Trong tác phẩm này, 10 giai tầng xã hội của xã hội Trung Quốc đương đại cũng được chỉ ra, bao gồm: 1 Giai tầng những nhà quản lí nhà nước và xã hội có nguồn lực tổ chức; 2 Giai tầng nhữ
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
-
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIấN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010
MÃ SỐ: B10.16
Đề tài: Sự hình thành tầng lớp xã hội ưu trội
và vai trò của nó ở việt nam trong phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
Cơ quan chủ trỡ : Viện Xó hội học Chủ nhiệm đề tài : GS,TS Nguyễn Đình Tấn Thư ký đề tài : GS,TS Lờ Ngọc Hựng
8536
Hà Nội - 2010
Trang 2ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ TUYỂN CHỌN NĂM 2010
Đề tài: “Sự hình thành tầng lớp x∙ hôi ưu trội và vai trò của nó ở việt nam trong quá trình phát triển
kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế”
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ đổi mới toàn diện đời sống kinh tế-xã hội thời gian qua ở Việt Nam đã xuất hiện và phát triển nhiều nhóm xã hội, nhiều tầng lớp mới tạo nên cơ cấu phân tầng xã hội phong phú và năng động hơn hẳn so với thời kỳ trước đó Một số nhóm xã hội đã vượt trội lên hẳn so với các nhóm khác nhờ những ưu thế nhất định về năng lực, phẩm chất và khả năng nắm bắt cơ hội để vượt lên dẫn đầu về mức sống vật chất và tinh thần Nhóm xã hội ưu trội bao gồm các cá nhân và tổ chức lao động giỏi được Đảng, Nhà nước và xã hội ghi nhận, tôn vinh Nhóm xã hội ưu trội còn bao gồm cả những cá nhân, hộ gia
đình, tổ chức đi đầu trong việc đổi mới sản xuất kinh doanh và nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong số các nhóm xã hội mới phát triển mạnh trong thời gian qua nổi bật nhất là tầng lớp các doanh nhân đang chủ động và tích cực hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và được xã hội đánh giá cao Hàng năm chúng ta đã tổ chức ngày Doanh nhân Việt Nam và nhiều sự kiện quan trọng trên cả nước để vinh danh những doanh nhân giỏi
Nhiều nghiên cứu về phát triển doanh nghiệp đã nhấn mạnh vai trò của
đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Một số nghiên cứu đã chú ý đến vai trò xã hội và trách nhiệm xã hội của nhóm doanh nhân trong việc tạo ra các cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Có thể nói, nhóm doanh nhân Việt Nam đang là một
Trang 3trong các nhóm xã hội đi đầu trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và do vậy
đang làm biến đổi cơ cấu kinh tế ở nước ta trong thời gian qua
Trên thực tế, nhóm xã hội ưu trội về mặt kinh tế đã xuất hiện ở cả thành thị
và nông thôn Trong khu vực thành thị, nhất là ở những thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng đã xuất hiện nhóm xã hội ưu trội trong lĩnh vực kinh tế như nhóm các doanh nhân, nhóm xã hội ưu trội trong lĩnh vực văn hoá như nhóm các văn, nghệ sĩ trẻ, nhóm xã hội ưu trội trong lĩnh vực khoa học và công nghệ gồm các thày cô giáo dạy giỏi và những nhà khoa học tài ba Trong khu vực nông thôn, nhóm xã hội ưu trội đang nổi lên mạnh mẽ là những nhóm nông dân làm trang trại, những tiểu chủ của các cơ sở sản xuất nông nghiệp, kinh doanh nông sản và cung cấp các nguyên liệu, công cụ phương tiện và dịch vụ phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tuy nhiên, song hành với sự hình thành và lớn lên của nhiều nhóm xã hội ưu trội, hợp thức mang lại lợi ích hài hòa cho cá nhân, tập thể và xã hội,
đồng thời đang đóng vai trò đầu tầu, cuốn hút xã hội đi lên, được Đảng, Nhà nước và xã hội tôn vinh thì cũng có sự “phất lên” của một số người Họ cũng trở nên giàu có, có địa vị xã hội cao nhưng không phải do tài năng, đức độ, sự cống hiến đóng góp của mình mà là do làm ăn phi pháp, chốn thuế, lậu thuế, biển thủ của công, chạy chọt, luồn lọt, xu nịnh liên minh, móc ngoặc với một
số phần tử có thế lực song bị thoái hóa, biến chất trong cơ quan công quyền…
Đây là những nhóm xã hội làm giàu bất chính, bất hợp pháp, gây nhiều tai tiếng và bức xúc cho xã hội
Đã có không ít các nghiên cứu về cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội và biến đổi xã hội trong đó đã phân tích sự hình thành và biến đổi các giai tầng xã hội Một số bài viết đăng trên tạp chí khoa học đã đánh giá vai trò của tầng lớp trung lưu trên và nhóm vượt trội trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tập trung phân tích cơ chế, điều kiện, nguyên nhân và vai trò của sự hình thành và phát triển các nhóm xã hội
ưu trội ở Việt Nam trong thời gian qua Nhiều hiện tượng mới gắn với sự hình
Trang 4thành nhóm xã hội ưu trội cũng như vai trò của nhóm xã hội này cần được phân tích, giải thích và có những biện pháp phù hợp để quản lí theo hướng thúc
đẩy sự phát triển các nhóm xã hội ưu trội tích cực, điều tiết và định hướng các nhóm xã hội ưu trội vào việc thực hiện hài hoà các mục tiêu của xã hội
Trước tình hình đó, đề tài “Sự hình thành tầng lớp x∙ hôi ưu trội và vai trò của nó ở Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội nói chung, cơ cấu giai tầng xã hội nói riêng Các lý thuyết xã hội học về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội có ý nghĩa nền tảng Các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về cơ cấu giai tầng xã hội, trong đó nổi bật là các lý thuyết của K.Marx, M.Weber, quan điểm lý thuyết của các tác giả như Giddens, Kerbo Harold, John, Kerby Markm, v,v hoặc lý thuyết hiện đại hoá (W.Rostow và các tác giả khác), lý thuyết về sự phụ thuộc (A.G.Frank và các tác giả khác),
lý thuyết về sự kém phát triển trong hệ thống thế giới (I.Wallenstein)
Các nghiên cứu về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội quan tâm đến các nước giàu và nước nghèo, vùng giàu và vùng nghèo ở tất cả các châu lục Âu -
Mỹ, á - Phi trên các mặt kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội Từ đó phân tích các giai tầng trong xã hội trên những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, những nghiên cứu thực nghiệm hiện nay hầu hết chỉ tập trung vào chủ đề người nghèo và xoá
đói giảm nghèo Các tổ chức như World Bank, UNDP đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu trên lĩnh vực này nhưng cũng chỉ xoay quanh chủ đề người nghèo và giảm nghèo Trong khi đó mặt bên kia của vấn đề, người giàu và những năng lực vượt trội kinh tế và tiến bộ xã hội - văn hoá của họ ở các nước đang phát triển chưa được các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách chú ý nhiều
Trang 5Công trình nghiên cứu do tác giả Lục Học Nghệ chủ biên: “Báo cáo
nghiên cứu giai tầng xã hội Trung Quốc đương đại”, nhà xuất bản Văn Hiến,
Bắc Kinh đã xuất bản Tác giả đã vận dụng một hướng tiếp cận mới gọi là
“Giai tầng luận” để thay thế cho quan điểm giai cấp cứng nhắc của những thời
kỳ trước Tác giả phân loại xã hội Trung Quốc thành 5 đẳng cấp kinh tế xã hội
lớn gồm: (1) Thượng tầng: các cán bộ lãnh đạo cấp cao, giám đốc các công ty
lớn, nhân viên chuyên nghiệp cao cấp và chủ doanh nghiệp tư nhân lớn; (2)
Trung thượng tầng: cán bộ lãnh đạo vừa và nhỏ, người quản lí cấp trung ở các
doanh nghiệp lớn, giám đốc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhân viên kỹ
thuật chuyên nghiệp cấp trung và chủ những doanh nghiệp vừa; (3) Trung
trung tầng: nhân viên kỹ thuật trình độ sơ cấp, chủ những doanh nghiệp nhỏ,
nhân viên văn phòng, hộ công thương cá thể, công nhân kỹ thuật trung và cao
cấp, những hộ kinh doanh nông nghiệp lớn; (4) Trung hạ tầng: những người
lao động cá thể, nhân viên ngành phục vụ, thương nghiệp nói chung, công
nhân, nông dân; (5) Tầng đáy: những công nhân có cuộc sống nghèo khổ và
không có sự đảm bảo về việc làm, nông dân và những người không có nghề nghiệp, thất nghiệp và bán thất nghiệp Trong tác phẩm này, 10 giai tầng xã
hội của xã hội Trung Quốc đương đại cũng được chỉ ra, bao gồm: (1) Giai
tầng những nhà quản lí nhà nước và xã hội (có nguồn lực tổ chức); (2) Giai tầng những nhà giám đốc (có nguồn lực, văn hoá và tổ chức); (3) Giai tầng những chủ doanh nghiệp tư nhân (có nguồn lực kinh tế); (4) Giai tầng những nhân viên kỹ thuật chuyên nghiệp (có nguồn lực văn hoá); (5) Giai tầng những nhân viên văn phòng (có ít nguồn lực văn hoá và nguồn lực tổ chức); (6) Giai tầng những hộ công thương cá thể (có ít nguồn lực kinh tế); (7) Giai tầng những công nhân viên phục vụ, thương nghiệp (có rất ít cả ba nguồn lực tổ
chức, kinh tế và văn hoá); (8) Giai tầng những công nhân trong các xí nghiệp (có rất ít cả ba nguồn lực tổ chức, kinh tế và văn hoá); (9) Giai tầng người lao
động nông nghiệp (có rất ít cả ba nguồn lực tổ chức, kinh tế và văn hoá); (10) Giai tầng những người không nghề nghiệp, thất nghiệp và bán thất nghiệp (về
Trang 6cơ bản không có cả ba nguồn lực tổ chức, kinh tế và văn hoá) Quan điểm giai
tầng luận là phù hợp với thực tế xã hội thời cải cách, khai phóng, mở cửa của nhà nước Trung Hoa hiện đại Nghiên cứu của tập thể tác giả này là một gợi ý rất quan trọng để các nhà nghiên cứu tiếp tục thực hiện các phân tích của mình trên lĩnh vực phân tầng xã hội và biến đổi cơ cấu xã hội ở các nước đang phát triển kiểu như Trung Quốc, các nước ASEAN
Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước Kể từ đó đến nay nước ta đã có những thay đổi to lớn trên các mặt cả về kinh tế, xã hội, văn hoá… Cơ chế kinh tế thị trường đã phát huy hiệu quả của nó ở tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định cùng với việc nâng cao mức sống của hầu hết các tầng lớp dân cư Bên cạnh những mặt tích cực mà tăng trưởng kinh tế đem lại thì quá trình này cũng sản sinh ra một số hậu quả xã hội cần phải giải quyết, trong đó sự phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội trong các nhóm dân cư, giữa khu vực nông thôn - đô thị, giữa các vùng miền, đặc biệt, tại các đô thị lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, mức độ chuyển biến đang diễn ra với một tốc độ nhanh chóng và sâu sắc Theo đó, không còn giống như thời kỳ trước, tức là xã hội Việt Nam hiện nay không chỉ có hai giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức Cùng với
sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đã và đang xuất hiện thêm một số
tầng lớp xã hội khác như tầng lớp doanh nhân, trí thức khoa học công nghệ
cao, giới văn nghệ sỹ thời kỳ đổi mới Sự xuất hiện thêm các tầng lớp xã hội
mới làm cho cơ cấu giai tầng xã hội trở nên phức tạp, phong phú hơn
Trong số nhiều công trình, bài báo về những vấn đề này, phải kể đến hai bài báo đáng chú ý sau:
Bài thứ nhất: "Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội của giai cấp nông dân ở
Đồng bằng sông Cửu Long" trên Tạp chí Cộng sản số 38/2003, tác giả Lê
Ngọc Triết đã chỉ ra "khả năng xuất hiện một tầng lớp trung lưu, giàu có trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế trang trại" theo tác giả, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế trang trại nông thôn ở
Trang 7vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã xuất hiện một lực lượng sản xuất mới, tiếp sức cho đông đảo nông dân làm ăn tốt hơn Đó là tầng lớp trung lưu, một lực lượng sản xuất có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp có tính chất hàng hoá Họ không những thành thạo về kỹ thuật sản xuất mà còn nhạy bén với thị trường, biết hạch toán kinh tế, biết cách tổ chức kinh doanh, có kiến thức về khoa học - kỹ thuật, về tổ chức sản xuất, có tư duy năng động
Đây là nhân tố mới, tập hợp nông dân đi lên sản xuất lớn bằng nhiều hình thức, bước đi thích hợp, từng bước phát triển và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa
Bài thứ hai: "Về nhóm xã hội trung lưu ở Việt Nam hiện nay" trên Tạp
chí Cộng sản số 2 + 3 (122+123) năm 2007, tác giả Nguyễn Thanh Tuấn cũng
đề cập đến sự hình thành, phát triển của nhóm xã hội trung lưu ở Việt Nam hiện nay
Theo tác giả, thuật ngữ "nhóm hộ gia đình khá giả" hoặc "nhóm xã hội trung lưu" có ở tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội Nhóm này được phân biệt với hai nhóm xã hội khác là nhóm giàu và nhóm nghèo
Tỷ lệ nhóm này càng lớn thì càng giữ vai trò trung hoà tốt hơn sự phân hoá xã hội theo hai cực đối lập; tức là hạn chế sự phân hoá theo hướng tiêu cực; cũng theo tác giả, nhóm xã hội trung lưu chủ yếu bao gồm những phần tử
ưu tú của các giai cấp, tầng lớp cơ bản trong xã hội và cần nhìn nhận nó như một nhóm xã hội tích cực
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, hai tác giả Lê Ngọc Triết cũng như Nguyễn Thanh Tuấn đều có những quan tâm chung cũng như những nhận xét tương đối giống nhau về "tầng lớp xã hội trung lưu" hay "nhóm xã hội trung lưu" Tuy nhiên cả hai tác giả mới chỉ xem xét "tầng lớp xã hội trung lưu" như
là những cá nhân, hoặc "nhóm hộ gia đình khá giả" mà chưa xem nó như là một tầng lớp xã hội "ưu trội" tức là tầng lớp ưu tú, "trội vượt lên", "vươn lên",
"trội lên" từ khắp các giai cấp, tầng lớp trong cơ cấu - giai tầng xã hội (công nhân, nông dân, thợ thủ công, cán bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ, doanh
Trang 8nhân, trí thức, nhà lãnh đạo quản lý, công chức, viên chức, công an, bộ đội ) Các tác giả của các bài báo trên cũng chưa có những phân biệt cần thiết trong nội bộ của tầng lớp trung lưu giữa những người vượt trội hợp thức (tức là những người giàu lên, có uy tín, vị trí ảnh hưởng cao lên là do tài năng, đức
độ, cống hiến, những đóng góp thực tế hợp thức, hợp pháp của họ cho xã hội, với một bộ phận khác của tầng lớp trung lưu giàu lên, có vị thế cao lên, hoặc
"phất lên" là do tham nhũng, biển thủ của công, làm ăn phi pháp, chạy chọt, luồn lọt, xu nịnh, mánh khoé, thủ đoạn mà có
Ngoài hai bài báo trên phải kể đến khá nhiều các công trình, bài viết của nhiều tác giả khác cũng bàn bạc, phân tích trực tiếp, gián tiếp ở mức độ nhiều
ít khác nhau đến chủ đề này hoặc xung quanh các chủ đề này
Tuy nhiên, đặc điểm của những nghiên cứu này là mới chỉ tập trung vào phân tích cơ cấu xã hội theo chiều dọc), tức là tập trung vào phân tích sự phân hoá giàu - nghèo, khoảng cách giữa các nhóm theo chỉ báo kinh tế, thu nhập, mức sống
và thường thiên về việc nghiên cứu các nhóm xã hội nghèo, yếu thế trong tháp phân tầng xã hội Những nghiên cứu chuyên sâu phân tích thực trạng và xu hướng
biến đổi của các tầng lớp x∙ hội ưu trội, vượt trội vẫn còn thưa vắng
Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, những nghiên cứu về
tầng lớp xã hội ưu trội, nhóm vượt trội cũng đã được đề cập nhưng mới chỉ ở
mức độ khởi thảo ý tưởng, chưa có sự đầu tư tập trung nên kết quả đạt được cũng mới chỉ dừng lại ở mức có được những nhận diện ban đầu về các tầng lớp, nhóm xã hội này mà chưa chỉ rõ những điều kiện, nguyên nhân, cơ hội và thách thức cũng như các chính sách xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển các tầng lớp, các nhóm này như đội ngũ tiên phong trong tiến trình đổi mới, phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Sự hình thành tầng lớp xã hội "ưu trội" gắn chặt với quá trình hình thành cấu trúc phân tầng xã hội hợp thức Họ là tầng lớp ưu tú "trội vượt", vươn lên,
"trội lên" từ khắp các giai cấp, tầng lớp trong cơ cấu - giai tầng xã hội (công nhân, nông dân, thợ thủ công, các nhà khoa học kỹ thuật, công nghệ, doanh
Trang 9nhân, trí thức, nhà lãnh đạo quản lý, công chức, viên chức, bộ đội, công an )
Họ cần được Đảng, Nhà nước, các đoàn thể xã hội và nhân dân nói chung nhìn nhận, đánh giá một cách đúng đắn, tài năng, công lao của họ, đánh giá đúng
đắn, công bằng giá trị đóng góp, cống hiến của lao động, lãnh đạo, quản lý, lao động khoa học, kỹ thuật, công nghệ của họ; tôn vinh họ, vinh danh họ; có chế độ lương thưởng, thù lao xứng đáng với những đóng góp to lớn của họ; chú ý theo dõi, thu hút, khích lệ đào tạo, sắp xếp, bổ nhiệm họ vào các vị trí then chốt của bộ máy quyền lực (trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như: chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, giáo dục, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, giao dịch, thương mại ); Đảng, Nhà nước cần nhìn nhận họ như là một lực lượng xã hội tích cực, tạo mọi môi trường; "thời hậu" điều kiện thuận lợi, an toàn, đưa ra các chế độ, chính sách, quy trình đào tạo, sử dụng một cách khoa học, nhất quán để họ có thể phát huy được tối đa tài năng, nhiệt huyết của mình, từ đó mà trở thành những "đầu tầu" sung mãn, những mạnh thường quân đầy bản lĩnh, trí tuệ, quả cảm, những người ưu tú, đi tiên phong, thúc đẩy
và dẫn dắt xã hội đi lên
Xuất phát từ những yêu cầu về lí luận và thực tiễn nêu trên, việc triển
khai nghiên cứu đề tài: “Sự hình thành tầng lớp xã hôi ưu trội và vai trò của
nó trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế” có
một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc kiến giải lý luận, cung cấp chứng cứ lên các cấp lãnh đạo quản lý của Đảng và Nhà nước, qua đó có cơ sở khoa học
để hoạch định đường lối đổi, mới chính sách, điều chỉnh và tạo lập những hành lang pháp lý hợp thức, thông thoáng nhằm phát huy tính tích cực vai trò
của tầng lớp xã hội ưu trội trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 103 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
3 1 Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn về sự hình thành tầng lớp xã hội ưu trội và vai trò của nó trong quá trình phát triển đất nước, đề tài
đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của tầng lớp xã hội này hướng tới mục tiêu xây dựng một xã hội năng động, "phân tầng xã hội hợp thức" dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Hệ thống hoá và phân tích những khái niệm, lý thuyết cơ bản về sự biến đổi xã hội, phân tầng xã hội và sự hình thành, phát triển các nhóm xã hội
- Tổng quan những nghiên cứu hiện có về sự hình thành và phát triển các nhóm xã hội, các giai tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay
- Thiết kế cuộc khảo sát để thu thập thông tin cần thiết nhằm làm rõ cơ chế và các điều kiện hình thành tầng lớp xã hội ưu trội ở Việt Nam
- Phân tích các dữ liệu định lượng và định tính để làm rõ thực trạng và vai trò của tầng lớp xã hội ưu trội ở nước ta hiện nay
- Vạch ra các xu hướng phát triển của tầng lớp xã hội ựu trội
- Đề xuất các giải pháp quản lý sự phát triển tầng lớp xã hội ưu trội và
sự phân tầng xã hội hợp thức ở Việt Nam
3.3 Đối tượng và phạm vi của đề tài
3.3.1 Đối tượng của đề tài
Nghiên cứu nhằm làm rõ cơ chế, điều kiện hình thành, phát triển và vai trò của tầng lớp xã hội ưu trội trong cơ cấu phân tầng xã hội ở Việt Nam
Trang 113.3.2 Phạm vi của đề tài
Phạm vi thời gian: nghiên cứu tập trung làm rõ những vấn đề về sự hình
thành, phát triển và vai trò của tầng lớp xã hội ưu trội ở Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay
Phạm vi không gian: Nghiên cứu này tập trung thu thập, xử lý và phân
tích các tài liệu hiện có và những dữ liệu mới thu được từ cuộc khảo sát về sự xuất hiện các nhóm xã hội ưu trội (tầng lớp xã hội ưu trội) ở nước ta hiện nay
Dự kiến, cuộc khảo sát sẽ được thực hiện ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn
4 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
4 1 Giả thuyết
Đề tài hướng vào kiểm chứng một số giả thuyết nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã xuất hiện những nhóm xã hội ưu trội về kinh tế, uy tín xã hội và vị thế quản lí trong cơ cấu phân tầng xã hội
- Sự hình thành và phát triển các nhóm xã hội ưu trội phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như sự nỗ lực học tập, phấn đấu của cá nhân, sự đầu tư của gia
đình và cơ may nghề nghiệp trên thị trường lao động
- Vai trò của tầng lớp xã hội ưu trội được thể hiện trên các mặt chính sau: tiên phong, đầu tầu; thúc đẩy, dẫn dắt; nêu gương, cuốn hút; hỗ trợ, bảo trợ
- Tầng lớp xã hội ưu trội ở Việt Nam có xu hướng phát triển về cả số lượng và loại hình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Trang 12Điều kiện địa lý kinh tế của cộng đồng
Quá trình phát triển Kinh tế thị trường
và hội nhập kinh tế thế giới
Tầng lớp x∙
hội
ưu trội
Ưu trội về mặt năng lực kinh tế
Ưu trội về
uy tín xã hội
Ưu trội về quyền năng
Vai trò của tầng lớp x∙
hội
ưu trội
Tiên phong
đầu tầu
Thúc đẩy dẫn dắt
Nêu gương cuốn hút
Hỗ trợ, bảo trợ
Trang 135 Nội dung nghiên cứu
Toàn bộ nội dung nghiờn cứu của đề tài được kết cấu thành cỏc phần sau đõy:
Phần mở đầu trỡnh bày lý do lựa chọn đề tài, mục đớch nghiờn cứu, giả thuyết nghiờn cứu, khung lý thuyết và phương phỏp nghiờn cứu
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1 trỡnh bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 phõn tớch cỏc kết quả nghiờn cứu lý luận và thực tiễn về thực trạng và vai trũ của tầng lớp xó hội ưu trội
Chương 3 phõn tớch cỏc yếu tố tỏc động, xu hướng biến đổi và định hướng giải phỏp quản lý sự hỡnh thành, phỏt triển tầng lớp xó hội ưu trội
cụ thể trong thu thập, xử lí và phân tích dữ liệu
6.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở phương pháp luận của nghiên cứu về sự xuất hiện và phát triển các nhóm xã hội trong đó có tầng lớp (nhóm) xã hội ưu trội ở cấp độ phương pháp luận đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước cũng như những lý thuyết tổng quát của xã hội học về cơ cấu phân tầng xã hội, biến đổi xã hội
Trang 146.2 Các phương pháp thu thập, xử lý, phân tích dữ liệu
Phương pháp phân tích tài liệu
Đề tài thu thập và phân tích các kết quả nghiên cứu hiện có về cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua Trong số đó có kết quả của các cuộc điều tra chọn mẫu về mức sống hộ gia đình trên phạm vi cả nước qua các năm từ 1992 đến nay và các nghiên cứu khác có liên quan
Phương pháp tham vấn chuyên gia
Đề tài sẽ tổ chức các cuộc gặp gỡ, trao đổi, đặt viết bài chuyên khảo và seminar khoa học về những chủ đề cụ thể của đề tài để qua đó có thể phát hiện những vấn đề mới đặt ra đối với sự hình thành, phát triển tầng lớp xã hội ưu trội và vai trò của nó trong phát triển kinh tế-xã hội
Phương pháp điều tra xã hội học
Điều tra bằng phiếu câu hỏi: Đề tài tiến hành điều tra bằng phiếu câu
hỏi tiêu chuẩn hóa đối với 50 cá nhân đang tích cực hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau
Phỏng vấn sâu: phỏng vấn sâu 20 người làm việc trong những lĩnh vực
chủ chốt của đời sống xã hội như: kinh tế, khoa học-công nghệ, văn hoá-nghệ thuật-thể thao và các giai tầng: trí thức, công nhân, nông dân…
Thảo luận nhóm: đề tài sẽ tiến hành 5 cuộc thảo luận nhóm với các
nhóm đối tượng thuộc các lĩnh vực và các giai tầng trong xã hội
Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu một số trường hợp điển hình bằng cách tìm hiểu lịch sử gia đình, tiểu sử cá nhân, đường đời của một số cá nhân đã có những đóng góp nổi bật trong từng lĩnh vực hoạt động nhất định Phương pháp này sẽ giúp làm rõ nhu cầu, động cơ, ý nghĩa của những sự kiện và những nỗ lực của những cá nhân thuộc tầng lớp xã hội ưu trội
Trang 157 Lực lượng tham gia:
8 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Góp phần vào việc phát triển tư duy lý luận về cơ cấu xã hội, giai tầng xã hội, qua đó làm phong phú thêm những kiến giải thực tiễn về tầng lớp xã hội ưu trội trong thời kỳ đổi mới đất nước
- Cung cấp những kiến giải lý luận và chứng cứ thực tiễn về sự hình thành một tầng lớp xã hội mới - tầng lớp xã hội ưu trội, theo đó là vai trò tiên phong,
đầu tầu ngày một to lớn của họ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay
Trang 16Phần Nội dung
Chương I
Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự hình thành tầng lỡp
x∙ hội ưu trội
1.1 Quan điểm của Marx về sự phân tầng xã hội
Tony Bilton và cộng sự - tác giả của cuốn sách Nhập môn xã hội học (xuất bản lần thứ 2; 1987 tại Mỹ) cho rằng, bất kỳ một lý thuyết phân tầng nào cũng đều bằng cách này, cách khác vay mượn cách lý giải của Marx về giai cấp, ngay cả khi nhà xã hội học đó kết thúc bằng cách bài bác Marx 1 Cùng với Tony Bilton, nhiều nhà xã hội khác cũng cho rằng, có thể coi luận điểm của Marx về giai cấp như là luận điểm "gốc" cho các nhà xã hội học dựa vào
đó hoặc xoay quanh đó để phân tích Mặt khác, cũng có thể hiểu sự lý giải của Marx về giai cấp như là một dạng lý giải đặc biệt riêng, độc đáo về phân tầng xã hội Thật vậy, theo sự phân tích của Marx, sự tồn tại của chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, kéo theo đó là sự phân phối bất bình đẳng về của cải vật chất, sản phẩm lao động trong xã hội là nét chung, phổ biến của mọi xã hội có giai cấp, là yếu tố thường xuyên, trực tiếp dẫn đến phân tầng xã hội, phân hoá xã hội Kết cục của nó là sự hình thành các mô hình giai cấp đối kháng chủ yếu trong xã hội - giai cấp ngưòi giàu thống trị, bóc lột và giai cấp người nghèo, bị trị, bị bóc lột
1 Xem Tonny Bilton Nhập môn xã hội học (NXB Macmillan Press LTD (xuất bản lần thứ hai) - 1987) - NXB KHXH - Hà nội 1993 Do Phạm Thuỷ Ba dịch( trang 56-57)
Trang 17Cũng theo Marx, “Những thứ mà giai cấp tư sản thống trị có được không phải nhờ ở những phẩm chất cá nhân hay phẩm chất con người của hắn,
mà chỉ có được với tư cách là người sở hữu tư bản"1
Cũng theo tuyến phân tích như vậy, Marx cho rằng, mối quan hệ quyền lực được xây dựng trên cơ sở của cơ cấu xã hội mà nét chính là sự tồn tại của những giai cấp đối lập Cơ cấu quyền lực trong các xã hội có đối kháng giai cấp bị quy định bởi cơ cấu giai cấp, cơ cấu kinh tế, mà trung tâm của nó là hình thức đặc thù của các mối quan hệ sở hữu Theo Mác, sự phát triển của sản xuất, chế độ sở hữu đã dẫn đến những mâu thuẫn trong kết cấu kinh tế (mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiến bộ ngày càng được xã hội hoá với sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, lạc hậu lỗi thời) Biểu hiện về mặt xã hội của nó
là sự bất bình đẳng về địa vị xã hội và quyền lực
Giai cấp thống trị nắm được tư liệu sản xuất, sẽ nắm luôn quyền lực tổ chức sản xuất, phân phối sản phẩm và thống trị các giai cấp khác về mặt chính trị và tinh thần Như vậy, người sở hữu về mặt kinh tế thì đồng thời cũng là người nắm quyền lực chính trị, sở hữu quyền lực chính trị Những quan hệ kinh tế cơ bản "nhào nặn" các khía cạnh khác của cấu trúc xã hội Nhà nước, pháp luật, chính trị, tôn giáo đều phản ánh và biện minh cho những quan hệ kinh tế cơ bản Cấu trúc của thượng tầng kiến trúc với những tư tưởng và thiết chế xã hội tái hiện cơ sở kinh tế
Do cấu trúc quyền lực, quan hệ quyền lực bị quy định bởi cơ cấu kinh tế
- xã hội cho nên, nền chính trị của nhà nước không phải cái gì khác hơn là nền chính trị của một giai cấp Theo Marx và Ăngghen, "những tư tưởng thống trị trong mỗi thời đại, chính là tư tưởng của giai cấp thống trị" Giai cấp nào nắm
được những phương tiện vật chất trong tay, thì đồng thời cũng nắm được sự kiểm soát các giai cấp khác về mặt chính trị tinh thần Các ông cũng cho rằng:
"Tổ chức hành pháp của nhà nước hiện đại không phải là cái gì khác hơn ngoài một uỷ ban quản lý công việc chung của giai cấp tư sản"
1 K.Marx và Ph Ăngghen Toàn tập T42 Nxb CTQG Hà Nội 1995 Tr 89
Trang 18Với một cấu trúc bất bình đẳng về mặt kinh tế xã hội trong xã hội có
đối kháng giai cấp, thì việc nảy sinh quyền lực thống trị (giữa kẻ thống trị và
bị trị là một tất yếu) không thể khắc phục được và nhóm xã hội nào có đặc quyền nhất trong cơ cấu kinh tế - xã hội thì cũng là nhóm có quyền lực chính trị, có ảnh hưởng và sức mạnh chi phối nhất đến các giai cấp khác
Theo sự phân tích trên của Marx, cơ cấu xã hội chủ yếu được xem xét theo một "trục thẳng đứng" tức là quyền lực chính trị phụ thuộc trực tiếp vào quyền lực kinh tế; Giai cấp nào nắm vị trí chủ đạo trong kinh tế thì giai cấp đó
sẽ nắm được quyền lực chính trị và có khả năng chi phối các giai cấp khác về mặt tư tưởng, tinh thần
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, "quyền sở hữu tư nhân về tài sản nói chung về tư liệu xã hội nói riêng được coi là quyền bất khả xâm phạm" Giai cấp tư sản thống trị luôn tìm mọi cách để hợp pháp hoá, thể chế hoá quyền sở hữu này thành các quy tắc, văn bản pháp luật nhằm duy trì, bảo vệ và kế thừa cấu trúc bất bình đẳng về mặt kinh tế, chính trị và địa vị xã hội có lợi cho mình Tuy nhiên, theo sự phân tích của Marx, do mâu thuẫn nội tại trong lòng xã hội tư bản là có tính chất đối kháng và không thể dung hoà được, bởi vậy
nó luôn chứa đựng tiềm tàng cuộc đấu tranh chống đối của giai cấp vô sản bị
áp bức, bóc lột đối với giai cấp tư sản thống trị nhằm tạo ra sự biến đổi cách mạng và tiến bộ xã hội
Marx cũng cho rằng, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại chủ nghĩa tư bản chỉ có thể trở thành cuộc cách mạng chính trị một khi những yếu
tố kinh tế, chính trị, xã hội đã chín muồi trong lòng chủ nghĩa tư bản và bản thân giai cấp vô sản phải có sự trưởng thành chính trị, họ được trang bị lý luận khoa học, giác ngộ về lợi ích giai cấp và cuộc đấu tranh được chuyển từ tự phát sang tự giác Marx và người bạn chiến đấu của mình là Ph Ăngghen đã
dự đoán rằng: "Cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa không những có tính
Trang 19chất dân tộc mà sẽ đồng thời nổ ra ở tất cả các nước văn minh, ít nhất là ở Anh, Mỹ, Pháp, Đức"1
Cũng theo Marx, cuộc cách mạng vô sản này diễn ra không giống với những cuộc cách mạng xã hội trước đó, bởi nó không tái cấu trúc một xã hội bất bình đẳng mới Nó không dẫn đến việc hình thành một giai cấp bóc lột mới mà là xoá bỏ mọi sự bóc lột và áp bức giai cấp
Marx viết, "Giai cấp vô sản, khi nắm chính quyền nhà nước sẽ biến những tư liệu sản xuất thành sở hữu nhà nước Nhưng nó cũng tự tiêu diệt nó với tư cách là một giai cấp và tiêu diệt mọi sự khác biệt giai cấp và sự đối kháng giai cấp Đồng thời nó cũng tiêu diệt nhà nước với tư cách là một nhà nước"2
Cũng theo Marx, khi cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa đã giành thắng lợi trên phạm vi toàn thế giới, xã hội sẽ được xây dựng thành một liên hiệp của những người sản xuất tự do và "tự do của mỗi người sẽ là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người" Trong xã hội này sẽ không còn nhà nước, nền chuyên chính, sự tồn tại của các giai cấp, không còn cấu trúc bất bình đẳng xã hội, sự thống trị xã hội và áp bức xã hội ở đây, con người sẽ
được phát triển toàn diện, có cuộc sống hài hoà, phong phú, lao động tự do, sáng tạo, làm chủ được tự nhiên và vận mệnh của mình Sự bình đẳng và công bằng xã hội trở thành động lực của sự phát triển xã hội và con người không ngừng vươn tới tự do, tự giác và tự hoàn thiện mình
Như vậy, theo sự phân tích của Marx, nhà nước, giai cấp, sự đối kháng
giai cấp, bất bình đẳng giai cấp-nét cốt yếu nhất của cấu trúc bất bình đẳng xã hội chỉ là một phạm trù lịch sử Nó sẽ mất đi, khi xã hội cộng sản chủ
nghĩa xây dựng thành công trên phạm vi toàn thế giới Đây chính là điểm riêng, độc đáo của Marx về học thuyết xã hội nói chung, cũng như sự kiến giải của ông về phân tầng xã hội nói riêng
1 Xem những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản Nxb Sự Thật, Hà Nội 1975 Tr.31
2 K Marx Ph.Ăngghen Tuyển tập T 20, tiếng Nga (T29)
Trang 20Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, trong khi nhấn mạnh yếu tố sở hữu, coi
sở hữu như là dấu hiệu cơ bản nhất để xem xét và sắp xếp các cá nhân vào các tầng xã hội khác nhau - từ đó nhìn nhận cấu trúc xã hội như là một cấu trúc tầng bậc gồm hai tầng chính cơ bản đối lập với nhau, khác biệt nhau và được phân biệt với nhau chủ yếu ở dấu hiệu sở hữu thì Marx cũng không hề “vo tròn” hoặc giới hạn chỉ ở sự phân tích như vậy:
Marx viết: “Bên cạnh các bậc thang đẳng cấp ấy là sự phân chia giản
đơn những người lao động thành những người lao động thành thạo và những người lao động không thành thạo”(1) và “sự phát triển một thang bậc sức lao
động với một thang tiền công phù hợp với nó” Marx cũng đồng thời lưu ý phân tích đến những khác biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữa lao động công nghiệp với lao động nông nghiệp, thương nghiệp Ngoài sự phân tích những khác biệt chính cơ bản giữa hai giai cấp tư sản và vô sản, Marx còn phân tích những khác biệt giữa giai cấp địa chủ với giai cấp nông dân, tầng lớp tăng lữ, tầng lớp trí thức
Trong bản thân giai cấp công nhân, Marx cũng chia ra các bộ phận: giai cấp vô sản đại công nghiệp, những người công nhân làm việc trong các nhà xưởng nhỏ, tầng lớp vô sản lưu manh
Cũng trên cơ sở của sự phân tích như vậy, Marx đã hết sức chú trọng phân tích đến tính cơ động xã hội(2) - một đặc trưng quan trọng gắn chặt với những động thái và phương thức tạo ra sự biến đổi trong nội bộ của những cơ cấu xã hội hiện thực (như chuyển dịch xã hội từ nghề này sang nghề khác, hay chuyển từ những việc có trình độ kỹ năng thấp lên những công việc có trình độ, chuyên môn, kỹ năng cao hơn) Đặc biệt là sự phân tích những chuyển dịch xã hội từ khu vực lao động nông nghiệp sang công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, từ nông thôn sang đô thị (dưới tác động của công nghiệp hoá - đô thị hoá) và sự chuyển dịch từ tầng lớp lao động
(1)
K Marx và Ăng ghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1993, tr 413
2) Tuy Marx không dùng đến từ "tính cơ động xã hội" trong các tác phẩm của mình, nhưng qua những phân tích của Marx tự nó đã toát nên những nội dung tư tưởng về tính cơ động xã hội
Trang 21lên tầng lớp trung lưu dưới, từ trung lưu dưới lên trung lưu trên và ngược lại
1.2 Quan niệm của một số nhà khoa học phương Tây về phân tầng xã hội
Song hành với quan niệm của Marx về phân tầng xã hội như đã được trình bày ở trên, có rất nhiều các nhà xã hội học phương Tây khác cũng đề cập
đến khái niệm này theo những cách khác nhau
Có thể kể tên một số các nhà xã hội học sau: Max Weber, P.A.Sorokhin, T.Parsons, N.Smelser, B.Barber, S Lipset, W.Worner, Davis, Moore, I.Robertsons, Tonny Bilton, W.E.Thompson, J.V.Hickey, Rodney Stark, Thomas J Sullivan Những nhà xã hội học này có thể được xếp vào các nhóm lý thuyết chức năng, thuyết xung đột và thuyết dung hoà
Quan niệm và kiến giải của những người theo thuyết chức năng
Các nhà xã hội học theo thuyết chức năngcho rằng(1): phân tầng xã hội và
sự bất bình đẳng xã hội là những nét chung thường trực tất yếu không tránh khỏi có tính chức năng tích cực, tồn tại bền vững trong mọi xã hội và cần phải thiết chế hoá nó
T Parsons: coi phân tầng xã hội là sự sắp xếp các cá nhân vào trong một hệ thống xã hội trên cơ sở sự phân chia những ngạch bậc và những tiêu chuẩn chung về giá trị, phân tầng là kết quả trực tiếp của sự phân công lao
động xã hội và sự phân hoá của những nhóm xã hội khác nhau… Phân tầng xã hội là phương tiện cần thiết cho mọi hoạt động xã hội và là vật kích thích
(1) Có thể thấy những quan niệm tương đồng với các nhà chức năng luận ở một số nhà xã hội học phương Tây khác như quan niệm của N.Smelsser coi phân tầng xã hội gắn với những biện pháp
mà nhờ đó, sự bất bình đẳng được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác; Tony Bilton coi:
"Khái niệm phân tầng là ý thức cho rằng: xã hội được chia thành cấu trúc theo khuôn mẫu của những nhóm xã hội không bình đẳng và sẽ bền vững từ thế hệ này sang thế hệ khác", " Phân tầng xã hội là một cấu trúc bất bình đẳng ổn định giữa các nhóm xã hội bền vững qua các thế hệ"
I Robertsons: "Phân tầng xã hội là sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu của tất cả xã hội loài người
Trang 22những cách thức hoạt động khác nhau của các cá nhân và những nhóm xã hội khác nhau.(2)
Davis và Moore: "Sự bất bình đẳng xã hội là một di sản mà nhờ vào đó
xã hội bảo đảm những địa vị quan trọng nhất phải do những người có tài năng
đảm nhiệm một cách có ý thức Từ đó mỗi xã hội bất kể nó đơn giản hay phức tạp, phải khiến cho con người khác biệt nhau về uy tín và tín nhiệm và do đó
mà phải có một số bất bình đẳng được thể chế hoá" (3) "Sự phân tầng và sự bất bình đẳng đều có tính chức năng tích cực và không tránh khỏi trong các xã hội loài người bởi vì các xã hội phải làm tròn một số địa vị "chìa khoá" với những người "đứng đắn" và điều này chỉ có thể thực hiện bằng cách trao những phần thưởng không bình thường cho những địa vị đó"1
"Sự bất bình đẳng là một nét nổi bật của các xã hội loài người trong quá khứ và cứ tiếp tục như thế trong các xã hội hiện nay của phương Đông và phương Tây"2
Kiến giải của những người theo thuyết xung đột
Những người theo thuyết xung đột3 xã hội cho rằng, phân tầng xã hội liên quan trực tiếp đến sự bất bình đẳng trong kinh tế, mà cốt lõi là chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất
Những người theo thuyết xung đột đã phê phán một cách gay gắt thuyết chức năng về phân tầng xã hội Theo họ, lập luận của những người theo thuyết chức năng cho rằng phân tầng xã hội là một hiện tượng tích cực, mang tính chức năng và cần thiết cho sự tồn tại của xã hội, thực chất là sự “phản chức năng” (Dysfunctional)
Tony Bilton và cộng sự Nhập môn Xã hội học Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 1993
2 Tony Bilton và cộng sự Nhập môn Xã hội học Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 1993
3
Nhiều nhà xã hội học phương Tây xếp Marx vào nhóm những người theo thuyết xung đột (Tác giả xin không bình luận) Để tiện cho sự phân tích trong bài viết này, tác giả tách những người theo thuyết xung đột ra thành một nhóm riêng (không bao hàm Marx) để nghiên cứu
Trang 23Tunin một đại biểu của thuyết xung đột cho rằng, chính tự thân hệ thống phân tầng đã làm huỷ hoại tài năng to lớn và hạn chế sự phát triển tiềm năng của những thành viên ở tầng lớp bên dưới
Sự phân phối không đồng đều của cải trong xã hội phân tầng đã khiến cho những kẻ có của, có đặc quyền được hưởng những lợi ích dễ dãi trong giáo dục, để phát triển tài năng trong khi cùng lúc đó lại làm cho những người dưới đáy bị bất lợi Sự thiết chế hoá chế độ bất bình đẳng đã duy trì trật tự có lợi cho người giàu và chống lại những nghèo Như vậy, xã hội phân tầng đã không sử dụng hết nguồn tài năng một cách có hiệu quả, đầy đủ Nó làm hạn chế tự do của tầng lớp bên dưới và làm tích tụ gay gắt thêm những xung đột và bất bình xã hội
Hơn nữa, trong xã hội phân tầng, một số người nhận được những lợi ích không phải trực tiếp do tài năng hay tầm quan trọng trong chức năng, mà lại chủ yếu do dòng dõi ở đây sự thừa kế tài sản của dòng dõi để lại những lợi thế
về mặt vật chất và xã hội là một trong những nhân tố cốt lõi để duy trì sự bất bình đẳng
Lý thuyết chức năng cũng sai sót khi “đặt” sự phân tầng có tính tiêu chuẩn và văn hoá trong một cái khung bất bình đẳng vật chất cụ thể Họ đã không tính tới sự lệ thuộc phổ biến của sự khác biệt về quyền lực, uy tín vào
sự bất bình đẳng trong kinh tế đã được thiết chế hoá về mặt pháp luật Những thứ quyền lực, uy tín đó chỉ có thể có được do thông qua những lớp đào tạo mà chỉ ở những người giàu, “có của” mới có đủ tiền bạc để chi phí và lĩnh hội
Kiến giải của những người theo thuyết dung hoà
Lenski, một đại biểu của thuyết dung hoà cho rằng, trong xã hội luôn có những động cơ thôi thúc người ta chiếm giữ các vị trí xã hội, đồng thời cũng diễn
ra các quá trình mâu thuẫn, xung đột và tranh giành quyền thống trị
Max Weber đưa ra nguyên tắc nghiên cứu “ba chiều” về phân tầng xã hội "Ông đã tách một luận điểm về giai cấp thành ba phần riêng biệt, song có
Trang 24quan hệ tác động mật thiết qua lại với nhau Đó là địa vị kinh tế hay tài sản;
địa vị chính trị hay quyền lực, địa vị xã hội hay uy tín"(1) Ông không thừa nhận quan niệm cho rằng chỉ có quan hệ kinh tế là yếu tố duy nhất giải thích cấu trúc xã hội và là động lực đầu tiên của mọi sự thay đổi trong xã hội Ông cho rằng, những tư tưởng tôn giáo có ảnh hưởng độc lập về mặt lịch sử và lĩnh vực chính trị thường là lực lượng kiểm soát cốt yếu những thay đổi của xã hội Trong tiểu luận "Giai cấp, địa vị, và đảng", ông cho rằng, bất bình đẳng trong xã hội có thể không dựa trên cơ sở của những quan hệ kinh tế mà trên uy tín hoặc quyền lực chính trị được huy động thông qua một đảng Ông lấy ví dụ,
đẳng cấp là một hệ thống phân tầng xã hội phản ánh một xã hội bất bình đẳng không phải trực tiếp dựa trên cơ sở kinh tế mà trên những khác biệt đặc biệt về
địa vị của những nền tảng và nghi thức tôn giáo
Max Weber nhấn mạnh, quyền lực kinh tế có thể là kết quả từ sự sở hữu quyền lực trên các nền tảng khác Địa vị xã hội hay uy tín có thể xuất phát từ quyền lực kinh tế, nhưng đây không phải là trường hợp tất yếu Ông dẫn ra trường hợp nhà kinh doanh mới giàu lên, song chưa có được sự giáo dục và văn hoá cần thiết để nắm được những địa vị cao Tương tự như vậy, địa vị cao trong kinh tế có thể được tạo nên trên cơ sở của quyền lực chính trị
Cả Marx và Weber đều giống nhau là ở chỗ, các ông đánh giá những nét kinh tế chủ yếu của hệ thống phân tầng xã hội trong chủ nghĩa tư bản là quyền sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và những thị trường cho hàng hoá và lao động Song sự khác biệt cốt yếu giữa Marx và Weber là ở chỗ: Mác nhấn mạnh yếu tố thứ nhất và hướng sự nghiên cứu vào con đường xoá bỏ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Còn Weber lại hướng trọng tâm vào yếu tố thị trường và cho rằng nguyên nhân đầu tiên của
sự bất bình đẳng trong chủ nghĩa tư bản là khả năng thị trường, tức là những
kỹ năng mà người làm thuê mang ra thị trường lao động để bán và người chủ
sẽ là người mua Weber cũng nói đến cơ may đời sống tức là những lợi thế mà
(1) Ian RoBertson Sociology Third edition, 1987, tr 260
Trang 25người ta có thể có được do thị trường mang lại Những cơ may này bao gồm thu nhập, phụ cấp, bảo hiểm và có thể thấy được ở các giai cấp khác nhau cũng như ở chính trong nội bộ của mỗi giai cấp
Những sự phân tích trên của Weber trên thực tế không có gì đối lập với quan niệm của Mác về giai cấp Tuy nhiên, sự phân phân tích này chưa nhấn mạnh một cách thích đáng đến yếu tố sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Rõ ràng rằng nếu phân tích đến cùng thì yếu tố sở hữu về tư liệu sản xuất chính là nhân tốt cốt lõi nhất của vấn đề tài sản trong địa vị kinh tế của một giai cấp nhất định
Song mặt khác cũng phải thấy rằng, sự phân tích của Max Weber có tính mềm dẻo, nhiều chiều, uyển chuyển và trong thực tế đó là quan niệm có thể bổ sung cho lý luận của Mác về giai cấp xã hội
Tony Bilton đúng khi ông nói rằng có thể phối hợp quan niệm của Weber trong việc xem xét mô hình phân tầng ba giai cấp trong xã hội tư bản chủ nghĩa hiện nay Xem mô hình tháp phân tầng xã hội với tư cách là kết quả của sự kết hợp quan niệm của Mác với Weber về phân tầng xã hội1
Tóm lại, trên đây là một số nét khái quát chủ yếu về sự khác biệt trong quan niệm của K Marx và các nhà xã hội học phương Tây khác về phân tầng xã hội Điều mấu chốt là ở chỗ, chúng ta cần phải khẳng định một cách trung thực và dứt khoát rằng, nếu không có những tư tưởng nền tảng của học thuyết Marx nói chung, về lý thuyết phân tầng xã hội nói riêng, chúng ta sẽ thiếu những cơ sở gốc vững chắc, tin cậy cho mọi sự nghiên cứu Nhưng mặt khác, nếu chúng ta không biết nghiền ngẫm nghiên cứu, cẩn trọng tuyển lựa, gạn lọc
kế thừa, tiếp thu một cách có phê phán những hạt nhân hợp lý của các nhà khoa học phương Tây nói riêng, các nhà khoa học khác trên toàn thế giới nói chung về phân tầng xã hội, bổ sung cho những quan niệm của Marx, đồng thời mạnh dạn phát triển xa hơn nữa và vận dụng sáng tạo các lý thuyết của Marx vào cuộc sống đang hàng ngày biến đổi thì chúng ta đã tự xa rời Marx
1 Nguyễn Đình Tấn Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội" Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005
Trang 26Để kết thúc bài báo này tác giả xin trích dẫn ra đây lời chỉ dẫn của V.I Lênin: “Chúng ta hoàn toàn không xem xét học thuyết của Marx như là một cái gì đó đã kết thúc, bất khả xâm phạm Ngược lại, chúng ta tin tưởng rằng,
nó chỉ đặt ra hòn đá tảng cho khoa học ấy để rồi những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển xa hơn nữa về tất cả các khuynh hướng, nếu như không muốn lạc hậu trước cuộc sống”1
1.3 Lý thuyết phân tầng xã hội hợp thức và phân tầng xã hội không hợp thức
Phân tầng xã hội hợp thức
Sau hơn 20 năm đổi mới, "mở cửa", phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, cơ cấu xã hội, giai cấp, giai tầng nước ta đã có nhiều biến đổi Sự biến đổi này phản ánh một cách khách quan quá trình vận động biện chứng của xã hội Biểu hiện rõ nét nhất, nổi bật nhất là những biến đổi trong cấu trúc "dọc" của xã hội Đáng lưu ý hơn cả là sự hình thành cấu trúc phân tầng xã hội "hợp thức” và song hành với nó là phân tầng xã hội không hợp thức
Đây là những vấn đề chính trị, xã hội nổi bật phản ánh những vấn đề cấp thiết được Đảng, Nhà nước, các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học, giới lý luận cũng như đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý từ trung ương đến địa phương chú trọng nghiên cứu và không ngừng đi sâu tìm hiểu Nó cũng đồng thời thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan chức năng, các cơ quan tham mưu, những cơ quan thực thi nhiệm vụ triển khai xây dựng và trực tiếp bảo vệ thành quả của sự nghiệp đổi mới, thành quả của chủ nghĩa xã hội Vậy thế nào là Phân tầng xã hội hợp thức và thế nào là phân tầng xã hội không hợp thức
Phân tầng xã hội "hợp thức" là một khái niệm được các nhà xã hội học
nước ta đưa vào nội dung nghiên cứu chính thống trong chương trình đào tạo
1 V.I Lênin, Toàn tập Tập 4, Nxb Tiến bộ Mát xcơ va (tiếng Nga), tr 184
Trang 27của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh trên một thập kỷ qua Khái niệm này được các nhà khoa học trừu tượng hóa và "tách bóc" ra từ khái niệm phân tầng xã hội nói chung Theo đó, phân tầng xã hội hợp thức cũng là một cấu trúc tầng bậc cao thấp, phản ánh sự khác nhau, sự không ngang bằng nhau giữa các thành viên trong xã hội về ba dấu hiệu chủ yếu: địa
vị chính trị, địa vị kinh tế, địa vị xã hội Tuy nhiên, cấu trúc tầng bậc này là
"hợp thức", bởi nó được hình thành nên không phải dựa trên cách làm ăn phi
pháp, luồn lọt, xu nịnh, gian dối, mánh khóe, thủ đoạn hoặc do những hành vi sai trái, làm ăn bất chính mà chủ yếu trên cơ sở của sự khác biệt khách quan,
tự nhiên về mặt năng lực (thể chất, trí tuệ), những khác biệt về cái tài, cái đức
và sự cống hiến, đóng góp thực tế của mỗi cá nhân, tổ chức cho xã hội
“Hợp thức” được hiểu theo nghĩa không chỉ đơn thuần là sự phù hợp với pháp luật, chuẩn mực quy tắc đạo đức xã hội trong hiện tại mà còn là sự phù hợp với quy luật, khả năng, xu hướng và mục tiêu phát triển trong tương lai, tức là sự phát triển đi lên của xã hội
Trong xã hội phân tầng hợp thức, những người có tài, đức, mức độ đóng góp, cống hiến cho xã hội khác nhau sẽ nhận được những vị trí, vai trò, sự
đánh giá và những lợi ích vật chất, tinh thần cao thấp khác nhau một cách tương ứng
Người nào tài càng cao, đức càng rộng, cống hiến, đóng góp cho xã hội càng nhiều thì người đó càng xứng đáng đứng ở các vị trí xã hội cao hơn, xứng
đáng được giao phó và nhận về mình những quyền lực nhiều hơn, quan trọng hơn để lãnh đạo, quản lý xã hội Và đương nhiên họ cũng xứng đáng được xã hội coi trọng, suy tôn và được hưởng những lợi ích vật chất, tinh thần cao Người nào tài đức trung bình, cống hiến cho xã hội ở mức trung bình thì sẽ
đứng vào những vị trí trung bình, nhận được sự đánh giá trung bình Những người tài, trí thấp, “tài hèn sức mọn”, đóng góp cho xã hội ở mức độ thấp thì
đương nhiên sẽ đứng ở vị trí thấp, và sẽ nhận được sự đánh giá, nhìn nhận một cách tương ứng với những gì mà họ có và làm cho xã hội Thực chất của phân
Trang 28tầng xã hội hợp thức là sự vận hành theo nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo lao động” - nguyên tắc quan trọng nhất để nhận biết và phân biệt giữa công bằng xã hội và bất công bằng xã hội
Rõ ràng rằng, với một nội hàm khái niệm như vậy chúng ta có thể hiểu phân tầng xã hội hợp thức chính là trật tự của công bằng xã hội, là cấu trúc lý tưởng của xã hội mà chúng ta sẽ dựa vào hướng tới, khuôn theo và quyết tâm xây dựng
Đương nhiên, trong trường hợp này, phân tầng xã hội hợp thức là tích cực, là cần thiết là cái chúng ta ước muốn Một xã hội như vậy sẽ tạo ra được
động lực, nguồn xung lượng thúc đẩy xã hội tiến lên phía trước, nó sẽ góp phần tạo ra trật tự xã hội cũng như bộ mặt nhân văn, nhân bản, nhân ái cho xã hội; đồng thời khắc phục được những tư tưởng bảo thủ, ích kỷ, hẹp hòi, kèn cựa, đố kị ganh ghét với những người hơn mình Mặt khác, nó sẽ tạo ra những tiêu chí, chuẩn mực khách quan đúng đắn cho sự đánh giá xã hội, tổ chức và cá nhân Các cá nhân vừa biết đặt ra cho mình những mục tiêu phấn đấu phù hợp vừa biết tự bằng lòng với những gì mình có, mình làm, không lười biếng, không ỷ lại song cũng không quá tham vọng so với năng lực và những điều kiện hiện có của họ Một xã hội mà mỗi người đều tự hiểu rõ mình, hiểu rõ người, biết tự đặt mình vào vị trí của người khác, biết nhìn nhận đánh giá đúng bản thân từ vị trí mà xã hội giao phó; đồng thời hành động theo đúng vị thế, vai trò của mình, theo cái danh, cái phận của bản thân thì chắc chắn rằng đó sẽ
là một xã hội trật tự, kỷ cương, văn minh, nhân văn, nhân đạo và sẽ trở thành
động lực thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội
Với một xã hội phân tầng xã hội hợp thức như vậy đương nhiên là chúng ta sẽ thừa nhận, ủng hộ và ra sức bảo vệ Hơn thế nữa, chúng ta cũng cần thiết phải tuyên truyền rộng rãi để đông đảo mọi người cùng thừa nhận, ủng hộ và cùng góp sức duy trì, củng cố, phát triển và hoàn thiện hơn nữa xã hội phân tầng hợp thức Đương nhiên với một xã hội như vây, thì nó cần phải
được thiết chế hoá trong cuộc sống Nhà nước cũng như cộng đồng cần tạo ra
Trang 29những hành lang đạo lý, pháp lý an toàn rộng rãi và cởi mở cho phân tầng hợp thức nơi mà mọi người đều được phát huy tốt nhất những năng lực vốn có của mình, được thoả sức mà cống hiến, đóng góp cho xã hội theo khả năng (theo cái có thể) và được hưởng, được nhìn nhận, được tôn vinh, được sắp xếp, bố trí vào những vị trí tương xứng với những tài năng, cống hiến, đóng góp của bản thân cho xã hội
Phân tầng xã hội không hợp thức
Phân tầng xã hội không hợp thức hay phân tầng xã hội bất hợp thức là tất cả những gì đối lập với phân tầng xã hội hợp thức
Phân tầng xã hội không hợp thức là một cấu trúc tầng bậc xã hội không
dựa trên sự khác biệt tự nhiên giữa các cá nhân, cũng không chủ yếu được tạo
ra do sự khác nhau về tài đức và sự đóng góp cống hiến một cách thực tế của mỗi người cho xã hội Phân tầng xã hội không hợp thức là sự phân tầng dựa vào những hành vi trái pháp luật, tham nhũng, lừa gạt, trôm cắp, buôn bán phi pháp để trở nên giàu có, luồn lọt, xu nịnh, để có vị trí cao trong xã hội hoặc lười biếng, ỷ lại để rơi vào sự nghèo khổ, hèn kém (như đã phân tích ở trên)
Trong xã hội phân tầng không hợp thức thì kẻ bất tài vô dụng vẫn có thể chiếm giữ những vị trí cao, họ vẫn có thể chiếm đoạt nhiều của cải, làm giàu bất chính Họ có thể nhũng nhiễu, lạm dụng quyền lực để áp bức, đe nẹt, nạt
nộ người khác
Trong xã hội phân tầng không hợp thức, kẻ lười biếng, vô đạo đức, bất tài vẫn có thể “ăn trên ngồi trốc”, hưởng thụ nhiều hơn những gì đáng được hưởng Những người có tài đức có thể bị vùi dập, bị thiệt thòi và chịu nhiều cảnh oan ức, đối xử bất công thậm chí bị ngược đãi bởi người bất tài luôn sợ người có tài nên hay tìm những thủ đoạn hèn hạ để đối phó Như vậy chúng ta
có thể hiểu phân tầng xã hội không hợp thức vừa là bất bỡnh đẳng xó hội đồng thời vừa là sự bất công xã hội và vì vậy là tiêu cực, là sự kìm hãm sự phát triển của xã hội Phân tầng xã hội không hợp thức là xiềng xích trói buộc những
Trang 30tiềm năng sáng tạo của các cá nhân, làm thui chột những năng lực thể chất và tinh thần của những người lao động chân chính, là nguyên nhân của những bất bình, xung đột xã hội dẫn đến sự mâu thuẫn, khủng hoảng xã hội Trong trường hợp đặc biệt nó sẽ tạo ra những đối kháng xã hội mà đỉnh cao là phá vỡ trật tự xã hội và sự rối loạn xã hội
Hiện tượng phân tầng xã hội không hợp thức nảy sinh và tồn tại do
nhiều nguyên nhân Song trước hết phải kể đến đó là do những sơ hở, lỏng lẻo
trong hệ thống pháp luật, giáo dục…Những tiêu chuẩn xem xét đánh giá thiếu khoa học, rõ ràng, minh bạch (không hợp tình, hợp lý) còn tồn tại và chi phối
các hoạt động của xã hội….Hai là, phải kể đến sự yếu kém, suy thoái về mặt
đạo đức, nhân cách của một bộ phận trong xã hội; sau cùng là những “quán tính” của quá khứ, sự “kế thừa” những tàn tích, thói hư tật xấu của các xã hội
trước đó để lại
Với xã hội phân tầng không hợp thức như vậy đương nhiên là không ai mong muốn trừ những người nào đang được hưởng lợi từ sự phân tầng không hợp thức đó Chúng ta không những không chấp nhận nó cả về thực tiễn lẫn những biện bạch cho sự tồn tại của nó Cần thiết phải có sự phê phán một cách gay gắt trước công luận và hơn thế nữa chúng ta đòi hỏi tầng lớp xã hội “ăn trên ngồi trốc” một cách bất hợp thức phải bị trừng phạt trước pháp luật Cần kiến nghị lên Đảng, Nhà nước cấp trên và các cơ quan chức năng tích cực đấu tranh và đưa ra những biện pháp thích hợp nhằm từng bước thu hẹp phạm vi tác động của nó, ngăn chặn nó, kiểm soát nó, cao hơn nữa là trừng phạt nó một cách kiên quyết Kiên trì giáo dục những kẻ lười biếng, ỷ lại thậm chí cưỡng bức họ phải lao động, phải cải tạo một cách nghiêm khắc
Đương nhiên, đối với những người nghèo khổ, yếu thế, bị rủi ro, tai nạn, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm lao động chúng ta cần thiết phải cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ; cần tạo ra cho họ những điều kiện sinh kế cần thiết để họ có thể
tự vươn lên thoát nghèo Đối với những trường hợp đặc biệt, ví dụ, những gia
đình thương binh liệt sỹ, mẹ Việt Nam anh hùng, người có công với cách
Trang 31mạng, những người rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thì Đảng và Nhà nước, cộng đồng cần đền ơn đáp nghĩa theo đúng truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta
Việc đưa ra hai khái niệm phân tầng xã hội hợp thức và phân tầng xã hội không hợp thức cùng với sự phân tích và làm rõ sự khác biệt giữa chúng đã mang lại những đặc trưng khoa học, yếu tố pháp lý và nguyên tắc phát triển, công bằng, văn minh, tiến bộ, nhân văn, nhân bản và nhân đạo trong việc ra quyết định hành động của cá nhân, nhóm, đặc biệt là của các nhà lãnh đạo, quản lý xã hội; đã thực sự là một đóng góp quan trọng về mặt lý luận Nó là chỗ dựa vững chắc về mặt khoa học trong cuộc đấu tranh chống lại mọi áp bức, bất công trong xã hội; là vũ khí lý luận sắc bén để chống lại những tư tưởng về sự cào bằng xã hội, triệt tiêu động lực, phát triển xã hội, thực chất là
những tư tưởng về một thứ “chủ nghĩa xã hội bình quân thô lỗ” mà K.Marx
và Ph Ăngghen đã phê phán gay gắt Sự phân tích lý luận này là cơ sở khoa học tin cậy cho sự luận chứng về việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh ở nước ta hiện nay
1.4 Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự phát triển kinh tế-xã hội gắn với đảm bảo công bằng xã hội, bình đẳng xã hội và trật tự, an toàn, an sinh xã hội
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội là một bộ phận của hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước về sự phát triển kinh tế - xã hội Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc III của Đảng năm 1960 và Đại hội IV năm 1976, Đảng ta đã đặt mục tiêu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” Đại hội VII thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000, nhấn mạnh
“Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường” Đại hội VIII nêu bài học “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái” Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001 -
Trang 322010 thông qua tại Đại hội IX khẳng định “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo
vệ môi trường” Đại hội X nêu bài học về phát triển nhanh và bền vững, trong
đó ngoài các nội dung phát triển kinh tế, xã hội, môi trường còn bổ sung yêu cầu phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ và xác định mục tiêu tổng quát của Kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 là “Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người” Như vậy, đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững đã sớm được Đảng và Nhà nước ta đặt ra với nội dung ngày càng hoàn thiện và
đã trở thành một chủ trương nhất quán trong lãnh đạo, quản lý, điều hành tiến trình phát triển của đất nước trong nhiều thập kỷ qua
Công cuộc Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo
từ Đại hội VI (1986) - Đại hội của đổi mới đến nay đã đạt được những thành tựu
to lớn và có ý nghĩa lịch sử Với đường lối xây dựng nền kinh tế đa thành phần, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế: “Đất nước đã ra khỏi
khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh Đời sống của nhân dân
được cải thiện rõ rệt Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc
được củng cố và tăng cường Chính trị - xã hội ổn định Quốc phòng và an ninh được giữ vững Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao”(1) Những thành tựu đó đã chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn, do đó kinh tế tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân được nâng cao, chính trị xã hội ổn định, khối
đại đoàn kết dân tộc được củng cố, niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội và
sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường
(1)
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2006, tr 67
Trang 33Trong những năm qua, sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường đã làm cho đất nước thay đổi nhanh chóng Kinh tế thị trường đã đem lại sự tăng trưởng khá nhanh và ổn định cho nền kinh tế, với tốc
độ tăng GDP năm 2001 là 6,9%, năm 2002 là 7,08%, năm 2003 là 7,34%, năm
2004 là 7,8% đến năm 2007 là 8,3%(2).Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 5,7 triệu đồng năm 2000 lên trên 10 triệu đồng năm 2005(3), tương đương khoảng 640 USD, năm 2008 tăng lên 960 USD và dự kiến đạt trên 1.000 USD vào năm 2010, đời sống của các tầng lớp nhân dân tiếp tục được cải thiện
Sự tăng trưởng của nền kinh tế gắn liền với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế được mở rộng thông qua các hiệp định hợp tác đa phương, song phương với Mỹ, Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU), các nước ASEAN, thực hiện cam kết về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương mại Song phương Việt - Mỹ (USBTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác kinh tế á - Âu (ASEM) và trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Cùng với tiến trình hội nhập, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) liên tục tăng qua các năm: từ năm 2001-2004 ODA là trên 11 tỷ USD; FDI đạt 13,46 tỷ USD(1) Song song với quá trình đó, Việt Nam cũng tranh thủ được số lượng đáng kể vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Phát triển châu á (ADB)
Trong những năm qua, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước ta
về phát triển kinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện hơn Đại hội VI, Đảng ta mới khẳng định sự cần thiết phải sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ dưới chủ nghĩa xã hội thì đến Đại hội VII và Đại hội VIII Đảng đã khẳng định cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đại
(2) Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB): Triển vọng Châu á 2007, Hà Nội, 2008
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2006, tr 156
(1) Nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Việt Nam thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên
niên kỷ, Hà Nội, 2005, tr 47
Trang 34hội IX tiếp tục đánh dấu thêm một bước phát triển mới trong đổi mới tư duy lý luận kinh tế của Đảng, đã xác định: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đại hội X làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đó là nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại hình thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh Cơ chế thị trường cũng đã góp phần phát huy lợi thế so sánh giữa các vùng, các khu vực trong nước, giữa thành thị và nông thôn, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi, cải thiện đời sống nhân dân Sự phá bỏ độc quyền, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp phát huy tính năng động, sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Bước ngoặt trong đổi mới tư duy về phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước ta là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thành tựu nổi bật nhất trong bước khởi đầu đổi mới là phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước Quan điểm về mô hình nền kinh tế trong thời kỳ quá độ đã thay đổi căn bản,
đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ có hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể mà tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau Qua quá trình phát triển nhận thức, cũng như tư duy lý luận về các thành phần kinh tế ngày một hoàn chỉnh, đến Đại hội X của Đảng, nền kinh tế nước ta gồm nhiều thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh
tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư hữu tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài(1) Trên cơ sở phát triển kinh tế nhiều thành phần dần
(1)
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2006, tr 83
Trang 35dần hình thành cơ cấu xã hội gồm nhiều giai tầng xã hội và nhóm xã hội rất phong phú, đa dạng, kể cả sự phân hóa giàu nghèo giữa các nhóm xã hội
Đánh giá việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 -
2010, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7,3%/năm, thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 1.200 USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế được giữ vững, thâm hụt ngân sách và nợ quốc gia được kiểm soát trong giới hạn an toàn Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện tốt hơn Thu nhập thực tế bình quân đầu người 10 năm qua tăng khoảng 2,3 lần Công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt nhiều thành tựu nổi bật, được quốc tế đánh giá cao Chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn giảm từ 2,3 lần năm 1999 xuống còn 2 lần năm 2008 Trẻ em được quan tâm bảo vệ, chăm sóc; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 33,8% xuống còn dưới 18% Tuổi thọ bình quân tăng từ 67 lên 72 tuổi Cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở Chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng tăng lên, năm 2008
là 0,733, thuộc nhóm nước trung bình cao trên thế giới Mức hưởng thụ văn hoá, điều kiện tiếp cận thông tin của người dân được nâng lên rõ rệt Hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng Cùng với những kết quả to lớn trong việc xã hội hoá phát triển các lĩnh vực xã hội, ngân sách nhà nước chi cho các lĩnh vực này không ngừng tăng lên; bảo hiểm y tế
được mở rộng từ 13,4% dân số năm 2000 lên khoảng 62% năm 2010 Bình
đẳng giới có nhiều tiến bộ, tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội và giữ các trọng trách trong hệ thống chính trị ngày càng cao Năm 2008, nước ta đã hoàn thành hầu hết các Mục tiêu Thiên niên kỷ đặt ra cho năm 2015(1)
(1) Nguyễn Tấn Dũng Phát triển nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta, Tạp chí Cộng sản điện tử, số 14 (206), 2010
Trang 36Bên cạnh những thành quả nêu trên, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng quan điểm phát triển toàn diện và chỉ rõ: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Phát huy mọi nguồn lực để phát triển nhanh và có hiệu quả những sản phẩm, ngành, lĩnh vực mà nước ta có lợi thế, đáp ứng nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước Tăng nhanh năng suất lao động xã hội và nâng cao chất lượng tăng trưởng Triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, tăng tích lũy cho đầu tư phát triển Các vùng kinh tế trọng điểm có nhịp độ tăng trưởng cao hơn mức bình quân chung, đóng góp lớn vào tăng trưởng của cả nước và lôi kéo, hỗ trợ các vùng khác, nhất là các vùng có nhiều khó khăn, cùng phát triển(1)
Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước ta còn trú trọng vào việc nâng cao năng lực và tạo cơ hội cho mọi người để có thể phát huy hết tài năng, tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả phát triển, đồng thời nâng cao trách nhiệm của mỗi người góp sức thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân tộc, đẩy lùi các tệ nạn xã hội Nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân về
ăn, mặc, ở, đi lại, phòng và chữa bệnh, học tập, làm việc, tiếp nhận thông tin, sinh hoạt văn hóa Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời ra sức xóa đói, giảm nghèo, tạo điều kiện về hạ tầng và năng lực sản xuất để các vùng, các cộng đồng đều có thể tự phát triển, tiến tới thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Thiết thực chăm lo sự bình đẳng về giới, sự tiến bộ của phụ nữ; đặc biệt chăm lo sự phát triển và tiến bộ của trẻ em
Từ thực tiễn nêu trên, dự thảo Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội
2011 - 2020 khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn đi cùng với bảo vệ và cải
(1) Ban Chấp hành Trung ương, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toản quốc lần thứ IX của Đảng, http://www.chinhphu.vn
Trang 37thiện môi trường Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7 - 8%/năm GDP năm 2020 theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010 GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 - 3.200 USD” Bên cạnh đó dự thảo cũng chỉ rõ: “Xây dựng xã hội đồng thuận, dân chủ, kỷ cương, công bằng, văn minh Đến năm 2020, chỉ
số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; tốc độ tăng dân số ổn định ở mức 1,1%; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; đạt 9 bác sĩ
và 26 giường bệnh trên một vạn dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; lao
động qua đào tạo đạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã hội;
tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2 - 3%/năm; phúc lợi, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được bảo đảm Thu nhập thực tế của dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010; thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng
và nhóm dân cư Xóa nhà ở đơn sơ, tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 70%, bình quân 25 m2 sàn xây dựng/người”(1)
Quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta chủ trương: “Kết hợp chặt chẽ và hợp lý các mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực,
địa phương Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; Thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế xã hội”(2) Tư tưởng đó thể hiện đường lối của Đảng đã đặt vấn đề giải quyết tốt mối quan hệ giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội một cách toàn diện Đây là cơ sở để nâng cao tầm nhìn chung,
có hệ thống nhằm giải quyết mối quan hệ kinh tế và xã hội ở cả phương diện
vĩ mô, cả phương diện vi mô, cụ thể, gắn với từng ngành, từng địa phương Mặt khác, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phải được tiến hành ngay trong từng bước đi, từng chính sách phát triển, tạo sự phát triển đồng thời cả
Trang 38kinh tế và tiến bộ xã hội Thực hiện các chính sách xã hội phải dựa trên cơ sở của sự phát triển kinh tế, tránh nôn nóng, chủ quan, duy ý chí, tránh tư tưởng tách bạch giữa hai lĩnh vực này Vấn đề quan trọng là phải gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, quan tâm đến lợi ích chính đáng của con người Quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội là tạo động lực thúc đẩy kinh tế
- xã hội phát triển
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Đảng ta chỉ rõ: “Chúng ta khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật, đồng thời thực hiện có hiệu quả chính sách xoá đói giảm nghèo, thực hiện tốt hơn công bằng xã hội”(1) Đảng cũng chủ trương tạo cơ hội và điều kiện bình đẳng cho mọi người dân làm giàu theo pháp luật, khắc phục tình trạng tâm lý đố kị, nghi kị nhau
dù làm giàu bằng sức lao động của mình Phải thật sự khuyến khích, biểu dương và tôn vinh những người làm giàu chính đáng bằng tài năng trí tuệ, sức lao động của mình Đồng thời tập trung giải quyết có hiệu quả chính sách xoá
đói giảm nghèo, thực hiện ngày càng tốt hơn công bằng xã hội Công bằng xã hội không có nghĩa là bình quân chủ nghĩa mà phải trên cơ sở tôn trọng và khuyến khích tài năng phát triển, chấp nhận có phân tầng xã hội nhưng hợp lý,
có sự giúp dỡ tương trợ lẫn nhau cùng tiến bộ
1.5 Một số đặc điểm cơ bản của cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay
Cơ cấu giai tầng xã hội ở nước ta hiện nay rất đa dạng, các giai cấp, tầng lớp xã hội chưa định hình rõ rệt và đang trong quá trình phát triển với kết cấu phức tạp, biến động thường xuyên ngay trong từng giai cấp, tầng lớp xã hội Cơ cấu giai tầng xã hội tồn tại lâu dài theo tiến trình lịch sử phát triển của các xã hội Nó phản ánh sự bất bình đẳng mang tính cấu trúc của tất cả các xã hội, song cơ cấu đó không phải là bất biến mà có sự biến đổi Đó là sự di chuyển từ giai cấp, tầng lớp này sang giai cấp, tầng lớp khác trong cơ cấu xã
(1)
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2006, tr 33
Trang 39hội hoặc trong nội bộ các giai cấp, tầng lớp Mức độ biến đổi của cơ cấu giai tầng xã hội sẽ khác nhau trong mỗi thời kỳ lịch sử và các xã hội khác nhau
Đại hội VI của Đảng (12/1986), Đại hội của đổi mới đánh dấu sự chuyển đổi từ mô hình kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường và thực hiện nhất quán chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, dựa trên nhiều hình thức sở hữu đã hình thành một cơ cấu giai tầng xã hội mới đa dạng, phức tạp khác hẳn với cơ cấu đơn giản
“hai giai, một tầng” trước đây Sự đa dạng thể hiện ở chỗ các giai cấp, tầng
lớp, nhóm xã hội đan xen, thâm nhập vào nhau bởi nhiều mối quan hệ, tạo nên
sự phân hoá, phân tầng trong nội bộ mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội “Trong thời
kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội”(1)
Trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường, sự phát triển của phân tầng xã hội có thể dẫn đến hình thành một cơ cấu xã hội mới theo vị thế,
bổ sung hoặc thay thế cho cơ cấu xã hội - giai cấp và hình thành các hình thức liên kết xã hội mới Sự phân tầng xã hội đang làm biến đổi sâu sắc cơ cấu xã hội và tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của xã hội Cơ cấu giai tầng xã hội
ở nước ta hiện nay là một cơ cấu xã hội đa dạng, phức tạp ở nước ta nền kinh
tế thị trường mới hình thành và đang trong quá trình phát triển, biến động thường xuyên với những đặc điểm riêng về kinh tế, xã hội, chính trị, lịch sử,
địa lý Trong thời kỳ quá độ sự đa dạng, phức tạp trong cơ cấu thành phần kinh tế sẽ là nhân tố khách quan quy định những đặc điểm của cơ cấu xã hội Xã hội đó, tính tích cực của người lao động được tăng lên, lợi ích cá nhân, cộng đồng và lợi ích của toàn xã hội đều được quan tâm, đã tạo ra động lực phát triển sản xuất và đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện Trong điều kiện xã hội như vậy, sự di động xã hội diễn ra mạnh mẽ giữa các
(1)
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2001, tr 85
Trang 40giai cấp, tầng lớp xã hội Sự di động ngang của những nhóm người chuyển từ giai cấp này sang giai cấp khác và có cả di động dọc trong nội bộ mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội, thậm chí có thể phát triển thành một giai cấp, tầng lớp xã hội mới hoặc nhập vào các giai cấp, tầng lớp khác “Sự cơ động xã hội diễn ra mạnh mẽ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, trong mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội
và thậm chí trong từng con người Các bộ phận bên trong cơ cấu xã hội nước
ta đang vận động, phát triển…”(1)
Trong thời kỳ này, đặc biệt từ những năm 90 của thế kỷ XX, mức sống của đại đa số dân cư đã tăng lên đáng kể Sự chênh lệch về mức sống ngày càng gia tăng tạo ra sự phân hoá, phân tầng rõ nét hơn trong hầu hết các giai tầng xã hội Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê từ năm 1990 đến nay cho thấy, khoảng cách chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người/tháng giữa 20% số hộ có mức thu nhập thấp nhất với 20% số hộ có mức thu nhập cao nhất ngày càng có xu hướng tăng lên: năm 1990 là 4,1 lần; năm 1995 là 7,0 lần; năm 1999 là 7,6 lần; năm 2002 là 8,1 lần; năm 2004 là 8,3 lần và năm 2006 là 8,4 lần Khoảng cách chênh lệch về mức chi tiêu cho đời sống của nhóm hộ giàu nhất với nhóm hộ nghèo nhất cũng tăng: năm 1999 là 4,2 lần; năm 2002 là 4,45 lần; năm 2004 là 4,45 lần và năm 2006 là 4,54 lần (2)
Sự phân hoá, phân tầng xã hội đang làm biến đổi sâu sắc cơ cấu xã hội
và tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của xã hội Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội phát triển và biến đổi mạnh mẽ dẫn đến hình thành một cơ cấu xã hội mới theo vị thế, bổ sung hoặc thay thế cho cơ cấu xã hội - giai cấp cũ Trong
điều kiện xã hội như vậy, sự di động xã hội diễn ra mạnh mẽ giữa các giai cấp, tầng lớp Nó thể hiện ở sự di động ngang của những nhóm người chuyển từ giai cấp này sang giai cấp khác và cả di động dọc trong nội bộ mỗi giai tầng xã hội, thậm chí có thể phát triển thành một giai cấp, tầng lớp xã hội mới hoặc nhập vào các giai cấp, tầng lớp khác Điều đó cho thấy, cơ cấu giai tầng xã hội