1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO thực trạng và giải pháp

99 992 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO: Thực trạng và giải pháp
Người hướng dẫn PTS. Trịnh Quang Cảnh, TS. Vũ Thị Thanh Minh
Trường học Trường Cán bộ Dân tộc
Chuyên ngành Kinh tế và phát triển
Thể loại báo cáo tổng hợp đề tài khoa học cấp bộ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 2,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính tất yếu về vấn đề việc làm cho thanh niên và chính sách của Đảng, Nhà nước ta về giải quyết vấn đề việc làm của thanh niên DTTS trong giai đoạn hiện nay 30 14 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG V

Trang 1

UỶ BAN DÂN TỘC

BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI

KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010

VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN NGƯỜI DÂN TỘC

THIỂU SỐ TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP WTO

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Cơ quan quản lí đề tài : Uỷ ban Dân tộc Đơn vị thực hiện đề tài : Trường Cán bộ Dân tộc Chủ nhiệm đề tài : TS Trịnh Quang Cảnh

8240

Hà Nội, năm 2010

Trang 2

MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU

9 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ VIỆC

LÀM CỦA THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG

THỜI KỲ HỘI NHẬP WTO

11

niên, vấn đề việc làm của thanh niên trong thời kỳ hội nhập

WTO

11

13 1.4 Tính tất yếu về vấn đề việc làm cho thanh niên và chính

sách của Đảng, Nhà nước ta về giải quyết vấn đề việc làm

của thanh niên DTTS trong giai đoạn hiện nay

30

14 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA THANH

NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG THỜI KỲ HỘI

NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI WTO

43

18 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM GIẢI QUYẾT

VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN DTTS ĐÁP

ỨNG THỞI KỲ HỘI NHẬP WTO

86

thanh niên DTTS đáp ứng thời kỳ CNH-HĐH vùng núi,

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, việc mở cửa hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới là một tất yếu khách quan khi Việt Nam gia nhập WTO Quá trình hội nhập đan xen cả thời cơ, nguy cơ và thách thức cho

cả nước nói chung và vùng dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Hội nhập kinh tế thế giới đòi hỏi vùng núi, vùng dân tộc thiểu số từng bước đẩy nhanh mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế các khu công nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đã và đang chuyển mình nhằm khai thác thế mạnh của vùng núi và vùng dân tộc thiểu số Thanh niên dân tộc thiểu số là lực lượng lao động trẻ, khỏe, năng động sáng tạo được học tập đào tạo, thanh niên chiếm gần 65% lực lượng lao động toàn xã hội vùng dân tộc thiểu số Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vấn đề lao động thanh niên dân tộc thiểu số cũng trở lên sôi động tương ứng với mức cạnh tranh của các thành phần kinh tế trong cả nước và các vùng dân tộc thiểu số Thực tế cũng hoàn toàn dễ hiểu bởi lẽ nguồn nhân lực luôn được đánh giá là yếu tố then chốt

và quyết định trong sự phát triển và tồn tại của các thành phần kinh tế Sự phát triển cả về qui mô và số lượng các chương trình dự án ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số đã kéo theo nhiều nhu cầu đa dạng về đối tượng lao động, do đó thị trường lao động các khu công nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số cũng trở lên sôi động hơn Theo báo cáo số liệu thống kê sơ bộ của tổng cục thống kê hiện có khoảng gần

3 triệu lao động thanh niên dân tộc thiểu số đang làm việc tại các khu công nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số Ngoài ra còn trên 4 triệu lao động thanh niên nông nghiệp vừa lao động nông nghiệp và những lúc nông nhàn tiếp tục ra các khu công nghiệp - dịch vụ tìm việc làm Tuy nhiên, trên thực tế số lượng này còn cao hơn rất nhiều bởi chưa thống kê được số lượng lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề hoặc chưa qua đào tạo nghề làm việc trong các nghề thủ công , mỹ nghệ truyền thống và hoạt động dịch vụ khác

Vấn đề việc làm thanh niên vùng dân tộc thiểu số trong thời gian qua hết sức phức tạp bởi sự xuất hiện “ tranh chấp lao động”, chuyển dịch lao động, giải quyết vấn đề lao động của thanh niên dân tộc thiểu số còn rất nhiều phức tạp và bất cập trong chính sách quản lí và giải quyết vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số Do đó việc tiến hành nghiên cứu đánh giá trên thực trạng vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số Từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số Do vậy, “Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kì hội nhập WTO - Thực trạng và giải pháp” là đề tài khoa học có tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

Trang 5

II TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM

thời kì đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới Vấn đề giải quyết đến lao động và việc làm không chỉ là khó khăn của các nước trên thế giới mà ngay cả ở Việt Nam chúng ta Bước vào thời kì mới chúng ta từng bước đẩy nhanh sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, phát triển hàng hóa theo hướng kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước thì vấn đề việc làm và lao động ngày càng trở thành vấn đề mang tính xã hội Khi đề cập đến lao động, việc làm và đào tạo nghề trong những năm gần đây có rất nhiều các đề tài, dự án và các bài viết nghiên cứu về lao động - việc làm đề cập ở nhiều góc độ:

Một là, một số điều tra, dự án nghiên cứu đánh giá về tình trạng lao động việc làm của xã hội như:

- Báo cáo điều tra lao động việc làm Việt Nam, năm 2007 của Bộ Khoa học và Đầu tư

- Tổng cục Thống kê Hà Nội, năm 2008

- Đề án lao động - việc làm Bộ Lao động Thương binh Xã hội - TS Trịnh Thị Nga, năm 2008

- Dự án điều tra của Võ Văn Bảy, Uỷ ban Dân tộc về điều tra thực trạng

sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên DTTS nhằm đề xuất các giải pháp đào tạo nghề thanh niên dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO, năm 2008

- Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2015 của Bộ lao động Thương binh xã hội

Hai là, một số đề tài cấp Bộ đã đề cập đến vai trò vị trí của thanh niên

và thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên DTTS thực trạng và giải pháp:

- Đề tài cấp Trường "Phát huy vai trò, vị trí thanh niên trong sự nghiệp CNH, HĐH, năm 2005" TS Trịnh Quang Cảnh

- Đề tài cấp Bộ - Mô hình hợp tác xã thanh niên do ThS Nguyễn Văn Tuấn trưởng ban phong trào thanh niên – Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm

Trang 6

- Đề tài cấp Bộ - Đào tạo nghề cho thanh niên thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa GS TS Đặng Cảnh Khanh- Viện trưởng viện nghiên cứu thanh niên làm chủ nhiệm

Ba là, Một số các công trình nghiên cứu đã được đăng tải trên một số công trình khoa học, tạp chí đã được công bố

- Cơ hội thách thức Việt Nam gia nhập WTO Viện Dân tộc, Uỷ ban Dân tộc, 2008

- Sự phát triển vùng DTTS Việt Nam sau thời kỳ hội nhập 2010

- Những giải pháp chủ yếu xây dựng hiệu quả lao động thanh niên DTTS qua đào tạo nghề của ThS Nguyễn Đình Chức Viện chiến lược phát triển nông thôn, năm 2008

- Thanh niên và vấn đề việc làm - TS Trịnh Quang Cảnh, Tạp chí Giáo dục, 2006

- Nghề của thanh niên - vấn đề cần thiết cho xây dựng chiến lược hướng tới tương lai GS TS Đặng Cảnh Khanh 2001 Viện Nghiên cứu Thanh niên- Thế hệ trẻ Việt Nam- Nghiên cứu- Lý luận

- Một số mô hình dạy nghề của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ThS Nguyễn Thị Bình Điểm, năm 2006 Viện Nghiên cứu Thanh niên 2007

- Nhu cầu đào tạo nghề và việc làm của thanh niên hiện nay- Nguyễn Minh Phương, Viện Nghiên cứu Thanh niên 2007

- Định hướng chính sách đào tạo nghề cho thanh niên DTTS và sử dụng lao động qua đào tạo nghề Nghiên cứu chuyên đề 2008, TS Nguyễn Tiến Mạnh- Báo Nông nghiệp Việt Nam

Tất cả các đề án, đề tài, dự án hay bài viết mới chỉ đề cập đến lao động, việc làm, dạy nghề, đào tạo nghề ở những góc độ khác nhau Từ trước đến nay chưa có một đề tài, dự án nào đề cập có tính hệ thống đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra đồng thời đưa ra được những giải pháp chủ yếu về vấn đề việc làm của thanh niên DTTS trong thời kỳ hội nhập quốc tế Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu làm rõ vấn đề nêu trên

Trang 7

III MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

* Mục tiêu tổng quát:

Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số Từ đó phân tích đánh giá thực trạng về vấn đề việc làm thanh niên dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay Đề xuất giải pháp chủ yếu đáp ứng ngày càng tốt hơn về vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số trong thời kỳ đầu gia nhập WTO

* Mục tiêu cụ thể:

- Làm rõ một số khái niệm, công cụ: Việc làm, việc làm thanh niên, vấn đề việc làm thanh niên và tính tất yếu, chính sách giải quyết việc làm của Đảng và Nhà nước về vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Đánh giá, phân tích thực trạng, những ưu điểm, hạn chế về vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO Từ đó đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm giải quyết việc làm thanh niên trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới, thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

IV PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1 Phạm vi không gian

thông tin, số liệu điều tra xã hội học và phỏng vấn Đoàn viên và cán bộ đoàn

Cụ thể: tỉnh Lạng Sơn đoàn nghiên cứu điều tra và phỏng vấn cán bộ đoàn, thanh niên dân tộc thiêủ số, thành đoàn Thành phố Lạng Sơn và Đoàn xã Quảng Lạc; ở huyện Hữu Lũng Đoàn đã làm việc với cán bộ đoàn và đoàn xã Tân Thành phía Bắc giáp Trung Quốc, có cửa khẩu, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng hội nhập WTO để có cơ sở nghiên cứu tốt hơn một số tỉnh khác trong vùng

Trang 8

3 Phạm vi vấn đề

+ Nghiên cứu về cơ sở lí luận và những vấn đề việc làm thanh niên dân tộc thiểu số trong thời kì hội nhập WTO

+ Nghiên cứu đánh giá thực trạng những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân

về vấn đề việc làm của thanh niên, đề xuất giải pháp kiến nghị nhằm từng bước giải quyết tốt vấn đề lao động việc làm thanh niên trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế

một cuộc hội thảo địa phương tại thành đoàn thành phố Lạng Sơn

4 Đối tượng nghiên cứu

Thành phố Lạng Sơn, Huyện Đoàn Hữu Lũng và Cán bộ Đoàn một số xã nằm trong thành Đoàn thành phố Lạng Sơn và huyện Hữu Lũng

đoàn Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, đoàn viên thanh niên ở các xã thuộc thành đoàn Thành phố Lạng Sơn và huyện đoàn Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn

đoàn Thành phố Lạng Sơn và xã Quảng Lạc; ở huyện Hữu Lũng Đoàn làm việc nghiên cứu và phỏng vấn cán bộ đoàn và thanh niên huyện đoàn Hữu Lũng và xã Tân Thành

niên dân tộc thiểu số về vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số trong thời kì hội nhập WTO

V CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KĨ THUẬT SỬ DỤNG

Ngoài cách tiếp cận thông dụng như: logic, đề tài sử dụng một số phương pháp tiếp cận chuyên biệt

- Tiếp cận hệ thống: Với cách tiếp này đòi hỏi phải xem xét, nghiên cứu

việc nâng cao hiệu quả vấn đề giải quyết việc làm thanh niên của Đảng và Nhà nước đối với thanh niên Dân tộc thiểu số nằm trong tổng thể chức năng vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị mà ở đó việc xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung

và lực lượng thanh niên Dân tộc thiểu số nói riêng trong thời kỳ công nghiệp

Trang 9

hoá - hiện đại hoá là một yếu tố tác động lớn đến thực thi chính sách Dân tộc của Đảng và Nhà nước ở vùng Dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay

- Tiếp cận phân hệ – lĩnh vực: Ngoài tiếp cận theo cấu trúc- hệ thống thì

nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các ngành đến việc làm và giải quyết việc làm của thanh niên Dân tộc thiểu số trong thực tiễn vấn đề việc làm của thanh niên Dân tộc thiểu số là “Đa cấp, đa ngành, đa lĩnh vực” Một

hệ chính sách tổng hợp hàm chứa trong đó nhiều lĩnh vực khác nhau; có chính sách tác động trực tiếp đến thanh niên Dân tộc thiểu số vùng nông thôn Có nhóm chính sách lại tác động đến địa bàn, đô thị, thanh niên trí thức có chính sách tác động đến nhóm cư Dân Dân tộc thiểu số hoặc an sinh xã hội và kế hoạch hoá gia đình.v.v Đó là những phân hệ-lĩnh vực có đối tượng riêng, phương pháp lập định chính sách riêng, hướng tiếp cận riêng; nếu không phân định sẽ khó tìm ra các giải pháp cho việc giải quyết việc làm thanh niên Dân tộc thiểu số trong hiện tại, cũng như trong thời kỳ CNH - HĐH

- Tiếp cận liên ngành: Chính sách giải quyết việc làm của thanh niên

Dân tộc thiểu số của Đảng, nhà nước liên quan nhiều ngành và động chạm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, con người vùng Dân tộc Đặc biệt là chăm

lo giải quyết việc làm cho thanh niên Dân tộc thiểu số Vì vậy chỉ có cách tiếp cận liên ngành thì mới đạt được mục tiêu nghiên cứu Đó là sự kết hợp cách tiếp cận chính trị học, Dân tộc học, nhân chủng học, kinh tế học, xã hội học, luật học, văn hoá học, khu vực học v.v Ngoài ra ở đề tài này còn có thể sử dụng một số cách tiếp cận như:

Cách tiếp cận liên cấp

Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp phỏng vấn

Để thu thập tư liệu Đoàn nghiên cứu trực tiếp tham gia phỏng vấn và đặt các câu hỏi trực tiếp đến cán bộ đoàn và đoàn viên thanh niên bằng các câu hỏi đóng - mở để đoàn viên thanh niên và cán bộ đoàn trả lời đóng - không đồng thời sử dụng một số ít câu hỏi mở để đoàn viên thanh niên có thể lựa chọn phương án trả lời

Trang 10

- Phương pháp điền dã dân tộc học và phương pháp có sự tham gia của đoàn viên thanh niên dân tộc thiểu số

Để thu thập tài liệu Đoàn tổ chức điền dã ở tỉnh Lạng Sơn đi xuống các

xã thuộc Thành Đoàn thành phố Lạng Sơn và huyện đoàn huyện Hữu Lũng Các cuộc trao đổi, toạ đàm, phỏng vấn sâu, một số thảo luận nhóm và thu thập tài liệu, đặt bài, chuyên đề cấp tỉnh, cấp huyện và các báo cáo của xã Đoàn Uỷ ban nhân dân về vấn đề liên quan đến việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số

- Phương pháp kế thừa

Đề tài sẽ kế thừa các công ttrình nghiên cứu có nội dung liên quan đến

đề tài đã công bố ở trong và ngoài nước, ở Trung ương và nhiều địa phương Đặc biệt là các chương trình dự án, đề tài, kết quả điều tra, kiểm tra, sơ kết tổng kết, về vấn đề việc làm thanh niên, lao động việc làm thanh niên dân tộc thiểu

số của các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương từ những năm 2006 đến nay

- Phương pháp chuyên gia

Đặt các bài báo cáo tham luận và chuyên đề khoa học

Tổ chức hội thảo Trung ương và địa phương để thu thập tài liệu nghiên cứu

- Phương pháp điều tra xã hội học

Thông qua các câu hỏi, câu hỏi đóng- mở, bảng hỏi để phỏng vấn và nắm bắt, đánh giá về vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay

Đề tài này còn sử dụng thêm một số phương pháp khác như:

+ Phương pháp chọn mẫu

+ Phương pháp xử lý thông tin

+ Phương pháp đánh giá (SWOT) dùng để phân tích điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses)

+ Phương pháp phân tích văn bản

Kỹ thuật sử dụng:

+ Sử dụng phần mềm máy tính chuyên gia

+ Sử dụng công cụ tra cứu trực tiếp

+ Tra cứu văn bản, cơ sở dữ liệu

Trang 11

VI NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Chương 1: Cở sở lý luận của vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO

1.1 Một số khái niệm: việc làm, việc làm thanh niên, vấn đề việc làm thanh niên trong thời kỳ hội nhập WTO

1.2 Thời cơ thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO

1.3 Vị trí, vai trò của thanh niên trong thời kỳ hội nhập WTO

1.4 Tính tất yếu về vấn đề việc làm và chính sách của Đảng, Nhà nước giải quyết vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay

Chương 2: Thực trạng việc làm của thanh niên Dân tộc thiểu số

trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới WTO

2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội vùng dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO

2.2 Thực trạng vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số

2.2.1 Thực trạng vấn đề việc làm của thanh niên nông nghiệp

2.2.2 Thực trạng vấn đề việc làm của thanh niên phi nông nghiệp

2.2.3 Thực trạng vấn đề việc làm của thanh niên trí thức

2.3 Đánh giá nguyên nhân - Bài học kinh nghiệm

Chương 3: Giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề việc làm thanh niên dân tộc thiểu số đáp ứng thời kỳ hội nhập WTO

3.1 Giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề việc làm thanh niên dân tộc thiểu số đáp ứng thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

3.2 Một số kiến nghị

KẾT LUẬN

VII THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: Năm 2010

Trang 12

VIII THÀNH VIÊN THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

TT

Họ và tên Chức vụ Tổ chức công tác

Thời gian tham gia

1

TS Trịnh Quang Cảnh Trưởng phòng đào tạo Chủ nhiệm đề tài tháng 6/12

Tham gia nội dung đề tài

6/12 tháng

Viện nghiên cứu Thanh niên

Tham gia nội dung đề tài

6/12 tháng

5 PGS.TS Lê Ngọc Thắng Trường Cán bộ

dân tộc Tham gia nội dung đề tài tháng 6/12

chính

Tham gia nội dung đề tài

6/12 tháng

dân tộc Tham gia nội dung đề tài tháng 6/12

Học viện Chính trị Khu vực I

Tham gia nội dung đề tài

4/12 tháng

tộc – UBDT

Tham gia nội dung đề tài

4/12 tháng

10 ThS Nguyễn Xuân Khuê Trưởng khoa

QLNN, CTDT

Tham gia nội dung đề tài

4/12 tháng

dung đề tài

4/12 tháng

dung đề tài

4/12 tháng

dung đề tài

4/12 tháng

dung đề tài

4/12 tháng

15 ThS Phạm Thị Kim Cương Khoa Kiến thức

cơ bản

Tham gia nội dung đề tài

4/12 tháng

Trang 13

* Khái niệm việc làm:

Theo Từ điển Tiếng Việt, việc làm là “Công việc được giao cho làm và

được trả công” Như vậy, việc làm là các hoạt động tạo ra nguồn thu nhập cho

con người Tuy nhiên các hoạt động tạo ra nguồn thu nhập đó phải được xã hội thừa nhận thì mới được gọi là việc làm Chính vì vậy, trong Điều 13 Chương 2

Bộ luật Lao động của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 đã đưa

ra định nghĩa về việc làm như sau: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu

nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm

là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội

Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức:

+ Làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó + Làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó

+ Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc 1 thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý

Khái niệm trên nói chung đã bao quát nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản Thứ nhất: hoạt động nội trợ không được coi là việc làm trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ Thứ hai: khó có thể so sánh tỉ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán… Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi đó là việc làm nhưng ở quốc gia khác lại bị cấm Ví dụ: đánh bạc ở Việt Nam bị cấm nhưng ở Thái Lan, Đài Loan,

Mỹ đó lại đựơc coi là một nghề thậm chí là rất phát triển

Trang 14

Như vậy, việc làm được hiểu là các hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Nhu cầu được làm việc để tạo ra nguồn thu nhập phục vụ cuộc sống là nhu cầu tất yếu của người lao động Lao động

có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước Nhưng các hoạt động tạo ra thu nhập đó phải được pháp luật thừa nhận Hiện nay, trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển, các hoạt động lao động tạo ra thu nhập rất đa dạng và phong phú Trong đó, người lao động có thể phát huy tối đa mọi khả năng để đạt được thu nhập xứng đáng Song, tất cả các hoạt động lao động đó phải được hệ thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - nhà nước của dân, do dân, vì dân, phát huy tối đa quyền làm chủ xã hội của công dân - thừa nhận

* VIỆC LÀM THANH NIÊN

Như vậy từ khái niệm việc làm chúng tôi đưa ra khái niệm việc làm thanh niên được hiểu là:

Các hoạt động lao động của thanh niên trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội nhằm tạo ra nguồn thu nhập cho bản thân, gia đình, xã hội, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm của thanh niên

Đảng và Nhà nước ta khẳng định vai trò làm chủ và tiềm năng to lớn của thanh niên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 (khoá VII) chỉ rõ: "Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trên cộng đồng thế giới hay không, phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên; vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên"

Vậy thanh niên là ai? Bồi dưỡng, rèn luyện lực lượng này như thế nào

để họ trở thành nhân tố quyết định sự thắng lợi của sự nghiệp đổi mới?

Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá

mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên

Về mặt kinh tế - chính trị, các nhà nghiên cứu nhìn nhận thanh niên là một lực lượng lao động xã hội hùng hậu, là nguồn lực thường xuyên bổ sung cho đội ngũ lao động trên mọi lĩnh vực, là bộ phận quan trọng cấu thành lực lượng sản xuất, rất năng động, nhạy cảm, gắn bó với tiến trình phát triển xã

Trang 15

hội, đi đầu trong cuộc đấu tranh sáng tạo mới, tham gia xây dựng giai cấp công nhân, xây dựng các lực lượng vũ trang

Đặc điểm về cơ cấu xã hội của thanh niên là họ có mặt ở trong tất cả các tầng lớp, các giai cấp trong xã hội Từ đó có thể rút ra nội dung tổng quát về khái niệm thanh niên:

Thanh niên là một nhóm xã hội - nhân khẩu đặc thù Những nét đặc trưng của thanh niên hoàn toàn không giống với các nhóm xã hội khác Thanh niên được phân chia theo độ tuổi, gắn với giai cấp, các tầng lớp xã hội Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân v.v mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau Ở nước ta tuổi thanh niên hiện nay là 16 đến 30 Điều 1, Luật Thanh niên được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ

họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 đã chỉ rõ: Thanh niên là công

dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi

Luật Thanh Niên cũng quy định rõ quyền và nghĩa vụ của thanh niên tại

Tùy theo môi trường hoạt động, đặc điểm nghề nghiệp, người ta chia thanh niên thành các nhóm đối tượng khác nhau: thanh niên công nhân, thanh niên nông thôn, thanh niên học sinh - sinh viên, thanh niên trí thức, thanh niên các lực lượng vũ trang…

Thanh niên là lớp người có sự phát triển cao về thể chất, được coi là lứa tuổi phát triển hoàn thiện về thể chất Sự hoàn thiện về thể chất của lứa tuổi thanh niên thể hiện trên tất cả các mặt: chiều cao, cân nặng, sự hoàn thiện về

hệ xương, hệ cơ, hệ thần kinh cũng như các chức năng sinh lý khác Khoa học

đã kết luận là sự phát triển của các nơ - ron thần kinh ở lứa tuổi thanh niên đạt tới đỉnh cao nhất

Tuy nhiên, bên cạnh những khả năng to lớn, sự mạnh dạn, lòng dũng cảm, tinh thần dám nghĩ, dám làm, trong cả thế hệ thanh niên cũng như trong từng cá thể, sự hạn chế và các nhược điểm về mặt thiếu kinh nghiệm, thiếu từng

Trang 16

trải, tính bồng bột, thậm chí có lúc còn phiêu lưu, liều lĩnh… luôn phải được cảnh giác, phải được khắc phục bằng chính sự rèn luyện, phấn đấu không ngừng của bản thân thanh niên và có sự hướng dẫn, giúp đỡ của các chủ thể xã hội

Như vậy có thể hiểu thanh niên là một nhóm xã hội nhân khẩu đặc thù bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội; có mối quan hệ gắn bó mật thiết với tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; là lực lượng xã hội to lớn đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển trong tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc

Làm thế nào để phát huy mọi lợi thế của thanh niên và hạn chế tối đa

những nhược điểm của thanh niên để thanh niên là lực lượng xung kích cách

mạng, là nguồn nhân lực quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước?

Hiện nay, tạo việc làm cho thanh niên, đảm bảo duy trì và phát triển nghề nghiệp cho thanh niên là một trong những nhân tố quyết định sự thắng lợi

của sự nghiệp đổi mới Tạo việc làm chính là quá trình tạo ra số lượng và chất

lượng tư liệu sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động

Việt Nam là một quốc gia có dân số trẻ, tỷ lệ người thất nghiệp, chưa có việc làm, đặc biệt tỷ lệ lao động nông thôn thiếu việc làm hiện nay khá cao Tỷ

lệ thất nghiệp của Việt Nam năm 2009 là 4,65%, tăng 0,01% so với năm 2007 Trong khi đó, tỷ lệ lao động thiếu việc làm là 5,1%, tăng 0,2% so với năm

2007 Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn lên tới 6,1%, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 2,3% Trong số đó, 73% người lao động thất nghiệp

và thiếu việc làm là những người không qua đào tạo (Theo số liệu của Bộ TB-XH) Năm 2010 Đoàn TNCSHCM đã tổ chức được hàng ngàn sàn giao dịch, hội chợ, ngày hội tư vấn việc làm, thu hút trên 400.000 lượt thanh niên tham gia, góp phần giải quyết việc làm cho 31.216 lao động là thanh niên; 30.553 thanh niên được vay vốn từ nhiều nguồn với số tiền giải ngân đạt trên

LĐ-827 tỉ đồng

Đất nước ta còn đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển, chưa đủ khả năng, điều kiện để đáp ứng tốt các nhu cầu học tập, việc làm, nhà ở, lập nghiệp v.v của nhân dân nói chung, thanh niên nói riêng Yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình hội nhập quốc tế là những

Trang 17

thách thức đối với số đông thanh niên có trình độ học vấn thấp, không có chuyên môn, nghề nghiệp và thiếu năng lực sáng tạo

Trước những thách thức của xu thế toàn cầu hóa và phát triển của nền kinh tế tri thức, mỗi thanh niên cần phải trau dồi về lý tưởng, rèn luyện đạo đức; tích cực học tập nâng cao trình độ về chính trị, học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ; hăng hái tham gia các hoạt động tình nguyện

nghiệp đổi mới của đất nước Trong đó, giải quyết việc làm, tạo cơ hội việc

làm cho mọi người có khả năng lao động nói chung và thanh niên nói riêng là

trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội

* VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN

Khái niệm vấn đề việc làm thanh niên được hiểu như sau :

Vấn đề việc làm của thanh niên là vấn đề xã hội có tính bức xúc, nhiều trăn trở, khó khăn trong việc giải quyết việc làm, đảm bảo cho thanh niên có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm

Khi nói về việc làm thanh niên trong giai đoạn hiện nay mà đặc biệt hơn trong các nước đang phát triển, cụ thể là ở Việt Nam còn tồn tại nhiều bất cập như: những người thất nghiệp có học, lao động tự do tính chất công việc thiếu ổn định dễ bị thất nghiệp,… đặc biệt là tình trạng thất nghiệp trong thanh niên là mối lo ngại lớn

Giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho thanh niên

là một ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Để khắc phục tình trạng thanh niên thất nghiệp, thiếu việc làm, mỗi thanh niên phải hiểu và thực hiện quyền

và nghĩa vụ của mình trong lao động: Chủ động tiếp cận thông tin thị trường

lao động; lựa chọn việc làm và nơi làm việc phù hợp với khả năng của bản thân và nhu cầu của xã hội (Điều 10 Luật Thanh niên)

Về vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên, hướng chủ yếu là thanh niên tự tìm việc làm phù hợp, cùng góp vốn phát triển sản xuất, mở mang các hoạt động dịch vụ theo các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế mà Nhà nước đã ban hành Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho Đoàn thanh niên tham gia tích cực vào chương trình khuyến nông, cấp vốn đầu tư và hướng dẫn quy hoạch cho TW Đoàn TNCS Hồ Chí

Trang 18

Minh xây dựng một số trung tâm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nghề nông cho thanh niên ở các vùng kinh tế; hỗ trợ vốn ban đầu cho thanh niên lập nghiệp, giải quyết việc làm; hỗ trợ thanh niên nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; đặc biệt là chú trọng dành vốn cho các hộ gia đình trẻ nghèo vay để sản xuất kinh doanh

Giai đoạn 2005 - 2010, Chính phủ có chiến lược giải quyết việc làm cho người lao động Đây là vấn đề bức xúc vì đất nước ta là có dân số trẻ Chúng ta

có 43 triệu người trong độ tuổi lao động, lao động thành thị chiếm 11 triệu, nông thôn 32 triệu Trong số 32 triệu lao động nông thôn, lao động có việc làm mới nâng lên từ 75 - 80% Mỗi năm số sinh viên ra trường, số lao động phải giải quyết việc làm mới là 1,2 triệu lao động Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

đề án thanh niên 2001 - 2010 cũng tập trung vào mục tiêu giải quyết việc làm; chương trình phát triển thanh niên 2004 - 2005 có 5 chương trình cụ thể - trong

đó có chương trình giải quyết việc làm Mặc dù chúng ta đạt được rất nhiều thành tựu trong công tác đào tạo dạy nghề song chúng ta cũng cần phải thừa nhận số lượng lao động được đào tạo còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường đặ biệt những ngành nghề mũi nhọn như công nghệ thông tin, kỹ sư công nghiệp, lắp máy, cơ khí Vấn đề đặt ra là phải tạo điều kiện cho lao động thanh niên được học nghề, đào tạo dạy nghề theo mô hình liên thông; phát triển hệ thống các trung tâm dạy nghề, trường dạy nghề ở các vùng kinh

tế trọng điểm, đảm bảo đến năm 2010 tại mỗi một huyện đều có ít nhất 1 trung tâm dạy nghề Bên cạnh đó, tổ chức thanh niên phát động phong trào học ngoại ngữ, tin học, nâng cao kỷ luật lao động để thanh niên có thể sử dụng hữu ích trong công việc đặc biệt là trong xuất khẩu lao động, hội nhập quốc tế

Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, người thanh niên thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải là người có lý tưởng và đạo đức cách mạng; có lối sống văn hoá; có ý chí tự tôn, tự cường dân tộc, có trình độ học vấn, giỏi về chuyên môn, nghề nghiệp; có sức khoẻ tốt; có năng lực, tiếp cận và sáng tạo công nghệ mới, có ý chí chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

- Giải quyết vấn đề việc làm cho thanh niên nói chung

Thanh niên chiếm 30% dân số cả nước, tương đương với 55,5% lực lượng lao động toàn quốc, hàng năm có hàng triệu thanh niên đến tuổi lao động cần có việc làm Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp đã giảm nhưng số người thất

Trang 19

nghiệp vẫn tiếp tục tăng.Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị vẫn còn ở mức cao và đang có xu hướng tăng lên

Để giải quyết vấn đề việc làm cho thanh niên, trước hết, cần khuyến khích thanh niên hăng say lập nghiệp, tự tạo việc làm và giúp nhau tạo việc làm Đồng thời, Nhà nước tổ chức và huy động thanh niên tham gia xây dựng các công trình, các lĩnh vực, các vùng kinh tế quan trọng; đầu tư ngân sách thích đáng cho các chương trình giải quyết việc làm; mở rộng việc cho các gia đình vay vốn để sản xuất kinh doanh; sửa đổi, bổ sung những quy định về quản lý lao động và cư trú để thanh niên dễ dàng tìm việc làm; đẩy mạnh xuất khẩu lao động; mở rộng mạng lưới dạy nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên

Cụ thể hóa chủ trương này, trong Điều 18 Luật Thanh niên cũng đã nêu rõ:

1 Nhà nước có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân giải quyết việc làm cho thanh niên; ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai để phát triển giáo dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu đa dạng về học nghề cho thanh niên; phát triển

hệ thống các cơ sở dịch vụ tư vấn giúp thanh niên tiếp cận thị trường lao động;

ưu tiên dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn, thanh niên sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, thanh niên tình nguyện sau khi hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội; thanh niên của hộ nghèo được vay vốn từ quỹ Quốc gia giải quyết việc làm, quỹ xoá đói, giảm nghèo, vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch

3 Nhà nước có chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai để khuyến khích các doanh nghiệp tạo chỗ ở cho lao động trẻ của doanh nghiệp, tổ chức,

cá nhân xây nhà cho thuê, bán cho thanh niên theo phương thức trả dần với thời hạn và giá cả hợp lý ở những nơi tập trung đông lao động trẻ

4 Gia đình có trách nhiệm giáo dục ý thức lao động, tôn trọng sự lựa chọn nghề nghiệp, việc làm của thanh niên; tạo điều kiện cho thanh niên có việc làm

Trang 20

- Chủ trương, biện pháp đối với vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc

Hiện tại thanh niên đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, may công nghiệp, xây dựng Trong những năm qua, nhiều cơ sở dạy nghề và các địa phương đã chủ động phối hợp với các doanh nghiệp hỗ trợ đào tạo và nâng cao tay nghề Bên cạnh đó, chính quyền các cấp rất quan tâm đến vấn đề việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số, giới thiệu việc làm cho thanh niên đồng bào dân tộc thiểu số, tạo nhiều chuyển biến trong công tác đào tạo nghề tại các vùng miền núi Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực thì vẫn còn một số hạn chế về chất lượng nguồn lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vấn đề tìm việc làm còn khó khăn, thu nhập thấp và cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ

Việc làm cho thanh niên nói chung hiện nay đã khó, việc làm cho thanh niên ở nông thôn miền núi lại càng khó hơn Nghề và tay nghề lại không có, làm cho đa số thanh niên phải bỏ quê đi làm ăn xa, số ở lại do không có việc làm, không có thu nhập, làm cho số hộ nghèo và cận nghèo tăng lên Bên cạnh

đó, hệ lụy của không có việc làm là những tệ nạn, tiêu cực xã hội như rượu chè, cờ bạc, ma tuý, trộm cắp, cướp giật và cả việc gây rối trật tự, làm ảnh hưởng đến an ninh, ảnh hưởng đến sản xuất và xây dựng đời sống văn hoá mới tại cộng đồng dân cư… đều do “nhàn cư vi bất thiện” Vì vậy việc làm cho thanh niên vùng nông thôn, miền núi hiện nay đang rất cần lời giải Cụ thể:

Ngoài việc định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc giảm, miễn thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích khác để người có khả năng lao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và

cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo việc làm cho nhiều người lao động, Nhà nước cần có chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và sử dụng lao động thanh niên là người dân tộc thiểu số

Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài, bao gồm cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, để giải quyết việc làm cho người lao động, quan tâm đến việc ưu tiên dạy nghề, giải quyết việc làm và cho vay vốn phát triển sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, phát huy tính năng động của thanh niên dân tộc thiểu số trong lao động sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống

Trang 21

1.2 THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của khoa học xã hội Việt Nam là nghiên cứu

“Dự báo tình hình và xu thế phát triển của tình hình thế giới, khu vực và trong

nước; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đướng lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước” Việc nghiên cứu dự báo đánh giá đúng

thời cơ và thách thức đối với Việt Nam và đối với vùng dân tộc thiểu số trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO cần phải được xác định là một trong những hướng ưu tiên Trước khi luận chứng những vấn đề cụ thể, nhất thiết phải tiếp cận những vấn đề chung có tính phương pháp luận; bước đầu cần làm rõ một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, Nguyên tắc căn bản của WTO là công khai, minh bạch và không phân biệt đối xử

WTO không phải là một tổ chức cứu trợ nhân đạo hoạt động từ thiện

Do đó, trong quan hệ giữa các thành viên của WTO không tồn tại các loại từ ngữ như “thông cảm”, “giúp đỡ” hoặc “chín bỏ làm mười” WTO chỉ tạo ra

cơ hội như nhau cho các quốc gia theo nguyên tắc thị trường, mà cơ hội và tận dụng cơ hội là hai vấn đề khác nhau mặc dù giữa chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau Cơ hội là khách quan, còn tận dụng cơ hội là chủ quan - chủ yếu phụ thuộc vào trí tuệ và phẩm chất của “người cầm quyền” - những người có trọng trách với quốc gia dân tộc ở tầng quyết sách, đây là mối quan hệ tác động qua lại biện chứng Chúng ta biết rằng WTO chỉ tạo ra cơ hội cho các nước nhưng không chia đều thuận lợi và khó khăn cho mỗi quốc gia WTO không thể đem lại sự bình đẳng thực sự cho các nước khi mà nền kinh tế có sự chênh lệch lớn

về tiềm lực và trình độ phát triển, Việt Nam là một thành viên, nền kinh tế ở trình độ thấp, khoa học công nghệ còn lạc hậu, trình độ tổ chức quản lý yếu kém ở tầng vĩ mô (cấp quyết sách của Nhà nước) và cả ở tầm vi mô (các tổ chức, đơn vị kinh tế), các sản phẩm nội địa làm ra chất lượng thấp, giá thành cao,nghèo nàn về mẫu mã, chủng loại, vì vậy không thể cạnh tranh hoặc rất khó cạnh tranh trên thị trường trong nước, khu vực, thế giới) Khi tham gia WTO, do thế và lực yếu, nền kinh tế của các nước đang phát triển sẽ bị ràng buộc bởi những yếu tố bên ngoài, phải chấp nhận và thực hiện các quy tắc quốc tế do các nước Tư bản phát triển áp đặt Do có lợi thế về tiềm lực kinh tế

và trình độ phát triển, ngoài việc mở rộng thị trường buôn bán và đầu tư nhằm thu hút lợi nhuận, các nước Tư bản phát triển còn tìm cách chi phối, khống chế

Trang 22

thị trường thế giới, cải biến nền kinh tế của các nước khác phục vụ lợi ích của mình Họ thao túng các tổ chức kinh tế toàn cầu (IMF, WB, WTO…) áp đặt những quy chế và phương thức hoạt động không bình đẳng, gây thiệt hại cho các nước đang phát triển, làm gia tăng tình trạng thất nghiệp, phân hoá giàu nghèo, đe doạ chủ quyền kinh tế và chủ quyền quốc gia của những nước này

Thứ hai, So với vùng đồng bằng và đô thị, vùng dân tộc thiểu số nước

ta có những đặc điểm lớn dễ nhận thấy

Một là, kinh tế kém phát triển, sản xuất hàng hoá sơ khai, sản xuất nhỏ,

phân tán là phổ biến, lao động thủ công là phổ biến, năng suất lao động thấp (do lịch sử để lại, do điều kiện địa lý, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, do dân trí thấp, do cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội kém phát triển,…)

Hai là, trình độ dân trí và học vấn của người dân còn thấp, đời sống vật

chất thiếu thốn, khó khăn và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên thời tiết; đời sống văn hoá nghèo nàn

Ba là, hầu hết các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên

giới, nơi có vị trí đặc biệt về an ninh, quốc phòng và trong nhiều trường hợp rất nhạy cảm về đối ngoại (vùng đồng bào Khmer Nam Bộ, vùng dân tộc thiểu

số Tây Nguyên, vùng người H’mông ở Tây Bắc, Tây Nghệ An…)

Nếu Việt Nam thuộc nhóm “yếu thế” trong cộng đồng thành viên của WTO, thì vùng dân tộc thiểu số là vùng “yếu thế” so với các vùng khác trên đất nước Việt Nam Nói cách khác, là thành viên của WTO, Việt Nam nói chung vùng dân tộc thiểu số nói riêng có cơ hội nhỏ hơn và chịu thách thức lớn hơn so với cơ hội và thách thức mà các Nước khác, vùng khác gặp phải

Thứ ba, thời cơ và thách thức đối với vùng dân tộc thiểu số nói chung và đối với thanh niên dân tộc thiểu số nói riêng

a, Những tác động tích cực đối với Việt Nam nói chung, đối với vùng dân tộc thiểu số và thanh niên các dân tộc thiểu số nói riêng

Một là, Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nguồn lực tài chính quan

trọng cho phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam nói chung và vùng núi, vùng dân tộc thiểu số nói riêng tạo lập ngày càng nhiều việc làm cho thanh niên các DTTS

Do chính sách mở cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới cho phép phát huy mọi nguồn lực và vốn đầu tư trực tiếp (FDI), viện trợ phát triển chính thức (ODA) để khai thác phát huy tiềm năng, thế mạnh, đẩy nhanh tiến trình công

Trang 23

nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng núi, vùng dân tộc thiểu số Việc thu hút vốn đầu

tư và vốn viện trợ phát triển chính thức góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam nói chung vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng

Hai là, Sản phẩm hàng hoá do Việt Nam làm ra được tiêu thụ dễ hơn

Khi Việt Nam ra nhập WTO những sản phẩm hàng hoá ở vùng núi vùng dân tộc thiểu số do đồng bào dân tộc nói chung và do thanh niên các dân tộc thiểu

số nói riêng làm ra tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường trong nước và quốc tế với miễn thuế suất ưu đãi và được đối xử bình đẳng theo qui tắc của các nước thành viên WTO

Ba là, Các lực lượng lao động trên đất nước Việt Nam trong đó có thanh

niên các dân tộc thiểu số có cơ hội tiếp cận tiến bộ khoa học kĩ thuật, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước Do chính sách mở cửa hội nhập, những giống cây trồng, các giống vật nuôi có năng xuất cao, có chất lượng tốt được du nhập vào Việt Nam và vùng núi, vùng dân tộc thiểu số mang lại hiệu quả kinh tế cao nhiều vùng ở Việt nam đặc biệt ở vùng núi , vùng dân tộc thiểu số Việc cải thiện cuộc sống, xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, thanh niên các dân tộc thiểu số nói riêng, bộ mặt nông thôn vùng dân tộc thiểu

số từng bước đổi mới phát triển theo hướng bền vững

Bốn là, Tạo cơ hội và nâng cao mức hưởng thụ văn hoá, làm giàu vốn

văn hoá dân tộc trong đó có thanh niên các dân tộc thiểu số, việc mở cửa hội nhập, việc áp dụng thành tựu của khoa học công nghệ trong lĩnh vực thông tin truyền thông, thanh niên các dân tộc thiểu số có thể nắm bắt nhanh hơn những kiến thức khoa học, kiến thức văn hoá, văn minh nhân loại của các dân tộc khác Việc tiếp cận, gặp gỡ và làm phong phú thêm nền văn hoá của dân tộc mình theo hướng tiến bộ, đạm đà bản sắc văn hoá dân tộc

b, Những khó khăn, thách thức đối với Việt Nam nói chung đối với vùng núi đặc biệt đối với thanh niên các dân tộc thiểu số

Một là, Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn: Do toàn cầu hoá, hội

nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường bên cạnh yếu tố tích cực còn mặt trái là làm cho tình trạng đói nghèo và chất lượng mức sống giữa các vùng sẽ thay đổi đặc biệt vùng núi vùng dân tộc thiểu số sẽ nhiều biến động Cuộc sống của thanh niên vùng núi, vùng dân tộc thiểu số khó khăn hơn so với thanh niên vùng đồng bằng ngày càng gia tăng

Trang 24

Hai là, Một số hàng hoá, sản phẩm của vùng núi vùng dân tộc thiểu số

làm ra khó tiêu thụ: Do qui mô và sức sản xuất nhỏ bé, phân tán, chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa có tính cạnh tranh Do vậy một số hàng hoá chưa đạt chuẩn quốc tế, đó là rào cản trong quá trình hội nhập

Ba là, Văn hoá truyền thống của đồng bào nói chung và thanh niên các

dân tộc thiểu số nói riêng dễ bị mai một dần: Do quá trình giao lưu văn hoá, lối sống hội nhập của lớp thanh niên mới dễ làm biến dạng các giá trị văn hoá truyền thống như ngôn ngữ, nhà cửa, kiến trúc, âm nhạc, phong tục, lối sống, mất dần văn hoá Việt Nam và văn hoá các dân tộc thiểu số nếu như không bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc mà thanh niên phải là lớp người tiên phong bảo tồn những giá trị văn hoá đó

Bốn là, Môi trường dễ ngày càng suy thoái: Do áp lực phát triển kinh tế

hàng hoá, đồng bào các dân tộc gia tăng khai thác tài nguyên rừng, đất, khoáng sản và chất thải công nghiệp làm môi trường suy thoái nghiêm trọng

Năm là, Tình trạng phạm tội và các tệ nạn xã hội nếu thấy không kiểm

soát được sẽ đe doạ sự ổn định xã hội và khối đại đoàn kết dân tộc Mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới, các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội gia tăng nhanh chóng Do giao lưu thuận lợi, các giá trị văn hoá, lối sống thay đổi mà thanh niên Việt Nam nói chung, thanh niên vùng dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng là lực lượng xã hội trẻ, năng động, dễ tiếp thu văn hoá nhưng một số

bộ phận chưa có tính chọn lọc, phương hướng; chủ yếu theo phong trào, trào lưu chung của giới trẻ là thích hưởng thụ, ít muốn lao động chân chính, làm gia tăng các tệ nạn xã hội Kẻ thù lợi dụng chính sách mở cửa, tấn công, kích động vào lối sống thanh niên để gây mất ổn định, trật tự, suy dồi và làm nguy hại đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Tóm lại, nói một cách khác khi chúng ta là thành viên của WTO, thời cơ

và thách thức đến với Việt Nam nói chung và đối với vùng dân tộc thiểu số nói riêng diễn ra theo hai kênh: Gián tiếp và trực tiếp

WTO tác động đến vùng DTTS một cách gián tiếp theo sơ đồ sau:

WTO -> Quốc gia (cả nước) -> Vùng dân tộc thiểu số

Thông qua Nhà nước Trung ương

WTO tác dộng trực tiếp đến vùng dân tộc thiểu số theo sơ đồ;

WTO -> Vùng dân tộc thiểu số

Thông qua hệ thống thông tin đại chúng và các kênh thông tin khác

Trang 25

Trong hai kênh trên thì tác động gián tiếp thông qua Nhà nước Trung ương là quan trọng nhất và có ý nghĩa quyết định Nếu Nhà nước Trung ương đưa ra quyết sách hội nhập đúng đắn, kết hợp tốt nội lực với ngoại lực, yếu tố trong nước với yếu tố ngoài nước để tận dụng được cơ hội, vượt qua thách thức Ngược lại, nếu Nhà nước không đưa ra được quyết sách đúng đắn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, không huy động được tối đa nội lực và ngoại lực, quản lý yếu kém và sử dụng không hiệu quả các nguồn lực, không tận dụng được các cơ hội, không vượt qua được thách thức, khoảng cách tụt hậu

so với các nước trong khu vực ngày càng lớn, thì vùng dân tộc thiểu số sẽ không thể tận dụng được cơ hội, không vượt qua thách thức và khó khăn ngày càng đè nặng lên đời sống đồng bào

Thứ tư, Làm thế nào để Việt Nam nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng có thể tận dụng được thời cơ, vượt qua được thách thức?

Từ các vấn đề nêu trên có thể rút ra một số vấn đề mang tính hệ quả có tính tất yếu sau đây:

Một là, tự bản thân Việt Nam và vùng dân tộc thiểu số không thể tận

dụng được cơ hội và không thể vượt qua được thách thức trong điều kiện của Việt Nam là thành viên của WTO

Hai là, Nhà nước phải có trách nhiệm tạo mọi điều kiện cần thiết để

vùng dân tộc thiểu số có thể tận dụng được thời cơ và vượt qua thách thức Nói cách khác, vùng dân tộc thiểu số có tận dụng được cơ hội và vượt qua được thách thức hay không trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm của Nhà nước, đồng thời Nhà nước có chính sách và tạo điều kiện cho lượng lao động thanh niên Việt Nam cống hiến và trưởng thành

Ba là, trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội hiện nay ở Việt Nam,

Nhà nước có vai trò quyết định tạo ra tiền đề cần thiết cho các vùng trong đó

có vùng đồng bào dân tộc thiểu số tận dụng thời cơ và vượt qua thách thức; còn địa phương có vai trò quyết định biến các tiền đề do Nhà nước tạo ra thành sức mạnh của đồng bào dân tộc thiểu số để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức, thanh niên có việc làm, cống hiến sức lực của mình cho sự nghiệp CNH, HĐH vùng núi vùng dân tộc thiểu số

Bốn là, trong các văn bản của Đảng, Nhà nước có liên quan đến vùng dân

tộc thiểu số, về nguyên tắc, không được dùng các động ngữ “quan tâm”, “giúp đỡ”, “hỗ trợ” và thay vào đó là cụm từ “trách nhiệm” (trách nhiệm của Đảng, của Nhà nước, của cấp uỷ và chính quyền địa phương, trách nhiệm của người

Trang 26

Kinh đối với đồng bào dân tộc thiểu nói chung, đối với thanh niên dân tộc thiểu

số nói riêng về vấn đề việc làm trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới)

Năm là, cần đổi mới tư duy về vấn đề dân tộc thiểu số trong điều kiện

Việt Nam là thành viên của WTO Phải nhận thức rằng vùng dân tộc thiểu số

là nơi hội tụ của những vấn đề quốc gia như chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, văn hoá, xã hội và đối ngoại của quốc gia Do đó, trách nhiệm đối với vùng dân tộc thiểu số trước hết và chủ yếu thuộc cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, Uỷ ban dân tộc chỉ là cơ quan tham mưu, giúp việc Bởi vậy toàn bộ các vấn đề: Sự lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm quản lý của Nhà nước, các tổ chức và cơ chế vận hành của các bộ phận liên quan đến chính sách dân tộc đều cần phải tiếp tục nghiên cứu để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới; tạo điều kiện ngày càng tốt hơn để thanh niên Việt Nam nói chung thanh niên các dân tộc thiểu số nói riêng tiếp cận được việc làm và được đào tạo nghề giúp cho họ có chỗ đứng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

số trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO là một vấn đề cực kỳ quan trọng, vừa có ý nghĩa cấp hết trước mắt, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài và là

cơ sở quan trọng nhất cho việc hoạch định chiến lược, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề việc làm của các tầng lớp lao động xã hội nói chung và đối với vùng dân tộc thiểu số đặc biệt là thanh niên các dân tộc trong thời kỳ hội nhập WTO Trong thời kỳ xã hội hỗn loạn khôn lường ở Trung Hoa cổ đại, Tư

Mã Tương Như đã đưa ra ý kiến sâu sắc như một châm ngôn mà các vị minh quân, thủ lĩnh, tướng soái không thể quên: “Sự biết nhìn xa của người sáng suốt

là ở chỗ biết nhìn thấy sự vật khi nó chưa hoàn toàn nhìn ra, còn những người

có hiểu biết lại biết tránh được cái nguy hiểm ở trong những chỗ vô hình, mà nếu nguy cơ còn chưa hình thành thì nên làm tiêu tan nó đi và như vậy cũng sẽ

tự nhiên không cần phải vội vã xử lý với nguy cơ nữa Tức là cần có biện pháp

xử lý từ gốc của vấn đề” Với vai trò tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định và thực thi chính sách dân tộc Uỷ ban Dân tộc cần phối hợp với các cơ quan, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực tiếp tục tổ chức nghiên cứu từng bước để làm rõ hơn, nhận thức đúng hơn cả thời cơ và thách thức đối với vùng dân tộc thiểu số trong tình hình mới; đặc biệt cần quan tâm hơn nữa đến chính sách tạo việc làm, chính sách đào tạo nghề, sử dụng nghề đối với thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên các dân tộc thiểu số nói riêng trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH vùng núi vùng DTTS

Trang 27

1.3 VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP WTO

Được xác định là lực lượng chiến lược là chủ thể tích cực nhất trong sự phát triển Đảng và Nhà nước ta luôn đặt niềm tin vào thanh niên, trao cho thanh niên trọng trách là “người chủ hiện tại và tương lai của đất nước”, đòi hỏi thanh niên phải phấn đấu vươn lên cùng dân tộc hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cách mạng đặt ra Đồng thời, Đảng cũng chỉ rõ: "Sự nghiệp đổi mới

có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không, phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng rèn luyện thế hệ thanh niên, công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của

cách mạng" Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, biết bao thế hệ thanh niên đã phát huy chủ nghĩa yêu nước và những truyền thống quý báu của dân tộc, làm nên những chiến công hiển hách Đặc biệt, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, thanh niên Việt Nam đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, làm rạng rỡ hơn truyền thống của dân tộc và truyền thống của thanh niên Việt Nam trong thời đại mới Cũng chính thanh niên nước ta, với trí thông minh, tài sáng tạo, lòng dũng cảm và tinh thần lao động cần cù đã có những cống hiến to lớn vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc

Hai là, thanh niên nói chung và thanh niên DTTS nói riêng luôn có ý thức

tổ chức kỷ luật, ý chí vươn lên, tự giác, trách nhiệm với lịch sử, dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước nhằm đẩy nhanh đẩy mạnh sự phát triển kinh tế- xã hội thời kì hội nhập kinh tế quốc tế

Trong công cuộc đổi mới, tuổi trẻ Việt Nam đã bước đầu tỏ rõ bản lĩnh và

sự nhạy cảm của mình trước thời cuộc, tạo nên diện mạo mới đặc trưng cho lớp trẻ ngày nay Đặc biệt, trong thời kỳ hội nhập hiện nay, thanh niên Việt Nam phải

Trang 28

tự ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình trước lịch sử, đó là xây dựng và phát triển xã hội Không ai khác, chính thế hệ thanh niên nước ta phải đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao về tài năng, trí tuệ, mà yêu cầu của thời đại đặt ra

Ba là, thanh niên là lực lượng lao động trẻ có tri thức khoa học, lực lượng trực tiếp tham gia lao động sáng tạo ở vùng núi, vùng DTTS trong giai đoạn hiện nay

Hơn ai hết, thanh niên là lực lượng xã hội có khả năng tốt nhất để lĩnh hội

và làm chủ những kiến thức khoa học hiện đại, công nghệ tiên tiến, tiến kịp trình

độ chung của thế giới, đưa đất nước đi vào tương lai Thanh niên là nguồn lực chủ chốt, là nguồn đào tạo nhân tài của sự nghiệp phát triển đất nước

Bốn là, thanh niên DTTS là một trong những lực lượng góp phần quan trọng thực hiện trí tuệ hoá lao động, nâng cao năng suất lao động ở vùng đồng bào DTTS thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH vùng núi vùng DTTS

Năm là, thanh niên DTTS vừa lao động sáng tạo có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền văn hoá các DTTS nói riêng và nền văn hóa Việt Nam nói chung; góp phần đảm bảo cho văn hóa các dân tộc thiểu số phát triển theo hướng tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Phát huy vị trí, vai trò của thanh niên và sử dụng nguồn lực đó một cách có hiệu quả vào quá xây dựng, phát triển đất nước là một yêu cầu khách quan của xã hội ta Thế hệ trẻ ngày nay phải tiêu biểu cho nhân cách Việt Nam, cho trình độ phát triển khoa học - kỹ thuật - công nghệ, sự phát triển trí tuệ và văn hoá Việt Nam

Thanh niên Việt Nam chiếm hơn 55% lao động xã hội và gần 30% dân số

Họ được đào tạo một cách cơ bản và khá toàn diện Do đó, thanh niên giữ một vị trí quan trọng và có vai trò đặc biệt trong hội nhập hiện nay cũng như trong tương lai Thời kỳ hội nhập đòi hỏi rất cao ở thanh niên vốn trí tuệ và trình độ phát triển người về mọi mặt Thực tiễn cách mạng nước ta cũng như kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy, thanh niên là lực lượng xung kích và là động lực chủ yếu của các cuộc cách mạng Họ thật sự tiêu biểu cho sự phát triển tương lai của đất nước, là lớp người tiếp sức cho cách mạng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh

Bên cạnh những ưu điểm, những mặt tích cực đó, thanh niên Việt Nam đang phải ra sức khắc phục những hạn chế và khiếm khuyết của mình Một bộ phận thanh niên chưa tỏ rõ ý chí, nghị lực và hoài bão theo lý tưởng xã hội chủ

Trang 29

nghĩa, không chịu trau dồi về học vấn, văn hoá, khoa học kỹ thuật nên không đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước và trở thành tụt hậu Một bộ phận khác, do chưa chủ động và lường trước những mặt trái của nền kinh tế thị trường,

sự biến động phức tạp của tình hình kinh tế - xã hội trong nước và thế giới, bị những mặt tiêu cực, lối sống thực dụng, buông thả, cá nhân chủ nghĩa và các tệ nạn xã hội chi phối dẫn tới không ít người vi phạm pháp luật, biến thành tội phạm Mặt khác, điều cần nhấn mạnh hơn cả là Đảng và Nhà nước ta, các đoàn thể và tổ chức của thanh niên cần xây dựng được một cơ chế thích hợp và một hệ giải pháp thống nhất và đồng bộ nhằm khai thác, phát huy tiềm năng về mọi mặt hết sức to lớn, dồi dào của thanh niên nước ta hiện nay Hơn lúc nào hết, việc phát huy vị thế và vai trò của thanh niên đang là vấn đề có chiến lược của Đảng

và Nhà nước ta trong thời kỳ xây dựng phát triển đất nước và hội nhập quốc tế

Hiện nay đất nước ta đang thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và trong giai đoạn đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế Quá trình đó đã, đang đưa lại cho đất nước ta nói chung và thanh niên nói riêng những thời cơ xen lẫn những thách thức

* Những thời cơ đối với thanh niên:

Thứ nhất, Sự nghiệp đổi mới của Đảng, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HDDH

đất nước và chủ động hội nhập quốc tế; sự quan tâm của Đảng, các cấp, các ngành và xã hội mở ra cho thanh niên nhiều cơ hội để phát huy tài năng, cống hiến và trưởng thành hơn Bước trưởng thành của thanh niên và các tổ chức Đoàn, sự phát triển mạnh mẽ của phong trào “Thanh niên tình nguyện” cùng với tính tích cực của đông đảo thanh niên được khơi dậy và phát huy là thời cơ để đẩy mạnh công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên vào tổ chức

Thứ hai, Sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp, xây dựng,

khai thác và các khu vực công nghệ cao là cơ hội để cho thanh niên trở thành những người lao động có chuyên môn Mặt khác, sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ và tri thức là cơ hội để tuổi trẻ thể hiện tài năng, cống hiến trí tuệ cho đất nước Việc mở rộng hợp tác và giao lưu quốc tế tạo điều kiện cho tuổi trẻ tiếp cận nhiều và nhanh hơn kinh nghiệm, tri thức quốc tế, tinh hoa văn hóa nhân loại

Thứ ba, trên con đường hội nhập, Việt Nam có nhiều cơ hội để mở rộng và

tiếp cận thị trường hàng hóa, dịch vụ trên thế giới, có điều kiện để mở rộng thị trường xuất nhập khẩu ra ngoài biên giới quốc gia Đẩy mạnh quá trình hội nhập đất nước ta có vị thế bình đẳng trên trường quốc tế, có điều kiện để đảm bảo lợi ích của đất nước, của dân tộc Đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình cải cách của

Trang 30

đất nước có hiệu quả hơn Là thành viên của WTO nên môi trường kinh doanh của chúng ta ngày càng được cải thiện

*Những thách thức đối với thanh niên:

- Tình hình thế giới đang có những diễn biến phức tạp, khó lường, những nguy cơ chung của đất nước mà Đảng ta đã chỉ ra là những thách thức đối với thế

hệ trẻ So với các nước trong khu vực và trên thế giới trình độ phát triển của nước

ta đang có khoảng cách tụt hậu khá xa Đất nước còn nghèo do vậy chưa có đủ khả năng và điều kiện để đáp ứng tốt các nhu cầu về học tập, nhà ở, việc làm, lập nghiệp… của nhân dân nói chung và thanh niên nói riêng

- Trong quá trình hội nhập cũng là thách thức đối với số đông thanh niên

có trình độ học vấn thấp, không có chuyên môn, nghề nghiệp và thiếu năng lực sáng tạo Tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội tác động mạnh mẽ vào thế hệ trẻ là những thức lớn đến đến giá trị và lối sống của thanh niên

Trước những thuận lợi và khó khăn của đất nước cũng như đối với bản thân mình, hơn lúc nào hết thanh niên Việt Nam phải nhận thấy rõ vị trí, vai trò của mình đối với sự phát triển đất nước Phải nhận thức được khó khăn lớn nhất của mình trong giai đoạn này là sự cạnh tranh quyết liệt về trí tuệ, nhận thức, thể lực, nhân cách…Để vượt qua được khó khăn đó, đòi hỏi rất cao ở thanh niên là phảI tự học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ về mọi mặt, trau dồi bản lĩnh chính trị, lập trường, lý tưởng Phấn đấu thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” với vai trò là chủ thể tích cực, là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, chủ động hội nhập quốc tế

Từ những thời cơ và thách thức đặt ra đối với thanh niên Việt Nam trong thời kỳ hội nhâp chúng ta có thể nhận rõ mối quan hệ hữu cơ giữa vị trí, vai trò của thanh niên Việt Nam với quá trình hội nhập quốc tế ở 2 điểm nổi bật sau đây:

Một là, thời kỳ hội nhập đặt ra hàng loạt yêu cầu mới về chất lượng nguồn lực

thanh niên, từ chất lượng con người cá thể đến chất lượng cộng đồng xã hội những người lao động mới ở mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực Hội nhập sẽ tạo ra những khả năng và điều kiện để thanh niên bộc lộ năng lực, tính sáng tạo, tạo đà phát triển nhân cách, thành đạt sớm hơn, làm biến đổi toàn diện thanh niên làm cho hoạt động của thanh niên càng phong phú bao nhiêu, càng tích cực và sáng tạo bao nhiêu, thì bản thân họ càng trở nên sâu sắc về nhãn quan chính trị, về tri thức nhiều mặt, về giá trị

Trang 31

tinh thần, tư tưởng bấy nhiêu Hội nhập sẽ thử thách toàn diện tài năng, bản lĩnh của thanh niên Việt Nam, sẽ khẳng định những giá trị thật của chúng ta trên con đường phát triển, sẽ làm xuất hiện nhiều tài năng trong thanh niên

Hai là, đến lượt nó, vị thế của thanh niên lại thúc đẩy nhanh tiến trình hội

nhập, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước Nâng cao tính tích cực của thanh niên, tìm ra cơ chế để phát huy tính tích cực đó sẽ đem lại những bước tiến đáng kể của quá trình hội nhập Hơn nữa hội nhập sẽ đem lại sự phát triển cao hơn

về chất lượng thanh niên và ngược lại, vị thế thanh niên được nâng cao sẽ tạo ra động lực để đẩy mạnh quá trình phát triển đất nước và hội nhập thế giới

Trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế thanh niên của DTTS nói chung cần:

Phương hướng chung là phải đặt thanh niên đúng vị trí của nó trong xã hội; tạo ra nguồn lực thanh niên chất lượng cao, áp dụng chính sách và cơ chế hợp lý trong

sử dụng và phát huy vị trí, vai trò của thanh niên

- Phát huy vai trò và vị trí thanh niên trong thời kỳ hội nhập xuất phát từ yêu cầu phát triển của đất nước và nhằm mục tiêu phát triển, hoàn thiện nhân cách thanh niên

- Phát huy vai trò và vị trí thanh niên trong thời kỳ hội nhập vừa là trách nhiệm của toàn xã hội, vừa là nhiệm vụ của bản thân thanh niên

- Phát huy vai trò và vị trí thanh niên trong thời kỳ hội nhập bằng nhiều con đường, nhiều biện pháp mang tính tổng hợp và đồng bộ; kết hợp truyền thống

và hiện đại, dân tộc và quốc tế

Để phát huy vai trò và vị trí của thanh niên trong quá trình hội nhập cần phải có một hệ thống giải pháp đúng đắn và đồng bộ, có khả năng đi vào cuộc sống, trong đó quan trọng nhất là đổi mới hệ thống giáo dục, hướng nghiệp, dạy nghề và đào tạo lại nghề; giải quyết việc làm; tăng thu nhập; có chính sách xã hội đúng đắn và xây dựng môi trường văn hoá, chính trị để phát triển thanh niên

Tóm lại:

Thanh niên Việt Nam trong thế kỷ XXI sẽ phát triển trong những điều kiện mới, hiện đại có những cơ hội may mắn, thuận lợi để phát triển đồng thời cũng phải biết vượt qua những thử thách, nguy cơ mới, khác với những đặc điểm và yêu cầu của nhiều thế hệ người Việt Nam truyền thống Các tiêu chí về văn minh và văn hóa của xã hội hiện đại cùng những biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ của qúa trình phân công lại lao động xã hội, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ tác động và in dấu ấn lên cơ cấu chất lượng và số lượng nguồn nhân lực trẻ ở nước ta Giáo dục

Trang 32

văn hóa, đặc biệt là văn hóa lao động, văn hóa đạo đức, lối sống sẽ giúp cho thế hệ trẻ biết cách thức đồng thời có bản lĩnh để tiếp thu những giá trị tinh hoa của thế giới và thời đại, đồng thời giữ vững truyền thống và phát huy bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế Vì vậy, những cách thức giải quyết, những trù tính phát triển, những kinh nghiệm đào tạo, quản lý, phát triển vị trí, vai trò của thế hệ trẻ của các nước trong khu vực và trên thế giới đều có tác dụng thúc đẩy, ảnh hưởng và gợi mở suy nghĩ, vận dụng đối với nước ta trong kế hoạch và bước đi sắp tới Đồng thời, trong hành trang đi tới hội nhập quốc tế nhìn từ góc độ vai trò của thanh niên, chúng ta phải phát huy mặt mạnh, ưu thế, lọc bỏ mặt hạn chế yếu kém của lớp người trẻ tuổi để xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc, của thời đại nhằm vươn ra để hội nhập với thế giới

Những vấn đề như việc làm, thu nhập, đời sống, nghề nghiệp của thanh niên, việc quản lý sử dụng và đào tạo nguồn nhân lực trẻ đang vừa là những vấn

đề thời sự cấp bách, vừa là những vấn đề cơ bản, lâu dài đòi hỏi sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội trong việc xây dựng một hệ thống các chính sách

sử dụng, bồi dưỡng và phát huy vị trí, vai trò của thanh niên hướng vào sự phát triển lâu bền của đất nước, vì tương lai, hạnh phúc của tuổi trẻ Đó không chỉ là vấn đề xã hội của một dân tộc, một quốc gia mà còn là của thời đại, của nhân loại

1.4 TÍNH TẤT YẾU VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN VÀ CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN DTTS TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

a Tính tất yếu về vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay

Thanh niên nói chung và thanh niên dân tộc thiểu số (DTTS) nói riêng là lực lượng xung kích trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng… Xuất phát từ vai trò, vị thế, đặc điểm riêng có của thanh niên

và yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng, vấn đề việc làm cho thanh niên nói chung và thanh niên DTTS nói riêng trở thành tất yếu khách quan bởi lẽ sau đây:

Một là, Xuất phát từ vị thế, vai trò của thanh niên nói chung và thanh niên DTTS nói riêng

hết sức to lớn, họ là sức sống hiện tại và tương lai của dân tộc Nghị quyết TW4 khoá VII Đảng ta đã khẳng định: “ Vấn đề thanh niên phải đặt ở vị trí

Trang 33

trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người…Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước ta bước vào thế kỷ XXI có

vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không…phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng và rèn luyện thế hệ thanh niên”

trong phong trào thanh niên khu vực và thế giới Năm 2000, năm đầu tiên của thế kỷ XXI, Đảng, Chính phủ đã đồng ý đặt tên là “Năm Thanh niên”, chúng

ta đã gửi “Thông điệp Tháng Ba” đến bạn bè trên toàn thế giới Trong những năm qua, chúng ta đã mở rộng quan hệ bè bạn và hợp tác với hơn 300 tổ chức thanh niên, sinh viên thế giới Chúng ta đã chủ động đề xuất và tổ chức thành công các hoạt động giao lưu với thanh niên các nước có đường biên giới chung với Việt Nam, tiếp tục củng cố mối quan hệ truyền thống với Đoàn thanh niên Trung Quốc, Lào, Cămpuchia, Cu Ba, Liên bang Nga; đã tích cực tham gia các hoạt động tại Festival thanh niên, sinh viên thế giới lần thứ 15 Vị thế và ảnh hưởng của thanh niên Việt Nam còn được thể hiện ở nhiều cuộc thi thế giới và khu vực về toán học, vật lý, thể thao…

tế và trong nước mà ngay trong từng địa bàn, từng khu vực và trong mỗi gia đình thanh niên cũng chiếm vị thế quan trọng trong việc tạo lập, trong phát triển kinh tế và trở thành lực lương xung kích trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của Đảng và nhà nước ta

Hai là, Thanh niên nói chung và thanh niên DTTS nói riêng là lực lượng lao động trẻ, khỏe, có tri thức trong xã hội

Hiện tại, hàng chục vạn lao động Việt Nam mà chủ yếu là thanh niên đang đóng góp không nhỏ cho các nền kinh tế thế giới trong đó có nền kinh tế Việt nam với sự thông minh sáng tạo, đức tính cần cù chăm chỉ trong lao động

và nghiên cứu khoa học Bên cạnh đội hình TNXP lập nghiệp và hoạt động chủ yếu ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, còn có hàng ngàn doanh nghiệp trẻ đang hăng hái, góp phần tạo dựng nên “Thương hiệu Việt” và nhiều bạn trẻ khác đang “khởi nghiệp” bằng chính bàn tay, khối óc dám nghĩ, dám làm và biết làm của mình Nếu như trong kháng chiến, phong trào thanh niên

“3 sẵn sàng”, “3 đảm đang” và khẩu hiệu “xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ” đã được lịch sử dân tộc ghi nhận, bạn bè thế giới ngợi ca, thì ngày nay, các phong trào “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”, “Học vì ngày mai lập nghiệp” đã và đang thu hút đông đảo bạn trẻ tham gia

Trang 34

Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở 01/4/2009, nước ta số lượng lao động tuổi từ 15 trở lên năm 2007 là 45.208.000 người; năm 2008 là 46.460.800 người; năm 2009 là 47.743.600 người Với lực lượng lao động trên

đã tham gia làm việc trong các ngành kinh tế: Nông, lâm nghiệp 48,20%; thủy sản 3,7%; công nghiệp khai thác mỏ 1%; công nghiệp chế biến 14,4%; xây dựng 5,6% (số liệu năm 2009 của Tổng cục thống kê) Nhìn chung, lao động nước ta đang chuyển dịch theo hướng tích cực, tuy vậy lao động trong ngành nông nghiệp và thủy sản vẫn chiếm một tỷ lệ cao trong các ngành kinh tế Trong lực lương lao động nói chung thì nước ta là quốc gia có dân số khá trẻ,

có khoảng 30 triệu người trong độ tuổi thanh niên (15 - 34 tuổi), chiếm 38% dân số, đây vừa là một lợi thế về nguồn nhân lực, nhưng đồng thời cũng tạo nhiều sức ép về giáo dục, y tế, việc làm và các vấn đề xã hội khác liên quan đến việc làm của thanh niên

Ba là, Giải quyết việc làm cho thanh niên nói chung và thanh niên DTTS nói riêng là đòí hỏi khách quan của công cuộc đổi mới trong hội nhập và phát triển

Trong 20 năm đổi mới vừa qua, một thế hệ TN “8X” đã ra đời và từng bước trưởng thành Có thể nói ít có thời kỳ nào mà tuổi trẻ Việt Nam lại có cơ hội và vai trò to lớn đến thế trong tiến trình đổi mới và hội nhập Đặc biệt trong thời gian qua, khi mà kinh tế thị trường đang ngày càng thành hiện thực, làm biến đổi nhiều mặt đời sống xã hội, với sự phát triển tích cực, thì cũng đã xuất hiện ngày càng gia tăng những lối sống thực dụng, ích kỷ và buông thả trong một bộ phận không nhỏ thanh niên và trong xã hội Trong bối cảnh đó, chính số đông thanh niên lại là lực lượng đi đầu trong công cuộc xoá đói giảm nghèo Các mùa hè tình nguyện đã làm xanh nhiều góc phố bộn bề và bản làng

xa xôi Hàng chục ngàn trí thức trẻ tình nguyện lên đường về nông thôn, miền núi Nhiều chương trình, dự án lớn, đậm chất đặc thù và lãng mạn của thanh niên ra đời như: Xây dựng các Cung đường TNXP trên đường Hồ Chí Minh; xoá hàng ngàn cầu khỉ thay thế bằng cầu nông thôn mới ở các tỉnh ĐBSCL; tình nguyện đi lập nghiệp tại đảo Thanh niên Bạch Long Vĩ, Cồn cỏ với những công trình hiện đại như đóng mới tàu cao tốc Bạch Long, xây dựng trạm điện sức gió, xây dựng công viên tuổi trẻ Sông Hồng trên đảo xa, xây dựng các Làng thanh niên lập nghiệp dọc đường Hồ Chí Minh và biên giới…

Trang 35

Bốn là, Xuất phát từ đặc điểm tâm lý, tính cách của thanh niên và vấn đề xã hội

Thanh niên là lực lượng trẻ, khỏe, có tri thức trong xã hội; tuy về mặt xã hội truyền thống của một số dân tộc thiểu số vẫn còn mang đậm dấu ấn của chế độ mẫu hệ nhưng thanh niên DTTS vẫn chiếm vị thế quan trọng, là trụ cột kinh tế, là chỗ dựa của gia đình, là lực lượng xung kích trong công cuộc đổi mới về văn hóa xã hội, kinh tế Tuy nhiên, thanh niên có những đặc điểm riêng chi phối đến việc làm và lựa chọn việc làm:

- Thanh nên là tầng lớp năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm nhưng cũng dễ nẩy sinh tiêu cực khi vấp ngã trong quá trình tạo lập

- Thanh niên luôn hướng tới cái mới: tiếp thu cái mới; cái mới ở đây bao hàm cả công nghệ, văn hóa xã hội theo chiều hướng tích cực; tuy nhiên, ở khía cạnh nào đó thanh niên tiếp nhận cái mới còn mang tính thụ động, thiếu chọn lọc, do đó không tránh khỏi những vấn đề tiêu cực nảy sinh trong xã hội, đặc biệt là tư tưởng ỷ lại, chờ đợi, sống buông thả, sống gấp…

- Thanh niên luôn muốn khẳng định vị thế của mình trong gia đình và xã hội Vị thế đó được chi phối mạnh mẽ bởi kinh tế mà người thanh niên tạo ra Chính vì vậy, đòi hỏi việc làm của thanh niên càng trở nên cấp bách và gay gắt hơn bao giờ hết

- Nền kinh tế nước ta nói chung và vùng DTTS nói riêng vẫn là chủ yếu nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất, phần lớn vẫn dựa vào tài nguyên Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân là vấn đề được Đảng, Nhà nước quan tâm, giải quyết việc làm theo chiều hướng “ ly nông bất ly hương” là xu hướng

mà nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện thành công Để ly nông (chuyển dịch cơ cấu kinh tế) thành công đòi hỏi phải đào tạo nghề để giải quyết việc làm cho người lao động nói chung trong đó có thanh niên

cũng là một trong những giải pháp hữu hiệu để đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực nẩy sinh trong xã hội

Năm là, xuất phát từ thực trạng đào tạo nghề và chất lượng của lao động hiện nay đòi hỏi việc bố trí, sắp xếp việc làm phù hợp với nhu cầu thị trường lao động là nhu cầu cấp thiết

Trong hàng loạt vấn đề đặt ra đối với thanh niên hiện nay thì vấn đề nghề nghiệp và việc làm được nhiều thanh niên quan tâm nhất Kết quả những cuộc điều tra khảo sát cho thấy gần 40% thanh niên (trong đó chiếm 50% là

Trang 36

đối tượng sinh viên) lựa chọn các nghề như kỹ sư, bác sĩ, giáo viên; 16% muốn trở thành nhà kinh doanh; 12% chọn nghề quản lý xã hội và công tác chính trị…Hiện vẫn còn hàng triệu thanh niên chưa có việc làm hoặc việc làm không

ổn định, trong đó một bộ phận lớn chưa được đào tạo nghề nghiệp hoặc đào tạo mang tính hình thức, chưa đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường đang đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lượng lao động của thị trường lao động trong và ngoài nước, những năm qua, Việt Nam đã xây dựng, phát triển được mạng lưới cơ sở dạy nghề rộng khắp, với đa dạng các ngành nghề đào tạo Năm 2001, cả nước chỉ có hơn 300 trường, Trung tâm dạy nghề, đến nay đã có gần 900 trường trung cấp, cao đẳng, trung tâm dạy nghề và hàng ngàn cơ sở dạy nghề, không còn tình trạng trắng trường dạy nghề ở 15 tỉnh trong cả nước, đặc biệt ở những tỉnh miền núi, khó khăn

người được học nghề, trong đó đối tượng nông dân là 1,8 triệu người và hàng ngàn lượt người khuyết tật, dân tộc thiểu số (DTTS) được dạy nghề Riêng các đối tượng là người DTTS được dạy nghề qua 2 hình thức: ngắn hạn và dài hạn Với loại hình dạy nghề ngắn hạn cho thanh niên DTTS được các địa phương triển khai với nhiều chính sách ưu đãi, ưu tiên như: hỗ trợ kinh phí, dạy nghề miền phí, giảm học phí Một số tỉnh như: An Giang, Sóc Trăng, Đồng Nai, Quảng Ngãi, Kon Tum, Hoà Bình đã áp dụng thành công hình thức đào tạo ngắn hạn này, qua đó đã giải quyết được một lượng lớn nhu cầu việc làm ổn định cho người lao động ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS Hình thức dạy nghề dài hạn cho thanh niên DTTS nội trú cũng được nhiều địa phương áp dụng Các đối tượng được học nghề theo hình thức này chủ yếu là những học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông dân tộc nội trú đã tốt nghiệp, nhưng không có điều kiện vào học tại các trường cao đẳng và đại học, họ sẽ được học nghề với sự hỗ trợ kinh phí toàn phần của Nhà nước

Đến nay, đã có hàng nghìn học sinh tốt nghiệp các trường trung học cơ

sở dân tộc nội trú và trung học phổ thông dân tộc nội trú không có điều kiện và khả năng theo học các trường cao đẳng, đại học được học nghề, có việc làm hoặc đi xuất khẩu lao động Số lao động này hiện đã và đang trở thành lực lượng nòng cốt tham gia phát triển kinh tế ở địa phương

Trang 37

Mặc dù nước ta đã có những thành công nhất định trong khâu dạy nghề,

giải quyết việc làm cho người lao động, nhưng lực lượng lao động nói chung

và lực lực lao động là thanh niên DTTS nói riêng chủ yếu vẫn là lao động

nông nghiệp, chân tay (chiếm trên 50%) Lực lượng lao động qua đào tạo chỉ

chiếm 27,5%, còn lại phần lớn là chưa qua đào tạo Trình độ chuyên môn, tay

nghề lao động cũng chưa cao, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp

còn hạn chế Đặc biệt, cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu

của thị trường, thiếu lao động kỹ thuật cao Thể lực người lao động yếu (cả về

chiều cao, lẫn cân nặng) không phù hợp với việc sử dụng máy móc, thiết bị

theo tiêu chuẩn quốc tế Đó là những yếu kém của lao động nước ta Do vậy,

khả năng cạnh tranh yếu, nhất là ở thị trường yêu cầu có trình độ kỹ thuật cao

như các khu công nghiệp, khu chế xuất và xuất khẩu lao động Mặt khác, chất

lượng đào tạo nghề cho thanh niên trong thời gian qua cũng bộc lộ những bật

cập yếu kém Thông qua xử lý số liệu của các địa phương được điều tra phỏng

vấn cho rằng có trên 50% lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề

nhưng không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, trong đó có

33,33% số lãnh đạo địa phương đánh giá có trên 70% lao động thanh niên

DTTS đã qua đào tạo nghề không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao

động

Đánh giá của lãnh đạo địa phương về tỷ lệ lao động thanh niên DTTS

đã qua đào tạo nghề không đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn kỹ thuật của

Trang 38

Những số liệu của bảng trên đây một lần nữa khẳng định chất lượng đào tạo nghề cho thanh niên DTTS mang tính quyết định đến việc sử dụng lực lượng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề Chúng ta dành cho thanh niên DTTS có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm trên thị trường lao dộng thì việc đào tạo nghề trong các cơ sở dạy nghề phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng, các trường, các cơ sở dạy nghề không nên đào tạo nghề cho thanh niên DTTS theo kiểu thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao

Tuy nhiên, dù bất kể hoàn cảnh nào thì thanh niên Việt Nam vẫn là người phản ánh và thể hiện rõ nhất hình ảnh của dân tộc Việt Nam với những đức tính lao động cần cù, thông minh, sáng tạo, giàu lòng nhân ái, tự tôn và tự hào về truyền thống hào hùng của dân tộc Vì vậy, mọi cơ chế chính sách đầu

tư cho thanh niên cũng chính là đầu tư cho việc giữ gìn và nâng cao những giá trị chuẩn mực tốt đẹp của người Việt Nam trong một thế giới hội nhập, hợp tác, phát triển nhưng cũng đầy biến động khôn lường

năm 2010 Việt Nam có gần 50 triệu người đang trong độ tuổi lao động So với năm 2001, lực lượng lao động đã tăng gần 20 triệu người, trong đó lao động vùng nông thôn, miền núi chiếm hơn 75% Dự tính, đến năm 2020, Việt Nam

sẽ có khoảng 100 triệu người Như vậy, lực lượng lao động sẽ ngày càng lớn Điều này đồng nghĩa với việc cần thiết phải đẩy mạnh công tác dạy nghề, đặc biệt là đối với thanh niên, lực lượng lao động chính trong xã hội

Tại Hội nghị triển khai Kế hoạch Dạy nghề, việc làm và xuất khẩu lao động giai đoạn 2007-2020 vừa được tổ chức quí III năm 2010 tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng nhận định: Tài nguyên nước ta không còn nhiều, vì vậy muốn phát triển nhanh, tiềm năng quan trọng nhất vẫn là con người Do vậy, chúng ta cần phát huy nguồn nhân lực bằng cách đào tạo, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài ”

Thủ tướng chỉ đạo, từ nay đến năm 2020 các bộ, ngành liên quan, các địa phương phải chú trọng công tác đào tạo nghề để nâng con số lao động đã qua đào tạo lên 40-50% Đây sẽ là điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững, đặc biệt là đối với vùng nông thôn, miền núi, là vấn đề mấu chốt để ngăn ngừa các mầm mống tệ nạn xã hội, xoá đói giảm nghèo bền vững, hiệu quả

Trong cuộc đổi mới nước ta đã có những kết quả đáng khích lệ trong công tác đào tạo và sắp xếp việc làm cho thanh niên DTTS Được những khởi

Trang 39

sắc đáng trân trọng đó, hơn 20 năm qua, Đảng và Chính phủ đã có nhiều nghị quyết và chính sách quan trọng, tạo đà cho thanh niên khởi nghiệp và lập nghiệp bền vững như Quyết định 770/1994/TTg của Thủ tướng về tổ chức và chính sách đối với TNXP xây dựng kinh tế, Chỉ thị 145/1994/TTg, Chỉ thị 06/2005/TTg của Thủ tướng về phát huy vai trò thanh niên tham gia phát triển kinh tế, xã hội… Đặc biệt gần đây Quốc hội đã ban hành Luật Thanh niên, trong đó quy định rất rõ các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của thanh niên Các cơ quan liên quan đang phối hợp với TW Đoàn soạn thảo các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Thanh niên để luật sớm đi vào cuộc sống Những cơ chế chính sách đó chủ yếu tập trung đáp ứng các nhu cầu thiết yếu và cơ bản của thanh niên về học tập, sao cho thanh niên Việt Nam không còn tụt hậu so với thanh niên thế giới về khoa học kỹ thuật, công nghệ, quản lý và hoà nhập nhanh vào kinh tế thị trường, kinh tế tri thức; về định hướng nghề nghiệp và việc làm, sao cho chuyển đổi được nhận thức toàn xã hội không còn coi cánh cổng trường đại học là con đường lập nghiệp duy nhất của thanh niên, để xã hội ta “giảm thầy tăng thợ giỏi”; về nâng cao trình độ thẩm mỹ, lối sống, thể lực và nâng cao tâm hồn cốt cách cho thanh niên Việt Nam…

Xuất phát từ vị thế, vai trò của thanh niên qua từng thời kỳ cách mạng

và đặc biệt hiện nay trong hội nhập và phát triển, thanh niên đứng trước nhiều

cơ hội và thách thức; để có thể đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn mới, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chính sách quan tâm đến nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn lao động là người dân tộc

Trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách rất quan trọng về đào tạo nghề để nâng cao một bước chất lượng nguồn nhân lực Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều quyết sách quan trọng nhằm thu hút, sử dụng có hiệu quả đội ngũ lao động đã qua đào tạo nghề trong đó có đào tạo sử dụng nghề đối với thanh niên Trong phạm vi nghiên cứu của này, chúng tôi chỉ tóm lược một số chủ trương, chính sách quan trọng nhất liên quan đến công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS và sử dụng lao động thanh niên dân tộc thiểu số đã qua đào tạo nghề

b Chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số trong giai đoan hiện nay

* Chính sánh liên quan đến đào tạo nghề cho thanh niên

Thanh niên là một trong những lực lượng lao động chính của xã hội, thanh niên các dân tộc thiểu số cùng một lúc được hưởng ưu đãi của các chính

Trang 40

sách dạy nghề chung cho thanh niên Việt Nam và các chính sách riêng về dạy nghê cho đồng bào dân tộc thiểu số

Thứ nhất, các chính sách về dạy nghề cho thanh niên trong thời gian gần đây

Các chính sách liên quan đến công tác dạy nghề cho thanh niên nói chung được quy định tại Luật Thanh niên năm 2005, Luật Dạy nghề năm

2006, Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008 - 2010 (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 103/2008/QĐ-TTg ngày 21/7/2008)

Trong bộ Luật Thanh niên ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005, tại

Điều 18 qui định: “Nhà nước ưu đãi thuế, tín dụng, đất đai để phát triển giáo

dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu đa dạng về học nghề cho thanh niên; phát triển hệ thống các cơ sở dịch vụ tư vấn giúp thanh niên tiếp cận thị trường”

Trong bộ Luật Dạy nghề ban hành ngày 29/11/2006, tại điều 7 qui

định “ đầu tư mở rộng các cơ sở dạy nghề, nâng cao chất lượng dạy nghề góp

phần bảo đảm cơ cấu nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần thực hiện phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học

cơ sở và trung học phổ thông; tạo điều kiện phổ cập nghề cho thanh niên”

Trong Đề án “Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2010” đã quy định một số chính sách hỗ trợ học nghề cho thanh niên như sau:

2008-Thanh niên học nghề được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi, theo đó,

các đối tượng thanh niên khi đi học nghề tại các cơ sở dạy nghề thuộc các thành phần kinh tế nếu có nhu cầu vay vốn sẽ được Nhà nước cho vay vốn tín dụng ưu đãi

Các cơ sở dạy nghề, các doanh nghiệp có chức năng dạy nghề khi mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng dạy nghề cho thanh niên sẽ được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi, theo đó các cơ sở dạy nghề, các doanh nghiệp

thuộc các thành phần kinh tế có chức năng dạy nghề đang hoạt động theo quy định của pháp luật được ưu tiên cho vay vốn lãi suất ưu đãi để mở rộng quy

mô và nâng cao chất lượng dạy nghề cho thanh niên

Chính sách đầu tư trung tâm giới thiệu việc làm và dạy nghề trọng điểm của Đoàn thanh niên, theo đó, 10 Trung tâm giới thiệu việc làm và dạy nghề

có thuộc hệ thống cơ sở do Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh quản lý được ưu tiên đầu tư cho công tác giới thiệu việc làm và dạy nghề cho thanh niên

Ngày đăng: 16/04/2014, 00:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Đề án “phát triển thị trường lao động Việt Nam giai đoạn 2010 - 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: phát triển thị trường lao động Việt Nam giai đoạn 2010 - 2010
1. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (2001) Khác
2. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (2006).3. Bộ Luật Lao động.4. Luật dạy nghề Khác
5. Nghị quyết Quốc hội số 51/2010/QH12 ngày 8 tháng 11 năm 2010 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 Khác
7. Nghị quyết 07-NQTW ngày 27/11/2001 của Bộ chính trị và hội nhập kinh tế quốc tế Khác
8. Tổng cục thống kê - tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 9. Tổng cục thống kê (2008) báo cáo điều tra lao động việc làm Khác
10. Viện nghiên cứu Thanh niên (2007) vấn đề việc làm thanh niên trong giai đoạn hiện nay Khác
11. ILO (2010) Labour and Social Trends in ASEAN 2010: Sustaining Recovery and Development through Decent Work Khác
12. Uỷ ban Dân tộc 2010 - Báo cáo tổng kết chương trình 135 giai đoạn 2 Khác
13. Bộ lao động thương binh và xã hội. Kết quả điều tra vấn đề lao động việc làm, dân số và nhà ở năm 2007 Khác
14. Thế hệ trẻ Việt nam cống hiến và trưởng thành- GSTS Đặng Cảnh Khanh viên nghiên cứu thanh niên Nxb TN HN 2006 Khác
15. Phát huy vai trò vị trí thanh niên trong thời kỳ CNH-HĐH Viện nghiên cứu thanh niên 2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 2: Cơ cấu và tỷ lệ thanh niên của DTTS theo 8 vùng kinh tế năm 2009 - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
th ị 2: Cơ cấu và tỷ lệ thanh niên của DTTS theo 8 vùng kinh tế năm 2009 (Trang 53)
Đồ thị 1: Quy mô và tỷ lệ dân số và thanh niên của dân tộc thiểu số  ở Việt  Nam, giai đoạn 2004-2009 - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
th ị 1: Quy mô và tỷ lệ dân số và thanh niên của dân tộc thiểu số ở Việt Nam, giai đoạn 2004-2009 (Trang 53)
Đồ thị 3: Cơ cấu  thanh niên  cả nước và thanh niên DTTS theo mức độ tham  gia  LLLĐ,  giai đoạn 2004-2009 - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
th ị 3: Cơ cấu thanh niên cả nước và thanh niên DTTS theo mức độ tham gia LLLĐ, giai đoạn 2004-2009 (Trang 55)
Đồ thị 4: Cơ cấu lao động thanh niên DTTS chia theo trình độ giáo dục  năm 2004, 2009 - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
th ị 4: Cơ cấu lao động thanh niên DTTS chia theo trình độ giáo dục năm 2004, 2009 (Trang 56)
Đồ thị 5: Cơ cấu lao động thanh niên DTTS  theo trình độ giáo dục và giới  tính,  năm 2009 - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
th ị 5: Cơ cấu lao động thanh niên DTTS theo trình độ giáo dục và giới tính, năm 2009 (Trang 57)
Bảng 1: Cơ cấu  thanh niên  cả nước và DTTS phân theo trình độ CMKT,   giai đoạn 2004-2009 - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
Bảng 1 Cơ cấu thanh niên cả nước và DTTS phân theo trình độ CMKT, giai đoạn 2004-2009 (Trang 58)
Bảng 2: Cơ cấu  thanh niên  DTTS phân theo trình độ CMKT  và giới tính, năm 2009 - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
Bảng 2 Cơ cấu thanh niên DTTS phân theo trình độ CMKT và giới tính, năm 2009 (Trang 59)
Đồ thị 7: Cơ cấu  thanh niên cả nước và thanh niên dân tộc thiểu số  phân theo 3 ngành kinh tế ở Việt Nam, giai đoạn 2004-2008 - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
th ị 7: Cơ cấu thanh niên cả nước và thanh niên dân tộc thiểu số phân theo 3 ngành kinh tế ở Việt Nam, giai đoạn 2004-2008 (Trang 61)
Bảng 3: Quy mô lao động thanh niên DTTS có việc làm  phân theo 10 ngành kinh tế, năm 2004, 2009 - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
Bảng 3 Quy mô lao động thanh niên DTTS có việc làm phân theo 10 ngành kinh tế, năm 2004, 2009 (Trang 63)
Bảng 5: Quy mô và  cơ cấu  lao động  thanh niên  DTTS có việc làm  phân theo loại hình kinh tế, năm 2004,2009 - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
Bảng 5 Quy mô và cơ cấu lao động thanh niên DTTS có việc làm phân theo loại hình kinh tế, năm 2004,2009 (Trang 66)
Đồ thị 8: Thời gian làm việc bình quân ngày của  thanh niên Kinh/Hoa  và thanh niên DTTS,  năm 2004, 2006, 2008 - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
th ị 8: Thời gian làm việc bình quân ngày của thanh niên Kinh/Hoa và thanh niên DTTS, năm 2004, 2006, 2008 (Trang 67)
Đồ thị 9: Thời gian làm việc bình quân ngày của  thanh niên DTTS  theo 3 ngành kinh tế , năm 2009 - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
th ị 9: Thời gian làm việc bình quân ngày của thanh niên DTTS theo 3 ngành kinh tế , năm 2009 (Trang 68)
Bảng 6: Thời gian làm việc bình quân ngày của  thanh niên DTTS  phân theo nghề nghiệp, năm 2009 - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
Bảng 6 Thời gian làm việc bình quân ngày của thanh niên DTTS phân theo nghề nghiệp, năm 2009 (Trang 68)
Đồ thị 10: Thời gian làm việc bình quân ngày của  thanh niên DTTS  phân theo loại hình kinh tế, năm 2009 - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
th ị 10: Thời gian làm việc bình quân ngày của thanh niên DTTS phân theo loại hình kinh tế, năm 2009 (Trang 69)
Đồ thị 11: Số ngày làm việc bình quân tháng - Vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO  thực trạng và giải pháp
th ị 11: Số ngày làm việc bình quân tháng (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w