1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay

282 2,9K 27
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Tác giả Lê Hữu Nghĩa, Lê Ngọc Hùng
Trường học Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 282
Dung lượng 4,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chủ quan, giáo điều về cơ cấu xã hội giai cấp đặc trưng cho thời kỳ quản lí kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây cần được khắc phục và quan niệm mới, tư duy mới cần được hình

Trang 1

đề tài :

“Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta

trong điều kiện đổi mới hiện nay”

(Mã số kx.02.17/06-10)

Cơ quan chủ trì : Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Chủ nhiệm đề tài : GS, TS Lê Hữu Nghĩa Thư ký khoa học : GS, TS Lê Ngọc Hùng

8770

Hà Nội - 2011

Trang 2

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU 22

1.1.3 Khái niệm “nhóm thu nhập”, “nhóm 20%”, “nhóm ngũ vị phân” và “nhóm giàu”,

1.2 MỘT SỐ LOẠI HÌNH CƠ CẤU XÃ HỘI, PHÂN TẦNG XÃ HỘI 271.2.1 Một số loại hình cơ cấu xã hội 271.2.2 Một số mô hình phân tầng xã hội 311.3 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VÀ CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ THUỘC CƠ CẤU

XÃ HỘI, PHÂN TẦNG XÃ HỘI

34

1.4 MỘT SỐ CÁCH TIẾP CẬN LÝ THUYẾT KHÁC VỀ CƠ CẤU XÃ HỘI,

PHÂN TẦNG XÃ HỘI

43

1.4.1 Một số cách tiếp cận xã hội học 43

1.5 NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ CƠ CẤU XÃ HỘI,

PHÂN TẦNG XÃ HỘI

55

1.5.1 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội ở Hoa Kỳ 551.5.2 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội ở Nhật Bản 581.5.3 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội ở Trung Quốc 751.5.4 Một số vấn đề vận dụng lý luận và kinh nghiệm nước ngoài 95

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CƠ CẤU XÃ HỘI, PHÂN TẦNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

2.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ CẤU XÃ HỘI, PHÂN TẦNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TỪ KHI

ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

101

Trang 3

2.1.1 Đặc điểm cơ cấu xã hội ở Việt Nam từ khi Đổi mới đến nay 1012.1.2 Đặc điểm phân tầng xã hội ở Việt Nam từ khi Đổi mới đến nay 105

2.2.1 Cơ cấu xã hội - dân số thành thị và nông thôn, mật độ và phân bố dân số 1112.2.2 Cơ cấu xã hội dân số - giới tính và tuổi 1122.3 CƠ CẤU XÃ HỘI, PHÂN TẦNG XÃ HỘI VỀ MỨC SỐNG: THU NHẬP 1182.3.1 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội giữa thành thị và nông thôn 1182.3.2 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội giữa các vùng về thu nhập 1202.3.3 Phân tầng xã hội giữa các nhóm: chênh lệch giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất 1212.3.4 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội giữa thành thị và nông thôn về nguồn thu nhập 1242.3.5 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội giữa các vùng về nguồn thu nhập 1272.3.6 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội giữa các nhóm về nguồn thu nhập 1312.4 CƠ CẤU XÃ HỘI, PHÂN TẦNG XÃ HỘI VỀ MỨC SỐNG: CHI TIÊU 1372.4.1 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội giữa thành thị và nông thôn về chi tiêu 1372.4.2 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội giữa các vùng về chi tiêu 1422.4.3 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội giữa các nhóm về chi tiêu 1452.5 CƠ CẤU XÃ HỘI, PHÂN TẦNG XÃ HỘI VỀ MỨC SỐNG: ĐỒ DÙNG

2.6.2 Cơ cấu xã hội và phân hóa giàu nghèo theo các vùng 1652.6.3 Cơ cấu xã hội và bất bình đẳng xã hội - thu nhập giữa thành thị và nông thôn và

giữa các vùng

168

2.7 TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA PHÂN TẦNG XÃ HỘI VỀ KINH TẾ VÀ

2.7.1 Trẻ em nghèo: tác động xã hội hôm nay và ngày mai 172

2.8 CƠ CẤU XÃ HỘI, PHÂN TẦNG XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC 181

2.8.2 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội giữa các vùng và giáo dục 1822.8.3 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội theo nhóm và giáo dục 1842.8.4 Cơ cấu xã hội về giới tính và cơ hội đến trường 187

Trang 4

2.8.5 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội giữa thành thị và nông thôn và giữa các vùng về

2.8.6 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội về trình độ chuyên môn kỹ thuật 1922.8.7 Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội giữa các nhóm về trình độ chuyên môn kỹ thuật 1952.9 CƠ CẤU XÃ HỘI, PHÂN TẦNG XÃ HỘI VÀ Ý TẾ, SỨC KHỎE 197

YẾU TỐ TÁC ĐỘNG, XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VÀ GIẢI PHÁP ĐỊNH

HƯỚNG CƠ CẤU XÃ HỘI, PHÂN TẦNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TRONG

3 1 MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CƠ CẤU XÃ HỘI, PHÂN TẦNG

XÃ HỘI TỪ GIÁC ĐỘ XÃ HỘI HỌC

214

3.1.1 Một số yếu tố dân số học 2143.1.2 Yếu tố phân công lao động theo thành phần kinh tế 2173.1.3 Yếu tố phân công lao động theo ngành kinh tế 2203.1.4 Yếu tố phân công lao động theo ngành sản xuất 220

3.1.7 Yếu tố ngành nghề và các nhóm xã hội 2263.1.8 Yếu tố thời gian lao động 230

3.1.10 Yếu tố vốn đầu tư 2323.2 DỰ BÁO XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI CƠ CẤU XÃ HỘI, PHÂN TẦNG XÃ HỘI 233

Trang 5

3.2.2 Dự báo một số xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội trong

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỊNH HƯỚNG, THÚC ĐẨY XU HƯỚNG TÍCH CỰC,

HẠN CHẾ XU HƯỚNG TIÊU CỰC TRONG BIẾN ĐỔI CƠ CẤU XÃ HỘI,

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Dưới sự lónh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, cụng cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta trong 25 năm qua đó tạo ra những nền tảng để đưa đất nước từng bước tiến tới mục tiờu dõn giàu, nước mạnh, dõn chủ, cụng bằng, văn minh Việt Nam đã rất thành công trong việc giảm hơn hai phần ba tỉ lệ nghèo từ khoảng gần 60% số hộ gia đình nghèo vào những năm 1990 xuống còn khoảng 10% hiện nay Tuy nhiên, phân hoá giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp trong các tầng lớp xã hội và giữa các nhóm xã hội, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát, giá cả tăng, thiên tai liên tiếp ở trong nước và suy thoái kinh tế toàn cầu Trong cơ cấu xã hội, tỉ lệ dân cư sống ở nông thôn vẫn còn chiếm tới ba phần tư tổng dân số cả nước; tỉ lệ lao động có việc làm trong khu vực nông nghiệp vẫn chiếm khoảng một nửa tổng số lao động cả nước, lao

động trong khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm hơn 20% còn lại là lao động trong khu vực dịch vụ

Các vùng núi, vùng sâu, vùng xa như vùng Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên vẫn có tỉ lệ nghèo rất cao, có nơi tỉ lệ nghèo lên tới 50-60% Khoảng cách giàu nghèo về thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất tăng từ mức 5 lần vào năm 1993 lên đến 6.3 lần năm 2004, lên gần 9 lần năm 2009 Đặc biệt khoảng cách về giáo dục được đo bằng tỉ lệ đi học đúng tuổi cao đẳng, đại học của nhóm dân số tuổi từ 18-24 giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất luôn ở mức rất cao (năm 1997-1998 khoảng cách này khoảng 60 lần) Gần 80-90% tổng số người nghèo sống ở nông thôn trong khi phần đông người giàu sống

ở thành thị Tỉ lệ bỏ học của trẻ em dân tộc thiểu số cao hơn rất nhiều so với trẻ

em dân tộc Kinh Điều đó chứng tỏ rằng sự phân tầng xã hội vẫn tiếp tục diễn ra trên các lĩnh vực của đời sống từ kinh tế đến giáo dục với tốc độ không đồng

đều Khoảng cách giàu nghèo về mặt kinh tế tăng chậm, nhưng khoảng cách giàu nghèo về mặt học vấn ở trình độ cao đang tăng lên mạnh

Trang 7

Đổi mới và phát triển kinh tế tuy đã góp phần nâng cao mức sống của người dân nhưng các nhóm dân cư, các giai tầng xã hội được hưởng thành quả Đổi mới không đồng đều: mức sống kinh tế-xã hội của nhóm hộ gia đình giàu tăng nhanh hơn nhiều so với nhóm hộ gia đình nghèo, dân cư nông thôn vùng sâu, vùng xa hưởng thành quả của Đổi mới ít hơn dân cư vùng đô thị Do đó, cùng với tăng trưởng kinh tế cần đầu tư giải quyết vấn đề bất bình đẳng xã hội giữa các nhóm dân cư, giữa các vùng miền, giữa các khu vực kinh tế

Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội không chỉ diễn ra trên phương diện kinh

tế mà cả trên phương diện văn hoá, tinh thần Phân hoá giàu nghèo quyết định sự phân hoá xã hội và phân tầng xã hội Ngược lại, sự thất học và thất nghiệp, tình trạng ốm yếu bệnh tật và tệ nạn xã hội cũng là tác nhân gây ra tình trạng nghèo

đói, chậm phát triển Hiện tại, cộng đồng dân cư nông thôn Việt Nam chưa được cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế Họ cũng là tầng lớp xã hội ít có điều kiện hưởng thụ những thành quả của văn hoá, văn minh nhân loại Những điều tra nghiên cứu, khảo sát trong hai thập kỷ qua cho thấy, tỷ

lệ người không biết chữ ở nông thôn nhất là nông thôn ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, cao hơn nhiều lần so với thành phố và vùng đồng bằng Tỷ lệ trẻ

em, nhất là trẻ em gái, được đi học ở vùng nông thôn cũng thấp hơn nhiều so với thành thị Do đó, cùng với xoá đói giảm nghèo về mặt kinh tế vấn đề xã hội đặt ra

là cần phải tiếp tục cải thiện cả mức sống về mặt giáo dục, y tế và văn hoá, tinh thần của các nhóm xã hội, các giai tầng xã hội

Phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội làm cho một bộ phận dân cư thiếu năng lực và phương tiện phòng, chống các tệ nạn xã hội, đồng thời làm cho một

bộ phân dân cư gồm cả người lớn và thanh thiếu niên dễ sa vào lối sống không lành mạnh, suy thoái đạo đức Những vùng có tỉ lệ nghèo đói cao thường là những nơi có tỉ lệ mù chữ cao, dân trí thấp Đây cũng là những nơi thuận lợi cho việc duy trì những hủ tục và lối sống lạc hậu như mê tín dị đoan và dễ phát sinh những hiểu lầm, những mâu thuẫn, mất đoàn kết, mất trật tự xã hội Nhất là khi

có thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động, mua chuộc lôi kéo gây mất

Trang 8

trật tự, an ninh, an toàn xã hội Trong khi đó, do tác động của cơ chế thị trường,

mở cửa và hội nhập quốc tế không ít những yếu tố của lối sống cực đoan có thể xâm nhập vào gia đình và cộng đồng xã hội làm tổn hại đến truyền thống văn hoá tốt đẹp và làm suy giảm tình đoàn kết “tương thân tương ái” của cộng đồng xã hội Do vậy, nghiên cứu về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội là rất quan trọng

và cần thiết để chỉ ra những mặt mạnh cần phát huy, những mặt yếu kém cần khắc phục, những nguy cơ thách thức cần lường trước để đối phó và những cơ hội cần nắm bắt để có thể định hướng, điều chỉnh, xây dựng cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội phù hợp đối với sự phát triển bền vững

Cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa bảo thủ, lạc hậu với sự tiến bộ, tích cực luôn diễn ra gay gắt Sự biến đổi cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội cũng không tránh khỏi cuộc đấu tranh này: cùng với xu hướng làm giàu chính đáng của đông đảo người lao động là xu hướng của một bộ phận cá nhân, tổ chức lợi dụng quyền lực, địa vị quản lí, lợi dụng kẽ hở của pháp luật để làm giàu bất chính, tham nhũng, lãng phí của cải của tập thể, nhà nước và xã hội Các biện pháp quản lí sự phát triển bền vững cần dựa vào những thông tin chính xác về cơ chế và nguyên nhân của sự vận hành của cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội để có thể hướng vào duy trì, củng cố, thúc đẩy cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội hợp pháp và phòng, chống các biểu hiện của cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội bất hợp pháp

Sự biến đổi cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội liên quan tới tổng thể các vấn đề của xã hội trong đó nổi bật lên vấn đề định hướng giá trị xã hội Nhận thức sai lệch cùng với sự phát sinh và xâm nhập của những hiện tượng không lành mạnh như coi thường pháp luật, vô tổ chức kỷ luật, gian dối, đạo đức giả, thờ ơ, vô cảm, đố kị, hẹp hòi đang đe doạ sự ổn định, trật tự xã hội Trong khi đó những chuẩn mực xã hội mới theo hướng tiến bộ, tích cực đang được hình thành

và cần được trân trọng, nâng đỡ và củng cố kịp thời

Một vấn đề khác liên quan tới nhận thức và năng lực lãnh đạo quản lí cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay Quan niệm

Trang 9

chủ quan, giáo điều về cơ cấu xã hội giai cấp đặc trưng cho thời kỳ quản lí kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây cần được khắc phục và quan niệm mới, tư duy mới cần được hình thành, phát triển và kiểm chứng bởi các bằng chứng, sự kiện thực tiễn của sự hình thành, vận động, biến đổi các nhóm xã hội, các tầng lớp xã hội và cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện Đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay

Mặc dù có thừa nhận về sự phân hoá giàu nghèo và sự phân hoá xã hội là một thực tế tất yếu, không tránh khỏi của quá trình Đổi mới, nhưng một bộ phận cán bộ và nhân dân vẫn nhận thức thiếu đầy đủ, thiếu khách quan, khoa học, thậm chí vẫn còn tâm lí lo sợ, đối với những biến đổi nhanh chóng trong cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội Không ít người tỏ ra lúng túng trước sự xuất hiện của những tầng lớp trung gian có mức sống khá giả, nhóm xã hội vượt trội về kinh tế, học vấn và

địa vị xã hội bao gồm sự hình thành đội ngũ doanh nhân, sự trưởng thành nhanh chóng của nhóm chuyên gia, chuyên môn kỹ thuật cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, tài chính ngân hàng; Một số người quá lo lắng, bị động dẫn đến các quyết định chủ quan, vội vàng nhằm vào những hiện tượng riêng lẻ mà xem nhẹ

những vấn đề thuộc về bản chất và lâu dài Đây là những trở ngại bên trong từ các

chủ thể lãnh đạo, quản lí và các bên tham gia đối với việc kịp thời phát hiện ra những nhân tố tích cực cần phát triển, nhân rộng và những yếu tố tiêu cực cần ngăn chặn kịp thời trong quá trình biến đổi cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay

Trước tình hình đó, Đề tài “Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong

điều kiện đổi mới hiện nay” được thực hiện nhằm tập trung nghiên cứu, tìm hiểu,

đánh giá đúng thực trạng và nguyên nhân của sự biến đổi cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội với nhiều vấn đề phức tạp trong điều kiện mới hiện nay để tìm ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm phát triển xã hội và quản lý tốt hơn, có hiệu quả hơn

sự phát triển xã hội rõ ràng là có tầm quan trọng và tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay

2 TèNH HèNH NGHIấN CỨU

Trang 10

Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong 25 năm qua kể từ khi Đảng và Nhà nước chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, cùng với thành công trong việc nâng cao mức sống chung của cả xã hội và giảm nhanh tỉ lệ nghèo đói là khoảng cách giàu nghèo tăng dần trên phạm vi toàn xã hội Cùng với sự phát triển chung của đất nước, cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta cũng biến đổi và mang nhiều đặc điểm, tính chất mới cần được nghiên cứu và kịp thời định hướng, điều chỉnh cho phù hợp Cho đến nay ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu

lí luận và thực tiễn về những vấn đề của cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong số đó nổi bật nhất là những nghiên cứu lý luận, thực tiễn sau đây:

Những công trình nghiên cứu thực tế, thực nghiệm sớm nhất về cơ cấu

xã hội và phân tầng xã hội là đề tài nghiên cứu đã được công bố vào đầu những năm 1990 Các nghiên cứu này đã xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin để nhấn mạnh vai trò quyết định của phương thức sản xuất và trao đổi đối với cơ cấu xã hội ở Việt Nam Chế độ công hữu trong đó chủ yếu là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể đã tạo nên nền tảng cho cơ cấu xã hội gồm hai giai cấp chủ yếu là công nhân và nông dân và tầng lớp tri thức Công cuộc đổi mới kinh

tế đã thúc đẩy sự biến đổi mới cơ cấu xã hội và đặt ra yêu cầu nghiên cứu về thành phần và cơ cấu xã hội đang đổi mới ở Việt Nam Trong đó cần kể tới đề tài về những vấn đề lí luận và phương pháp luận tiếp cận cơ cấu xã hội ở Việt

Nam thuộc chương trình KX07-05 (Đỗ Nguyên Phương và các đồng sự Cơ cấu

xã hội-những quan điểm và phương pháp luận nghiên cứu) Đề tài khảo sát thực

trạng kinh tế-xã hội 4 quận nội thành Hà Nội năm 1992 do Viện Xã hội học thực hiện Công trình nghiên cứu này đã áp dụng lí luận về cơ cấu xã hội vào việc phân tích khái niệm “phân tầng xã hội” và đo lường sự phân tầng xã hội về mặt mức sống Các tác giả của nghiên cứu này đã xây dựng bốn chỉ báo khách quan như điều kiện nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, chi tiêu, thu nhập và một chỉ báo chủ

Trang 11

quan là sự tự đánh giá mức sống để đánh giá sự phân tầng xã hội và khoảng cách giàu nghèo của người dân ở Hà Nội Một nghiên cứu khác cũng nhóm các nhà xã hội học thực hiện trong thời gian này là đề tài khoa học về phân tầng xã hội thuộc Chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KX-04 Nghiên cứu này đã bổ sung một số tiêu chuẩn đo lường như sự đầu tư cho giáo dục, chăm sóc sức khoẻ và mức độ tiếp cận thông tin để đánh giá sự phân tầng xã hội đồng thời tập trung phân tích nhiều yếu tố như gia đình, học vấn, nghề nghiệp, môi

trường đối với sự phân tầng xã hội (Tương Lai Khảo sát về sự phân tầng xã hội; Viện Xã hội học Hà Nội: những biến đổi xã hội trong thời kỳ đổi mới)

Các cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam do Tổng cục thống kê thực

hiện với sự hỗ trợ của UNDP và các chuyên gia quốc tế lần đầu vào năm

1992-1993 Đây là một cuộc điều tra chọn mẫu với quy mô lớn trên phạm vi toàn quốc và được thực hiện lần thứ hai vào năm 1997-1998; trên cơ sở đó Tổng cục thống kê tiếp tục tiến hành cuộc điều tra mức sống hộ gia đình vào năm 2002,

2004 và 2006 Kết quả của các cuộc điều tra này đã cho thấy thực trạng phân hoá giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội trên các khía cạnh kinh tế, giáo dục, sức khoẻ của các nhóm hộ gia đình và các nhóm dân cư Việt Nam (Tổng cục Thống

kê Kết quả điều tra mức sống dân cư 1992-1993, 1997-1998, 2002, 2004, 2006; 2008; Tổng cục Thống kê-UNDP Mức sống trong thời kì bùng nổ kinh tế Việt Nam) Theo hướng này đã có công trình thống kê xoá đói giảm nghèo quy mô

lớn của nhóm tác giả gồm Nguyễn Hải Hữu và các đồng sự thực hiện với sự hỗ trợ của Bộ Lao động-Thương binh xã hội và Chương trình hợp tác Việt-Đức về xoá đói giảm nghèo và đã công bố thành sách vào năm 2004 (MOLISA-GTZ:

Số liệu thống kê xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1998-2000 và 2001-2003)

Đề tài cấp Nhà nước KX 08-04 về chính sách xã hội nông thôn ( 1995)

cho biết vai trò đặc biệt quan trọng của việc hoạch định và thực hiện chính sách

xã hội hướng vào xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập, phòng chống

tệ nạn xã hội, tạo điều kiện cho các nhóm xã hội yếu thế tham gia vào quá trình

Trang 12

phát triển kinh tế-xã hội và từng bước cải thiện đời sống của các nhóm xã hội ở nông thôn nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, phụ nữ, trẻ em và các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Các công trình nghiên cứu khác về nông thôn như “Biến đổi xã hội ở

nông thôn Việt Nam dưới tác động của đô thị hoá, tích tụ ruộng đất và chính sách dồn điền, đổi thửa” (đề tài độc lập cấp nhà nước của tác giả Nguyễn Văn Thủ và cộng sự, 2005-2006); đề tài “Con đường và bước đi, các giải pháp chiến lược để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn” (đề tài cấp nhà nước của tác giả Nguyễn Kế Tuấn và cộng sự, 2004-2005); “ Đời sống văn hoá và xu hướng phát triển văn hoá vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng

và đồng bằng sông Cửu long trong thời kỳ CNH-HĐH” (đề tài cấp nhà nước của tác giả Phan Hồng Giang và các cộng sự thực hiện năm 2001- 2005); “Lý luận

xã hội lành mạnh và những giải pháp lành mạnh hoá xã hội Việt Nam giai đoạn

2006 – 2020” (đề tài cấp Bộ do tác giả Tô Duy Hợp làm chủ nhiệm, 2005 – 2007); “Vai trò nòng cốt của Hội nông dân Việt Nam trong xây dựng nông thôn mới” (đề tài cấp Bộ 2005 – 2007 do tác giả Vũ Ngọc Kỳ làm chủ nhiệm); “Tăng cường hệ thống chính trị cơ sở ở vùng nông thôn nước ta hiện nay” (Đề tài cấp Nhà nước 2001 – 2003, do Hoàng Chí Bảo chủ nhiệm,) Các công trình nghiên cứu này đã góp phần làm rõ những vấn đề phân hoá giàu nghèo và những tác động tích cực và tiêu cực của các yếu tố đất đai, lao động việc làm, giáo dục, y

tế đối với sự biến đổi cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nhiều địa phương, nhiều vùng miền trong cả nước

Công trình nghiên cứu về phát triển xã hội, cụ thể là nghiên cứu về

“Quản lý sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – Lý luận, chính sách

và giải pháp” do Phạm Xuân Nam làm chủ nhiệm (2001) đã phân tích những vấn đề lí luận và thực tiễn của việc giải quyết sự phân hoá giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội để thực hiện công bằng xã hội và bình đẳng xã hội trong quá trình

Trang 13

tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu của Phạm Xuân Nam đã chỉ ra một số mô hình phát triển trên thế giới và đề xuất một số phương hướng cụ thể hoá đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện nguyên tắc tiến bộ xã hội và công bằng xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay (Phạm Xuân Nam

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa; Vấn đề thực hiện công bằng xã hội)

Công trình nghiên cứu về phân tầng xã hội của Trịnh Duy Luân và các

đồng sự vào những năm gần đây đã tổng kết một số vấn đề lí luận và thực tiễn

về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở Việt Nam từ góc độ xã hội học Các nghiên cứu này đã khái quát một số mô hình phân tầng xã hội và đề xuất phươn hướng tiếp tục khảo sát, đánh giá và phân tích lí luận đối với những về đề mới liên quan tới cấu trúc quyền lực, uy tín và vị thế xã hội của các giai tầng xã hội

(Trịnh Duy Luân Vấn đề phân tầng xã hội Việt Nam hiện nay; Nghiên cứu những vấn đề biến đổi xã hội ở nước ta hiện nay) Theo hướng nghiên cứu này

cần kể tới công trình khoa học của Nguyễn Đình Tấn về những vấn đề lí luận của cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, các các kiến giải khác nhau về sự phân tầng xã hội từ các giác độ khoa học chính trị học, xã hội học, kinh tế học; các

mô hình phân tầng xã hội (Nguyễn Đình Tấn Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội) Công trình nghiên cứu có tính chất lí thuyết và thực nghiệm về các cách

tiếp cận xã hội học kinh tế về phân hoá giàu nghèo và phân tầng xã hội, cơ cấu mạng lưới xã hội và vai trò của nó đối với cơ động xã hội và tìm kiếm việc làm

(Lê Ngọc Hùng Xã hội học kinh tế; Lí thuyết và phương pháp tiếp cận mạng lưới xã hội) Công trình của Hoàng Chí Bảo về mối liên hệ giữa hệ thống chính

trị và sự biến đổi kinh tế-xã hội và các nghiên cứu về bình đẳng giới và xoá đói

giảm nghèo (Hoàng Chí Bảo Cơ sở và hệ thống chính trị ở cơ sở đối với ổn định và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa) Một trong những phát

hiện quan trọng của các nghiên cứu này là sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức đối với những vấn đề biến đổi cơ cấu xã hội và phân

Trang 14

tầng xã hội và vai trò của các tổ chức chính trị và tổ chức xã hội dân sự trong xoá đói giảm nghèo và sự xuất hiện của các nhóm xã hội ưu trội

Nghiên cứu về sự biến đổi xã hội Một số nghiên cứu đã tập trung vào

phân tích cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở thành thị, nông thôn và những vùng miền nhất định nhằm chỉ ra những đặc thù về phân hoá giàu nghèo dưới tác động của các quá trình như đô thị hoá và công nghiệp hoá (Nguyễn Hữu

Minh và các đồng sự Nghiên cứu nghèo khổ ở đô thị Việt Nam) Một số nghiên

cứu tập trung vào xem xét các quá trình phân tầng xã hội như di cư, di động xã hội để từ đó có thể đưa ra các dự báo về sự biến đổi cơ cấu xã hội và phân tầng

xã hội (Đặng Nguyên Anh Chiều cạnh giới của di dân lao động trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá) Nghiên cứu của Đỗ Thiên Kính đã tập trung

đánh giá vai trò của học vấn đối với phân hoá giàu nghèo và so sánh tính cơ động xã hội giữa các thế hệ trước và từ thời kỳ đổi mới ở Việt Nam đã phát hiện

ra xu hướng cơ động với nhịp độ nhanh hơn, rộng mở hơn của thế hệ sau so với

thế hệ trước (Đỗ Thiên Kính Di động xã hội giữa các thế hệ trong hai thời kỳ trước và sau đổi mới ở Việt Nam)

Nghiên cứu tác động xã hội của hội nhập kinh tế quốc tế Một số nghiên

cứu đã tập trung vào đánh giá các tác động của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đối với sự phát triển xã hội và biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam Đó là các nghiên cứu thuộc đề tài KX.08-01 do Lê Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm về xu thế toàn cầu hoá trong hai thập niên đầu thế kỷ 21 Các nghiên cứu này đã chỉ ra đặc điểm của toàn cầu hoá và những biện pháp quan trọng như nâng cao nhận thức của các cấp các ngành và các tầng lớp nhân dân về chủ trương của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế thế giới; đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm

cải thiện mức sống của các giai tầng xã hội (Lê Hữu Nghĩa và các đồng sự Xu thế toàn cầu hoá trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI)

Trang 15

Nhìn chung các công trình nghiên cứu nêu trên đều có giá trị tham khảo quan trọng về mặt lí luận và thực tiễn Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào đặt ra mục tiêu làm rõ những vấn đề lí luận và thực tiễn về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội trong điều kiện hiện nay ở nước ta Các nghiên cứu hiện có đã phân tích những mặt riêng lẻ mà chưa tập trung vào các vấn đề cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội Các nghiên cứu chưa phân tích đầy đủ các mối liên hệ giữa cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội với các vấn đề môi trường kinh tế-chính trị-pháp lí-văn hoá trong nước và quốc tế Các nghiên cứu này cũng chưa đánh giá toàn diện các tác động tích cực và tiêu cực của kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế nhất là từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới đến nay Do đó, việc dự báo xu hướng biến đổi và giải pháp định hướng và điều chỉnh cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội còn nhiều hạn chế

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên ngành và chuyên ngành từ các góc độ khoa học khác nhau về cơ cấu xã hội và phân tầng

xã hội Về mặt lí luận, các nghiên cứu cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội, phân tầng kinh tế với phân tầng xã hội Một số nghiên cứu, ví dụ của Pareto và Weber đi sâu phân tích tình trạng bất bình đẳng xã hội trên các khía cạnh tài sản, thu nhập, quyền lực,

uy tín và chỉ ra các nguyên nhân kinh tế, giáo dục, gia đình và năng lực của cá nhân đối với sự phân tầng xã hội Các nghiên cứu này đã chỉ ra sự cần thiết phải định hướng, điều chỉnh cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội từ mô hình chóp nón với đa số người nghèo sang mô hình thoi với một số ít người nghèo và chấp nhận khoảng cách giàu nghèo tăng lên Những nghiên cứu này đã gợi ra hướng giải quyết là vừa phân phối lại thu nhập xã hội sao cho công bằng vừa tập trung nâng cao năng suất lao động để làm cho chiếc bánh phúc lợi xã hội to ra nhằm đảm bảo mỗi phần thu nhập của các giai tầng đều tăng lên (W Pareto

Principles of Sociology; Max Weber Society and Economy)

Trang 16

Đặc biệt từ giữa thế kỷ 20, trên cơ sở thừa nhận vai trò quyết định của các điều kiện kinh tế đối với sự hình thành các giai tầng xã hội và sự phân hoá xã hội thành các tầng lớp xã hội trong cơ cấu xã hội, nhiều công trình nghiên cứu

đã đi sâu phân tích các mô hình cơ cấu xã hội và các nguyên nhân của sự phân tầng xã hội Các công trình nghiên cứu ở các nước công nghiệp phát triển đã chỉ

ra cơ cấu giai cấp xã hội, cơ cấu xã hội nghề nghiệp và sự phân tầng xã hội thành các giai tầng như thượng lưu, trung lưu và hạ lưu Nghiên cứu cơ cấu xã hội ở những nước như Nhật Bản chỉ ra nguyên nhân của sự phân tầng xã hội là các điều kiện kinh tế, nghề nghiệp và cả yếu tố văn hoá truyền thống đề cao thâm niên và kinh nghiệm sống Các nghiên cứu này cũng nhấn mạnh sự bất bình đẳng xã hội, nghèo đói và tính cơ động xã hội của cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội mà nhờ nó các cá nhân có thể di chuyển và thay đổi địa vị kinh tế-xã

hội trên cùng một giai tầng hoặc giữa các giai tầng xã hội (Talcott Parsons The Social System; Bottomore Classes in modern society; Harold Kerbo Social Stratification and Inequality; Caroline Hodges Persell Social Stratification, class and poverty)

Công trình nghiên cứu của Gary Becker vào những năm 1960 đã chỉ ra vai trò của một loại vốn phi kinh tế - vốn con người (Human Capital) mà nhiều người gọi đơn giản là yếu tố con người trong phát triển sản xuất kinh doanh Theo Becker, để tăng trưởng kinh tế các gia đình, doanh nghiệp và xã hội cần đầu tư vốn kinh tế và cả vốn con người, tức là đầu tư vào giáo dục đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp, có như vậy người lao động mới tìm được loại việc làm phù hợp và có thu nhập cao Nghiên cứu của Becker cho thấy việc đầu tư phát triển vốn con người còn góp phần giảm bớt bất bình đẵng xã hội và phòng chống được tệ nạn xã hội bởi vì khi con người có tri thức và kỹ năng giải quyết vấn đề thì họ sẽ có khả năng lựa chọn và ra quyết định cần thiết

đối với những vấn đề đặt ra (Gary Becker Nhìn cuộc sống từ giác độ kinh tế)

Tiếp tục hướng nghiên cứu này là công trình nghiên cứu của Bourdieu, Fukuyama và Portes về nguồn vốn xã hội và phát triển đã chỉ ra sự phân tầng xã

Trang 17

hội về trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo và cả các loại vốn phi kinh tế khác như vốn văn hoá, vốn xã hội, vốn gia đình, vốn biểu tượng

Nghiên cứu của Simon Kuznets và Athur Lewis về tăng trưởng kinh tế và nghèo đói đã chỉ ra sự phân hoá giàu nghèo giữa các nước phát triển và các nước chậm phát triển, giữa thành thị và nông thôn trong cùng một quốc gia là do những nguyên nhân kinh tế và nguyên nhân phi kinh tế Nông thôn hay những vùng kinh tế dựa vào nông nghiệp quy mô nhỏ và dân số đông thường dễ bị nghèo đói Thành thị hay những vùng kinh tế dựa vào sản xuất công nghiệp với

kỹ thuật cao và đầu tư vốn lớn thường có mức tăng trưởng nhanh (Kuznets và

Lewis Các bài thuyết trình tại lễ trao giải thưởng Nobel về khoa học kinh tế,

1969-1980)

Nghiên cứu của Robert Chambers và các đồng sự về tình trạng nghèo đói

ở các nước chậm phát triển vào những năm 1960-1980 cho biết sự phân hoá giàu nghèo gắn liền với sự phân hoá về trình độ học vấn, năng lực Do đó, nghiên cứu này đã đề xuất giải pháp tăng cường sự hiểu biết, kỹ năng và thu hút người nghèo tích cực tham gia xoá đói giảm nghèo với phương châm “hãy bắt

đầu từ người nghèo” (R.Chambers, và các đồng sự Phát triển nông thôn: hãy bắt đầu từ người nghèo khổ)

Nghiên cứu của Amartya Sen về phân hoá giàu nghèo và tăng trưởng kinh

tế cho biết sự phát triển bền vững không chỉ là tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường mà còn bao hàm phát triển văn hoá, giáo dục, sức khoẻ Sự phân hoá giàu nghèo bao hàm cả sự phân hoá về các cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội và quản lí xã hội Nghiên cứu của Amartya Sen cho thấy sự cần thiết phải thường xuyên bổ sung thông tin chính xác, khách quan về tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng xã hội để trên cơ sở đó hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững Đồng thời nghiên cứu này cũng gợi ra một số suy nghĩ về điều chỉnh cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội theo hướng nâng cao năng lực thực

Trang 18

hiện các quyền học tập, chăm sóc sức khoẻ, sản xuất kinh doanh và tham gia quản lí xã hội của cả những người thuộc giai tầng yếu thế và nghèo đói

Nghiên cứu của Richard Swedberg vào những năm 1980-1990 cho biết sự cần thiết phải tính đến các quy luật của thị trường trong điều tiết cơ cấu xã hội

và phân tầng xã hội, ví dụ trong giáo dục phổ thông nhà nước phải bao cấp để đảm bảo trẻ em của các giai tầng nghèo đói đều được đi học và đạt phổ cập giáo dục Nhưng nhà nước có thể không cần bao cấp mà vận dụng quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị để điều tiết giáo dục đại học bởi vì ở bậc học này phần

đông sinh viên xuất thân từ giai tầng khá giả và giàu có (R Swedberg Market and Social Structure)

Đặc biệt là nghiên cứu của Joshep Stiglitz về toàn cầu hoá trong đó ông

đã chỉ ra vai trò tích cực và tiêu cực của các tác động từ phía các tổ chức quốc tế đối với sự tăng trưởng của các nước đang phát triển và chậm phát triển Nghiên cứu này gợi ra suy nghĩ rất quan trọng về việc tích cực và chủ động hội nhập quốc tế trên cơ sở vừa phát huy nội lực vừa tranh thủ ngoại lực trong bối cảnh toàn cầu hoá; đồng thời cần nâng cao năng lực ứng phó với những hệ luỵ và những mặt trái của kinh tế thị trường và toàn cầu hoá (Joseph Stiglitz

Globalization and its Discontents - Toàn cầu hóa và những hệ lụy)

Có thể nhận thấy việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu lí luận về cơ cấu

xã hội và phân tầng xã hội trên thế giới qua việc phát triển và sử dụng các chỉ số

đo lường, đánh giá sự phát triển xã hội Từ giữa thế kỷ 20 đến nay nhiều nghiên cứu lí luận và thực nghiệm của các nhà khoa học quốc tế về vấn đề liên quan tới

cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội đã được công bố Các báo cáo phát triển thế giới của Liên Hợp Quốc và Ngân hàng thế giới đã sử dụng cùng với chỉ số kinh

tế như Tổng thu nhập quốc dân (GNI) và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) các chỉ số phát triển xã hội như chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số phát triển giới (GDI) để đánh giá mức độ bình đẳng giới của xã hội, chỉ số nghèo (PI), tỉ lệ

Trang 19

dân số sống dưới ngưỡng nghèo 1US$, tỉ lệ dân số sống dưới ngưỡng nghèo 2US$, khoảng cách nghèo, khoảng cách giàu nghèo

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các thể chế xã hộivới chất lượng cuộc sống của Ngân hàng thế giới đã chỉ ra sự cần thiết phải đổi mới các thể chế kinh

tế để tăng cường sự phối hợp hành động nhằm tăng trưởng và giảm bớt bất bình đẳng xã hội và hỗ trợ xoá đói giảm nghèo một cách có hiệu quả bền vững (Ngân

hàng thế giới Sustainable Development in a Dynamic World: Transforming Institutions, Growth, and Quality of Life 2003) Nghiên cứu của các tổ chức

quốc tế đã tập trung vào những chuyên đề như dịch vụ cho người nghèo trong

đó nêu một số bài học về cải tiến dịch vụ tín dụng, dịch vụ giáo dục, dịch vụ y

tế, dịch vụ công đối với người nghèo (Ngân hàng thế giới Making Services Work for Poor People) Báo cáo phát triển thế giới gần đây nhất, năm 2006 tập

trung vào vấn đề công bằng xã hội và bình đẳng xã hội trong từng quốc gia và giữa các nước trên thế giới Các khía cạnh của bất bình đẳng về sức khoẻ, giáo dục, kinh tế và bất bình đẳng giới đã được phân tích kỹ lưỡng để từ đó có thể bàn về tầm quan trọng và tính cấp thiết phải có những hành động phù hợp như nâng cao năng lực cá nhân và cải cách thể chế kinh tế và cải tạo cơ sở hạ tầng để

thực hiện công bằng xã hội trong quá trình phát triển (Ngân hàng thế giới Word Development Report 2006: Justice and Development)

Nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc đã chỉ ra xu hướng biến đổi xã hội từ cơ cấu xã hội gồm hai giai cấp nông dân và công nhân và một tầng lớp trí thức sang cơ cấu xã hội gồm mười giai tầng khác nhau về các tiêu chí như nguồn lực tổ chức, nguồn lực kinh tế và nguồn lực văn hoá (Lục Học Nghệ

Báo cáo nghiên cứu giai tầng xã hội Trung Quốc đương đại) Đây là một cách

tiếp cận rất đáng quan tâm tìm hiểu kỹ vì đã đề xuất cách giải thích theo “giai tầng luận” có thể phù hợp với thời kỳ cải cách kinh tế ở Trung Quốc Công trình nghiên cứu về nghèo khổ ở thành thị Trung Quốc do tác giả Liang Ningxin và các đồng sự đã tổng thuật cách tiếp cận cơ cấu-chức năng và cách tiếp cận văn

Trang 20

hoá đối với sự phân hoá giàu nghèo Nghiên cứu này chỉ ra sự cần thiết phải tổng hợp nhiều lí thuyết một cách có phê phán để giải thích sự phân tầng xã hội đồng thời chỉ ra xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội từ cơ cấu địa vị theo thang bậc cứng nhắc sang cơ cấu mạng lưới cơ động của các giai tầng và các nhóm xã hội

(Liang Ningxin Nghiên cứu nghèo khổ: những phân tích phương pháp luận hiện có và góc nhìn nghiên cứu mới)

Nghiên cứu so sánh của các nhà khoa học Nhật Bản về cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội của Nhật Bản, Singapore và Việt Nam cho biết những giai đoạn khác nhau của sự biến đổi cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội Xã hội Nhật Bản đã đạt trình độ phát triển công nghiệp rất cao và đang chuyển sang xã hội hậu công nghiệp, xã hội dịch vụ với đặc trưng là tỉ lệ lao động trong khu vực dịch chiếm tỉ lệ cao nhất trên 50%, sau đó là lao động công nghiệp - xây dựng

và lao động nông nghiệp chỉ chiếm dưới 5% Tuy nhiên, Nhật Bản và cả Sinhgapore là những nước có mức sống rất cao cũng gặp phải không ít những vấn đề xã hội cần phải nghiên cứu để quản lý, điều chỉnh kịp thời Đó là những vấn đề nảy sinh từ sự biến đổi cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội như vấn đề giảm mức sinh đang làm cho quy mô dân số giảm, tỉ lệ dân số trẻ giảm; vấn đề già hóa dân số làm cho gánh nặng phúc lợi xã hội gia tăng và thiếu sức lao động; vấn đề thất nghiệp do tiền công lao động quá cao, công nghệ hiện đại sử dụng ít lao động Các nhà nghiên cứu Nhật Bản cho biết ở Việt Nam tuy chưa gặp phải những vấn đề đặc trưng của xã hội phát triển nhưng lại đang phải đối mặt với những vấn đề của nước chậm phát triển và bị ảnh hưởng bởi toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Trong đó nổi lên những vấn đề như tắc nghẽn giao thông,

ô nhiễm môi trường, di cư lao động nông thôn ra thành thị, thiếu việc làm, phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội và nhất là hạ tầng cơ sở yếu kém, thiếu nguồn lực phát triển bền vững

Riêng đối với Việt Nam, nhóm nghiên cứu của các nhà tài trợ quốc tế đã dành hẳn hai báo cáo về chuyên đề nghèo đói và bất bình đẳng xã hội Báo cáo

Trang 21

phát triển năm 2000 của các nhà tài trợ quốc tế tập trung vào phân tích những thành công của Việt Nam trong thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo và chỉ ra sự phân hoá giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội giữa các nhóm hộ gia đình và giữa các khu vực, vùng miền ở Việt Nam; đồng thời gợi ra những hướng tấn công nghèo đói trên các mặt giáo dục, y tế, tín dụng, cơ sở hạ tầng (Joint

Donor Report: Vietnam Development Report 2000: Vietnam Attacking Poverty)

Báo cáo phát triển năm 2004 về chuyên đề “Nghèo” tập trung phân tích tình trạng nghèo đói và gợi ra một số suy nghĩ về chính sách giảm nghèo trong đó nhấn mạnh vai trò của các chương trình phát triển lồng ghép mục tiêu giảm nghèo và sự tham gia của các nhóm, các gia đình và người nghèo (Joint Donor

Report: Vietnam Development Report 2004: Poverty)

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài “Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện mới hiện nay”, có thể rút ra một số

nhận định như sau:

Một là, vấn đề “cơ cấu xã hội” và “phân tầng xã hội” đã được quan tâm

nghiên cứu trong nhiều tài liệu trong nước và quốc tế Tuy nhiên, nội dung của các khái niệm này vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất trong số các nhà nghiên cứu và cán bộ lãnh đạo quản lí Vẫn có một số quan niệm giới hạn khái niệm cơ cấu xã hội trong phạm vi cơ cấu xã hội gồm các giai cấp và giới hạn khái niệm phân tầng xã hội trong phạm vi phân hoá giàu nghèo Quan niệm này

đã cản trở cách nhìn thẳng vào sự thật biến đổi xã hội ở nước ta trong thời gian qua, dẫn đến cách tiếp cận thuần túy kinh tế là: chờ đợi khi nào tăng trưởng kinh

tế và giàu có thì mới tập trung giải quyết vấn đề bất bình đẳng xã hội Do đó, cần nghiên cứu để làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn đối với thực trạng và

sự biến đổi cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta hiện nay

Hai là, các nghiên cứu đã đưa ra một số các tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ báo đo

lường sự phân tầng xã hội, trong số đó nổi bật các tiêu chí về mức sống kinh tế, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ và chỉ số tổng hợp như chỉ số phát triển con người và chỉ số

Trang 22

phát triển giới Trên cơ sở đó có thể xây dựng và bổ sung những tiêu chí xã hội để có thể đánh giá toàn diện cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội Tuy nhiên, cần bổ sung những tiêu chí để đánh giá toàn diện hơn Đặc biệt, một số vấn đề mới đang nổi lên cần phải nghiên cứu sâu là: sự phân hoá giàu nghèo, sự xuất hiện một số giai tầng xã hội mới, sự phân hoá trong nội bộ từng giai tầng xã hội và sự biến đổi mối quan hệ cùng vị trí và vai trò của các giai tầng xã hội trong cơ cấu xã hội dưới tác động của kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá

Ba là, các nghiên cứu đã phân tích một số các nguyên nhân, yếu tố tác động

tới cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta Tuy nhiên, các nguyên nhân đó chủ yếu được xem xét từ góc độ cá nhân, gia đình Cần bổ sung cách tiếp cận như hệ thống-cấu trúc, tiếp cận chức năng, tiếp cận thiết chế và tiếp cận mạng lưới xã hội, đặc biệt là phương pháp tiếp cận phát triển để đánh giá được toàn diện các yếu tố tác động tới cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội

Bốn là, các nghiên cứu đã phân tích và khái quát được một số mô hình cơ

cấu xã hội và phân tầng xã hội, nhưng các mô hình đó chủ yếu là dựa vào cơ cấu của các địa vị kinh tế Cần nghiên cứu để phát hiện ra những biểu hiện và những đặc điểm, tính chất mới của cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội dựa vào mạng lưới xã hội, các địa vị xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Năm là, các nghiên cứu đã chỉ ra một số xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội

và phân tầng xã hội trên một số mặt riêng lẻ như thu nhập, chi tiêu, giáo dục và sức khoẻ Nhiều khía cạnh khác của cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội đang có

xu hướng biến đổi mạnh mẽ nhưng chưa được phân tích đầy đủ Trong số đó có

xu hướng biến đổi không đồng đều của các giai tầng và các nhóm xã hội trong

cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội cũng như sự biến đổi của các mô hình dưới tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

Sáu là, một số nghiên cứu đã đề cập tới một số mô hình cơ cấu xã hội và

phân tầng xã hội ở các nước khác Tuy nhiên, việc nghiên cứu các kinh nghiệm

Trang 23

và bài học quốc tế về điều này chưa được đặt thành vấn đề lí luận và thực tiễn nên kết quả thu được còn mang tính chất riêng lẻ, thiếu hệ thống Đặc biệt cần thấy rằng cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, một mặt là một thực tế khách quan

và phổ biến ở các nơi trên thế giới, mặt khác do điều kiện kinh tế-chính trị-văn hoá-xã hội khác nhau mà bản chất và các hình thức biểu hiện của cơ cấu xã hội

và phân tầng xã hội có thể rất khác nhau tuỳ thuộc vào bối cảnh lịch sử cụ thể của xã hội

Bảy là, các nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp tác động tới cơ cấu xã

hội và phân tầng xã hội trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kết cấu

hạ tầng và xoá đói giảm nghèo Các biện pháp này đòi hỏi sự đổi mới chính sách

và nâng cao năng lực của người nghèo, hộ nghèo, địa phương nghèo Tuy nhiên, cần nghiên cứu toàn diện để có thể đề xuất các giải pháp toàn diện, đồng bộ để định hướng và điều chỉnh cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội theo hướng phát triển bền vững Các phương pháp tiếp cận phát triển toàn diện, phát triển bền vững, tiếp cận pháp quyền, tiếp cận bình đẳng giới, tiếp cận tham gia, tiếp cận liên cấp, liên ngành cần được áp dụng triệt để nhằm phân tích và đề xuất các quan điểm và giải pháp trước mắt và lâu dài định hướng và điều chỉnh cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta

Tóm lại, tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới cho thấy việc thực

hiện một đề tài khoa học có quy mô lớn với tính chất tổng thể, toàn diện về lí luận

và thực tiễn với chủ đề “Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay” là một đóng góp khoa học quan trọng và cần thiết đáp ứng yêu cầu cấp bách của đổi mới công tác lãnh đạo, quản lí sự phát triển xã hội theo hướng bền vững của đất nước ta trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đề tài nhằm thực hiện bốn mục tiêu cơ bản sau đây:

Trang 24

• Làm rõ những vấn đề lý luận - thực tiễn về cơ cấu xã hội và phân tầng

xã hội trong điều kiện đổi mới hiện nay

• Phân tích thực trạng cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của nước ta

• Phân tích nguyên nhân của những biến đổi cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội Tác động tích cực và tác động tiêu cực của những biến đổi đó đối với công cuộc đổi mới đất nước đến năm 2020 Dự báo

xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, những vấn đề nảy sinh cần định hướng, thúc đẩy hoặc hạn chế

• Đề xuất giải pháp định hướng cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội đến năm 2020 nhằm tạo động lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững

4 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN, PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý luận và phương pháp luận

Đề tài được triển khai trên cơ sở áp dụng lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam Đồng thời Đề tài cũng áp dụng phương pháp luận hệ thống - cấu trúc, gắn lý luận với thực tiễn đổi mới, coi trọng tổng kết thực tiễn

Phương pháp tiếp cận

Do tính chất phức tạp nhiều chiều cạnh của cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội nên trong nghiên cứu này cần áp dụng các phương pháp chuyên ngành và liên ngành khoa học

Trang 25

Điều này đòi hỏi, về mặt nghiên cứu lý thuyết, cần tìm hiểu và vận dụng các tri thức khoa học từ các bộ môn khoa học khác nhau trong đó có triết học Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học, kinh tế chính trị Mác - Lênin, kinh tế, đặc biệt là xã hội học và một số khoa học khác

Về mặt nghiên cứu thực nghiệm, phương pháp tiếp cận liên ngành đòi hỏi phải áp dụng các phương pháp thu thập, xử lý, phân tích dữ liệu từ nhiều khách thể khác nhau, từ tài liệu hiện có dưới dạng các ấn phẩm đến các kết quả thu thập, xử lý từ các cuộc điều tra, khảo sát có liên quan đến chủ đề cơ cấu xã hội

và phân tầng xã hội

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đề tài áp dụng các phương pháp như phân tích và tổng hợp, lịch sử và logic; so sánh, điều tra xã hội học; xử lý, phân tích các tài liệu, số liệu’ phương pháp phỏng vấn sâu, v.v

5 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Đề tài góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận khoa học về cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội, góp phần đổi mới tư duy và quan niệm về thực trạng và

xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI

Đề tài đề xuất một số những kiến nghị có giá trị tham khảo cho Đảng và Nhà nước trong quá trình hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách và các biện pháp định hướng cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội và lãnh đạo, quản lý sự phát triển xã hội trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay

Kết quả nghiên cứu của Đề tài là nguồn tài liệu khoa học có giá trị cho việc bổ sung, đổi mới nội dung nghiên cứu, đào tạo nhất là đối với một số bộ môn xã hội học và lý luận chính trị ở Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia

Hồ Chí Minh, cũng như ở các viện nghiên cứu và các trường đại học

Trang 26

6 KẾT CẤU BÁO CÁO TỔNG HỢP

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu của Đề tài được kết cấu và trình bày thành các chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Thực trạng cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Yếu tố tác động, xu hướng biến đổi và các giải pháp định hướng cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới

Trang 27

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU

1.1.1 Khái niệm cơ cấu xã hội

“Cơ cấu xã hội” từ góc độ bộ môn chủ nghĩa xã hội khoa học

Cần ghi nhận một điều quan trọng sau đây: các khoa học khác nhau quan niệm không giống nhau về “cơ cấu xã hội” Có thể nêu một số ví dụ như sau:

Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học định nghĩa:

“Cơ cấu xã hội là tất cả những cộng đồng người và toàn bộ các quan hệ xã hội do sự tác động lẫn nhau của các cộng đồng ấy tạo nên”1

Định nghĩa này cho thấy cơ cấu xã hội được tạo bởi hai thành phần chủ yếu là “cộng đồng người” và “quan hệ xã hội” của các cộng đồng

“Cộng đồng xã hội là một bộ phận người có chung một số dấu hiệu, nguyên tắc”2

Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học xem xét các dấu hiệu khách quan, tự nhiên như giai cấp, dân số, dân cư, nghề nghiệp, tôn giáo và tương ứng phân biệt các loại hình cơ cấu xã hội như cơ cấu xã hội - giai cấp, cơ cấu xã hội - dân số, cơ cấu xã hội - nghề nghiệp, cơ cấu xã hội - dân tộc, cơ cấu xã hội - tôn giáo,

Trong cơ cấu xã hội, cơ cấu xã hội - giai cấp được coi là cơ bản, có vị trí quyết định, chi phối các loại hình cơ cấu xã hội khác

“Cơ cấu xã hội” từ góc độ xã hội học

Khái niệm “cơ cấu xã hội”

1 Bộ Giáo dục và đào tạo Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học Nxb Hồng Đức Hà Nội 2008 Tr 180

2 Bộ Giáo dục và đào tạo Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học Nxb Hồng Đức Hà Nội 2008 Tr 179

Trang 28

Trong xã hội học, khái niệm này thường được dùng để chỉ1:

• Các mối quan hệ tương đối ổn định, bền vững của các thành phần tạo nên xã hội

• Sự sắp xếp thành khuôn mẫu, trật tự các vị trí, vị thế của các cá nhân, nhóm người tạo nên hệ thống xã hội

Các nhà xã hội học thường nhấn mạnh “các mối liên hệ xã hội, quan hệ xã hội” để định nghĩa cơ cấu xã hội Trong các tài liệu xã hội học khái niệm này có thể được dịch hiểu là ”cấu trúc xã hội” (social structure) để nhấn mạnh các mối liên hệ, quan hệ giữa các thành phần tạo nên một đơn vị, một hệ thống xã hội Trong lĩnh vực xã hội học có nhiều định nghĩa về cơ cấu xã hội (hay cấu trúc xã hội) ví dụ, một định nghĩa cho rằng: cơ cấu xã hội là mối liên hệ vững chắc của các thành tố trong hệ thống xã hội trong đó các cộng đồng xã hội (dân tộc, giai cấp, nhóm nghề nghiệp) là những thành tố cơ bản tạo nên cơ cấu xã hội Về phần mình, mỗi cộng đồng xã hội lại có cơ cấu phức tạp với các nhóm và các tầng lớp bên trong và những mối liên hệ giữa chúng

Một định nghĩa khác cho rằng cơ cấu xã hội là mô hình của các mối liên

hệ giữa các thành phần cơ bản trong một hệ thống xã hội, những thành phần này tạo bộ khung cho tất cả các xã hội loài người, mặc dù tính chất, quan hệ giữa chúng có sự biến đổi Những thành phần cơ bản của cơ cấu xã hội là vị trí, vai trò, nhóm, cộng đồng, thiết chế

Qua tìm hiểu các định nghĩa khác nhau2, có thể nêu lên một định nghĩa tổng quát như sau:

Cơ cấu xã hội là hệ thống chỉnh thể các mối quan hệ xã hội có tác động qua lại lẫn nhau biểu hiện ra là hệ thống các mối quan hệ tương đối bền vững giữa các giai cấp, các tầng lớp, các cộng đồng xã hội, các tổ chức, các nhóm xã

1 Từ điển xã hội học Oxford Nxb Đại học quốc gia Hà Nội 2010 Tr 56 - 57; G Endruweit và G Trommsdorf

Từ điển xã hội học Nxb Thế Giới Hà Nội 2002 Tr 106 - 107

2 Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Giáo trình xã hội học trong quản lý Nxb Lý luận chính trị Hà Nội

2005 Tr 49

Trang 29

hội có khả năng xác định các hành vi, hoạt động, vị thế, vai trò của bộ phận cấu thành nên hệ thống xã hội đó

Khái niệm cơ cấu xã hội chỉ sự sắp xếp, tổ chức xã hội Mỗi cơ cấu xã hội bao gồm nhiều thành phần, nhiều đơn vị liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành các

tổ chức, cộng đồng xã hội và một chỉnh thể xã hội mà ta gọi là xã hội

Khái niệm cơ cấu xã hội chủ yếu nói đến mặt "tĩnh" của xã hội, nghĩa là nhấn mạnh khía cạnh xã hội được sắp xếp như thế nào, các mối liên hệ xã hội và quan hệ xã hội đã được xác định thành kiểu gì, hình thức ra sao

Khái niệm cơ cấu xã hội nhấn mạnh tính phức tạp, đa dạng của các mối liên hệ, quan hệ và tương tác giữa các cá nhân, các nhóm người Giữa các cơ cấu

xã hội cũng có mối liên hệ và quan hệ với nhau tạo thành một mạng lưới, tạo thành một cơ cấu xã hội lớn hơn, phức tạp hơn

Các thành tố cơ bản của cơ cấu xã hội theo quan niệm xã hội học

Các nhà xã hội học đã chỉ ra nhiều thành tố cơ bản tạo nên cơ cấu xã hội như sau:

• Các cộng đồng người, các giai cấp, tầng lớp xã hội, nhóm xã hội

• Các hệ thống xã hội

• Các vị thế xã hội và các vai trò xã hội

• Các mối liên hệ, quan hệ xã hội, các mạng lưới xã hội

xã hội Nhóm xã hội ở quy mô to lớn phức tạp như là “cộng đồng xã hội” hay một

Trang 30

xã hội cụ thể được xác định về mặt lịch sử, hoặc như “giai cấp”, “tầng lớp”, “cơ quan”, “tổ chức”

Do tính chất phức tạp của khái niệm cơ cấu xã hội nên nghiên cứu này sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành khoa học để xem xét các chiều cạnh, các hình thức biểu hiện khác nhau của “cơ cấu xã hội” và “phân tầng xã hội”

1.1.2 Khái niệm “Phân tầng xã hội”

Khái niệm “cơ cấu xã hội” gắn chặt với khái niệm “phân tầng xã hội” Các nhà xã hội học cho rằng phân tầng xã hội là sự phân hoá xã hội, sự sắp xếp các

cá nhân, các nhóm người thành những tầng bậc khác nhau về những dấu hiệu, những đặc điểm cơ bản của xã hội1 Phân tầng xã hội về mặt kinh tế là sự sắp xếp các cá nhân, hộ gia đình, các nhóm người thành những tầng lớp khác nhau về thu nhập, chi tiêu hoặc của cải của họ

Phân tầng xã hội tạo ra các tầng lớp trên dưới, cao thấp khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội và nhiều đặc điểm, tính chất khác Ví dụ: ở tầng "đáy", tầng thấp nhất có thể bao gồm những thành viên nghèo, yếu thế; tương

tự như vậy là tầng "giữa", tầng trên giữa, tầng cận "đỉnh" Tầng "đỉnh", tầng cao nhất cũng có thể hội đủ các thành viên ưu trội ở hầu hết các giai cấp, tầng lớp trong

xã hội Nhưng chủ yếu là các quan chức cao cấp, các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học - công nghệ có trình độ cao, các chủ tập đoàn, doanh nghiệp lớn, các chính khách lớn

Một điều quan trọng về mặt lý thuyết cần nêu ra ở đây là cả khái niệm “cơ cấu xã hội” và “phân tầng xã hội” đều được sử dụng để nói về mặt tĩnh tại của

hệ thống xã hội, tức là để trả lời câu hỏi hệ thống xã hội có các bộ phận gì và giữa chúng có các mối quan hệ như thế nào Đồng thời hai khái niệm này được

sử dụng để nói về quá trình vận động, biến đổi của cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội Trong trường hợp như vậy, trong xã hội học có khái niệm “cấu trúc hóa xã

1 Từ điển xã hội học Oxford Nxb Đại học quốc gia Hà Nội 2010 Tr 441 - 442

Trang 31

hội” và “sự phân tầng xã hội” Điều này có nghĩa là cơ cấu xã hội và phân tầng

xã hội không cố định, không bất biến mà liên tục vận động, biến đổi, và do vậy,

về mặt lý luận cần nghiên cứu phát hiện nguyên nhân và dự báo xu hướng biến đổi, đồng thời cần gợi mở suy nghĩ về các giải pháp định hướng, điều chỉnh “cơ cấu xã hội”, “phân tầng xã hội” phù hợp

1.1.3 Khái niệm “nhóm thu nhập”, “nhóm 20%”, “nhóm ngũ vị phân” và “nhóm giàu”, “nhóm nghèo”

Đơn vị cơ bản tạo nên cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội là các nhóm xã hội Các nhóm này có xuất hiện và hoạt động một cách tự nhiên, có thể tạo thành các tầng lớp và chiếm những vị trí, vai trò nhất định trong cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội

Cuộc khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam và cuộc khảo sát cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội đã sử dụng khái niệm “nhóm thu nhập” để đánh giá thực trạng phân tầng xã hội của các nhóm này Các nhóm thu nhập ở đây được xác định là năm nhóm ngũ vị phân, tức là mỗi nhóm chiếm 20% tổng số các cá nhân hoặc các gia đình Cụ thể cách xác định nhóm ngũ vị phân về mức thu nhập như sau: một tập hợp các hộ gia đình hoặc một tập hợp các cá nhân được phân chia thành 5 nhóm mỗi nhóm 20% theo mức thu nhập hoặc mức chi tiêu từ trên xuống dưới

Nhóm 20% có mức thu nhập cao nhất từ trên xuống có thể gọi là nhóm giàu nhất và nhóm 20% có mức thu nhập hoặc chi tiêu thấp nhất từ dưới lên gọi

là nhóm nghèo nhất

Để làm rõ cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội giữa các nhóm xã hội, có thể

so sánh các nhóm ngũ vị phân này với nhau, đặc biệt là so sánh nhóm 20% giàu nhất (gọi tắt là nhóm I hay nhóm giàu nhất) với nhóm 20% nghèo nhất (gọi tắt là nhóm V hay nhóm nghèo nhất) về từng lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội: kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, tham gia quản lý và sự hài lòng với cuộc sống

Từ đó có thể đánh giá được thực trạng phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội và

Trang 32

cơ cấu xó hội của từng cộng đồng xó hội nhất định như tỉnh, thành phố hoặc cả một vựng, một quốc gia

Việc xỏc định và sử dụng khỏi niệm nhúm ngũ vị phõn hay nhúm 20% đó trở nờn phổ biến ở Việt Nam từ năm 1992 đến nay Cuộc điều tra mức sống dõn

cư Việt Nam trờn mẫu đại diện cho cả nước được thực hiện lần đầu ở nước ta năm 1992-1993 đó sử dụng khỏi niệm này Do vậy, trong cuốn sỏch này nhúm ngũ vị phõn, tức là nhúm 20% theo mức thu nhập bỡnh quõn đầu người, hoặc thu nhập bỡnh quõn đầu người của hộ gia đỡnh cú thể gọi ngắn gọn là nhúm thu nhập, nhúm giàu, nhúm nghốo Núi cỏch khỏc: cỏc khỏi niệm “nhúm thu nhập”,

“nhúm 20%”, “nhúm ngũ vị phõn”, “nhúm giàu”, “nhúm nghốo” đều được xỏc định theo cỏch phõn chia nhúm như trong cuộc điều tra, khảo sỏt mức sống hộ gia đỡnh Việt Nam

1.2 MỘT SỐ LOẠI HèNH CƠ CẤU XÃ HỘI, PHÂN TẦNG XÃ HỘI

1.2.1 Một số loại hỡnh cơ cấu xó hội

Có thể xem xét các cơ cấu xã hội trên nhiều phương diện cơ bản của đời sống xã hội Trong số đó, cơ bản nhất và quan trọng nhất là cơ cấu xã hội – giai cấp, tiếp đến là cơ cấu xã hội – dân số với các hình thức của nó, cơ cấu xã hội – vùng, miền kinh tế-xã hội, cơ cấu xã hội – nghề nghiệp và các hình thái cơ cấu xã hội khác

Cơ cấu xã hội - giai cấp

Trong xã hội có giai cấp, do xã hội bị phân chia thành các giai cấp mà đặc trưng cơ bản nhất của giai cấp là quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất nên cơ cấu xã hội – giai cấp đóng một vai trò nền tảng của toàn bộ hệ thống xã hội và quy định các cơ cấu xã hội khác

Cơ cấu xã hội – giai cấp đơn giản nhất gồm hai tập đoàn lớn một là tập

đoàn người thống trị xã hội và hai là tập đoàn người bị thống trị Trong xã hội phong kiến, cơ cấu xã hội này gồm giai cấp phong kiến và giai cấp nông dân Trong xã hội tư bản chủ nghĩa cơ cấu xã hội gồm giai cấp tư sản và giai cấp vô

Trang 33

sản

Cơ cấu xã hội – giai cấp phức tạp gồm nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội như giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thợ thủ công, thương nhân

Trong xã hội bị phân chia thành giai cấp thống trị và giai cấp bị trị thì mối quan hệ giữa hai giai cấp này luôn là mối quan hệ mâu thuẫn, thậm chí là đối kháng nhau Do đó, cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp này liên tục diễn ra trong suốt lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội có sự phân chia giai cấp

Trong xã hội phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu xã hội giai cấp gồm các giai cấp và các tầng lớp xã hội với mối quan hệ đặc thù là “liên minh công nhân, nông dân, trí thức” để cùng nhau xây dựng xã hội mới dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản

Cơ cấu xã hội - dân số

Dân số với tất cả quy mô, thành phần và các quá trình của nó tạo nên một cơ cấu xã hội – dân số phức tạp Cần phân biệt cơ cấu xã hội dân số về giới tính, tuổi và dân tộc và một số cơ cấu khác

Cơ cấu xã hội – giới tính, còn gọi là cơ cấu xã hội – dân số nam và nữ

Dựa vào mối tương quan về số lượng dân số nam và dân số nữ có thể tạo nên cơ cấu xã hội cân bằng nam – nữ hoặc cơ cấu xã hội mất cân bằng nam nữ Một xã hội mất cân bằng về giới tính, ví dụ thiếu nữ và thừa nam có thể là kết quả của sự phân biệt đối xử với phụ nữ và đến lượt nó có thể gây ra hậu quả là nhiều nam giới phải sống độc thân và tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em gái

Cơ cấu xã hội – lứa tuổi: Đây là cơ cấu xã hội dân số căn cứ vào mối

tương quan giữa các dân số theo nhóm tuổi Các nhà khoa học xã hội đặc biệt quan tâm tới dân số trẻ em và dân số người cao tuổi mà căn cứ vào quy mô và tỉ

lệ của các nhóm dân số này có thể phân biệt cơ cấu xã hội – dân số trẻ và cơ cấu xã hội – dân số già Một số nước nhất là những nước phát triển có cơ cấu xã hội – dân số già với đặc trưng là dân số người cao tuổi chiếm tỉ lệ lớn trong tổng dân

Trang 34

số Cơ cấu dân số già đòi hỏi xã hội phải đặc biệt quan tâm tới an sinh xã hội đối với người cao tuổi và có thể phải chú ý tới vấn đề thiếu lao động Trong khi đó, ở những nước đang phát triển, cơ cấu xã hội có thể thuộc loại cơ cấu dân số trẻ Việt Nam đang có cơ cấu xã hội dân số trẻ với đặc trưng là dân số trẻ em dưới 15 tuổi chiếm một tỉ lệ lớn (dưới 30%) trong tổng dân số Việc phát hiện ra đặc

điểm này của cơ cấu xã hội Việt Nam là rất cần thiết và quan trọng để có thể xây dựng chính sách phát triển kinh tế-xã hội phù hợp: ví dụ do dân số trẻ nên áp lực

về giáo dục là rất lớn và đồng thời cần phải quan tâm tới việc tạo việc làm cho số lượng dân số trẻ đến tuổi lao động tham gia vào thị trường lao động-việc làm hàng năm

Có thể kết hợp hai cơ cấu xã hội theo giới tính và lứa tuổi thành một cơ cấu xã hội dân số giới tính theo tuổi Các nhà xã hội học dân số thường mô phỏng cơ cấu xã hội này dưới hình thức một tháp dân số ở đó có một trục phân chia dân số thành hai phía là dân số nam và dân số nữ với các tầng dân

số theo các nhóm tuổi từ nhỏ đến lớn

Cơ cấu xã hội – dân tộc: Việt Nam là đại gia đình gồm 54 dân tộc anh em

trong đó dân tộc Kinh đông nhất chiếm đến 87% dân số Tiếp đến là 53 dân tộc

ít người thường gọi là các dân tộc thiểu số với quy mô dân số trên một triệu người như dân tộc Tày, Thái, Mường, Khmer và những dân tộc rất ít người như dân tộc ơ Đu và Brâu

Cơ cấu xã hội – dân tộc của Việt Nam có đặc trưng cơ bản là tinh thần

đoàn kết tạo nên đại gia đình các dân tộc Việt Nam: các dân tộc đều tôn trọng lẫn nhau, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau để cùng bảo vệ, xây dựng và phát triển

đất nước

Cơ cấu xã hội – vùng miền

Cơ cấu xã hội – dân tộc gắn liền với cơ cấu xã hội - địa lý – kinh tế Dân tộc Kinh thường sinh sống tập trung ở các thành phối, các vùng châu thổ sông

Trang 35

Hồng, các đồng bằng ven biển miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long Trong khi

đó các dân tộc thiểu số sống tập trung ở các vùng trung du và miền miền núi trải dài từ miền núi cao phía Bắc đến tận vùng biển phía Nam Các nhà khoa học, các nhà thống kê, các cán bộ thực tiễn thường xác định cơ cấu xã hội - địa – kinh tế gồm các vùng miền chủ yếu sau đây:

• Vùng miền núi phía bắc gồm vùng Tây Bắc và Đông Bắc

Cơ cấu xã hội - học vấn, nghề nghiệp

Cơ cấu xã hội – học vấn cho biết mối tương quan về trình độ học vấn của

các nhóm dân số Những nước phát triển thường có cơ cấu xã hội – học vấn với

đặc trưng là tỉ lệ biết chữ cao, tỉ lệ người tốt nghiệp trung học phổ thông và tỉ lệ người có trình độ cao đẳng, đại học cao Trong khi đó, những nước chậm phát triển thường có cơ cấu xã hội – học vấn với đặc trưng cơ bản là tỉ lệ người có trình độ cao đẳng đại học rất thấp Việt Nam có tỉ lệ người biết chữ cao so với trình độ phát triển kinh tế thấp và mức sống nghèo Trong cơ cấu xã hội về mặt học vấn, Việt Nam có tỉ lệ tốt nghiệp cao đẳng, đại học còn rất thấp: ví dụ trong dân số từ 15 tuổi trở lên chỉ có chưa đến 5% dân số có trình độ cao đẳng đại học

và khoảng 45% dân số có trình độ trung học cơ sở trở xuống1

1 Tổng cục Thống kê Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2006 Nxb Thống kê Hà Nội 2007 Tr 65-66 Xem thêm Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2008

Trang 36

Cơ cấu xã hội – nghề nghiệp: Đây là cơ cấu xã hội phản ánh mối tương

quan giữa các nhóm nghề nghiệp khác nhau trong xã hội Những nước phát triển

có đặc trưng là đa số người dân làm việc trong khu vực công nghiệp và dịch vụ Trong khi đó, những nước chậm phát triển có đặc trưng là đa số dân cư sống bằng nghề nông nghiệp và ít người làm trong khu vực công nghiệp và dịch vụ Việt Nam là một nước nông nghiệp nên đa số người lao động làm trong khu vực nông nghiệp (khoảng 60% người lao động làm nghề nông lâm thuỷ sản) Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội – nghề nghiệp sẽ làm tỉ lệ lao động nông nghiệp giảm đi và lao động công nghiệp, dịch vụ tăng lên

Mô hình cơ cấu xã hội

Có thể phân biệt hai lọa mô hình cơ cấu xã hội như sau:

Một là mô hình cơ cấu xã hội hình mạng lưới với đặc trưng là các giai cấp xã hội, các nhóm xã hội, các cộng đồng xã hội được phân bố rộng khắp và có mối liên hệ, quan hệ nhiều chiều, phụ thuộc lẫn nhau mà không xác định rõ vị thế cao thấp, trên dưới một cách tuyệt đối Mô hình cơ cấu xã hội mạng lưới thể hiện rõ ở cơ cấu xã hội - dân tộc trong đó các dân tộc khác nhau đều có vị thế và vai trò bình đẳng nhau và quan hệ tôn trọng lẫn nhau, không dân tộc nào đứng trên hay đứng cao hơn dân tộc nào

Hai là mô hình cơ cấu xã hội phân tầng với đặc trưng là các nhóm xã hội, các cộng đồng xã hội, các giai cấp xã hội được sắp xếp theo một trật tự xã hội nhất định Ví dụ rõ nhất về cơ cấu xã hội phân tầng là sự phân tầng xã hội biểu hiện ra là cơ cấu trong đó có nhóm xã hội này chiếm vị thế cao hơn nhóm xã hội khác về mặt kinh tế, chính trị hay hay uy tín xã hội, nghề nghiệp

Trang 37

giữa các tầng lớp và cơ cấu tỉ lệ của từng tầng lớp Ví dụ, hình tháp phân tầng có thể gồm tầng lớp chóp bu giàu có chiếm phần lớn tài sản của toàn xã hội và tầng lớp dưới đáy nghèo khổ không

đủ sống

• Mô hình phân tầng hình đĩa bay với đặc trưng là khoảng cách giữa

tầng lớp chóp bu với tầng lớp đáy không lớn thậm chí rất nhỏ khoảng 2-3 lần trong khi đó các tầng lớp trung gian chiếm đại đa số trong xã hội

• Mô hình phân tầng hình thoi hay hình quả trứng với đặc trưng là

nhiều giai tầng xã hội trong đó tầng đáy và tầng chóp bu đều chiếm

tỉ lệ nhỏ và khoảng cách giữa hai tầng lớp này là lớn

Cơ cấu phân tầng của một xã hội có thể biến đổi từ mô hình này sang mô hình khác hoặc biến đổi trong phạm vi một mô hình Ví dụ, cơ cấu phân tầng xã hội Việt Nam đã chuyển từ mô hình tháp thấp với đặc trưng là ít người giàu và nhiều người nghèo nhưng chênh lệch không nhiều sang mô hình thoi với đặc trưng là tỉ lệ người nghèo giảm và tỉ lệ người giàu tăng đồng thời khoảng cách giàu nghèo cũng tăng nhưng chậm chạp, trong khi đó các tầng lớp trung gian tăng lên

Căn cứ vào phạm vi di động xã hội, có thể phân biệt hai mô hình phân tầng

là phân tầng đóng và phân tầng mở

• Phân tầng xã hội đóng hay phân tầng đẳng cấp đặc trưng bởi ranh giới

giữa các tầng lớp rất nghiêm ngặt, chặt chẽ do đó các cá nhân rất khó

có thể thay đổi được vị thế xã hội Mô hình phân tầng đóng không chỉ

“đóng cửa” với bên ngoài với nghĩa là rất ít người ra và cũng rất ít người gia nhập vào cơ cấu phân tầng Mà còn đóng đối với nội bộ: rất ít người di động lên tầng lớp trên và cũng rất ít người di động xuống tầng lớp dưới và ngay cả trên cùng một tầng lớp xã hội cũng ít xảy ra sự di

động xã hội Với những đặc trưng như vậy, cơ cấu phân tầng đóng chứa

đựng nguy cơ trì trệ, bảo thủ, chậm phát triển

• Phân tầng xã hội mở có đặc trưng là ranh giới giữa các tầng lớp không

quá nghiêm ngặt, các cá nhân có thể di chuyển từ vị thế này sang vị thế khác, từ tầng lớp này sang tầng lớp khác Phân tầng mở còn tạo điều kiện và cơ hội cho sự di động xã hội với bên ngoài với nghĩa là các cá nhân có thể di động vào trong và di động ra ngoài cơ cấu phân tầng xã hội Với những đặc trưng như vậy, cơ cấu phân tầng mở có nhiều tiềm

Trang 38

năng biến đổi và phát triển Cơ cấu phân tầng mở tỏ ra phù hợp với xu thế đổi mới và cởi mở trong xã hội ngày nay, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế

Trước năm 1986, cơ cấu xã hội Việt Nam chủ yếu là cơ cấu phân tầng xã hội đóng Từ khi Đổi mới đến nay cơ cấu này đã chuyển sang cơ cấu phân tầng xã hội mở với nhiều cơ hội di động và phát triển cho các cá nhân và từng giai tầng xã hội

Căn cứ vào sự phù hợp với quy luật phát triển xã hội có thể phân biệt hai mô hình cơ cấu phân tầng xã hội như sau:

• Mô hình phân tầng không hợp thức có đặc trưng cơ bản là sự phân hoá

xã hội diễn ra không phù hợp với pháp luật và đạo đức Trong mô hình này, một số người leo lên tầng lớp giàu có bằng các thủ đoạn gian dối, trái với pháp luật, trái với luân thường và vô đạo đức

• Mô hình phân tầng hợp thức có đặc trưng cơ bản là sự phân hoá xã hội

diễn ra phù hợp với pháp luật và đạo đức Những người giàu có theo mô hình này là những người có năng lực và biết làm giàu một cách chính đáng, phù hợp với pháp luật và vì vậy xứng đáng được hưởng thành quả lao động của mình

Mô hình phân tầng hợp thức còn bao gồm cả mối quan hệ đúng đắn, hợp tình hợp lý giữa người giàu và người nghèo: ví dụ, trong mô hình này người nghèo được hỗ trợ để bớt nghèo và người giàu vừa hỗ trợ, làm từ thiện đối với người nghèo vừa được tạo điều kiện để giàu thêm Nhờ mối quan hệ cởi mở và tương trợ theo hướng người nghèo thì bớt nghèo và có thể có mức sống trung bình và người giàu thì giàu thêm bằng năng lực và sự đóng góp của họ đối với xã hội mà mô hình phân tầng hợp thức chứa đựng khả năng khuyến khích mọi người nỗ lực vươn lên và do vậy mà có tiềm năng phát triển mạnh mẽ Trong khi

đó, mô hình phân tầng không hợp thức chứa đựng nguy cơ bất ổn định và trì trệ bởi vì không khuyến khích được mọi người nỗ lực vươn lên, trái lại còn triệt tiêu

động lực phát triển bởi vì người có khả năng lao động không muốn làm giàu và người nghèo thì thụ động, chờ đợi

Trang 39

Mô hình phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay đang được đổi mới thành mô hình thoi và vận động một cách hợp thức theo hướng cởi mở với đặc trưng chung, cơ bản là mức sống của từng tầng lớp xã hội đều được cải thiện và khoảng cách giàu nghèo đựoc kiểm soát và kiểm chế

1.3 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LấNIN, TƯ TƯỞNG

HỒ CHÍ MINH VÀ CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ THUỘC CƠ CẤU XÃ HỘI, PHÂN TẦNG XÃ HỘI

1.3.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin

Trong Tuyờn ngụn của Đảng Cộng Sản, C Mỏc và Ph Ăng-ghen đó chỉ

rừ rằng xó hội nào cũng cú cơ cấu xó hội và phõn tầng xó hội của nú C Mỏc và

Ph Ăng-ghen viết: “Trong những thời đại lịch sử trước, hầu khắp mọi nơi, chỳng ta đều thấy xó hội hoàn toàn chia thành cỏc đẳng cấp khỏc nhau, một cỏi tầng chia thành từng nấc thang địa vị xó hội Ở thời La Mó cổ, chỳng ta thấy cú quý tộc, hiệp sỹ, bỡnh dõn, nụ lệ; thời trung cổ thỡ cú lónh chỳa phong kiến, chư hầu, thợ cả, thợ bạn, nụng nụ, và hơn nữa, hầu như trong mỗi giai cấp ấy, lại cú những thứ bậc đặc biệt nữa”1

Cơ cấu xó hội bị quy định bởi cơ cấu kinh tế và cả hai cơ cấu này tạo thành nền tảng cho sự hỡnh thành, vận động và biến đổi toàn thể xó hội Học thuyết Mỏc chỉ rừ: “Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xó hội

- cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra - Cả hai cỏi đú cấu thành cơ

sở của lịch sử chớnh trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy”2

Khi nghiên cứu, phân tích xã hội tư bản để chỉ ra những quy luật vận động

và phát triển của nó, C Mác và Ph Ăng-ghen đã đề cập một cách khá toàn diện

và sâu sắc tình cảnh nghèo đói và bị bóc lột đến cùng cực của giai cấp vô sản và những người làm thuê trong chủ nghĩa tư bản Trong các tác phẩm của mình, Mác và Ăng-ghen đã mô tả cặn kẽ, xác thực tình cảnh nghèo đói của những

1 C.Mỏc và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Tập 4, Nxb Chớnh trị quốc gia Hà Nội 2000 Tr 597

2 C.Mỏc và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Tập 21, Nxb Chớnh trị quốc gia Hà Nội 2000 Tr 11

Trang 40

người vô sản phải bán sức lao động cho chủ tư bản để kiếm sống Phụ nữ và trẻ

em phải làm việc đến kiệt sức trong các xưởng thợ; nông dân bị cưỡng đoạt ruộng đất, mất hết tư liệu sản xuất Họ trở thành nạn nhân của tình trạng bị bóc lột giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư tuyệt đối của các chủ tư bản trong các thời kỳ tích lũy nguyên thủy và thời kỳ cạnh tranh tự do của chủ nghĩa tư bản C Mỏc và Ph Ăng-ghen cho rằng: nguồn gốc trực tiếp dẫn đến tình trạng nghèo đói ở đây là phương thức phân phối giá trị thặng dư trong xã hội một cách bất công giữa nhà tư bản và người lao động, hai ông cũng chỉ ra rằng: chỉ có xóa

bỏ chế độ tư hữu, bóc lột mới có thể giải phóng giai cấp vô sản và quần chúng lao

động thoát khỏi cảnh nghèo đói lầm than, làm cho họ trở thành người lao động tự do

và làm chủ, tiến tới một xã hội công bằng, văn minh

Chỉ khi nào xó hội đạt tới trỡnh độ phỏt triển cao của chủ nghĩa cộng sản khi

đú xó hội mới cú thể hoàn toàn bỡnh đẳng xó hội Theo Mỏc và Ăng-ghen, đú là giai đoạn cao hơn của xó hội cộng sản chủ nghĩa, khi mà cựng với sự phỏt triển toàn diện của cỏc cỏ nhõn, sức sản xuất của họ ngày càng tăng lờn và tất cả nguồn của cải xó hội đều tuụn ra dồi dào, - chỉ khi đú người ta mới cú thể vượt hẳn ra khỏi giới hạn chật hẹp của phỏp quyền tư sản và xó hội mới cú thể ghi trờn lỏ cờ của mỡnh: làm theo năng lực,hưởng theo nhu cầu” Loài người nhất là những nước nghốo, chậm phỏt triển cũn phải ra sức phấn đầu rất lõu dài nữa mới cú thể hiện thực húa được ước mơ ngàn đời này

Tiếp tục những nghiên cứu của Mác và Ăng-ghen về chủ nghĩa tư bản, Lênin đã phân tích những mâu thuẫn kinh tế xã hội gay gắt trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; qua đó Lênin nhận thấy nghèo khổ không chỉ trong các nước tư bản mà còn ở trong các nước thuộc

địa, phụ thuộc, các dân tộc bị áp bức Lênin cho rằng: muốn giải phóng toàn bộ giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị của chủ nghĩa tư bản phải tiến hành cuộc cách mạng vô sản do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo

Sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, trong bước chuyển từ "chính sách cộng sản thời chiến" sang "chính sách kinh tế mới" Lênin là người chủ trương

Ngày đăng: 16/04/2014, 00:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Báo cáo kết quả suy rộng mẫu Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009. Hà Nội. 12/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả suy rộng mẫu Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009
2. Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả chủ yếu. Hà Nội. 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả chủ yếu
3. Báo cáo phát triển Thế giới 2009. Tái định dạng Địa kinh tế. Nxb Văn hóa thông tin. Hà Nội- 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái định dạng Địa kinh tế
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin. Hà Nội- 2008
4. Bộ Giáo dục và đào tạo. Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học. Nxb Hồng Đức. Hà Nội. 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học
Nhà XB: Nxb Hồng Đức. Hà Nội. 2008
5. Robert Chambers. Phát triển nông thôn: hãy bắt đầu từ những người nghèo khổ. Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp. Hà Nội. 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông thôn: hãy bắt đầu từ những người nghèo khổ
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp. Hà Nội. 1991
6. Bùi Thế Cường. Góp phần tìm hiểu biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội. 2010. 208 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội. 2010. 208 trang
7. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội. 1987 -2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội. 1987 -2007
8. Đảng cộng sản Việt Nam. Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X , XI. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2006, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X , XI
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2006
9. G. Endruweit và G. Trommsdorf. Từ điển xã hội học. Nxb Thế Giới. Hà Nội. 2002. Tr. 106 - 107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển xã hội học
Nhà XB: Nxb Thế Giới. Hà Nội. 2002. Tr. 106 - 107
10. H. H. Gerth and C. Wright Mills. From Max Weber: Essays in Sociology. New York: Oxford University Press. 1958. Tr. 181 Sách, tạp chí
Tiêu đề: From Max Weber: Essays in Sociology
Tác giả: H. H. Gerth, C. Wright Mills
Nhà XB: Oxford University Press
Năm: 1958
11. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Viện Xã hội học. Báo cáo kết quả điều tra cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở một số tỉnh, thành phố tại Việt Nam. Hà Nội. 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở một số tỉnh, thành phố tại Việt Nam
12. Phùng Thị Huệ. Biến đổi cơ cấu giai tầng ở Trung Quốc trong thời kỳ cải cách mở cửa. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội. 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi cơ cấu giai tầng ở Trung Quốc trong thời kỳ cải cách mở cửa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội. 2008
13. Lê Ngọc Hùng. Lịch sử & Lý thuyết xã hội học. Nxb Đại học quốc gia Hà Nội. 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử & Lý thuyết xã hội học
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội. 2009
14. Lê Ngọc Hùng (Chủ biên), Nguyễn Ngọc Huy, Đỗ Văn Quân, Nguyễn Đình Tấn, Nguyễn Văn Tuấn. Xã hội học về lãnh đạo, quản lý. Nxb Đại học quốc gia Hà Nôi. 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học về lãnh đạo, quản lý
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nôi. 2010
15. Lê Ngọc Hùng. Các cấp độ và xu hướng biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay: Nhìn từ góc độ xã hội học. Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội. Số 328 (4). 2010. Tr. 6-11, 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cấp độ và xu hướng biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay: Nhìn từ góc độ xã hội học." Tạp chí "Thông tin Khoa học
16. Lê Ngọc Hùng. Xã hội học kinh tế. Nxb Lý luận chính trị. Hà Nội. 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học kinh tế
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị. Hà Nội. 2004
17. Harold R. Kerbo. Social Stratification and Inequality. New York: McGraw-Hill, Inc. 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Stratification and Inequality
18. V.I. Lê - nin. Sáng kiến vĩ đại (1919) trong Lê - nin. Toàn tập. Tập 39. Nxb Tiến Bộ - Mát-xccơ-va. 1977. Tr. 17-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng kiến vĩ đại" (1919) trong Lê - nin. "Toàn tập. Tập 39
Nhà XB: Nxb Tiến Bộ - Mát-xccơ-va. 1977. Tr. 17-18
19. C.Mác và Ph.Ăng-ghen (1888). Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. C. Mác và Ph. Ăng-ghen.Toàn tập. Tập 4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, 20. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Tập 21, Nxb Chính trị - Sự thật. HàNội. 2000 Tr. 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn của Đảng cộng sản
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăng-ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
21. Các Mác - Ph. Ăng-ghen. Tuyển tập. Tập VI. Nxb Sự thật. Hà Nội. 1984. Tr. 726 - 729 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập. Tập VI
Nhà XB: Nxb Sự thật. Hà Nội. 1984. Tr. 726 - 729

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1. Cái bẫy nghèo khổ 1 Cách tiếp cận phát triển kinh tế - xã hội - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Sơ đồ 1. Cái bẫy nghèo khổ 1 Cách tiếp cận phát triển kinh tế - xã hội (Trang 57)
Bảng 1.5.6. Số giờ làm việc năm 2002 và số ngày nghỉ lễ của một số nước - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Bảng 1.5.6. Số giờ làm việc năm 2002 và số ngày nghỉ lễ của một số nước (Trang 69)
Bảng 1.5.9. Tiền công hàng tháng của người lao động (chung cho các ngành - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Bảng 1.5.9. Tiền công hàng tháng của người lao động (chung cho các ngành (Trang 71)
Bảng 2.2.3. Tình trạng hôn nhân - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Bảng 2.2.3. Tình trạng hôn nhân (Trang 120)
Bảng 2.2.4. Đặc  điểm của gia đình: số thế  hệ, số thành viên, số con, số  con trai và con gái - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Bảng 2.2.4. Đặc điểm của gia đình: số thế hệ, số thành viên, số con, số con trai và con gái (Trang 121)
Bảng 2.3.4. Mức thu nhập nhỏ nhất, lớn nhất và mức trung bình đầu  người  phân chia theo các nhóm - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Bảng 2.3.4. Mức thu nhập nhỏ nhất, lớn nhất và mức trung bình đầu người phân chia theo các nhóm (Trang 129)
Bảng 2.3.5. Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo thành thị  nông thôn. - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Bảng 2.3.5. Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo thành thị nông thôn (Trang 131)
Bảng 2.3.7. Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo nguồn thu  nhập và 8 vùng - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Bảng 2.3.7. Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo nguồn thu nhập và 8 vùng (Trang 135)
Bảng 2.5.4. Tỉ lệ hộ gia đình có hoặc không có máy vi tính - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Bảng 2.5.4. Tỉ lệ hộ gia đình có hoặc không có máy vi tính (Trang 161)
Bảng 2.5.6. Tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu bền chia theo 5 nhóm thu nhập. Năm - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Bảng 2.5.6. Tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu bền chia theo 5 nhóm thu nhập. Năm (Trang 164)
Bảng 2.8.7. Tỷ  lệ nhập học  đúng tuổi chia theo cấp học và thành thị,  nông thôn. Năm 2009 - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Bảng 2.8.7. Tỷ lệ nhập học đúng tuổi chia theo cấp học và thành thị, nông thôn. Năm 2009 (Trang 195)
Bảng 2.8.9. Cơ cấu dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ chuyên  môn kỹ thuật. Năm 2009 - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Bảng 2.8.9. Cơ cấu dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật. Năm 2009 (Trang 198)
Bảng 2.9.2. Tỷ lệ người mắc bệnh chấn thương chia theo 5 nhóm thu - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Bảng 2.9.2. Tỷ lệ người mắc bệnh chấn thương chia theo 5 nhóm thu (Trang 206)
Bảng 3.1.11. Nhóm nghề nghiệp hoặc công việc chính  của người trả lời phân theo nhóm giàu nghèo - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Bảng 3.1.11. Nhóm nghề nghiệp hoặc công việc chính của người trả lời phân theo nhóm giàu nghèo (Trang 234)
Bảng 3.1.15. Tổng vốn đầu tư và cơ cấu vốn  đầu tư phân theo thành phần  kinh tế. - Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay
Bảng 3.1.15. Tổng vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế (Trang 238)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w