1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú

275 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa
Tác giả Ths. Hoa Hữu Vân, CN. Đỗ Thị Kim Cúc, PGS.TS. Nguyễn Chí Dũng, Ths. Nguyễn Văn Đáng, Ths. Đặng Ánh Tuyết, Ths. Võ Hồng Loan, Ths. Lê Thúy Hằng, Ths. Phạm Văn Học
Người hướng dẫn Ths. Hoa Hữu Vân
Trường học Học viện Chính sách và Phát triển
Chuyên ngành Khoa học môi trường và đô thị
Thể loại Báo cáo kết quả đề tài khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 275
Dung lượng 4,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo đề tài khoa học cấp bộ Mục tiêu - Nhận diện những thay đổi về lối sống của người dân dưới tác động của chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong quá trình CNH và ĐTH. - Phân tích sự biến đổi về lối sống của người dân trên một số chiều cạnh chủ yếu. - Đề xuất về mặt chính sách nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về văn hoá-xã hội trong bối cảnh CNH, ĐTH hiện nay. Nội dung Lối sống là một khái niệm có nội hàm rộng với ngoại diên hết sức đa dạng. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, nhóm nghiên cứu dự kiến sẽ chỉ tập trung vào những chiều cạnh lối sống chủ yếu sau đây: - Sự thay đổi trên bình diện kinh tế: phân công lao động và lựa chọn nghề nghiệp. - Sự thay đổi trong quan niệm và hành vi liên quan đến hôn nhân-gia đình. - Sự thay đổi trong các quan hệ gia đình, dòng họ và cộng đồng. - Sự thay đổi thói quen sử dụng dịch vụ. - Sự thay đổi về cách thức tổ chức và bố trí không gian sống - Sự thay đổi trong sinh hoạt văn hóa, và sinh hoạt văn hóa tâm linh.

Trang 1

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Nghiên cứu tại tỉnh Vĩnh Phúc

Chủ nhiệm đề tài: Ths Hoa Hữu Vân Thư ký đề tài: CN Đỗ Thị Kim Cúc Những người tham gia thực hiện:

PGS.TS Nguyễn Chí Dũng Ths Nguyễn Văn Đáng Ths Đặng Ánh Tuyết Ths Võ Hồng Loan Ths Lê Thúy Hằng Ths Phạm Văn Học

7737

01/3/2010

Hà Nội, 2009

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

I-LÝ DO THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 4

II-TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 7

1 Một số nghiên cứu trên thế giới 7

2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 10

III-MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 19

1 Câu hỏi nghiên cứu 19

2 Mục đích nghiên cứu 19

3 Nội dung nghiên cứu 19

IV-ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 20

1 Đối tượng nghiên cứu 20

2 Khách thể nghiên cứu 20

3 Phạm vi nghiên cứu 20

V-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

1 Luận chứng về việc sử dụng phương pháp nghiên cứu xã hội học 20

2 Quy trình chọn mẫu và các phương pháp thu thập, xử lý thông tin 21

3 Một số khái niệm công cụ và khung lý thuyết 23

VI-Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 28

VII-BỐ CỤC BÁO CÁO ĐỀ TÀI 28

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ ĐẶC TRƯNG XÃ HỘI CỦA MẪU KHẢO SÁT 29

1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29

2 Đặc trưng xã hội của mẫu khảo sát 32

CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN LỐI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN Ở KHU VỰC ĐANG CÔNG NGHIỆP HÓA, ĐÔ THỊ HÓA 34

1 Sự thay đổi trong các hoạt động kinh tế 35

2 Sự thay đổi trong các quan hệ hôn nhân, gia đình, dòng họ 44

3 Sự thay đổi về thói quen sử dụng dịch vụ 53

4 Sự thay đổi về cách thức tổ chức và bố trí không gian sống 60

5 Sự thay đổi về vui chơi giải trí và sinh hoạt văn hóa tâm linh, tín ngưỡng 67

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78

I-KẾT LUẬN 78

II-ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH 84

III-ĐỀ XUẤT VỀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG TƯƠNG LAI 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Tiếng Việt 90

Tiếng Anh 94

PHỤ LỤC 95

Trang 4

MỞ ĐẦU

I-LÝ DO THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Theo các nhà nghiên cứu, xã hội loài người đã trải qua hai cuộc cách mạng đô thị Cuộc cách mạng thứ nhất diễn ra từ khoảng 8000 năm trước công nguyên, cuộc cách mạng thứ hai diễn ra vào khoảng thế kỷ 18 và 19 ở châu Âu và Bắc Mỹ (Trịnh Duy Luân, 2004: 68) Các cuộc cách mạng đô thị hay đô thị hóa (ĐTH) là những quá trình biến đổi xã hội trên phạm vi rộng, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống của con người Tại châu Âu và Bắc Mỹ, đô thị hóa luôn gắn liền với sự phát triển của sản xuất công nghiệp và gắn liền với sự di cư từ nông thôn vào thành thị, tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị Đây là quá trình chuyển thể các kiểu mẫu của đời sống xã hội, từ một lối sống với các đặc trưng nông nghiệp, nông thôn sang lối sống với các đặc trưng công nghiệp và thành thị (Trịnh Duy Luân, 2004: 69-70)

Ở châu Á, theo các tài liệu khảo cổ học, mặc dù các thành phố đã xuất hiện từ khoảng 2500 năm trước công nguyên nhưng tiến trình đô thị hóa chỉ thực sự diễn ra mạnh mẽ khi có sự xâm thực của chủ nghĩa thực dân phương Tây (Guinness, 2003) Vào thế kỷ 15, các quốc gia châu Âu bắt đầu quan tâm đến sự giàu có của phương Đông huyền bí Các hoạt động giao thương, buôn bán đã khiến cho các đô thị gắn với các bến cảng (thành phố cảng) phát triển nhanh chóng ở Indonexia, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam Đến thế kỷ 19, quá trình đô thị hóa tại các quốc gia châu Á diễn ra mạnh mẽ hơn

do nhu cầu về nguyên vật liệu phục vụ sản xuất công nghiệp của các nhà nước thực dân phương Tây

Trang 5

Ở Việt Nam, quá trình đô thị hóa gắn liền với các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp (lần 1: 1897-1914; lần 2: 1919-1930) Đến những năm 1945-1975, do hoàn cảnh đặc thù, quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra với những xu hướng trái chiều nhau Trong khi các đô thị lớn được hình thành ở Miền Nam thì quá trình “giải đô thị” lại diễn ra mạnh mẽ ở Miền Bắc Sau năm 1975, quá trình “giải đô thị” được tiếp tục với ý tưởng biến các “thành phố tiêu dùng” thành các “thành phố sản xuất” Từ cuối những năm 1980 của thế kỷ 20, cùng với chính sách đổi mới đất nước, tiến trình đô thị hóa ở Việt Nam trở lại với quỹ đạo vốn có của nó - đó là đô thị hóa gắn liền với công nghiệp hóa (CNH) và phát triển kinh tế Tuy nhiên, do những đặc thù về chính sách phát triển công nghiệp và đô thị, chính sách và cơ chế quản lý đất đai, quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong hai thập kỷ gần đây đã cho thấy những đặc điểm khác biệt với đô thị hóa ở phương Tây từ thế kỷ 18, 19 Một trong những đặc điểm đó là tốc độ chuyển đổi mục đích sử dụng đất do nhà nước quản lý, từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp

Trong thời gian 5 năm (1995-2000) đã có 400.000 ha đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích sử dụng khác, trong đó chuyển sang đất chuyên dùng là 96.780 ha, chiếm 24,19% đất nông nghiệp thực giảm” (Nguyễn Hữu Tiến, 2007) Còn theo khảo sát của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn,

từ năm 2001 đến 2005, để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và hạ tầng cơ

sở, tổng diện tích đất bị thu hồi là 366.440 ha Diện tích này chiếm gần 4% đất nông nghiệp đang sản xuất (Trần Lê, 2007)

Chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất được thực hiện trong hơn hai thập kỷ vừa qua không chỉ dẫn đến sự hình thành các khu công nghiệp và

đô thị mà nó còn làm thay đổi đáng kể cuộc sống của người nông dân ngay tại các vùng nông thôn Việt Nam Nếu như ở phương Tây, quá trình đô thị hóa gắn liền với sự chuyển cư từ khu vực nông thôn vào các thành phố lớn thì ở Việt Nam, có tình trạng là người dân “bị đô thị hóa” ngay trên mảnh đất nông nghiệp của mình Các khu công nghiệp (KCN) và khu đô thị hình thành ngay trên cánh đồng làng là một thực tế khác xa với những gì xảy ra ở châu Âu và Bắc Mỹ thế kỷ 18 và 19 Đây chính là nguyên nhân làm xuất hiện những vấn

đề xã hội rất riêng biệt của Việt Nam, trong đó, có vấn đề những cư dân “bị

đô thị hóa” thích ứng như thế nào với cộng đồng và lối sống công nghiệp, đô thị

Đến nay, đã có một số nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề biến đổi xã hội, CNH và ĐTH ở Việt Nam Chẳng

Trang 6

hạn, tác giả Trịnh Duy Luân (2000) đã quan tâm đến những yếu tố xã hội của

sự phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam; vấn đề quản lý hành chính sự phát triển đô thị của Hà Nội (Michael Leaf, 2000); Những khía cạnh xã hội học của quá trình đô thị hóa từ làng, xã thành phường ở Hà Nội (Đỗ Minh Khuê, 1999)

Nhìn chung, trên phương diện văn hóa và lối sống, các nghiên cứu cho thấy quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất thời gian qua đã làm thay đổi mức sống của một bộ phận dân cư khu vực chuyển đổi; đời sống văn hoá tinh thần cơ bản được nâng cao, đặc biệt là phong trào khôi phục, phát huy văn hoá truyền thống thông qua sinh hoạt dòng họ, lễ hội làng” (Tô Duy Hợp 2007: 11) Trong mỗi gia đình, thu nhập cao khiến người dân có điều kiện hưởng thụ một cuộc sống vật chất đầy đủ hơn và cuộc sống tinh thần phong phú hơn Các phương tiện sinh hoạt gia đình được mua sắm khá đầy đủ, đặc biệt là các phương tiện nghe nhìn So với năm 1995, tỉ lệ các gia đình có các

phương tiện nghe nhìn tăng lên rõ rệt” (Nguyễn Hữu Minh 2003: 44)

Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chủ yếu nhận diện và phân tích những biến đổi kinh tế-xã hội mang tính bề nổi của các cộng đồng truyền thống trong quá trình CNH và ĐTH ở Việt Nam như: vấn đề chuyển đổi nghề nghiệp của người nông dân mất đất, cách thức sử dụng nguồn vốn từ tiền đền

bù để sản xuất kinh doanh, việc mua sắm trang thiết bị sinh hoạt Trong khi

đó, sự ảnh hưởng đến văn hóa gia đình, văn hóa cộng đồng nói chung và sự ảnh hưởng đến lối sống của cư dân khu vực CNH và ĐTH nói riêng còn là vấn đề cần làm sáng tỏ trên bình diện lý thuyết và cả trên thực tiễn

Nhận diện và phân tích sự thay đổi về lối sống của người dân là vấn đề quan trọng, cấp bách đối với công tác quản lý nhà nước, nhất là trên các lĩnh vực văn hóa-xã hội ở nước ta hiện nay Trước sự biến đổi xã hội nhanh chóng, trong khi xây dựng các chính sách vĩ mô, mang tầm chiến lược, các cơ quan quản lý nhà nước rất cần có những giải pháp kịp thời để giải quyết các vấn đề

xã hội mới nảy sinh

Được sự đồng ý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du Lịch, Vụ Gia đình đã phối hợp với các cán bộ của Viện Xã hội học (Học viện Chính trị-Hành chính

Quốc gia Hồ Chí Minh) triển khai đề tài: “Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống của người dân khu vực đang công nghiệp hóa và đô thị hóa” Địa bàn nghiên cứu khảo sát tại tỉnh Vĩnh Phúc

năm 2009

Trang 7

II-TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về sự biến đổi xã hội nói chung, biến đổi lối sống nói riêng, dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã được nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới thực hiện Nội dung chính của chương này là trình bày khái quát một số công trình nghiên cứu chủ yếu liên quan đến

đề tài Qua đó, nhóm nghiên cứu sẽ làm nổi bật hơn vấn đề nghiên cứu cũng như nhu cầu triển khai đề tài

1 Một số nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới, các nhà xã hội học thuộc trường Đại học tổng hợp Chicago là những người đầu tiên thực hiện các nghiên cứu quy mô và chuyên sâu về các vấn đề xã hội của cộng đồng cư dân đô thị, trong đó có vấn đề lối sống (Turner, 2006: 59) Có thể liệt kê một số tác phẩm tiêu biểu đã mô tả, phân tích về sự thích ứng của người dân, nhất là dân nhập cư, với lối sống tại

các đô thị như: “Người nông dân Ba Lan ở châu Âu và Mỹ” của Thomas & Florian Znaniecki (1918-1920), “Thành phố” của Robert Park & Ernest Burgess (1925), “Đặc trưng đô thị như là một lối sống” của Luis Wirth (1938), “Gia đình Negro ở Chicago” của E Franklin Frazier (1931), “Những

cư dân thành thị” của Herbert Gans (1962)

Dân nhập cư có một vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành các thành phố lớn ở Mỹ Bởi vậy, quá trình thích ứng của dân nhập cư vào với đời sống đô thị là chủ đề nổi bật trong các nghiên cứu của các nhà xã hội học

thuộc trường phái Chicago Trong tác phẩm điển hình “Người nông dân Ba

Lan ở châu Âu và Mỹ”, Thomas và Znanniecki (1918-1920) đã tìm hiểu các

nhu cầu tâm lý xã hội của dân nhập cư Ba Lan, quá trình tương tác giữa các

hệ giá trị của cộng đồng này với các hệ giá trị của xã hội tổng thể cũng như sự hình thành cộng đồng sắc tộc gốc Ba Lan ở các thành phố của Mỹ Và họ đã phát hiện ra rằng, ban đầu, đó là một cộng đồng được gắn bó chặt chẽ và có tính độc lập cao Đời sống của họ dựa trên sự chia sẻ các giá trị chứ không phải là các động cơ về lợi ích Chính điều này đã có ảnh hưởng tích cực đến quá trình họ thích ứng vào xã hội Mỹ Tuy nhiên, dần dần, các cộng đồng sắc tộc có nguồn gốc châu Âu trở nên bị phân tách và các hệ giá trị mà họ cùng chia sẻ ngày càng có ít ảnh hưởng hơn đến cá nhân Sự phân rã các tổ chức xã hội, sự mở rộng các mối quan hệ với thế giới bên ngoài cộng đồng, sự gia tăng của các quyết định cá nhân đã ngày càng làm giảm mức độ quan trọng của gia đình và các quan hệ chủng tộc Có thể nói, nghiên cứu của Thomas và

Trang 8

Znanniecki là một công trình điển hình mô tả những khó khăn, sự biến đổi của các cộng đồng truyền thống khi hòa nhập vào xã hội đô thị Theo đó, để trở thành một bộ phận của cộng đồng xã hội tổng thể thì các cộng đồng truyền thống luôn phải thay đổi và thích ứng với bối cảnh chung - trong đó, sự thay đổi về lối sống là tất yếu

Trong tác phẩm “Thành phố”, Park & Burgess (1925) cho rằng, đặc trưng cơ bản của lối sống đô thị là sự cạnh tranh Hành vi của cá nhân chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi cấu trúc xã hội cũng như đặc điểm địa lý nơi người

ta cư trú Theo đó, sự cạnh tranh các nguồn lực hiếm hoi ở đô thị, nhất là đất đai, đã dẫn đến sự cạnh tranh giữa các nhóm xã hội và từ đó hình thành các khu vực khác nhau ở đô thị - nơi mọi người cùng chia sẻ những đặc điểm xã hội giống nhau do cùng phải chịu những áp lực sinh thái như nhau Cuộc sống

đô thị có thể được nhận biết thông qua việc khảo sát văn hóa của các thành phố, cấu trúc nghề nghiệp cũng như các tổ chức được hình thành một cách tự nhiên Theo Park, tại các thành phố, do ảnh hưởng của luật pháp và yếu tố thị trường, các mối quan hệ lạnh lùng, thứ cấp có xu hướng thay thế các quan hệ mật thiết kiểu gia đình và chủng tộc Thành phố là nơi đem đến cho cá nhân nhiều mối quan hệ xã hội khiến cho lối sống của cá nhân trở nên hết sức đa dạng Cũng vậy, Burgess khẳng định rằng đặc trưng cơ bản của các thành phố

là tính dị biệt, không đồng nhất và đa dạng về nghề nghiệp Sử dụng khái niệm “sinh thái đô thị”, Burgess đã mô tả mối liên hệ giữa các cá nhân ở đô thị với môi trường cư trú và cách thức phụ thuộc lẫn nhau của đời sống đô thị

Năm 1938, công bố công trình nổi tiếng và có nhiều ảnh hưởng - “Đặc

trưng đô thị như là một lối sống” - Louis Wirth đã mô tả ảnh hưởng của quá

trình đô thị hóa đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội Theo Wirth, một trong những biến đổi xã hội quan trọng nhất do đô thị hóa tạo ra là hàng loạt những đặc trưng của một lối sống mới - đó là lối sống đô thị Lối sống đô thị là tập hợp các kiểu mẫu văn hóa và cấu trúc xã hội tiêu biểu cho các thành phố, khác biệt rõ rệt so với văn hóa của cộng đồng nông thôn Theo Wirth, đô thị là nơi tập trung số lượng lớn dân cư, mật độ dân số cao và thực tế này dẫn đến

sự đa dạng xã hội, sự thiếu vắng các mối quan hệ gần gũi giữa các cá nhân Các quan hệ xã hội ở đô thị mang tính tạm thời, ẩn danh và hời hợt, gia đình

đô thị ít con hơn, quan hệ gia đình lỏng lẻo hơn, sự thu hẹp của quan hệ hàng xóm láng giềng Tính không đồng nhất của cộng đồng đô thị đã phá vỡ các cấu trúc xã hội cứng nhắc và tạo ra sự biến động, không ổn định và thiếu an

Trang 9

toàn xã hội Tư cách cá nhân được hình thành gắn liền với sự tham gia các tổ chức xã hội Các cơ quan chức năng có xu hướng phục vụ số đông chứ không phải phục vụ các nhu cầu của cá nhân Mặc dù có nhiều ảnh hưởng nhưng những mô tả của Wirth về lối sống đô thị gắn liền với các thành phố siêu đô thị trong một xã hội đa chủng tộc của nước Mỹ những năm đầu thế kỷ 20 Bởi thế, cần hết sức thận trọng trong việc vận dụng những kiến thức đó trong nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách quản lý đô thị ở một xã hội phương Đông đặc thù như Việt Nam hiện nay

Tại châu Á và khu vực Mỹ La tinh, tiến trình CNH và ĐTH diễn ra sau châu Âu và đặc biệt bùng nổ tại các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Mexico, Brasil trong thời gian nửa cuối thế kỷ 20 cho nên các nghiên cứu gần đây không chỉ quan tâm đến việc mô tả sự biến đổi xã hội nói chung mà đã đặc biệt quan tâm đến khía cạnh phát triển bền vững của các

đô thị ở các quốc gia đang phát triển (Jenks, Mike và Dempsey, Nicola, 2000

&2005) Theo đó, tại các siêu đô thị mới hình thành, do mật độ dân số quá cao, lối sống xa hoa lãng phí của một bộ phận dân cư cùng với trình độ quản

lý yếu kém đã dẫn đến sự xuất hiện nhiều vấn đề xã hội-sinh thái nghiêm trọng, chẳng hạn như tình trạng ô nhiễm môi trường, nghèo đói, sử dụng lãng phí các nguồn lực tài nguyên, sự quá tải của cơ sở hạ tầng Chính lối sống xa hoa lãng phí, thiếu quy hoạch chiến lược của một bộ phận cư dân tại các thành phố lớn ở châu Á, khu vực Mỹ La tinh và châu Phi đã để lại những hậu quả tiêu cực cho các cộng đồng ven đô, chẳng hạn như vấn đề rác thải, ô nhiễm nguồn nước và không khí (Mitlin và Satterthwaite, 1997)

Thực trạng này khác nhiều so với những gì đã xảy ra ở châu Âu và Bắc

Mỹ cho nên các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều đề xuất, trong đó có khuyến nghị về việc cần phải thay đổi được lối sống của các cư dân đô thị ở các nước đang phát triển để hướng đến xây dựng các thành phố phát triển bền vững (Jenks và Dempsey, 2000 &2005) Nói cách khác, theo khẳng định của các nhà nghiên cứu, trước xu hướng đô thị hóa ngày càng bùng nổ trên khắp thế giới (nhất là tại các nước đang phát triển ở châu Á - Phi - Mỹ La-tinh), sự thay đổi trong hành động và cách thức sinh hoạt hàng ngày của con người (lối sống) là một nhân tố then chốt để xây dựng thành công các đô thị phát triển bền vững

Về tổng thể, các công trình nghiên cứu tiêu biểu nêu trên đã xác lập một hướng tiếp cận mới, có nhiều ảnh hưởng đối với các nghiên cứu về quá

Trang 10

trình biến đổi xã hội tại các đô thị ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, tiến trình CNH và ĐTH ở Việt Nam diễn ra với những đặc trưng rất riêng Chẳng hạn, khác với một số quốc gia châu Á và châu Mỹ La-tinh, Việt Nam chưa có các

đô thị lên tới vài chục triệu dân Thêm nữa, nếu như các thành phố của châu

Âu và nhất là các đô thị ở Mỹ được hình thành nhờ quá trình tích tụ dân cư với nhiều chủng tộc khác nhau từ khắp nơi trên thế giới thì các đô thị ở mọi cấp độ của Việt Nam lại được hình thành theo nhiều cách, thậm chí hiện nay

có những đô thị được hình thành ngay trong lòng các cộng đồng dân cư nông nghiệp truyền thống Sự biến đổi trong quá trình từ một xã thành phường chắc chắn sẽ rất khác biệt so với quá trình tích tụ dân cư để hình thành các siêu đô thị (mega cities) như ở Ấn Độ, Trung Quốc và Mexico

Bởi vậy, xét riêng về sự biến đổi lối sống, rất cần có sự nghiên cứu thận trọng trong bối cảnh Việt Nam trước khi đưa ra những nhận định khái quát Đây chính là động lực về mặt lý luận để tiến hành các nghiên cứu xã hội học

về sự biến đổi lối sống trong bối cảnh CNH và ĐTH ở Việt Nam hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, sau hơn hai thập kỷ đổi mới, khu vực nông thôn, đặc biệt

là đời sống xã hội tại các vùng nông thôn ven đô, ven thị đang diễn ra sự thay đổi mạnh mẽ dưới tác động của các chính sách phát triển kinh tế, CNH và ĐTH Chính bởi vậy, một trong những chủ đề được quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây ở Việt Nam là sự biến đổi xã hội tại các khu vực đang diễn ra tiến trình CNH và ĐTH

Nhiều tác giả và nhóm nghiên cứu, cả trong và ngoài nước, đã tập trung

mô tả các vấn đề kinh tế-xã hội mới nảy sinh tại các vùng ven đô và các khu công nghiệp mới được hình thành (Micheal Leat, 2000; Trịnh Duy Luân,

2000 và 2003; Trần Đan Tâm và Nguyễn Vi Nhuận, 2000; Nguyễn Quang Vinh, 2001; Nguyễn Duy Thắng, 2004; Nguyễn Hữu Minh, 2005; Trần Văn Thạch, 2005; Ngô Văn Giá, 2006; Nguyễn Đình Tuấn, 2007) Các vấn đề như

sự biến đổi về mức sống, đời sống văn hoá-tinh thần, phân hoá giàu nghèo, việc làm của những người nông dân bị thu hồi đất, di dân, môi trường xã hội

và tệ nạn xã hội, văn hoá truyền thống, quan hệ gia đình đều được quan tâm phân tích mặc dù chưa đạt được sự khái quát cao Điểm nổi bật và xuyên suốt các công trình nghiên cứu nêu trên là các nhà khoa học đã phác họa được bức tranh đa dạng về sự biến đổi kinh tế-xã hội ở một số vùng nông thôn dưới tác

Trang 11

động của đô thị hoá và công nghiệp hóa Trong bối cảnh chung đó, có thể khái quát thành một số hướng nghiên cứu sau:

Hướng thứ nhất là các nghiên cứu đặt trọng tâm vào phân tích, đánh giá quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của người dân và những hệ quả kinh tế-xã hội của nó (Nguyễn Kim Hoa, 2008; Nguyễn Xuân Thảo, 2004; Nguyễn Hữu Minh, 2003; Nguyễn Văn Đáng, 2003; Nguyễn Y Na, 2000; Nguyễn Minh Hoà, 1998; Văn Thị Ngọc Lan, 1998) Văn Thị Ngọc Lan (1998) đã khẳng định vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất là một nhân tố quan trọng dẫn đến thay đổi cơ cấu lao động, nghề nghiệp Theo đó, lao động nông nghiệp giảm đột ngột và lao động trong các ngành nghề khác cũng biến động theo Trong tổng số những người được hỏi ở ba ấp thuộc xã An Phú - thành phố Hồ Chí Minh, cơ cấu nghề nghiệp năm 1990 chủ yếu là lao động nông nghiệp (chiếm 66,2%), đặc biệt trong số những người được phỏng vấn ở ấp An Điền thì tỷ lệ làm nông nghiệp năm 1990 là 77,3% Thế nhưng sang năm 1995 cơ cấu lao động ở khu vực này đã có sự biến đổi lớn: năm 1995 lao động nông nghiệp giảm xuống còn 17,6% (trong đó kể cả những hộ thuần chăn nuôi)

Tiếp tục làm rõ thêm yếu tố vai trò của chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến chuyển đổi nghề nghiệp, tác giả Nguyễn Văn Đáng (2003) cho rằng: một đặc điểm dễ nhận thấy tại các khu vực đô thị hoá là lao động có xu hướng tách khỏi phạm vi gia đình Đất đai canh tác thu hẹp nhanh đã khiến số người

có nhu cầu việc làm tăng cao và bộ phận này tất yếu phải bung ra với nhiều loại hình công việc khác nhau Chuyển đổi nghề nghiệp của người nông dân đôi khi mang tính chất bắt buộc, bởi lẽ dù họ có muốn sản xuất nông nghiệp thì cũng không còn đủ, thậm chí không còn đất để canh tác

Cũng theo hướng này, Nguyễn Thị Kim Hoa (2008) đã đưa ra phân tích

cụ thể hơn về sự biến đổi cơ cấu lao động, nghề nghiệp ở một cộng đồng dân

cư (xã Mễ Trì, Hà Nội) trong vòng 5 năm Theo đó, từ năm 2000-2005, xã có 3.354 hộ (chiếm 86,2% tổng số hộ gia đình toàn xã) bị thu hồi 180,27 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp Trong đó, số hộ thuần nông bị thu hồi chiếm 65,2% trong tổng số hộ bị thu hồi đất Chính điều này đã dẫn đến cơ cấu lao động cuả xã cũng có nhiều biến đổi, nhất là từ năm 2003 đến nay, tỷ lệ hộ nông nghiệp giảm mạnh Số hộ làm việc trong ngành thương mại và dịch vụ ngày càng tăng mạnh, năm 2003 là 5,1%; năm 2004 tăng lên 29,0%, đến năm

2005 tăng đến 31,8% Số hộ làm việc trong ngành tiểu thủ công nghiệp có sự

Trang 12

thay đổi không ổn định và giảm dần, đặc biệt là các hộ làm ngành nghề khác trong xã, năm 2005 là 40%

Ở tầm khái quát hơn, Nguyễn Hữu Minh (2003) cho rằng tác động chủ yếu đến sự thay đổi cơ cấu nghề nghiệp cuả các địa phương trong quá trình đô thị hoá là sự thay đổi chính sách vĩ mô của nhà nước; sự hình thành các khu công nghiệp; mạng lưới giao thông phát triển; sự thay đổi quyền sử dụng đất

của dân cư Các kết quả nghiên cứu khẳng định quá trình chuyển đổi nghề

nghiệp của người dân ven đô là một thách thức lớn, không hề dễ dàng Do tiến trình đô thị hóa quá nhanh cho nên người dân ven đô không có đủ thời gian để thích ứng với những biến đổi xã hội Hệ quả là tình trạng dư thừa lao động gia tăng nhanh chóng

Bên cạnh việc quan tâm phân tích tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến cơ cấu lao động-nghề nghiệp, nhiều công trình nghiên cứu còn tìm hiểu sự nảy sinh các vấn đề xã hội tại các khu vực đang chuyển đổi như: phân tầng xã hội, nghèo đói, thất nghiệp, xung đột xã hội

(Trần Đan Tâm và Nguyễn Vi Nhuận, 2000, Nguyễn Hữu Thắng, 2004; Lê

Du Phong, 2007; Nguyễn Hữu Tiến, 2007; Phan Tân, 2007; Hoa Hữu Lân,

2007, Bùi Thị Ngọc Lan, 2007; Nguyễn Sinh Cúc, 2009)

Phân tích sự tác động tiêu cực của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến đời sống xã hội ở khu vực nông thôn, Trần Đan Tâm và Nguyễn

Vi Nhuận (2000) cho rằng: việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp khiến người nông dân đã hoặc sắp không còn lấy nghề nông là kế mưu sinh được nữa Đổi lại, phần đông trong số họ có trong tay một lượng tiền mặt không nhỏ, điều này làm thay đổi nhiều mặt trong công việc làm ăn, đời sống vật chất, tinh thần và lối sống Các tác giả cho rằng mất đất thực chất là mất

tư liệu sản xuất và khi không còn ruộng đất, phải đổi nghề là một thực trạng bắt buộc

Dựa trên kết quả khảo sát thực nghiệm, Lê Du Phong (2007) khẳng định nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của nông dân khi bị thu hồi đất một phần là do sự phát triển của các ngành công nghiệp và thương mại dịch vụ chưa đáp ứng đủ nhu cầu việc làm cho người lao động Thêm nữa, bản thân người lao động, vốn xuất phát là nông dân, có nhiều hạn chế về năng lực và trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn nghề nghiệp, chưa hình thành được tác phong công nghiệp nên không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động Không ít người, sau một thời gian được nhận vào

Trang 13

làm việc tại các nhà máy, các KCN, do không đáp ứng được yêu cầu nên lại thất nghiệp

Cùng hướng này, dựa trên việc phân tích tài liệu thứ cấp, Nguyễn Hữu Tiến (2007) đã mô tả về thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở Hà

Nội trong thời gian vừa qua Chỉ tính trong 3 năm từ 2001-2004, Hà Nội đã

có gần 80.000 lao động nông nghiệp (bình quân gần 2 lao động/hộ) bị mất việc làm do chuyển đổi 5.469 ha đất nông nghiệp Theo quy hoạch tổng mặt bằng thủ đô Hà Nội và kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2010 sẽ còn hơn 5.000 ha đất nông nghiệp thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng Dự kiến, khoảng 150.000 lao động nông nghiệp sẽ bị mất việc làm hoặc thiếu việc làm Qua đó tác giả cho rằng sự hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất và tốc độ phát triển đô thị hóa nhanh gây sức ép cho việc chuyển đổi đất sản xuất sang phi nông nghiệp khiến số lượng người nghèo tăng lên

Theo Nguyễn Hữu Thắng (2004), đối với nông dân, đất là tư liệu sản xuất để nuôi sống gia đình họ Mất đất đồng nghĩa với việc mất đi tài sản và

nghề nghiệp, dẫn đến bất bình đẳng trong phân bố tài sản và thu nhập Để tồn

tại, họ buộc phải tìm nguồn sinh kế khác để tạo ra thu nhập thay thế cho thu nhập bị mất từ nông nghiệp Tuy nhiên, trong thực tế không dễ dàng tìm được một việc làm với thu nhập ổn định trong một nền kinh tế cạnh tranh gay gắt Điều này lại càng khó đối với người nông dân thuần tuý, bởi vì họ không đáp ứng được yêu cầu của công việc do hạn chế về học vấn, tay nghề cũng như các quan hệ xã hội

Tiếp nối mạch nghiên cứu nêu trên, Nguyễn Sinh Cúc (2009) cho rằng, các khu công nghiệp tập trung đã đóng góp rất quan trọng vào sự phát triển chung, vào nguồn ngân sách trung ương và địa phương Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực cũng nảy sinh các vấn đề xã hội bức xúc: do thu hồi đất để phát triển khu công nghiệp, hàng chục nghìn hộ nông dân mất đất sản xuất, thiếu việc làm nên thu nhập thấp và giảm dần; các tệ nạn xã hội phát triển; môi trường sinh thái bị ảnh hưởng nghiêm trọng; có sự phân hóa về thu nhập và đời sống trong nội bộ dân cư nông thôn Việc thu hồi đất nông nghiệp do mở rộng các KCN tại các vùng nông thôn đã ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống dân cư Chuyển đổi mục đích sử dụng đất cũng được coi là một nguyên nhân dẫn đến các xung đột xã hội (Phan Tân, 2007) Theo đó, đất đai ngày càng có giá trị chính là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến các xung đột xã hội ở

Trang 14

nông thôn: từ xung đột giữa các cá nhân đến xung đột nhóm, cộng đồng, xung

đột giữa người dân với các tổ chức kinh tế-xã hội và chính quyền

Tiếp tục phân tích khía cạnh này, Hoa Hữu Lân (2007) khẳng định khi chuyển từ xã thành phường, từ làng lên phố, mối quan hệ cộng đồng truyền thống làm nên bản sắc làng xã cũng dần trở nên phai nhạt Không thiếu các trường hợp họ hàng kiện cáo, láng giềng mâu thuẫn, anh em cha con từ mặt vì tấc đất bây giờ còn hơn cả tấc vàng Không gian truyền thống của làng bị phá

vỡ, cổng làng nếu còn thì chìm ngập trong nhà cao thấp lô xô, không gian di tích, di sản như đình chùa bị xâm hại lấn chiếm, nhà truyền thống thay bằng

nhà chia lô mái củ hành Điểm nổi bật và xuyên suốt các công trình nghiên

cứu thuộc khuynh hướng này là các nhà khoa học đã phác họa được bức tranh

đa dạng về sự biến đổi kinh tế-xã hội, đặc biệt là sự thay đổi về cơ cấu nghề nghiệp và những hệ quả của nó ở một số vùng nông thôn Việt Nam dưới tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất Tiến trình này đem đến nhiều cơ hội cho người nông dân nhưng nó cũng dẫn đến rất nhiều thách thức, đặc biệt là nguy cơ làm một bộ phận nông dân có thể bị gạt sang bên lề sự phát triển chung của cả xã hội

Là một thiết chế xã hội cơ bản, gia đình Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi cũng là một chủ đề được các nhà xã hội học quan tâm nghiên cứu Trong một khảo sát xã hội học về kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở nông thôn, tác giả Nguyễn Đức Truyến (2003) đã chỉ ra những thay đổi quan trọng về quan hệ gia đình trong bối cảnh kinh tế thị trường Theo đó, quan hệ giữa cha mẹ và con trong các gia đình thuộc nhóm hộ kinh doanh phi nông nghiệp đã thay đổi theo hướng bố mẹ ít quan tâm hơn đến con và việc đề cao chủ nghĩa cá nhân đã làm suy yếu các chuẩn mực đạo đức của gia đình Ở nhóm hộ thuần nông, quan hệ cha mẹ-con vẫn giữ được sự ổn định vì con vẫn phụ thuộc bố mẹ về mặt kinh tế Trong khi đó, ở nhóm hộ kinh doanh hỗn hợp, tính độc lập của con được đề cao, tính gia trưởng trong quan hệ gia đình không còn phù hợp nhưng tính dân chủ vẫn đang ở tình trạng thử nghiệm Tựu trung lại, yếu tố kinh tế thị trường đã thúc đẩy ý thức cá nhân trong quan

hệ gia đình và cộng đồng

Việc thực hiện Luật đất đai từ năm 1993 cũng là yếu tố thúc đẩy xu hướng tách hộ ở một số vùng nông thôn Việt Nam (Mai Văn Hai và Nguyễn Phan Lâm, 2002: 81-91) Sự biến đổi về cơ cấu hộ gia đình như vậy trong những năm đầu đổi mới đã làm nảy sinh nhiều hậu quả xã hội, tạo ra sự xáo

Trang 15

động trong đời sống của các gia đình cũng như cộng đồng làng xã Cùng với

cơ chế kinh tế thị trường, sự đổi mới về chính sách quản lý nhà nước trên một

số lĩnh vực tại các vùng đô thị hoá và công nghiệp hoá là những nguyên nhân quan trọng, tác động đến sự biến đổi của gia đình Việt Nam (Vũ Tuấn Huy, 1996: 150) Điểm nổi bật của sự biến đổi là xu hướng chuyển dịch lao động từ phạm vi gia đình sang các lĩnh vực kinh tế khác, ngoài gia đình (Nguyễn Thị Kim Hoa, 1999: 166; Nguyễn Văn Đáng, 2003) Sự thay đổi này có thể là yếu

tố quan trọng ảnh hưởng đến các giá trị văn hoá gia đình được hình thành và tồn tại từ hàng ngàn năm qua

Gần đây, đã có một số nghiên cứu sự chuyển đổi của mô hình văn hoá gia đình và lối sống truyền thống (Trương Xuân Trường, 2002; Hồ Bá Thâm, 2006; Ngô Văn Giá, 2006) Theo đó, mô hình văn hoá gia đình mới đã xuất hiện với những đặc trưng chuyển đổi: từ mô hình khép kín chuyển sang mô hình mở, từ quan hệ theo chiều dọc đến những quan hệ đa chiều, từ một hệ thống ứng xử được khuôn mẫu hoá đến một hệ thống hành vi đa dạng và hợp

lý hơn Mô hình hôn nhân biến đổi theo hướng con cái ngày càng chủ động hơn và tự quyết định trong việc xây dựng gia đình Đồng thời, khi thu nhập và trình độ học vấn của người dân được nâng cao, cùng với ảnh hưởng của lối sống đô thị đã dẫn đến xu hướng thu nhỏ quy mô gia đình (hạt nhân hoá gia đình) (Vũ Tuấn Huy, 1996: 150) Mặc dù có những biến động nhất định nhưng gia đình vẫn giữ vị trí trung tâm, có ảnh hưởng quan trọng đến các quyết định hôn nhân của giới trẻ (Belanger và Khuất Thu Hồng, 1994)

Về sự biến đổi lối sống, tác giả Đặng Quang Thành và Chế Anh (2000)

đã tìm hiểu những vấn đề liên quan đến lối sống nói chung và lối sống ở đô thị Việt Nam nói riêng Trên cơ sở mô tả thực trạng lối sống ở đô thị Việt nam hiện nay (tích cực và tiêu cực) các tác giả đã đề xuất việc xây dựng phát triển lối sống lành mạnh cho các đô thị, nhất là cho thanh thiếu niên Lê Xuân

Hoàng (1995), khẳng định sự biến đổi lối sống của thanh niên đang diễn ra

mạnh mẽ là kết quả của quá trình đổi mới và phát triển của đất nước Bên cạnh những yếu tố tích cực như tính năng động sáng tạo, sự chịu trách nhiệm

cá nhân lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay cũng đang đặt ra nhiều câu hỏi băn khoăn cho các thế hệ đi trước, chẳng hạn như sự ích kỷ vụ lợi, hành động theo sở thích, ít quan tâm đến những người xung quanh mình

Quan tâm đến biến đổi lối sống ở bình diện vĩ mô và đặt nó trong mối

quan hệ với đạo đức, giá trị xã hội, Huỳnh Khái Vinh và cộng sự (2001) đã

Trang 16

phác họa ra sự biến đổi lối sống, giải quyết những vấn đề cơ bản của các

phạm trù lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; mối quan hệ giữa lối sống, đạo đức với phát triển văn hóa và con người Sự tác động của các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội tới lối sống đạo đức, chuẩn xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Quan tâm đến sự biến đổi lối sống ở khía cạnh mức sống, các tác giả như Nguyễn Hữu Minh (2003), Đỗ Văn Quân (2006) chỉ ra rằng quá trình biến đổi nhanh về mức sống của hộ gia đình nông thôn vùng phụ cận Hà Nội đang dần hình thành lối sống đô thị với những giá trị, chuẩn mực, quan niệm mang tính đặc trưng của đô thị Quá trình này đang diễn ra nhanh chóng dưới

áp lực của đô thị hoá và công nghiệp hoá Cùng với việc nâng cao mức sống thì quá trình biến đổi lối sống thể hiện rất rõ qua việc hình thành mạng lưới quan hệ xã hội trong môi trường công việc, cùng sở thích hơn là giá trị truyền thống cộng đồng; đó là thói quen làm việc sáng đi tối về của các thành viên trong gia đình; xu hướng đề cao giá trị kiếm được nhiều tiền hơn bất kỳ giá trị nào khác Mỗi cá nhân không còn bị bó hẹp trong phạm vi làng xã mà rộng

mở hơn, giao lưu với nhiều tầng lớp, nhóm người trong xã hội, thể hiện sự năng động hơn và thoải mái hơn

Nghiên cứu sự biến đổi lối sống dân cư dưới tác động của hàng loạt các nhân tố khác nhau, Đỗ Huy (2005) cho rằng, các tác nhân làm biến đổi lối sống của cư dân Hà Nội là một hệ thống các nhân tố bao gồm những quan hệ vật chất và tinh thần, cấu trúc nhân khẩu, sự chuyển dịch cư dân, các giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ cũng như tổng hòa nhiều mặt trong quan hệ sống của

người dân thủ đô Trần Nhật Duật (2007), khẳng định sự biến đổi lối sống của

cư dân ven đô Hà Nội trong khoảng thời gian 20 năm vừa qua là hệ quả của quá trình đổi mới bao gồm sự phát triển kinh tế, văn hoá, chính trị xã hội cũng như những biến đổi về môi trường tự nhiên

Trong khi đó, Ngô Văn Giá (2006) lại nhìn nhận ở khía cạnh cụ thể hơn

về mối liên hệ giữa biến đổi lối sống với bối cảnh kinh tế-xã hội Tác giả nhấn mạnh, trong bối cảnh xã hội có những biến đổi lớn về cơ cấu kinh tế và thành phân dân cư, tiền đề tạo nên mối liên kết tự nhiên giữa các thành viên trong làng đã không còn như trong truyền thống, ý thức về giá trị cộng đồng làng trong mỗi ứng xử của con người không thể nói là không thay đổi Một trong những tiêu chí cơ bản để điều chỉnh, ràng buộc hành vi ứng xử của con người vào hệ giá trị chuẩn mực của xã hội là dư luận đã nhìn nhận một cách thoải

Trang 17

mái hơn Một mặt, điều này thể hiện tính nhân văn sâu sắc khi nó tôn trọng tự

do và những ứng xử thể hiện cá tính nhưng mặt khác, nó cũng tạo nên những

biểu hiện của lối sống có phần phóng túng

Bên cạnh các phân tích nguyên nhân tổng thể tác động đến lối sống, một số công trình đã tập trung làm rõ sự ảnh hưởng của duy nhất một nhân tố

là quá trình đô thị hóa Chẳng hạn, Văn Thị Ngọc Lan (2008) đã phân tích về

sự chuyển biến về văn hoá và lối sống trong các mô thức đô thị hoá ở vùng

ven Thành phố Hồ Chí Minh Dưới tác động của quá trình công nghiệp hoá và quá trình đô thị hoá, các cộng đồng nông thôn ngoại thành đang chuyển đổi từ các khuôn mẫu truyền thống sang các khuôn mẫu hiện đại Nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Thanh và Nguyễn Thế Trường (2008) cho rằng, quá trình đô thị hoá trên khắp mọi miền của đất nước đã và đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của cuộc sống người nông dân, nhất là lối sống và văn hoá

Đi sâu phân tích thực trạng ảnh hưởng của đô thị hoá đến lối sống, Lê Thị Hồng Quế và cộng sự (2008) nhận thấy rằng: đô thị hoá đòi hỏi con người phải chuyển động theo tốc độ chuyển động của nó Nghĩa là, một khi, một nơi

đã diễn ra quá trình đô thị hóa thì nơi ấy đòi hỏi một lối sống, một cách ứng

xử văn hoá khác với lối sống, với văn hoá nông thôn trước đây Hiện tượng người dân thay đổi nghề nghiệp, sự xuất hiện của những người dân nhập cư là tất yếu, quan hệ cộng đồng cũng thay đổi, dịch vụ công cộng xuất hiện trong cuộc sống mới ắt dẫn đến những thay đổi về tâm lý và từ đó nếp sống cũng thay đổi theo Hơn thế nữa để bắt kịp với lối sống đô thị người dân cũng phải tìm cách thay đổi tác phong làm việc cho phù hợp

Cùng quan tâm đến sự biến đổi lối sống đô thị trong bối cảnh từ xã lên

phường, Nguyễn Đình Tuấn (2007) đã quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh thực nghiệm Thông qua công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã mô tả

thực trạng biến đổi lối sống của người dân, mà khởi điểm chính là từ quyết định hành chính từ xã thành phường của nhà nước Tác giả đã mô tả khá đầy

đủ các biểu hiện cụ thể của biến đổi lối sống như: phương thức sinh hoạt; quan niệm về đời sống hôn nhân và con cái; quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm; cưới xin tang ma và sử dụng thời gian nhàn rỗi

Chi tiết hơn nữa và từ hướng tiếp cận tâm lý học xã hội, Phan Thị Mai Hương và cộng sự (2006) đã khảo sát sự biến đổi trong hệ thống nhu cầu của

cư dân ven đô để từ đó đưa ra những phân tích về sự thích nghi với lối sống

đô thị của các cộng đồng ven đô trong quá trình đô thị hóa Theo đó, tác giả

Trang 18

đã chỉ ra một số chiều cạnh về sự biến đổi lối sống của người dân, đó là: sự thích nghi trên phương diện kinh tế, sự thích nghi trên phương diện văn hóa

và quan hệ giao tiếp, ứng xử, sử dụng dịch vụ xã hội, kết cấu nhà cửa Nhìn chung, nhóm tác giả đã thu thập được những bằng chứng cho thấy người dân

đã phải vận động và thay đổi lối sống cho phù hợp với bối cảnh xã hội mới Tuy nhiên, sự thay đổi đó vẫn dang diễn ra và đến hiện tại người dân vẫn giữ được những nét cơ bản thuộc về lối sống truyền thống của cư dân nông nghiệp Việt Nam Những biểu hiện tiêu cực về lối sống cũng đã xuất hiện

nhưng chưa phổ biến và chưa đến mức quá nghiêm trọng

Như vậy có thể thấy rằng, cho đến nay, đã có nhiều tác giả nghiên cứu

về lối sống và văn hoá gia đình Việt Nam trên nhiều giác độ khác nhau, chẳng hạn như: văn hoá gia đình Việt Nam truyền thống (Phan Kế Bính, Vũ Khiêu,

Vũ Ngọc Khánh, Trần Đình Hượu, Nguyễn Từ Chi, Phan Đại Doãn); văn hoá gia đình tộc người (Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Duy Thiệu); văn hoá gia đình Việt Nam hiện đại (Đặng Phương Kiệt, Hoàng Vinh, Khuất Thu Hồng, Vũ Tuấn Huy, Lê Ngọc Văn); văn hoá gia đình đô thị (Nguyễn Thanh Tuấn, Lê Quý Đức, Ngô Văn Giá); văn hoá gia đình nông thôn (Tô Duy Hợp, Đỗ Thanh Hồng, Nguyễn Đức Truyến, Mai Văn Hai) Trong các nghiên cứu đó, vấn đề lối sống luôn được đặt trong bối cảnh văn hóa gia đình, là một chiều cạnh cơ bản nhất của văn hóa gia đình Khi bàn đến văn hóa gia đình là tất yếu phải phân tích vấn đề lối sống

Nhiều học giả nước ngoài cũng rất quan tâm nghiên cứu các chủ đề này như Charles Hirschman (1996), Samuel Pokin (1979), Nelly Krowlski (2000), Francois Houtart và Genevieve Lemervinier (1979, 2000) Về cơ bản, các tác giả nêu trên đã góp phần vào việc mô tả được những đặc trưng của văn hoá gia đình cũng như lối sống của người Việt Nam và đưa ra những phân tích về

sự biến đổi của văn hoá gia đình trong hơn hai mươi năm đổi mới và hội nhập Tuy nhiên, các phân tích riêng về sự biến đổi lối sống của người dân vẫn còn hạn chế, đặc biệt là ảnh hưởng của quá trình thực hiện chính sách thu hồi đất đến sự biến đổi lối sống của người dân khu vực đang CNH, ĐTH Thiếu hụt ở đây chính là việc chưa chỉ ra những thay đổi trên những chiều cạnh khái quát chủ yếu của lối sống và cách sống

Các nghiên cứu gần đây mới chỉ tập trung vào một số vấn đề riêng lẻ nổi bật như hôn nhân-gia đình, giá trị của con, giá trị nghề nghiệp, vui chơi giải trí Trong khi đó, lối sống của người dân là một khái niệm trừu tượng và

Trang 19

phức tạp với rất nhiều hình thức biểu hiện khác nhau Lối sống là một chiều cạnh của văn hóa gia đình, văn hóa cộng đồng nhưng không thể coi bản thân lối sống đồng nhất với vấn đề văn hóa Do đó, việc nhận diện sự biến đổi lối sống của người dân dưới tác động của các chính sách phát triển kinh tế xã hội

là rất cần thiết, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam hiện nay

Với thực trạng tình hình nghiên cứu như được trình bày trên đây, trong phạm vi đề tài này, nhóm tác giả triển khai một hướng nghiên cứu mới là đi sâu phân tích mối quan hệ nhân quả giữa quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất và lối sống của người dân tại các khu vực đang CNH và ĐTH

III-MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Câu hỏi nghiên cứu

Xác định quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất (mức độ, quy mô, thời gian) phục vụ nhu cầu CNH và ĐTH là biến độc lập; các chiều cạnh lối

sống của người dân là biến phụ thuộc, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: Lối

sống của người dân (chủ yếu là nông dân) đã thay đổi như thế nào dưới tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất, xây dựng các khu công nghiệp và đô thị?

- Đề xuất về mặt chính sách nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản

lý nhà nước về văn hoá-xã hội trong bối cảnh CNH, ĐTH hiện nay

3 Nội dung nghiên cứu

Lối sống là một khái niệm có nội hàm rộng với ngoại diên hết sức đa dạng Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, nhóm nghiên cứu dự kiến sẽ chỉ tập trung vào những chiều cạnh lối sống chủ yếu sau đây:

- Sự thay đổi trên bình diện kinh tế: phân công lao động và lựa chọn nghề nghiệp

- Sự thay đổi trong quan niệm và hành vi liên quan đến hôn nhân-gia đình

- Sự thay đổi trong các quan hệ gia đình, dòng họ và cộng đồng

Trang 20

- Sự thay đổi thói quen sử dụng dịch vụ

- Sự thay đổi về cách thức tổ chức và bố trí không gian sống

- Sự thay đổi trong sinh hoạt văn hóa, và sinh hoạt văn hóa tâm linh

IV-ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

- Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống

tại các khu vực đang công nghiệp hoá, đô thị hoá

2 Khách thể nghiên cứu

- Các hộ gia đình nông dân bị thu hồi đất

- Cán bộ lãnh đạo quản lý ở các địa phương chuyển đổi mục đích sử dụng đất

3 Phạm vi nghiên cứu

3.1 Thời gian: Từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 10 năm 2009

3.2 Địa bàn nghiên cứu: Tỉnh Vĩnh Phúc

V-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Luận chứng về việc sử dụng phương pháp nghiên cứu xã hội học

Các phân tích xã hội học về sự biến đổi xã hội bắt đầu xuất hiện ở châu

Âu và Bắc Mỹ từ khoảng thế kỷ XIX và cho đến nay, tiếp cận xã hội học đã trở thành một phương pháp nghiên cứu phổ biến, có nhiều ảnh hưởng trong việc triển khai các nghiên cứu khoa học xã hội Vận dụng phương pháp xã hội học vào đề tài này là dựa trên những ưu điểm khá rõ rệt sau đây:

Về mặt phương pháp luận: Tư duy xã hội học vốn tôn trọng các quy

luật tồn tại và vận động khách quan của xã hội loài người Các nhà xã hội học tin rằng, thông qua việc xây dựng các giả thuyết và tìm kiếm bằng chứng chứng minh giả thuyết khoa học, chúng ta có thể nhận thức và mô tả các vấn

đề xã hội theo đúng những gì đang tồn tại Bởi vậy, các kết luận nghiên cứu chỉ có thể được đưa ra khi nhà nghiên cứu có đủ bằng chứng khoa học Với phương pháp luận như vậy, các nghiên cứu xã hội học sẽ tránh được tình trạng chủ quan duy ý chí, hạn chế lối tư duy tư biện, thậm chí siêu hình trong việc triển khai và công bố các kết quả nghiên cứu

Về mặt phương pháp thu thập thông tin: Các phương pháp nghiên cứu

xã hội học như phỏng vấn cá nhân, thảo luận nhóm, điều tra thông qua bảng

Trang 21

hỏi, phân tích dữ liệu thứ cấp đem đến cho nhà nghiên cứu những thông tin đáng tin cậy Truyền thống thực chứng không cho phép nhà xã hội học đưa ra các phân tích, nhận định mà không dựa trên các bằng chứng thực nghiệm Bởi vậy, với việc vận dụng các phương pháp thu thập thông tin của xã hội học, nhóm nghiên cứu sẽ có thể thu được những thông tin đảm bảo chất lượng, phục vụ cho việc phân tích vấn đề nghiên cứu Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng: để đo sự biến đổi lối sống, cần phải có thời gian cho nhóm nghiên cứu thâm nhập thực tế, từng bước cảm nhận được sự biến đổi xã hội nói chung

2 Quy trình chọn mẫu và các phương pháp thu thập, xử lý thông tin

Trong phạm vi đề tài này, dựa trên việc quan sát thực địa và nghiên cứu tài liệu, nhóm nghiên cứu thu thập thông tin tại các hộ gia đình nông dân bị thu hồi đất Bởi vậy, sẽ không có so sánh kết quả nghiên cứu dựa trên tương quan giữa nhóm hộ bị thu hồi đất với nhóm hộ không bị thu hồi

Dựa vào các thông tin chung do UBND tỉnh và UBND huyện, xã, phường, thị trấn thuộc địa bàn nghiên cứu cung cấp, nhóm nghiên cứu lựa chọn ngẫu nhiên các hộ gia đình, trong đó có tính đến yếu tố địa bàn cư trú cũng như diện tích đất bị thu hồi và mốc thời gian thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất Theo đó, tại mỗi cụm dân cư (tổ dân phố hoặc thôn), thành viên nhóm nghiên cứu phối hợp với cán bộ địa phương để lập danh sách

hộ gia đình Mỗi danh sách gồm những hộ được lựa chọn chính thức và một

số hộ dự bị Để thu thập dữ liệu và các tài liệu, nhóm nghiên cứu sử dụng các

phương pháp sau đây:

Phương pháp phân tích tài liệu: Nhóm nghiên cứu tiến hành tra cứu, rà

soát các công trình nghiên cứu đã hoàn thành, các bài viết đăng trên báo, tạp chí cũng như các sách, kỷ yếu khoa học đã được công bố Trên cơ sở đó, nhóm tác giả sẽ có sự hình dung khái quát về vấn đề nghiên cứu, làm cơ sở cho việc thiết kế và triển khai đề tài này, đảm bảo tính kế thừa và tránh trùng lặp với các nghiên cứu trước đó Để có thêm thông tin tổng thể, nhóm nghiên cứu sưu tầm và phân tích thông tin từ các báo cáo tình hình kinh tế-xã hội, báo cáo chuyên đề về văn hóa-xã hội trong thời gian 5 năm gần đây của chính quyền địa phương nơi tiến hành khảo sát Những thông tin chung do địa phương cung cấp là cơ sở để nhóm nghiên cứu tiến hành lựa chọn các cộng đồng dân cư cũng như đại diện các hộ gia đình để phỏng vấn (qua bảng hỏi, phỏng vấn sâu hoặc thảo luận nhóm)

Trang 22

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đối với hộ gia đình (Anket): Dựa

vào các câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn trong các bảng hỏi, các cuộc phỏng vấn được tiến hành với 400 hộ gia đình tại 4 xã (phường) của tỉnh Vĩnh Phúc

Các phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và quan sát): Để củng cố độ tin cậy của các thông tin định lượng, nhóm

nghiên cứu đã tiến hành các cuộc phỏng vấn sâu với người dân (tổng số 30 PVS), thảo luận nhóm với cán bộ chuyên trách của tỉnh (1 TLN), cán bộ cấp huyện (2 TLN) cán bộ xã, phường (6 TLN) và thảo luận nhóm với các thành viên trong một gia đình (tổng số 10 TLN) Về bản chất, đây là những cuộc trao đổi trực tiếp giữa người nghiên cứu và đối tượng cung cấp thông tin

Bên cạnh đó, quá trình điền dã thu thập thông tin sẽ giúp các nghiên cứu viên có cơ hội quan sát và cảm nhận về sự biến đổi lối sống trên một số khía cạnh chủ yếu, đặc biệt là những biểu hiện về mặt hình thức vật chất Qua

đó, nghiên cứu viên có được sự hình dung sâu sắc hơn, chi tiết và toàn diện hơn về các vấn đề nghiên cứu

Các phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được nhóm nghiên cứu đặc biệt coi trọng bởi lẽ việc tìm bằng chứng chứng minh sự thay đổi về lối sống là một việc rất khó Hơn nữa, sự thay đổi về lối sống thường diễn ra chậm cho nên cần phải có độ lùi về mặt thời gian thì mới có thể nhận diện chính xác Trong khi đó, hầu hết các địa phương ở Việt Nam chỉ tiến hành chuyển đổi đất trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây Bởi vậy, các phương pháp thu thập thông tin định lượng có thể gặp khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin về sự biến đổi lối sống Trong hoàn cảnh như vậy, các phương pháp định tính là sự

bổ sung hợp lý và cần thiết nhằm đảm bảo chất lượng thông tin tốt nhất

Phương pháp tham vấn chuyên gia: Trong suốt quá trình xây dựng và

triển khai nghiên cứu, nhóm tác giả thường xuyên tham khảo ý kiến của các chuyên gia có uy tín Các cuộc tọa đàm và hội thảo được tổ chức theo từng nội dung cụ thể như: góp ý bộ công cụ nghiên cứu, hội thảo về kết quả nghiên cứu ban đầu, góp ý về báo cáo tổng hợp Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu tích hợp các ý kiến cho việc hoàn thiện sản phẩm cuối cùng

Sau khi hoàn thành công việc thu thập thông tin, các câu hỏi được kiểm tra, mã hoá và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS Để có cái nhìn đa chiều

về kết quả nghiên cứu, các dữ liệu thu thập được phản ánh dựa trên các tương quan như giới tính, học vấn, tuổi, nghề nghiệp, thời gian và diện tích đất bị

Trang 23

thu hồi của người trả lời Bên cạnh đó, những thông tin định tính sẽ được lựa chọn, khái quát, trích dẫn theo từng chủ đề Tất cả các thông tin định lượng và định tính đều được lưu giữ cẩn thận dưới dạng các file điện tử và bản in

3 Một số khái niệm công cụ và khung lý thuyết

3.1 Một số khái niệm công cụ

Trong phạm vi đề tài này, các khái niệm công cụ được sử dụng với hàm

ý như sau:

Chuyển đổi mục đích sử dụng đất: đây là một chính sách do Đảng và

nhà nước ta thực hiện để phục vụ mục đích CNH, ĐTH và xây dựng cơ sở hạ tầng Đó là quá trình nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất từ người dân, chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất sản xuất nông-lâm nghiệp và đất ở thành đất được dùng để xây dựng các khu công nghiệp, các trung tâm thương mại

và đô thị cũng như hệ thống cơ sở hạ tầng (như điện, đường, trường, trạm )

Đô thị hóa: Đô thị hóa là quá trình hình thành các thành phố và gia

tăng số người sống trong các thành phố đó Đó là quá trình các thành phố trở thành các trung tâm điều khiển và kiểm soát tập trung Các đặc trưng cơ bản của đô thị trong phạm vi nghiên cứu của đề tài là: một khu vực tập trung dân

cư đông đúc, rộng lớn, đa dạng về thành phần xã hội, nghề nghiệp và lối sống

Công nghiệp hóa: Một xã hội quá trình CNH thì sẽ bao gồm các đặc

trưng chủ yếu như: nền kinh tế với các sản phẩm do máy móc tạo ra chứ không phải thuần túy dựa trên sức lao động của con người và động vật; nhiên liệu như gas, điện thay thế sức mạnh của gió và nước; sản xuất trong nhà máy thay thế kiểu sản xuất thủ công tại gia đình và các cửa hàng nhỏ; đa số dân cư trong tuổi lao động làm việc trong các nhà máy công nghiệp hoặc khu vực dịch vụ, khu vực nông nghiệp giảm dần về tỷ trọng trong nền kinh tế Hoạt động sản xuất kinh doanh được tổ chức dựa trên sự phân công lao động

rõ ràng giữa lao động chân tay và lao động trí óc, tự động hóa và cơ khí hóa Hiểu như vậy, quá trình CNH ở nước ta hiện nay mới chỉ đi những bước đi ban đầu và xã hội Việt Nam hiện tại chưa được coi là một xã hội công nghiệp

Gia đình: là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn

nhân, huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và

Trang 24

quyền lợi giữa họ với nhau (Khoản 10 Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000)

Văn hoá: Theo cách hiểu rộng nhất thì có thể coi văn hoá bao gồm tất

cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động (Federico, 1989 trích trong Trần Ngọc Thêm, 2001:20)

Nói cách khác, từ hướng tiếp cận hệ thống, văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình (Trần Ngọc Thêm, 2001: 25) Theo đó, văn hoá hội tụ đủ các đặc trưng cơ bản như: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử

Văn hóa gia đình: Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, văn hoá gia

đình được hiểu là một tập hợp những biểu hiện văn hóa gắn liền với các quan

hệ và các mặt của đời sống gia đình, cùng với văn hóa làng xã, văn hoá gia đình là một thành phần cơ bản của nền văn hoá dân tộc Việt Nam

Lối sống: đây là một khái niệm có nhiều cách định nghĩa khác nhau

Đôbơrianốp (1985: 213) cho rằng: lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hoá của hệ thống những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những điều kiện sống, thể hiện trong hoạt động của con người Nhóm tác giả Trần Kiều, Vũ Trọng Rỹ, Hà Nhật Thăng và Lưu Thu Thuỷ (2001: 10) định nghĩa: lối sống

là những cách suy nghĩ, kỹ năng ứng xử (cách nghĩ, nếp sinh hoạt, thói quen, phong cách học tập, làm việc, giao tiếp, xử sự ) tạo nên cái riêng của mỗi cá nhân hay một nhóm người nào đó

Trong các quan niệm thường ngày về lối sống, có một xu hướng nhấn mạnh đến mối quan hệ chặt chẽ giữa lối sống và văn hoá Mặc dù lối sống được coi là một bộ phận hợp thành của văn hoá, hay là một phương thức tồn tại và biểu hiện của văn hoá nhưng không thể đồng nhất lối sống và văn hoá Văn hoá dù định nghĩa theo cách nào thì khái niệm này cũng dùng để chỉ một thực thể xét theo chiều thẳng đứng, luôn có nhiều cấp độ, nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó ở tầng đáy là nền tảng của văn hoá bao giờ cũng là giá trị và hệ giá trị, còn ở tầng ngọn là các hình thức biểu hiện cụ thể của văn hoá như các biểu tượng, các hình thức nghệ thuật, các ứng xử văn hoá, trong đó có lối sống của các cá nhân, các nhóm, các cộng đồng người Cần khẳng định, lối

Trang 25

sống là khái niệm dùng để chỉ quá trình hiện thực hóa các giá trị và hệ giá trị văn hóa trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày Chỉ có các giá trị và hệ giá trị nào được hiện thực hóa trong thực tiễn cuộc sống của con người thì mới được coi là biểu hiện của lối sống Có nghĩa là, khi nghiên cứu về lối sống, chúng ta bắt buộc phải nghiên cứu các biểu hiện cụ thể của nó trong sinh hoạt hàng ngày, phải khám phá xem lối sống đó dựa trên hay là sự hiện thực hóa trong thực tiễn của những giá trị và hệ giá trị nào Hơn nữa, các giá trị và hệ giá trị lại không bao giờ đứng độc lập hay tác động đến lối sống một cách đơn lẻ, mà chúng luôn tương tác với nhau, đan xen với nhau và do đó có những hình thức hiện thực hóa đa dạng và phức hợp Vì vậy, khi nghiên cứu lối sống, phải quan tâm đến cả các mô thức hành vi, cách ứng xử văn hoá và các quan niệm sống

Trong xã hội học, theo Turner (2006: 339): lối sống là các mô hình văn hóa và hành động đặc trưng, phân biệt người này với người khác Khi nghiên cứu về lối sống, các nhà xã hội học chủ yếu quan tâm đến các hình thức biểu hiện của hành vi tạo thành các mô thức sống phổ biến chứ không phải phong cách hay đặc tính cá nhân Nói cách khác, thuật ngữ lối sống đề cập đến sự khác biệt ở cấp độ thực tiễn trong hệ thống tổng thể rộng lớn hơn của văn hóa

vi phổ biến trong cuộc sống hàng ngày Lối sống phản ánh định hướng giá trị cũng như thái độ của cá nhân cho nên bản chất cá nhân có thể được nhận biết qua lối sống của anh ta Nói cách khác, có thể coi lối sống chính là yếu tố tạo

ra những biểu trưng văn hóa phản ánh bản sắc cá nhân rất rõ nét

Trong xã hội hiện nay, lối sống của cá nhân chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các yếu tố công nghệ cũng như môi trường xã hội hiện đại và phức tạp Bởi vậy, biểu hiện ra trong thực tiễn hàng ngày là các lối sống hết sức đa dạng Chẳng hạn, thông thường, chúng ta hay gọi đó là lối sống khép kín nếu như ai

đó đề cao sự độc lập và ít tham gia vào các hoạt động liên quan đến cộng đồng; lối sống hòa đồng đề cập đến những người dễ dàng chấp nhận sự khác

Trang 26

biệt xã hội, tham gia vào mọi tổ chức và hoạt động xã hội một cách tích cực

và tự nguyện Cũng vậy, những người đề cao việc bảo vệ môi trường và thực hiện việc tiết kiệm nhiên liệu có thể được xếp vào lối sống vì môi trường; những người không quá chú trọng đến hình thức ăn-mặc-ở-đi lại được coi là người có lối sống giản dị; những người đề cao sự chuẩn tắc trong công việc ở

cơ quan, cuộc sống gia đình và giải trí được coi là có lối sống công nghiệp… Tóm lại, lối sống chính là cách sống hoặc phương thức sống của cá nhân trong thực tiễn sinh hoạt hàng ngày

3.2 Khung lý thuyết

(xem trang tiếp theo)

Trang 27

Khung lý thuyết

Đặc trưng cá nhân và gia đình

- Diện tích đất bị thu hồi

- Thời gian thu hồi đất

- Số tiền được đền bù

Bối cảnh kinh tế-xã hội

- Cơ chế kinh tế thị trường

- Hội nhập khu vực và thế giới

- Sự phát triển của công nghệ

- Sự phổ biến của thương mại, dịch vụ

- Sư phát triển của SX công nghiệp

Lối sống của người dân

- Lựa chọn chuyển đổi nghề nghiệp

- Phân công lao động trong gia đình

- Sự thay đổi vai trò kinh tế của các thành viên trong gia đình

Vui chơi, giải trí và sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng

Kinh doanh dịch vụ và Thói quen sử dụng dịch vụ

- Kinh doanh dịch vụ

- Sử dụng các dịch vụ cơ bản:

nước máy, vệ sinh môi trường,

internet, viễn thông

Tổ chức không gian sống

- Xây dựng nhà và các công trình sinh hoạt

- Bố trí không gian nơi cư trú

Trang 28

VI-Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp, bổ sung cho sự phát triển các nghiên cứu ở Việt Nam; được sử dụng làm tài liệu trong công tác giảng dạy tại các cơ quan nghiên cứu và cơ sở đào tạo

- Các phát hiện từ nghiên cứu góp phần giúp các cơ quan chức năng xây dựng và hoàn thiện chính sách cho người dân ở khu vực diễn ra quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, hạn chế tối đa những rủi ro từ tác động của chính sách trong bối cảnh chuyển đổi, giúp Bộ VHTTDL trong việc quản lý nhà nước về gia đình, xây dựng gia đình phát triển bền vững

- Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho cộng đồng xã hội và các cơ quan quản lý nhà nước nhận thức rõ hơn về các chiều cạnh của sự biến đổi lối sống trong tinh hình hiện nay, từ đó, giúp người dân, cán bộ quản lý, lãnh đạo các cấp có những biện pháp thích ứng tốt hơn với quá trình biến đổi này

VII-BỐ CỤC BÁO CÁO ĐỀ TÀI

Báo cáo đề tài gồm có các phần:

Trang 29

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

VÀ ĐẶC TRƯNG XÃ HỘI CỦA MẪU KHẢO SÁT

1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Tỉnh Vĩnh Phúc nằm ở cửa ngõ Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, có diện tích tự nhiên khoảng 1.371km2, dân số gần 1,2 triệu người và bao gồm 9 đơn vị hành chính: Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện là Mê Linh, Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam Đảo và Lập Thạch1

Một trong những ưu thế của Vĩnh Phúc so với các tỉnh xung quanh Hà Nội là có diện tích đất đồi rộng, rất thuận tiện cho việc xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị Bên cạnh đó nguồn lao động của Vĩnh Phúc khá dồi dào, chiếm khoảng 61,6% tổng dân số2, trong đó chủ yếu là lao động trẻ

Năm 1997, sau khi tách khỏi tỉnh Vĩnh Phú, đặc biệt là từ đầu những năm 2000 trở lại đây, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên địa bàn Vĩnh Phúc được đẩy lên với tốc độ nhanh hơn Đến nay, Vĩnh Phúc đã được coi là một trong những địa phương điển hình về “thu hồi đất”3

Trên địa bàn tỉnh đã có nhiều Khu công nghiệp được thành lập như KCN Kim Hoa, KCN Quang Minh và 01 KCN đã có chủ trương thành lập

1 Nguồn: Website tỉnh Vĩnh Phúc

2 Nguồn: Website tỉnh Vĩnh Phúc

3

Trang 30

(Bình Xuyên) UBND tỉnh đã có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ cho chủ trương thành lập thêm 02 KCN là Khai Quang và Chấn Hưng

Ngoài ra, còn có 6 KCN khác là: Hương Canh (Bình Xuyên), Lai Sơn (Vĩnh Yên), Đạo Tú và Hợp Thịnh (Tam Dương), Xuân Hoà (Phúc Yên) và Tân Tiến (Vĩnh Tường)

Vĩnh Phúc có lợi thế trong phát triển công nghiệp ở diện rộng vì nằm gần Thủ đô Hà nội, có nhiều thuận lợi về cơ sở hạ tầng cho nên quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất, từ đất nông nghiệp sang công nghiệp, cũng diễn ra nhanh hơn so với một số tỉnh khác Đến thời điểm này, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 588 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng số vốn là 28.800 tỷ đồng và 2.034 triệu USD Nhờ thu hút được nhiều dự án đầu tư nên tổng thu ngân sách của tỉnh hàng năm tăng cao, dự kiến năm 2008 đạt xấp xỉ 9.000 tỷ đồng Năm 2008, tốc độ tăng GDP của tỉnh ước đạt 18% Để đạt được những thành tựu này, tỉnh Vĩnh Phúc đã coi khâu giải phóng mặt bằng là then chốt Toàn tỉnh đã chuyển gần 7.000 ha đất dành cho công nghiệp và phát triển đô thị Với phương châm "có công nghiệp vào, đời sống nhân dân phải tốt hơn khi chưa có", Vĩnh Phúc tạo cơ chế cấp đất cho người dân bị mất 30% đất sản xuất trở lên ở những vị trí thuận lợi để họ làm dịch vụ; có chính sách ràng buộc nhà đầu tư thực hiện nghĩa vụ tạo việc làm cho con em nông dân trong các doanh nghiệp trên địa bàn4

Thị xã Vĩnh Yên và huyện Bình Xuyên là hai địa bàn đang diễn ra tốc

độ chuyển đổi mục đích sử dụng đất, công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng nên đã được chọn làm địa bàn khảo sát

Đặc biệt, tại huyện Bình Xuyên - hệ thống chính trị đã vào cuộc, góp phần thiết thực trong công tác đền bù GPMB Khu công nghiệp Bình Xuyên

và Khu công nghiệp Bá Thiện với tổng diện tích trên 600 ha được giải phóng mặt bằng nhanh Đồng chí Bí thư huyện uỷ trực tiếp làm Trưởng ban chỉ đạo GPMB, chính quyền cùng các tổ chức đoàn thể tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương chung về GPMB Gia đình cán bộ, đảng viên gương mẫu nhận tiền, giao trả mặt bằng trước Hai xã đông đồng bào công giáo là Bá Hiến và Thiện Kế vốn có tập quán chỉ chôn người chết một lần

"nhất táng thiên thu", nhưng hưởng ứng "cuộc vận động vì công nghiệp hoá" của địa phương, mọi người đều tự nguyện di chuyển trên 1.300 mồ mả để

Trang 31

dành đất làm công nghiệp Các xã, phường được khảo sát là phường Đồng Tâm và phường Khai Quang (thành phố Vĩnh Yên); xã Bá Hiến và thị trấn Hương Canh (huyện Bình Xuyên)

Khai Quang là một phường nằm ở phía Đông Nam thị xã Vĩnh Yên, diện tích tự nhiên là 1.117,17 ha và được phân chia thành 12 tổ dân phố Dân

số của phường tính đến năm 2009 là 16.661 khẩu, 1.832 hộ Trong những năm qua, thực hiện quyết định của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc thu hồi đất phục vụ cho quy hoạch các KCN và xây dựng hạ tầng, đến nay trên địa bàn phường đã có 141 cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp trong và ngoài nước Tổng diện tích đất bị thu hồi năm 2005 là 33,67 ha; năm 2006 là 65,2ha; năm 2007 là 20,8 ha; năm 2008 là 48 ha với 74 dự án Do sự thu hẹp đất đai canh tác, cơ cấu kinh tế của phường hiện nay là: công nghiệp-xây dựng-thương mại-du lịch và nông nghiệp Thu nhập bình quân đầu người năm

2008 là 33.988.000đồng/người

Phường Đồng Tâm nằm ở phía Tây thành phố Vĩnh Yên, diện tích tự nhiên là 7,52 km2, 2.815 hộ và 14.500 khẩu Cơ cấu kinh tế của phường là thương mại, dịch vụ-công nghiệp, xây dựng-nông nghiệp, thủy sản Năm

2008, phường đã hoàn thành công tác đền bù giải phóng mặt bằng với 8 dự

án, tổng diện tích 345.182,4m2, giá trị bồi thường hơn 6 tỷ đồng với hơn 360 lượt hộ có đất thu hồi Công tác xây dựng hạ tầng cơ sở trên địa bàn phường được triển khai tốt, các thiết chế văn hóa-giáo dục và y tế được đầu tư đồng

bộ và hiện đại

Thị trấn Hương Canh có diện tích tự nhiên là 1.006,42 ha với 3.818 hộ

và 14.499 khẩu trong đó, hộ sản xuất nông nghiệp là 1.670 hộ và hộ phi nông nghiệp là 2.148 hộ Trong tổng số 7.670 lao động của thị trấn thì có tới 2.537 người đang làm việc cho các doanh nghiệp, cơ quan trên địa bàn Diện tích đất nông nghiệp của thị trấn chỉ có 543,1 ha, đất phi nông nghiệp có 445,05

ha Thời gian qua, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất cũng được thực hiện trên địa bàn thị trấn nhưng tốc độ chậm vì nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như giá đền bù chưa hợp lý, ý thức trách nhiệm một số người chưa cao

Xã Bá Hiến nằm ở phía Bắc huyện Bình Xuyên với 3.216 hộ, 14.216 khẩu (khoảng 35% số khẩu là đồng bào theo đạo Thiên chúa) Cơ cấu kinh tế của xã là nông nghiệp, thủy sản-thương mại dịch vụ và xây dựng cơ bản Những năm qua, thực hiện chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chính quyền địa phương đã tiến hành thu hồi và bàn giao hàng trăm ha đất

Trang 32

cho các doanh nghiệp và cơ quan trên địa bàn Riêng năm 2008, địa phương

đã giao 83 ha cho tập đoàn Hồng hải, 0,77 ha cho KCN Bá Thiện xây nhà máy nước Hiện nay, chính quyền xã vẫn đang tiếp tục thực hiện chính sách thu hồi và đền bù, giải phóng mặt bằng cho các hộ dân trong xã Những năm sắp tới, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất sẽ giúp Bá Hiến trở thành một địa bàn có nhiều KCN với nhiều doanh nghiệp cả trong và ngoài nước

2 Đặc trưng xã hội của mẫu khảo sát

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, thu thập thông tin với 400 chủ

hộ hoặc vợ/chồng chủ hộ gia đình thuộc diện chuyển đổi mục đích sử dụng

đất Một số đặc trưng xã hội của mẫu khảo sát như sau:

Giới tính: 77,2% số người trả lời là nam giới; nữ giới chiếm 22,8% Nhóm tuổi của người trả lời: Từ 18-39 tuổi chiếm 20,6%; từ 40-49 tuổi

chiếm 34,9%; từ 50-59 tuổi chiếm 27%; trên 60 tuổi chiếm 17,6%

Tình trạng hôn nhân: 92,4% số người được hỏi đã kết hôn; số người

chưa kết hôn chiếm 1%; ly thân/ly hôn chiếm 1%; góa chiếm tỷ lệ 5,6%

Học vấn của người được hỏi: trình độ tiểu học trở xuống chiếm 15,2%;

Trung học cơ sở chiếm 67,7%; THPT chiếm 13,4%; Trung cấp chiếm 2,3%; cao đẳng chiếm 0,3%; đại học chiếm 0,8%; không biết chữ chiếm 0,5% số người được hỏi

Nghề nghiệp hiện tại: 51,4% số người được hỏi là nông dân; công nhân

chiếm 2,8%; cán bộ công chức chiếm 3,8%; Buôn bán chiếm 5,8%; Lao động

tự do chiếm 30,9%; tiểu thủ công nghiệp chiếm 0,5%; Chủ cơ sở sản xuất có

tỷ lệ là 0,5%; Nội trợ là 0,8%; Học sinh sinh viên chiếm 0,5%; Lực lượng vũ trang chiếm 0,3%; hưu trí: 2%; nghề khác: 0,8%

Thời gian bị thu hồi đất: 23% số gia đình được hỏi đã chuyển đổi mục

đích sử dụng đất từ 7 năm trở lên; tỷ lệ hộ gia đình bị thu hồi đất từ 4 đến 6 năm trở lại đây là 38%; tỷ lệ hộ gia đình chuyển đổi trong 3 năm trở lại đây là 39,1%

Diện tích đất bị thu hồi: 24,6% số hộ gia đình được khảo sát bị thu hồi

dưới 35% tổng diện tích đất của gia đình; 23,5% số hộ bị thu hồi từ 35% đến dưới 70% diện tích đất họ có và 51,9% số hộ bị thu hồi trên 70% diện tích của gia đình

Cụ thể hơn, các loại đất bị thu hồi như sau:

Trang 34

CHƯƠNG II TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH

SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN LỐI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN

Ở KHU VỰC ĐANG CÔNG NGHIỆP HÓA, ĐÔ THỊ HÓA

Mặc dù các hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu mới chỉ tiến hành chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong khoảng mười năm trở lại đây nhưng bước đầu nhóm nghiên cứu cũng đã nhận thấy những thay đổi nhất định về lối sống của người dân Cần khẳng định ngay rằng sự biến đổi lối sống là một quá trình tiệm tiến, diễn ra trong thời gian dài và cần lưu ý phân biệt những biểu hiện thuộc về lối sống và những biểu hiện biến đổi văn hóa nói chung Quan tâm khảo sát tác động của chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống của người dân nhưng nhóm nghiên cứu luôn đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh CNH và ĐTH Bởi lẽ, sự thay đổi về lối sống là hệ quả của nhiều yếu tố chứ chưa hẳn chỉ do tác động duy nhất của chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất

Như các phần trên đã trình bày, nhận thức sự biến đổi lối sống là phải dựa trên những biểu hiện đã được cụ thể hóa trong thực tiễn thành các hành động, hoạt động mang tính phổ biến của cư dân khu vực chuyển đổi Bởi vậy, mối quan tâm của nhóm nghiên cứu là tìm kiếm những mô thức hành vi, kiểu quan hệ xã hội, thói quen sinh hoạt hay những quan niệm sống đã được hiện thực hóa trong cuộc sống hàng ngày của người dân

Trong phạm vi của nghiên cứu này, sự biến đổi lối sống được xác định

và nhận biết dựa trên các nhóm vấn đề chủ yếu như: hoạt động kinh tế; tình yêu, hôn nhân và quan hệ gia đình, dòng họ, cộng đồng; kinh doanh và sử dụng dịch vụ xã hội; nhu cầu và hành vi vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa tâm linh; cách thức tổ chức không gian sống Tuy nhiên, sau khi tiến hành khảo sát thực địa, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng: quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất mới được thực hiện trong thời gian ngắn nên chưa cho thấy

Trang 35

những tác động mạnh mẽ đến quan niệm và hành vi liên quan đến vấn đề tình yêu và hôn nhân Nói cách khác, một số biểu hiện thay đổi rõ nét về hôn nhân được xác định là hệ quả của hàng loạt yếu tố và diễn ra trong nhiều năm chứ không chỉ chịu ảnh hưởng trực tiếp của việc thực hiện chính sách chuyển đổi đất thời gian gần đây Bởi vậy, nhóm nghiên cứu trình bày một số khía cạnh của vấn đề này tập trung nhiều hơn trong phần phân tích về sự thay đổi trong quan hệ gia đình, dòng họ và cộng đồng

1 Sự thay đổi trong các hoạt động kinh tế

Chuyển đổi đất và lựa chọn nghề nghiệp

Các hoạt động kinh tế có ảnh hưởng rất quan trọng đối với sự hình thành các mô thức sống của người dân, trong đó đặc biệt quan trọng là các quan niệm và việc lựa chọn nghề nghiệp Bởi lẽ, chuyển đổi nghề nghiệp là vấn đề nổi bật, là sự biến đổi xã hội trực tiếp và dễ thấy nhất dưới tác động của chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở Việt Nam thời gian qua Tuy nhiên, xem xét các chiều cạnh của lối sống, nhóm nghiên cứu không chỉ quan tâm đến việc người dân đã chuyển sang làm những công việc gì mà còn tìm hiểu động lực sâu sa khiến họ chuyển đổi nghề nghiệp, nơi làm việc mới, tính chất công việc và quan niệm của người dân đối với các loại hình công việc cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của họ Nhóm nghiên cứu cùng các điều tra viên đã tiến hành phỏng vấn 400 chủ hộ hoặc vợ/chồng chủ hộ tại Vĩnh Phúc trong năm 2009 và có được kết quả như sau:

Bảng 1: Nghề nghiệp chính của người được hỏi tại hai thời điểm (Tỷ lệ %)

Trước khi bị thu hồi đất Hiện nay (2009)

Trang 36

Có thể thấy, trước khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất - tức là khoảng

8 năm trước đây, tuyệt đại đa số những người được hỏi là nông dân (91,2%); chỉ có tỷ lệ rất ít là cán bộ công chức (2,8%) hoặc làm lao động tự do (2,0%)

Số liệu này cho thấy địa bàn khảo sát trước khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất là một địa bàn thuần nông với cơ cấu nghề nghiệp khá đơn điệu

Nhưng sau chuyển đổi đất, tỷ lệ người dân làm nông nghiệp giảm xuống gần một nửa (51,4%) trong khi đó số người lao động tự do tăng lên gần gấp 15 lần (30,9%), những người làm nghề công nghiệp (công nhân, tiểu thủ công nghiệp, chủ cơ sở sản xuất) chỉ tăng từ 1,3% lên 2,8% Điều này cho thấy công tác chuẩn bị chuyển đổi nghề nghiệp cho người nông dân ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất chưa được tốt Có thể nói rằng chính sách không có sự chuẩn bị tốt, và kế hoạch chuyển đổi nghề nghiệp nếu có thì cũng không khả thi Những người nông dân tự bươn chải trong những công việc tự

do sẽ góp phần làm tăng sự mất ổn định trong xã hội, đặt ra những vấn đề xã hội mới hoặc làm trầm trọng hơn những vấn đề cũ

Điều đáng ngạc nhiên, địa bàn khảo sát là nơi diễn ra quá trình CNH rất mạnh mẽ với rất nhiều khu công nghiệp và đô thị mới nhưng số người làm công nhân công nghiệp và công chức nhà nước lại gia tăng không đáng kể, tương ứng là 2,8% và 3,8% vào thời điểm năm 2009 Điều này cho thấy những người làm việc tại các khu công nghiệp được hình thành trên vùng đất mới chuyển đổi mục đích sử dụng đại đa số là người từ nơi khác Theo lý giải của người dân, thực trạng này có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như: trình độ học vấn, tay nghề, tuổi tác, giới tính của người lao động khu vực chuyển đổi không đáp ứng được yêu cầu của các công việc mới

“ Các cháu trẻ, còn tuổi thì vào khu công nghiệp Tuổi tôi làm sao vào được? Đi chợ cũng khó khăn, tranh mua tranh bán, mỗi ngày may thì được 15-20 nghìn, không may thì lỗ Giờ chẳng biết làm gì Chỉ được mấy ngày mùa bận rộn rồi lại thôi Lại chờ gặt ” (PVS Nữ, 54tuổi, làm ruộng,

phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên)

“ Một năm 2 vụ, mỗi vụ được 1 tạ bảy Chăn nuôi, trồng thêm rau ăn Thu nhập chủ yếu là ruộng, ngoài ra chẳng có gì Thỉnh thoảng đi làm thuê, thợ xây… Nhưng không thường xuyên Ra Tết đã hết cả lúa rồi Mỗi năm thiếu ăn 4 tháng Việc gì cũng làm, miễn là có thu nhập ” (PVS Nam, 48

tuổi, làm ruộng và làm thuê tự do, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên)

Trang 37

Thực tế này cho thấy xu hướng tham gia thị trường lao động tự do vốn còn rất nhiều bấp bênh thay vì tham gia vào khu vực lao động chính thức của người dân vùng chuyển đổi Theo số liệu khảo sát, có tới 49,8% số người được hỏi đã trả lời là họ phải chuyển đổi nghề nghiệp là do không có đất canh tác; 33,2% do thiếu đất Đây là bằng chứng cho thấy, nhiều người dân buộc phải tìm nghề mới dù họ không hẳn đã muốn vậy

Cùng với sự lựa chọn việc làm mới, nơi làm việc cũng có thể phản ánh suy nghĩ, quan niệm của người dân, thể hiện khả năng thích ứng của người dân vào một bối cảnh mới (xem bảng 2) Số liệu khảo sát cho thấy, tại cả hai thời điểm, đa số người dân vẫn chỉ làm việc tại nhà hoặc tại cộng đồng quen thuộc của mình

Tuy nhiên, có một chút thay đổi đáng chú ý là số người lựa chọn các công việc chính tại nhà đã giảm (từ 61,3% giảm xuống còn 33,8% vào năm 2009) và số người lựa chọn các công việc ngoài gia đình đã tăng lên đáng kể (từ 35,9% tăng lên 62,2% vào thời điểm khảo sát) Điều này cho thấy, sự chuyển dịch nghề nghiệp đã diễn ra nhưng mức độ và phạm vi di động vẫn còn hạn chế Người dân vẫn có xu hướng gắn bó với các công việc gần nhà thay vì phải đi làm ở những nơi xa địa bàn cư trú Đây là một phát hiện phản ánh tâm lý, lối sống khá truyền thống của người dân tại các khu vực nông thôn của Việt Nam: họ chỉ rời nhà đi nơi khác khi đó là điều bắt buộc Ngược lại, khi cơ hội vẫn còn thì họ luôn có xu hướng gắn bó với gia đình và cộng đồng truyền thống của mình

Bảng 2: Sự thay đổi về nơi làm việc của người được hỏi (Tỷ lệ %)

Nơi làm việc Trước khi

Bị thu hồi đất Hiện nay (2009)

Trang 38

Bảng 3: Phương tiện đi làm của người dân tại hai thời điểm (Tỷ lệ %)

Thời điểm Phương tiện đi làm Trước khi

bị thu hồi đất

Hiện nay (2009)

Chuyển đổi đất và mong muốn nghề nghiệp

Sự thay đổi phương thức sinh sống và làm việc tất yếu làm thay đổi quan niệm, nhận thức của người dân về giá trị của các loại hình công việc cũng như các yếu tố có vai trò quan trọng đối với công việc chính của họ Nếu như trong xã hội nông nghiệp truyền thống, các yếu tố như sức khỏe, kinh nghiệm, sự cần cù chăm chỉ, số lượng lao động đông… luôn được người dân

đề cao thì trong xã hội hiện đại, bối cảnh CNH và ĐTH, rất có thể những quan niệm phổ biến đó của người dân đã thay đổi Kết quả khảo sát cho bảng

số liệu sau:

Trang 39

Bảng 4: Các yếu tố quan trọng đối với công việc chính của người được hỏi

(Tỷ lệ %; 1-2-3 là mức độ quan trọng, trong đó 1 là quan trọng nhất)

Năm bị thu hồi đất Hiện nay (2009) Các yếu tố

vị trí đất sản xuất kinh doanh đã được 14,9% số người trả lời coi là một trong

ba yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến công việc của họ hiện nay

Như vậy, có thể thấy sự chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang các nghề phi nông nghiệp đã làm thay đổi nhận thức, thái độ của người dân đối với các yếu tố liên quan đến công việc chính của họ Để có một công việc

ổn định với thu nhập tốt, đảm bảo cuộc sống thì rõ ràng người dân khu vực chuyển đổi đã phải đề cao các yếu tố mới như: kiến thức, kỹ năng, sự năng

Trang 40

động của bản thân, địa điểm sản xuất kinh doanh… chứ không chỉ phụ thuộc

vào các yếu tố truyền thống và phổ biến như sức khỏe, kinh nghiệm và diện

tích đất Sự thay đổi về nhận thức như vậy chắc chắn có ảnh hưởng rất tích

cực đến khả năng thích ứng của người dân vào cộng đồng xã hội mới với tính

chất công nghiệp và đô thị ngày càng rõ

Mong muốn về nghề nghiệp cho các thành viên trong gia đình khi đến

tuổi lao động là một chỉ báo có thể cho thấy định hướng giá trị, quan niệm của

người dân khu vực chuyển đổi về vấn đề lao động-việc làm Kết quả khảo sát

cho thấy, với tổng thể những người được hỏi, lĩnh vực làm việc và các loại

công việc mà những người được hỏi mong muốn lần lượt là: cán bộ, công

chức nhà nước (51,1%); Làm cho doanh nghiệp nước ngoài (17,7%); Làm

cho doanh nghiệp trong nước (16,5%); Tự tổ chức sản xuất kinh doanh

(7,1%) và Làm thuê tự do (7,6%)

Kết quả khảo sát cũng cho thấy một mâu thuẫn đáng chú ý, đó là: đa số

người được hỏi hiện tại đang làm nông nghiệp và lao động tự do nhưng chỉ rất

ít trong số họ mong muốn thành viên trong gia đình tham gia vào thị trường

lao động tự do (chỉ 7,6% số người trả lời); thậm chí không ai trong số họ

mong muốn thành viên gia đình làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

Trong khi đó, làm việc trong khu vực nhà nước vẫn chiếm ưu tiên hàng đầu,

kế đó là khu vực doanh nghiệp, cả doanh nghiệp trong nước và liên doanh

Bảng số liệu dưới đây cho thấy chi tiết hơn về mối quan hệ giữa diện tích đất

bị thu hồi và mong muốn nghề nghiệp/lĩnh vực làm việc của người được hỏi

Theo đó, diện tích đất bị thu hồi không phải là yếu tố có nhiều ảnh hưởng đến

mong muốn nghề nghiệp của người dân Dù bị thu hồi nhiều hay ít thì thứ tự

ưu tiên vẫn là: khu vực nhà nước, khu vực liên doanh với nước ngoài, khu

vực doanh nghiệp trong nước…

Bảng 5: Diện tích đất bị thu hồi và mong muốn nghề nghiệp (Tỷ lệ: %)

Diện tích đất bị thu hồi Mong muốn

nghề nghiệp/nơi làm việc Dưới 35% 35%-70% Từ Trên 70% Tổng

2 Làm cho doanh nghiệp nước ngoài 32,9 21,4 45,7 100

3 Làm cho doanh nghiệp trong nước 30,8 24,6 44,6 100

4 Tự tổ chức sản xuất kinh doanh 17,9 28,6 53,6 100

Ngày đăng: 16/04/2014, 00:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG QUY ĐỊNH NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT - Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa  nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú
BẢNG QUY ĐỊNH NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT (Trang 3)
Bảng 3: Phương tiện đi làm của người dân tại hai thời điểm (Tỷ lệ %) - Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa  nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú
Bảng 3 Phương tiện đi làm của người dân tại hai thời điểm (Tỷ lệ %) (Trang 38)
Bảng 7: Diện tích đất bị thu hồi và hành vi mua sắm phương tiện sinh hoạt - Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa  nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú
Bảng 7 Diện tích đất bị thu hồi và hành vi mua sắm phương tiện sinh hoạt (Trang 43)
Bảng 12: Diện tích đất bị thu hồi và sử dụng dịch vụ (Tỷ lệ %) - Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa  nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú
Bảng 12 Diện tích đất bị thu hồi và sử dụng dịch vụ (Tỷ lệ %) (Trang 57)
Bảng 11: Thời điểm sử dụng một số loại dịch vụ tại khu vực chuyển đổi - Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa  nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú
Bảng 11 Thời điểm sử dụng một số loại dịch vụ tại khu vực chuyển đổi (Trang 57)
Bảng 21: Mức độ tham gia/thực hiện các sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng - Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa  nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú
Bảng 21 Mức độ tham gia/thực hiện các sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng (Trang 75)
Bảng 3: Tỷ lệ người dân tham gia các hoạt động giải trí tại gia đình trong - Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa  nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú
Bảng 3 Tỷ lệ người dân tham gia các hoạt động giải trí tại gia đình trong (Trang 177)
Hình thức giải trí ngoài gia đình Tăng lên  Như cũ Giảm đi - Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa  nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú
Hình th ức giải trí ngoài gia đình Tăng lên Như cũ Giảm đi (Trang 179)
Hình này đã hoàn toàn thay đổi và có bước đột phá. Quá trình chuyển đổi mục - Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa  nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú
Hình n ày đã hoàn toàn thay đổi và có bước đột phá. Quá trình chuyển đổi mục (Trang 210)
Bảng 5: Bố trí chuồng trại trong không gian cư trú và sinh hoạt của người - Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa  nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú
Bảng 5 Bố trí chuồng trại trong không gian cư trú và sinh hoạt của người (Trang 247)
Bảng 3: Phương tiện đi làm của người dân tại hai thời điểm (Tỷ lệ %) - Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa  nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú
Bảng 3 Phương tiện đi làm của người dân tại hai thời điểm (Tỷ lệ %) (Trang 261)
Bảng số liệu dưới đây cho thấy chi tiết hơn về mối quan hệ giữa diện tích đất bị - Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa  nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú
Bảng s ố liệu dưới đây cho thấy chi tiết hơn về mối quan hệ giữa diện tích đất bị (Trang 265)
Bảng số liệu trên cho thấy, với những gia đình bị thu hồi nhiều đất và nhận  được nhiều tiền đền bù thì hành vi mua sắm được thực hiện nhiều hơn - Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa  nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú
Bảng s ố liệu trên cho thấy, với những gia đình bị thu hồi nhiều đất và nhận được nhiều tiền đền bù thì hành vi mua sắm được thực hiện nhiều hơn (Trang 267)
Bảng 7: Diện tích đất bị thu hồi và hành vi mua sắm phương tiện sinh hoạt - Báo cáo kết quả đề tài khoa học : Tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa  nghiên cứu thực tế tại vĩnh phú
Bảng 7 Diện tích đất bị thu hồi và hành vi mua sắm phương tiện sinh hoạt (Trang 268)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm