Báo cáo thực tập: Thực trạng liên kết kinh tế của các doanh nghiệp công nghiệp việt nam
Trang 1Chơng I
Sự cần thiết phải liên kết và ảnh hởng
của liên kết đến cạnh tranh
I.Sự cần thiết phải liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp
1.1 Liên kết kinh tế :
1.1.1 Khái niệm:
Liên kết kinh tế là sự thiết lập các mối quan hệ giữa các chủ thể sản xuất,kinh doanh, có thể giữa các doanh nghiệp thuộc cùng lĩnh vực hoạt động,giữa các đối tác cạnh tranh hoặc giữa các doanh nghiệp có các hoạt độngmang tính chất bổ sung, nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệuquả cao hơn trong sản xuất – kinh doanh, tạo ra sức mạnh cạnh tranh , cùngnhau chia sẻ các khả năng, mở ra những thị trờng mới
1.1.2.Bản chất của liên kết kinh tế:
Thực chất hay bản chất của liên kết kinh tế chính là quá trình xã hội hoá
về phơng diện kinh tế nền sản xuất xã hội Sự phát triển của liên kết kinh tếlàm cho lực lợng sản xuất ngày càng phát triển, mức độ tập trung hoá ngàycàng cao, làm cho các khu vực kinh tế ngày càng xích lại gần nhau , gắn bó,
cố kết với nhau hơn Động cơ và mục đích chủ yếu của liên kết kinh tế lànhằm đạt tới lợi nhuận tối đa và ổn định, là nhằm tăng cờng sức mạnh trongcạnh tranh trên thị trờng ngày càng mở rộng phạm vi
1.1.3.Loại hình liên kết kinh tế:
Liên kết kinh tế bao gồm nhiều loại hình khác nhau nh:
Liên kết ngang (liên kết diễn ra giữa các doanh nghiệp hoạt độngtrong cùng một ngành)
Liên kết dọc ( liên kết giữa các doanh nghiệp trong cùng một dâychuyền công nghệ sản xuất, mà trong đó mỗi doanh nghiệp đảm nhận một bộphận hoặc một số công đoạn nào đó
Liên kết nghiêng ( liên kết giữa các doanh nghiệp không phải là các
đối thủ cạnh tranh, mà cũng không phải giữa các doanh nghiệp cùng nằmtrong một dây chuyền công nghệ sản xuất, mà hợp tác với nhau trong lĩnhvực nghiên cứu công nghệ )
Trang 2 Liên kết theo lãnh thổ ( liên kết theo vùng địa lý )
Liên kết toàn cầu
Liên kết hình sao ( liên kết mà trung tâm là một doanh nghiệp chủ
đạo và một loạt doanh nghiệp khác hoạt động xoay quanh nó )
Doanh nghiệp liên doanh, tập đoàn kinh doanh ( tổ hợp các doanhnghiệp hoạt động trong một ngành, hay những ngành khác nhau trong phạm
vi một nớc hay nhiều nớc, trong đó có một doanh nghiệp nắm quyền lãnh
đạo, chi phối hoạt động của các doanh nghiệp khác về mặt tài chính và chiếnlợc phát triển ),
đoạn công nghệ (doanh nghiệp sản xuất sợi, vải của ngành dệt – may) hay
là chỉ tập trung chế tạo sản phẩm còn các doanh nghiệp khác sẽ cung cấpnguyên liệu (doanh nghiệp đờng, doanh nghiệp giấy….) Đi liền với tiến bộkhoa học- công nghệ và phát triển của phân công lao động xã hội, cùng vớiquá trình đa dạng hoá sản xuất, các doanh nghiệp cũng phát triển theo hớngchuyên môn hoá sản phẩm và giai đoạn công nghệ Do đó để đảm bảo tái sảnxuất mở rộng các doanh nghiệp phải liên kết kinh tế với nhau
Quan hệ liên kết kinh tế càng trở nên cần thiết và đợc mở rộng, phát triển khimà:
Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trờng đòi hỏi phải nângcao hiệu quả sản xuất – kinh doanh , nâng cao chất lợng, năng suất, hạ giáthành , đổi mới sản phẩm để chiến thắng trong cạnh tranh
Số lợng các doanh nghiệp của Việt Nam tăng lên đáng kể trongnhững năm qua, đặc biệt là sau 4 năm thực hiện Luật doanh nghiệp (2000-2003) Tính đến 9/2003 cả nớc có 72.601 doanh nghiệp đăng ký thành lậpmới ( trong 9 năm 1991-1999 chỉ có 45.000 doanh nghiệp ) đa tổng số doanh
Trang 3nghiệp đăng ký thành lập mới của khu vực t nhân cả nớc lên tới 126.600doanh nghiệp Ngoài ra cả nớc có 5531 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nớc đ-
ợc tổ chức lại và 368 công ty cổ phần có vốn nhà nớc ( năm 2000 )
Vì vậy, liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp không chỉ là cần thiết
mà còn mang lại lợi ích to lớn cho Nhà nớc
Lợi ích kinh tế của liên kết kinh tế :
1.2.1.Đối với doanh nghiệp, liên kết kinh tế có lợi:
Tạo điều kiện để tiết kiệm về qui mô, chi phí
Giúp doanh nghiệp làm chủ tốt hơn tính phức tạp của thị trờng trong
điều kiện toàn cầu hoá thơng mại
Giúp doanh nghiệp phản ứng nhanh nhạy hơn với những thay đổi củamôi trờng kinh doanh
Tạo điều kiện tăng khả năng linh hoạt của doanh nghiệp vì cácdoanh nghiệp có thể giảm thiểu cơ cấu theo cấp bậc và nh vậy, sẽ dễ dànghơn trong việc thay đổi, tập trung hơn cho một lĩnh vực có thế mạnh củadoanh nghiệp
Giúp doanh nghiệp tiếp cận nhanh chóng hơn với các công nghệmới Các bên tham gia liên kết có thể chuyển giao công nghệ cho nhau, vớithời gian nhanh chóng , do sự tin cậy lẫn nhau
Giúp giảm thiểu các rủi ro Khi tham gia liên kết, rủi ro sẽ đợc phân
bổ cho các đối tác tham gia , chứ không phải chỉ tập trung vào một chủ thể,khi đó khả năng vợt qua khó khăn sẽ cao hơn
Giúp doanh nghiệp dễ dàng chinh phục những thị trờng mới do khảnăng tài chính, tận dụng lợi thế chi phí thấp ( hợp đồng cung cấp sản phẩm,)
…
Tạo điều kiện giảm nhẹ cơ cấu bên trong doanh nghiệp, thông quaviệc chuyên môn hóa trong các công đoạn sản xuất, kinh doanh
1.2.2.Đối với nhà nớc và xã hội liên kết kinh tế có u điểm:
Khắc phục đợc tình trạng chồng chéo, trùng lặp lãng phí trong đầu t
Phát triển liên kết kinh tế góp phần thúc đẩy phân công lao động xãhội giữa các vùng, các doanh nghiệp trong nớc và quốc tế; thúc đẩy nhanhquá trình tích tụ, tập trung , xã hội hoá sản xuất công nghiệp; huy động cóhiệu quả mọi nguồn lực của đất nớc vào phát triển kinh tế, thực hiện thànhcông công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nớc
Trang 4 Thông qua liên kết kinh tế thực hiện tốt sự kết hợp và định hớng
đúng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở Việt Nam pháttriển theo định hớng xã hội chủ nghĩa
Liên kết kinh tế tạo và tăng cờng sức mạnh, tăng khả năng của cácdoanh nghiệp Việt Nam trong cạnh tranh với doanh nghiệp nớc ngoài
II ảnh hởng của liên kết kinh tế đến cạnh tranh.
Kinh tế học định nghĩa cạnh tranh (competition) là sự tranh giành thị ờng (khách hàng) để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp Nh vậy, đã làkinh tế thị trờng thì đơng nhiên có cạnh tranh, và cạnh tranh theo nghĩa làtranh giành khách hàng ( thị phần ) thì chỉ có trong khuôn khổ của kinh tế thịtrờng
Trớc đây, có xu hớng đồng nhất cạnh tranh, thị trờng với CNTB, coichúng nh những phạm trù có cùng một tính chất xã hội và về cơ bản đợc nhìnnhận ở khía cạnh tiêu cực Thế nên, kết luận mang tính lôgíc là khi xây dựngnền kinh tế XHCN, xoá bỏ quan hệ kinh tế TBCN, thì đồng thời phải loại bỏthị trờng cũng nh sự cạnh tranh tồn tại một cách tự nhiên trong kinh tế thị tr-ờng
Hiện nay, công cuộc đổi mới đất nớc kinh tế đang đợc khởi động với t tởngchung là thừa nhận tính khách quan, tất yếu của kinh tế thị trờng Tuy cónhững điểm khác biệt về tính chất xã hội so với các nền kinh tế thị trờng
“truyền thống” hiện tồn, nhng đã là kinh tế thị trờng thì yếu tố thị trờng sẽ
phải trở thành cơ sở đầu tiên chi phối kiểu vận hành của nền kinh tế Thựctiễn của tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đã đặt nềnkinh tế Việt Nam đối mặt trực tiếp với cuộc cạnh tranh quốc tế, nên khôngthể không tạo ra một môi trờng kinh tế cạnh tranh ở trong nớc phù hợp vớithông lệ quốc tế, và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng nhnăng lực quản lý nền kinh tế thị trờng có tính cạnh tranh cao Trong nhữngnăm gần đây, sách báo kinh tế đã nói nhiều đến vấn đề cạnh tranh, do nănglực cạnh tranh về giá cả, chất lợng, mức độ đa dạng, kiểu dáng côngnghiệp….của hầu hết các loại hàng hoá và dịch vụ Việt Nam trên thị trờngcòn nhiều hạn chế Vì thế, cần phải có những biện pháp khả thi để nhanhchóng nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá trong nớc Liên kết kinh tế
là một hình thức giúp cạnh tranh có hiệu quả với chi phí thấp nhất
Trang 5Cạnh tranh để giành u thế trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là quy luậtvốn có của các doanh nghiệp trong nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị tr-ờng Liên kết kinh tế là hoạt động có quan hệ gắn bó, mật thiết với cạnhtranh Các doanh nghiệp phát triển quan hệ liên kết kinh tế để tăng sức mạnhthực hiện cạnh tranh thắng lợi với các đối thủ khác trong nớc Đặc biệt là cácdoanh nghiệp trong nớc liên kết kinh tế với nhau để tăng sức cạnh tranh vớicác doanh nghiệp nớc ngoài Cạnh tranh thúc đẩy liên kết kinh tế Liên kếtkinh tế lại dẫn đến làm tăng khả năng cạnh tranh của các chủ thể ….Từ đó,liên kết kinh tế thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển theo hớng mở cửa,hợp tác và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, góp phần khắc phụcnguy cơ tụt hậu, khai thác mọi lợi thế của đất nớc.
Chơng IIThực trạng liên kết kinh tế của
các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam.
I.Quá trình phát triển các quan hệ liên kết kinh tế ở nớc ta
I.1 Giai đoạn trớc năm 1980:
Mặc dầu nền kinh tế hàng hoá nớc ta còn kém phát triển, song sau khi tiếnhành kháng chiến chống thực dân Pháp thành công, tiếp thu những quan
điểm kinh tế và chính trị của các nớc Xã hội chủ nghĩa, mà chủ yếu từ LiênXô trớc đây, chúng ta đã tiến hành một loạt các biện pháp nhằm liên kết cácdoanh nghiệp với mong muốn làm biến đổi nhanh chóng nền kinh tế quốcdân : Tiến hành cải cách ruộng đất, hợp tác hoá trong nông nghiệp, cải tạocông thơng nghiệp, xây dựng và phát triển mạnh các xí nghiệp công, thơng
Trang 6nghiệp, các nông trờng , lâm trờng quốc doanh, tiến hành quản lý nền kinh tếquốc dân theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
T tởng về sự phân công, hiệp tác giữa các khu vực sản xuất – cơ sở nềntảng của quan hệ liên kết kinh tế - đã đợc đặt ra ngay trong nghị quyết 21 –NQ/TW ngày 5 tháng 7 năm 1961 của Ban bí th TW Đảng CSVN khoá III,trong đó ghi rõ yêu cầu của sự phân công hiệp tác của khu vực thủ côngnghiệp với công nghiệp quốc doanh Nghị quyết số 143-CP ngày 3 tháng 8năm 1970 của hội đồng chính phủ, qui định về nguyên tắc phân công, hiệptác giữa công nghiệp quốc doanh và tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp Tuy nhiên, do xuất phát từ việc tiếp thu một cách máy móc mô hình liênhợp hoá ở các nớc xã hội chủ nghĩa, cùng với sự choáng ngợp bởi thành tựutrong chiến tranh giải phóng dân tộc do sự đóng góp phần nào của phongtrào cải tạo công thơng nghiệp nói trên mà nớc ta đã áp dụng một cách trànlan Hình thức liên hiệp các xí nghiệp ở nớc ta bắt đầu xuất hiện vào cuốinăm 1974 ( thành lập liên hiệp các xí nghiệp chè ) và cuối năm 1975 thànhlập liên hiệp các xí nghiệp dệt Từ chủ trơng “đẩy mạnh chuyên môn hoá, tổchức tốt việc hợp tác hoá và liên hợp hoá trong sản xuất, tạo điều kiện tổchức các nhóm sản phẩm, công ty, xí nghiệp liên hợp, liên hiệp các xínghiệp” của đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV, sau đó là chỉ thị số
548 – TTg ngày 1-12-1978 của Thủ tớng chính phủ về “Tổ chức các Liênhiệp sản xuất” và Nghị định số 302-CP ban hành điều lệ về “Tổ chức và hoạt
động của Liên hiệp các xí nghiệp”, bằng các biện pháp tổ chức hành chínhchúng ta đã tiến hành sát nhập rất nhiều Xí nghiệp, công ty, cửa hàng, nôngtrờng, trạm trại… thành các Liên hiệp các xí nghiệp, Xí nghiệp liên hợp,Nhóm sản phẩm, Tổng công ty một cách ồ ạt, máy móc mà không tính đếntất yếu kinh tế – kỹ thuật, không tuân theo nguyên tắc tự nguyện… Theothống kê cha đầy đủ của Viện quản lý kinh tế trung ơng thì đến năm 1995trên cả nớc đã có trên 200 Liên hiệp ( Tổng công ty ) các xí nghiệp theongành và vùng ( địa phơng ) Trong thời kỳ thực hiện quản lý theo cơ chế kếhoạch hoá tập trung, một số Liên hiệp và Tổng công ty bớc đầu đã có nhữngtác dụng đáng kể trong việc quản lý theo ngành Nhng phần đông cha có tácdụng thực sự, bởi có sự chồng chéo về mặt chức năng đối với cơ quan quản
lý Nhà nớc cấp Bộ Mặt khác , xét về phơng diện hiệu quả sản xuất- kinh
Trang 7doanh, thì trên thực tế, đại bộ phận là kém hiệu quả Hơn nữa, nó còn cản trởtính độc lập, tự chủ, sáng tạo của các doanh nghiệp cơ sở.
Có thể nói, cùng với việc tiếp thu và áp dụng một cách máy móc, duy ýchí quan niệm xây dựng nhanh CNXH và nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung,quá trình liên kết kinh tế ở nớc ta trớc những năm 1980 không đợc tiến hànhmột cách tự nguyện và dần dần từ thấp lên cao, thông qua những tất yếu kinh
tế, xuất phát từ trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và các quan hệ kinh
tế, cùng với sự đáp ứng về trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý
Nó diễn ra một cách tràn lan, ồ ạt, bất chấp qui luật, bằng biện pháp hànhchính tổ chức dội từ trên xuống, chủ yếu thông qua mối quan hệ liên kết dọc,thậm chí đi ngay vào quá trình liên kết ở giai đoạn cao và dẫn đến có nhiềuyếu kém trong quản lý kinh tế, hiệu quả kinh tế vô cùng thấp
I.2 Giai đoạn nửa đầu những năm 80:
Nghị quyết Hội nghị trung ơng Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6 (khoá
VI ) cuối năm 1979 đề ra chủ trơng đẩy mạnh phát triển công nghiệp hàngtiêu dùng, công nghiệp địa phơng, tăng cờng và phát huy quyền tự chủ củacác địa phơng và cơ sở đã tạo điều kiện cho việc tìm tòi phát hiện nhiều hìnhthức kinh tế năng động, thích hợp, mở rộng và phát triển các quan hệ kinh tếgiữa các đơn vị kinh tế cơ sở Mặt khác, đầu những năm 80 (1981) trên tr-ờng quốc tế, chúng ta bắt đầu tham gia vào quá trình liên kết kinh tế quốc tếXHCN (sau khi đã trở thành thành viên của Hội đồng tơng trợ kinh tế(SEV)), cũng là một nhân tố thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế giữa cácdoanh nghiệp trong nớc ra đời và phát triển với nhiều hình thức phong phú đadạng
Cũng chính vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 này, nền kinh tếnớc ta gặp khó khăn nhất trong sản xuất kinh doanh Hầu hết các xí nghiệp
đều thiếu vật t nguyên liệu cho sản xuất, phụ tùng thiết bị thay thế, mức huy
động công suất máy móc thiết bị vào sản xuất chỉ khoảng 25 – 30% côngsuất thiết kế Để triển khai thực hiện nghị quyết 6 trung ơng khoá IV, tức chủtrơng “bung ra” trong sản xuất kinh doanh, phát triển mạnh kinh tế gia đình,Nghị quyết 25+26/CP đã đa ra chủ trơng “kế hoạch ba phần” và “4 nguồnkhả năng” tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế của các đơn vị sôi động hẳnlên Các đơn vị đợc quyền tìm kiếm bạn hàng, trao đổi những vật t “d thừa, ứ
Trang 8đọng”, sản phẩm của kế hoạch “phụ”, phần “vợt” kế hoạch, các doanhnghiệp đợc quyền trao đổi , buôn bán công khai, tự nguyện quan hệ mua bánvới nhau ngày càng phổ biến Từ chỗ lúc đầu quan hệ mua bán với nhau từng
đợt một và số lợng ít ỏi, các đơn vị tiến lên quan hệ mua bán trao đổi vật tsản phẩm với nhau thờng xuyên hơn, khăng khít hơn và đi đến ký kết cáchợp đồng sản xuất những vật t cho nhau một cách ổn định, thờng xuyên ( tấtnhiên vẫn chỉ nằm trong khuôn khổ của kế hoạch “phụ” )
Tóm lại là các đơn vị đã mở rộng và phát triển quan hệ liên kết kinh tếnhằm mục tiêu đảm bảo nguồn nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế cho sảnxuất kinh doanh của các xí nghiệp Chính nó đã thực sự tháo gỡ khó khăncho các xí nghiệp trong giai đoạn này Các văn bản pháp quy của Nhà nớc đãchính thức thừa nhận “nguồn hàng do liên kết kinh tế tạo ra là một trong 4nguồn khả năng để thực hiện kế hoạch sản xuất- kinh doanh của các đơn vịcơ sở”
Tuy vậy, một phần do cha định rõ thế nào là liên kết kinh tế, một phần
do cha có các luật, các văn bản pháp qui ban hành để quy định phạm vi chophép “bung ra” của các hoạt động kinh tế nói chung, qui định tính chất, nộidung của liên kết kinh tế nói riêng, mà hầu nh tất cả các hoạt động kinh tế,quan hệ kinh tế giữa các đơn vị diễn ra ngoài phạm vi khuôn khổ kế hoạchpháp lệnh của Nhà nớc đều đợc coi là liên kết kinh tế Nhiều doanh nghiệpNhà nớc đã lợi dụng danh nghĩa “liên kết kinh tế” để hoạt động phi pháp,biến vật t quý hiếm đợc phân bổ theo chỉ tiêu kế hoạch nhà nớc thành những
“vật t d thừa” hoặc “sản phẩm phụ” để “liên kết” thu lãi lớn….Thực chất là đãgây khó khăn thêm cho việc thực hiện kế hoạch nhà nớc nói chung Vì vậy,
để chấn chỉnh một bớc các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp quốcdoanh, nhằm thực hiện chủ trơng “bung ra đúng hớng”, cũng nh qui định h-ớng dẫn nội dung tính chất và phạm vi hoạt động liên kết kinh tế giữa cácdoanh nghiệp, Hội đồng bộ trởng đã ban hành Nghị quyết số 56/HDDBT vềcải tiến quản lý kinh tế nhằm sửa đổi Nghị quyết số 25,26/CP và Quyết định
số 126/HĐBT qui định về hoạt động liên kết kinh tế, vào tháng 11 năm 1984.Với các quyết định này, phạm vi của liên kết kinh tế đã bị thu hẹp hơn, do đólàm lành mạnh hơn các hoạt động kinh tế, các quan hệ kinh tế giữa cácdoanh nghiệp, dù vẫn còn “kế hoạch hai phần” và “kế hoạch ba phần”
Trang 9Do vậy, quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp từ đó có hai dạng khácnhau: dạng quan hệ thứ nhất thực hiện theo ý đồ của Nhà nớc, của cơ quanquản lý cấp trên, tức theo địa chỉ chỉ định của kế hoạch Nhà nớc, dạng quan
hệ thứ hai hình thành khi các đơn vị sản xuất kinh doanh tự tìm đến nhau hợptác làm ăn Dạng quan hệ thứ hai chủ yếu diễn ra trong phạm vi giải quyếtnhững nhiệm vụ “thứ yếu”, nhiệm vụ “phụ thêm”, nhiều doanh nghiệp đãdựa vào thế mạnh của mình và tìm thấy thế mạnh của nhau, đã tiến hành thoảthuận hợp tác, liên kết làm ăn với nhau tơng đối lâu dài
Mời tám xí nghiệp của Tổng công ty tạp phẩm ( nay là Tổng công ty nhựaViệt Nam thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ ) hàng năm có khả năng sản xuất 180mặt hàng, trong đó chỉ có 80 mặt hàng kế hoạch đợc Nhà nớc đảm bảo vật t,còn lại 100 mặt hàng tự cân đối qua khâu liên kết và sản xuất phụ Nổi bậtnhất là mặt hàng mũ thợ lò là sản phẩm liên kết có hiệu quả nhất giữa công
ty xuất- nhập khẩu than và Tổng công ty tạp phẩm Còn ở Công ty bột giặtmiền Nam ( thành phố Hồ Chí Minh ), từ 1979 về trớc nguồn vật t cho sảnxuất 100% đợc thực hiện qua kế hoạch Nhà nớc Sang năm 1980 thì kế hoạchNhà nớc chỉ đảm bảo đợc 90% vật t, còn 10% đợc thực hiện qua khâu liênkết Năm 1981 các con số tơng ứng là 70% và 30% Đến năm 1982 thì 30%
là do kế hoạch Nhà nớc phân phối, còn 70% thực hiện qua khâu liên kết Nhàmáy cao su Vinh ( Nghệ An ) nhờ liên kết kinh tế với nhà máy cao su SaoVàng mà khép kín dây chuyền sản xuất lốp xe đạp Sự kết hợp chặt chẽ giữanhà máy cơ khí Tam Hiệp ( Bộ Lâm nghiệp ) với các Viện nghiên cứu và cáccơ sở sản xuất khác đã rút ngắn đợc thời gian nghiên cứu để sản xuất phụtùng xe REO, tiết kiệm cho Nhà nớc hàng triệu đồng ngoại tệ mạnh ( mỗinăm khoảng 500.000 USD ) Sự liên kết giữa nhà máy chế tạo máy công cụ
số 1 ( nay thuộc Bộ Công nghiệp nặng ) với 20 nhà máy và Viện nghiên cứu
đã sản xuất thành công dây chuyền thiết bị toàn bộ cho các trạm thuỷ điệnloại 2000-3000kW và loại 5-6MW, sản xuất hoàn chỉnh thiết bị dây chuyềnsản xuất líp xe đạp… Trong tổ chức “hiệp tác” này, nhà máy công cụ số 1
đảm nhiệm vai trò trung tâm tổ chức liên kết Các đơn vị khác đợc phân côngkhảo sát, thiết kế, sản xuất những phụ kiện, nhà máy công cụ số 1 lắp ráp, đ-
ợc thực hiện bằng các hợp đồng sản xuất về qui cách , chủng loại, phẩm chấttheo những tiêu chuẩn qui ớc với những đơn giá đã đợc thống nhất giữa cácbên Hợp tác xã mua bán xã Thanh Hoà ( Vĩnh Phúc ) thì đứng làm trung
Trang 10gian liên kết giữa các hộ nông dân trồng sắn trong huyện với nhà máy rợu
Đồng Xuân, thông qua phơng thức ký hợp đồng trao đổi hàng hai chiều vớigiá cả thoả thuận với các bên Hàng đối lu chủ yếu là sắn và rợu Nhờ đó nhàmáy rợu Đồng Xuân có đủ nguyên liệu, bà con nông dân bán đợc sắn, có rợuuống theo giá thoả đáng…
II.3 Giai đoạn từ năm 1986 đến nay:
Từ cuối năm 1985 trở đi, sau khi có Nghị quyết Hội nghị trung ơng Đảnglần thứ 8 ( khoá V), chuyển hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp sanghạch toán kinh doanh, đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI,quyết định chuyển nền kinh tế nớc ta sang sản xuất hàng hoá nhiều thànhphần, cùng với Quyết định 217/HĐBT (1987) giao quyền tự chủ cho cácgiám đốc các doanh nghiệp Nhà nớc, làm cho hoạt động sản xuất, kinhdoanh của các doanh nghiệp ngày càng linh hoạt, năng động, các quan hệkinh tế giữa các doanh nghiệp diễn ra mạnh mẽ, sôi động, đan xen phức tạp
và ngày càng gắn bó mật thiết với nhau hơn Các quan hệ kinh tế nhất thờigiữa các doanh nghiệp luôn luôn vận động chuyển hoá phát triển sang quan
hệ hợp tác, liên kết lâu dài hơn, ngày càng nhiều Các quan hệ liên kết kinh
tế giữa các doanh nghiệp đi vào thực chất hơn, diễn ra theo đúng qui luật tấtyếu của quá trình phát triển kinh tế nói chung, của các quan hệ kinh tế giữacác doanh nghiệp nói riêng và phạm vi của chúng đã mở ra trên toàn bộ cácmặt hoạt động, trên toàn bộ nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh của mỗi doanhnghiệp Hoạt động liên kết kinh tế trở nên sôi động, phong phú hơn, diễn ratrên tất cả các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, cho nên Nghị quyết Hội nghịtrung ơng lần thứ 3 ( khóa VI ) đa vấn đề liên kết trở thành một nội dungquan trọng của Nghị quyết Tinh thần của Nghị quyết đã xác định liên kếtkinh tế trở thành một nội dung quan trọng của các hoạt động kinh tế, đặc biệttrong nền kinh tế hàng hoá, trên cơ sở hiệu quả kinh tế và phát triển Đồngthời Nghị quyết cũng nêu rõ yêu cầu các hoạt động liên kết kinh tế phải tuânthủ pháp luật, không gây tổn hại đến hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp, đảm bảo các bên cùng có lợi Mặt khác, ngày 22 tháng 3 năm 1989,Hội đồng Bộ trởng ban hành Nghị định số 28/HĐBT về “Điều lệ Xí nghiệpliên doanh” ( hay “Xí nghiệp cổ phần”) và ngày 4 tháng 4 năm 1989 banhành Quyết định số 38/HĐBT về “liên kết kinh tế trong sản xuất, lu thông,dịch vụ” thay cho quyết định số 126/HĐBT ngày 14 tháng 11 năm 1984, qui
Trang 11định cụ thể đối với việc thành lập, giải thể, hoạt động của các xí nghiệp liêndoanh ( xí nghiệp cổ phần, chung vốn), những nội dung chủ yếu của liên kếtkinh tế trong điều kiện chuyển sang phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần.
Nhìn chung, cùng với quá trình chuyển nền kinh tế nớc ta từ hoạt độngvận hành theo cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, quan liêu , bao cấpsang vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, cùng với việcxác lập, mở rộng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp Nhà nớc, kiện toàn tổchức sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nớc ( theo Quyết định 388/ HĐBT về
đăng ký, thành lập, giải thể các doanh nghiệp Nhà nớc và chỉ thị số 202/CTcủa Thủ tớng chính phủ về cổ phần hóa thí điểm các doanh nghiệp Nhà nớc )việc xác lập quyền bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trớc pháp luật( không phân biệt loại hình sở hữu và cấp quản lý), đã làm cho các hoạt độngkinh tế của các doanh nghiệp ngày càng chủ động, tích cực, sôi động và
“lành mạnh”, làm cho nền kinh tế nớc ta ngày càng đi vào thế ổn định vàphát triển Quá trình đó cũng làm cho các quan hệ kinh tế giữa các doanhnghiệp ngày càng mở rộng Song song với nó, quan hệ liên kết kinh tế giữacác doanh nghiệp cũng đợc gia tăng, phát triển từ thấp lên cao, từ lỏng lẻo
đến kiên cố khăng khít Liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp đã và đangphát triển với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, tồn tại xen kẽ, đan chéo vàbên cạnh nhau Những hình thức liên kết kinh tế chủ yếu hiện nay là:
Hình thức liên kết giữa các chủ thể kinh tế nhà nớc thể hiện chủ yếudới dạng tổng công ty Tuy nhiên, liên kết trong tổng công ty , nhìn chung,cha hoàn toàn dựa trên nguyên tắc tự nguyện và mối quan hệ về lợi ích vàhiệu quả kinh tế Một số đơn vị tham gia vào tổng công ty là do các quyết
định hành chính, hoặc vì những u đãi mà chỉ tham gia tổng công ty mới đợchởng
Hình thức liên kết giữa các chủ thể kinh tế tập thể chủ yếu dới dạngliên hiệp hợp tác xã, trong đó các thành viên thờng là những hợp tác xã,hoặc thông qua các hợp đồng kinh tế, vì vậy đã phát huy đợc lợi ích của liênkết Do nền kinh tế xuất hiện nhiều thành phần kinh tế, nên trong một sốnăm gần đây, việc liên kết, hợp tác diễn ra rất đa dạng, các hợp tác xã khôngchỉ liên kết với nhau hoặc với các doanh nghiệp nhà nớc nh trớc đây, mà họ
Trang 12đã có nhiều lựa chọn đối tác tham gia liên kết, đặc biệt là liên kết giữa hợptác xã với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Hợp đồng gia công là hình thức liên kết giữa hai đối tác, trong đóbên gia công sẽ đảm nhận một công đoạn sản xuất hoặc toàn bộ quá trìnhsản xuất Hình thức gia công khá phổ biến trong các ngành không đòi hỏitính phức tạp cao trong quan hệ liên kết nh công nghiệp nhẹ ( dệt may, giàydép, cơ khí….) những ngành mà sản phẩm có nhiều chi tiết, bộ phận và một
số chi tiết, bộ phận này có độ phức tạp không cao, không đòi hỏi khả năng vềcông nghệ hiện đại
Hiện nay, hình thức này rất phổ biến và thể hiện là một trong những hìnhthức liên kết có hiệu quả Hợp đồng gia công hiện nay rất đa dạng, dới nhiềuhình thức, có thể là giữa các doanh nghiệp nhà nớc với nhau, giữa doanhnghiệp nhà nớc với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, giữa doanh nghiệp với
hộ gia đình, hợp tác xã, giữa doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài với doanhnghiệp trong nớc… Các hợp đồng gia công hiện nay đợc thực hiện theonguyên tắc tự nguyện, hai bên cùng có lợi
Liên doanh giữa doanh nghiệp trong nớc và doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài là hình thức liên kết kinh tế xuất hiện ở nớc ta từ cuối nhữngnăm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX khi Việt Nam mở cửa nền kinh tếvới khu vực và thế giới Việc mở cửa nền kinh tế đã tạo điều kiện và thu hútcác nhà đầu t, các doanh nghiệp nớc ngoài vào Việt Nam với một tốc độ khánhanh trong nửa đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX Việc liên doanh thờng xuất phát
từ những nguyên nhânJ là do các nhà đầu t nớc ngoài cha nắm bắt đợc đầy
đủ thông tin về thị trờng đầu vào, đầu ra của Việt Nam; cha thông thạo cácquy định pháp lý của Việt Nam; để giảm bớt các chi phí về thuê đất, về xingiấy phép kinh doanh…
Hiện nay, mối liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài vớidoanh nghiệp trong nớc, đặc biệt là với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Namcòn hạn chế Mặc dù các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài hoạt động trênlãnh thổ Việt Nam, nhng các giao dịch lại chủ yếu diễn ra với các đối tác nớcngoài Họ mua các nguyên liệu đầu vào từ nớc ngoài qua việc nhập khẩu vàbán sản phẩm của mình chủ yếu tại thị trờng nớc ngoài hoặc nếu bán ở ViệtNam thì lại qua các đại lý độc quyền mà họ lập nên
Trang 13 Trong những năm gần đây; hình thức hiệp hội khá phát triển ở ViệtNam Đây là hình thức liên kết rất đa dạng giữa doanh nghiệp, hộ gia đình,cá nhân và nhìn chung là một hình thức liên kết tự nguyện; trên cơ sở lợi íchcủa toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp tham gia Có thể chia thành một sốdạng hiệp hội nh :
+ Hiệp hội ngành nghề, đợc hình thành từ các doanh nghiệp cùngkinh doanh trong một ngành nghề nhất định ;
+ Hiệp hội doanh nghiệp ở nhiều ngành nghề khác nhau Hình thứcnày hình thành chủ yếu trên cơ sở vùng địa lý Nông trờng Sông Hậu và Hiệphội mía đờng coi là những thành công của hình thức liên kết này
Thầu phụ là hình thức liên kết khá phổ biến và có hiệu quả hiện nay
và diễn ra chủ yếu giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ.ở ViệtNam, đó là hình thức liên kết giữa tổng công ty với doanh nghiệp thành viên,hoặc đôi khi với doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác ; cũng có thể làliên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài với doanh nghiệp trong n-
ớc Hiện nay, hình thức này rất phổ biến trong ngành xây lắp Tuy nhiên, ởnhững ngành khác, ví dụ, ngành công nghiệp, thầu phụ mới chỉ đợc áp dụngtrong phạm vi hẹp, tỷ lệ cao nhất thuộc ngành sản xuất xe đạp, ngành mà đặc
điểm kỹ thuật đặt ra yêu cầu thầu phụ cao cũng chỉ là 19%; trong lĩnh vựcchế biến gạo 18%; trong ngành điện tử là 15%; trong ngành máy nôngnghiệp 11%; trong ngành dệt 9%; và trong ngành chế biến rau quả và phụtùng ô tô 5%
Nhìn chung, tốc độ phát triển thầu phụ vẫn còn chậm so với khả năng vàyêu cầu phát triển của Việt Nam Các nhà thầu phụ chủ yếu là các doanhnghiệp trong nớc, trong khi nhà thầu chính thờng là các công ty nớc ngoài,các liên doanh và một số tổng công ty lớn của Nhà nớc ở các ngành cơ khí,xây dựng, may mặc,… Số lợng thầu phụ của mỗi thầu chính cũng rất hạnchế, ví dụ công ty nhiều thầu phụ nhất, Level Việt Nam cũng chỉ có khoảngtrên 60 nhà thầu phụ
Đa số các nhà thầu phụ thờng làm những công việc yêu cầu trình độ kỹthuật đơn giản nh san lấp, khai thác đá ( xây dựng ), sản xuất phụ tùng đơngiản ( xe đạp ), bao bì,….Chỉ có rất ít các nhà thầu phụ sản xuất sản phẩmcông nghiệp có trình độ kỹ thuật cao: phụ tùng xe máy, khuôn đúc cơ khí,
Trang 14giày dép xuất khẩu,….do năng lực của các nhà thầu phụ còn thấp, trong khiviệc hỗ trợ về kỹ thuật từ nhà thầu chính còn rất hạn chế
II Đánh giá chung về liên kết kinh tế của các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam
2.1.Thành công đạt đợc do quá trình liên kết kinh tế :
Hình thức liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp với nhau có những kếtquả vô cùng quan trọng, có tác dụng thiết thực đối với sản xuất kinh doanhcủa các doanh nghiệp, đối với sự ổn định và phát triển kinh tế của các ngành,các lĩnh vực, của cả nền kinh tế quốc dân trong quá trình chuyển sang nềnkinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc Những kết quả đó là :
Một là, sự gắn bó giữa sản xuất và lu thông ngày càng chặt chẽ Liên kếtgiữa các doanh nghiệp đã xoá đi hiện tợng tranh mua, tranh bán làm đội giálên không đáng có trên thị trờng trong nớc và làm dìm giá bán trên thị trờngngoài nớc Sản xuất ngày càng đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của ngời tiêudùng trong và ngoài nớc
Hai là, ở tất cả các doanh nghiệp có tiến hành liên kết kinh tế với nhau dùdới hình thức nào cũng đều có chung kết quả là có sự ổn định của “đầu vào”
và khai thông đợc “đầu ra” một cách nhanh chóng Từ đó đã góp phần làmcho sản xuất- kinh doanh của các doanh nghiệp đợc ổn định, phát triển vàhiệu quả ngày càng tăng
Ba là, sự liên kết giữa các doanh nghiệp hoàn toàn độc lập với nhau có uthế là đảm bảo tính linh hoạt, năng động, phong phú và đa dạng về các hìnhthức cũng nh các chủ thể và các mối quan hệ liên kết kinh tế
Bốn là, sự liên kết giữa các doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp nhỏkhác nhau cùng ngành hoặc khác ngành đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữacác thành phần kinh tế, trong đó giữ vững đợc vai trò chủ đạo của kinh tếquốc doanh
Năm là, sự liên kết giữa các doanh nghiệp nằm trong một tổ chức là hìnhthức đảm bảo giải quyết thoả đáng, không có mâu thuẫn về lợi ích kinh tếgiữa các thành viên
2.2.Nguyên nhân yếu kém :
Mặc dù các hình thức liên kết kinh tế đã có những bớc phát triển đáng
kể, theo hớng tự nguyện, dựa trên cơ sở vốn, công nghệ, thị trờng,… ngnhliên kết kinh tế giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế Việt Nam còn với