1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020

356 678 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đến năm 2020
Tác giả Ủy Ban Dân Tộc
Người hướng dẫn PGS.TS Khổng Diễn Phú, TS. Phan Văn Hựng
Trường học Viện Dân Tộc
Chuyên ngành Chính sách dân tộc / Phát triển các dân tộc thiểu số
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 356
Dung lượng 3,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết Thực hiện Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị, Quyết định 72 của Chính phủ và Nghị quyết số 24-NQ/TW của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần 7 khóa IX về công tác dâ

Trang 1

ñy ban d©n téc

***

BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI

CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

PHẦN MỘT: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN, CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 9

1 Khái niệm, nội dung và các loại hình chiến lược phát triển 9

1 1 Khái niệm về chiến lược phát triển 9

1.2 Nội dung của chiến lược phát triển 12

1.3 Một số loại hình chiến lược phát triển 15

1.4 Vai trò của chiến lược phát triển 19

2 Khái niệm, tính chất cơ bản của Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số 20

2.1 Quan điểm của Lênin và Hồ Chí Minh về chiến lược phát triển các dân tộc 20

2.2 Khái niệm về Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số 22

2.3 Tính chất cơ bản cuả Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số 23

3 Kinh nghiệm xây dựng chiến lược phát triển trong nước và quốc tế 25

3.1 Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam 25

3.2 Chiến lược Hưng biên phú dân và Quy hoạch “Thập nhất ngũ” trong sự nghiệp phát triển dân tộc thiểu số của Trung Quốc 28

PHẦN HAI: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 37

1 Khái quát đặc điểm, chính sách và một số hạn chế về phát triển của các dân tộc thiểu số hiện nay 37

1.1 Đặc điểm các dân tộc thiểu số 37

1.2 Thực trạng xây dựng, thực hiện chính sách dân tộc hiện nay 38

1.3 Một số hạn chế về phát triển các dân tộc thiểu số 49

2 Các ý kiến khác nhau về xây dựng Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số 57

2.1 Ý kiến về sự không cần thiết phải xây dựng Chiến lược 58

2.2 Ý kiến cần thiết xây dựng Chiến lược 64

3 Quan điểm của Đảng và căn cứ pháp lý xây dựng Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số 66

Trang 3

3.1 Quan điểm của Đảng 66

3.2 Các căn cứ pháp lý 69

4 Sự cần thiết xây dựng Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số 73

PHẦN BA: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 75

1 Quan điểm 75

1.1 Vị trí của Chiến lược 75

1.2 Vai trò của Chiến lược 76

1.3 Yêu cầu về nội dung Chiến lược 77

2 Định hướng 78

2.1 Xác định tên gọi của Chiến lược 78

2.2 Cơ sở khoa học xác định tư tưởng, mục tiêu, nội dung của Chiến lược 78

2.3 Phương pháp xây dựng Chiến lược 92

2.4 Cách tiếp cận khi xây dựng Chiến lược 98

2.5 Quy trình xây dựng Chiến lược 100

2.6 Giải pháp xây dựng Chiến lược 103

3 Một số kiến nghị 105

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 4

BẢNG BIỂU

Bảng 1: Diễn biến thu nhập bình quân đầu người/tháng của một số vùng 50

Bảng 2: Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng miền núi, dân tộc 50

Bảng 3: So sánh thu nhập bình quân 1 người/tháng theo giá thực tế 51

Bảng 4: Thu nhập bình quân đầu người/tháng năm 2004 theo giá thực tế phân theo 5 nhóm thu nhập 52

Bảng 5: Tỷ lệ hộ gia đình tiếp cận với các loại hình văn hóa thông tin 54

Bảng 6 Tỷ lệ hộ gia đình thường xuyên xem tivi……… 51

Bảng 7 Tỷ lệ hộ gia đình thường xuyên nghe đài 55

Bảng 8 Ý kiến cán bộ TW về “Đã có chiến lược phát triển các bộ, ngành không cần thiết phải xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số” 63

Bảng 9 Ý kiến địa phương về “Đã có chiến lược phát triển các bộ, ngành không cần thiết phải xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số” 63

Bảng 10 Ý kiến chuyên gia TW về “Nghị quyết TW 7 Khoa 9 về công tác dân tộc là bản chiến lược về công tác dân tộc” 64

Bảng 11 Ý kiến của TW về sự cần thiết xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số 65

Bảng 12 Ý kiến của địa phương về sự cần thiết xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số 66

  HỘP Hộp 1 Ý kiến của chuyên gia, nhà quản lý về việc xây dựng, thực hiện chính sách dân tộc hiện nay: 46

Hộp 2 Quan điểm của chuyên gia của Viện Chiến lược, Bộ Kế hoạch và Đâu tư về tác động của Chiến lược phát triển quốc gia, các bộ, ngành đến vùng dân tộc 62

Hộp 3 Ý kiến của chuyên gia Viện Chiến lược, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Viện Dân tộc học; Viện Chính sách, Chiến lược phát triển Bộ Nông nghiệp về Nghị quyết TW7 64

Hộp 4 Ý kiến của PGS.TS Bùi Tất Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc xác định tư tưởng, mục tiêu của chiến lược 79

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Thực hiện Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị, Quyết định 72 của Chính phủ và Nghị quyết số 24-NQ/TW của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần 7 khóa IX về công tác dân tộc, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1277/QĐ - TTg về phê duyệt đề án “Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý Nhà nước và phương thức công tác dân tộc giai đoạn 2006-2010”, trong đó yêu cầu Ủy ban Dân tộc xây dựng chương trình, kế hoạch nghiên cứu khoa học, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn quản lý nhà nước về công tác dân tộc phục vụ xây dựng chiến lược phát triển vùng dân tộc thiểu số Đây được xem là nhiệm vụ quan trọng của Ủy ban Dân tộc Theo Nghị định số 60/2008/NĐ-CP ngày 09/5/2008 của Chính phủ, Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc, trong đó Ủy ban Dân tộc có nhiệm vụ Chủ trì hoặc phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ các

cơ quan, tổ chức liên quan xây dựng chiến lược phát triển vùng dân tộc thiểu số

để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Như vậy, từ các văn bản chỉ đạo điều hành của Đảng và Nhà nước cũng như các nhiệm vụ được giao tại Nghị định thì Ủy ban Dân tộc phải xây dựng được chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số Tuy nhiên do nhiều nguyên

nhân khách quan, chủ quan, đến nay nhiệm vụ này vẫn chưa được thực hiện

Việc xây dựng các luận cứ khoa học phục vụ cho xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số đến năm 2020 là rất quan trọng Có được các luận cứ khoa học đúng đắn thì mới xây dựng được một chiến lược phù hợp làm cơ sở để triển khai thực hiện có hiệu quả phát triển các dân tộc thiểu số nước ta trong bối cảnh xây dựng thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy thực hiện đề tài “Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, đến năm 2020” là cần thiết và cấp bách, cung cấp luận cứ khoa học, chuẩn bị cho việc xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số

Trang 6

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội nói chung, chiến lược phát triển của một số bộ ngành nói riêng; đặc điểm tình hình về phát triển các dân tộc thiểu số, đề xuất cơ sở khoa học phục

vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đến năm 2020

3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

3.1 Cách tiếp cận

Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số đến năm 2020 là tập hợp các quan điểm, luận cứ khoa học dựa trên những điều kiện liên quan đến việc xây dựng và thực hiện chính sách cả nước nói chung, kết quả thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương nói riêng Tiếp cận có nghĩa là xác định chỗ đứng, hướng quan sát, cách tìm kiếm để có được thông tin chân thực về đối tượng, để hiểu được đối tượng Khái niệm “chỗ đứng”, “hướng quan sát”, “cách tìm kiếm” ở đây thuộc về lĩnh vực

tiếp cận tri thức, trước hết là những cách tiếp cận chung nhất, đảm bảo được tính

toàn diện của thông tin về đối tượng và được sử dụng cho hầu hết các lĩnh vực

khoa học, đó còn là cách tiếp cận lịch sử, cách tiếp cận logic, cách tiếp cận hệ thống Đề tài sẽ đi sâu tiếp cận vĩ mô, tổng quan, liên ngành, đa lĩnh vực thông qua

các ý kiến của các chuyên gia từ các bộ, ngành trung ương và các nhà quản lý ở địa phương

Ngoài các cách tiếp cận như trên, do tính chất đặc thù, đề tài tiếp cận liên

cấp, tức là nghiên cứu xem xét ở các cấp độ khác nhau, đồng thời có sự đan

xen, tác động qua lại lẫn nhau giữa các cấp quản lý trong hoạch định các chính sách ở vùng dân tộc thiểu số

Cuối cùng là tiếp cận trực tiếp các dân tộc thiểu số, chủ thể của đối tượng nghiên cứu này

3.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tư liệu thứ cấp

Đề tài đã nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu liên quan về xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội, tình hình thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; các công trình nghiên cứu liên quan về chiến lược, các báo cáo tổng kết,

Trang 7

hội nghị, hội thảo của các cơ quan trung ương, các báo cáo thường niên, báo cáo chuyên đề của một số địa phương về các vấn đề liên quan Qua đó phân tích,

so sánh và kế thừa những luận điểm khoa học đã được nghiên cứu

- Phương pháp chuyên gia

+ Đề tài đã tổ chức 02 cuộc hội thảo ở Trung ương để xin ý kiến các chuyên gia, các nhà quản lý tư vấn, góp ý về nội dung phiếu hỏi, dự thảo báo cáo tổng hợp của đề tài

+ Đề tài đã tổ chức 03 hội thảo song phương với các cơ quan chuyên môn như: Viện Chiến lược phát triển thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Viện Chính sách, Chiến lược Nông nghiệp thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn; Viện Dân tộc học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

+ Đề tài đã tổ chức hội thảo tại 2 vùng: Miền núi phía Bắc và Tây Nguyên

để lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nhà quản lý ở địa phương

+ Phỏng vấn sâu các chuyên gia thông qua phiếu hỏi trực tiếp

Đề tài đã xây dựng 02 mẫu phiếu để phỏng vấn sâu các các nhà quản lý, các

nhà khoa học có liên quan ở Trung ương và địa phương

Ở Trung ương phỏng vấn 20 phiếu đối tượng là các nhà khoa học, quản lý: Các chuyên gia ở các Vụ, đơn vị tại các Bộ, ngành liên quan như Vụ Kế hoạch Tài chính, Vụ Địa phương I, II, Trường Cán bộ Dân tộc, Viện Dân tộc thuộc Ủy ban Dân tộc; Viện Chiến lược Phát triển thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Viện Chiến lược và Chính sách phát triển Nông nghiệp Nông thôn thuộc Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn; Viện Dân tộc học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam; Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Đa số các chuyên gia phỏng vấn có trình độ tiến sĩ, một số chuyên gia có học hàm giáo sư, phó giáo sư, đã có nhiều năm công tác ở lĩnh vực dân tộc; dân tộc học; nghiên cứu về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; chiến lược phát triển các bộ, ngành

Ở địa phương phỏng vấn 30 phiếu các nhà quản lý: Hầu hết các phiếu phỏng vấn được hỏi đối tượng là trưởng ban, giám đốc, phó trưởng ban, phó giám đốc, trưởng phòng, phó trưởng phòng, các Ban Dân tộc; Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Sở Y tế; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch; Sở Giáo dục

Trang 8

4 Nội dung nghiên cứu

- Nội dung và kinh nghiệm xây dựng, thực hiện chiến lược phát triển tổng

thể (chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước) và của các bộ ngành

như Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

- Nghiên cứu tổng quan tình hình phát triển và các chính sách thực hiện ở

vùng dân tộc thiểu số thông qua các tài liệu thứ cấp

- Khuyến nghị về phương pháp, quy trình xây dựng chiến lược phát triển

các dân tộc thiểu số đến năm 2020

5 Các cá nhân tham gia thực hiện đề tài

2 GS.TS Phan Văn Hùng Viện trưởng Viện Dân tộc Phó chủ nhiệm

3 PGS.TS Phạm Quang Hoan Viện trưởng Viện Dân tộc học Thành viên

Phó Viện trưởng Viện Chính sách, Chiến lược phát triển Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp

Thành viên

5 TS Tạ Thị Đoàn Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I Thành viên

6 Nguyễn Xuân Đức Vụ trưởng Vụ Địa phương II Thành viên

9 Phạm Mạnh Thùy

Phó ban Chính sách xã hội, Viện Chiến lược, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Thành viên

Trang 9

10 CN Phan Văn Cương Viện Dân tộc Thành viên

6 Cấu trúc nội dung đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục của báo cáo được chia thành 3

phần chính:

Phần một Một số vấn đề lý luận về chiến lược, chiến lược phát triển các

dân tộc thiểu số

Phần này tập trung nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý thuyết liên quan

đến chiến lược và chiến lược phát triển Trong đó giới thiệu một số kinh nghiệm

chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số của nước ngoài

Phần hai Cơ sở thực tiễn và sự cần thiết xây dựng chiến lược phát triển

các dân tộc thiểu số

Phần này tập trung phân tích thực trạng phát triển, những vấn đề tồn tại,

hạn chế của việc xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc: phân tích các quan

điểm khác nhau và cơ sở pháp lý cần thiết xây dựng chiến lược phát triển các dân

tộc thiểu số

Phần ba Quan điểm, định hướng xây dựng chiến lược phát triển các dân

tộc thiểu số

Phần này đề tài đưa ra một số quan điểm về vị trí, vai trò, yêu cầu đối với

Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số và định hướng xây dựng chiến lược

phát triển các dân tộc thiểu số đến năm 2020

Trang 10

PHẦN MỘT

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN, CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

-

1 Khái niệm, nội dung và các loại hình chiến lược phát triển

1 1 Khái niệm về chiến lược phát triển

‐  Chiến lược

Có rất nhiều khái niệm, quan niệm về “chiến lược” đã được đưa ra theo nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau Đây là một thuật ngữ đã có từ xa xưa Ở phương Tây, thuật ngữ “chiến lược” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ “Strategem” hoặc “Strateges”, nó mang ý nghĩa về tư tưởng chỉ đạo có tính cơ bản đối với các hành vi để đạt được mục đích lớn lao nào đó mà người ta mong muốn Chiến lược đối với một đối tượng cụ thể chứ không có chiến lược chung chung

và nó được hoàn thiện theo thực tế phát triển của xã hội loài người

Vào đầu thế kỷ 20 ở các nước Châu Âu thuật ngữ “chiến lược” xuất hiện chủ yếu được sử dụng trong lĩnh vực quân sự, chính trị Khi mới xuất hiện, thuật ngữ “chiến lược” sử dụng trong quân sự được các nhà khoa học Trung Quốc lý giải là “nghệ thuật thống soái” Với cách lý giải như vậy, trong quân sự

“chiến lược” có thể hiểu là phương pháp chỉ huy, tài thao lược của người cầm quân, có thể vạch ra những phương hướng chủ yếu của cuộc đấu tranh bao gồm

kế hoạch tổ chức, phương pháp chiến đấu, kỹ thuật chiến thuật sẽ được sử dụng

và khả năng ứng phó nhanh, nhạy kịp thời trong những tình huống cụ thể để giành thắng lợi, giành lấy quyền kiểm soát trong một thời kỳ nhất định

Ngày nay, các học giả Trung Quốc cho rằng: Chiến lược là những mưu tính và quyết sách đối với những vấn đề trọng đại có tính chất toàn cục và lâu dài, còn lý luận và phương pháp quyết sách những vấn đề trọng đại mang tính toàn cục và lâu dài nhiệm vụ của chiến lược học Đối với quan điểm này thì

“chiến lược” đã thể hiện vị trí và vai trò hết sức quan trọng Quả thực “Mưu tính” là toàn bộ những phương hướng, kế hoạch của con người về một vấn đề nào đó, dựa trên những cơ sở thực tiễn khách quan, khoa học, qua đó nó thể hiện nhận thức, trí tuệ và trình độ phát triển của một đất nước, một dân tộc

Trang 11

“Vấn đề có tính chất toàn cục” là thể hiện tầm quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của một đất nước, khu vực, hay một lĩnh vực cụ thể và vì vậy

nó phải được thực hiện trong một thời gian dài

Trong chính trị, khi nói về chiến lược cách mạng vô sản Stalin đã viết

“chiến lược và sách lược là khoa học chỉ đạo cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản” Với quan niệm như vậy, thì “chiến lược” có thể hiểu là những quy định về phương hướng tấn công chủ yếu của giai cấp vô sản trong một thời kỳ nhất định, vạch ra kế hoạch, bố trí lực lượng và đấu tranh để thực hiện kế hoạch

đó

Năm 1962 Alfred Chandler một trong những nhà khởi xướng và phát triển

lý thuyết về quản trị chiến lược đã định nghĩa: Chiến lược là sự xác định các mục tiêu và mục đích dài hạn của một tổ chức, và sự chấp nhận chuỗi các hành động cũng như phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này

Như vậy có thể hiểu “Chiến lược là sự xác định các mục tiêu và mục đích dài hạn của chủ thể nhằm phát huy được lợi thế trong bối cảnh môi trường thay đổi và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực cần thiết để đảm bảo rằng các mục tiêu, mục đích đó sẽ được thực hiện” Chiến lược chính là phương hướng

được xây dựng dựa trên những cơ sở khoa học, khách quan, trong đó đưa ra cách giải quyết một vấn đề có tính chất toàn cục, tổng thể và được thực hiện trong một thời kỳ nhất định

- Chiến lược phát triển

Như trên đã phân tích thuật ngữ “chiến lược”, nó xuất hiện từ rất lâu nhưng đến khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ 2, hòa bình và phát triển đã trở thành chủ đề của đời sống kinh tế, chính trị của thế giới thì thuật ngữ “chiến lược phát triển” xuất hiện và sử dụng cho đến nay Ngày nay bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng đều xây dựng riêng cho mình chiến lược phát triển của đất nước Chiến lược phát triển là văn bản có tính chất pháp lý cao; định hướng toàn bộ những vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước và được thực hiện trong một thời kỳ nhất định; nó thể hiện trí tuệ, quan điểm lãnh đạo và trình độ phát triển của mỗi quốc gia và đây là một trong những căn cứ quan trọng để Chính phủ và các tổ chức chính trị xã hội chủ động xây dựng chương trình hành động, chiến lược phát triển của ngành và địa phương mình

Trang 12

Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên Hợp quốc (UNIDO) cho rằng:

“Thông thường chiến lược phát triển có thể mô tả như một bản phác thảo quá trình phát triển nhằm đạt được những mục tiêu đã định cho một thời kỳ dài Chiến lược cung cấp một “tầm nhìn” của một quá trình phát triển mong muốn

và giải pháp tổng thể tiến hành; chiến lược hướng dẫn các nhà hoạch định chính sách trong việc huy động và phân bố nguồn lực Khái niệm của UNIDO có phần giống với quan niệm của các nhà quân sự, chính trị, tuy vậy nó muốn gắn kết chiến lược với hoạch định chính sách và các bản hoạch định khác

Chúng tôi đồng tình với quan niệm mà PGS,TS Ngô Doãn Vịnh đưa ra

trong cuốn Chiến lược phát triển về tư duy và hành động có tính chiến lược ( Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007) : “Chiến lược phát triển hay chiến lược về phát triển Là “tinh thần cơ bản” của đường lối phát triển do con người định ra, nó thể hiện chủ đề tư tưởng và gắn liền với chủ đề tư tưởng ấy là phạm vi bao quát và nội dung chủ yếu (hay trọng tâm) của chiến lược được thể hiện thông qua mục tiêu, hệ thống các quan điểm, biện pháp cơ bản có tính chiến lược về phát triển ở tầm cao, tầm tổng thể, tầm dài hạn đối với sự phát triển của một đối tượng (hay của một hệ thống) mà các nhà lãnh đạo đã đề ra;

nó chỉ đạo hành động thống nhất của một cộng đồng hay một quốc gia nhằm đạt tới mục tiêu cao nhất, lớn nhất, tổng quát nhất đã xác định Nói như thế có nghĩa là mỗi chiến lược phát triển phải gắn với một đối tượng cụ thể.”

Như vậy, chiến lược phát triển là xác định các mục tiêu, hướng đích tổng quát trong dài hạn do các chủ thể (cộng đồng, quốc gia hay nhóm quốc gia) định ra nhằm phát huy được lợi thế của chủ thể trong sự tác động của bối cảnh thay đổi và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực cần thiết để đảm bảo rằng các mục tiêu, hướng đích đó sẽ được thực hiện trong khoảng thời gian

đã định

Bản thân chiến lược phát triển có nhiều loại, nhiều cấp Chẳng hạn, mỗi quốc gia nên và cần có chiến lược về phát triển của quốc gia mình; mỗi doanh nghiệp, ngành, vùng có chiến lược phát triển ngành, vùng mình Một chiến lược phát triển phải được tổ chức thực thi tốt để đạt được mục tiêu thì chiến lược ấy mới trở thành hiện thực Do đặc điểm riêng của mình, một số mục tiêu của chiến lược phát triển có thể được triển khai thực hiện bằng chương chình phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy các chương trình dài hạn và trung hạn thường được

Trang 13

xác định dựa vào chiến lược phát triển và nhằm thực hiện một mục tiêu nào đó của chiến lược phát triển Ở đây, chương trình được xem là một kênh thực hiện chiến lược phát triển

1.2 Nội dung của chiến lược phát triển

Theo các chuyên gia về chiến lược phát triển thì nội dung cơ bản của bất

kỳ chiến lược phát triển nào cũng bao gồm các tổ hợp, các yếu tố như sau:

- Cơ sở xây dựng chiến lược

+ Nghiên cứu những kinh nghiệm trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội Đây là những bài học kinh nghiệm trong quá trình phát triển đã qua của đất nước, nhất là trong khoảng 10 năm thực hiện chiến lược liền kề với thời kỳ chiến lược mới Mặt khác, kinh nghiệm thực hiện chiến lược của thế giới và khu vực, đặc biệt là các nước đang phát triển có điều kiện tương tự như nước ta và các sự kiện quốc tế (như sự sụp đổ của chế độ XHCN ở nhiều nước; sự khủng hoảng tài chính, tiền tệ ) có giá trị lớn để nghiên cứu, tham khảo, rút kinh nghiệm khi xây dựng chiến lược

+ Xác định điểm xuất phát về kinh tế - xã hội, tức là cần đánh giá thực trạng thời điểm mở đầu khi xây dựng chiến lược Trong bước này cần phân tích, đánh giá để trả lời cho câu hỏi nền kinh tế đang ở giai đoạn nào và trình độ thế nào của quá trình phát triển và trong sự so sánh với quốc tế? Để trả lời câu hỏi này cần phải làm rõ hai nội dung, đó là: thứ nhất là chúng ta đang ở đâu so với chính mình (vị trí tuyệt đối) và đang ở đâu so với các quốc gia khác (vị trí tương đối) Mức độ cụ thể và đầy đủ của những yếu tố cấu thành của điểm xuất phát cần được xem xét theo quan điểm then chốt (những vấn đề quan trọng nhất, chứ không nhất thiết phải đặt lên bàn tất cả những vấn đề có thể xem xét) với cái nhìn phân tích, xét đoán (chứ không phải là mô tả trạng thái hiện tại) một cách tổng quát

+ Đánh giá và dự báo bối cảnh quốc tế, những tác động bên ngoài như quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa, nguồn vốn bên ngoài và khả năng mở rộng hợp tác quốc tế, khả năng mở rộng khoa học công nghệ

Từ các kết quả trên, phân tích được những thuận lợi, thời cơ, thách thức

và khó khăn đối với sự phát triển

- Hệ quan điểm cơ bản của chiến lược

Trang 14

Các quan điểm này vừa có ý nghĩa chỉ đạo xây dựng chiến lược, vừa là những tư tưởng và “linh hồn” của bản chiến lược mà trong từng phần nội dung của bản chiến lược phải thể hiện và quán triệt Hệ thống quan điểm thể hiện những nét khái quát và đặc trưng nhất và có tính nguyên tắc về mô hình và con đường phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hướng tới mục tiêu lâu dài Việc xác định hệ quan điểm chủ đạo khi xây dựng chiến lược có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tìm ra các bước ngoặt của con đường phát triển, nó tạo động lực cơ bản xuyên suốt quá trình phát triển của đất nước

- Hệ thống mục tiêu chiến lược

Đây là mục tiêu gắn với việc giải quyết các vấn đề cơ bản của kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, như tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi cơ cấu, xóa đói, giảm nghèo, hội nhập kinh tế quốc tế, và rút ngắn khoảng cách với các nước Những mục tiêu này phải thể hiện một cách tập trung sự biến đổi quan trọng về chất của nền kinh tế và đời sống xã hội, những mốc mới phải đạt tới trên con đường phát triển của đất nước

- Định hướng và giải pháp của chiến lược

+ Định hướng và giải pháp về cơ cấu kinh tế: Đây là cơ cấu ngành và là lĩnh vực chủ yếu, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu lãnh thổ của nền kinh tế, cơ cấu công nghệ gắn liền với cơ cấu sản xuất của nền kinh tế Có ý kiến cho rằng

cơ cấu kinh tế là một nội dung cơ bản của chiến lược, vừa thể hiện mục tiêu, vừa thể hiện giải pháp để đạt mục tiêu Cơ cấu kinh tế là yếu tố cấu thành cơ bản cuả hệ thống kinh tế - xã hội Mặc dù vậy, cơ cấu kinh tế không tự nó nói lên cái đích cuối cùng của sự vận động trong hệ thống kinh tế - xã hội Để đạt đến mục tiêu cuối cùng, hệ thống cơ cấu kinh tế không chỉ cần đến cơ cấu của

nó mà cần đến những cơ chế vận động của nó Cùng một cơ cấu kinh tế hoặc cơ cấu kinh tế gần giống nhau có thể đạt tới những mục tiêu kinh tế - xã hội khác nhau Điều này có thể thấy rõ sự khác nhau giữa con đường phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta đang theo đuổi khác với kinh tế thị trường ở các nước tư bản hiện nay Do đó, cơ cấu kinh tế chỉ nên xem là giải pháp của chiến lược

+ Giải pháp về cơ chế hoạt động của nền kinh tế xã hội, tức là chính sách

và thể chế quản lý kinh tế, xã hội Đây là những giải pháp có ý nghĩa tạo ra động lực và khai thác, huy động các nguồn lực trong và ngoài nước vào sự phát

Trang 15

triển kinh tế, xã hội Không có các giải pháp này thì chiến lược chỉ đơn thuần xem như là ý tưởng và nguyện vọng, không mang tính khả thi

Như vậy, việc xây dựng một chiến lược phát triển đất nước cũng tức là việc hoạch định đường đi nước bước trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của quá trình phát triển đất nước để hướng sự nỗ lực của toàn xã hội theo những mục tiêu xác định là nhu cầu khách quan Do đó, trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cần phải xác định được:

- Đang đứng ở đâu? ( Bối cảnh và thực trạng)

- Cần đi đến đâu? ( Mục tiêu: tổng quát, cụ thể)

- Quan điểm và nguyên tắc nào cần quán triệt? (Quan điểm chỉ đạo)

- Đi theo phương hướng nào? (Phương hướng cơ bản)

- Đi bằng cách nào? (Giải pháp cơ bản)

Đây chính là nội dung của một chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên

10 năm Trên cơ sở đó sẽ chia thành những chặng đường nhỏ - trong mỗi chặng đường, ngoài năm nội dung trên còn phải xác định thêm cơ chế chính sách và các lực lượng hỗ trợ cũng như những khâu trọng điểm, các giải pháp cụ thể - thông qua các kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm

Như vậy, sơ đồ hình thành mối quan hệ giữa các yếu tố chiến lược được

mô tả như sau:

Các căn cứ của chiến lược

Hệ quan điểm

Hệ mục tiêu chiến lược

Định hướng và giải pháp

chiến lược

Trang 16

1.3 Một số loại hình chiến lược phát triển

- Chiến lược phát triển truyền thống

Chiến lược phát triển truyền thống được xem là chiến lược phát triển có đặc trưng: chỉ theo đuổi tốc độ tăng trưởng tổng giá trị sản xuất quốc dân Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đại đa số các nước đang phát triển áp dụng chiến lược này Mục đích áp dụng chiến lược phát triển truyền thống là nhằm làm cho quốc gia nhanh chóng trở thành nước phát triển đạt được mục tiêu về giá trị sản xuất tính theo bình quân đầu người Vì vậy, chiến lược này còn gọi là “chiến lược đuổi và vượt” Thực tiễn chứng minh rằng theo đuổi chiến lược phát triển truyền thống thường vấp phải tình trạng trong khi đẩy mạnh tốc độ phát triển thì liên tiếp xảy ra lạm phát, thiết hụt ngân sách, phân phối không công bằng, kết cấu mất cân đối, do đẩy mạnh phát triển ngành chế tạo, cho nên sản xuất nông nghiệp tụt hậu, trong khi đó dân số tăng nhanh, không đủ lương thực để cung cấp; do coi nhẹ phát triển cân đối nhịp nhàng giữa kinh tế và xã hội, cho nên giáo dục, khoa học, y tế, văn hóa phát triển chậm, đô thị hóa phát triển một cách méo mó, môi trường suy thoái, thêm vào đó là thu hút vốn quá nhiều, nợ nần chồng chất, buộc những nước này phải điều chỉnh chiến lược, áp dụng chiến lược phát triển mới

- Chiến lược phát triển mới hoặc thay thế

Sau những năm 70 của thế kỷ XX, nhiều nước đang phát triển áp dụng chiến lược phát triển mới hoặc thay thế, nhấn mạnh lấy việc thỏa mãn nhu cầu

cơ bản của nhân dân làm mục đích quan trọng hàng đầu; cho rằng không thể coi phát triển kinh tế chỉ là tăng trưởng kinh tế, khi tăng đầu ra thì đồng thời phải tối ưu hóa kết cấu kinh tế và cải thiện điều kiện phát triển; từ chỗ coi trọng vai trò của tư bản vật chất khi phát triển kinh tế, chuyển sang coi trọng vai trò của các nhân tố thể chế, kết cấu và phát triển tư bản nhân lực đối với phát triển kinh

tế Đây là loại chiến lược có rất nhiều điều mà Việt Nam có thể tham khảo

- Chiến lược phát triển phi cân đối

Các quốc gia trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển, do nguồn lực luôn ở trong tình trạng khan hiếm, nên không thể đủ nguồn lực để đáp ứng mọi nhu cầu đầu tư thực hiện mọi mục tiêu của quá trình phát triển mà phải chấp nhận sự “bất bình đẳng” tương đối để thực hiện các mục tiêu theo thứ tự ưu

Trang 17

tiên

Trung Quốc là trường hợp khá điển hình của việc thực hiện chiến lược này Ở Trung Quốc, người ta hình thành hệ thống nghiên cứu chiến lược từ Trung ương tới địa phương Ở cấp Trung ương, có Trung tâm Nghiên cứu phát triển thuộc Quốc vụ viện, ở các Bộ đều có bộ phận chịu trách nhiệm nghiên cứu chiến lược và ở cấp địa phương, mỗi tỉnh đều có một cơ quan nghiên cứu phát triển

Trung tâm Nghiên cứu phát triển thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc đã nghiên cứu xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội dài hạn của Trung Quốc đến năm 2020 và 2050 Chiến lược phát triển dài hạn của Trung Quốc đề ra một viễn cảnh mà Ban lãnh đạo nhà nước và nhân dân Trung Quốc muốn đạt đến sau một thời kỳ nhất định Ý tưởng chiến lược được nhiều bộ, ngành tham gia xây dựng, được lựa chọn trên cơ sở ý kiến đóng góp của cả khu vực nhà nước và tư nhân và cuối cùng được trình lên Quốc hội xem xét để làm căn cứ chỉ đạo chung Sau đó ý tưởng chiến lược ấy được phản ánh trong các Văn kiện của Đảng Cộng sản, của Chính phủ Trung Quốc và được các nhà lãnh đạo cao nhất chính thức phát biểu tại những hội nghị lớn Các ngành, địa phương lấy đó làm cơ sở để định hướng phát triển và hoạch định chính sách phát triển

Chiến lược phát triển của đất nước chỉ đưa ra mục tiêu tổng quát (có thể bằng một chỉ tiêu cụ thể nào đó như GDP/người), không đưa ra các chỉ tiêu cụ thể về tăng trưởng GDP, cơ cấu ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ), cơ cấu việc làm, lao động, v.v cho từng thời điểm trong tương lai

Họ nêu ra một cái đích chung mà người Trung Quốc muốn đạt được và những biện pháp mà họ cần thực hiện để biến điều đó thành hiện thực, đó là xây dựng đất nước khá giả trên cơ sở phát triển khoa học, phát triển hài hòa, phát triển tự chủ sáng tạo và phát triển cùng thời đại

Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, Chính phủ Trung Quốc đi theo quan điểm phát triển cân đối (đồng đều giữa các ngành, các vùng) nên không phát huy hết thế mạnh của các vùng có tiềm năng, lợi thế của đất nước để thúc đẩy được sự tăng trưởng kinh tế của cả nước Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường mang màu sắc Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc đã thay đổi chủ trương phát triển và đi theo quan điểm mà nhiều học giả cho là phát

Trang 18

triển phi cân đối, khuyến khích và tạo điều kiện cho các vùng có tiềm năng phát triển nhanh hơn hẳn các vùng khác và trở thành động lực thúc đẩy và lôi kéo sự phát triển của các vùng ít tiềm năng hơn; tạo nguồn lực để đầu tư vào các vùng kém phát triển hơn; đồng thời, tập trung đầu tư phát triển những ngành mà Trung Quốc có lợi thế Với quan điểm phát triển này, từ thập kỷ 80 của thế kỷ

XX, Chính phủ Trung Quốc có các chính sách tạo điều kiện phát triển mạnh những ngành chủ đạo như điện, điện tử, công nghệ thông tin, sản xuất vật liệu cũng như dồn sức thúc đẩy sự phát triển vùng miền Duyên hải phía Đông Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX, Trung Quốc xây dựng bốn đặc khu kinh tế

là Thâm Quyến, Chu Hải, Sơn Đầu, Hạ Môn và tiếp đó cho phép 14 thành phố

ở miền Đông mở cửa vào năm 1984 Tiếp theo là khu kinh tế mở Phố Đông được thành lập vào năm 1992 và Khu kinh tế Hải Nam ra đời vào năm 1995 Theo các báo cáo của Trung Quốc thì khu vực Duyên hải phía Đông đã tạo ra khoảng 2/3 GDP và thu hút khoảng trên 2/3 FDI của cả nước Trung Quốc Ba quyết sách chủ yếu đối với khu vực phía Đông là: đầu tư nước ngoài là chính, công nghệ cao là chính và sản xuất sản phẩm xuất khẩu là chính Mặt khác, Trung Quốc đi theo đường lối “một số người giàu trước” cũng thể hiện quan điểm phát triển phi cân đối đã được đề cập ở trên

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc chấp nhận phát triển phi cân đối đã tạo ra sự khác biệt ngày càng lớn về mức sống giữa các vùng miền, giữa các tầng lớp dân cư; cách biệt giữa hai miền Đông và miền Tây là rất rõ (theo số liệu công bố của các cơ quan chức năng Trung Quốc vào những năm đầu của thế kỷ XXI, miền Tây chiếm 60% tổng diện tích và 30% dân số cả nước nhưng GDP chiếm chưa đầy 20% của cả nước, bình quân GDP đầu người chỉ bằng 60% mức trung bình cả nước và chỉ bằng 40% GDP đầu người của khu vực miền Đông) Nhằm giảm bớt sự chênh lệch giữa hai miền Đông và miền Tây, trong những năm gần đây, Chính phủ Trung Quốc đã đề ra chiến lược khai phát miền Tây trên quan điểm “phát triển miền Tây nhưng không làm cản trở miền Trung và miền Đông” Nhà nước cho phép các thành phố ở vùng miền Tây mở cửa, thành lập các khu chế xuất và khu công nghệ cao giống như ở miền Đông Quan điểm tăng cường phát triển miền Tây được thể hiện rất rõ trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ 10 và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ 11 (2006-2010) của Trung Quốc, bao gồm một chương trình khai phát miền Tây do Chính phủ Trung ương đầu tư là chính, tập trung vào

Trang 19

năm lĩnh vực:

- Phát triển kết cấu hạ tầng (sân bay, đường sắt, đường cao tốc, quốc lộ );

- Xây dựng các công trình sinh thái (trồng rừng, đồng cỏ );

- Phát triển giáo dục cơ sở;

- Điều chỉnh cơ cấu ngành nghề theo hướng chuyển từ công nghiệp khai thác mỏ sang công nghiệp chế biến;

- Mở cửa toàn diện, cải cách triệt để, những chính sách mở cửa đã dùng cho phía Đông nay được sử dụng cho phía Tây

Trong Chương trình khai phát miền Tây, những công trình thuộc 5 lĩnh vực này được xác định tên cụ thể, xây dựng ở đâu và tốn bao nhiêu tiền, v.v Vào đầu năm 2005, sau khi miền Đông và miền Tây được chú trọng phát triển đã có bước chuyển biến tích cực, kinh tế có sự phát triển tương đối mạnh thì xuất hiện tình trạng miền Trung không được đầu tư thích đáng và đương nhiên là tiềm năng của miền Trung chưa được phát huy có hiệu quả Trước tình hình đó, Chính phủ Trung Quốc đã kịp thời đề ra chiến lươc miền Trung trỗi dậy với chủ trương tăng cường đầu tư cho miền Trung Đồng thời, gần đây khi thấy các vùng nêu trên đã có sự phát triển tốt, Chính phủ Trung Quốc đưa ra chiến lược chấn hưng vùng Đông Bắc Có thể nhận thấy rất rõ rằng, Trung Quốc điều chỉnh chiến lược phát triển vùng theo quan điểm phát triển phi cân đối, có trọng tâm, trọng điểm Thực tế cho thấy cách làm của họ đem lại kết quả cũng như hiệu quả tốt

- Chiến lược phát triển bền vững

Phát triển bền vững thực sự là vấn đề sống còn của nhân loại, là đòi hỏi bức xúc cũng là thách thức gay gắt đối với các quốc gia Từ những năm 60 của thế kỷ XX trở đi, trên thế giới dân số tăng mạnh, môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên cạn kiệt, v.v người ta đã nghĩ tới chiến lược phát triển bền vững dựa trên sự phát triển ở trình độ cao hơn với những mũi nhọn của khoa học - công nghệ và trí tuệ con người

Đến những năm 80 của thế kỷ XX lý luận phát triển bền vững được hình thành về cơ bản Năm 1980, trong báo cáo “chiến lược bảo vệ thế giới” lần đầu tiên người ta chính thức sử dụng khái niệm “phát triển bền vững” Năm 1983,

Trang 20

Liên hợp quốc thành lập Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED) Năm 1987, tổ chức này đã đệ trình lên “Hội nghị môi trường và phát triển của Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 42” bản báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, báo cáo này lần đầu tiên chính thức sử dụng khái niệm phát triển bền vững

là “thỏa mãn nhu cầu của thế hệ chúng ta hôm nay nhưng không gây phương hại đến thỏa mãn nhu cầu của những thế hệ sau” Phát triển bền

vững là phát triển có được sự bền vững cả trong kinh tế, trong xã hội và môi trường Phát triển bền vững của một quốc gia phải được đặt trong sự phát triển bền vững của các nước trên thế giới

Chương trình Nghị sự 21 của Chính phủ Việt Nam chính là văn kiện phản ánh chiến lược phát triển bền vững, tăng tốc kinh tế gắn với xóa đói giảm nghèo Đây là lần đầu tiên Việt Nam có chiến lược phát triển bền vững, coi

trọng cả yếu tố chiến lược là kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và ổn định chính trị; nguồn nhân lực, tài nguyên và khoa học - công nghệ được đặc biệt coi

trọng

Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam có nội hàm bền vững đối với phát triển kinh tế, bền vững đối với phát triển xã hội, bền vững đối với phát triển văn hóa, bền vững đối với môi trường sinh thái và bền vững đối với chế độ

xã hội

1.4 Vai trò của chiến lược phát triển

Không phải ngẫu nhiên mà khái niệm chiến lược lại được chuyển nhanh

từ quân sự, chính trị sang kinh tế, xã hội Nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nền kinh tế của mỗi nước trở thành một mắt xích trong hệ thống kinh tế thế giới, việc xây dựng và quản lý bằng chiến lược phát triển là một yêu cầu bức thiết đặt ra và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mọi quốc gia Sự cần thiết phải có chiến lược phát triển được

lý giải bởi những lý do sau:

Thứ nhất, xuất phát tính cạnh tranh ngày càng sâu sắc của nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế: Nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế làm cho mỗi quốc gia trở thành một khâu trong chuỗi dây chuyền giá trị toàn cầu, điều đó tạo nhiều cơ hội để các nước có thể nhanh chóng thực hiện được các mục tiêu phát triển Tuy vậy, nó cũng tạo ra những thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, vì thị trường chính là chiến trường Tính chất cạnh

Trang 21

tranh trở nên ngày càng khốc liệt hơn đòi hỏi mỗi quốc gia phải chủ động trong quá trình lựa chọn, xác định tầm nhìn bao quát, tìm ra hướng đi trong dài hạn Như vậy, xây dựng và quản lý bằng chiến lược phát triển sẽ giúp cho các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chủ động xem xét và xác định đất nước sẽ đi theo hướng nào và khi nào thì đạt tới cơ sở cho sự thành công và chiến thắng trên bước đường thực hiện mục tiêu phát triển của mình một cách có hiệu quả nhất Thứ hai, những hạn chế, bất cập của nền kinh tế thị trường: Trong điều kiện kinh tế thị trường mở, điều kiện môi trường mà các quốc gia phải đối mặt luôn biến đổi nhanh chóng, những biến đổi nhanh chóng thường tạo ra hay làm mất đi những cơ hội và nguy cơ bất ngờ trong các yếu tố môi trường phát triển

Do đó, phương thức quản lý bằng chiến lược giúp các nhà hoạch định chủ động

và kịp thời dự báo, tính toán và xác định cơ hội và thách thức, nhằm tận dụng và khai thác triệt để cơ hội, giảm thiểu tác động tiêu cực cuả thách thức để thể hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai

Thứ ba, chiến lược cung cấp một tầm nhìn và khuôn khổ chung xây dựng

và triển khai các văn bản hoạch định ở các cấp thấp hơn: Chiến lược là cơ sở cho việc xây dựng chính sách, quy hoạch và kế hoạch ngắn hạn, trung hạn Chiến lược cung tấp tầm nhìn và khuôn khổ tổng quát cho việc thực hiện các quan hệ hợp tác hay hội nhập quốc tế một các chủ động và có hiệu quả

2 Khái niệm, tính chất cơ bản của chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số

2.1 Quan điểm của Lênin và Hồ Chí Minh về chiến lược phát triển các dân tộc

Trên cơ sở kế thừa các tư tưởng, quan điểm của Mác và thực tiễn nghiên cứu tình hình dân tộc dưới chế độ Nga Hoàng, Lênin đã rút ra những vấn đề, nguyên tắc cơ bản trong chính sách, giải quyết các vấn đề dân tộc của Đảng cộng sản Bônsêvich Ông đã đưa ra những vấn đề có tính chất nguyên tắc rất quan trọng để giải quyết vấn đề dân tộc trong thời đại của mình là “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng” Ngay từ thời kỳ này, Lênin đã quan niệm và giải quyết vấn đề dân tộc phải thực sự bình đẳng, toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa Ông cho rằng “Người nào không thừa nhận và không bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc, bình đẳng về ngôn ngữ, không đấu tranh chống mọi áp bức hay mọi bất bình đẳng dân tộc thì người đó không phải là người mác-xít, thậm

Trang 22

chí cũng không phải là người dân chủ nữa”1

Vấn đề dân tộc là cả hệ tư tưởng lớn của Lênin Ông đã kế thừa, bổ sung những quan niệm của Mác và Ăngghen, phát triển thành những quan niệm mang tính hệ thống của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc Ông đề cao sự công bằng, bình đẳng xã hội trong quan hệ dân tộc ở những điều kiện lịch sử khác nhau Lênin đã nêu rõ quan điểm cần thiết phải xây dựng những quy tắc và phải sớm có bộ luật thật chi tiết về vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc, để tránh sự lạm dụng và những sai lầm trong hoạt động thực tiễn do ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc Lênin đã đề cập rất nhiều vấn đề dân tộc trong nhiều tác phẩm của mình, ông luôn khẳng định các dân tộc hoàn toàn bình đẳng và cần phải liên hiệp công nhân của tất cả các dân tộc lại

Mặc dù không đề cập trực tiếp đến thuật ngữ “chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số”, nhưng trong tư tưởng của Lênin đã thể hiện một quan điểm, tầm nhìn dài hạn về phát triển bền vững các dân tộc là “quyền bình đẳng giữa các dân tộc” và xây dựng luật dân tộc…” Cho đến ngày nay, quyền bình đẳng giữa các dân tộc vẫn luôn luôn là chiến lược và sách lược phát triển đất nước của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Và để thực hiện được tốt quyền bình đẳng giữa các dân tộc, nhiều nước đã và đang xây dựng luật dân tộc để điều phối và đề ra các nguyên tắc ứng xử giữa các dân tộc

Tiếp tục kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lựa chọn cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản Trong tư tưởng của Người luôn chứa đựng một cách nhìn toàn diện về dân tộc, trong đó “Bình đẳng, đoàn kết các dân tộc” là hạt nhân để giải quyết mối quan

hệ giữa các dân tộc Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại

Plâycu, ngày 19 tháng 4 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt, chúng

ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau Chúng ta phải thương yêu nhau,

      

1 V I Lênin: Ý kiến phê phán về vấn đề dân tộc Nxb Sự thật, Hà Nội-1963, tr 20

Trang 23

phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu cầu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta”2

Để cụ thể thành hành động, Người đã chỉ đạo Đảng, Chính phủ cần phải

có kế hoạch dài hạn để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội miền núi; đồng bào miền xuôi phải giúp đỡ đồng bào miền ngược Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, người cũng chỉ ra rằng, đồng bào các dân tộc thiểu số cũng phải không ngừng vươn lên về mọi mặt kinh tế - xã hội, văn hóa…

Đoàn kết các dân tộc là một trong những di sản tư tưởng quan trọng của

Hồ Chí Minh đối với vấn đề dân tộc ở Việt Nam Ý nghĩa thực tiễn, đúng đắn

ấy có giá trị to lớn, được Đảng và Nhà nước ta vận dụng sáng tạo trong suốt thời kỳ lịch sử phát triển đất nước Ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng, cơ sở để Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chính sách, chương trình cụ thể phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số

Như vậy, nghiên cứu quan điểm của Lê nin và Hồ Chí Minh về vấn đề dân

tộc cho thấy, mặc dù trong các tác phẩm của mình không sử dụng thuật ngữ

“chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số” hay không có “mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp… về giải quyết vấn đề dân tộc” như trong nội dung các bản chiến

lược, nhưng những tư tưởng, quan điểm ấy đều có tính chiến lược rất cao, thể hiện một tầm nhìn dài hạn về vấn đề dân tộc Đến nay đã hơn một thế kỷ trôi qua, để phát triển đất nước quan điểm “các dân tộc bình đẳng, đoàn kết” vẫn còn nguyên giá trị Điều này đặt ra đối với việc xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số phải nghiên cứu xem xét, lựa chọn và đưa vào phần quan điểm cho phù hợp

2.2 Khái niệm về chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số

Cho đến nay chưa có từ điển, hay học giả nào bàn luận và giải nghĩa về thuật ngữ “chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số” Thực chất đây là một loại hình chiến lược phát triển đã được xác định cụ thể, có đối tượng là sự phát triển của các dân tộc thiểu số Từ thực tiễn quan niệm về chiến lược phát triển, các quan điểm về dân tộc và phát triển các dân tộc, chúng tôi xin nêu khái niệm về chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số như sau:

“Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số là xác định các mục tiêu,

      

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội-2000

Trang 24

phương hướng, giải pháp trong dài hạn, nhằm phát triển các dân tộc thiểu số theo nguyên tắc các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”

Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số là công cụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc, phản ánh các vấn đề mang tính quy luật, được dự báo một cách khoa học, để chỉ đạo quá trình phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cộng đồng các dân tộc

Một số vấn đề quan trọng cần chú ý khi bàn về thuật ngữ chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số

Thứ nhất, Quan điểm đường lối cơ bản về phát triển các dân tộc thiểu số

được phản ánh trong tư tưởng chiến lược và hệ thống các quan điểm chỉ đạo thông qua các mục tiêu, phạm vi bao quát của chiến lược và những nhiệm vụ cơ bản phải thực hiện để đạt được những mục tiêu đó

Thứ hai, Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số phải được đảm bảo đầy

đủ, kịp thời các phương tiện vật chất và tinh thần để biến các mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ chiến lược thành hiện thực

Thứ ba, việc điều hành và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển các dân

tộc thiểu số có ý nghĩa quan trọng, nó có tính quyết định tới việc biến các ý tưởng, quan điểm và mục tiêu chiến lược trở thành hiện thực

Như vậy, khi nói về chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số là nói tới chiến lược về sự phát triển của một hệ thống, chiến lược dẫn dắt hệ thống đó phát triển đúng hướng và có kết quả mong muốn Muốn hệ thống vận động theo hướng có lợi thì phải điều khiển nó, muốn điều khiển nó phải nắm được quy luật vận động của nó và điều hành nó theo quy luật ấy Việc nắm bắt quy luật vận động và cụ thể hóa các quy luật thành chiến lược phát triển cho hệ thống là vấn đề quan trọng và có tính bắt buộc đối với sự phát triển của hệ thống nào đó

và của các hệ thống cùng cấp với nó cũng như sự phát triển của hệ thống lớn mà

nó trực thuộc

2.3 Tính chất cơ bản của chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số

- Thể hiện tính lãnh đạo

Trang 25

Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu trong bất kỳ loại chính chiến lược

phát triển nào Bởi vì việc xây dựng chiến lược phát triển phải dựa trên tư tưởng chỉ đạo của Nhà nước, việc thực hiện chiến lược sẽ mang lại lợi ích cho ai, vấn

đề công bằng xã hội được giải quyết như thế nào, đạt được đến đâu Tất cả những vấn đề đó được xuyên suốt trong chiến lược và nó thể hiện rất rõ quan điểm lãnh đạo của giai cấp thống trị Đối với Việt Nam, Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số cần quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng về vấn đề dân

tộc là “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”

- Tính hệ thống

Quả thực đối tượng của chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số là các vấn đề liên quan về phát triển kinh tế - xã hội, đây là cả một hệ thống rất lớn, bao gồm rất nhiều các hợp phần luôn luôn tồn tại và vận động không ngừng, có mối quan hệ chặt chẽ, tương tác với nhau Nếu trong quá trình thực hiện có sự tác động dù là rất nhỏ lên một hợp phần nào đó thì nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ hệ thống và gây ra hiệu ứng rõ rệt Đây là tính chất quan trọng chúng ta cần nắm rõ, để trong quá xây dựng, hay thực thi chiến lược phải biết lựa chọn những vấn đề có tính mấu chốt, gây đột phá mạnh mẽ cho cả hệ thống để thực thi

- Tính bao quát

Đối với Việt Nam, một quốc gia có nhiều dân tộc chung sống trên phạm

vi toàn lãnh thổ Vì vậy Chiến lược phát triển các dân tộc là một văn bản lớn, bao quát và định hướng cơ bản các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số Chiến lược không phải là bản kế hoạch hay quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung và dài hạn, bởi vì tính lượng hoá, tính cụ thể của các hợp phần không cao, chỉ vừa đủ cung cấp những cơ sở khoa học cho chủ trương, đường lối để hướng dẫn thực hiện Tuy nhiên mục tiêu của chiến lược lại rõ ràng, hệ thống các chỉ tiêu được lượng hoá, hướng dẫn tổ chức thực hiện cụ thể, đủ để các cấp các ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển cho phù hợp

- Tính lựa chọn

Trang 26

Đối với mỗi chiến lược phát triển nói chung và chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số nói riêng, đều có một thời kỳ nhất định để thực hiện, 10 năm hoặc 20 năm tuỳ thuộc trình độ, tầm nhìn của người làm chiến lược và tình hình thực tế Nguồn lực phát triển bao giờ cũng có hạn Đất nước bao giờ cũng tồn tại những vấn đề lớn cần giải quyết Vì vậy, trong quá trình thực hiện chiến lược, nhiều vấn đề do không dự báo được hết, hoặc phát sinh, bối cảnh trong và ngoài nước thay đổi Khi đó người thực thi chiến lược sẽ phải lựa chọn những vấn đề then chốt để thực hiện

-Tính linh hoạt và mềm dẻo

Trước khi xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số, do trình độ của người xây dựng có hạn nên rất có thể việc dự báo, xác định các nguồn lực thực hiện không được đầy đủ, có thể trong quá trình thực hiện nảy sinh nhiều vấn đề mới Đồng thời, thế giới thường diễn biến khó lường, thuận lợi và bất lợi

có thể thay đổi… khó có thể dự báo chính xác Vì vậy Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số phải có khả năng điều chỉnh nhanh, thích ứng rộng phù hợp với hoàn cảnh mới

3 Kinh nghiệm xây dựng chiến lược phát triển trong nước và quốc tế

3.1 Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam

Các Bộ ngành ở nước ta khi xây dựng chiến lược đều thống nhất quy trình xây dựng chiến lược chung còn nội dung, phương pháp xây dựng của từng ngành thì lại mang tính chất đặc thù riêng của ngành đó

* Cơ sở khoa học xây dựng hệ thống quan điểm cơ bản của chiến lược

- Phân tích, đánh giá, dự báo các yếu tố bên trong của nền kinh tế

+ Đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội 10 năm qua (1991 -2000)

và thực trạng (điểm xuất phát) của nền kinh tế nước ta khi bước vào chiến lược mới: Để định ra những quan điểm và nội dung cơ bản của chiến lược mới cần nhìn lại chiến lược 10 năm qua và xác định thực trạng (điểm xuất phát) của nền kinh tế Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình hoạch định chiến lược mới, là việc khẳng định những thành tựu cơ bản để phát huy và những tồn tại chủ yếu cần khắc phục, đồng thời rút ra những bài học kinh

Trang 27

nghiệm chính, xác định điểm xuất phát của tiến trình phát triển mới cuả đất nước Nội dung chủ yếu là:

+ Đánh giá, dự báo các yếu tố nguồn lực

Bao gồm vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, dân số và lao động, kinh nghiệm đổi mới, nguồn lực trong dân có ý nghĩa hết sức quan trọng và là cơ sở cho việc hoạch định hướng đi đúng đắn của chiến lược Các yếu tố nguồn lực được tính đến khi hoạch định chiến lược dựa trên cơ sở phân tích đánh gía, dự báo tổng hợp có tính khả thi và hiệu quả trên quan điểm nền kinh tế mở, đó là:

1 Vị trí địa lý thuận lợi là điều kiện để thực hiện chiến lược “mở cửa” và “hội nhập” 2 Tài nguyên thiên nhiên đa dạng là điều kiện để phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tương đối đa dạng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

+ Yếu tố dân số và lao động - nguồn nhân lực

Đây vừa là điều kiện, vừa là mục tiêu tác động đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Là yếu tố quan trọng bậc nhất trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta

+ Tích lũy vốn nội bộ nền kinh tế có tiến bộ, vốn nhàn rỗi trong dân còn khá là yếu tố thuận lợi trong chiến lược phát triển

+ Các bài học kinh nghiệm thời kỳ qua cần được chú ý trong chiến lược phát triển 10 năm tới

- Các yếu tố bên ngoài: dự báo bối cảnh quốc tế và khu vực

+ Xu thế hòa bình và hợp tác

+ Tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ

+ Toàn cầu hóa và khu vực hóa

+ Những xu hướng biến đổi môi trường và yêu cầu phát triển bền vững toàn cầu tác động đến Việt Nam

- Quan điểm phát triển và tư tưởng chỉ đạo

+ Chiến lược trước hết phải quán triệt tư tưởng phát triển nhanh và bền vững: Phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững, phát triển bền vững phải bao trùm các mặt của đời sống xã hội, tức là phải gắn kết sự phát triển kinh

Trang 28

tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, gìn giữ và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Bảo vệ và cải thiện môi trường vừa là nhiệm vụ bức xúc vừa là vấn đề chiến lược lâu dài

+ Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng nền tảng của một nước công nghiệp là yêu cầu bức thiết trong chiến lược tới

+ Đẩy mạnh hơn nữa công cuộc đổi mới một cách sâu rộng và đồng bộ,

cả về kinh tế, xã hội và bộ máy nhà nước

* Cơ sở khoa học hình thành mục tiêu tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020

- Xác định những quan hệ kinh tế cơ bản đã hình thành làm căn cứ xác định tốc độ phát triển kinh tế cho giai đoạn sau:

+ Quan hệ tích lũy và tiêu dùng

+ Quan hệ giữa tăng trưởng GDP và xuất khẩu

+ Vai trò của FDI trong phát triển

+ Tác động của nguồn vốn ODA

+ Hiệu quả vốn đầu tư

+ Tăng trưởng các ngành

- Xác định tác động khủng hoảng kinh tế và khu vực

+ Tác động của khủng hoảng kinh tế

+ Tiềm lực kinh tế của Việt Nam

- Đánh giá một số tác động quốc tế đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

- Lựa chọn phương án tăng trưởng và cơ cấu kinh tế ở Việt Nam

+ Phương án tăng trưởng bền vững với mức khả thi cao

+ Tăng trưởng ở mức cao

+ Tăng trưởng trong điều kiện không thuận lợi

Trang 29

* Cơ sở khoa học xác định khả năng phát triển các ngành, lĩnh vực và vùng kinh tế nhằm đạt mục tiêu đã đề ra

- Phát triển các ngành: nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ

- Phát triển nguồn nhân lực

- Phát triển các vùng lãnh thổ

+ Cơ sở khoa học để hoạch định chuyển đổi cơ cấu vùng, lãnh thổ

+ Định hướng chiến lược vùng, lãnh thổ

* Cơ sở khoa học để xác định các giai đoạn của chiến lược: Có hai cách để xác định các giai đoạn của chiến lược

- Cách thứ nhất: xác định thời gian là 5 năm hoặc 10 năm (thường là theo thời đoạn nửa thập niên) để từ đó định ra mục tiêu và hướng phát triển Đây là cách thông dụng nhất

- Cách thứ hai: Phân chia các giai đoạn phát triển không đơn thuần là xác định chủ quan các mốc thời gian mà phải xác định được những giai đoạn có sự thay đổi về chất trong quá trình phát triển Các giai đoạn này không ấn định thời gian giống nhau (có thể giai đoạn này là 6 năm, giai đoạn khác là 9 năm…) mà quan trọng là xác định khoảng thời gian có ý nghĩa bước ngoặt trong phát triển kinh tế hoặc thời gian hoàn thành một nhiệm vụ có tính bước ngoặt trong cả quá trình phát triển

3.2 Chiến lược Hưng biên phú dân và Quy hoạch “Thập nhất ngũ” trong sự nghiệp phát triển dân tộc thiểu số của Trung Quốc

3.2.1 Chiến lược Hưng biên phú dân

Một trong những chương trình (hay còn gọi là chiến lược – Nguyễn Văn Căn, 2008) đạt được những thành tựu quan trọng trong khoảng 10 năm trở lại đây đối với các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc là chiến lược “Hưng biên phú dân”

Ở Trung Quốc có tất cả 135 huyện biên giới, trong đó có 107 huyện thuộc các khu “tự trị dân tộc” có dân số các dân tộc thiểu số chiếm gần 50% dân số của vùng biên, nghĩa là khoảng 10 triệu người Đời sống của nhân dân các dân tộc thiểu số ở đây còn nhiều khó khăn, do vậy năm 1998 Ủy ban Dân tộc Trung ương của Trung Quốc đã đưa ra chiến lược “Hưng biên phú dân”

Trang 30

Chương trình hay chiến lược khởi nguồn từ năm 1999 và chính thức đi vào hoạt động năm 2000, đến năm 2005, chương trình đã được đưa vào kế hoạch 5 năm lần thứ 11 cuả Trung Quốc Đến năm 2010 tổng vốn đầu tư cho chương trình là 1,509 tỷ nhân dân tệ

- Mục tiêu của chiến lược

Để đạt được mục tiêu của chiến lược này là “hưng biên, phú dân, cường quốc, mục lân” phải tập trung giải quyết những vấn đề và những khó khăn đặc thù ở vùng biên giới, không ngừng nâng cao khả năng tự phát triển về kinh tế -

xã hội, giúp các huyện vùng biên và các đồn biên phòng ở đây phát triển tổng thể về kinh tế - xã hội đạt mức chuẩn hoặc tương đương với mức chung của cả nước, củng cố vùng biên cương vạn dặm của quốc gia

+ Cải thiện tình trạng yếu kém về cơ sở hạ tầng như điện lực, giao thông, thủy lợi Loại bỏ cơ bản các loại nhà ở dột nát, xuống cấp và nguy hiểm

+ Đảm bảo đời sống cơ bản cho người dân vùng biên, nhanh chóng xây dựng chế độ đảm bảo mức sống tối thiểu cho họ

+ Phát triển nhanh chóng sự nghiệp xây dựng xã hội, các điều kiện dịch vụ phúc lợi cơ bản như: giáo dục, y tế, văn hóa mau được cải thiện

+ Tăng cường khả năng phát triển kinh tế các huyện biên giới, làm cho thu nhập tài chính của các địa phương và nhân dân trong vùng tăng lên đáng kể + Đẩy mạnh thương mại vùng biên, tăng cường xây dựng các chợ vùng biên và các cửa khẩu quan trọng, các lĩnh vực hợp tác đối ngoại kinh tế, kỹ thuật được mở rộng

+ Xây dựng và bảo vệ môi trường tự nhiên ở vùng biên để đạt được những bước quan trọng

+ Ổn định tình hình chính trị xã hội, tình đoàn kết giữa các dân tộc và quan

Trang 31

thành thông đường giữa các thôn bản, thị trấn Tăng cường xây dựng các con đường ra cửa khẩu, chợ vùng biên và các điểm du lịch Đẩy mạnh xây dựng các con đường phục vụ sự nghiệp quốc phòng, thực hiện quân dân cùng tham gia xây dựng địa phương cũng như đất nước

Cải tạo các ngôi nhà tranh xuống cấp nguy hiểm ở vùng biên giới và nhà của cán bộ, bộ đội biên phòng thành những ngôi nhà đảm bảo an toàn mang đặc trưng của địa phương và dân tộc

Tăng cường xây dựng các công trình cấp nước sạch, thủy lợi nông thôn, giải quyết vấn đề nước uống không an toàn của các thôn hành chính, đại hội binh đoàn, bộ đội biên phòng

Tăng cường lưới điện nông thôn, mở rộng lưới điện, khai thác các nhà máy thủy điện nhỏ, triệt để lợi dụng sức gió và năng lượng mặt trời để phát điện Tiếp tục thực hiện dự án “Thôn thôn đều có điện thoại”

Tăng cường xây dựng và bảo vệ môi trường tự nhiên Thực hiện tốt các dự

án “Môi trường, sinh thái trọng điểm” như trồng rừng, trồng cỏ, giữ đất, giữ nước, bảo vệ rừng nguyên sinh, ngăn chặn tình trạng xấu đi của môi trường tự nhiên

Tăng cường khai thác và sử dụng nguồn nguyên liệu sạch, phát triển ngành nghề mới

Giải quyết vấn đề tăng thu nhập và kế sinh nhai lâu dài của người nông dân, người chăn nuôi trong khu vực có chức năng sinh thái

+ Giải quyết có hiệu quả việc xóa đói, đa dạng hóa con đường làm giàu Đẩy mạng công tác xóa nghèo, cải thiện điều kiện sinh hoạt và sản xuất cơ bản, phấn đấu xây dựng nông thôn văn minh và hài hòa

Giúp đỡ những doanh nghiệp đi tiên phong, quan hệ mật thiết với các hộ nông dân nhưng còn nhiều khó khăn Áp dụng phương thức “công ty + hộ nông dân”, “Hợp tác xã + hộ nông dân” Từng bước thực hiện xóa nghèo, ngành nghề hóa

Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực Áp dụng các hình thức Chính phủ trợ cấp, các bên đầu tư vào trường học Bồi dưỡng lớp người lao động mới vừa có văn hóa vừa có kỹ thuật và biết làm kinh tế

Trang 32

Đối với những người nông dân thiếu điều kiện sinh hoạt cơ bản, nhưng vẫn kiên trì giữ đất, cần tăng mức hỗ trợ, đặc biệt đảm bảo những điều kiện sống cơ bản cho họ

+ Phát triển thương mại vùng biên giới, thúc đẩy hợp tác khu vực

Phát triển thương mại chợ vùng biên Mở rộng quan hệ thương mại với người dân, vùng biên các nước láng giềng Ở những vùng có địa thế trọng yếu

và có nhiều dân tộc thiểu số cần xây dựng kiểu mẫu thương mại chợ vùng biên, làm cho đời sống của người dân vùng biên khá giả, địa phương tăng thu nhập Tăng cường hợp tác kinh tế, kỹ thuật khu vực Thực hiện chiến lược “Tiến

ra bên ngoài thu hút đầu tư” Tiếp tục tìm tòi, khai thác các phương thức mới để

mở cửa hội nhập với bên ngoài, trọng điểm là xây dựng các thành phố, trị trấn biên giới có chức năng như một nơi thông thương hàng hóa gia công xuất nhập khẩu và là điểm du lịch thương mại quốc tế Tích cực khai thác thị trường quốc

tế, tiến tới xuất khẩu hàng hóa, kỹ thuật và lao động

+ Đẩy mạnh sự nghiệp phát triển xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Ưu tiên phát triển sự nghiệp giáo dục, đưa các huyện biên giới vào danh sách được cung cấp kinh phí dành cho giáo dục nghĩa vụ, đẩy nhanh việc phổ cập và củng cố giáo dục nghĩa vụ chín năm ở nông thôn, thực hiện dự án xây dựng trường học ở nông thôn có chế độ ký túc cho học sinh tiểu học và trung học, xây dựng các trường học công lập, tăng cường đào tạo đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng dạy học Xây dựng các khu thí điểm dạy song ngữ cho các dân tộc thiểu số Tập trung phát triển chương trình dạy học từ xa Ra sức phát triển sự nghiệp giáo dục, trọng điểm là bồi dưỡng những nhân tài về kỹ năng và nhân tài trong ứng dụng

+ Đẩy nhanh sự nghiệp phát triển y tế Xây dựng chế độ bảo hiểm y tế với hình thức mới là hợp tác y tế nông thôn, từng bước thực hiện phối hợp 4 yếu tố: Phòng ốc, thiết bị, con người và kỹ thuật Tăng cường công tác tuyên truyền sinh đẻ có kế hoạch dựa trên qui định của pháp luật để hướng dẫn, động viên người dân sinh đẻ có kế hoạch, sinh con khỏe mạnh, nuôi con tốt

+ Phát triển sự nghiệp văn hóa Đẩy mạnh việc xây dựng hệ thống dịch vụ trong lĩnh vực văn hóa cộng đồng, thực hiện mục tiêu: Mỗi huyện đều có nhà

Trang 33

văn hóa, thư viện; thị trấn có nơi sinh hoạt văn hóa chung; chính quyền thôn có các hoạt động liên quan đến văn hóa Tiếp tục đẩy mạnh tiến độ dự án phủ sóng phát thanh truyền hình đến tận từng thôn bản Tổ chức các buổi chiếu phim tại đây Nâng cao khả năng làm phim bằng ngôn ngữ địa phương Đẩy mạnh công tác giữ gìn di sản văn hóa, chú trọng khai thác, chỉnh lý, giữ gìn các tư liệu văn hóa dân gian xuất sắc của dân tộc Duy trì, bảo vệ những thôn làng hoặc các khu vực có giá trị đặc biệt về văn hóa truyền thống Tích cực triển khai các hoạt động văn nghệ thể thao với các hình thức đa dạng, phong phú, thực hiện kế hoạch “toàn dân rèn luyện sức khỏe”, đề xướng lối sống văn minh lành mạnh, nâng cao tố chất sức khỏe của quần chúng nhân dân các dân tộc

+ Tăng cường đoàn kết dân tộc, bảo vệ sự bình yên cho biên cương

Triển khai hoạt động sáng tạo tiến bộ đoàn kết dân tộc, kiên trì tuyên truyền giáo dục về lý luận dân tộc, chính sách dân tộc, tri thức cơ bản và qui định pháp luật của dân tộc Kịp thời xử lý thỏa đáng các vấn đề có ảnh hưởng đến đoàn kết dân tộc, không ngừng củng cố và phát triển mối quan hệ dân tộc

xã hội chủ nghĩa

Tăng cường xử lý tổng hợp vấn đề trị an xã hội, triển khai hoạt động “biên giới bình yên”, “nói không với mại dâm, ma túy, cờ bạc”, phòng chống các loại tội phạm xuyên quốc gia từng bước hình thành hệ thống trị an xã hội tổng hợp ở khu vực biên giới tạo ra môi trường trị an tốt cho sự phát triển của vùng biên giới

- Chính sách và biện pháp thực hiện

+ Tăng đầu tư tài chính cho khu vực biên giới

+ Thi hành chính sách hỗ trợ cho người dân vùng biên đặc biệt khó khăn + Hỗ trợ hợp tác kinh tế khu vực nhằm phát triển thương mại vùng biên + Thực hiện toàn diện các chính sách ưu đãi cho sự nghiệp phát triển xã hội

Trang 34

+ Đẩy mạnh công tác xây dựng đội ngũ nhân tài vùng biên

+ Động viên các thành phần xã hội hỗ trợ để xây dựng và phát triển vùng biên giới

+ Thực hiện những công trình trọng điểm trong hành động “hưng biên phú dân”

- Tổ chức thực hiện

Cán bộ, ngành, địa phương có liên quan thực hiện theo phương châm:

“thống nhất chỉ đạo, nhà nước hỗ trợ, tỉnh chịu trách nhiệm chính, huyện thực hiện có hiệu quả”

Chiến lược “Hưng biên phú dân” đã trở thành một nội dung chủ yếu công tác dân tộc trong thời kỳ mới của Đảng và Nhà nước Trung Quốc Trong cương lĩnh qui hoạch chiến lược “hưng biên phú dân” đã phân khu vực biên giới lục địa thành 3 vùng là biên giới: Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Nam

Ý nghĩa

Nếu như ở Việt Nam, nội dung đầu tư cho phát triển vùng dân tộc và miền núi vẫn là “Điện, đường, trường, trạm” thì ở Trung Quốc hiện nay là “Điện, đường, nước và thông tin” Họ thấy được vai trò, vị trí của nước, tiết kiệm nước

và thông tin hiện nay là nhu cầu rất quan trọng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cũng như các vùng biên giới của đất nước Trung Quốc

Hiện nay ở Việt Nam chúng ta vẫn thực hiện tối đa khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có khai thác khoáng sản bán nguyên liệu thô, tận dụng khai hoang đất trống, đất rừng để sản xuất nông nghiệp thì đối với Trung Quốc, người ta hạn chế khai thác khoáng sản bán nguyên liệu thô, triệt để hợp tác với các nước khác để khai thác tài nguyên thiên nhiên Còn đối với môi trường tự nhiên phát triển bền vững, họ đưa ra khẩu hiệu “trả lại đất cho rừng”,

“trả lại ruộng cho đồng cỏ” Có lẽ trong hoạch định các chính sách của ta nói chung, chính sách đối với các dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng, phải rút ra những bài học kinh nghiệm, từ khâu chuẩn bị cơ sở, xây dựng mục tiêu, nhiệm

vụ nội dung đến khâu tổ chức triển khai và thực hiện

3.2.2 Quy hoạch “Thập nhất ngũ”

Nhằm tăng cường công tác dân tộc, tiến tới hoàn thiện chế độ tự trị dân tộc, đẩy nhanh phát triển dân tộc thiểu số, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của dân tộc thiểu số, củng cố và phát triển quan hệ dân tộc chủ nghĩa xã hội bình đẳng, đoàn kết, hỗ trợ, hài hòa; thúc đẩy cộng đồng các dân tộc cùng phấn đấu phát

Trang 35

triển; căn cứ theo “Cương yếu quy hoạch 5 năm lần thứ 11 Phát triển xã hội và Kinh tế quốc dân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” và Trung ương Đảng,

Quốc Vụ Viện về việc từng bước tăng cường công tác dân tộc, đẩy nhanh tinh thần phát triển dân tộc thiểu số và kinh tế - xã hội khu vực dân tộc, chế định ra cuốn quy hoạch này

- Tư tưởng chỉ đạo

Dựa trên lý luận Đặng Tiểu Bình và “Ba tư tưởng đại diện quan trọng” làm chủ đạo; dựa trên khoa học phát triển là thống lĩnh; dựa trên việc giải quyết những khó khăn đặc thù và những vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế xã hội cho dân tộc thiểu số và những khu vực tự trị dân tộc là điểm thiết yếu; dựa trên việc thực hiện phục vụ bình đẳng hóa những dịch vụ công cộng cơ bản là mục tiêu, kiên trì vì con người là cơ bản, chuyển biến quan niệm tư tưởng, sáng tạo mô hình phát triển mới, nâng cao toàn diện trình độ phát triển

sự nghiệp dân tộc thiểu số, không ngừng cải thiện điều kiện đời sống văn hóa vật chất của đồng bào dân tộc thiểu số, thúc đẩy sự phát triển đồng đều cho dân tộc thiểu số và kinh tế xã hội những khu vực tự trị dân tộc, nỗ lực mở ra cục diện mới của xã hội hài hòa, hòa thuận dân tộc, đồng tâm khắc phục khó khăn

- Mục tiêu tổng thể

Những cơ sở hạ tầng công cộng và môi trường tự nhiên của dân tộc thiểu

số và những khu vực tự trị dân tộc được cải thiện rõ ràng, năng lực phát triển tự lập không ngừng được đẩy mạnh, những ngành nghề ưu thế và kinh tế đặc thù không ngừng được phát triển, những vấn đề đói nghèo được giải quyết hiệu quả, đời sống quần chúng nâng cao rõ rệt Giao lưu đối ngoại và hợp tác được tăng cường, trình độ mở rộng đối ngoại nâng cao Những sự nghiệp xã hội: giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn hóa, vệ sinh y tế, thể thao phát triển, tố chất đạo đức tư tưởng, tố chất văn hóa khoa học và tố chất về sức khỏe của đồng bào được nâng cao Chế độ tự trị dân tộc và hệ thống lý luận dân tộc từng bước hoàn thiện; việc xây dựng chế độ pháp luật cho dân tộc đạt được những tiến triển lớn; quyền lợi hợp pháp của dân tộc thiểu số được bảo đảm triệt để Quan hệ dân tộc ngày càng hòa thuận, đoàn kết dân tộc ngày càng mật thiết, thực hiện phát triển sự nghiệp dân tộc vừa nhanh vừa mạnh

- Chỉ tiêu mong muốn đạt được năm 2010

Đồng bào tại các huyện, thị trấn các khu tự trị dân tộc có thể tự chi phối thu nhập; thu nhập bình quân theo năm của cư dân các vùng nông thôn đạt tốc

Trang 36

độ tăng trưởng cao hơn so với mức độ thu nhập bình quân của cả nước và thu

nhập của cư dân thành thị

Mức độ phổ cập giáo dục tại các khu tự trị dân tộc đạt 95% trở lên, hoàn thành mục tiêu nghĩa vụ phổ cập toàn diện giáo dục

Tỷ lệ trẻ sơ sinh dân tộc thiểu số tử vong giảm 5% so với năm 2005

Số lượng xuất bản về các chủng loại văn tự dân tộc thiểu số tăng 20% so với năm 2005, số lượng in ấn xuất bản văn tự dân tộc thiểu số tăng 25% so với năm 2005

Nhân tài người dân tộc thiểu số chiếm tỷ trọng nhân khẩu đang công tác tăng 0,5% so với năm 2005, cơ bản tiến gần với nhân khẩu dân tộc thiểu số chiếm tỷ trọng nhân khẩu toàn quốc

Tỷ lệ đô thị hóa các vùng, miền dân tộc tăng 5% so với năm 2005

- Nhiệm vụ chủ yếu

Mười một nhiệm vụ chủ yếu được đề ra để thực hiện, đó là:

+ Tập trung cải thiện điều kiện cơ bản phát triển kinh tế các vùng tự trị dân tộc

+ Tập trung sức lực giải quyết những vấn đề về nhu cầu đặc biệt và những khó khăn đặc thù của đồng bào dân tộc thiểu số

+ Nỗ lực nâng cao trình độ giáo dục khoa học kỹ thuật cho dân tộc thiểu

số

+ Thúc đẩy vững chắc sự nghiệp phục vụ y tế dân tộc thiểu số

+ Tập trung lực lượng phát triển sự nghiệp văn hóa dân tộc thiểu số

+ Vững bước nâng cao cấp độ phúc lợi xã hội cho dân tộc thiểu số

+ Tăng cường xây dựng đội ngũ nhân tài người dân tộc thiểu số

+ Tiếp tục mở rộng lớn mạnh công tác “mở cửa” dân tộc thiểu số và các khu tự trị dân tộc

+ Từng bước kiện toàn hệ thống pháp chế dân tộc

+ Không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách lý luận dân tộc

+ Tiếp tục xây dựng môi trường xã hội phát triển hài hòa dân tộc

Trang 37

- Những chương trình trọng điểm

Nhằm thích ứng với những nhu cầu phát triển hài hòa giữa các dân tộc, xuất phát từ tình hình thực tế của sự nghiệp phát triển dân tộc thiểu số, trong quá trình thực hiện “quy hoạch” đã xây dựng những công trình trọng điểm dưới đây:

 + Chương trình giải quyết thoát nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn

+ Chương trình hỗ trợ giúp đỡ giáo dục cơ bản cho dân tộc

+ Chương trình xây dựng những trường đại học, học viện dành cho người dân tộc

+ Chương trình phát triển nền y dược học truyền thống dân tộc thiểu số + Chương trình phát triển văn hóa dân tộc thiểu số

+ Chương trình bồi dưỡng đào tạo đội ngũ nhân lực người dân tộc thiểu

số

+ Chương trình thiết lập hệ thống pháp chế dân tộc

+ Chương trình hợp tác giao lưu đối ngoại dân tộc thiểu số

+ Chương trình thiết lập quản lý thông tin hóa công tác dân tộc

+ Chương trình điều tra hiện trạng dân tộc thiểu số

+ Chương trình xây dựng hệ thống phục vụ công tác dân tộc

- Những biện pháp bảo đảm thực thi quy hoạch

+ Đưa sự nghiệp dân tộc thiểu số vào quy hoạch tổng thể phát triển xã hội

và kinh tế quốc dân

+ Thực hiện đầy đủ trách nhiệm, mục tiêu thực thi trong quy hoạch

+ Đưa ra những chính sách ưu đãi, mở rộng cấp độ đầu tư

+ Tăng cường quản lý công tác dân tộc và xây dựng năng lực kiểm tra giám sát

Trang 38

1.1 Đặc điểm các dân tộc thiểu số

Đặc điểm thứ nhất: Các dân tộc thiểu số nước ta có số dân ít, chiếm 14,27% tổng dân số cả nước năm 2009 Nhưng phân bố không đều, chỉ có một

số ít sinh sống ở đô thị, đồng bằng và vùng trung du, còn lại tập trung ở miền núi, trên một địa bàn rộng lớn, chiếm 2/3 diện tích cả nước Đây là những nơi

có vị trí rất quan trọng về chính trị, kinh tế và an ninh quốc phòng, nhưng cũng rất khó khăn về điều kiện sản xuất

Đặc điểm thứ hai: Mặc dù cư trú ở những vùng có vị trí quan trọng, nhưng đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số của nước ta còn rất khó khăn, tỷ lệ nghèo cao; chất lượng dịch vụ về y tế, giáo dục, văn hóa so với mặt bằng chung

cả nước còn rất thấp Vì vậy cần phải có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Đặc điểm thứ ba: Các dân tộc thiểu số của nước ta có giá trị văn hóa truyền thống rất đa dạng, phong phú Nhưng trước thực trạng phát triển, hội nhập quốc

tế ngày càng sâu rộng, ở một số nơi, một số dân tộc các giá trị văn hóa này đang

có dấu hiệu bị mai một Vì vậy đòi hỏi Đảng, Nhà nước cần phải có chính sách phù hợp để bảo tồn và giữ gìn

Đặc điểm thứ tư: Các dân tộc thiểu số nước ta cư trú không tập trung mà xen cài lẫn nhau Sở dĩ có đặc điểm này xuất phát từ vị trí của nước ta nằm ở ngã ba đường giao lưu kinh tế - văn hóa của Đông Nam Á, nên từ xa xưa là nơi gặp gỡ của nhiều dân tộc từ Bắc xuống, từ Nam lên và từ Tây sang Các làn sóng di, chuyển cư đến nước ta kéo dài hàng thiên niên kỷ và cho đến Cách mạng tháng Tám về cơ bản mới chấm dứt Dù là các dân tộc có nguồn gốc tại chỗ hay từ nơi khác di cư đến, tất cả đều có truyền thống đoàn kết, thương yêu giúp đỡ nhau, nhất là trong những lúc hoạn nạn, khó khăn Mặc dù cư trú xen

Trang 39

cài, nhưng mỗi dân tộc có bẳn sắc văn hóa, phương thức sản xuất, canh tác khác nhau… đặc điểm này đòi hỏi khi xây dựng, thiết kế chính sách, chiến lược cần phải tính đến yếu tố phù hợp với đặc điểm dân tộc

Đặc điểm thứ năm: Các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển không đồng đều, do xuất phát từ quy luật phát triển của lịch sử, những khó khăn về đất đai, khí hậu đặc điểm tự nhiên của từng vùng, miền khác nhau…Đặc điểm này yêu cầu khi xây dựng chính sách, chiến lược cần phải thiết kế phù hợp với từng vùng, miền và các dân tộc

1.2 Thực trạng xây dựng, thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay

Do đặc điểm lịch sử, môi trường sống, điều kiện tự nhiên… nên vùng dân tộc thiểu số luôn luôn chậm phát triển hơn các vùng khác Vì vậy đến nay, Đảng

và Nhà nước ta đã có rất nhiều chính sách, chương trình đầu tư hỗ trợ, tạo đà phát triển đối với vùng này

- Quan điểm, nguyên tắc trong xây dựng chính sách dân tộc

Đảng ta luôn xác địnhvị trí chiến lược của khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiếu số trong mối quan hệ hữu cơ với sự phát triển của đất nước,

luôn coi trọng việc chăm lo phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này Quan điểm của Đảng chỉ rõ:

Cần phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các dân tộc trong một quốc gia nhiều dân tộc trên nhiều mặt của đời sống; giữa các dân tộc thiểu số với nhau, giữa người đa số và người thiểu số v.v; phát triển toàn diện chính trị, kinh

tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi Nội dung của chính sách dân tộc vừa mang tính toàn diện, vừa mang tính đặc thù, vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, bám sát mục tiêu cách mạng trong từng thời kỳ, từng giai đoạn…

Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng, căn cứ vào đặc điểm cơ bản của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam việc xây dựng chính sách dân tộc đã dựa trên các nguyên tắc:

+ Xây dựng chính sách dân tộc đảm bảo thể chế hoá các Nghị quyết của

Đảng và Nhà nước Thể hiện một cách đầy đủ: Quyền bình đẳng về chính trị;

quyền bình đẳng về kinh tế; quyền bình đẳng về văn hoá - xã hội; đoàn kết giữa

Trang 40

các dân tộc, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển (tiến bộ) Trong đó, quyền bình

đẳng về kinh tế được xem là nền tảng cơ bản, đoàn kết giữa các dân tộc là bản chất cốt lõi của chính sách dân tộc

+ Chính sách dân tộc đảm bảo đối tượng thụ hưởng là đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng và các dân tộc nói chung Chính sách dân tộc trước tiên nhằm vào đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số, là những đối tượng thiệt thòi và kém

cơ hội phát triển hơn cần được giúp đỡ Bên cạnh đó, đồng bào Kinh sinh sống

ở những vùng khó khăn, người nghèo cũng được trợ giúp, không phân biệt, để tạo nên sự hài hoà, đoàn kết, tránh những mâu thuẫn nảy sinh

+ Xây dựng chính sách dân tộc nhằm phát huy dân chủ và khuyến khích người dân tham gia trong quá trình quản lý phát triển kinh tế - xã hội Đây là xu thế phát triển của xã hội dân chủ, tiến bộ Sự tham gia của người dân sẽ góp phần củng cố quyền làm chủ về mặt chính trị, đồng thời làm tăng hiệu quả thực hiện chính sách tạo được sự đồng thuận cộng đồng, phát huy được yếu tố tự lực,

tự cường trong đồng bào các dân tộc

+ Xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc phải mang tính liên ngành Xuất phát từ nhu cầu phát triển toàn diện vùng dân tộc trên thế mạnh về tiềm năng và những đặc điểm kinh tế xã hội cũng như mục đích của chính sách dân tộc, nên chính sách phải mang tính liên ngành và cần phải được quán triệt trong tất cả các ngành, các lĩnh vực Phối hợp trong các chương trình phát triển cơ sở vật chất, nâng cấp hạ tầng, cải tiến cơ cấu tổ chức và các dịch vụ hỗ trợ văn hoá,

y tế và phát triển nguồn nhân lực v.v

+ Bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa quá trình xây dựng chính sách và

tổ chức thực hiện chính sách Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc trong quản

lý để bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả của chính sách Tổ chức thực hiện chính sách phải tuân thủ theo những qui định của chính sách và văn bản hướng dẫn để chính sách đi vào cuộc sống đúng theo những mục tiêu của nó Mặt khác qua tổ chức thực hiện sẽ đánh giá, phát hiện những vướng mắc, những vấn đề nảy sinh

để kịp thời điều chỉnh, bổ sung cũng như làm cơ sở đề xuất chính sách mới phù hợp cho giai đoạn phát triển mới

Ngày đăng: 16/04/2014, 00:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thu nhập bình quân đầu người/tháng của một số vùng - Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020
Bảng 1 Thu nhập bình quân đầu người/tháng của một số vùng (Trang 51)
Bảng 3: Thu nhập bình quân đầu người/tháng theo giá thực tế - Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020
Bảng 3 Thu nhập bình quân đầu người/tháng theo giá thực tế (Trang 52)
Bảng 4: Thu nhập bình quân đầu người/tháng năm 2004 theo giá thực tế - Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020
Bảng 4 Thu nhập bình quân đầu người/tháng năm 2004 theo giá thực tế (Trang 53)
Bảng 5: Tỷ lệ hộ gia đình tiếp cận với các loại hình văn hóa thông tin - Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020
Bảng 5 Tỷ lệ hộ gia đình tiếp cận với các loại hình văn hóa thông tin (Trang 55)
Bảng 6. Tỷ lệ hộ gia đình thường xuyên xem tivi - Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020
Bảng 6. Tỷ lệ hộ gia đình thường xuyên xem tivi (Trang 55)
Bảng 7. Tỷ lệ hộ gia đình thường xuyên nghe đài - Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020
Bảng 7. Tỷ lệ hộ gia đình thường xuyên nghe đài (Trang 56)
Bảng 11. Các ý kiến của cán bộ TW về sự cần thiết xây dựng Chiến lược - Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020
Bảng 11. Các ý kiến của cán bộ TW về sự cần thiết xây dựng Chiến lược (Trang 66)
Sơ đồ 1: Vị trí và mối quan hệ giữa chiến lược và quy hoạch - Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020
Sơ đồ 1 Vị trí và mối quan hệ giữa chiến lược và quy hoạch (Trang 239)
Bảng 2. Thường xuyên nghe đài của các hộ gia đình - Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020
Bảng 2. Thường xuyên nghe đài của các hộ gia đình (Trang 302)
Bảng 5. Chính sách chủ yếu tập trung cho xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội - Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020
Bảng 5. Chính sách chủ yếu tập trung cho xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội (Trang 327)
Bảng 13. Chính sách chủ yếu cho không, tạo ra tâm lý trông chờ, ỷ lại - Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020
Bảng 13. Chính sách chủ yếu cho không, tạo ra tâm lý trông chờ, ỷ lại (Trang 330)
Bảng 6. Không có diễn biến, thay đổi nào - Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020
Bảng 6. Không có diễn biến, thay đổi nào (Trang 349)
Bảng 20. Tên của chiến lược là: Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số - Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020
Bảng 20. Tên của chiến lược là: Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số (Trang 354)
Bảng 23. Tên của chiến lược là: Chiến lược phát triển một số dân tộc thiểu số - Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020
Bảng 23. Tên của chiến lược là: Chiến lược phát triển một số dân tộc thiểu số (Trang 355)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w