1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý, giúp đỡ phạm nhân được tha ở đà nẵng tái hoà nhập cộng đồng

139 1K 16
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp quản lý, giúp đỡ phạm nhân được tha ở Đà Nẵng tái hòa nhập cộng đồng
Trường học University of Đà Nẵng
Chuyên ngành Criminal Justice and Social Rehabilitation
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 3,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về vị trí, vai trò của các cấp uy Dang, chính quyền, các có quan doàn thể và lực lượng công an trong công tác quản lý, giáo dục giúp đỡ phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đổng,.... Sa

Trang 1

UY BAN NHAN DAN THANH PHO ĐÀ NẴNG

CÔNG GN THANH PHO DA NANG

BAO CAO TONG KE

DE TAI KHOA HOC

MOT SO GIAI PHAP QUAN LY, GIUP DO

PHAM NHAN DUOC THA O DA NANG

TAL HOA NHAP CONG DONG

Da nang - 4/2003

Ø0

1/8

Trang 2

UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CÔNG AN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

“ BẢO CAO TONG KET

DE TAI KHOA HOC

MỘT SỐ GIẢI PHấP QUẦN Lý, GIÚP ĐỠ

PHAM NHAN PUOC THA O DA NANG

TAI HOA NHfie CONG DONG

Co quan quan lý : SỞ KHOA HOG- CÔNG NGHỆ-MỐI TRƯỜNG

TP ĐÀ NẴNG

Co quan thực hiện : CÔNG AN TP ĐÀ NẴNG

Cha nhiém dé tai : Olguyén Dhi Ding

Cử nhân, chánh Văn phòng Công an TP Đà Nẵng

Da ning - 4/2003

Trang 3

BAN CHU NHIEM DE TAI:

1.0tguyén Dhi Dang Cử nhân, chánh văn phòng công an thành phố,

chủ nhiệm để tài

3 Tein Ghi Ghants Ghag — Cử nhân, thành viên,

Trang 4

Loi cant on

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn

1 Tiến sĩ Trương Như Vương Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược

và Khoa học công an

2 Tiến sĩ Đỗ Tiến Triển Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược

và Khoa học công an

3 Tiến sĩ Nguyễn Quang Thiện Trưởng ban Nghiên cứu khoa học và biên soạn

“ : Từ điền nghiệp vụ công an

4 Tiến sĩ Nông Thị Ngọc Minh Giám đốc Sử Khoa học ¬ Công nghệ ~ Môi trường

TP Đà Nẵng

5 Tiến sĩ Mai Đức Lộc Phó giám đốc Sở Khoa học - Công nghệ - Môi

trường TP Đà Nẵng

6 Bùi Quốc Cường Cử nhân, Ban nghiên cứu khoa học và biên soạn

Từ điển nghiệp vụ công an

7 Trần Thị Phương Hiển Cử nhân, chuyên viên Sở Khoa học - Công nghệ - Môi

trường TP Đà Nẵng

Cùng nhiều nhà khoa học và các cơ quan, ban ngành, cá nhân có liên quan đã giúp đỡ

chúng tôi hoàn thành để tài nghiên cứu này

S*S

Trang 5

4 Phương pháp HgÌÄÊH CỨN c cài cà cà tê HH nà KH nào 08

5 Khả năng ứng dỤg c sà cà cà es cesses sue tas cen tense one 09 PHẦN THỨNHẤT : THỰC TRẠNG TINH HINH 10

L Một số sấn đề lý luận chung cà sẰ 10

1.1 Một số qui định của pháp luật hình sự về phạm nhân

"x 3z hố heẮeee 10

1.2 Nhận thức về phạm nhân được tha, vấn để phạm nhân được

tha tái hoà nhập cộng đồng và công tác quản lý, giáo đục

giúp đỡ phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đồng 11

L2.1 Về phạm nhân được tha LH HH 1.2.2 Vé vấn để phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đồổng — 12 1⁄2 Về công tác quén Ij, giáo dục giúp đð phạm nhân được tha

tái hoà nhập cộng đồng, LB

1H Tình hình và xu hướng vận động của phạm nhân được

CH VỀ Ăn TH TH HH HH g0 T1 6018110 18 101114 15

TH Tình hình CHHH§ .c cu n nh kknhie 15 WLLL VE số lượng phạm nhân được tha e —— T5

II.12 Về địa bàn cứ trú .àà cài csssereereeeeseersaaser 15

II.13 Về giới tính, độ tuổi và trình độ văn hoá — LÔ

lI.1.4 Về tội danh của phạm nhân được tha tái về tái Mw 1L2 Tình hình ở Đà NẴng cà ceeieeeervee 17

11.2.1 VE số lượng phạm nhên dược tha .srs.e 17

11.3 Đặc điểm, tính chất của phạm nhân được tha về ở

Thành phố Đà Nẵng cong re 20

Trang 6

I0

JI.3/2 Về giới tính .-cc cv nhe nhe 1.3.3 Về trình độ văn hOÁ con nen chư rà 11.3.4 VE việc làm và kinh LỂ Ă cu eherirree Ii3.5 Về hoàn cảnh gia đỉnh Ăn

lI.3.© Về đặc điểm sỐng, LL LH Hs nH> nhe

HH Xu hướng vận động của phạm nhân được tha VỀ e.eee

II.4.1 Về số lượng đối tượng chen

JI.4'2 Về tỉnh hình tái hoà nhập cu nhớt

11.4.3 Về tỉnh hinh tái phạm -.- cv nhe

THỊ Tình hùnh tát hoà nháp và tát phạm của các phạm nhân

HH Công tác quản HH phạm nhân được tha về những năm

OI NNddddđaaaẳiẳaiâaaẢÝẢ HỊ.2 Tình hình tái hoà HÌhẬập Gì keeree IILL2.1 VỀ địa bàn cư rũ .cQQnS Hs nh ng kh xe

IS na

III:25 Về đặc điểm gia đỉnh se

III2.© Về mức độ kính tế và việc lâm - cà se 1.2.7 Về đặc điểm thành phan đối tượng tiến bộ {11.2.8 VE théi gian chấp hành hình phạt - - 2c se HI.3 Tình hình tát phạm tội của các phạm nhân được tha về

IV Nguyên nhân, điều kiện tái hoà nhập và tái phạm của các phạm nhân được th VỀ Ă BS vs se IV.] Những nguyên nhân, điều kiện chủ quan từ phía

bản thân đổi THƯỢNG và cà cài cà cà HH: cence TH nh HH na Hi ky 1V.2 Những nguyên nhân, điểu kiện khách quản

Trang 7

PHẦN THỨHAI : MỘT SỐ GIẢI PHÁP

L.1 Nhận thức lý luận về công tác quản lý, giáo dục giúp đỡ

phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đồng 65

LLL Vé sự cẩn thiết của công tác quản lý, giáo dục giúp đð 65

11⁄2 ý nghĩa của công tác quan ly, giáo dục giúp dð phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đồng đối với xã hội nói chung và trong công Lắc phòng

ngửa tội Pham ni ENG che nh th nh hot 66

112 Về nội dụng công tác quản lý, giáo dục giúp đỡ 67

L14 Về vị trí, vai trò của các cấp uy Dang, chính quyền, các có quan doàn

thể và lực lượng công an trong công tác quản lý, giáo dục giúp đỡ phạm

nhân được tha tái hoà nhập cộng đổng, sàn nen 69

1.3 Những yếu tố tâm lý k tác ic dong dén hiệu quả công s tác q quản in Wy,

7 2 ae 72 1I.Đề xuất các giải pháp cà cà He Hee 74

II.1 Các giải pháp tạo môi trường xã hội thuận lợi cho các phạm

nhân được tha về tái hoà nhập cộng đồng 74 IỊ.2 Các giải pháp liên quan đến phương thức quản lý phạm

l].3 Các giải pháp hỗ trợ, giúp đỡ phạm nhân được tha về tải hoà

H4 Đề xuất mô hình quản 5 giáo dục giúp đỡ phạm nhân được

1.4.LMô hình quản lý, giáo dục giúp đð chung sec 81 11.4.2 Md hinh quan lý, giáo dụcgiúp đỡ phạm nhân được tha về trong

AMO HIN HOAT DONG CUA TS TU QUAN VE AN NINH TRAT TU DHUONG TAN Clint,

QUAN THANIE KHE oo ces ccc cee cee cee cee cee cee cee ces cee cee eee see spesevsuseeensuseuseusesuuveneeses 84

Trang 8

& MO HINH QUAN LY, GIÁO DỤC PHAM NHAN DƯỢC THÁ VỀ TẠI DHUỜNG AN HÃI ĐẮC,

QUAN SON TRA coe cen cee tes cee cce ẽ.Haảd444 90

CL MÔ HÌNH GIÁO DỤC,CẮM HOÁ DIIAM NHÂN DƯỢC THÁ VỀ TẠI KHỐI DHÓ AN TRUNG DONG 1,

2019)e10/710se eo e0 a 96

Kết luận óàoQ cọ Gà Sàn Sen eeeeesersrr TÔI

Phần phụ lục số liệu .- 5 Ăn nh ng 41211311121 erkerkie 103

Trang 9

PHAN MG DAU Những năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đất nước và

nhân đân ta đã đạt được nhiều thành tích to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, xã

hội, chính trị, an ninh - quốc phòng Đất nước chuyển mình hoà cùng đòng chảy của thời đại Trong xu thế chung của cả nước, Đảng bộ và nhân dân Đà

Nang đã có nhiều nỗ lực, vượt qua khó khăn thử thách phấn đấu giành được

những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực; đạt được nhiều tiến bộ trong mọi

mặt của đời sống xã hội Tiến từng bước chắc chắn trên con đường dân giàu, thành phố mạnh, xã hội công bằng văn minh

Bên cạnh những thành tích đạt được thì những năm gần đây, do nhiều nguyên nhan khách quan và chủ quan, tình hình hoạt động của tội phạm diễn

ra ngày càng phức tạp Điều đó thể hiện ở số vụ, đối tượng phạm tội gia tăng

và tính chất hành vi phạm tội cũng ngày càng tỉnh vi, nghiêm trọng hơn

Trước tình hình đó, cấp ủy và chính quyền các cấp ở thành phố đã tập trung

chỉ đạo chặt chế và đồng bộ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Lực

lượng công an các cấp với chức năng nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao

phó đã tiến hành đấu tranh kiên quyết, có hiệu quả với các loại tội phạm Các

lực lượng chức năng của ngành Công an đã tiến hành điều tra, khám phá đưa

ra xét xử trước pháp luật nhiều hành vi vi phạm pháp luật Số người bị kết án

và chịu hình thức tập trung cải tạo ngày càng nhiều Vì thế, hàng năm số phạm nhân được tha về có chiều hướng gia tăng và chiếm một lỷ lệ đáng kể

trong tổng số đối tượng cần quản lý tại địa bàn dân cư Theo thống kê mới

nhất của ngành Công an (tháng 7/2001), thì từ năm 1993 đến năm 2000 toàn quốc có 213.350 phạm nhân chấp hành xong bản án được trở về địa phương (trung bình mỗi năm có 26.668 đối tượng) Tính riêng tại thành phố Đà Nang, thi trong các năm từ 1997 đến 2002 đã có 1.771 phạm nhân được tha

về địa phương sinh sống, trung bình mỗi năm có xấp xỉ 300 phạm nhân được

tha về địa phương sinh sống.

Trang 10

Được tha về địa phương - nơi cư trú trước khi phải đi tập trung cải tạo

- là niềm vui vì được trở về với cuộc sống xã hội bình thường, được gần gũi gia đình, người thân, bạn bè, vợ con Tuy nhiên, việc bị cách ly khỏi môi

trường xã hội quen thuộc này một thời gian cũng tạo ra mặc cảm về tâm lý

và những bỡ ngỡ nhất định, gây khó khăn cho việc tái hoà nhập cộng đồng và

ồn định cuộc sống, tìm kiếm được một việc làm ổn định cho phạm nhân được

tha về

Sau khi phạm nhân được tha về địa phương, lực lượng công an cùng các ban, ngành, đoàn thể vẫn phải tiến hành các biện pháp quản lý, giáo dục

giúp đỡ nhằm loại bỏ khả năng tái phạm và tạo điều kiện để họ tái hoà nhập

cộng động, tìm kiếm việc làm nhằm ổn định cuộc sống Đó là một trong những cách phòng ngừa tái phạm hữu hiệu nhất

Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn để giáo dục giúp đỡ để phạm

nhân được tha về trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, những năm trước đây, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, đường lối chỉ dạo cụ

thể, sâu sắc vể vấn đề này Là một trong những văn bản cụ thể hoá chủ

trương, đường lối của Đảng về vấn đề giúp đỡ phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đồng, Chỉ thị số 53/CT-TW của Bộ Chính trị ra ngày 21/3/2000 có đoạn viết: “Cần thực hiện có liệu quả các biện pháp quản lý, giúp đỡ những

phạm nhân được tha, đặc biệt trong 2 đợt thực hiện đặc xá nhằm tiếp tục

giáo dục họ trở thành những người lương thiện, hoà nhập với cuộc sống cộng đồng, có ích cho gia đình và xã hội, hạn chế tối đa tình trạng tái phạm Đặc biệt, trong điều kiện thành phố Đà Nẵng đang thực hiện chương trình xây dựng thành phố “5 không” thì đây là một trong những việc làm thiết thực để

hưởng ứng mục tiêu “5 không” của thành phố

1/ Tình hình nghiên cứu

Là một mắt xích cuối cùng nhưng hết sức quan trọng trong quá trình

cải tạo người lâm lỡ, từng bước đưa họ trở về làm người lương thiện, có ích

Trang 11

cho xã hội, nhưng hiện nay công tác quản lý, giúp đỡ phạm nhân được tha

về, do nhiều lý do khác nhau, còn chưa được quy chuẩn hoá trên phạm vị toàn quốc mà tuỳ thuộc vào nhận thức, quan điểm của lãnh đạo các cấp chính quyền địa phương nên hiệu quả công tác giữa các địa phương, khu vực rất

khác nhau Có thực trạng như vậy là do công tác nghiên cứu lý luận cũng như

khảo sát thực tiễn về vấn đề này còn rất sơ sài, nội dung thì rải rác; Trong khi

các điểu kiện của thực tiễn thay đổi, đối tượng có những sắc thái mới mà

công tác nghiên cứu thì chưa theo kịp dẫn đến những thiếu sót không thể tránh khỏi trong công tác chỉ đạo và thực hiện Vì nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có yếu tố về tính phức tạp của đối tượng khảo sát nên hầu như chỉ

có một số lực lượng chức năng của ngành công an tổ chức nghiên cứu Do vậy, mà cho đến nay mới chỉ có một cuốn sách do nhóm tác giả của Học viện Cảnh sát nhân dân (Nhà xuất bản Công an nhân dân in năm 2001) đề cập đến

vấn đề này trên phạm vi toàn quốc; bên cạnh đó thì chỉ có một vài bài viết rải rác mang tính gợi mở vấn đẻ và tiếp cận vấn dé ở một góc độ nhất định được

đăng trên các tạp chí

Trước tình hình nghiên cứu như vậy, đặc biệt là trước yêu cầu đòi hỏi

của thực tiễn công tác tại địa phương cũng như thực trạng bức xúc của vấn để

tái hoà nhập cộng đồng của phạm nhân được tha trên toàn quốc nói chung và

tại thành phố Đà Nắng nói riêng, nên việc nghiên cứu để tài là thực sự cần thiết, cấp bách không chỉ đối với địa phương mà còn cả đối với trung ương,

vì những kết quả của đề tài sẽ làm phong phú thêm kho tầng lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

2/ Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng chính của đề tài là các phạm nhân

đã chấp hành án phạt tù được tha về sinh sống trên địa bàn thành phố Đà

Nẵng từ tháng 1/1997 đến tháng 12/2001 Bên cạnh đó chúng tôi còn tiến

hành nghiên cứu thêm các đối tượng có liên quan như: gia đình có phạm

Trang 12

-7-nhân được tha về; cảnh sát khu vực, cán bộ quản giáo, cán bộ quản lý ở các

địa phương, ban ngành, đoàn thể để có thêm nguồn thông tin nhằm củng cố

những nhận định, đánh giá

- Phạm vì nghiên cứu:

+ Về không gian: Nội dung của đẻ tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn các quận, huyện thuộc thành phố Đà Nẵng

+ Về thời gian: Đề tài tập trung khảo sát, điều tra phân tích, đánh giá

và so sánh các phạm nhân được tha về từ năm 1997-2001 để rút ra những nhận định, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý, giúp đỡ trong thời gian tới

3/ Mục tiêu đề tài

Căn cứ vào phạm vi và địa bàn khảo sát, nghiên cứu cũng như đối

tượng nghiên cứu, chúng tôi xác định mục tiêu của để tài như sau:

- Phân tích thực trạng, xác định nét phổ biến, đặc thù của các phạm nhân được tha về trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Đưa ra một số giải pháp quản lý, giúp đỡ phạm nhân được tha về một cách có hiệu quả

- Dé xuất mô hình quản lý phạm nhân được tha về trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết công tác thực tiễn

4/ Phương pháp nghiên cứu

Quán triệt phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật lịch sử khi nghiên cứu, lý giải các vấn đề, hiện tượng xã hội Bên cạnh đó còn sử dụng

bổ sung thêm những phương pháp khác như: thống kê tội phạm học, hội thảo khoa học, tọa đàm, chuyên gia, phân tích tài liệu Số liệu từ phương pháp thống kê thu được chúng tôi tiến hành nhập và xử lý trên máy vi tính bằng

phần mềm thống kê xã hội học SPSS for Win Version 10.0, với phần mềm

Trang 13

này nhiều thông tin được đưa vào so sánh, phân tích để tìm ra mối quan hệ

từng giai đoạn cụ thể

„Làm tài liệu phục vụ lãnh đạo và cán bộ chiến sĩ lực lượng công an các cấp từ thành phố, quận, huyện, phường, xã tham khảo và vận dụng vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện hoạt động nghiệp vụ của lực lượng

- Lam tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy

trong lực lượng công an

- Góp một phần nhỏ vào việc thay đổi nhận thức của các ban, ngành, đoàn thể và quần chúng nhân dân đối với phạm nhân được tha vẻ, cũng như công tác quản lý, giúp đỡ phạm nhan được tha về; từ đó có cái nhìn khách quan, chính xác để có các hành động thiết thực và cụ thể hơn

Trang 14

Phần thứ nhất

THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH PHẠM NHÂN ĐƯỢC THA Ở

THÀNH PHO DA NANG

| MOT SO VAN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

I.1 Một số quy định của pháp luật hình sự về phạm nhân được tha

Để xác định được một cách chính xắc và rõ ràng về khái niệm “ phạm nhân được tha” “ hay đối tượng tù tha” thì chúng ta cần phải nắm được các quy định của pháp luật về vấn để hình phạt và hình phạt tù Đây là căn cứ để xem xé( và xác định phạm nhân được tha và phân biệt phạm nhân được tha với các đối tượng khác

Hình phạt và hình phạt tù đã được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt

Nam năm 1985 Qua các lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989 1991, 1992,

1997 và 1999 thì vấn đề này đã được đề cập rất cụ thể

Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 thì tại Điều 26, chương V có đưa ra khái niệm về hình phạt mà theo đó xác định hình phạt là biện pháp cưỡng

chế nghiêm khắc nhất của nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi

ích của người phạm tội Và Điều 28, chương V phân loại hình phạt thành bai loại hình phạt, đó là hình phạt chính và hình phạt bổ sung Các hình thức phạt tù có thời hạn và tù chung thân được đặt trong mục các hình phạt chính

Tại Điều 33, chương V có quy định cụ thể về hình phạt tù có thời hạn là việc

buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định Tù có thời hạn đối với người phạm một tội gì có mức tối thiểu là ba tháng, tối đa là hai mươi năm Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù

Và tại Điều 34, chương V có quy dịnh cụ thể về hình phạt tù chung thân là

hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người người phạm tội đặc

Trang 15

biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình Không ấp dụng tù chung thân đối với người chưa thành niên phạm tội

Qua những điều khoản quy định trong Bộ luật thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước và là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất Trong đó, hình phạt tù có thời hạn và chung thân (hình phạt chính thức) áp dụng đối với người có hành vi phạm tội do Toà án nhân dân quyết định Người

bị áp dụng hình phạt tù được coi là phạm nhân (người tù hay đối tượng tù) và được giam giữ quản lý, giáo dục ở trong các trại giam, trại tạm giam Phạm nhân trong thời hạn chấp hành hình phạt tù (có thời hạn hoặc chung thân) sẽ bị hạn chế và tước bỏ một số quyền lợi cơ bản của người công dân Họ bị cách ly khỏi đời Sống xã hội và bị quản lý, giáo dục theo những quy định, nội quy của

trại giam do Nhà nước quy định

1.2 Nhận thức về phạm nhân được tha, vấn đề phạm nhân được

tha tái hoà nhập cộng đồng và công tác qudn lý, giáo dục giúp đỡ phạm nhân dược tha tái hoà nhập cộng đồng

L2.1 Về phạm nhân được tha:

Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng trên thực tế có nhiều

nhận thức khác nhau về phạm nhân được tha Trong đó có rất nhiều quan

điểm cho rằng phạm nhân được tha bao gồm tất cả các đối tượng hết thời hạn

cải tạo ở các trại giam, trại cải tạo mà có quyết định được tha về địa phương

Quan điểm này chưa thật chính xác vì nó chưa phân biệt rõ phạm nhân được

tha với các đối tượng hết thời hạn cải tạo ở các cơ sở tập trung như các cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh được tha về địa phương Bên cạnh đồ còn một số quan điểm cho rằng phạm nhân được tha là tất cả các đối

tượng hết thời gian chấp hành án phạt tù nay trở về địa phương Nội dung

quan điểm này xác định phạm nhân được tha chỉ gồm những đối tượng đã

-11

Trang 16

chấp hành xong bản án ở các trại giam, trại cải tạo hết thời gian cải tạo theo quyết định của Toà án được tha về địa phương và như vậy có nghĩa là các đối tượng tù được giảm thời hạn chấp hành án, được đặc xá không nằm trong nội

dung quan điểm này

Xuất phát từ thực tiễn của công tác quản lý, giáo dục phạm nhân được tha và trên cơ sở tham khảo các quan điểm khác, chúng tôi đã tiến hành xây dựng một khái niệm về phạm nhân được tha như sau: phạm nhân được tha

là những người có hành vi phạm tội đã bị Toà án nhân dân kết án bằng bản

án tù có thời hạn hoặc từ chung thân, phải chấp hành hình phạt tù tại các trại giam, bị cách ly khỏi đời sống xã hội nay đã chấp hanh xong hink phạt

tù hoặc Đì một lý do nào đó được tha ra khỏi trại

1.2.2 Về vấn dé phạm nhân được tha tát hoà nhập cộng đồng:

Có một thực tế là hiện nay chưa có một văn bản hoặc tài liệu nào quy định cụ thể về nội dung thuật ngữ phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng

đồng vì thế dẫn đến tình trạng còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Điều

này tạo ra nhiều khó khăn vì dẫn đến sự tồn tại nhiều nhận thức rất khác

nhau về vấn đề này Trong đó, có quan điểm cho rằng tái hoà nhập thực chất

là quá trình “tái hoàn lương” trở lại đối với cuộc sống đời thường mà những

người vi phạm, những người lâm lỗi đã mất di Ý kiến khác thì lại cho rằng tái hoà nhập cộng đồng chỉ đơn thuần là các biện pháp quản lý của cộng đồng đối với những người lầm lỗi Nhưng nhiều quan điểm thì thống nhất

cho rằng tái hoà nhập cộng đồng là sự hội nhập trở lại với đời sống cộng đồng của những người đã có hành vi phạm pháp và bị Toà án nhân dân kết án

tù có thời hạn hoặc tù chung thân nay chấp hành xong bản án hoặc vì một lý

do nào đó được tha trước thời hạn

Trang 17

Xuất phát từ sự phức tạp, khó khăn của đối tượng tác động mà chúng tôi cho rằng không nên có cách hiểu, nhận thức đơn giản, máy móc đối với vấn

đề tái hoà nhập cộng đồng mà phải coi đây thực chất là một quá trình giúp đối tượng tự hoàn thiện nhân cách, tư tưởng và thái độ đối với lao động Vì

vậy, theo quan điểm của chúng tôi thì vấn đề phạm nhân được tha tái hoà nhập

cộng đồng là quá trình tái hội nhập trở lại với cơ chế vận hành của đời sống xã hội đối với phạm nhân được tha trên mọi mặt, từ quan hệ tình cảm gia đình,

vợ chồng con cái và làng xóm đến cơ hội tìm kiếm công ăn việc làm tạo

nguồn thu nhập chính đáng để ổn định cuộc sống

1.2.3 Về công tác quản lý, giáo dục giúp đỡ phạm nhân được tha tái hoà nhập công đồng

Do tồn tại nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau về phạm nhân được tha và vấn để phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đồng nên nhận thức vẻ

công tác quản lý, giáo dục giúp đỡ phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng

đồng cũng còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Đặc biệt là về vị trí, vai

trò, nhiệm vụ của các cấp, các ngành đối với lĩnh vực công tác này còn tồn tại nhiều nhận thức khác nhau và điều đó có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả công tác quản lý, giáo dục phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đồng

|

Để xây dựng được một nhận thức thống nhất và đầy đủ về công tác

quản lý, giáo dục giúp đỡ phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đồng thì chúng ta phải đi từ việc xác định chuẩn xác khái niệm phạm nhân được tha, vấn đề tái hoà nhập cộng đồng Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có đảm bảo được trật tự này thì nhận thức mới thống nhất theo một trình tự lôgíc từ

đó tạo thuận lợi cho các cán bộ đang hoạt động thực tiễn

Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên trong thực tiễn công

tác của các ban, ngành, đoàn thể chức năng ở nhiều nơi, nhiều lúc còn có

-13

Trang 18

nhận thức chưa đúng về vị trí, vai trò cũng như nội dung của công tác quản

lý, giáo dục giúp đỡ phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đồng Từ chỗ còn tồn tại nhiều nhận thức khác nhau như vậy mà các cán bộ chức năng tuỳ thuộc vào cách thức nhìn nhận, giải quyết vấn đề lcòn nhiều khác nhau và mang tính chủ quan Chính điều đó đôi khí gây ra những dư luận không tốt trong một bộ phận quần chúng nhân dân

Xét trên yêu cầu của thực tế và trên cơ sở nghiên cứu về đối tượng

cũng như nội dụng và yêu cầu của công tác quản lý, giáo dục giúp đỡ phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đồng mà chúng tôi thấy việc cần thiết phải

xác định một cách rõ ràng và cụ thể về nội dung cũng như yêu cầu của công

tác quản lý, giáo dục giúp đỡ phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đồng Việc làm này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn trực tiếp tác động

đến những chuyển biến tích cực về mặt kết quả của công tác quân lý, giáo

dục phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đồng

Xuất phát từ yêu cầu bức bách của thực tiễn và tính phức tạp của đối

tượng tiến hành công tác quản lý, giáo dục giúp đỡ mà chúng tôi cho rằng

công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng

đồng phải bao gồm các nội dung chủ yếu là quản lý và giúp đỡ phạm nhân

được tha hoà nhập trở lại với cộng đồng sau một thời gian bị cách ly vì có những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội đến mức cần thiết phải áp dụng

hình phạt tù (có thời hạn hoặc không thời hạn) Trong đó, gia đình giữ vai trò

quan trọng và có trách nhiệm, nghĩa vụ phối hợp với các cơ quan chức năng như ngành công an, lao động thương binh và xã hội, mặt trận Tổ quốc, hội phụ nữ để cùng nhau, tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mình, phối hợp quản lý, giáo dục giúp đỡ phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đồng Chỉ

có sự phối hợp nhiệt tình và một mô hình có cơ chế vận hành nhịp nhàng, hoàn hảo giữa gia đình, khối phố và các cơ quan chức năng, kết hợp với nỗ lực của bản thân đối tượng thì mới hy vọng có một kết quả khả quan Hơn

Trang 19

nữa cũng cần phải nhấn mạnh đến vai trò đặc biệt quan trọng mang tính

quyết định của bản thân phạm nhân được trong việc tái hoà nhập cộng đồng

vì nếu không có sự tự nỗ lực của bản thân thì không có một sự giúp đỡ nào thực sự có hiệu quả lâu bền :

II TINH HINH VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CUA PHAM NHAN BUGC THA VE

IL1 Tinh hinh chung

H.1.1 Về số lượng phạm nhân được tha:

Trong 10 năm qua, theo thống kê của Cục cảnh sát Trại giam, Bộ Công an cho thấy các địa phương đã đưa vào trại 260.289 lượt đối tượng chấp hành án phạt tù và đã tha về địa phương 199.649 đối tượng Trong đó, năm 1998, số phạm nhân được tha đã lên tới 31.890 người (có 4.828 người được đặc xá) Năm 1999 có 26:019 người được tha Năm 2000 có 41.248 người được tha (có 23.337 người được đặc xá) Số phạm nhân được tha ở các địa phương hiện đang quản lý cũng tăng nhanh đo số lượng phạm nhân chịu hình phạt cải tạo giam giữ ngày càng tăng; bên cạnh đó là đợt đặc xá năm

2000 (chỉ tính riêng số tù được đặc xá đợt 30/4/2000 trong cả nước là 12.205 đối tượng) Từ năm 1997 đến nay, Nhà nước ta mở rộng chính sách đặc xá nên hàng năm số lượng phạm nhân được tha theo diện được hưởng chính

sách đặc xá cũng tăng lên

H.1.2 Về địa bàn cư trú:

Số phạm nhân được tha về tập trung chủ yếu ở các địa bàn đông đúc dân cư như các thành phố, thị xã, trong đó tập trung đặc biệt đông tại các

thành phố lớn của cả nước như: Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh

Đây là những thành phố dân cư đông đúc, là trung tâm về kinh tế, thương

mại nên có nhiều điểu kiện thuận lợi để phát sinh, phát triển nhiều loại tội

phạm, vì thế nên số người vi phạm pháp luật bị bắt giữ chiếm tỷ lệ lớn trong

tổng số đối tượng cả nước

-15

Trang 20

HH.1.3 Về giới tính, độ tuổi và trình độ văn hoá:

- Về giới tính thì số phạm nhân được tha về chủ yếu là nam giới, nam

giới thường chiếm số lượng lớn, khoảng 90% tổng số Nguyên nhân là do nhiều khía cạnh về giới tính, tính cách nên nam giới có nhiều "thuận lợi”

hơn trong việc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật Nữ giới thường

chiếm số lượng ít, thông thường là họ thường mắc vào các tội danh như lừa

đảo, mại dâm hoặc có vai trò người đồng phạm, giúp sức trong các vụ án

hình sự

- Về độ tuổi thì nhóm đối tượng có độ tuổi trong lứa tuổi thanh niên

(từ 18 đến 35 tuổi) chiếm đa số Tuỳ theo thống kê cụ thể của từng địa phương thì số liệu cụ thể có khác nhau nhưng nói chung số lượng thường dao

động ở vào khoảng từ 70% đến 75% của toàn bộ số phạm nhân được tha

- Về trình độ văn hoá thì số đối tượng có trình độ văn hoá cấp I, II chiếm đa số, thông thường họ là những người học hành dang dở, nhiều người

còn bộc lộ những đặc điểm về khí chất, tính cách bướng bỉnh, ngang tầng

ngay từ hồi còn cắp sách đến trường Thường thì ngay từ hồi còn đi học họ

cũng đã thường xuyên trốn học, gây gổ đánh nhau với các bạn cùng trường hay khác trường và cũng hình thành các nhóm bạn có một số điểm chung nào đó như có thể cùng nhau bỏ học, đánh lộn và trấn lột các học sinh khác

Bên cạnh số có trình độ học vấn dang dở thì cũng có nhiễu người không biết chữ, một số người đã học hết cấp III và cũng có một số người có trình độ đại học Thông thường những người có trình độ đại học thì mắc vào các tội danh về kinh tế, tham những, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài san

1.1.4 Về tội danh của phạm nhân được tha về:

Số phạm nhân được tha về địa phương có nhiều án tích khác nhau

nhưng nhìn chung tập trung vào những nhóm tội chính là: Nhóm các tội về

xâm phạm an ninh quốc gia; Nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế,

Trang 21

ma tuý, trật tự công cộng Trong đó chủ yếu là các tội danh thuộc lĩnh vực: hình sự, kinh tế, ma tuý Mấy năm gần đây, số đối tượng vi phạm và bị xử lý với các tội danh liên quan đến ma tuý có chiều hướng tăng nhanh đáng kể

Nhiêu phạm nhân được tha đã từng nghiện hút ma túy, nay về địa phương đã

có nhiều đối tượng tái nghiện và dẫn đến những hành vi tái phạm khác nhau Đối với phạm nhân được tha là nữ thường có án tích về các tội danh liên quan đến tệ nạn xã hội, buôn bán chất ma tuý

Số lượng đối tượng tha về phải chấp hành các quyết định của tòa án

về các hình phạt bổ sung vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể và cũng có chiều hướng gia tăng Những đối tượng đó sẽ làm nảy sinh nhiều khó khăn trong quá trình

quản lý„ giáo dục, giúp đỡ họ nói riêng và những phạm nhân được tha nói chung

12 Tình hùnh ở thành phố Đà Nẵng:

Thành phố Đà Nẵng được tách ra từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cũ

Với vị trí địa lý của mình, Đà Nẵng đang là một vùng đất nhiều tiêm năng của miền Trung, trong tương lai thành phố Đà Nẵng sẽ là trung tâm chính trị, kinh tế, là nơi giao lưu hội tụ của khu vực miền Trung và Tây Nguyên nên được toàn Đảng và toàn dân dành cho sự quan tâm to lớn, vì vậy mà thành phố ngày càng phát triển về mọi mặt Trong đà phát triển chung ấy, bên cạnh những tiến bộ về văn hoá, xã hội thì hoạt động của tội phạm cũng gia tăng cả

về số lượng và tính chất nguy hiểm của các hành vi vi phạm pháp luật

1.2.1 Về số lượng phạm nhân được tha:

Theo số liệu thống kê và qua nghiên cứu khảo sát thì số phạm nhân

được tha về ở thành phố Đà Nắng 5 năm từ 1997 đến 2001 là 1.771 đối

tượng, trong đó có 1.379 đối tượng chấp hành xong hình phạt tù, chiếm 78,88%, 276 đối tượng được đặc xá, chiếm 15,58% (số không thống kê được

là 98 đối tượng, chiếm 5,53%) Tính trung bình hàng năm có 354 đối tượng

-17

Trang 22

được tha về, cụ thể như sau: năm 1997 có 229 đối tượng, chiếm 12,93%; năm

1998 có 329 đối tượng, chiếm 18,57%; năm 1999 có 326 đối tượng, chiếm 18,4%; năm 2000 có 551 dối tượng chiếm 31,11% (trong đó có 276 đối tượng đặc xá); năm 2001 có 224 đối tượng chiếm 12,64% Qua phân tích số liệu trên

ta thấy, từ năm 1997 đến năm 2001 số phạm nhân tha về có xu hướng tăng lên, trong đó năm 2000 tăng đột biến do hai đợt đặc xá lớn, điều này cũng dẫn đến số lượng phạm nhân được tha của năm 2001 có giảm đi so với mấy năm

trước Nhưng xét cả một quá trình trong mấy năm liên tục thì số lượng phạm

nhân được tha về đều có xu hướng tăng lên một cách tự nhiên

11.2.2 Vé dia ban cut tri:

Các phạm nhân được tha trong thành phố tập trung chủ yếu ở hai quận

trung tâm là Hải Châu và Thanh Khê với 1.089 đối tượng, chiếm 61,5% tổng

số phạm nhân được tha Tuy có sự chênh lệch về số đối tượng giữa các địa bàn với nhau nhưng khi ta so sánh với số dân cư cụ thể của từng địa bàn thì

sẽ có được tỷ lệ như sau:

Đảng 1: So sánh tỷ lệ phạm nhân được tha trong tổng số dân cư trên địa bàn

Quan Hai Chau 589 203.264 0,4

Quận Thanh Khê 300 146.241 0,3 Quận Sơn Trà 227 96.756 0,2 Quận Ngũ Hành Sơn 77 32.533 0,2

Huyén Hoa Vang 225 132.042 0,2

Qua bảng số liệu trên ta thấy, tỷ lệ phạm nhân được tha so với dân số ở các quận cao hơn so với tỷ lệ này của huyện Ví dụ quận có tỷ lệ cao nhất là 0,39% (quận Thanh Khê) và thấp nhất là 0,23% (quận Sơn Trà, quận Ngũ Hành Sơn) Trong khi đó huyện Hòa Vang có tỷ lệ là 0,17%

Trong số 1.771 phạm nhân được tha (từ 1997 đến 2002) thì có 991 đối

tượng (chiếm 56%) sau khi được tha về địa phương đã có nhiều cố gắng, tiến

bộ trong cuộc sống và sinh hoạt Bên cạnh số đối tượng có nhiều cố gắng,

tiến bộ thì còn 780 đối tượng ( chiếm 44%) là còn biểu hiện lừng chừng,

chưa tiến bộ và tái phạm

Căn cứ vào các qui định của lực lượng công an về hoạt động quản lý, giáo dục các loại đối tượng ở địa bàn cơ sở thì phạm nhân tha về thường

được phân thành 2 loại gắn liền với việc phân loại nhân khẩu ở địa bàn :

1 Theo số liệu thống kê năm 1997

Trang 23

- Loại A : Là những đối tượng chấp hành tốt chính sách pháp luật và các quy định của địa phương, có thái độ cải tạo tốt, có nhiều tiến bộ

- Loại B : Là những đối tượng chưa có biểu hiện tiến bộ hoặc lưng chừng, hoặc đang có nhiều vướng mắc về tư tưởng, khó khăn về kinh tế, có khả năng hoạt động phạm pháp trở lại

Căn cứ vào tiêu chí phân loại của Bộ Công an, trong phạm vi nghiên cứu để tài này, phạm nhân tha về ở thành phố Đà Nắng được phân thành 3

loại với những tiêu chí như sau :

- Loại tiến bộ : Là những đối tượng chấp hành tốt chính sách pháp luật

và các quy định của địa phương, có thái độ cải tạo tốt, có nhiều tiến bộ

- Loại chưa tiến bộ : Là những đối tượng chưa có biểu hiện tiến bộ hoặc lưng chừng, hoặc đang có nhiều vướng mắc về tư tuởng, khó khăn về kinh tế, có khả năng hoại động phạm pháp trở lại

- Loại tái phạm : Là những đối tượng đã có hành vi tái phạm, bị xử lý

hình sự; xử lý hành chính hoặc xử lý khác

Tỷ lệ số đối tượng tù tha tiến bộ phân bố không đồng đều giữa các khu vực, địa bàn khác nhau của thành phố Bảng dưới đây sẽ minh họa cụ thể

thêm về sự phân bố giữa các quận, huyện trong thành phố:

Đảng 9: Tỷ trọng của đối tượng tiến bộ so với đối tượng tủ tha

Địa bàn Số đối tượng tù tha Số đối tượng tiến bộ | Tỷ lệ(%)

Huyén Hoa Vang 225 164 72,9

Qua phân tích số liệu bảng trên ta thấy trong số những địa bàn của thành phố thì huyện Hoà Vang có tỷ lệ đối tượng có tiến bộ là 81,2%, là địa bàn có ty lệ đối tượng tiến bộ cao nhất trong toàn thành phố Hơn nữa, huyện Hoà Vang còn là địa bàn có tỷ lệ số phạm nhân được tha so với số dân là

thấp nhất Số liệu này một lần nữa khẳng định luận điểm cho rằng ở các địa

bàn miền núi, thôn quê thì tỷ lệ tái phạm của phạm nhân được tha thấp hơn ở

khu vực thành phố, thị xã Qua số liệu khảo sát chúng ta thấy, ngay trong địa

bàn thành phố thì sự chênh lệch vẻ số lượng phạm nhân được tha giữa quận

và huyện (các quận với huyện Hoà Vang) có thể nhận thấy một cách rõ rệt

-19

Trang 24

Có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có một nguyên nhân chính là về

mặt hành chính, tuy nằm trong địa bàn thành phố nhưng huyện Hoà Vang vẫn còn mang tương đối đây đủ những đặc điểm cơ bản về mọi mặt của đời

sống, kinh tế, xã hội của một địa bàn nông thôn

II.3 Đặc điểm, tính chất của phạm nhân được tha về

11.3.1, Vé độ tuổi:

Theo số liệu thống kê thì trong số 1.771 phạm nhân được tha về nằm trong các nhóm tuổi sau:

+ Dưới 17 tuổi: có 1 đối tượng

+ Từ 7 đến 24 tuổi: có 519 đối tượng, chiếm 29,3%

+ Từ 25 đến 34tuổi: — có 823 đối tượng, chiếm 46,5%

+ Từ 35 đến 44 tuổi: — có 295 đối tượng, chiếm 16,7%

+ Từ 45 đến 54tuổi: có 88 đối tượng, chiếm 5%

+ Từ 55 tuổi trở lên: — có 40 đối tượng chiếm 2,3%

+ Không có thông tin: có 5 đối tượng, chiếm 0,3%

Trong các nhóm tuổi, ta thấy nhóm tuổi từ 25 đến 34 chiếm tới

46,5%; nhóm tuổi từ 17 đến 24 chiếm 29,3%; nhóm tuổi từ 35 đến 44 chiếm

16,7% Riêng hai nhóm tuổi từ 17 đến 24 và 25 đến 34 đã chiếm tới 75,8%

Những số liệu này nói lên rằng lứa tuổi thanh niên là lứa tuổi dễ có những

phan ứng mang tính manh động, thiếu chín chắn nhiều khi là tiêu cực nên

dẫn đến những hậu quả đáng tiếc

Nếu phân tích kỹ hơn một chút thì thấy ở trong nhóm tuổi từ I7 đến

24 chắc chắc sẽ có nhiều đối tượng đã có hành vi vi phạm pháp luật và bị xử

lý từ khi chưa đến 17 tuổi Tức là đã vi phạm từ độ tuổi chưa thành niên với

những mầm mống lệch lạc có quá trình nảy sinh từ trước đó

Trang 25

11.3.2 Vé gidi tinh:

Số đối tượng là nam giới chiếm da số với 93,9%, Số đối tượng là nữ giới chiếm 6,1% Nam giới chiếm gần như tuyệt đại bộ phận trong các tội danh như: trộm cắp, cướp giật, giết người, gây rối trật tự còn nữ giới chủ yếu có các tội danh như: lừa đảo, hoạt động liên quan đến mại dâm Có thực trạng đó là do những đặc điểm về giới tính, tính cách quy định Thông thường nam giới có các hành vi có liên quan đến sử dụng bạo lực còn nữ giới thường có các hành vi có liên quan đến việc sử dụng về đặc điểm “nữ tính” của mình như là phương tiện phạm tội chính hay là một phương tiện "trợ

giúp" cho việc thực hiện hành vi phạm tội thuận lợi hơn

H.3.3 Về trình độ văn hoá:

Qua bảng thống kê chỉ tiết ta được phác hoạ sơ lược về trình độ học

vấn của phạm nhân tha về như sau:

+ DH, CD: có 24 đối tượng, chiếm 1,4%

+ Không có thông tin: có 126 đối tượng, chiếm 7,1%

Nhóm đối tượng có trình độ văn hoá cấp I, II chiếm tới 72% Các đối tượng ở nhóm trình độ văn hoá này thường có các hành vi xam phạm về sở hữu như trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích và buôn bán, sử dụng chất ma tuý Bên cạnh đó còn có một số đối tượng (1,4%) có trình độ đại học, cao đẳng, đối tượng này thường có các hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

như: tham ô, tham nhũng, chiếm đoạt tài sản nhà nước

-21

Trang 26

HI.3.4 Về việc làm và kinh tế:

Qua nghiên cứu vẻ tình trạng việc làm của I.576 phạm nhân tha về

cho thấy:

Đảng 3: Việc làm của phạm nhân được tha về

Việc làm Số phạm nhân tha về Tỷ lệ %

Chưa có việc làm 437 27,7

Như vậy, trong số phạm nhận được tha về thì số chưa có việc làm hoặc

có việc làm nhưng không ổn định vẫn chiếm một tỷ lệ lớn là 53, 5% Đây là vấn dé mà các địa phương cần phải quan tâm và tập trung giải quyết trong

quá trình quản lý, giáo dục, giúp đỡ đối tượng

Bên cạnh đó, đời sống của bản thân và gia đình các phạm nhân được

tha về vẫn còn nhiều khó khăn Số gia đình có mức độ kinh tế khá chỉ chiếm

127%; kinh tế tạm đủ chiếm tỷ lệ 59,9%; kinh tế khó khăn là 27,4%

1.3.5 Về hoàn cảnh gia dình

Theo cách nghĩ thông thường, người ta cho rằng gia đình có kết cấu không hoàn hảo (cha, mẹ ly dị; cha hoặc mẹ chết hay không còn cha mẹ ) thì việc giáo dục, quản lý con em gặp nhiều khó khăn, mức độ quan tâm,

giáo dục chưa được chu đáo, thường xuyên nên các em có nhiều lỗ hồng để

thoát ly sự giáo dục của gia đình mà hoà nhập với nhóm bạn bè ngoài xã

hội Tuy nhiên, qua phân tích số liệu thống kê về kết cấu gia đình của các

phạm nhân được tha về thì có 53,5% số đối tượng mà cả bố và mẹ đều còn sống; 26,7% số đối tượng chỉ còn cha hoặc mẹ; 8,8% số đối tượng không còn

Trang 27

cả cha và mẹ; 11% số đối tượng thiếu thông tin không thống kê được Như

vậy là có tới 53,5% số đối tượng mà gia đình hoàn hảo về mặt kết cấu Điều

này có thể sơ bộ nhận định rằng kết cấu của gia đình chỉ có ảnh hưởng phần nào đến việc hình thành tính cách và các hành vi của cá nhân mà thôi Bởi nếu với một kết cấu hoàn hảo nhưng những bậc phụ huynh trong gia đình

không có sự quan tâm, giáo dục thường xuyên và chu đáo thì việc con em

trong gia đình vẫn hoàn toàn có thể hư hỏng Điều này chứng tổ sự hoàn hảo

là cần thiết không chỉ ở kết cấu của gia đình mà ở cả chức năng của nó nữa

Bởi mỗi một gia đình bao gồm một tập hợp người được liên kết lại bằng hôn nhân và huyết thống Gia đình có nhiều chức năng, trong đó một hoặc một số thành viên đảm bảo việc thực hiện một hoặc một số chức năng Trong điều kiện một hoặc một số thành viên trong gia đình không thực hiện hoặc thực hiện không tốt chức năng của mình thì có nghĩa gia đình không hoàn hảo về mặt chức năng (có thể hoàn hảo về mặt kết cấu) Trên thực tế, có nhiều gia đình có kết cấu không hoàn hảo nhưng những thành viên còn lại khắc phục

sự thiếu hụt, khó khăn do việc không hoàn hảo về mặt kết cấu đem lại thì các chức năng của gia đình (trong đó chức năng giáo dục nhân cách, hình thành

lối sống hết sức quan trọng) vẫn được thực hiện đây đủ

1.3.6 Về đặc điểm sống:

Sống cùng cha mẹ là đặc điểm nổi bật nhất trong những đặc điểm về

hình thức sinh sống của phạm nhân được tha với 53,3% Sau đó đến đặc điểm bản thân đối tượng đã lấy vợ (chồng) và ra ở riêng, chiếm 24,4% Như vậy, ta

có thể thấy mặc dù có gia đình đây đủ và sinh sống chung với cha mẹ nhưng

cũng có không ít thanh niên đua đòi dẫn đến hư hỏng và đi vào con đường

phạm pháp bị xã hội và gia đình lên án

1I.3.7 Về tội danh:

-23

Trang 28

Theo thống kê thì các đối tượng có rất nhiều tội danh khác nhau, nhưng có một số tội danh mang tính phổ biến đối với nhiều đối tượng ( xem thêm phần phụ lục)

Các tội danh được phân chia thành các nhóm tội như sau:

+ Nhóm các tội xâm phạm An ninh quốc gia: có 2 trường hợp, chiếm 0,1%

+ Nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người: có 334 đối tượng, chiếm 18,8% Trong đó tội danh cố ý gây thương tích chiếm đa số

+ Nhóm các tội xâm phạm sở hữu: có 877 đối tượng, chiếm 49,5% Trong đó tội danh trộm cấp tài sản chiếm đa số

+ Nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: có 27 đối tượng, chiếm 1,52% 'Trong đó tội đanh buôn lậu chiếm đa số

+ Nhóm các tội phạm về ma tuý: có 24 đối tượng, chiếm 1,4% Trong

đó tội danh buôn bán chất ma tuý chiếm đa số

+ Nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng: có

358 đối tượng, chiếm 20,2% Trong nhóm tội này thì các tội về gây rối trật tự,

vi phạm trật tự an toàn giao thông và các tội liên quan đến mại dâm chiếm đa

SỐ

+ Nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính: có 33 đối tượng, chiếm 1,9% Trong đó các tội danh như chống người thi hành công vụ

và giả mạo giấy tờ chiếm đa số

+ Ngoài ra còn một số tội danh khác nhưng số lượng không nhiều, chỉ có một vài đối tượng

Như vậy là các nhóm lội mà các đối tượng chủ yếu mắc phải là: nhóm các tội xâm phạm về sở hữu chiếm 49,5%; nhóm các tội xâm phạm về

Trang 29

an toàn công cộng, trật tự công cộng chiếm 20,2%; nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ chiếm 18,8%

Nếu có một sự liên hệ nào giữa trình độ văn hoá và tội đanh thì có thể

đưa ra một nhận định là những đối tượng có trình độ văn hoá thấp (cấp ï, ID

thường hay có các tội danh như: trộm cắp, cố ý gây thương tích và gây rối

trật tự công cộng Đây có thể không phải là đúng với tất cả mọi đối tượng

nhưng nó cũng mang tính phổ biến

IL4 Xu hướng vận động của phạm nhân được tha về

II.4.1 Về số lượng đối tượng:

Theo số liệu thống kê cho thấy, số đối tượng thi hành án phạt tù ở các trại giam, trại tạm giam trong toàn quốc có chiều hướng tăng nhanh dẫn đến

sự quá tải trong quản lý phạm nhân ở các trại diễn ra tương đối phổ biến, trung bình mỗi năm tăng gần Í vạn phạm nhân, chưa kể ngoài xã hội còn hàng ngàn trường hợp trốn thi hành án phạt tù Hiện nay, tại trại giam Công

an thành phố Đà Nẵng số lượng can - phạm nhân là 486 đối tượng, trong đó phạm nhân có 218 đối tượng, số này hầu hết có án tù dưới 5 năm, như vậy trong 5 năm tới toàn bộ số này sẽ ra trại Tuy nhiên số phạm nhân được tha

về trên địa bàn thành phố chủ yếu là từ các trại giam của Bộ Công an tha về

Qua khảo sát tình hình phạm nhân được tha về từ năm 1997 đến 2001 tại thành phố Đà Nắng thì mỗi năm trung bình có hơn 300 phạm nhân được

ra trại Nếu xét theo xu hướng chung thì có sự tăng dần lên theo thống kê từng năm, tuy nhiên với số lượng không lớn Riêng năm 2000 số lượng phạm nhân được tha tăng đột biến do hai đợt đặc xá lớn của năm Điều đó cũng dẫn đến tình trạng là năm 2001 số phạm nhân được tha giảm đi đáng kể Trong 6 tháng đầu năm 2002 có 104 phạm nhân được tha về, dự kiến cả năm

có khoảng 200 phạm nhân ra trại về sinh sống tại địa bàn thành phố Đà Nẵng Xu thế chung của các thành phố lớn, đông dân cư là tập trung tội

- 25

Trang 30

phạm nhiều và cũng là nơi nảy sinh nhiều loại tội phạm Nhưng nếu các cơ quan chức năng với sự lãnh đạo của cấp uý, chính quyền thật tốt thì ta hoàn toàn có thể kiểm chế tỷ lệ tội phạm ở mức độ thấp

11.4.2 Vé tinh hinh tái hoa nhập:

Cũng theo số liệu thống kê từ năm 1997 đến 2001 tại thành phố thì số phạm nhân được tha có tiến bộ chiếm 56%, số tái phạm là 14,6% ( Số có

biểu hiện lưng chừng, chưa tiến bộ rõ rệt chiếm 29,4%) Như vậy, về cơ bản

là đối tượng có tiến bộ, bước đâu đã hoà nhập được cộng đồng, cuộc sống xã hội nhưng để có được sự tiến bộ bền chắc, lâu dài thì các cơ quan chức năng,

tổ chức xã hội và gia đình cần phải có sự quan tâm lâu dài và phối kết hợp

chặt chẽ,để giúp đỡ, giáo dục họ Số phạm nhân được tha về ở các khu vực

thành phố, thị xã có tỷ lệ tái phạm, vi phạm trở lại cao hơn so với các khu vực địa bàn nông thôn Nguyên nhân thì có nhiều nhưng do thiếu sự quan tâm của chính quyền, cơ quan đoàn thể và gia đình cộng với tình trạng không

có việc làm cũng là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng tái phạm

11.4.3 Vé tình hình tái phạm:

Tình hình tái phạm trên toàn quốc vẫn tiếp tục gia tăng nhưng Đà Nẵng trong thời gian qua đã duy trì dược ở tỷ lệ là 14,6% trong tổng số phạm nhân được tha về Trong thời gian tới, các cấp uÿ, chính quyền và lực lượng

công an sẽ phấn đấu kiểm chế tỷ lệ này dừng lại ở con số 14,6%

Trong các tội danh tái phạm thì các tội danh sau chiếm đa số:

Những tội danh này phổ biến đối với những phạm nhân được tha

Nguyên nhân vì đây là những hành vi dễ có điều kiện để tổ chức, thực hiện

hành vi phạm tội

Trang 31

Bên cạnh các tội danh về các lĩnh vực như hình sự, kinh tế thì có một nét mới trong bức tranh tội phạm nói chung và phạm nhân dược tha nói

riêng là ngày càng có nhiều đối tượng nghiện ma tuý và có các tội danh liên quan đến ma tuý như tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, tổ chức sử dụng , số

lượng các đối tượng loại này tăng lên rất nhanh Hơn nữa, việc cai nghiện ma

tuý phải nói là cực kỳ khó khăn và tốn kém, không chỉ tốn kém về mặt kinh

tế cho gia đình bản thân đối tượng, nhà nước và cho toàn thể xã hội mà còn đồi hỏi thời gian tổ chức cai nghiện lâu dài và kiên trì Vì vậy trong tương lai gần, khả năng phạm nhân được tha có sử dụng ma tuý và tái nghiện ma tuý

sẽ vẫn tiếp tục gia tăng dẫn đến khả năng tái hoà nhập cộng đồng và quản lý, giáo dục giúp đỡ họ không để tái phạm là điều hết sức khó khăn

Những địa bàn có phạm nhân tha về nhiều nhất vẫn là các quận trung tâm như Hải Châu, Thanh Khê Đây là những quận có dân số đông, là trung

tâm kinh tế, văn hoá, giao lưu buôn bán của thành phố

II] TINH HINH TAI HOA NHAP VA TAI PHAM CUA CAC PHAM NHÂN ĐƯỢC THA VỀ

IIL.1 Céng tac quan ly pham nhdan được tha về những năm gần đây Trong phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, một nguyên tắc chủ _đạo có tính định hướng cho công tác đấu tranh mà Dang và Nhà nước ta đã xác định là: "trấn áp kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo" Vì vậy, trong quản lý xã hội nói chung và trong phòng chống tội phạm nói riêng, đi đôi với việc tăng cường các biện pháp đấu tranh trấn áp tội phạm, các hoạt động điều tra xử lý các hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật của các loại đối tượng, thì việc quản lý, giáo dục các đối tượng vi phạm

cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đây là một trong các yêu cầu không thể

thiếu, nó góp phần không nhỏ trong việc từng bước thu hẹp, tiến tới xóa bỏ các nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh tội phạm và hoạt động vi phạm của các loại đối tượng

-27

Trang 32

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn để này, ngay trong Nghị

quyết 198/NQ-TW của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ngày 18/4/1970 đã chỉ

tõ: "Đối với số người bị tù, tập trung cải tạo được tha về trước đây phải chú

ý sắp xếp lao động, tiếp tục quản lý, giáo dục cải tạo họ” Trong giai đoạn hiện nay, vấn để này cũng được Chính phủ rất quan tâm, điều này được thể hiện trong Nghị quyết 09/1998/NQ-CP: "Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác quản lý, giáo dục, cải tạo người phạm tội bằng nhiều hình thức, giúp họ cải tạo tiến bộ, hoàn lương, tái hòa nhập gia đình và cộng đồng xã hội " trong Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm trong tình hình mới cũng

đã để cập rất nhiều đến vấn đề tái hoà nhập cộng đồng đối với phạm nhân được tha như: "nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật trong cộng đồng và đẩy mạnh tỉnh chủ động sáng tạo của các cấp trong công tác phòng, chống tội phạm, tổ chức giáo dục có hiệu quả đối với những người phạm tội, giúp họ tái hoà nhập vào cộng đồng xã hội" Qua đây, một lần nữa càng khẳng định

rõ hơn sự cần thiết và ý nghĩa xã hội lớn lao của việc quản lý, giáo dục giúp

đỡ phạm nhân được tha tái hòa nhập cộng đồng

Phạm nhân được tha về là một trong các loại đối tượng tất yếu phải quản lý, giáo dục bởi rất nhiều lý do khác nhau Bản thân số đối tượng này

_ khi hết thời hạn cải tạo trong trại được tha về địa phương thì về mặt pháp lý

họ được hưởng quyền lợi như những công dân bình thường khác (trừ số có quyết định của toà án phải chấp hành hình phạt bổ sung) Nhưng trên thực tế,

số đối tượng này cần phải có một thời gian nhất định để tái hoà nhập cộng đồng Trong bản thân họ vẫn còn dù ít những thành kiến, mặc cảm hoặc thói quen phạm tội khi bị bạn bè xấu lôi kéo hoặc khi hoàn cảnh khách quan thuận lợi thì dé tái phạm, vị phạm trở lại

Mặt khác, bản thân phạm nhân được tha cũng có những đặc điểm

điều kiện mà bọn tội phạm và các phần tử xấu luôn chú ý khai thác sử dụng,

lôi kéo vào các hoạt động phạm tội, vi phạm pháp luật

Trang 33

Hơn nữa, bản thân đối tượng sau thời gian bị giam giữ, sống cách ly với xã hội cũng chưa thể hoà nhập ngay với cuộc sống đã có nhiều thay đổi

so với trước khi họ bị bắt giữ, thêm nữa là sự lạnh nhạt, cảnh giác của mọi người xung quanh và tâm lý mặc cảm sẵn có nên họ cũng gây nên những

căng thẳng nhất định

Từ sự cần thiết và ý nghĩa của việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ phạm nhân được tha tái hoà nhập cộng đồng, trong những năm qua công an các địa phương đã chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền các cấp chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể tham gia quản lý, giáo dục, giúp đỡ các phạm nhân

được tha để họ sớm hoà nhập với cộng đồng

Tổng cục Cảnh sát nhân dân - Bộ Công an đã chỉ dạo lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, cảnh sát khu vực, công an phụ trách

xã tiến hành rà soát, điều tra cơ bản, lập hồ sơ, lên danh sách toàn bộ số

phạm nhân được tha về trên địa bàn quản lý, tiến hành phân loại dưa đối

tượng vào diện quản lý theo nghiệp vụ Lực lượng cảnh sát khu vực, công an

phụ trách xã trực tiếp đến từng nhà đối tượng để kiểm tra, nắm tâm tư

nguyện vọng, khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện giúp đỡ đối tượng có công

ăn việc làm, ổn định đời sống Theo thống kê của Tổng cục Cảnh sát nhân -đân, năm 1998 lực lượng công an và chính quyền các cấp đã tạo điều kiện bố trí công ăn việc làm cho 67% phạm nhân được tha về Năm 2000 tạo điều

kiện bố trí công ăn việc làm cho 62 đến 63% phạm nhân được tha về

Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Công an, đồng thời để đảm bảo giữ vững

an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, thời gian qua, lãnh đạo công an thành phố Đà Nắng đã chỉ đạo các phòng chức năng, công an các quận, huyện, công an các phường, xã xây dựng kế

hoạch tiếp nhận, quản lý chặt chế ngay từ khi đối tượng về địa phương

Khi nhận được thông báo đối tượng vẻ địa phương, các lực lượng được giao nhiệm vụ như công an phường, xã, cảnh sát khu vực, các lực lượng

.-29

Trang 34

công an trên địa bàn tiến hành lập danh sách số đối tượng về địa phương để

theo dõi, quản lý, nắm chắc số đối tượng đến trình báo, số không đến trình

báo, số chưa về địa phương, số đã về nhưng chuyển đi tỉnh khác làm ăn sinh sống hoặc thay đổi nơi cư trú trong địa bàn thành phố; nắm điều kiện, hoàn cảnh của các đối tượng để tác động các ngành, các cấp tạo điều kiện giúp đỡ

công ăn việc làm; gọi răn đe giáo dục các đối tượng có khả năng tái phạm

Đặc biệt là phát hiện, nắm chắc số đối tượng không có trong thông báo

nhưng đến địa phương cư trú, sinh sống

Trong công tác quản lý phạm nhân được tha về, các lực lượng công

an cơ sở đã vận dụng linh hoạt các biện pháp quản lý đối tượng nên đã nắm chắc "4 yêu cầu thông thuộc”: lịch sử bản thân, hoàn cảnh gia đình, quan hệ

xã hội và thái độ chính trị hiện hành của từng đối tượng, từ đó đã đề ra biện pháp thích hợp chủ động nắm diễn biến, hoạt động của đối tượng Đồng thời

chủ động tham mưu cho cấp uỷ Đảng, chính quyển địa phương chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội tích cực tham gia quản lý, giáo dục,

cảm hoá, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho phạm nhân được tha về ổn định cuộc sống, nhanh chóng hoà nhập với cộng đồng dân cư Đối với số phấn đấu tiến bộ sẽ tiếp tục động viên, tác động họ tích cực tham gia các phong trào địa phương Số phấn đấu lừng chừng thì để xuất với cấp uỷ Đảng, chính quyền phân công các ngành, đoàn thể như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội

cựu chiến binh, Mặt trận Tổ quốc phường nhận đối tượng để có trách

nhiệm quản lý, giúp đỡ, cảm hoá họ và tạo công ăn việc làm ổn định Đối với

số đối tượng có khả năng tái phạm, di lại, quan hệ bất minh thì sử dụng các biện pháp nghiệp vụ của ngành công an để quản lý chặt chẽ, ngăn chặn các hoạt động vi phạm pháp luật của đối tượng Đồng thời phối hợp với các ngành, đoàn thể và gia đình tiếp tục giáo dục, giúp đỡ, thuyết phục đối tượng

Trang 35

Phạm nhân được tha về địa phương đều được chính quyền phường,

xã, các đoàn thể xã hội, nhất là lực lượng công an phường cùng gia đình tiến hành gặp gỡ, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, động viên họ tham gia các phong

trào ở địa phương và tạo công ăn việc làm để ổn định cuộc sống cho họ Năm

2000 đã có 387/594 người sau khi ra tù có công ăn việc làm ổn định và tạm

ổn định (chiếm tỷ lệ 65,15%)

Tuy nhiên, thực tế thời gian qua việc quản lý, giáo dục và giúp đỡ phạm nhân được tha vẫn còn những thiếu sót, tồn tại: công tác quản lý phạm

nhân được tha về chưa được thực hiện đồng bộ, lãnh đạo công an các cấp

chưa thường xuyên quan tâm chỉ đạo mà chỉ tập trung theo đợt, theo thời

gian Sự phối hợp giữa công an các cấp, các lực lượng chức năng có liên quan

chưa chặt chẽ, chưa tạo điều kiện thuận lợi để cho cảnh sát khu vực, công an

phụ trách xã nắm được tình hình hoạt động của đối tượng để quản lý Nhiều nơi cấp uỷ Đảng, chính quyền chưa thật sự quan tâm công tác này, cho công

tác này là của ngành công an Công tác vận động quần chúng tham gia quản

lý, giáo dục đối tượng chưa có chiều sâu, chưa thành phong trào của toàn dân, trách nhiệm chung của toàn xã hội Vẫn tồn tại tư tưởng thành kiến, phân biệt đối xử với phạm nhân được tha về, vì vậy mà cơ hội tìm kiếm việc làm cho số phạm nhân được tha về còn gặp nhiều khó khăn

HIL2 Tình hành tái hoà nhập

Qua nghiên cứu, phân tích số liệu thống kê về tình hình phạm nhân được tha về ở thành phố Đà Nẵng cho thấy: trong tổng số 1.771 phạm nhân được tha về thì có 991 người đã tiến bộ (chiếm 56%) Đây là một tỷ lệ vào mức khá khi so sánh với các địa phương khác của toàn quốc như: Hưng Yên

là 52%; Hải Dương là 46,6%, Nam Định là 47%, Vĩnh Phúc là 57,5%, Hà

Tây là 63,3%, Thanh Hoá gần 90% Có được như vậy là nhờ sự quan tâm của

chính quyển địa phương các cấp cùng với sự nỗ lực, cố gắng của các ban, ngành và đoàn thể Trong các mặt hoạt động nổi trội thì có các hoạt động

-31

Trang 36

điển hình như: tiến hành cho vay vốn để làm ăn, kinh doanh và thành lập các

tổ tự quản an nỉnh- trật tự nhờ đó đã thu hút được nhiều đối tượng tham gia, làm cho công tác quản lý, giáo dục giúp đỡ thuận lợi hơn

HH.2.1 Về địa bàn cư trú:

Phạm nhân được tha về có tiến bộ phân bố ở tất cả các quận huyện của thành phố, trong đó tập trung đông nhất là hai quận trung tâm là Hải Châu và Thanh Khê Tuy nhiên nếu so sánh với số phạm nhân được tha về thì huyện Hoà Vang có tỷ lệ phạm nhân tiến bộ cao nhất, tới 72,9% Để có được cái

nhìn cụ thể và bao quát hơn ta phân tích bảng sau:

Đảng 4 :So sánh ty lệ giữa số phạm nhân được tha đã tiến bộ với tổng số phạm nhân

Địa bàn Số đối tượng | So với ty lệ phạm So với tỷ lệ phạm nhân

tiến bộ nhân tiến bộ trên | được tha về trong khu vực

tha về đã có tiến bộ cao nhất (72,9%)

THỊ2.2 Về độ trổi:

Trong tổng số các phạm nhân được tha về đã tiến bộ thì các phạm nhân thuộc nhóm tuổi từ 26 đến 35 và nhóm tuổi từ 18 đến 25 chiếm 72,1%

Trang 37

Nói chung cơ cấu tuổi của phạm nhân được tha về tương đối trẻ, độ tuổi càng cao thì số người càng giảm

Đăng 5: Tỷ lệ về các nhóm tuổi có tiến bộ

35 chiếm đa số nhưng khi so sánh giữa số phạm nhân được tha về với số đã

tiến bộ trong cùng một nhóm tuổi thì ta thấy các nhóm tuổi từ 46 đến 55 tuổi

và trên 55 tuổi là có tỷ lệ tiến bộ cao nhất, trung bình đạt xấp xỉ 70%

Nhóm tuổi có tỷ lệ tiến bộ thấp nhất là nhóm tuổi từ 18 đến 25 tuổi với tỷ lệ là 47,2% Đây không chỉ là thực trạng riêng của thành phố Đà Nẵng

mà còn là thực trạng chung của các địa phương trên cả nước

-33

Trang 38

HHỊ.2.3 Về giới tính:

Số phạm nhân được tha tiến bộ tái hoà nhập cộng đồng chủ yếu là

nam giới với 92,6% Nữ giới chiếm số lượng ít vì tổng số phạm nhân là nữ

cũng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số phạm nhân được tha Nhưng nếu

ta tiến hành phân tích so sánh tỷ lệ về giới tính giữa số phạm nhân tiến bộ với

tổng số phạm nhân thì ta được tỷ lệ sau:

+ Nữ giới có tiến bộ là 67,6% (73/108)

+ Nam giới có tiến bộ là 55,2% (981/1663)

Như vậy, nếu xét về khía cạnh giới tính thì nữ giới có tỷ lệ tiến bộ

cao hơn nam giới, tuy nhiên sự chênh lệch này cũng không rõ rệt và hơn nữa

hai con số thống kê đưa ra chưa thể khẳng định được một cách hoàn toàn

chắc chắn về sự khác biệt giữa hai giới tính

HI.2.4 Về trình độ văn hoá:

Trong tổng số 991 phạm nhân được tha về đã tiến bộ thì có 954/091

người có thông tin về trình độ văn hoá Trong đó: ,

+Michit: 4,4% (42/954)

+ Cap I, Il: 75,7% (722/954)

+ Cap Il: 18% (172/954)

+ DH, CB: 1,8% (18/954)

That dễ dàng nhận thấy được là số phạm nhân có trình độ văn hoá

cấp I, II chiếm đa số Tuy vậy, để đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố trình độ học vấn tới quá trình tiến bộ của đối tượng thì ta cần phải tiến hành

so sánh về mặt tỷ lệ giữa số phạm nhân được tha có tiến bộ với tổng số phạm

nhân được tha Sự so sánh đó được thể hiện ở bảng dưới đây:

Trang 39

Đảng ó: So sánh tỷ lệ phạm nhân được tha có tiến bộ

Có thể với số lượng đối tượng khảo sát như trên thì ở một số thang

bậc trình độ học vấn chưa đủ con: số thống kê tin cậy, nhưng chúng tôi đã

khắc phục tình trạng thiếu đối tượng để khảo sát - mặc dù đây là con số

thống kê của toàn thành phố trong quãng thời gian là 5 năm từ năm 1997 đến

2001 - bằng cách sử dụng bổ sung các phương pháp tư duy lôgíc, suy luận và tham khảo thêm một số đánh giá nhận định từ một công trình khác về ảnh

hưởng của yếu tố trình độ văn hoá đối với việc tiến bộ của đối tượng, cụ thể

là ở trang 121 của cuốn Giáo dục, giúp đỡ người tù tha tái hoà nhập cộng đồng ở Việt Nam (Học viện Cảnh sát nhân dân) có đoạn viết: " Đối tượng tì tha tiến bộ tái hoà nhập cộng đồng ở các địa phương nhìn chung tương đối

ổn định và biến đổi tăng dân theo trình độ văn hoá Trong số đối tượng tì tha tiên bộ, số có trình độ văn hoá cấp I, II chiến tỷ lệ 18%, văn hoá cáp III

chiếm tỷ lệ 44%, cấp THỊ trở lên chiếm 38%."

Như vậy, ta có thể bước đầu khẳng định được rằng yếu tố trình độ học vấn có ảnh hưởng tới quá trình tiến bộ của đối tượng Cụ thể ở thành phố

Đà Năng là số đối tượng càng có trình độ học vấn cao thì tỷ lệ tiến bộ càng

cao, giữa các thang bậc trình độ văn hoá có tỷ lệ tiến bộ tăng dần đều một

cách ổn định

HIL2.5 Về đặc diểm gia đình:

- 35

Trang 40

Gia đình là một trong những môi trường xã hội hoá cơ bản, có tác

dụng ảnh hưởng đến quá trình hình thành và ổn định nhân cách của mỗi con

người, nhiều khi gia đình còn có thể chỉ phối việc ra quyết định vẻ hành vi ứng xử của một cá nhân thành viên Gia đình càng đặc biệt có ý nghĩa hơn đối với cá nhân trong xã hội Việt Nam, đó là do nên văn hoá quy định Đi

sâu vào phân tích yếu tố gia đình trong một địa bàn cụ thể, chắc hẳn sẽ có

những nét đặc thù riêng và ở từng góc độ, khía cạnh có những điểm khác biệt

so với đặc điểm chung vì một số yếu tố về mặt kinh tế, xã hội, lịch sử, văn hoá của địa phương đó chỉ phối Tuy nhiên, nó sẽ không thể nằm ngoài sự vận động của các quy luật chung trong cộng đồng quốc gia dân tộc

Trong tổng số phạm nhân được tha về đã tiến bộ thì có:

Hoàn cảnh gia đình Tổng số phạm Số phạm nhân tha | Tỷ lệ của số phạm

nhân tha về về đã có tiến bộ | nhân so với tổng số

Từ những số liệu được nêu trong bảng trên đây, ta thấy rằng tỷ lệ tiến

bộ của đối tượng trong các điều kiện hoàn cảnh gia đình khác nhau là tương

đối đồng đều, không có sự chênh lệch lớn Điều này cho ta thấy rằng, như

Ngày đăng: 16/04/2014, 00:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm