỤC
Lời nói đầu
PHẦN I THỦY NÔNG – KỸ THUẬT TÀI NGUYÊN NƯỚC - MÔI TRƯỜNG 1
1 Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng ở mô hình tôm – lúa
hợp tác xã Bảo Trâm và Thạnh An, tỉnh Kiên Giang 3
Doãn Văn Huế, Tô Văn Thanh, Tiến Thị Xuân Ái,
Phạm Văn Thuần, Lương Quốc Tuấn, Tống Đình Quyết
2 Tính thích nghi của các hệ thống canh tác với điều kiện tự nhiên ở vùng ven biển Tây Đồng bằng sông Cửu Long 13
Doãn Văn Huế, Tiến Thị Xuân Ái, Lê Thị Vân Linh,
Lương Quốc Tuấn, Tống Đình Quyết, Tô Văn Thanh
3 Phân tích diễn biến nguồn nước vùng sản xuất tôm – lúa huyện An Biên
và An Minh tỉnh Kiên Giang 30
Doãn Văn Huế, Lê Thị Vân Linh, Tiến Thị Xuân Ái,
Lương Quốc Tuấn, Tống Đình Quyết, Tô Duy Hoàn, Tô Văn Thanh
4 Ứng dụng phương pháp đánh giá đa tiêu chí (MCE) nhằm đề xuất mô hình canh tác nông nghiệp hợp lý cho vùng ven biển bị nhiễm mặn ở huyện Cần Giuộc,
tỉnh Long An 42
Nguyễn Ngọc Thy, Võ Khắc Trí
5 Đánh giá ảnh hưởng của diễn biến mặn trên các mô hình canh tác khác nhau
ở vùng đất nhiễm mặn thuộc huyện Cần Giuộc bằng mô hình Hydrus 1D 58
Nguyễn Ngọc Thy, Võ Khắc Trí, Hoàng Quang Huy
6 Cân bằng nước dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng tại các vùng thủy lợi ở TP Hồ Chí Minh 72
Nguyễn Thế Biên, Huỳnh Duy Tân, Phạm Thế Vinh, Nguyễn Đăng Luân
7 Nghiên cứu tính toán cân bằng nước khu vực TP Hồ Chí Minh khi có điều tiết
của các công trình thủy lợi dưới tác động của biến đổi khí hậu 85
Lương Văn Thanh, Lương Văn Khanh, Phạm Thế Vinh,
Nguyễn Đăng Luân, Lê Thị Kỹ Diệp
8 Một đề xuất cung cấp nước ngọt cho vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long mùa khô hạn một cách bền vững 99
Nguyễn Ân Niên, Nguyễn Công Anh, Đỗ Đắc Hải
9 Tác động của hồ chứa lưu vực Mê Công đến tích nước của hồ Tonle Sap
cuối mùa mưa – đầu mùa khô 106
Tăng Đức Thắng, Phạm Văn Giáp, Nguyễn Thanh Hải, Tô Quang Toản,
Nguyễn Văn Hoạt, Phạm Ngọc Hải, Nguyễn Phương Mai
Trang 6Tăng Đức Thắng, Phạm Văn Giáp
11 Phân bố dòng chảy mùa khô về châu thổ Mê Công giai đoạn 2013 - 2019 121
Tăng Đức Thắng, Phạm Văn Giáp
12 Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng phục vụ sản xuất
tôm – lúa vùng ven biển Tây Đồng bằng sông Cửu Long 127
Doãn Văn Huế, Tô Văn Thanh, Nguyễn Trọng Tuấn
13 Một số vấn đề về tiềm năng nguồn nước mặt và sử dụng nước phía trên
châu thổ Mê Công 135
Tăng Đức Thắng, Phạm Văn Giáp, Trần Minh Tuấn, Tô Quang Toản,
Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Văn Hoạt, Nguyễn Phương Mai
14 Ứng dụng kết quả nghiên cứu mặn phân tầng vào thực tế tại
Đồng bằng sông Cửu Long 143
Đỗ Đắc Hải, Huỳnh Thanh Sơn
15 Nghiên cứu lan truyền khối nước mang mầm bệnh trong hệ thống nuôi trồng
thủy sản ven biển (trường hợp nghiên cứu điển hình cho vùng
ven biển Kiên Giang) 152
Nguyễn Đình Vượng, Tăng Đức Thắng
16 Ứng dụng chương trình tương quan “lấp đầy” dữ liệu quan trắc chất lượng nước phục vụ đánh giá chất lượng và khả năng tự làm sạch của nước 162
Bùi Việt Hưng, Nguyễn Ngọc Diệp
17 Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu
cấp nước sạch nông thôn 175
Doãn Văn Huế, Nguyễn Trọng Tuấn, Tiến Thị Xuân Ái
18 Cân bằng nước và một số kiến nghị về định hướng phát triển nông nghiệp bền vững
ở tỉnh An Giang 187
Tô Quang Toản, Phan Trường Khanh
19 Ảnh hưởng của giờ xuất hiện mưa lớn đến ngập ở các đô thị có ảnh hưởng thủy triều
vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các vấn đề cần quan tâm 204
Tô Quang Toản, Đặng Thanh Lâm, Vũ Cảnh Toàn
20 Mô hình mô phỏng sự lan truyền nước chua phèn trong kênh có kể tới quá trình
phèn trong đất 216
Nguyễn Tất Đắc, Trần Ký
21 Đánh giá một số thanh đổi đặc trưng ngập do lũ và triều vùng Đồng bằng
sông Cửu Long và các vấn đề cần quan tâm 225
Tô Quang Toản, Vũ Cảnh Toàn
22 Một mô phỏng lan truyền nước phèn sử dụng mô hình ACID2020 cho khu vực kênh Hà Giang thuộc vùng Tứ Giác Long Xuyên 237
Trần Ký
Trang 7SÔNG, BỜ BIỂN – PHÕNG CHỐNG THIÊN TAI 249
1 Nghiên cứu sóng ven bờ khu vực Côn Đảo tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trên mô hình toán
MIKE21 251
Lê Ngọc Diệp
2 Đánh giá độ chính xác thành lập bản đồ địa hình trên cơ sở dữ liệu ảnh từ thiết bị DJI
Phantom 4 RTK 273
Nguyễn Văn Hoàng, Huỳnh Thị Kim Nhân
3 Ứng dụng đê giảm sóng kết cấu rỗng TC1, TC2 bảo vệ bờ biển vùng Đồng bằng
sông Cửu Long 284
Lê Xuân Tú, Lê Thanh Chương, Trần Bá Hoằng, Lê Mạnh Hùng, Lê Thị Hiền
4 Ảnh hưởng của đê giảm sóng đến chế độ thủy động lực bờ biển Tân Thành – Gò
Công 294
Lê Xuân Tú, Nguyễn Công Phong, Mai Hoàn Thành, Cao Hồng Tân
5 Xác định ảnh hưởng của chiều rộng đỉnh đến hiệu quả giảm sóng
của đê giảm sóng cọc ly tâm – đá đổ trong máng sóng 306
Đỗ Văn Dương, Nguyễn Nguyệt Minh, Lê Duy Tú, Lê Xuân Tú,
Đinh Công Sản, Trần Thùy Linh
6 Đề xuất giải pháp áp dụng quy trình mô hình thông tin công trình (BIM) trong thiết
kế, xây dựng và vận hành công trình thủy lợi 319
Tô Duy Hoàn, Doãn Văn Huế, Nguyễn Trọng Tuấn, Đỗ Văn Hoàng,
Phạm Văn Thuấn, Tô Văn Thanh
7 Tác động của nhiệt độ khi thi công tới hiện tượng nứt kết cấu dầm bê tông
cốt thép 338
Khương Văn Huân
8 Đánh giá giải pháp cốt pha để giảm nứt kết cấu dầm bê tông cốt thép 344
Khương Văn Huân, Tạ Thùy Trang
PHẦN III ĐỊA CHẤT NỀN MÓNG - VẬT LIỆU XÂY DỰNG - CÔNG NGHỆ
MỚI, VẬT LIỆU MỚI TRONG XÂY DỰNG THỦY LỢI 351
1 Tương quan sức chống cắt không thoát nước từ thí nghiệm cắt cánh (VST)
và thí nghiệm nén ngang (PMT) ở khu vực Thủ Thiêm, Quận 2, thành phố
Hồ Chí Minh 353
Lê Bá Vinh, Bùi Hoàng Dương, Trần Thanh Tú
2 So sánh một số đặc trưng nén lún từ các kết quả nén cố kết tại những thời điểm
khác nhau của đất yếu bão hòa nước khu vực quận 8, Tp Hồ Chí Minh 360
Lê Bá Vinh, Nguyễn Chí Nhân, Trần Thanh Tú
3 Đặc điểm, cơ chế và phân loại các loại hình sụt lún đất 367
Nguyễn Xuân Trường, Trần Thanh Tú, Nguyễn Thúy Trang, Nguyễn Chí Nhân,
Huỳnh Đăng Khánh, Bùi Hoàng Dương
Trang 8trong phòng thí nghiệm 382
Nguyễn Xuân Trường, Nguyễn Chí Nhân, Bùi Hoàng Dương, Đào Thị Phương, Nguyễn Thị Hoàng Anh, Phan Văn Đức, Trịnh Bá Ngà, Trần Thị Ngọc Thủy,
Đỗ Khắc Trường, Đào Thị Nhung
5 Nghiên cứu ứng dụng công nghệ vật liệu thảm sét địa kỹ thuật và màng địa kỹ thuật chống thấm cho các kênh rạch phục vụ tưới cây ăn quả trong điều kiện hạn, mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long 396
Trần Thái Hùng, Trần Minh Tuấn, Bùi Văn Cường, Nguyễn Lê Huấn
6 Một vài đánh giá về sự cố xây dựng công trình liên quan đến đất nền, nước ngầm
và địa kỹ thuật ở vùng ĐBSCL 407
Doãn Văn Huế
7 Ảnh hưởng hóa lỏng của đất nền đến sức chịu tải của cọc cho khu vực ven biển tỉnh Bình Định 417
Hứa Thành Thân, Nguyễn Ngọc Phúc, Trần Thị Thanh, Nguyễn Văn Công
8 Ứng xử của tường vây hố đào công trình xét đến tải trọng động do xe vận chuyển trong quá trình thi công 429
Đỗ Thanh Hải, Đoàn Tấn Việt Cương
9 Đánh giá sự triết giảm sóng ven bờ cho loại đê tái sử dụng lốp xe ô tô làm
vật liệu chắn sóng 439
Nguyễn Phú Quỳnh, Đỗ Đắc Hải, Trần ăn Trương, Vũ Hoàng Hoa
10 Nghiên cứu ứng dụng công nghệ túi địa kỹ thuật để nâng cấp đê bao kết hợp
xây dựng đường giao thông nông thôn ở vùng ven biển Tây Đồng bằng
sông Cửu Long 448
Tống Đình Quyết, Doãn Văn Huế, Lương Quốc Tuấn
11 Giới thiệu một số giải pháp công nghệ sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường hạn chế xói lở bờ, bãi để bảo vệ, phục hồi rừng ngập mặn vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long 467
Đỗ Đắc Hải, Ưng Ngọc Nam, Nguyễn Đăng Huy
Trang 9L ời nói đầu
uyển tập Kết quả Khoa học và Công nghệ được Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam xuất bản hàng năm, đến nay là Số 22; đây là tập hợp kết quả
nghiên cứu của Viện thông qua việc thực hiện các đề tài khoa học công nghệ cấp Quốc gia, cấp Bộ và cấp địa phương, các dự án chuyển giao công nghệ phục
vụ sản xuất, các nhiệm vụ đột xuất phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh phía Nam,… được tập thể cán bộ khoa học thuộc Viện rút ra từ những vấn đề khoa học công nghệ tiêu biểu xây dựng thành các bài báo khoa học; Ngoài ra, Tuyển tập đón nhận nhiều bài báo khoa học chuyên ngành đến từ các nhà khoa học, các giảng viên đại học và sau đại học, các học viên cao học, các nghiên cứu sinh ở trong và ngoài Viện
Tuyển tập Kết quả Khoa học và Công nghệ - Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã được Cục Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia cấp mã số chuẩn quốc tế ISSN 0866 - 7292 cho xuất bản phẩm nhiều kỳ, được tính điểm trong danh mục Tạp chí
khoa học của Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước
Tuyển tập Kết quả Khoa học và Công nghệ năm 2021-2022 (số 22) gồm các
bài báo thuộc các lĩnh vực:
1 Thủy nông - kỹ thuật tài nguyên nước - môi trường
2 Xây dựng công trình thủy - chỉnh trị sông - bảo vệ bờ sông, bờ biển - phòng chống thiên tai
3 Địa chất nền móng - vật liệu xây dựng - công nghệ mới, vật liệu mới trong xây dựng thủy lợi
Chúng tôi hy vọng Tuyển tập sẽ là tài liệu chuyên khảo có giá trị khoa học cho các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu, cán bộ giảng dạy, các nghiên cứu sinh, học viên cao học
và sinh viên các trường Đại học kỹ thuật chuyên ngành, độc giả trong và ngoài ngành
Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam chân thành cảm ơn những ý kiến quý báu của bạn đọc đóng góp cho Tuyển tập; cảm ơn các tác giả đã tham gia bài báo, các chuyên gia, nhà khoa học chuyên ngành đã phản biện, thẩm định cho các bài báo để Viện xuất bản Tuyển tập này
Trân trọng giới thiệu Tuyển tập KH&CN cùng bạn đọc
VIỆN TRƯỞNG PGS.TS TRẦN BÁ HOẰNG
T
Trang 11Phần I
THỦY NÔNG – KỸ THUẬT TÀI NGUYÊN NƯỚC – MÔI TRƯỜNG
Trang 13NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THỦY LỢI NỘI ĐỒNG Ở MÔ HÌNH TÔM - LÚA HỢP TÁC XÃ BÀO TRÂM VÀ THẠNH AN,
thoát chưa chủ động, bờ ruộng còn thấp, giữ nước kém, chưa có ao lắng, ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả sản xuất tôm-lúa Để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu và hạn mặn cực đoan đang diễn ra ngày càng bất lợi cho sản xuất cần nghiên cứu giải pháp cải tạo, nâng cấp và từng bước hiện đại hóa hệ thống thủy lợi nội đồng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên làm cơ sở nhân rộng ở vùng ven biển tây
ĐBSCL
ABSTRACT: The in-field irrigation system in the Bao Tram and Thanh An cooperatives is
currently inadequate with an inactive water supply and drainage, low field banks, poor water retention, and no settling ponds, affecting the cooperatives’ production efficiency Therefore, it
is necessary to study solutions to renovate, upgrade and gradually modernize this system to meet sustainable development in the context of climate change and extreme salinity intrusion that are increasingly unfavorable for production The study will contribute to improving economic efficiency and protecting the natural environment as a basis for replicating the
shrimp-rice model in the Mekong Delta’s western coastal region
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nuôi tôm quảng canh cải tiến trong
ruộng lúa ở vùng ven biển tây là chủ
trương lớn của tỉnh Kiên Giang, chính vì
vậy diện tích và sản lượng tôm của hệ
thống này gia tăng trung bình lần lượt là
98% và 199% hàng năm trong hơn 10
năm qua Theo kế hoạch của tỉnh Kiên
Giang, đến năm 2020 diện tích tôm-lúa
đạt 80.000 ha, năng suất tôm đạt 0,4÷0,5
tấn/ha, năm 2030 diện tích tôm-lúa mở
rộng đạt 90.000 ha Các vùng mở rộng
tôm-lúa là An Biên, U Minh Thượng, Hòn
Đất, Kiên Lương nơi hiện đang canh tác 2
vụ lúa, nhưng kém hiệu quả do xâm nhập
mặn, chuyển sang 1 vụ tôm, 1 vụ lúa
Trong đó, huyện An Minh có 32.080 ha
diện tích sản xuất tôm-lúa, huyện An Biên
là 16.180 ha Mô hình sản xuất tôm-lúa ở vùng ven biển tây đang phát huy và đem lại hiệu quả khá tốt nên một số bà con nông dân đã chuyển một phần diện tích chuyên nuôi tôm và chuyên canh 2 vụ lúa sang nuôi tôm và trồng lúa
Với thực trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất mô hình tôm-lúa trong vùng hiện nay là chưa đảm bảo, cụ thể: hệ thống ao, ruộng nuôi chưa có ao lắng, hệ thống kênh mương cấp thoát nước chưa được bố trí khoa học, cấp thoát chung làm cho chất lượng nước thấp, dễ lấy nhầm nước mang mầm bệnh, hiện trạng hầu hết
bị bồi lắng nên giảm khả năng trữ nước mưa Tình trạng triều cường, nước biển dâng thường xuyên xảy ra làm mất rừng, sạt lở đê biển, phá vỡ các bờ bao NTTS,
Trang 14gây ô nhiễm môi trường đất và nước, lan
truyền dịch bệnh,… ảnh hưởng và gây thiệt
hại nghiêm trọng đến đời sống và điều kiện
phát triển kinh tế của người dân Bên cạnh
đó, do không có các thông tin dự báo chất
lượng nước, hạ tầng thủy lợi chưa đủ năng
lực kiểm soát nước chủ động nên lịch thời
vụ sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào điều
kiện thời tiết
Trong khuôn khổ đề tài: “Nghiên
cứu ứng dụng và phát triển công nghệ
nhằm hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật góp
phần nâng cao hiệu quả sản xuất tôm-lúa
vùng ven biển Tây Đồng bằng sông Cửu
Long” đã lựa chọn Hợp tác xã (HTX) Bào
Trâm và HTX tôm-cua-lúa Thạnh An để
triển khai mô hình thử nghiệm về canh tác tôm - lúa Chính vì vậy, nghiên cứu định hình giải pháp công nghệ nhằm hoàn thiện
hạ tầng kỹ thuật từ mô hình nói trên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất tôm-lúa, làm cơ sở nhân rộng là việc làm thực
sự cần thiết và có ý nghĩa khoa học
2 HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG THỦY LỢI NỘI ĐỒNG KHU MÔ HÌNH
HTX Bào Trâm thuộc ấp Bàu Trâm,
xã Nam Yên, huyện An Biên có diện tích
tự nhiên khoảng 200 ha, trong đó hiện có
82 ha diện tích sản xuất tôm-lúa, với dân
số 850 người sinh sống chủ yếu là nghề nông, trong đó dân tộc thiểu số (Khơ me) chiếm khoảng 40%
Hình 1: Sơ đồ vị trí canh tác tôm-lúa HTX Bào Trâm và HTX Thạnh An
Hệ thống thủy lợi của HTX Bào
Trâm hiện nay gồm: kênh Thứ 3 (cấp II),
kênh Xáng Mới (cấp III) có nhiệm vụ cấp thoát nước cho toàn vùng, ngoài ra còn có
Trang 155 kênh ngang cấp và tiêu thoát nội đồng
là: kênh Ông Kiểm, kênh Chín Bò, kênh
Bà Sượt, kênh Ba Đằng, kênh Ông Thọ
kênh Thầy Cai Đầu các kênh đổ ra phía
kênh Thứ Ba, trên lộ nhựa đi Nam Yên có
cống ngầm 100 cm còn phía kênh Xáng
Mới các kênh đều thông ra kênh chưa có
cống, HTX đang đắp đập tạm để giữ nước
Hợp tác xã Tôm-cua-lúa Thạnh An,
thuộc ấp Thạnh An, xã Đông Thạnh,
huyện An Minh có diện tích tự nhiên
khoảng 80 ha (trong đó có 16 ha sản xuất
tôm-lúa) được thành lập năm 2016 Khu
canh tác có 2 kênh trục chính là kênh
Mười Quang và kênh Xáng Mới thông ra
kênh xáng Xẻo Rô, trong nội đồng chỉ có
Kênh Hậu (kênh 300) và kênh ven đường
hành lang ven biển là kênh cấp và thoát cho HTX, mặt cắt kênh hiện tại Bm = 6÷8
m cao trình đáy -1,5 m các kênh này đều
có bờ bao đảm bảo canh tác tôm-lúa Hiện nay hệ thống công trình cống điều tiết kiểm soát nguồn nước của HTX Thạnh An chưa được xây dựng nên người dân phải đắp đập tạm ở 2 đầu Kênh Hậu và kênh ven đường hành lang ven biển để phục vụ sản xuất
Hệ thống thủy lợi ở khu vực mô hình hai HTX từ trước đến nay chủ yếu phục vụ công tác tưới, tiêu, ngăn mặn và trữ nước mưa phục vụ canh tác 2 vụ lúa Khi sản xuất trong vùng chuyển đổi sang mô hình canh tác lúa - tôm hệ thống công trình chưa đáp ứng kịp, thiếu tính đồng bộ
Hình 2: Hiện trạng hạ tầng canh tác tôm-lúa ở HTX Bào Trâm và Thạnh An
3 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG
NƯỚC
Nguồn nước mặn phục vụ NTTS khá
thuận lợi, tuy nhiên nguồn nước ngọt trồng
lúa chưa chủ động được, phụ thuộc vào
nước mưa và nguồn nước từ sông Cái Lớn
Do hệ thống cống dưới đê biển An Minh -
An Biên chưa hoàn thiện, để bảo vệ sản
xuất hàng năm địa phương phải tiến hành
đắp đập tạm để giữ nước gây hiện tượng ô
nhiễm nguồn nước Trong khu vực sản
xuất, nguồn nước mặt bị ô nhiễm nhẹ, chủ
yếu là ô nhiễm do các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh Phần lớn diện tích là đất phèn và phèn mặn, sau một mùa khô kéo dài đất đai bị nứt nẻ và quá trình ôxy hóa trong đất diễn ra nhanh, đầu mùa mưa, nước mưa rửa trôi và đẩy phèn xuống kênh rạch làm cho hầu hết nước trong các kênh rạch trong vùng bị nhiễm phèn nặng, thời điểm này mưa chưa nhiều nên thời gian nhiễm phèn kéo dài gây tác hại rất lớn đến các loại cây trồng và vật nuôi Lượng mưa mùa khô ở vùng nghiên cứu chỉ chiếm khoảng 5% lượng mưa năm, nguồn nước
Trang 16ngọt sông Hậu dẫn về qua các kênh nối
sông Hậu với Cái Lớn - Cái Bé chưa đủ
khả năng cấp ngọt và đẩy mặn, vì thế tình
hình hạn ở đây xảy ra rất trầm trọng Ngay
cả trong mùa mưa, tuy có lượng mưa lớn
nhưng do không có công trình giữ nước
nên khi dứt mưa, mặn xâm nhập vào các
kênh nội động, dẫn đến không có nước tưới
khi có hạn Bà Chằng xảy ra (không có mưa
5, 7, 10, 15 ngày) Trung bình trong mùa
mưa thường xảy ra 3-6 đợt hạn 7 ngày, từ
1-2 đợt hạn 10 ngày
Kết quả đo giá trị pH thời điểm tháng 02/2019 được ghi nhận tại các vị trí lấy mẫu của cả hai khu vực mô hình đều tương đối ổn định, dao động từ 6,48-7,02, không có sự sai khác nhiều tại các vị trí lấy mẫu và các thời điểm lấy mẫu Giá trị
pH cho thấy nguồn nước hoàn toàn không
bị nhiễm phèn và nằm trong quy chuẩn chất lượng nước mặt (QCVN 08-MT:2015/ BTNMT loại A1) Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc
sử dụng nguồn nước cho nông nghiệp, trồng cây cũng như sử dụng trong NTTS
Hình 3: Biến đổi giá trị pH của nước mặt vùng dự án đo tháng 02/2019
Xâm nhập mặn: toàn bộ vùng ven
biển chưa được khép kín, còn nhiều cửa
sông đổ ra biển nên vào mùa khô, tình
trạng xâm nhập mặn luôn diễn ra nghiêm
trọng thông qua sông Cái Lớn, Cán Gáo
và các kênh nối ra biển Tây, như kênh
Thứ 2, thứ 3, thứ 5 Thời gian bị nhiễm
mặn khoảng 4-6 tháng, tùy thuộc từng vị
trí, xuất hiện vào tháng XII đến cuối tháng
V; vào các tháng mùa kiệt, hầu như toàn
bộ diện tích vùng có độ mặn vượt 4g/lít
Kết quả khảo sát tháng 02/2019 cho thấy
nguồn nước trong vùng nghiên cứu khá mặn, giá trị EC ghi nhận được tại các điểm lấy mẫu ở An Minh là 7,6-23,5‰ và
ở khu vực An Biên là 3,0-18,3‰ Như vậy, nếu so với bảng phân loại mặn của nước tưới cho cây trồng thì nguồn nước của vùng dự án không phù hợp để tưới cho cây trồng ngoại trừ đất có hệ thống thoát tốt, chế độ quản lý tưới chặt chẽ; nhưng nguồn nước lại có độ mặn nằm trong khoảng thích hợp cho tôm
Trang 17Hình 4: Biến đổi giá trị độ mặn trong nước mặt vùng dự án đo tháng 02/2019
4 QUY HOẠCH HỆ THỐNG HẠ
TẦNG KỸ THUẬT PHỤC VỤ SẢN
XUẤT TÔM - LÚA
4.1 Nhu cầu nước cho loại hình lúa tôm
Theo tiêu chuẩn nuôi tôm sú thì
chiều sâu lớp nước trong mương trú quanh
ruộng nuôi tối thiểu là 0,70 m, tối đa là
1,30 m và trung bình là 1,0 m Với cao
trình mặt ruộng bình quân là +0,20 m, chọn
cao trình mương trú là -0,80 m thì chiều
sâu lớp nước trong mương trú là 1,0 m
Lượng nước cần cấp hoặc thay nước
mỗi lần cho ruộng nuôi lấy bằng 15%
lượng nước có trong ruộng nuôi tôm Hiện
nay ở các khu canh tác tôm-lúa thì vụ tôm
thường bắt đầu vào tháng II, kết thúc vào
tháng VI và vụ lúa (hè thu, lúa mùa) đến
tháng XII Ở vụ tôm cho thấy hình thức
nuôi theo mô hình quảng canh (không cho
thức ăn), lớp nước mặt ruộng khoảng
0,6-0,8 m Hầu hết người dân không làm ao
lắng và ao xử lý, nước được lấy trực tiếp
từ kênh dẫn vào ao nuôi và thải trực tiếp
ra kênh rạch không qua ao xử lý Khi độ
pH trên ao < 7,5‰ thì bỏ thêm vôi vào cho đến khi độ pH đạt 7,5-8,0‰ Khi lượng nước trên ao thiếu hụt vào khoảng cuối tháng III thì bơm nước bổ sung và không thay nước trong suốt vụ tôm Kết quả tính toán hệ số lấy nước là qmax= 4,0 l/s.ha Hệ số này có thể thay đổi theo thời gian lấy dài hay ngắn suốt vụ tôm
4.2 Bố trí hệ thống công trình
4.2.1 Nguyên tắc bố trí công trình
- Với yêu cầu nước cho nuôi tôm chất lượng phải đảm bảo sạch, độ mặn thích hợp và lấy nước vào thời kỳ đỉnh triều Do đó các công trình lấy nước phải được đặt tại vị trí thuận lợi và trực tiếp lấy
từ nguồn nước chính
- Công tác tiêu thoát nước mưa, nước thải từ ruộng tôm khi thu hoạch và khi có vấn đề dịch bệnh phải nhanh chóng, thời gian tiêu tốt nhất là vào thời
Trang 18công trình hiện có một cách hợp lý, hạn
chế việc xây dựng mới các công trình mới
đặc biệt là các công trình theo tuyến
(kênh, bờ bao) vì sẽ ảnh hưởng tới nhiều
hộ dân
- Hệ thống công trình phải đảm bảo
dễ dàng chuyển đổi phục vụ sản xuất khi
có yêu cầu và cần phải đánh giá ảnh
hưởng của nước biển dâng tới sản xuất và
có các giải pháp dự phòng
4.2.2 Các hạng mục công trình cơ bản
- Nạo vét hệ thống kênh các cấp cho
đủ khẩu độ, đáp ứng yêu cầu cấp, thoát
nước Đất nạo vét kênh được đắp lên thành
bờ bao, kết hợp làm đường giao thông
- Xây dựng hệ thống cống điều tiết,
trạm bơm phục vụ cấp, thoát nước
a) Khu HTX Bào Trâm:
Với đặc điểm ô ruộng nằm trong
vùng đất trồng lúa 2 vụ nên hệ thống thủy
lợi nội đồng không tách biệt cấp thoát mà
sử dụng chung Với khu mô hình canh tác
tôm-lúa sẽ bố trí kênh nội đồng tách biệt
để chủ động trong cấp và thoát nước
Giải pháp cấp nước:
Cấp nước mặn được lấy từ biển Tây,
kênh Chống Mỹ thông qua rạch Thứ Ba
Nước ngọt lấy từ vùng ngọt hóa phía trên
thông qua các kênh cấp I và kênh Cán Gáo
(xáng Xẻo Rô) qua kênh Xáng Mới vào
vùng dự án HTX Bào Trâm Hướng thoát
nước mặn ngược với hướng cấp nước mặn
và đổ ra kênh Chống Mỹ - biển Tây
Bố trí hệ thống kênh nội đồng cấp
và tiêu thoát nước như sau: kênh Ông
Kiểm, Kênh Chín Bò, kênh Bà Đặng,
kênh Ông Thọ và kênh Thầy Cai là các
kênh cấp nước mặn và nước ngọt Các
kênh tiêu là kênh Ba Mập, kênh Bà Sượt,
kênh Đầu Sấu và kênh Thủy lợi Hệ thống
các kênh này cần nạo vét để đảm bảo cấp
đủ nước cho sản xuất trong vụ tôm cũng như trồng lúa
Giải pháp bố trí hệ thống công trình kiểm soát nguồn nước: Các đầu kênh cấp và thoát cần bố trí các cống để kiểm soát nguồn nước kết hợp trạm bơm để chủ động trong sản xuất như sau: cống Ba Mập (Thứ 3), cống Chín Bò (Thứ 3), cống Bà Sượt (Thứ 3), cống Bà Đặng (Thứ 3), cống Đầu Sấu (Thứ 3) cống Ông Thọ (Thứ 3) các cống này hiện tại đã xây dựng cống 100cm và 150cm trên tuyến huyện lộ về xã Nam Yên, 5 vị trí tiếp giáp với kênh Xáng Mới chưa xây dựng cống, hiện tại HTX Bào Trâm tạm thời đắp các đập thời vụ nhằm đảm bảo sản xuất
Đối với ô mô hình tôm-lúa HTX Bào Trâm diện tích sản xuất 40 ha đề xuất đầu tư xây dựng các hạng mục như sau:
- Nạo vét kênh Chín Bò: L = 1.360m, Bđáy = 4m, cao trình đáy -1,0m ; kết hợp đắp bờ bao làm đường giao thông (Bm = 3,0m, cao trình bờ +1,5m); hệ số mái m =1,0
- Nạo vét kênh Bà Sượt, L = 1.332m, Bđáy = 4m, cao trình đáy -1,5m; kết hợp đắp bờ bao làm đường giao thông (Bm = 3,0m, cao trình bờ +1,5m); hệ số mái m = 1,0
- Xây dựng cống cấp đầu kênh Chín
Bò (phía kênh Xáng Mới): B = 2,5m, cao trình ngưỡng cống -1,0m
- Trạm bơm điện: đặt tại đầu kênh Chín Bò, lấy nước từ kênh Thứ Ba, công suất Q = 1.500 m3/h, cột nước bơm H = 3m đặt trên phao thép
- Bố trí các cống đúc sẵn lắp ghép B=0,8m để điều tiết nước vào các
ô ruộng
Trang 19Hình 5: Quy hoạch HTTL khu mô hình sản xuất tôm-lúa HTX Bào Trâm
b) Khu HTX Thạnh An:
Hợp tác xã Tôm-cua-lúa Thạnh An
có diện tích tự nhiên khoảng 80 ha: giới
hạn bởi Kênh Hậu (sau hộ dân ven kênh
tỉnh lộ An Minh), kênh Mười Quang,
đường hành lang ven biển và kênh Xáng
Mới Đây là ô ruộng mẫu đại diện cho mô
hình sản xuất Tôm-cua-lúa, Hệ thống
công trình thủy lợi cho khu vực mô hình
với nội đồng cần tách biệt để chủ động
đáp ứng yêu cầu sản xuất, chủ động trong
cấp và thoát nước để phục vụ NTTS theo
hình thức nuôi kết hợp tôm-lúa
Giải pháp cấp nước:
Cấp nước mặn được lấy từ biển Tây
theo hệ thống kênh cấp I, chủ yếu là kênh
Xẻo Nhào, Thứ 9, các kênh ngang như
kênh Chống Mỹ, kênh Cán Gáo (xáng
Xẻo Rô) qua kênh Mười Quang và Xáng
Mới vào vùng dự án HTX Thạnh An Hướng thoát nước mặn ngược với hướng cấp nước mặn và đổ ra kênh Xẻo Rô - biển Tây
Bố trí hệ thống kênh nội đồng cấp
và tiêu thoát nước như sau: Kênh Hậu là kênh nội đồng cấp mặn cho toàn bộ khu vực mô hình Để tiêu thoát nước cho khu vực cần nạo vét khai thông tuyến kênh ven đường hành lang ven biển để trở thành kênh tiêu thoát chính cho vùng sản xuất HTX Thạnh An
Giải pháp bố trí hệ thống công trình kiểm soát nguồn nước: Các đầu kênh cấp và thoát cần bố trí các cống để kiểm soát nguồn nước kết hợp trạm bơm để chủ động trong sản xuất như sau: cống Kênh Hậu (Mười Quang), cống Kênh Hậu (Xáng Mới), cống kênh ven lộ
Trang 20hành lang ven biển (kênh Xáng Mới) là
cống thoát Hiện tại HTX Thạnh An sử
dụng Kênh Hậu là kênh tạo nguồn cấp thoát
sau đó các xã viên dùng máy bơm bơm trực tiếp tứ kênh Hậu vào ruộng sản xuất
Hình 6: Quy hoạch HTTL khu mô hình sản xuất tôm-lúa HTX Thạnh An
Đối với khu mô hình tôm-lúa HTX
Thạnh An diện tích sản xuất 80ha đề xuất
- Cải tạo kênh ven đường hành lang
ven biển, L = 1.490m, Bđáy = 3m,
- Xây dựng trạm bơm cấp tại cống Kênh Hậu (phía kênh Mười Quang)
- Xây dựng cống đầu Kênh Hậu (phía kênh Xáng Mới): B = 8m, cao trình ngưỡng cống -1,5m kết hợp cầu GTNT tải trọng 5 tấn
- Bố trí các cống đúc sẵn lắp ghép B=0,8m để điều tiết nước vào các
ô ruộng
Giải pháp cải tạo đồng ruộng: Đối với HTX Thạnh An diện tích của mỗi ô ruộng nhỏ, chỉ từ 0,5-1,5 ha
Trang 21trong khi diện tích bờ bao quanh ô ruộng
chiếm rất lớn (khoảng 25-28% tổng diện
tích đồng ruông) Vì vậy để thuận lợi cho
việc cơ giới hóa trong sản xuất và tăng
diện tích canh tác cần có chính sách
khuyến khích xã viên dồn điền đổi thửa để
mỗi ô canh tác có diện tích khoảng 2,5-3
ha, đồng thời có điều kiện bố trí hệ thống
thủy lợi nội đồng tốt nhất để phục vụ sản
xuất tôm-lúa
5 KIẾN NGHỊ
Nhìn chung, hệ thống thủy lợi nội
đồng ở hợp tác xã Bào Trâm và Thạnh An
với hiện trạng cấp thoát chưa chủ động, bờ
ruộng còn thấp, giữ nước kém, chưa có ao
lắng, ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả
sản xuất tôm-lúa Để hỗ trợ tốt hơn cho
sản xuất tôm-lúa vùng An Biên-An Minh
nói chung và hai HTX Bào Trâm và
Thạnh An nói riêng, về hệ thống hạ tầng
thủy lợi nội đồng kiến nghị cần tập trung
giải quyết các vấn đề như sau:
- Cần có giải pháp trữ nước ngọt để
chủ động sản xuất, rửa mặn để chủ động
được nguồn nước phục vụ sản xuất
tôm-lúa vì nền đất nuôi tôm có độ mặn tích lũy
trong đất cao, khi gặp hạn thì độ mặn tăng làm lúa chết
- Cần có giải pháp quy hoạch và xây dựng hệ thống công trình kiểm soát, chủ động cấp thoát phục vụ sản xuất mô hình tôm-lúa Hạn chế việc tự đào đắp, xẻ kênh mương không theo qui trình thiết kế kỹ thuật, dự án quy hoạch chung dẫn đến không đảm bảo yêu cầu cấp nước cho ao nuôi tôm
- Cần có quy trình vận hành hệ thống cấp thoát nước phục vụ sản xuất mô hình tôm-lúa hiệu quả, an toàn
- Cần có giải pháp công nghệ thi công nạo vét, chống bồi lắng kênh rạch sau mỗi vụ làm giảm khả năng trữ nước mưa, vận chuyển nước
- Hoàn thiện công nghệ dự báo xâm nhập mặn, nguồn nước, phục vụ sản xuất và phòng chống thiên tai
Các vấn đề nêu trên cần được thực hiện nghiên cứu, ứng dụng trước cho mô hình thí điểm, sau khi tổng kết đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội của mô hình sẽ làm cơ sở nhân rộng cho toàn vùng ven biển Tây ĐBSCL
Bài báo là một phần kết quả nghiên cứu đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước: Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ nhằm hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất Tôm - Lúa - vùng ven biển Tây ĐBSCL
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Dự án tăng cường năng lực cộng đồng thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng
sông Mê Công: “Hiện trạng phát triển tôm lúa vùng ĐBSCL”, 2016 - Viện Quản lý và
phát triển Châu Á
2 Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu các giải pháp nâng cấp, hoàn thiện HTTL nội đồng phục vụ
một số mô hình chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở ĐBSCL”, - Viện Khoa học Thủy lợi miền
Nam; 2004-2005; Chủ nhiệm: GS.TS Lê Sâm
3 Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu giải pháp hạ tầng kỹ thuật thủy lợi nội đồng (cấp, thoát và
xử lý nước) phục vụ nuôi tôm vùng ven biển ĐBSCL” - Viện Khoa học Thủy lợi miền
Nam làm chủ nhiệm; 2014-2016; Chủ nhiệm: Nguyễn Phú Quỳnh
Trang 224 Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang, 2015, Báo cáo thực trạng và định hướng phát triển mô hình nuôi tôm sú luân canh với trồng lúa tỉnh Kiên Giang
5 Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau, 2015, Báo cáo thực trạng và giải pháp phát triển tôm-lúa tỉnh Cà Mau
6 Nguyễn Công Thành và nnk, 2013, Hiện trạng kỹ thuật và kinh tế-xã hội của mô hình luân canh tôm-lúa ở các huyện giáp biển vùng báo đảo Cà Mau, Tạp chí nghề cá sông Cửu Long số 01/2013
7 Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản tỉnh Kiên Giang đến năm 2020, Phân việc QHTS phía nam, 2014
8 Báo cáo kết quả khảo sát địa hình, chất lượng nước khu mô hình HTX Bào Trâm và HTX Thạnh An - Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam; 2019
Trang 23TÍNH THÍCH NGHI CỦA CÁC HỆ THỐNG CANH TÁC
VỚI ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN Ở VÙNG VEN BIỂN TÂY ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Adaptability of nature-based farming systems in the west sea coast of the
Mekong delta
Doãn Văn Huế, Tiến Thị Xuân Ái, Lê Thị Vân Linh
Lương Quốc Tuấn, Tống Đình Quyết
Vi n KHTL mi n N m
Tô Văn Thanh
Công ty TNHH MTV KTTL Dầu Tiếng - Phước Hòa
TÓM TẮT: Biến đổi khí hậu (BĐKH) được Liên hợp quốc xác định là một thách thức đặc bi t
lớn đối với nhân loại trong thế kỷ XXI Thống kê v số li u thi t hại v kinh tế do BĐKH gây r trung bình mỗi năm lên tới khoảng 125 tỷ USD, ước tính đến năm 2030 sẽ là 600 tỷ USD Thi t hại do BĐKH ở Vi t N m ước tính chiếm 1,0 - 1,5% so với tổng GDP cả nước; đặc bi t tần suất và cường độ diễn biến củ thiên t i (lũ lụt, bão, mư , hạn hán, nắng nóng, rét đậm - rét hại, mặn và nước biển dâng) tăng tính dị thường theo hướng cực đo n nên rất khó dự báo và ứng phó dẫn đến mức thi t hại tăng đáng kể
Đối mặt với những thách thức củ BĐKH và dự trên định hướng phát triển b n vững ĐBSCL theo Nghị quyết 120/NQ-CP thì vi c nghiên cứu tính thích nghi củ mô hình sản xuất nông nghi p đ ng và sẽ triển kh i phù hợp với đi u ki n tự nhiên trong đi u ki n BĐKH ở vùng ven biển Tây ĐBSCL góp phần cải thi n sinh kế củ người dân
Từ khóa: Tính thích nghi, hi n trạng sản xuất, biến đổi khí hậu
ABSTRACT: The United Nations has identified climate change as a preeminent challenge to
humanity in the 21st century According to statistics, annual damage caused by climate change
is about USD 125 billion This figure is expected to reach USD 600 billion in 2030 In Vietnam, loss levels due to climate are estimated to account for between 1.0 and 1.5 percent of the country's annual gross domestic product It has been observed that the frequency and intensity
of natural disasters in Vietnam (such as floods, storms, rains, droughts, extremely hot and hot weather, salinity and sea-level rise, etc.) are increasing anomalously in extreme directions It is therefore difficult to predict and respond, leading to a considerable increase in losses
In the context of climate change and on the basis of the Mekong Delta's sustainable development orientation as outlined in resolution No.120/NQ-CP, ongoing and future studies on nature-based farming models for climate change adaptation in the western Mekong Delta coast
will improve the livelihoods of people in this region
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổ chức nông lương Liên hợp quốc
- FAO đã nghiên cứu và khuyến cáo:
muốn phát triển nông nghiệp thích ứng
với BĐKH và phát triển bền vững phải
dựa trên điều kiện tự nhiên và tài nguyên
thiên nhiên Do đó cần xây dựng các hệ
thống canh tác và xác định được mức độ thích nghi của chúng dựa trên điều kiện sinh thái - môi trường
Quá trình thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ nhằm hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất tôm-lúa
Trang 24vùng ven biển Tây ĐBSCL”, qua nghiên
cứu phân tích tổng hợp các cơ sở dữ liệu
về BĐKH và tình hình kinh tế xã hội, nhất
là tình hình sản xuất nông nghiệp vùng
ven biển Tây ĐBSCL, cho thấy:
- Số liệu về diễn biến các giá trị cực
đoan của thiên tai thực tế ở
ĐBSCL (2011-2020) trong đó có
vùng ven biển Tây đã xảy ra sớm
với mức độ khốc liệt hơn so với
các kịch bản BĐKH do Bộ Tài
nguyên và Môi trường xây dựng đã
được phê duyệt, nên các giải pháp
ứng phó chưa kịp thời, thường là
bị động khiến cho mức độ thiệt hại
- Công tác quản lý, phân bổ, sử
dụng tài nguyên đất, tài nguyên
nước và môi trường sinh thái nước
mặn, lợ còn nhiều bất hợp lý, lãng
phí, hiệu quả kinh tế thấp chưa
thực sự tạo sinh kế bền vững cho
người dân Việc tái cơ cấu ngành
nông nghiệp dựa trên cơ sở tận
dụng khai thác hợp lý tiềm năng
lợi thế của vùng và địa phương để
phát triển ngành nông nghiệp theo
chuỗi giá trị nhằm nâng cao giá trị
và phát triển bền vững còn không
ít tồn tại bất cập;
- Kết quả điều tra, khảo sát thực tế
phát triển kinh tế nông nghiệp của
các địa phương vùng ven biển Tây
ĐBSCL đã thu thập được nguồn thông tin dữ liệu phong phú, đa dạng về điều kiện tự nhiên (lượng mưa, phân bố mưa, lịch thời vụ, nguồn nước ngọt, phân loại đất và tính chất lý hóa của đất,…) đây là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây trồng, vật nuôi Đặc biệt, xác định được các chi phí sản xuất, hiệu quả kinh tế của từng hệ thống canh tác; đây chính là thước đo khách quan cho việc chọn mô hình sinh kế canh tác phù hợp với từng vùng, từng địa phương trong khu vực nghiên cứu;
- Các hệ thống canh tác đang triển khai trên khu vực ven biển Tây ĐBSCL gồm có: mô hình rừng - tôm sú (nuôi quảng canh cải tiến đạt tiêu chuẩn chất lượng hữu cơ);
mô hình tôm - lúa (nuôi tôm vào các tháng mùa khô ít mưa, trồng lúa vào mùa mưa); mô hình chuyên nuôi trồng thủy sản (quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh,… tùy thuộc vào năng lực kỹ thuật và kinh tế của người dân) Cùng với việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và định hướng phát triển theo hướng canh tác hữu cơ, các mô hình canh tác này đã chứng minh được tính bền vững về môi trường và kinh tế
- xã hội, phù hợp với điều kiện tự nhiên và định hướng phát triển sản xuất của vùng ĐBSCL
Với các lý do nêu trên thì việc
nghiên cứu: “Tính thích nghi của các h
thống canh tác với đi u ki n tự nhiên ở vùng ven biển Tây Đồng bằng sông Cửu Long” là cần thiết, từ những mối tương
quan giữa điều kiện tự nhiên và các mô
Trang 25hình sản xuất có thể lựa chọn mô hình sản
xuất phù hợp cho những địa phương khác
ở ĐBSCL nhằm mang lại hiệu quả sản
xuất cao nhất, nâng cao chất lượng sống
cho người dân trong vùng
các kết quả nghiên cứu về điều tra cơ bản
điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
của các chương trình nghiên cứu 60-a2,
60B,… nghiên cứu chuyên sâu về đất,
xâm nhập mặn và hệ thống canh tác;
- Phương pháp tiếp cận đa chiều;
- Phương pháp tiếp cận tích hợp liên
ngành, đa mục tiêu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích đa tiêu chí:
lựa chọn và phân tích các tiêu chí phù hợp
đối với phát triển nông - lâm - thủy sản;
- Phương pháp chồng xếp bản đồ: sử
dụng các lớp bản đồ chuyên đề để đánh
giá sự thích ứng sản xuất của khu vực
nghiên cứu;
- Phương pháp điều tra phỏng vấn:
phỏng vấn hộ dân bằng phiếu điều tra về
loại đất, hiện trạng và năng suất sản xuất;
- Phương pháp phân tích thống kê
và tổng hợp số liệu/tài liệu
3 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÙNG NGHIÊN
CỨU
Vùng ven biển Tây ĐBSCL nằm ở
phía Tây của ĐBSCL, Việt Nam được tạo
thành bởi phù sa trẻ ĐBSCL, độ cao của
vùng nghiên cứu nằm trong khoảng từ 0,5-1,0m so với mực nước biển
Vùng nghiên cứu nằm ở cuối nguồn nước ngọt, cùng với đó là tình hình BĐKH gây ra hạn hán, xâm nhập mặn khiến nguồn nước ngọt dần bị hạn chế không đáp ứng nhu cầu nước ngọt cho sinh hoạt, trồng trọt và chăn nuôi
Phía Tây của vùng nghiên cứu giáp biển, đây là nơi chịu ảnh hưởng của chế
độ nhật triều với biên độ 0,7-0,9m; cùng với đó sóng biển cao là những yếu tố tác động gây ảnh hưởng bất lợi cho sản xuất
và cuộc sống của người dân
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Phân vùng thích nghi vùng ven biển Tây ĐBSCL dựa trên các điều kiện
tự nhiên
Đối với công đoạn xác định và phân vùng các yếu tố trong bản đồ phân vùng tổng hợp, để kết quả cuối cùng vừa thể hiện được tính đặc trưng của vùng ven biển Tây ĐBSCL lại vừa mang tính thống nhất với một khu vực hành chính rộng hơn, nhóm tác giả tổng hợp và thể hiện cho
Trang 26toàn bộ các huyện của 2 tỉnh Kiên Giang
và Cà Mau
4.1.1 Theo tính chất thổ nhưỡng của đất
Dựa trên bản đồ thổ nhưỡng của
vùng ĐBSCL [3], đặc tính thổ nhưỡng của
vùng Kiên Giang - Cà Mau có 25 loại
khác nhau, được thể hiện trong hình 1a
Theo điều tra và thông tin sản xuất nông
nghiệp, phân loại các loại đất thích nghi
cho trồng lúa với thang mức thích nghi từ
1 đến 4, trong đó [2]:
Mức 1: Không thích nghi (N); Mức 2: Ít thích nghi (S3);
Mức 3: Thích nghi (S2);
Mức 4: Rất thích nghi (S1)
Kết quả phân vùng đối với điều kiện thổ nhưỡng được thể hiện trong hình 1b
Hình 1a: Bản đồ thổ nhưỡng vùng
Kiên Giang - Cà Mau
Hình 1b: Bản đồ phân vùng sản xuất của
đi u ki n thổ nhưỡng
4.1.2 Dựa trên tình hình xâm nhập mặn
Độ mặn thích hợp cho các đối tượng sản xuất nông nghiệp và thủy sản được chia theo các thang mức độ mặn [4], [5]:
Bảng 1: Mức độ mặn thích hợp sản xuất và nuôi trồng thủy sản
Đối tƣợng Mức độ mặn
thích hợp
Ghi chú
Giống lúa có khả năng chống
nghiệp Việt Nam (VAAS)
Trang 27Tôm sú 3‰ ÷ 45‰ Độ mặn mà tôm sú chịu được
Đối với các kịch bản hiện trạng
công trình thủy lợi sử dụng kịch bản năm
ít nước vì đây là điều kiện khó khăn cho
sản xuất nông nghiệp của vùng; đối với
kịch bản quy hoạch (KB4): các hệ thống
cống ngăn mặn là hoàn thiện, với điều kiện này hệ thống công trình có khả năng ngăn mặn và có khả năng giữ nước ngọt, chuyển nước ngọt phục vụ sản xuất và sinh hoạt
Hình 2a: Bản đồ nguy cơ xâm nhập mặn theo
kịch bản 1
Hình 2b: Bản đồ nguy cơ xâm nhập mặn theo
kịch bản 2
Trang 28Hình 2c: Bản đồ nguy cơ xâm nhập mặn theo
- Vùng giới hạn giữa Rạch Tiểu Dừa, kênh Bờ Bao, kênh
11 và sông Trẹm;
- Vùng rừng U Minh Thượng;
- Khoảng ½ diện tích tỉnh Kiên Giang phía Bắc Quốc lộ
61
- Vùng giới hạn bởi kênh Bờ bao, Sông Đốc và rạch Tiểu Dừa, sông Cái Tàu;
- Vùng giới hạn giữa Rạch Tiểu Dừa, kênh Bờ bao, kênh 11 và sông Trẹm;
- Vùng rừng U Minh Thượng;
- Vùng phía Bắc sông Cái Lớn
- Vùng giới hạn bởi kênh Bờ bao, Sông Đốc và rạch Tiểu Dừa, sông Cái Tàu;
- Vùng giới hạn giữa Rạch Tiểu Dừa, kênh Bờ bao, kênh
11 và sông Trẹm;
- Vùng Đông - Bắc tỉnh Cà Mau;
- Hầu hết tỉnh Kiên Giang, phía Đông kênh Xẻo Rô
Phần diện tích của vùng Kiên Giang và
Cà Mau phía Bắc Sông Đốc
Trang 29- Ven đường Quốc lộ
61
- Phía tây huyện Giang Thành, Kiên Lương;
- Ven đường Quốc
lộ 63;
- Phía Tây huyện Vĩnh Thuận, huyện Thới Bình, TP.Cà Mau
- Vùng ven biển TP.Hà Tiên, huyện Kiên Lương, Hòn Đất, TP.Rạch Giá;
- Phía Tây kênh Xẻo Rô;
- Phía Bắc sông Gành Hào (trừ vùng có độ mặn
<4,0‰)
Dải diện tích ven bờ biển Tây tỉnh Kiên Giang
- Khoảng giữa từ Quốc lộ 61 đến Quốc lộ 63
- Phần diện tích còn lại
Phần diện tích còn lại (phía Nam Sông Đốc)
Phía Nam Sông Đốc
Không có khu vực nào có khoảng độ mặn này
Không có khu vực nào có khoảng độ mặn này
Không có khu vực nào có khoảng độ mặn này
4.1.3 Dựa trên thời đoạn sản xuất
Dựa trên kết quả của nghiên cứu
“Tác động của BĐKH lên nguồn nước và
ảnh hưởng của nó tới sản xuất lúa ở
ĐBSCL” [1], sử dụng mô hình thủy lực
tính toán về xâm nhập mặn và diễn biến lũ
dựa trên số liệu quan trắc thủy văn và xâm
nhập mặn; kết quả đã ước tính sơ bộ về thời đoạn trồng lúa tiềm năng (thể hiện trong hình 3a) Để chồng xếp các lớp bản
đồ cần đưa dạng bản đồ phân bố thời đoạn
về cùng 1 tham số với các loại bản đồ khác, do vậy sẽ phân mức thích nghi của loại bản đồ này như sau:
Bảng 4: Vùng thích nghi theo thời đoạn sản xuất
Mức Khả năng thích nghi cho sản xuất Thời đoạn sản xuất lúa tiềm năng
Trang 30Hình 3a: Bản đồ phân bố thời đoạn sản xuất lúa ti m năng Hình 3b: Bản đồ phân vùng
thích nghi thời đo ạn sản xuất
ti m năng
Kết quả của nghiên cứu trên cũng chỉ
ra: sự thay đổi lớn về thời gian gieo trồng
lúa tiềm năng nói trên chủ yếu gây ra bởi
thời gian ngập lũ dài hơn, độ sâu ngập lũ
cũng như diện tích ngập lũ lớn hơn
4.1.4 Phân bố lượng mưa
Tổng hợp số liệu mưa được quan trắc tại các trạm trong khu vực nghiên cứu, tổng lượng mưa năm của năm 2017 được biểu thị trong bảng 5
Bảng 5: Giá trị mư năm
Trang 314.2 Kết quả phân vùng thích nghi
Bản đồ đánh giá thích nghi sản xuất
khu vực ven biển Tây được xây dựng dựa
trên sự chồng xếp của các lớp bản đồ bao
gồm: bản đồ đặc tính đất đai, bản đồ đặc
tính xâm nhập mặn, bản đồ phân mức
thích nghi của thời đoạn sản xuất (đã tính đến yếu tố thích nghi của lượng mưa và ngập lụt trong loại bản đồ này) Với 4 kịch bản đã nêu trong bảng 2 sẽ có 4 kết quả phân vùng thích nghi khác nhau
Hình 5a: Bản đồ phân vùng theo kịch bản 1 Hình 5b: Bản đồ phân vùng theo kịch bản 2
Hình 5c: Bản đồ phân vùng theo kịch bản 3 Hình 5d: Bản đồ phân vùng theo kịch bản 4
Trang 32Trong cả 4 kịch bản có thể thấy rằng
vùng phía Nam của tỉnh Cà Mau không
thích hợp cho trồng lúa, chỉ thích hợp cho
nuôi trồng thủy sản nước lợ; ngược lại
vùng phía trên sông Cái Lớn thuộc tỉnh
Kiên Giang phù hợp cho sản xuất 2 - 3 vụ
lúa, không thích hợp cho nuôi trồng thủy sản nước lợ Cụ thể các vùng sản xuất thích hợp với các yếu tố của điều kiện tự nhiên của tỉnh Kiên Giang - Cà Mau nói chung và ven viển Tây của ĐBSCL nói riêng được thể hiện trong bảng 6 như sau:
Bảng 6: Vùng thích nghi củ các đối tượng sản xuất của tỉnh Kiên Giang và Cà Mau dựa trên
Vùng nhỏ phía Bắc H.Gò Quao
H.Giang Thành, TP.Rạch Giá, H.Tân Hiệp, H.Giồng Riềng; phía Đông của TP.Hà Tiên, H.Kiên Lương, H.Hòn Đất; phía Tây Nam của H.Châu Thành, H.Gò Quao; ven sông Cái Lớn của H.An Biên, H.U Minh Thượng và H.Vĩnh Thuận; Tiểu vùng III - Bắc Cà Mau
H.Giang Thành, TP.Rạch Giá, H.Tân Hiệp, H.Giồng Riềng, H.Châu Thành, H.Gò Quao;
phía Đông của TP.Hà Tiên, H.Kiên Lương, H.Hòn Đất; ven sông Cái Lớn của H.An Biên, H.U Minh Thượng và H.Vĩnh Thuận;1/5 diện tích H.U Minh;
dải đất giữa H.Thới Bình, TP.Cà Mau;
Tiểu vùng III - Bắc Cà Mau
H.Giang Thành, TP.Rạch Giá, H.Tân Hiệp, H.Châu Thành, H.Giồng Riềng, H.Gò Quao; phía Đông của TP.Hà Tiên, H.Kiên Lương, H.Hòn Đất; phía Đông Bắc của H.An Biên; ven sông Cái Lớn của H.U Minh Thượng và H.Vĩnh Thuận; 2/5 diện tích H.U Minh; dải đất giữa H.Thới Bình, TP.Cà Mau; dải ven sông Trẹm, ven sông Cái Tàu; phía Tây của H.U Minh; tiểu vùng III - Bắc Cà Mau
Trang 33ven sông Cái Lớn của H.Châu Thành, H.Gò Quao, H.U Minh Thượng, H.Vĩnh Thuận; hầu hết H.An Biên, H.U Minh; vùng phía Bắc H.An Minh; dải
gò đất cao vùng giữa huyện H.Thới Bình, TP.Cà Mau;
phần lớn H.Cái Nước; phía Bắc Nam Ông Đốc của H.Trần Văn Thời;
phía Đông Bắc H.Phú Tân; phía Tây H.Đầm Dơi, H.Năm Căn
Dải ven biển của TP.Hà Tiên, H.Kiên Lương, H.Hòn Đất;
vùng phía Tây H.An Biên; phía Nam H.U Minh Thượng, H.Vĩnh Thuận; hầu hết H.U Minh;
H.Thới Bình, TP.Cà Mau, H.Cái Nước;
phần còn lại H.Trần Văn Thời; phía Đông Bắc H.Phú Tân; phía Tây H.Đầm Dơi, H.Năm Căn
Dải ven biển của TP.Hà Tiên, H.Kiên Lương, H.Hòn Đất; vùng phía Tây H.An Biên; phía Nam H.U Minh Thượng, H.Vĩnh Thuận;
4/5 diện tích của H.U Minh;
phần còn lại của H.Thới Bình, TP.Cà Mau, H.Trần Văn Thời;
H.Cái Nước;
phía Đông Bắc H.Phú Tân;
phía Tây H.Đầm Dơi, H.Năm Căn
Dải ven biển của TP.Hà Tiên, H.Kiên Lương, H.Hòn Đất; vùng phía Tây Nam của H.An Biên; phía Nam của H.U Minh Thượng, H.Vĩnh Thuận; 3/5 diện tích của H.U Minh; phần còn lại của H.Thới Bình, TP.Cà Mau, H.Trần Văn Thời; H.Cái Nước; phía Đông Bắc H.Phú Tân; phía Tây H.Đầm Dơi, H.Năm Căn
vùng kẹp giữa sông Cái Tàu và ranh giới hành chính của H.U Minh; phần lớn H.Thới Bình; phía Đông và Tây TP.Cà Mau; phía Tây Nam H.Phú Tân; phía Đông H.Đầm Dơi, H.Năm Căn; toàn
bộ H.Ngọc Hiển
Phía Tây Nam H.Phú Tân; phía Đông H.Đầm Dơi, H.Năm Căm; toàn
bộ H.Ngọc Hiển
Phía Tây Nam H.Phú Tân;
phía Đông H.Đầm Dơi, H.Năm Căm;
toàn bộ H.Ngọc Hiển
Phía Tây Nam H.Phú Tân; phía Đông H.Đầm Dơi, H.Năm Căm; toàn bộ H.Ngọc Hiển
4.3 Sự tương thích của hệ thống sản
xuất hiện nay với điều kiện tự nhiên
4.3.1 Hiện trạng sản xuất trong vùng
nghiên cứu
Nhìn chung cho toàn tỉnh Kiên
Giang, trong giai đoạn 2001-2014 đất
trồng lúa luôn theo xu thế tăng và mở rộng
diện tích; chú trọng thâm canh tăng vụ để khai thác hiệu quả quỹ đất Tuy nhiên, từ năm 2015 đến năm 2020 và những năm tiếp theo, khả năng mở rộng diện tích lúa không nhiều, áp lực về nâng cao hiệu quả
sử dụng đất để tạo giá trị cao, phát triển bền vững, nhằm mang lại thu nhập cao, ổn định cho người trồng lúa ngày càng lớn
Trang 34Nuôi trồng thủy sản của tập trung ở 3
vùng chủ yếu: vùng Tứ giác Long Xuyên
tập trung phát triển loại hình nuôi tôm
công nghiệp, bán công nghiệp; vùng U
Minh Thượng phát triển nuôi tôm - lúa
luân canh, nuôi tôm quảng canh, quảng
canh cải tiến; vùng biển đảo Phú Quốc -
Kiên Hải và các xã đảo thuộc huyện Kiên
Lương và thị xã Hà Tiên phát triển nuôi cá
lồng bè và các loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ
[7] [8]
Đối với sản xuất nông - ngư nghiệp
của tỉnh Cà Mau, theo chủ trương tái cơ
cấu nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng tỷ trọng của khu vực ngư,
nông, lâm nghiệp giảm dần và tăng dần tỷ
trọng khu vực dịch vụ; do đó, trong giai
đoạn 2010 - 2019 tổng diện tích trồng lúa
cả năm có xu thế giảm (từ 125.581ha năm
2010 xuống còn 115.585ha năm 2019) Tuy nhiên năng suất lúa lại tăng khoảng 15% so với năm 2010 (năng suất lúa năm
2010 là 39,68 tạ/ha, năm 2019 là 45,56 tạ/ha) Ngược lại, diện tích nuôi trồng thủy sản tăng mạnh từ 296.300 ha năm
2010 lên 305.021ha năm 2019 với sản lượng thủy sản tăng từ 387.070 tấn năm
2010 lên 565.650 tấn năm 2019 Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Cà Mau đang phát triển các phương thức nuôi trồng thủy sản mới như nuôi tôm sinh thái, nuôi tôm kết hợp với lúa, nuôi tôm luân canh, xen canh với các đối tượng khác (cua, sò huyết ) Thông tin về hiện trạng sản xuất nông nghiệp trong năm 2018, 2019 của các đơn vị hành chính trong khu vực nghiên cứu được thể hiện trong bảng 7
Bảng 7: Hi n trạng và cơ cấu sản xuất nông nghi p năm 2018, 2019
STT Tên đơn vị hành chính
Hiện trạng đất sản xuất nông
nghiệp (ha)
Cơ cấu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp (%) Năm 2018 Năm 2019 Năm 2018 Năm 2019
[Nguồn]: Niên giám thống kê tỉnh Kiên Gi ng, Cà M u năm 2019
Diện tích và cơ cấu sản xuất nông
nghiệp trong năm 2018 và 2019 của khu
vực ven biển Tây ĐBSCL gần như không
có sự thay đổi, hiệu quả kinh tế vẫn đạt được những kết quả tốt
Trang 35Sản xuất theo mô hình lúa - tôm
trồng thủy sản nước lợ Phía Đông huyện U Minh; phía Đông
huyện Đầm Dơi, H.Năm Căn; phía Tây huyện Phú Tân; huyện Ngọc Hiển của tỉnh
Cà Mau
- Rừng sản xuất, rừng phòng
hộ và rừng đặc dụng;
- Mô hình tôm - rừng
Trang 36- Sản xuất theo mô hình lúa - tôm;
- Nuôi trồng thủy sản nước lợ
Dải gò đất cao vùng giữa huyện H.Thới Bình, TP.Cà Mau; phần lớn H.Cái Nước;
phía Bắc Nam Ông Đốc của H.Trần Văn Thời; phía Đông Bắc H.Phú Tân; phía Tây H.Đầm Dơi, H.Năm Căn
Thích nghi
(S2)
H.Giang Thành, TP.Rạch Giá, H.Tân Hiệp, H.Giồng Riềng; phía Đông của TP.Hà Tiên, H.Kiên Lương, H.Hòn Đất; phía Tây Nam của H.Châu Thành, H.Gò Quao; Tiểu vùng III - Bắc Cà Mau
Triển khai mô hình sản xuất 2 ÷
“Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công
nghệ nhằm hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật
góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất
tôm-lúa vùng ven biển Tây đồng bằng sông Cửu Long”, đơn vị thực hiện đã điều tra khảo sát về loại đất trồng, nguồn nước sử dụng và tình hình sản xuất, hiệu quả kinh tế, của khu vực nghiên cứu
Bảng 9: Hi u quả sản xuất của mô hình lúa - tôm
Lãi của sản xuất tôm
Lãi của sản xuất lúa
Tổng lãi trung bình của mô hình lúa - tôm
[Nguồn]: Đi u tra thực đị đ tài ĐTĐL.CN-20/18
Kết quả điều tra thể hiện tính hiệu
quả của mô hình sản xuất lúa - tôm trong
khu vực nghiên cứu: tổng lãi trung bình từ
mô hình thu được lớn gấp 2,7 lần so với
tổng chi phí; trong đó lãi từ nuôi tôm lớn
hơn 3 lần so với chi phí sản xuất tôm bỏ ra, lãi từ trồng lúa lớn gấp 2,6 lần so với chi phí đầu tư cho sản xuất lúa
Như vậy có thể thấy rằng mô hình sản xuất lúa - tôm phù hợp với các điều
Trang 37kiện của khu vực ven biển Tây ĐBSCL và
đạt hiệu quả kinh tế cao
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1 Kết luận
- Bản đồ phân vùng thích nghi cho
sản xuất nông nghiệp được thành lập dựa
trên 4 yếu tố cơ bản mang trọng số như
nhau, có nghĩa mỗi yếu tố đều tác động 1
phần giống nhau; tuy nhiên dựa trên kết
quả phân vùng cuối cùng có thể thấy, sự
xâm nhập mặn và điều kiện thổ nhưỡng là
hai yếu tố tác động rất mạnh tới sự thuận
lợi trong phát triển nông nghiệp, tiếp đến
là các yếu tố khí hậu thời tiết
- Trong điều kiện những năm mùa
khô ít nước và hiện trạng công trình thủy
lợi thì vùng phía Kiên Giang phía trên
quốc lộ 61 có điều kiện thuận lợi cho
trồng lúa; vùng phía Bắc của tỉnh Cà Mau
chỉ thích hợp với nuôi trồng thủy sản nước
lợ; vùng đất ở khu vực huyện Trần Văn
Thời của tỉnh Cà Mau có thể sản xuất lúa
3 vụ
- Trong điều kiện lý tưởng, khi hệ thống công trình thủy lợi được hoàn thiện, các cống kiểm soát được mặn xâm nhập vào khu vực thì toàn bộ diện tích vùng Tây ĐBSCL có khả năng trồng lúa ba vụ hoặc sản xuất mô hình lúa - tôm Đây là các mô hình sản xuất nông nghiêp bền vững đem lại hiệu quả kinh tế cao đảm bảo thu nhập cao cho người dân
5.2 Kiến nghị
- Để phân vùng thích nghi sản xuất nông nghiệp phù hợp với thực tế và mang tính chính xác cao hơn cần nghiên cứu sự tác động của nhiều yếu tố khác ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp như điều kiện địa hình, nhu cầu nước của từng loại đối tượng sử dụng nước,
- Sự phân chia trọng số đối với từng loại thành phần tác động lên kết quả và trọng số của từng yếu tố vẫn mang tính chủ quan, chưa kiểm chứng trên toàn bộ vùng rộng lớn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Duy Khang, Akihiko Totera, Masayuki Yokozawa; Tác động của biến đổi khí hậu lên nguồn nước và ảnh hưởng của nó tới sản xuất lúa ở ĐBSCL Tuyển tập Khoa học công nghệ 50 năm xây dựng và phát triển
2 Nguyễn Hữu Cường, 2018 Tích hợp GIS và cây quyết định đánh giá thích nghi đất đai cây dừa trên địa bàn huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
3 Hoàng Quốc Tuấn, 2014 Bản đồ thổ nhưỡng vùng Đồng bằng sông Cửu Long
4 Quy trình kỹ thuật luân canh tôm sú - lúa, xen canh tôm càng xanh Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cà Mau
5 Bộ Thủy sản, 2000 Kỹ thuật nuôi tôm sú thương phẩm
6 Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường
7 Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Kiên Giang, Cà Mau năm 2019
8 Niên giám thống kê năm 2019 tỉnh Kiên Giang, Cà Mau
Trang 38PHỤ LỤC
Bảng PL1: Đề xuất các hệ thống canh tác được chọn phát triển với mức thích nghi (S1, S2)
vùng ven biển Tây ĐBSCL
STT Hệ thống canh tác được chọn đề xuất phát triển
Đã phát triển thành công tại các địa phương trong vùng ven biển
Tây ĐBSCL
Mức thích nghi của hệ thống canh tác
1 Rừng - tôm sú nuôi sinh thái;
sản phẩm tôm thương phẩm đạt
tiêu chuẩn chất lượng hữu cơ
Đã thành công trên quy mô lớn với hàng chục hecta (ha) rừng;
nhiều hộ nhận khoán quản lý bảo
vệ rừng kết hợp nuôi tôm
Mức thích nghi S2
2 Mô hình tôm - lúa: trồng lúa
mùa mưa theo hướng lúa gạo
hữu cơ, nuôi tôm quảng canh 2
giai đoạn ít thay nước tạo ra
tôm thương phẩm sạch đạt tiêu
chuẩn chất lượng xuất khẩu
Đã phát triển thành công trên diện rộng tại các huyện tỉnh Kiên Giang (An Minh, An Biên, Vĩnh Thuận) và Cà Mau
Mức thích nghi S2
quảng canh cải tiến 2 giai đoạn
ít thay nước
Đã phát triển trên diện rộng trên địa bàn 2 tỉnh Kiên Giang và Cà Mau
Mức thích nghi S2
4 Vườn sinh thái đa tầng (cau - hồ
tiêu - dứa - nuôi cá hoặc tôm)
Đã phát triển thành công tại huyện
Gò Quao thuộc hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé
Mức thích nghi S2
5 Lúa - màu: lúa mùa mưa, màu
vụ Đông Xuân (dưa hấu, đậu
xanh, bí đỏ,…)
Triển khai thành công ở huyện Trần Văn Thời, U Minh tỉnh Cà Mau; huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận tỉnh Kiên Giang
Mức thích nghi S2
Trang 39Bảng PL2: Nghiên cứu đề xuất các hệ thống canh tác được chọn phát triển với mức thích nghi
S1, S2 vùng ven biển Tây ĐBSCL (vùng Tứ giác Long Xuyên)
STT Hệ thống canh tác đề xuất phát triển Mô hình mẫu đã triển khai
Mức thích nghi của hệ thống canh tác
1 Lúa 2 vụ Đông Xuân - Hè thu canh
tác theo quy trình kỹ thuật canh tác
lúa thông minh của IRR
Đã phát triển trên quy môi 10.000ha tại huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang Liên kết đầu tư phát triển lúa gạo xuất khẩu với Công ty Cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Thanh Bình
Mức thích nghi S2
ít thay nước
Đã được thực hiện trên 1.000ha đạt kết quả cao của công ty Tuần Châu tại TP.Hà Tiên tỉnh Kiên Giang
Mức thích nghi S2
phương thức quảng canh cải tiến kết
hợp nuôi ghép với sò theo hướng đa
canh, đa dạng hóa sản phẩm và nuôi
tuần hoàn xử lý môi trường đáy ao
nuôi (làm sạch thức ăn của tồn đọng
ở đáy ao nuôi tôm)
Đã thực hiện thành công trên diện tích gần 1.000 ha tại huyện Kiên Giang
Mức thích nghi S2
Trang 40PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN NGUỒN NƯỚC VÙNG SẢN XUẤT TÔM - LÚA
HUYỆN AN BIÊN VÀ AN MINH TỈNH KIÊN GIANG
Analysis of water source fluctuations in shrimp - rice production areas in An
Bien and An Minh district, Kien Giang province
Doãn Văn Huế, Lê Thị Vân Linh, Tiến Thị Xuân Ái, Lương Quốc Tuấn, Tống Đình Quyết, Tô Duy Hoàn - m N
Tô Văn Thanh - Công ty TNHH MTV KTTL Dầu Tiếng - P ước Hòa
TÓM TẮT: Mô ì sả xuất tô - ú đ g đư ở rộ g p át tr ể trê ầu ết đị bà
u A B ê và A M tỉ ê G g d g ạ u quả k tế , p ù p vớ ô trườ g s t á u ê , t ố g ô g trì t trê vù g ư đư đồ g bộ
d ạ ế k p í đầu tư ê ư độ g đư guồ ướ p ụ vụ sả xuất, ó t ờ đ ể
ặ ê quá ả ưở g đế vụ uô tô , đầu vụ ú gặp k ó k ă guồ ướ rử ặ ,
uố vụ ú bị ặ xâ ập à ả ưở g đế ă g suất ú ì vậ , v g ê ứu d ễ
b ế guồ ướ trê vù g à sẽ g úp đ xuất đư g ả p áp quả ý guồ ướ đáp ứ g êu
ầu p át tr ể b vữ g vù g
ABSTRACT: The shrimp-rice farming model has expansively developted in most of the regions
in An Bien and An Minh district, Kien Giang province since it has brought the high economic efficiency, being suitable for ecological environment However, the current irrigation system in the region has not been harmonized due to the limited investment funding As a result, it has not taken initiative in water resources for production There were those times when high salinity level caused adverse impacts on shrimp farming season At the beginning of the rice crop it caused the difficulty in term of finding water resources for washing saltwater away, while at the end of the rice crop the saline intrusion had nagative affects on the rice yield Therefore, the study of water source fluctuations in these areas will help to propose serveral water source
management solutions to meet the sustainable development requirements of the region
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Huyện An Biên và An Minh nằm ở
vùng ven biển Tây tỉnh Kiên Giang, có
diện tích tự nhiên khoảng 99.077 ha, tổng
dân số là 230.978 người với mật độ dân số
huyện An Biên 288 người/km2, huyện An
Minh là 196 người/km2
[Niên Giám Thống kê tỉnh Kiên Giang 2019]
Vùng dự án thuộc Đồng bằng sông
Cửu Long (ĐBSCL) với khí hậu nhiệt đới
gió mùa, mùa mưa bắt đầu từ tháng V đến
hết tháng XI, trùng với thời kỳ gió mùa
Tây Nam, lượng mưa chiếm từ 75 ÷ 95%
lượng mưa cả năm Mùa khô bắt đầu từ
tháng XII và kết thúc tháng IV năm sau,
trùng với thời kỳ gió mùa Đông Bắc Mặt khác, huyện An Biên và An Minh có vị trí giáp biển Tây nên chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều, các kênh rạch thường xuyên bị xâm nhập mặn Nhờ điều kiện địa lý và điều kiện khí hậu của vùng nên vùng này đã phát huy được lợi thế phát triển sản xuất mô hình tôm - lúa luân canh: mùa khô kênh rạch bị mặn thì lấy nước thả tôm, mùa mưa có nước ngọt thì rửa mặn trồng lúa Đây là mô hình sản xuất thuận thiên, với mô hình này, sau vụ tôm các chất thải nuôi tôm được chuyển hóa và sử dụng rất tốt trong ruộng lúa vụ sau, hạn chế được phân bón sử dụng và lúa cho năng suất cao Sau vụ lúa thì các