Trong hơn 10 năm vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chính sách, chương trình, dự án nhằm phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho đồng bào các
Trang 2Stt Nội dung Trang
Phần thứ nhất: điều kiện tự nhiên, kinh tế, x∙
hội vùng đồng bào dân tộc Rơ Măm
7
Trang 32 Đánh giá khái quát về thực hiện các chính sách, chương trình,
dự án đối với đồng bào Rơ Măm
70
2.3 Một số nguyên nhân cơ bản của những hạn chế, yếu kém 73
III Đánh giá khái quát về thực trạng phát triển của dân tộc
IV Tâm tư nguyện vọng của đồng bào dân tộc Rơ Măm 79
1 Về thực hiện các chính sách, chương trình, dự án trong thời
gian qua
80
V Một số nguy cơ đối với đồng bào Rơ Măm 84
Phần thứ ba: Một số giải pháp bảo tồn và phát
triển dân tộc Rơ Măm
86
Tài liệu tham khảo
Trang 4phần mở đầu
1 Sự cần thiết của dự án
Rơ Măm là một trong 5 dân tộc thiểu số có số dân ít nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Theo số liệu thống kê của tổng điều tra dân số năm 1989 tổng số nhân khẩu của dân tộc Rơ Măm là 227 người Người Rơ Măm sống tập trung theo cộng đồng Địa bàn cư trú của đồng bào là làng Le, xã Mo Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, thuộc vùng sâu, vùng xa, biên giới
Trong hơn 10 năm vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chính sách, chương trình, dự án nhằm phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu
số có số lượng dân cư quá ít, trong đó có dân tộc Rơ Măm Nhờ đó hệ thống cơ sở hạ tầng vùng dân tộc Rơ Măm được cải thiện đáng kể, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được nâng cao hơn so với trước đây Tuy nhiên, đến nay trình độ canh tác của đồng bào còn rất thấp Tỷ lệ đói nghèo trong đồng bào vẫn còn cao Khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa đồng bào với các dân tộc khác có xu hướng ngày càng xa hơn Văn hoá truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của đồng bào có nguy cơ mai một dần Những tập tục lạc hậu vẫn còn tồn tại, cản trở cuộc sống của đồng bào Công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào còn chưa tốt, nhiều bệnh tật phát sinh ảnh hưởng đến cuộc sống của đồng bào
Trong những năm qua, có một số ít công trình nghiên cứu về dân tộc Rơ Măm, song các tác giả đi sâu theo từng góc độ khác nhau như: Dân số, nguồn gốc, lịch sử tộc người, phương thức canh tác, phong tục tập quán truyền thống chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và
đề cập đến việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào dân tộc Rơ Măm
Trang 5thông tin tổng hợp, đầy đủ hơn làm luận cứ, cơ sở khoa học cho việc
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách của Nhà nước nhằm phát triển kinh tế – xã hội, văn hoá dân tộc Rơ Măm trong thời gian tới
Để đánh giá sự tác động và hiệu quả của các chính sách, các chương trình, dự án của Nhà nước đã và đang thực hiện ở vùng đồng bào dân tộc Rơ Măm; đồng thời thu thập các thông tin, số liệu về tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của đồng bào góp phần thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, khoá IX về công tác dân tộc; thực hiện khoản 5,
điều 2 Nghị định 51/2003/NĐ - CP, ngày 16 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Dân tộc; ngày 17 tháng 6 năm 2004, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc đã ký Quyết định số 151/QĐ-UBDT giao
nhiệm vụ thực hiện dự án “Điều tra cơ bản về dân tộc Rơ Măm”
2 Mục tiêu của dự án
Qua việc điều tra, đánh giá về dân tộc Rơ Măm, để tổng hợp được
bộ dữ liệu cơ bản và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát triển dân tộc Rơ Măm, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
3 Phạm vi và đối tượng điều tra
- Phạm vi điều tra: Dự án tiến hành điều tra, nghiên cứu tập trung trong phạm vi làng Le, nơi đồng bào Rơ Măm sinh sống, môt số hộ người dân tộc Rơ Măm sinh sống ở các xã lân cận hay ở địa phương khác dự án không có điều kiện điều tra, tìm hiểu
- Đối tượng điều tra, phỏng vấn: Điều tra tất cả các hộ gia đình dân tộc Rơ Măm sinh sống tại làng Le; phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể, lực lượng công an, quân sự trên địa bàn đồng bào Rơ Măm cư trú: Xã Mo Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum và các cơ quan nghiên cứu khoa học, ban quản lý Vườn Quốc gia Chư Mo Rây, tỉnh Kon Tum
Trang 6- Lĩnh vực điều tra: Dự án tiến hành điều tra, thu thập thông tin toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế, đội ngũ cán bộ, an ninh, quốc phòng… Trong
đó, dự án sẽ đi sâu vào điều tra, đánh giá tình hình thực hiện các chính sách của Đảng, Nhà nước đối với dân tộc Rơ Măm, trong những năm qua
4 Phương pháp điều tra của dự án
4.1 Phương pháp kế thừa:
- Sưu tầm, xử lý tài liệu thứ cấp liên quan đến nội dung dự án
- Kế thừa các công trình nghiên cứu, tài liệu, báo cáo, ấn phẩm về các nội dung liên quan đến của dự án
4.2 Phương pháp chuyên gia:
- Đặt báo cáo các Sở và địa phương của tỉnh Kon Tum: Sở Văn hoá Thông tin, Y tế, Giáo dục, Kế hoạch và Đầu tư, Lao động, Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc và Tôn giáo, Uỷ ban Nhân dân huyện Sa Thầy, Uỷ ban Nhân dân xã Mo Rai
- Tổ chức toạ đàm, hội thảo khoa học với các nhà nghiên cứu, cán
bộ quản lý ở Hà Nội và ở các cơ quan nghiên cứu, quản lý của tỉnh Kon tum
- Dự án đã tổ chức các cuộc họp với cán bộ lãnh đạo, quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của UBND huyện Sa Thầy, UBND xã Mo Rai
và làng Le, để thu thập thông tin, trao đổi về những vấn đề liên quan 4.3 Phương pháp điều tra xã hội học:
Để thu thập thông tin về các lĩnh vực của dân tộc Rơ Măm, dự án
đã xây dựng 3 mẫu phiếu điều tra: (i) Về kinh tế, (ii) về văn hoá, y tế, giáo dục, (iii) về chính sách và thực hiện chính sách Các mẫu phiếu
điều tra đã được Ban chủ nhiệm dự án xây dựng, lấy ý kiến tham gia, góp ý của các chuyên gia và cán bộ xã Mo Rai, thông qua tổ chức các
Trang 7chức điều tra, Ban chủ nhiệm dự án đã tập huấn cho các cán bộ tham gia điều tra
4.4 Phương pháp đánh giá nhanh, có sự tham gia của người dân:
Đồng thời với các phương pháp trên, dự án tổ chức các cuộc họp với các nhóm đồng bào dân tộc như: Họp với toàn thể dân làng để trao
đổi, thảo luận về những vấn đề hiện tại đang đặt ra, những nguyện vọng, giải pháp kiến nghị của dân làng; họp nhóm với toàn thể cán bộ,
đảng viên của làng Le, nhằm trao đổi những vấn đề của làng, những đề xuất giải pháp kiến nghị của lãnh đạo cơ sở
4.6 Phương pháp phỏng vấn:
Dự án tiến hành phỏng vấn sâu một số chủ hộ, già làng, cán bộ là người dân tộc Rơ Măm và các cán bộ Đảng, chính quyền đoàn thể của xã, lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn, nhằm thu thập thông tin, trao
đổi, thảo luận về những vấn đề liên quan
5 Nội dung của dự án
5.1 Điều tra, nghiên cứu điều kiện tự nhiên, lịch sử tộc người, dân
Trang 8b Các chính sách, chương trình, dự án do các Bộ, ngành khác thực hiện
c Phân tích, đánh giá về thực hiện các chính sách và các yếu tố
ảnh hưởng đến quá trình bảo tồn và phát triển của đồng bào dân tộc Rơ Măm
5 4 Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển dân tộc Rơ Măm
a Xây dưng, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội
b Bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc Rơ Măm
c Tổ chức thực hiện
6 Thời gian thực hiện:
Thời gian thực hiện: Từ tháng 6 năm 2004 đến tháng 03 năm 2005
+ Nguyễn Hữu Lợi, sỹ quan, bộ đội biên phòng đồn 709
+ Đồng Thanh Tĩnh, sỹ quan, bộ đội biên phòng đồn 709
+ Trần Mạnh Khẩn, sỹ quan, bộ đội biên phòng đồn 709
+ Đinh Văn Đông, giáo viên trường tiểu học làng Le, xã Mo Rai
Trang 9+ CN U Minh Nam, cán bộ Ban Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Kom Tum
+ CN Trần Văn Đoài, Chuyên viên Phòng QLKH, Viện Dân tộc, Thư ký dự án
- Đơn vị thực hiện:
+ Viện Dân tộc, Uỷ ban Dân tộc
+ Ban Dân tộc tỉnh Kon Tum
+ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Kon Tum
+ Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Kon Tum
+ Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Kon Tum
+ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Kon Tum
+ Sở Y tế tỉnh Kon Tum
+ ủy ban Nhân dân huyện Sa Thầy
+ ủy ban Nhân dân xã Mo Rai
+ Chính quyền làng Le
+ Đơn vị Bộ đội Biên phòng thường trú tại xã Mo Rai
+ Trường tiểu học làng Le, Trường phổ thông cơ sở xã Mo Rai
Trang 10Phần thứ nhất Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, x∙ hội
vùng đồng bào dân tộc Rơ Măm
*****
1 Khái quát về huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
Sa Thầy là một huyện miền núi, biên giới nằm về phía Tây - Bắc của tỉnh Kon Tum, cách trung tâm tỉnh 30 km Huyện có đường biên giới với Campuchia dài 85 km Địa hình của huyện khá phức tạp, đất
đai bị chia cắt bởi những dãy núi cao và hệ thống sông, suối Vì vậy, việc giao lưu đi lại rất khó khăn, nhất là về mùa mưa, các phương tiện cơ giới như ô tô không thể đi đến trung tâm các xã vùng sâu Về hành chính, huyện Sa Thầy có 09 xã và 1 thị trấn, với tổng diện tích tự nhiên
là 241.200 ha, dân số 29.605 người Trong đó các dân tộc thiểu số là 15.550 người, gồm các dân tộc Jarai, H’Lăng, Rơ Măm, Thái, Mường
Từ năm 1975 trở về trước, Sa Thầy là huyện rất nghèo nàn và lạc hậu
Đồng bào các dân tộc sống rải rác, phân tán trong rừng, du canh, du cư, đói rét, dịch bệnh,…luôn gắn liền với cuộc sống của họ Một số bệnh tật như: Bệnh phong, bệnh sốt rét, bướu cổ, tả, lỵ, thương hàn,…hoành hành, có thời kỳ làm suy giảm số dân của các dân tộc, đe doạ sự tồn vong của các dân tộc Nền kinh tế của đồng bào mang nặng dấu ấn khai thác, chủ yếu là săn bắn, hái lượm, dựa vào tự nhiên,…Một số nơi đã biết trồng trọt, song chủ yếu còn ở trình độ thấp, sản phẩm làm ra cho nhu cầu tại chỗ, tự cấp, tự túc Đồng bào các dân tộc chưa biết giao lưu, trao đổi hàng hoá Phương thức canh tác của đồng bào dân tộc tại chỗ chủ yếu là: Phát, đốt, chọc, tỉa,…hoàn toàn dựa vào tự nhiên Các loại cây trồng vật nuôi chủ yếu là những giống bản địa, năng suất, hiệu quả kinh tế thấp Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hầu như chưa có gì
Trong những năm gần đây, nhất là từ khi thực hiện đường lối “đổi
Trang 11ương và các ngành, các cấp của tỉnh, sự kiên trì, cần cù, sáng tạo của cán bộ và nhân dân các dân tộc, huyện Sa Thầy đã giành được những thắng lợi to lớn và khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Nền kinh tế của huyện tăng trưởng nhanh, nhịp độ tăng trưởng GDP hàng năm đạt trên 10 %, riêng năm 2003 đạt 12% Năm 2003, thu nhập bình quân
đầu người đạt mức 3,36 triệu đồng Tổng sản lượng lương thực (cây có hạt): 11.054 tấn, lương thực bình quân đầu người đạt 376 kg Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Từ chỗ chỉ có 58,6 ha ruộng lúa nước, 5 đập nước thời vụ, đường giao thông chủ yếu là đường đất,
điện, nước, bưu chính, các cơ sở công cộng phục vụ sản xuất và sinh hoạt hoàn toàn chưa có gì Năm 2003, toàn huyện có 11.816,8 ha gieo trồng, trong đó lúa đông xuân 466 ha, lúa nước vụ mùa 725,6 ha, diện tích cây sắn 3.700 ha, cây ngô 934,5 ha cây công nghiệp ngắn ngày 209,4 ha, cây cao su 3.351,7 ha, cà phê 663,4 ha cây ăn quả 372,5 ha
và một số diện tích cây trồng khác Đến nay, trên địa bàn huyện đã
đảm bảo đáp ứng được nhu cầu về lương thực, thực phẩm, cơ bản giải quyết được nạn đói kinh niên Tỷ lệ hộ đói nghèo còn 16,29 % Điện lưới quốc gia đã kéo đến các thôn, làng trong toàn huyện Tỷ lệ hộ
được dùng điện đạt 77% trên tổng số hộ 10/10 xã, thị trấn được phủ sóng truyền thanh - truyền hình, tỷ lệ dân số có phương tiện nghe truyền thanh và xem truyền hình chiếm trên 85 % 09/10 xã được trang
bị điện thoại và có điểm bưu điện văn hoá xã Số lượng báo chí phát hành là 134.651 tờ/năm và báo chí đã được chuyển đến tay người đọc trong ngày (Trừ xã Moray phải 2 ngày mới có 1 chuyến đưa thu, báo) Các công trình công cộng được chú trọng đầu tư đều trên tất cả các lĩnh vực góp phần phục vụ có hiệu quả cho sản xuất và đời sống Nhìn lại những năm qua, từ một nền kinh tế thuần nông, độc canh cây lúa rẫy, đến nay nền kinh tế của huyện Sa Thầy đang từng bước chuyển sang nền kinh tế đa dạng, sản xuất hàng hóa, có hiệu quả Huyện Sa Thầy đang từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Trang 122 Khái quát về xã Mo Rai
2.1 Về điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Xã Mo Rai có toạ độ địa lý: Từ 150 55’36’’ đến 140 35’ 35’’ độ vĩ bắc, từ 1070 21’ 11’’ đến 107o 44’ 54’’ độ kinh đông Là một xã vùng sâu, vùng xa nhất của huyện Sa Thầy, cách thị trấn Sa Thầy 40 km về phía Tây, tiếp giáp với các địa bàn:
- Phía Bắc giáp xã Rờ Kơi, huyện Sa Thầy
- Phía Nam giáp huyện Chư Pả, tỉnh Gia Lai
- Phía Đông giáp các xã: Sa Sơn, Ya Sir và Ya Ly
- Phía Tây giáp Campuchia, với đường biên giới dài 85 km
Đường giao thông đi lại vô cùng khó khăn, đặc biệt là vào mùa mưa, hầu như không có phương tiện cơ giới nào có thể đi được Toàn xã có 7 thôn (làng) đó là: Làng Rẽ, làng Xộp, làng GRập, làng Le, làng Tang, làng K Đin, làng Kênh Trên địa bàn xã có các đơn vị Quân
đội đóng quân như: Các đồn biên phòng: 709, 711, 707 và công ty 78, binh đoàn 15 Bộ quốc phòng Các làng phân bố dọc theo trục đường quốc lộ 14C đồng thời cũng là trục đường giao thông chính của xã Xã
có 2 dân tộc chính là dân tộc Gia Rai và Rơ Măm Trong đó đồng bào dân tộc Rơ Măm sống tập trung thành một làng riêng, gọi là làng Le Làng Le nằm cách trung tâm xã 4 km về hướng Tây
- Địa hình:
Toàn bộ xã Mo Rai là vùng núi cao, độ cao trung bình là từ 500m
đến 1.400m so với mực nước biển Địa hình của xã có thể chia thành 3 dạng sau:
Trang 13Địa hình dạng núi cao, độ cao vào khoảng trên 1000m Địa hình này chiếm diện tích khá lớn của xã Chủ yếu thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Chư Mo Ray
Dạng địa hình đồi lượn sóng, bát úp, có độ cao thấp hơn 1000m Qua khảo sát, đánh giá cho thấy loại đất này thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày và các loại cây ăn quả, tuy nhiên đến nay, nhiều diện tích còn đang bị bỏ trống
Dạng diện tích bằng, thung lũng hẹp, địa hình này chiếm diện tích không lớn của xã, diện tích này chủ yếu đã được trồng cây lương thực, cây ăn quả và cây công nghiệp
Địa hình nơi cư trú của dân tộc Rơ Măm:
Đồng bào cư trú trên địa hình phức tạp, với những dãy núi cao, chia cắt bởi những con sông, suối Đất đai chủ yếu là đất dốc, với độ dốc khoảng từ 15-20 độ Nơi cư trú của người dân tộc Rơ Măm nằm ở hai bên đường chỉ kéo dài khoảng 900m, đến cuối làng có con sông Sa Thầy và suối Ialân cắt ngang thành một ngõ cụt về phía tây và phía nam Ngoài ra còn nhiều những con suối nhỏ như suối: Iatri, suối nước nóng cắt sẻ địa hình Các con suối về mùa mưa nước chảy rất xiết, nhưng lại cạn vào mùa khô Do đó về mùa mưa đồng bào đi lại rất khó khăn Hệ thống giao thông chưa phát triển, đường giao thông chủ yếu
là đường đất, hệ thống cầu cống tạm bợ, chưa được kiên cố, chủ yếu là cầu treo nhỏ hẹp, các phương tiện lớn không thể hoạt động được
- Đất đai, thổ nhưỡng:
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là: 158.820 ha Xã Mo Rai có quỹ đất tương đối lớn, nhiều vị trí theo quy hoạch có khả năng khai hoang sản xuất nông nghiệp, trồng cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc gia cầm
Về phân loại đất đai, xã Mo Rai có những loại đất chủ yếu sau: + Đất phù sa sông, suối và thung lũng dốc tụ: Loại đất này phân
Trang 14bình đến nặng, độ phì khá, kết cấu mịn Diện tích loại đất này khoảng:
1378 ha, chiếm 0,88% diện tích toàn xã
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ: Phân bố ở gần các vùng đất bằng phẳng, gần nguồn nước, địa hình thoai thoải, khả năng thoát nước tốt Diện tích khoảng 5027,45 ha chiếm 3,16%
+ Đất vàng đỏ trên đá mắc ma axít: Loại đất này có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, có diện tích khoảng 92510 ha, chiếm 58,92% diện tích toàn xã
+ Đất vàng nhạt trên đá cát: Loại đất này có hàm lượng Ka li cao, thành phân cơ giới nhẹ, thoáng khí, thoát nước nhanh, diện tích 30543,55 ha, chiếm 19,22%,
+ Đất đỏ trên đá gơ nai: Diện tích 5710 ha, chiếm 3,29 %, loại đất này phân bố chủ yếu ở các sườn đồi, núi
+ Đất sám bạc màu trên đá Mắc ma axít và đá cát, có diện tích
1200 ha, chiếm 4,65% Loại đất này phân bố chủ yếu ở các vùng trung
du giữa vùng núi và đất bằng, thung lũng Thành phần của đất này chua, nghèo mùn, đạm và lân tổng hợp thấp, tầng đất thường mỏng, nhiều đá, địa hình chia cắt
+ Đất mùn vàng nhạt trên đá cát Diện tích 7.300 ha, chiếm 0,76% Đất có thành phần cơ giới nhẹ, giầu đạm và mùn ở những nơi
có rừng, nhưng nghèo kiệt nhanh ở những vùng đất chống, đồi trọc Nhìn chung, xã Mo Rai có diện tích tự nhiên rộng lớn Chất lượng
đất của xã còn khá tốt, thích hợp cho trồng trọt, chăn nuôi
- Khí hậu, thuỷ văn:
Khí hậu: Theo số liệu của trạm khí tượng thuỷ văn Kon Tum, xã
Mo Rai nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên Do chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa Tây nam, nên mùa hè - thu mưa nhiều khá đều đặn, ngược lại mùa đông - xuân do chịu ảnh hưởng của
Trang 15Một số chỉ số về khí hậu xã Mo Rai như sau:
+ Nhiệt độ trung bình hàng năm: 23,2 độ C
+ Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối: 38 độ C
+ Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối: 4,5 độ C
+ Nhiệt độ trung bình tối cao: 29,2 độ C
+ Nhiệt độ trung bình tối thấp: 18,4 độ C
Về lượng mưa: Số ngày mưa trong năm là 124 ngày/ năm Lượng
mưa phân bố không đều và phân thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu
từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 11, các tháng còn lại là mùa khô
+ Lượng mưa bình quân trong năm: 1764 mm
+ Lượng mưa cao nhất trong năm: 2172 mm
+ Lượng mưa thấp nhất trong năm: 1309 mm
Gió: Gió thịnh hành từ tháng 01 đến tháng 4 theo hướng Nam và
Đông Nam, từ tháng 5 đến tháng 9 theo hướng Nam và Tây Nam, từ tháng 10 đến tháng 12 theo hướng Đông Bắc
+ Tốc độ gió bình quân 15m/s
+ Tốc độ gió cao nhất 25m/s
+ Tốc độ gió thấp nhất 5m/s
Tổng lượng bốc hơi hàng năm là 800 mm, chiếm gần 50% lượng mưa cả năm, lượng bốc hơi biến động theo thời gian trong năm, lượng bốc hơi sớm nhất là từ tháng 4 đến tháng 7
Độ ẩm bình quân từ 82 đến 87%, độ ẩm trong năm thay đổi không lớn lắm, chỉ khoảng từ 2 – 4 %
Nhìn chung khí hậu ở địa bàn xã tương đối thuận lợi cho quá trình sản xuất nông nghiệp, một số loại cây công nghiệp và cây ăn quả
Thuỷ văn:
Trang 16Hệ thống sông suối phân bố đều khắp trên địa bàn xã, gồm Ya Tri, Đăk Mô, Ya Hron, Đăk HĐrai, Ya Lon Trong đó, lớn nhất là suối
Đăk HĐrai có lưu vực bao trùm khắp diện tích toàn xã Đặc biệt là có
2 con sông lớn chảy qua địa phận xã là sông Sê San và sông Sa Thầy
- Tài nguyên thiên nhiên:
Tài nguyên rừng: Xã Mo Rai có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất
huyện Sa Thầy, với diện tích là 134.396 ha Trong đó 39.642 ha thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Chư Mo Ray Thực hiện cơ chế giao khoán, bảo vệ và quản lý rừng, tỉnh đã giao cho các cơ quan, đơn vị như: Giao cho Lâm Trường Mo Rai II quản lý 6.420 ha, giao cho Công ty 78, thuộc quân đội chăm sóc, bảo vệ, phát triển 9.542 ha Xã Mo Rai trực tiếp quản lý 78.282 ha rừng và 50.754 ha đất rừng sử dụng cho sản xuất của đồng bào các dân tộc quanh khu vực xã
Tài nguyên rừng của xã Mô Rai vô cùng phong phú, đa dạng Theo tổng kiểm kê rừng năm 1998 thì tổng trữ lượng rừng của xã là: 12.024.078 m3, trong đó rừng phòng hộ là: 1.860.055 m3, rừng đặc dụng là: 2.132.217 m3, rừng kinh tế: 8.031.806 m3
Về đa dạng sinh học, theo kết quả điều tra ban đầu cho thấy khu
vực này có ít nhất 246 loài thực vật, 76 loài động vật có vú, 208 loài chim và 51 loài bò sát, 17 loài lưỡng cư… Đặc biệt đây là nơi sinh sống của loài hổ Các loại cây họ dầu sống chủ yếu ở đây Trong vùng còn có nhiều loài cây quý hiếm như: Hương trắc, cẩm lai, cẩm xe, xăng lẻ, tre, nứa, le, lồ ô… mọc thành rừng rộng lớn Nguồn lâm sản dưới tán rừng khá dồi dào như: Song mây, lâm hương, chai cục, sa nhân, mật ong… Rừng Mo Rai là nơi cư trú của nhiều loài động vật quý hiếm: Voi, bò tót, hổ, báo, gấu, hươu, nai, trâu rừng, kỳ đà, trăn, công, trĩ…
Cho đến nay cũng chưa có một kết quả điều tra chính xác về sự đa dạng sinh học của khu vực này Khu bảo tồn thiên nhiên Chư Mo Ray
Trang 17- Tài nguyên nước: Trong khu vực có nhiều con sông, suối lớn
nhỏ, như: Sông Sa Thầy, suối Iatri, suối Ialân…với nguồn nước dồi dào, chảy quanh năm, thuận lợi cho sản xuất, sinh hoạt của đồng bào
Đồng bào các dân tộc trong xã Mo Rai và dân tộc Rơ Măm trên
địa bàn sống chủ yếu dựa vào rừng Trước kia, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nơi đây chính là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm dồi dào cho đồng bào Những năm gần đây, thực hiện chính sách bảo vệ rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên, phần lớn diện tích rừng
được giao cho các đơn vị lâm trường, công ty, đơn vị quân đội bảo vệ
và quản lý, vì thế diện tích rừng được phép khai thác, săn bắn, canh tác nương rẫy của đồng bào chỉ còn lại rất ít so với trước đây
2.2 Dân cư, dân tộc
Theo báo cáo của ủy ban Nhân dân xã Mo Rai tại thời điểm tháng
10 năm 2004, xã Mo Rai có tổng số 455 hộ với 1857 nhân khẩu, trong
đó Nam có 919 người, chiếm 49,4%, Nữ 938 người, chiếm 50,6% Số người trong độ tuổi lao động là: 856 người
Trên địa bàn xã Mo Rai có 2 dân tộc sinh sống đó là: Dân tộc Gia Rai và dân tộc Rơ Măm là 2 dân tộc bản địa sống trên địa bàn xã Trong đó dân tộc Gia Rai chiếm đa số với 370 hộ, 1510 khẩu, sinh sống ở 6 thôn (làng) (làng Rẽ, làng Xộp, làng GRập, làng Tang, làng K
Đin, làng Kênh); dân tộc Rơ Măm với 85 hộ, 347 khẩu sống tập trung trong 1 làng (làng Le)
2.3 Tình hình kinh tế – xã hội của xã Mo Rai
- Cơ sở hạ tầng nông thôn:
Giao thông: Hệ thống giao thông của xã bao gồm: Đường giao
thông liên tỉnh 674, có chiều dài 86 km và tỉnh lộ 66B có chiều dài khoảng hơn 40 km từ trị trấn Sa Thầy vào trung tâm xã Các tuyến
đường này hàng năm đều được tu sửa để đi lại tạm thời, nhưng vào mùa mưa thì hầu hết bị nước lũ cuốn trôi, tàn phá giao thông đi lại rất
Trang 18địa bàn xã Công ty 78 của Quân đội cũng đầu tư nâng cấp thêm 15 km
đường cấp phối phục vụ cho sản xuất cũng như đi lại của nhân dân Từ năm 2001 bàng nguồn vốn của Chương trình 135, xã đã đầu tư nâng cấp 4 km đường trục của xã Các trục đường giao thông liên thôn chủ yếu do người dân tự mở, nhằm phục vụ cho giao lưu, sản xuất Những năm gần đây được đầu tư bằng nhiều chương trình khác nhau và huy
động ngày công ích của nhân dân, ngoài đường đất và đường cấp phối, xã đã xây dựng được 8 cầu treo dân sinh, bước đầu cải thiện điều kiện
đi lại và giao lưu kinh tế của đồng bào
Thuỷ lợi: Thuỷ lợi của xã Mo Rai chưa phát triển, do các sông,
suối trong địa bàn có độ dốc lớn nên khó có khả năng xây dựng những
hồ đập lớn phục vụ cho sản xuất Hiện nay xã có 3 đập thuỷ lợi: Đập
Đăk Ya Pan cung cấp nước cho 30 ha ruộng, đập làng Xộp hiện tưới nước cho 2,5 ha ruộng và đập làng Le Nhìn chung các đập này nhỏ và hiệu quả tưới tiêu thấp Đến nay nước sản xuất, sinh hoạt của đồng bào vẫn chủ yếu nhờ vào tự nhiên
Điện: Từ tháng 4 năm 2004 xã Mo Rai đã có điện lưới quốc gia
Trên địa bàn xã đã có mạng lưới điện kéo đến tất cả các thôn Điện cũng đã về với dân tộc Rơ Măm Đến nay đã có 37/85 hộ đồng bào dân tộc Rơ Măm mắc điện ánh sáng điện đã mang lại nhiều thay đổi trong cuộc sống của đồng bào
Hạ tầng thông tin, liên lạc: Trên địa bàn xã có 1 máy điện thoại
thu, phát qua tín hiệu vệ tinh Tuy nhiên chất lượng thu, phát các cuộc gọi rất kém, nhiều khi không thể liên lạc được Xã cũng đã có điểm Bưu điện Văn hóa, phục vụ các nhu cầu thông tin, văn hoá của đồng bào
Hạ tầng phát thanh, truyền hình: Trong khu vực xã Mo Rai đã
có 2 trạm thu, phát sóng truyền hình và Rađio Một trạm của UBND xã quản lý, một trạm là của đơn vị quân đội đóng trên địa bàn Cả hai
Trang 19trạm đều đang hoạt động tốt, thu phát hầu hết các chương trình của Đài Truyền hình Trung ương phục vụ nhân dân trong xã
Hạ tầng thương mại, dịch vụ: Hiện nay toàn xã Mo Rai chưa có
điểm chợ Mọi hoạt động trao đổi hàng hoá của đồng bào trong vùng
đều phải thông qua tư thương, hoặc phải ra tận trung tâm huyện, vô cùng xa xôi, cách trở Cả xã có 1 cửa hàng cung ứng các mặt hàng chính sách Tất cả các thôn trong xã đều có các cửa hàng tạp hoá nhỏ của tư nhân, buôn bán một số mặt hàng nhỏ, lẻ phục vụ đồng bào như:
Xà phòng, thuốc lá, mì chính, đường, rượu, bia, nước ngọt
- Tình hình sản xuất:
Nông nghiệp
Mo Rai là một xã thuần nông, các ngành nghề khác chưa phát triển, sản lượng lương thực, bình quân lương thực đầu người thấp nhất trong huyện Sa Thầy
Trồng trọt, theo báo cáo của Uỷ ban Nhân dân xã Mo Rai, năm
2004 tổng diện tích gieo trồng toàn xã đạt: 2006 ha, trong đó: Lúa nước 27 ha, lúa rẫy 684,6 ha, ngô 46 ha, mì 117,8 ha, cây ăn quả 187
ha, rau 23,2 ha, cây công nghiệp và các loại cây khác 947,4 ha
Sản lượng thu hoạch: Lúa rẫy 547,7 tấn, ngô 20 tấn, mì 480 tấn Tổng sản lượng lương thực quy thóc ước tính đạt 702 tấn
Sản lượng lương thực bình quân đầu người 385 kg/ người
• Cây công nghiệp, cây ăn quả:
- Diện tích cây tiêu: 286 gốc
- Diện tích cây điều: 58,5 ha
- Diện tích cây bời lời: 11 ha
- Diện tích cây ăn quả các loại: 187 ha
• Công tác khuyến nông, khuyến lâm:
Trang 20Đến cuối năm 2003, toàn xã đã mở được 6 lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất, khuyến nông, khuyến lâm cho 536 lượt người
- Nhà nước hỗ trợ cho đồng bào giống và phân bón, bao gồm:
Chăn nuôi, chăn nuôi của xã chưa phát triển, tính đến hết năm
2003 xã có: 43 con trâu, 287 con bò, 21 con dê, các loại gia cầm 1366 con…Đồng bào các dân tộc chăn nuôi theo tập quán thả rông, không làm chuồng trại, do đó bệnh dịch thường xuyên xảy ra, hiệu quả kinh
tế thấp
Tiểu thủ công nghiệp
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống ở địa phương như: Dệt, đan lát, thêu thùa, rèn công cụ hầu như đã bị mai một, không phát triển Các ngành nghề mới cũng chưa phát triển, trên địa bàn cả xã hiện có 12 máy xay xát, qui mô nhỏ bé
Lâm nghiệp
Năm 2002, chính quyền địa phương đã thực hiện công tác giao khoán quản lý và bảo vệ 1.718 ha rừng cho các hộ gia đình Trên địa bàn xã đang thực hiện kết hợp việc bảo vệ rừng và trồng cây công nghiệp lâu năm, theo phương thức nông - lâm kết hợp nhằm phát triển kinh tế, bảo đảm diện tích rừng, nâng cao độ che phủ
- Thương mại
Thương mại chưa phát triển, trao đổi hàng hoá và các sản phẩm nông, lâm nghiệp trên địa bàn xã còn rất khó khăn Trong xã chỉ có một số cửa hàng tạp hoá nhỏ do người từ thị trấn hoặc xã khác vào mở Bên cạnh đó, một số người bán hàng rong, hàng hoá chủ yếu là rau quả
Trang 21mua bán, đồng bào các dân tộc thường bị thiệt thòi, do bị mua đắt, bán
rẻ
Từ năm 2000, huyện Sa Thầy đã tiến hành thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước để thu mua, tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, do
đồng bào sản xuất ra Tuy nhiên do kinh phí ít, số lượng sản phẩm
được trợ giá hạn chế, vì vậy nhiều sản phẩm đồng bào đã làm ra không tiêu thụ được
Trang 22Tổng số giáo viên toàn xã là 30 người, trong đó giáo viên là người dân tộc thiểu số 8 người Đội ngũ giáo viên là người tại xã có 6 người
Đặc biệt là ông Hiệu trưởng trường phổ thông cơ sở của xã là người dân tộc Rơ Măm
- Mức sống, thu nhập và tình hình đói nghèo:
Thu nhập của đồng bào trong xã nhìn chung còn rất thấp, tỷ lệ hộ
có thu nhập dưới 100.000đ/ tháng chiếm 62,2% tổng số hộ gia đình toàn xã Hầu hết các hộ gia đình không có tích luỹ
Theo số liệu thống kê của ủy ban Nhân dân xã Mo Rai, đến cuối năm 2003, số hộ nghèo của xã là 133 hộ, chiếm 29,2% giảm 28 hộ so với năm 2002 Nguyên nhân đói nghèo của xã là do: Nhiều người tự bằng lòng với cuộc sống hiện tại, không có ý thức vươn lên, học tập cách làm ăn, kỹ thuật sản xuất mới; chưa có kế hoạch chi tiêu, không
có ý thức tiết kiệm, còn tiêu dùng lãng phí; một số hộ gặp khó khăn về vốn, kỹ thuật, bệnh tật, tai nạn, thiếu lao động, t; sự chỉ đạo và điều hành của chính quyền địa phương chưa sâu sát, đồng bộ và chưa hiệu quả
- An ninh quốc phòng:
Là một xã biên giới được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang, có truyền thống cách mạng, công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được làm khá tốt Công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu được thực hiện chặt chẽ Trên địa bàn không
có đối tượng truyền đạo trái phép, không có đối tượng xấu gây mất trật
tự Trên địa bàn xã được tăng cường đơn vị quân đội, trạm công tác của
bộ đội biên phòng phối hợp với chính quyền xã đảm bảo an ninh quốc phòng và giữ vững đường biên giới của Tổ quốc
2.4 Đánh giá chung
Thuận lợi:
Trang 23Xã Mo Rai nói chung và vùng đồng bào Rơ Măm sinh sống nói riêng có diện tích đất tự nhiên và diện tích rừng rất lớn, điều kiện khí hậu, thời tiết, thuỷ văn thuận lợi cho phát triển các cây loại lương thực như: Lúa, sắn, ngô, khoai…và cây công nghiệp như: Bời lời, cao su,
điều… Đất đai rộng lớn, thảm thực vật phong phú thích hợp cho phát triển chăn nuôi đại gia súc như: Trâu, bò, dê,
Địa bàn xã nơi đồng bào Rơ Măm sinh sống nằm trong khu vực bảo tồn thiên nhiên Chư Mo Ray, nên đồng bào có điều kiện tham gia các hoạt động khoán, quản lý bảo vệ rừng, mang lại nguồn thu nhập khá cao và ổn định; được dự án bảo vệ khu bảo tồn đầu tư cơ sở hạ tầng, một số công trình công cộng, hỗ trợ sản xuất, đời sống
Khó khăn:
Mo Rai là xã biên giới, cách xa trung tâm huyện, địa hình phức tạp, bị chia cắt nhiều bởi các con sông suối, giao thông đi lại rất khó khăn Về mùa mưa thì xã Mo Rai gần như hoàn toàn biệt lập với các xã khác Điều kiện cư trú của đồng bào vô cùng khó khăn, không thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu phát triển kinh tế – xã hội với các vùng, các dân tộc trên địa bàn Diện tích đất có thể khai hoang làm lúa ruộng quá ít
Cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi chưa phát triển, còn nhiều yếu kém chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất, sinh hoạt
Nền kinh tế của xã nhìn chung còn chậm phát triển, sản xuất nông nghiệp là chính và ở trình độ thấp, chưa tiếp cận với những tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất trồng trọt, chăn nuôi
Các mặt đời sống, văn hoá, xã hội của đồng bào các dân tộc trong xã còn nghèo nàn, khó khăn, thiếu thốn
Công tác an ninh, quốc phòng được tăng cường thực hiện khá tốt
Đồng bào các dân tộc có truyền thống đấu tranh cách mạng, tin tưởng, trung thành với Đảng và Nhà nước
Trang 24Phần thứ hai
đặc điểm tộc người, tình hình thực hiện chính sách, thực trạng dân tộc Rơ Măm
kẽ với làng của người Gia rai Làng người Rơ Măm ở cao nhất về phía Bắc so với các làng khác giáp với biên giới Campuchia,…”
Những già làng cho biết người Rơ Măm cư trú ở vùng này từ xa xưa, trong những làng nhỏ rải rác dọc hai bên bờ sông Sa Thầy (gần sông Pô Cô và sông Tri) Trải qua hơn nửa thế kỷ, người Rơ Măm sống trong tối tăm, nghèo nàn, bệnh tật, chết chóc, lại thêm sự áp bức bóc nột của thực dân, phong kiến nên dân số giảm xuống Theo số liệu
trong cuốn “các dân tộc ít người ở Việt Nam”, trước đây dân số của
người Rơ Măm còn rất nhiều, họ cư trú rải rác ở 12 làng, cho đến trước khi giải phóng miền Nam họ cư trú tập trung ở 2 làng là làng Le và làng Rơ Măm, cách chỗ ở hiện nay khoảng hơn 10 km về phía Tây Theo những người già kể lại trước đây người Rơ Măm tương đối nhiều Trải qua quá trình đấu tranh sinh tồn, chống thiên tai khắc nghiệt, thú dữ, bệnh tật… lại thêm sự áp bức bóc lột của thực dân, đế quốc và thời kỳ chiến tranh địch thảm sát nhiều người, làm cho dân số giảm sút nghiêm trọng, đến nay người Rơ Măm chỉ còn lại số lượng rất
ít ỏi Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng bào dân tộc
Trang 25Rơ Măm sống lưu lạc trong rừng Chư Mo Ray Họ là những người tham gia và có nhiều đóng góp cho cánh mạng
Năm 1992, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, hai làng
Le và Rơ Măm đã gộp lại lấy tên là làng Le Rơ Măm, cách biên giới Campuchia 8km, cách trung tâm huyện Sa Thầy 55km về phía Tây và cách trung tâm xã Mo Ray 4km Ngoài ra còn có hơn 10 người Rơ Măm cư trú ở Quảng Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước, Cần Thơ và Trà Vinh
Đồng bào dân tộc Rơ Măm ở nước ta có mối quan hệ đồng tộc, thân thiết với người Rơ Măm bên nước bạn Campuchia Hiện tại bên Campuchia cũng có một số làng đồng bào Rơ Măm sống tập trung Những người đồng tộc của người Rơ Măm ở Campuchia, gọi là người Rơ Măm Kđơ hay Rơ Tchor để phân biệt với người Rơ Măm Ale sống
ở Việt Nam Theo già làng, hiện nay đồng bào hai bên biên giới vẫn qua lại thăm thân lẫn nhau
1.2 Dân số của dân tộc Rơ Măm
Quá trình phát triển dân số
Những thời kỳ trước đây, hầu như không có sử sách ghi chép và có rất ít tài liệu nghiên cứu sâu, lượng hoá về biến động dân số của dân tộc Rơ Măm Những thông tin thay đổi về dân số dân tộc Rơ Măm có
lẽ chỉ có trong ký ức, trí nhớ mang nặng cảm tính của những người già Vì thế để tìm hiểu về dân số dân tộc này, chúng tôi chỉ còn cách lấy số liệu từ nguồn đã được công bố chính thức qua các cuộc tổng điều tra dân số và số liệu điều tra thực tế
Tuy nhiên những số liệu này chỉ mang tính chất tương đối Thực tế cho thấy: Những số liệu về dân số dân tộc rất ít người đã được công bố bởi các cuộc tổng điều tra dân số ở nước ta, tuy mang tính chất chính thức, nhưng chưa phải là hoàn toàn chính xác
Nhìn vào bảng số liệu sau, có thể thấy những biến động dân số
Trang 26Bảng 1: Dân số dân tộc Rơ Măm qua tổng điều tra dân số
Đơn vị: Người
1.10.1979 1.4.1989 1.4.1999 Tổng số
Qua hai kỳ Tổng điều tra dân số (1979, 1989), dân số dân tộc Rơ Măm tăng tuyệt đối 84 người, bình quân mỗi ngày tăng 8,4 người, bằng tốc độ tăng dân số của dân tộc Brâu thời kỳ 1989- 1999, dân số dân tộc Rơ Măm tăng 145 người, bình quân mỗi năm tăng 14,5 người Nếu tính tỷ lệ tăng dân số thời kỳ 1979- 1989 là 58,7%, bình quân đạt 4,9% năm, thì thời kỳ 1989- 1999 tỷ lệ tăng bình quân mỗi năm đạt 4,4%(1) Năm 1979 người Rơ Măm cư trú ở tỉnh Kon Tum 137 người trong đó ở huyện Sa Thầy là 132 người, tập trung ở xã Mo Ray 131 người, ở xã Sa Son 1 người, ở huyện Đắk Glêy 4 người và ở thị xã Kon Tum 1 người Năm 1989 người Rơ Măm tập trung chủ yếu ở xã Mo Ray là 213 người; số còn lại cư trú ở xã Sa Son (8) và Gia Ly (1) thuộc huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum; 5 người khác cư trú ở Đồng Nai và Nghệ An Tổng điều tra dân số 1.4.1999, dân số dân tộc Rơ Măm có ở xã Mo Ray là 337 người Nếu tính từ Tổng điều tra dân số 1/10/1979
đến 1/4/1999, dân số dân tộc Rơ Măm tăng thêm 209 người, bình quân mỗi năm tăng 10,5 người, tỷ lệ tăng dân số bình quân là 5,02%/năm
Trang 27Trong khi đó, tỷ lệ tăng dân số bình quân của cả nước là: 2,1%; 1,7%
và 1,9% qua 3 cuộc Tổng điều tra dân số
Từ cuộc Tổng điều tra dân số cuối thế kỷ XX đến tháng 10 năm
2001, dân số dân tộc Rơ Măm đã tăng thêm được 13 người, bình quân mỗi năm tăng thêm hơn 6 người
Kết quả điều tra của chúng tôi, vào thời điểm tháng 10 năm 2004, dân tộc Rơ Măm có 347 người, so với tổng điều tra dân số năm 1999, dân số dân tộc Rơ Măm tăng thêm được 11 người (347 người dân tộc Rơ Măm đây là số người hiện đang sinh sống ở Làng Le, ngoài ra người dân tộc Rơ Măm còn cư trú ở một số địa phương khác khoảng
10 người Số liệu thống kê của tổng điều tra dân số 01 tháng 01 năm
1999 là 352 người dân tộc Rơ Măm là tính tất cả người Rơ Măm trong cả nước)
Chúng tôi có thể khẳng định số liệu điều tra của dự án là hoàn toàn tin cậy Quá trình điều tra của dự án tại làng Le, các cán bộ đã lập bảng số liệu thống kê đến từng hộ gia đình, sau đó đã được đối chiếu,
so sánh với các số liệu của tỉnh, huyện, xã, đã thống kê xác định trong thời gian gần đây
Về cơ cấu dân số:
Với 85 hộ và 347 khẩu, tỷ trọng dân số dân tộc Rơ Măm phân theo các độ tuổi như sau:
Dưới 18 tuổi: 158 người, chiếm tỷ lệ 45,53 % tổng dân số dân tộc
Từ 19 - 35 tuổi: 99 người, chiếm tỷ lệ 28,53 % tổng dân số
Từ 36 - 60 tuổi: 61 người, chiếm tỷ lệ 17,57 % tổng dân số
Trên 60 tuổi: 28 người, chiếm tỷ lệ 7,20 % tổng dân số
Từ 0 đến
dưới 6 tuổi
Từ 6 đến dưới 18 tuổi
Từ 18 đến dưới 35 tuổi
Từ 35 đến dưới 60 tuổi
Từ 60 tuổi trở lên
Trang 28Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ
25 21 60 52 51 48 27 34 13 15
Qua những số liệu trên cho thấy dân số dân tộc Rơ Măm khá
“trẻ”, với tỷ lệ số dân chủ yếu là thanh niên, số người dưới 18 tuổi, chiếm tỷ lệ 45,53 % Trong đó số người từ 0 đến 6 tuổi là 46 người, chiếm tỷ lệ 13,25 %; số người từ 6 đến 18 tuổi là 112/347, chiếm tỷ lệ 33% tổng dân số toàn dân tộc Họ là những lớp người được sinh ra trong thời kỳ “Đổi mới” của Đảng ta Có thể nói qua sự phát triển, tăng trưởng của lớp người này, chứng minh rõ ràng rằng dân số dân tộc Rơ Măm đã có những bước
tăng trưởng khá nhanh và không hề suy giảm trong những năm gần đây, như báo chí hoặc một số người đã nêu Đồng thời điều đó cũng khẳng định chắc chắn rằng, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là chăm sóc y tế, bảo
vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em cho đồng bào dân tộc Rơ Măm đã mang lại những kết quả hết sức tốt đẹp
1.3 Thể chất của đồng bào Rơ Măm
Theo số liệu điều tra khảo sát các chỉ số cân nặng, chiều cao của chúng tôi đối với 317 người trên tổng số 347 người dân tộc Rơ Măm, cho kết quả cụ thể như sau:
Trang 29B¶ng so s¸nh chØ sè c©n nÆng vµ chiÒu cao cña phô n÷ d©n téc R¬ M¨m vµ phô n÷ c¶ n−íc
C©n n¨ng trung b×nh (kg)
Chªnh lÖch
ChiÒu cao trung b×nh (cm)
Chªnh lÖch
Trang 30B¶ng so s¸nh chØ sè c©n nÆng vµ chiÒu cao cña nam giíi d©n téc R¬ M¨m vµ nam giíi c¶ n−íc
C©n n¨ng trung b×nh (kg)
Chªnh lÖch
ChiÒu cao trung b×nh (cm)
Chªnh lÖch
Trang 31So sanh can nang giua phu nu VN va Romam
TB cua phu nu Romam
So sanh can nang nam gioi VN va Romam
Trang 32So sanh chieu cao TB nam gioi
26-60
Chieu cao
TB nam gioi Romam
So sanh chieu cao TB nu gioi
0 50 100 150 200
Chieu cao TB nu gioi Romam
Trang 33Qua những nghiên cứu gần đây cho thấy, trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, khi chưa có các chính sách, chương trình, dự án đầu tư, tập trung kinh phí, thì nạn hữu sinh vô dưỡng là khá phổ biến trong
đồng bào Rơ Măm Kết quả điều tra hồi cố 24 phụ nữ Rơ Măm từ 23
đến 60 tuổi cho thấy họ đã từng mang thai và sinh đẻ 169 lượt (bình quân 7 lần/1phụ nữ), tổng số con sống từ 5 tuổi trở lên là 97 (bình quân 4 con sống/1 phụ nữ); số con chết dưới 5 tuổi là 72 Do mức sinh cao và tỷ lệ tử vong cũng cao nên tuổi thọ trung bình của dân tộc Rơ Măm thấp, năm 1989 ước tính khoảng 40 tuổi.10
Những năm gần đây, nhất là từ năm 1992, khi chính sách hỗ trợ các dân tộc đặc biệt khó khăn được thực hiện, dân số dân tộc Rơ Măm đã
có bước phát triển nhanh Tuy nhiên, vấn đề hiện nay đang đặt ra là chất lượng dân số dân tộc Rơ Măm Do điều kiện nên trong khuôn khổ
dự án này không có điều kiện để điều tra, nghiên cứu về chỉ số phát triển con người (HDI) của dân tộc Rơ Măm, nhưng trên cơ sở kết quả chiều cao, cân nặng và kế thừa các nghiên cứu trước chúng ta có thể thấy rằng chất lượng dân số của dân tộc Rơ Măm thấp hơn mức bình quân của cả nước
Do tần suất chưa cao, vì thế số liệu bình quân trong các bảng biểu trên có thể phản ánh chưa hoàn toàn chính xác Nhưng qua bảng số liệu thống kê trên, bước đầu cho thấy: Nhìn chung nam và nữ giới của dân tộc Rơ Măm đều thấp, bé hơn so với chỉ số cân nặng, chiều cao bình quân của phụ nữ và nam giới của cả nước Trong đó, những độ tuổi có sự chênh lệch nhiều nhất là: Các em gái dân tộc Rơ Măm, trong độ tuổi 13 nhẹ hơn trọng lượng bình quân các em của cả nước tới 5,04 kg Các em gái trong độ tuổi lên 10 tuổi, thấp hơn chiều cao bình quân của các em trong cả nước tới 6,88 cm Nam giới dân tộc Rơ Măm
ở độ tuổi trên 60, nhẹ hơn bình quân cân nặng của nam giới cả nước là
Trang 34
4,6 kg ở độ tuổi 16 các em nam dân tộc Rơ Măm thấp hơn chiều cao
bình quân nam giới cả nước là 6,86 cm
Tính trung bình cân nặng, chiều cao của nữ giới dân tộc Rơ Măm thấp hơn so với mức của cả nước 2,3 kg và 4,3 cm, với nam giới con số này là 3,3 kg và 5,6 cm
Tình trạng chất lượng dân số thấp ở dân tộc Rơ Măm theo chúng tôi
là do những nguyên nhân sau:
- Hậu quả của tình trạng hôn nhân cận huyết trong những thời kỳ trước đây: Mặc dù dân tộc Rơ Măm có tục lệ cấm không được kết hôn giữa con chú, con bác; con dì, con già; con cô, con cậu,…Nhưng do qui mô dân số quá ít, ngay cả vào thời điểm hiện nay, đã khá đông so với trước kia, dân số của dân tộc Rơ Măm chỉ là 347 người Số người trong độ tuổi sinh đẻ chỉ là 99 người Với số dân quá ít như thế, lại sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, trước đây lại ít có quan hệ hôn nhân với dân tộc khác Vì vậy trong những thời kỳ trước đây, tình trạng hôn nhân cận huyết trong dân tộc Rơ Măm có thể xảy ra, điều đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng dân số
- Vấn đề đói nghèo: Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho chất lượng dân số của dân tộc Rơ Măm thấp hơn các dân tộc khác Không có đủ dinh dưỡng, điều kiện chăm sóc tốt cộng với việc vất vả từ khi bà mẹ mang thai cho đến khi đứa trẻ ra đời, khôn lớn đã khiến cho các thế hệ trẻ em của dân tộc Rơ Măm không có điều kiện phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ
- Chăm sóc y tế yếu kém: Do sống ở vùng sâu, vùng sa, biên giới nên việc chăm sóc sức khỏe cho đồng bào gặp nhiều khó khăn Trạm y
tế xã thiếu cán bộ y tế, cơ số và chủng loại thuốc không đủ để phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân Nhận thức, hiểu biết của dân về phòng ngừa bệnh tật, chăm sóc sức khoẻ và chế độ dinh dưỡng còn thấp
Trang 35- Vấn đề phong tục tập quán tác động không nhỏ đến chất lượng dân số dân tộc Rơ Măm Thói quen uống nước lã, đẻ ngoài vườn, kiêng khem khi mang thai và ít quan tâm tới việc chăm sóc sức khoẻ, ăn uống, sinh hoạt không đảm bảo cân bằng về dinh dưỡng… đã góp phần không nhỏ gây ra tình trạng tử vong và suy sinh dưỡng cao ở trẻ em, giảm tuổi thọ trung bình của dân tộc
- Trình độ dân trí thấp: Dân trí thấp là nguyên nhân sâu xa ảnh hưởng đến chất lượng dân số dân tộc Rơ Măm
2 Đặc điểm kinh tế
Do cư trú trong những cánh rừng rộng lớn, giàu có, vì thế người Rơ Măm sinh sống chủ yếu dựa vào tự nhiên Sản xuất nông nghiệp còn ở trình độ thấp, canh tác trên những nương rẫy luân canh, du canh truyền thống Phương thức canh tác theo lối cổ truyền : Phát, đốt, chọc, tỉa Thường thì vào đầu mùa làm rẫy, họ chọn những khu rừng già, để chặt cây, phát cỏ Chờ cho cây cỏ khô, họ đốt cây, dọn dẹp tạo ra những mảnh nương, rẫy Trên những mảnh nương đó đồng bào tiến hành chọc lỗ, tra hạt Người đàn ông chọc lỗ, phụ nữ bỏ hạt và lấp đất Nhờ đất rừng còn giàu, tro của những cây cỏ bị đốt tạo ra nguồn phân bón tự nhiên khá tốt Người Rơ Măm không biết bón phân, làm cỏ, chăm sóc cây trồng Công cụ sản xuất còn rất thô sơ, đơn giản so với các dân tộc khác trong vùng Cây trồng của đồng bào chủ yếu là cây lương thực như: Lúa nếp, một phần lúa tẻ, ngô và sắn2 Trong đó cây trồng chính của đồng bào là lúa nếp
Sản xuất nương rẫy là một phương pháp canh tác hiệu quả của
đồng bào, dựa vào tự nhiên, tốn ít lao động, nhưng mang lại một năng suất khá cao, tình trạng rửa trôi, xói mòn đất lại giảm hơn rất nhiều, nếu so với lối canh tác hiện đại, khai hoang, cày xới, làm đất kỹ càng…Tuy nhiên lối canh tác này chỉ thích hợp khi mật độ dân số còn
ít, diện tích rừng còn nhiều và đất rừng còn tốt Hiện nay, dân số ở Tây Nguyên đã gia tăng cả do gia tăng tự nhiên và cơ học, mật độ dân số
Trang 36
đã khá cao, diện tích rừng bị thu hẹp dần, lại được khoanh nuôi, bảo vệ nghiêm ngặt, thì không thể thích hợp, nếu kéo dài lối canh tác truyền thống
Cũng như các dân tộc khác, hoạt động săn bắn thú rừng của người Rơ Măm khá phát triển Họ có thể săn bắn bằng cung tên, nỏ hoặc những cái bẫy rất độc đáo và hiệu quả Thu hái lâm sản trong rừng như: Song, mây, ươi,…cũng mang lại thu nhập đáng kể trong cuộc sống của đồng bào Gần đây nhờ chính sách giao khoán, bảo vệ rừng,
đồng bào cũng đã tham gia tích cực và hoạt động này, đây là nguồn thu nhập quan trọng và ổn định trong cuộc sống của họ
Các hoạt động kinh tế của dân tộc Rơ Măm chủ yếu mang tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc, trao đổi hàng hoá còn rất ít và nếu có trao
đổi, thì cũng chỉ theo phương thức “hàng đổi hàng” Trước đây, người Rơ Măm có trao đổi một số hàng hoá với người Lào, người Brâu ở bên kia biên giới, hay với người Ba na, Xơ đăng để lấy những vật dụng cần thiết cho sinh hoạt và sản xuất như muối, giao, rìu, vòng đeo tai…Hàng của đồng bào Rơ Măm mang đi trao đổi là nông, lâm sản, gia súc, gia cầm Thuốc lá cũng là một mặt hàng được người Rơ Măm trồng để mang đi trao đổi Một ống thuốc lá khô (dài khoảng 4 gang tay) đổi được 1 chiếc khố…
Tiểu thủ công nghiệp
Đồng bào Rơ Măm biết nhiều nghề thủ công, nhưng có lẽ nghề dệt phát triển nhất Trước đây, nhà nào cũng có vài rẫy bông và được chăm sóc cẩn thận Họ trồng bông để se sợi, dệt vải, tự túc vải mặc Nhưng gần đây do giao lưu kinh tế, xuất hiện nhiều loại vải khác rẻ hơn, tiện dụng hơn, vì thế họ quen sử dụng vải hiện đại, quên mất nghề dệt các loại vải truyền thống Các ngành nghề truyền thống khác cũng
đang mai một dần như nghề rèn, dệt thổ cẩm… Do sự phát triển của kinh tế thị trường, các hàng hoá rất phong phú, giá rẻ trong khi các sản phẩm do các ngành nghề thủ công của dân tộc lại nghèo nàn về chủng
Trang 37loại, mẫu mã, vì vậy các ngành nghề thủ công đang có xu hướng mai một mất dần
3 Đặc điểm văn hoá
Trang phục, trang sức:
Trang phục truyền thống của phụ nữ Rơ Măm là váy và áo ngắn tay Váy dài đến chân hay chỉ quá gối một chút Khác với phụ nữ các dân tộc phía Bắc, váy truyền thống của phụ nữ Rơ Măm chỉ là một tấm vải quấn quanh người, không trang trí hoa văn Đàn ông mặc khố, vạt trước dài gần đến đầu gối, vạt sau dài tới ống chân3 Nhìn chung, do chưa biết dệt chỉ màu, chưa biết thêu, nên váy và khố của người Rơ Măm phần nhiều chỉ là màu trắng
Đàn bà, con gái thích đeo vòng tai, ngoài ra nam, nữ đều thích đeo vòng tay, vòng cổ bằng hạt cườm Trước kia, đồng bào có tục lệ tất cả mọi người, không phân biệt nam, nữ đến tuổi thành niên phải cà răng ở hàm trên (4 hoặc 6 chiếc) Tục cà răng, căng tai trước đây được thực hiện như một hình thức bắt buộc, nhưng ngày nay phong tục này hầu hết đã không còn
Ngày nay trang phục, đồ trang sức truyền thống của đồng bào như: Váy, áo, khố, vòng đeo tai, vòng cổ bằng hạt cườm,…còn rất ít và
đang dần mai một Theo điều tra của chúng tôi, tỷ lệ người dân Rơ Măm trong làng Le sử dụng quần áo và các đồ trang sức như người kinh là 58,8% Số người sử dụng trang phục dân tộc chỉ còn rất ít, chủ yếu là người già và phụ nữ trung niên Trong các dịp lễ hội cũng chỉ có 45,9% số người mặc trang phục và đồ trang sức truyền thống Nguyên nhân của tình trạng này một phần do ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh tế – xã hội, giao lưu văn hóa, một phần do nghề dệt truyền thống của đồng bào hiện nay hầu như đã không còn
Ngôn ngữ:
Trang 38
Ngôn ngữ của dân tộc Rơ Măm thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ
me, ảnh hưởng nhiều yếu tố ngôn ngữ Khơ me, đồng thời gần gũi với một số nhóm ngôn ngữ địa phương của các dân tộc Sê Đăng, Hà Lăng, K’Dong… Hiện nay, trong cuộc sống hàng ngày đồng bào Rơ Măm vẫn còn sử dụng thường xuyên tiếng nói của dân tộc mình Theo kết quả điều tra cho thấy trong cuộc sống gia đình có tới 96,2% số người
sử dụng ngôn ngữ của dân tộc Tỷ lệ đồng bào sử dụng tiếng dân tộc Rơ Măm để giao tiếp, trao đổi trong làng, xã là 84,7% Tuy với số dân rất ít ỏi, lại sống gần, đan xen với các dân tộc khác, nhưng ngôn ngữ của đồng bào Rơ Măm lại không bị mất đi Đây là điều rất đặc biệt của
đồng bào Rơ Măm, so với nhiều dân tộc rất ít người khác Chúng tôi cho rằng hiện tượng này cần được nghiên cứu sâu và kỹ càng, để lý giải và có những giải pháp bảo tồn ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số rất ít người Do có quan hệ nhiều với các dân tộc láng giềng, đồng bào Rơ Măm còn sử dụng thành thạo nhiều ngôn ngữ như: Hà Lăng, Gia rai, Ê đê, Brâu và Lào… Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ở trong vùng giải phóng đồng bào được tiếp xúc nhiều với
bộ đội, cán bộ, gần đây họ còn được giao lưu nhiều với dân tộc Kinh, nên đa số đồng bào còn nói thạo tiếng phổ thông Nhiều người Rơ Măm biết và sử dụng thành thạo tới 6 ngôn ngữ khác nhau Theo số liệu điều tra của dự án, 74,1% người Rơ Măm biết sử dụng thành thạo tiếng phổ thông và tiếng các dân tộc khác trong vùng Trong khi đó các dân tộc khác trong vùng ít người biết tiếng của dân tộc Rơ Măm
Các phong tục, tập quán:
Sinh đẻ: Quan niệm của đồng bào Rơ Măm cho rằng nếu người
phụ nữ sinh đẻ trong ngôi nhà đang ở, sẽ làm cho ngôi nhà bị ô uế Vì thế, theo tục lệ của người Rơ Măm, phụ nữ không được đẻ ở trong nhà Trong quá trình sinh đẻ, họ thường phải đẻ ở trong một cái lều nhỏ
được dựng tạm ngoài vườn, phía sau nhà Sau khi đẻ, mẹ và con được tắm rửa cẩn thận, rồi mới được vào nhà Thường thì họ tự đẻ, trong một
Trang 39số trường hợp có người nhà hay bà mụ giúp đỡ Đồng bào không chôn nhau thai dưới gầm sàn, hay treo lên cây, mà chôn xa trong rừng
Sau khi sinh đẻ họ sẽ cúng cho đứa trẻ sơ sinh Bằng việc đập một núm quả bầu (bầu uống nước) và một quả trứng (gà hoặc vịt) cũng đập
vỡ một đầu, để cúng cho đứa bé vừa mới chào đời được sức khỏe, thông minh, may mắn Trong trường hợp nếu có sản phụ không may đẻ rơi trong nhà chính, thì gia chủ phải lo sắm lễ vật gồm 1 con gà, 1 ghè rượu, rồi mời thầy cúng làm lễ tạ lỗi Mục đích nhằm tránh sự trừng phạt của các thần linh trong nhà Nếu gia đình nào không làm lễ, theo quan niệm, sẽ bị các thần linh gây ra đau ốm, bệnh tật, súc vật trong nhà không phát triển được, mùa màng bị thất thu…Vấn đề này gắn liền với quan niệm về sự trong sạch đối với các đấng linh thiêng có nhiệm vụ cứu giúp, bảo vệ sức khỏe, hạnh phúc cho mọi thành viên,
được gia đình tôn thờ, coi trọng Cho nên, đối với dân tộc Rơ Măm, nếu bất cứ ai là vợ, con dâu, con gái sinh đẻ trong nhà đều bị coi là vi phạm đến nguyên tắc kiêng cữ của phong tục
Ngày nay, tục lệ này vẫn còn ăn sâu trong đời sống cộng đồng Qua tổng hợp kết quả các phiếu chúng tôi đã điều tra, số liệu thống kê cho thấy có đến 58,8% số người được hỏi cho là nên sinh con ở cạnh hay gầm nhà
Người phụ nữ Rơ Măm có tục lệ, thói quen đẻ quỳ Ngày nay, tục
lệ này vẫn còn phổ biến, mặc dù xã có trạm y tế, nhưng ít khi họ đến
đó để đẻ, mà vẫn đẻ ở nhà theo những tục lệ truyền thống
Theo TS Nguyễn Thế Huệ, một lý do quan trọng kiến các phụ nữ Rơ Măm không đến trạm xá đẻ là do đồng bào có tập quán đẻ quỳ Theo họ nếu đến trạm y tế lại phải nằm đẻ trên bàn “đẻ kiểu người Việt”(theo cách nói của đồng bào) Khi được hỏi, một số phụ nữ Rơ Măm cho biết là họ rất khó thay đổi thói quen này Chỉ trừ trường hợp thai nhi bị rau cuốn cổ hay ngôi ngược, không thể đẻ bình thường và
bà mụ cũng không thể đỡ được thì khi đó mới trông cậy đến cán bộ
Trang 40Khi gia đình nào có người đau ốm, hay đặc biệt là các bà mẹ mang thai có hiện tượng “đau thai”(tức động thai), gia đình hoặc chồng lấy lá rừng, những cây thuốc truyền thống hoặc bắp chuối rừng còn non nấu nên để uống Hiện nay mặc dù điều kiện y tế chăm sóc sức khỏe cho đồng bào nói chung và với phụ nữ và trẻ em nói riêng đã
được cải thiện đáng kể, nhưng trong những trường hợp ốm đau, bệnh tật, họ vẫn tự chữa bằng thuốc truyền thống, đồng bào vẫn còn làm lễ cúng để đuổi con ma đi
Trong hoàn cảnh cuộc sống của đồng bào còn khó khăn, thiếu thốn lại thiếu hiểu biết về việc chăm sóc sức khỏe của các bà mẹ, việc
ăn, uống kiêng khem, không đảm bảo dinh dưỡng trong thời gian mang thai, sinh đẻ và điều kiện lao động nặng nhọc đã khiến cho nhiều sản phụ gầy yếu ảnh hưởng không tốt đến việc nuôi con Mặc dù qua nhiều năm đã định canh, định cư, được chính quyền tuyên truyền, vận
động, thực hiện chương trình dân số- kế hoạch hóia gia đình, nâng cao chất lượng dân số, thực hiện tiêm vắc xin phòng cho bà mẹ và trẻ em,
…nhưng cho đến nay, tập tục sinh đẻ và nuôi con trong đồng bào Rơ Măm vẫn theo thói quen cổ truyền
Người Rơ Măm không quan niệm đẻ sinh đôi là dị dạng Vì thế
họ vẫn nuôi và chăm sóc những đứa con sinh đôi bình thường Khi trẻ sinh ra, người ta phải chờ đến khi trẻ rụng rốn mới đặt tên Thường
ông, bà hay bố, mẹ đặt tên cho cháu Theo phong tục, họ kiêng đặt tên con trùng với tên người cùng làng
Người Rơ Măm vẫn còn tồn tại một phong tục khá đặc biệt là: Trong khi sinh người mẹ chẳng may bị chết, họ thường đem chôn theo cả đứa trẻ sơ sinh Điêù này được đồng bào giải thích là : “Làm thế, để con ma không về quấy quả gia đình có người chết” Để từ bỏ tập tục này, bộ đội biên phòng đã có những hoạt động tuyên truyền vận động
Đồng thời nắm tình hình, nếu có trường hợp người mẹ chết khi sinh con, bộ đội kịp thời đến xin lại cháu bé về nuôi Trong hai năm 2002,