Áp dụng phương pháp trung bình-phương sai trong hoạt động phân tích và quản lý danh mục đầu tư
Trang 1Lời mở đầu 1
Chương I : Tìm hiểu chung về thị trường chứng khoán và hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán 3
I Thị trường chứng khoán 3
1 Thị trường tài chính: 3
1.1 Khái niệm thị trường tài chính: 3
1.2 Chức năng của thị trường tài chính: 3
1.3 Cấu trúc của thị trường tài chính 5
1.4 Công cụ trên thị trường tài chính 8
2 Thị trường chứng khoán 11
2.1 Khái niệm thị trường chứng khoán 11
2.2 Vị trí và cấu trúc thị trường chứng khoán 12
2.3 Các chủ thể trên thị trường chứng khoán 14
II Chứng khoán và phân loại chứng khoán 16
1 Khái niệm chứng khoán 16
2 Phân loại chứng khoán 17
III Phân tích và đầu tư chứng khoán 21
1 Khái niệm phân tích và đầu tư chứng khoán: 21
2 Phân loại đầu tư chứng khoán 21
3 Phân tích chứng khoán 21
3.1 Phân tích vĩ mô và thị trường chứng khoán 21
3.2 Phân tích ngành 23
3.3 Phân tích công ty 24
4 Quản lý danh mục đầu tư 25
4.1 Danh mục đầu tư và đặc trưng của danh mục đầu tư 25
4.2 Quản lý danh mục đầu tư 28
Trang 21 Mục tiêu tối ưu lý tưởng 30
2 Mục tiêu tối ưu Pareto 31
3 Phương pháp trung bình phương sai 32
3.1 Xét nhóm tài sản rủi ro 32
3.2 Xét nhóm tài sản có chứa tài sản phi rủi ro 33
4 Phân tích mô hình trung bình- phương sai 33
4.1 Danh mục biên duyên và tập danh mục biên duyên 33
4.2 Danh mục MVP: 35
4.3 Danh mục hiệu quả và biên hiệu quả 36
4.4 Danh mục tiếp tuyến: 36
II Đường thị trường vốn, đường thị trường chứng khoán và mô hình chỉ số đơn 37 1 Đường thị trường vốn CML: 37
2 Đường thị trường chứng khoán SML: 39
3 Mô hình chỉ số đơn SIM 40
3.1 Các giả thiết mô hình 40
3.2 Phương pháp ước lượng mô hình 41
3.3 Kiểm định mô hình: 42
4 Một số ứng dụng của mô hình chỉ số đơn 43
4.1 Phân tích rủi ro của tài sản và danh mục 43
4.2 Ước lượng ma trận hiệp phương sai của lợi suất các tài sản 43
4.3 Sử dụng thuật toán EGP để xác định danh mục tiếp tuyến 44
III Một số chỉ tiêu đánh giá việc thực thi danh mục 45
1 Tỷ suất lợi nhuận - rủi ro 45
2 Chỉ số Sharpe: 46
3 Chỉ số Treynor: 46
Chương III: Áp dụng phương pháp trung bình - phương sai lập danh mục tối ưu .47
Trang 32 Thông tin các công ty: 49
III Xây dựng danh mục tiếp tuyến lấy từ 10 cổ phiếu 55
1 Mô hình Sim 55
1.1 Mô hình Sim 55
1.2 Ước lượng mô hình Sim 55
2 Thuật toán EGB xác định danh mục tiếp tuyến 67
IV Áp dụng bài toán trung bình phương sai cho danh mục tiếp tuyến 69
1 Lợi suất và rủi ro: 69
2 Ma trận hiệp phương sai 70
3 Một số chỉ số đánh giá hiệu quả của danh mục đầu tư 75
3.1 Tỷ suất lợi nhuận- rủi ro biên: 75
3.2 Chỉ số Sharpe: 76
3.3 Chỉ số Treynor: 77
3.4 Hệ số α-Jensen 77
4 Đánh giá cho việc thay đổi cơ cấu danh mục IV Thị trường chứng khoán Việt Nam và hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán 1 Thị trường chứng khoán Việt Nam 2 Thực trạng hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán 3 Một số kiến nghị với hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán Kết luận 97
Danh mục tài liệu tham khảo 98
Phụ lục 98
Trang 6Thị trường tài chính có vai trò quan trọng trong việc tích tụ, tập trung,
và phân phối vốn trong nền kinh tế, trên cơ sở đó làm tăng năng suất và hiệuquả của toàn bộ nền kinh tế
+ Xác định giá cả các tài sản tài chính
Thông qua quan hệ giữa người mua và người bán trên thị trường tàichính giá cả tài chính được xác định, hay chính là lợi tức yêu cầu của các tàisản tài chính được xác định
+ Tạo tính thanh khoản cho tài sản tài chính
Thị trường tài chính cung cấp một cơ chế để các nhà đầu tư có thể traođổi, mua bán các tài sản tài chính của mình trên thị trường thứ cấp Do đó thịtrường tài chính tao ra tính thanh khoản cho các tài sản tài chính Nếu thiếutính thanh khoản, nhà đầu tư phải giữ lại các tài sản tài chính cho đến khi đáohạn hoặc công ty bị giải thể hay phải thanh lý tài sản
+ Giảm thiểu chi phí cho các chủ thể tham gia trên thị trường
Để có thể tiến hành giao dịch, người mua và người bán phải mất chi phítìm kiếm đối tác, tìm kiếm thông tin cho quá trình trước, trong và sau khi raquyết định đầu tư Nhờ tính tập trung mà thông tin được cung cấp nhanhchóng, đầy đủ và chính xác trên thị trường tài chính Vì thế, nâng cao hiệu quảtrên thị trường tài chính và toàn nền kinh tế
+ Khuyến khích cạnh tranh và tăng hiệu quả kinh doanh
Thị trường tài chính là thị trường định giá các công cụ tài chính Vì vậy,
sẽ khuyến khích quá trình phân phối vốn một cách có hiệu quả, góp phần tăng
Trang 7tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Từ đó đặt ra cho các doanh nghiệp phảităng hiêu quả kinh doanh để có thể tồn tại và phát triển
+ Ổn định và điều hòa lưu thông tiền tệ
Chức năng được thể hiện thông qua việc mua bán trái phiếu, tín phiếu
và các giấy tờ có giá khác của Ngân hàng Trung ương trên thị trường tài chính
và thị trường tiền tệ Thông qua đó, Chính phủ có thể huy động vốn để bù đắpthâm hụt ngân sách và kiểm soát lạm phát Ngân hàng Trung ương cũng cóthể mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối để điều chỉnh cung và cầu ngoại
tệ giúp chính phủ điều chỉnh tỷ giá hối đoái
1.3 Cấu trúc của thị trường tài chính
Thị trường vốn cổ phần là nơi mua bán các cổ phiếu, giấy xác nhận cổphần đóng góp của cổ đông Cổ đông là chủ sở hữu của công ty và phải chịutrách nhiệm trong phần góp vốn của mình Cổ đông có quyền yêu cầu với lợinhuận sau thuế của công ty cũng như với tài sản của công ty Cổ phiếu là vô
Trang 8thời hạn và người chủ sở hữu chỉ có thể lấy lại tiền bằng cách bán lại cổ phiếuhoặc khi công ty tuyên bố phá sản
1.3.2 Thị trường tiền tệ và thị trường vốn
Căn cứ vào thời hạn luân chuyển vốn, chia thị trường tài chính thành thịtrường tiền tệ và thị trường vốn
Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các công cụ tài chính ngắn hạn( thời gian đáo hạn dưới một năm) Trên thị trường tiền tệ tài sản tài chính cóthời gian đáo hạn ngắn nên có tính lỏng cao, độ rủi ro thấp và ổn định Thịtrường tiền tệ bao gồm: thị trường liên ngân hàng, thị trường tín dụng, thịtrường ngoại hối
Thị trường vốn là nơi mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn ( gồmcác công cụ nợ dài hạn và cổ phiếu), thị trường chứng khoán là đặc trưng củathị trường vốn
1.3.3 Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
Căn cứ vào tính chất của việc phát hành các công cụ trên thị trường tàichính, chia thị trường tài chính thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp hay thị trường phát hành là nơi công cụ tài chínhđược mua bán lần đầu tiên
Thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch các công cụ tài chính đã đượcphát hành trên thị trường sơ cấp
Thị trường thứ cấp hoạt động trên phạm vi rộng và với tổng mức lưuchuyển vốn lớn hơn rất nhiều so với thị trường sơ cấp Việc mua bán các tàisản trên thị trường này không làm thay đổi nguồn vốn của tổ chức phát hành,
Trang 9nó chỉ là quá trình chuyển đổi vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác, hay chỉ làhoạt động mua bán, trao đổi “ quyền sở hữu công cụ tài chính” Thị trường thứcấp giúp các công cụ tài chính có tính lỏng và khả năng sinh lời cao
1.3.4 Mối quan hệ giữa các thị trường bộ phận cấu thành thị trường tài chính
Các bộ phận của thị trường tài chính có mối quan hệ tương hỗ khôngthể tách rời Mối quan hệ của chúng được hình thành thông qua các luồng chuchuyển vốn giữa các bộ phận, biến động của thị trường này tạo luồng chuchuyển vốn, từ đó tác động đến quan hệ cung cầu làm thay đổi chỉ số phản ánhhoạt động của thị trường khác
Về mặt thời gian, thị trường tiền tệ xuất hiện trước thị trường vốn,nhưng chúng đều là mắt xích trong một dây chuyền hoàn chỉnh
Mối quan hệ giữa các thị trường bộ phận thông qua công cụ lãi suất vàđược phản ánh bởi sự biến động của các chỉ số khác như giá chứng khoán, tỷgiá hối đoái Sự thay đổi của lãi suất chắc chắn sẽ dẫn đến những biến động vềgiá chứng khoán và tỷ giá hối đoái Người ta có thể điều chỉnh trở lại các biếnđộng này nhờ vào công cụ lãi suất Có thể nói lạm phát và lãi suất là hai nhân
tố vĩ mô ảnh hưởng tới giá cả trên thị trường chứng khoán, trong đó lãi suất lànhân tố trực tiếp ảnh hưởng tới giá chứng khoán thông qua việc thay đổi lợisuất của nhà đầu tư Khi thị trường tiền tệ có dấu hiệu thay đổi lãi suất chiếtkhấu và tái chiêt khấu từ NHTW, lập tức sẽ ảnh hưởng tới giá chứng khoán
1.4 Công cụ trên thị trường tài chính
1.4.1 Công cụ trên thị trường tiền tệ
+ Tín phiếu kho bạc
Trang 10Là công cụ vay nợ ngắn hạn của Chính phủ thường được phát hành với
kỳ hạn 3, 6 và 12 tháng Chúng được trả với mức lãi suất cố định và hoàn trảgốc khi đến hạn thanh toán Hoặc chúng được thanh toán lãi do việc bán lầnđầu có giảm giá, tức là, với giá thấp hơn so với khoản tiền đã định được thanhtoán khi hết hạn
Tín phiếu kho bạc có tính lỏng cao và an toàn nhất trong số các công cụtrên thị trường tiền tệ bởi vì chúng được đảm bảo bởi Chính phủ
Tín phiếu kho bạc được nắm giữ chủ yếu bởi các Ngân hàng Thươngmại Ngoài ra cũng có một lượng nhỏ được nắm giữ bởi các hộ gia đình, cáccông ty hay các trung gian tài chính khác Ngân hàng thương mại sử dụng tínphiếu như một khoản dự trữ cấp hai ngoài việc đầu tư nguồn vốn đóng băng
Tín phiếu kho bạc còn được NHTW sử dụng để thực hiện nghiệp vụ thịtrường mở nhằm điều chỉnh lượng tiền cung ra lưu thông và kiểm soát thịtrường tiền tệ
+ Giấy chứng nhận tiền gửi của ngân hàng
Là công cụ vay nợ do ngân hành thương mại bán cho người gửi tiền.Người gửi tiền được thanh toán lãi hàng năm theo một tỷ lệ nhất định, khi đếnhạn thì hoàn trả gốc theo giá mua ban đầu Đây là công cụ được hầu hết cácngân hàng thương mại phát hành Các chứng chỉ tiền gửi có thể được mua bántrên thị trường thứ cấp
+ Thương phiếu
Trang 11Là công cụ vay nợ do các ngân hàng lớn và các công ty phát hành Họthông qua các trung gian tài chính bán thương phiếu cho các trung gian tàichính và các công ty khác để có thể vay vốn tức thời.
Thương phiếu có thể chia thành hai loại:
Hối phiếu:là giấy ghi nợ do người bán ký phát trao cho người mua,trong đó yêu cầu người mua đến hạn phải trả một số tiền nhất định cho ngườibán hoặc bất kỳ người nào thụ hưởng hối phiếu
Lệnh phiếu: là giấy nhận nợ do người mua kí phát trao cho người bán,trong đó người mua cam kết trả một số tiền nhất định khi đến hạn thanh toáncho người thụ hưởng lệnh phiếu
+ Hối phiếu được ngân hàng chấp nhận
Là một hối phiếu ngân hàng, do công ty phát hành, được thanh toántrong tương lai và được ngân hàng đảm bảo với một khoản phí bằng cách ngânhàng đóng dấu “đã chấp nhận” lên hối phiếu Công ty phát hành hối phiếu bắtbuộc phải gửi một khoản tiền theo thỏa thuận vào tài khoản của mình trongngân hàng đủ để trả cho hối phiếu nếu công ty không có khả năng thanh toántheo số tiền đã quy định thì ngân hàng phải thanh toán theo số tiền đã ghi trênhối phiếu cho người thụ hưởng
Các hối phiếu này thường được mua đi bán lại trên thị trường thứ cấp,
nó có tác dụng như tín phiếu kho bạc Ngoài ra người thụ hưởng có thể chiếtkhấu lại để thu tiền trước Hối phiếu ngân hàng có lãi suất thấp và độ an toàn cao
1.4.2 Công cụ trên thị trường vốn.
Trang 12Các công cụ trên thị trường vốn có thời gian đáo hạn dài thậm trí vô hạn
vì vậy mức độ biến động giá mạnh hơn, tính thanh khoản kém, nhưng lợi suấtcao hơn
+ Cổ phiếu: Là giấy chứng nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp vớithu nhập ròng và tài sản của công ty cổ phần
Cổ phiếu chia thành hai loại:
Cổ phiếu thông thường hay cổ phiếu phổ thông là cổ phiếu có thu nhậpkhông cố định, cổ tức biến động tùy theo sự biến động lợi nhuật của công ty.Tuy nhiên, thị giá của cổ phiếu nhạy cảm trên thị trường, ngoài lợi nhuận củacông ty nó còn phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố khác như: môi trường kinh tế,thay đổi lãi suất, quy luật cung cầu
Cổ phiếu ưu đãi: là cổ phiếu có quyền được nhận thu nhập cố định theomột tỷ lệ lãi suất nhất định, không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty Tuynhiên, thị giá của cổ phiếu phụ thuộc vào thay đổi của lãi suất trái phiếu khobạc và tình hình tài chinh của công ty
Việc đầu tư vào cổ phiếu không chỉ đơn giản là nhận cổ tức mà quantrọng hơn chính là kinh doanh chênh lệch giá cổ phiếu trên thị trường (lãivốn) Cổ phiếu của công ty được mua nhiều chứng tỏ thị trường tin tưởng vàokhả năng phát triển của công ty trong hiện tại và tương lai
+ Các khoản tín dụng cầm cố
Là các khoản vay các cá nhân, công ty kinh doanh vay để đầu tư vàonhững công trình kiến trúc, nhà, đất đai và dùng chính tài sản này làm tài sảnthế chấp cho món vay
Trang 13+ Các khoản tín dụng thương mại.
Là các khoản cho vay chung và dài hạn của các ngân hàng thương mạihoặc các công ty tài chính cho người tiêu dùng hoặc các doanh nghiệp vay.Thông thường nó không được giao dịch trên thị trường thứ cấp nên có tínhthanh khoản thấp
+ Trái phiếu công ty
Là giấy chứng nhận việc vay vốn của một chủ thể (người phát hành tráiphiếu) với môt chủ thể khác (người sở hữu trái phiếu) Nó quy định tráchnhiệm hoàn trả gốc và lãi của người phát hành cho người sở hữu khi đến thờigian đáo hạn
Trái phiếu công ty là một loại trái khoán dài hạn, do công ty phát hành
để huy động vốn, có lãi suất cao và trong một số trường hợp có thể chuyểnthành cổ phiếu Trên thị trường vốn đây là công cụ được lưu hành rộng rãi
+ Các loại chứng khoán chính phủ: là các công cụ vay nơ do Chính phủphát hành như: Trái phiếu Chính phủ, Tín phiếu kho bạc, Công trái quốc gia
2 Thị trường chứng khoán
2.1 Khái niệm thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổicác loại chứng khoán
Chứng khoán là các giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho phépngười sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành
Giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra trên thị trường
sơ cấp, thị trường thứ cấp, tại sở giao dịch, thị trường chứng khoán phi tập
Trang 14trung, thị trường giao ngay hay thị trường kì hạn Thực chất là quá trình vậnđộng của tư bản, chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.
Bản chất thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện mối quan hệcung cầu của vốn đầu tư, mà ở đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng thôngtin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư Thị trường chứng khoán là hìnhthức phát triển bậc cao của thị trường sản xuất và lưu thông hàng hóa
2.2 Vị trí và cấu trúc thị trường chứng khoán.
2.2.1 Vị trí của thị trường chứng khoán trong thị trường tài chính
Thị trường chứng khoán là hình ảnh đặc trưng của thị trường vốn Trênthị trường chứng khoán giao dịch hai loại công cụ tài chính: công cụ tài chínhtrên thị trường vốn và công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ
Thị trường chứng khoán là hạt nhận trung tâm của thị trường tài chính.Tại đó diễn ra quá trình mua bán, phát hành các công cụ Nợ và công cụ Vốn(công cụ sở hữu)
2.2.2 Cấu trúc của thị trường chứng khoán.
Ta đưa ra ba cách phân loại: theo hàng hóa, theo hình thức tổ chức củathị trường và theo quá trình luân chuyển vốn
+ Phân loại theo hàng hóa: chia thị trường chứng khoán thành thị trườngtrài phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường các công cụ dẫn suất
Thị trường trái phiếu là nơi giao dịch các trái phiếu, là các công cụ nợthường có thời gian đáo hạn xác định, thường là trung và dài hạn Đây thựcchất là phương thức đi vay có hoàn trả cả lãi và gốc Người cho vay không chiubất cứ trách nhiệm gì về kết quả kinh doanh và sử dụng nguồn vốn của công ty
Trang 15Thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch các cổ phiếu Cổ phiếu là giấy tờxác nhận đóng góp của cổ đông là chủ sở hữu của công ty và phải chịu tráchnhiệm trong phần đóng góp của mình.
Thị trường các công cụ dẫn suất: là nơi các chứng khoán phái sinh đượcgiao dịch đó là các hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn…
+ Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn: thị trường sơ cấp và thịtrường thứ cấp
Thị trường sơ cấp: là thị trường phát hành chứng khoán hay là nơi muabán các chứng khoán lần đầu tiên Tại thị trường này giá cả các chứng khoán
là giá phát hành Viêc bán chứng khoán trên thị trường này làm tăng vốn chonhà phát hành
Thị trường thứ cấp là nơi mua bán, trao đổi các chứng khoán đã được pháthành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội Thị trường sơ cấp làm tăng tính lỏng cho các chứng khoán Các nhà đầu
tư dễ dàng sàng lọc các chứng khoán ưa thích, tách biệt hoạt động quản lý và
sở hữu Ngoài ra nó giúp các chứng khoán dễ dàng chuyển đổi thời gian đáohạn từ ngắn sang trung, dài hạn Thị trường thứ cấp được xem là thị trườngđịnh giá công ty, thông qua việc định giá thị trường thứ cấp xác định được chiphí cho các mức độ rủi ro khác nhau của từng phương án đầu tư và vốn sẽđược đưa đến nơi đem lại khả năng sinh lời tốt nhất
+ Phân loại theo hình thức tổ chức thị trường: chia thành sở giao dịch vàthị trường chứng khoán phi tập trung
Trang 16Sở giao dịch chứng khoán: tại đây thường mua bán trao đổi các chứngkhoán của các công ty lớn Sở giao dịch chứng khoán được sự quản lý của Uỷban chứng khoán quốc gia, các giao dịch chịu sự điều tiết của luật chứngkhoán và thị trường chứng khoán, các giao dịch thường được diễn ra tại mộtđịa điểm nhât định
Thị trường chứng khoan phi tập trung, tại đây không có địa điểm giaodịch cụ thể, giao dịch có thể diễn ra tại quầy, qua điện thoại… Đây là thịtrường giao dịch của các nhà buôn, những người tạo lập thị trường, khối lượnggiao dịch lớn hơn nhiều so với ở các sở giao dịch
+ Ngoài ra còn có thị trường thứ ba dành cho các chứng khoán không
đủ điều kiện giao dịch trên thị trường tập trung và thị trường OTC Ta cũng cóthể chia thành thị trường mở, thị trường đàm phán, thị trường giao ngay và thịtrường kỳ hạn
2.3 Các chủ thể trên thị trường chứng khoán
Công ty phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty
Các tổ chức tài chính trung gian là các chủ thể phát hành trái phiếu,chứng chỉ hưởng thụ
2.3.2 Nhà đầu tư.
Trang 17+ Nhà đầu tư cá nhân là các hộ gia đình, những người có vốn nhàn rỗitạm thời, tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường với mục đích kiếm lời
+ Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bánchứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Đại diện là các ngân hàngthương mại, công ty chứng khoán, công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹtương hỗ, các quỹ lương hưu và các quỹ bảo hiểm xã hôi khác
2.3.3 Các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán
+ Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán:hình thành nhiều mô hình tổ chức hoạt động khác nhau Có nước do các tổchức tự quản thành lập, có nước thuộc sự quản lý của Chính phủ, có nước là
sự kết hợp của cả hai Tại Việt Nam cơ quan quản lý và giám sát thị trườngchứng khoán là Uỷ ban chứng khoán nhà nước, là môt cơ quan thuộc Chính phủ
+ Sở giao dịch chứng khoán: thực hiện vận hành thị trường chứngkhoán thông qua bộ máy tổ chức và hệ thống các quy định, văn bản pháp luật
về giao dịch chứng khoán trên cơ sở phù hợp với pháp luật và Uỷ ban chứng khoán
+ Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán: là tổ chức tự quản của cáccông ty chứng khoán và môt số thành viên khác hoạt động trong ngành chứngkhoán tự thành lập để bảo vệ lợi ích các thành viên và các nhà đầu tư
+ Tổ chức lưu kí thanh toán bù trừ chứng khoán: là tổ chức nhận lưu trữ
và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ trong các giao dịch chứng khoán.Các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán đáp ứng đủ điều kiện của Uỷban chứng khoán sẽ được thực hiện chức năng này
Trang 18+ Các tổ chức hỗ trợ: là tổ chức khuyến khích mở rộng và tăng trưởnghoạt động của thị trường chứng khoán thông qua hoạt động cho vay để muachứng khoán, hay cho vay chứng khoán để thực hiện giao dịch Môt số quôcgia không cho phép thành lập tổ chức này.
+ Các công ty đánh giá hệ số tin nhiệm: là các công ty chuyên cung cấpdịch vụ đánh giá năng lực thanh toan khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn của
tổ chức phát hành theo đúng cam kết
II Chứng khoán và phân loại chứng khoán
1 Khái niệm chứng khoán
Chứng khoán là các giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhượng, xác định
số vốn đầu tư ( tư bản đầu tư) Xác định quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ hợppháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong môt thời gian nào đó
Chứng khoán có các đặc điểm cơ bản:
+ Tính thanh khoản (tính lỏng): tính thanh khoản là khả năng chuyểnthành tiền mặt Tính thanh khoản càng cao thì khả năng chuyển nhượng càng cao
+ Tính rủi ro: chứng khoán khác nhau có độ rủi ro khác nhau Chứngkhoán chịu hai loại rủi ro: rủi ro hệ thống là rủi ro chung mọi chứng khoáncùng chịu như nhau, do các nguyên nhân kinh tế chung như lạm phát, suythoái… gây ra và rủi ro phi hệ thống, rủi ro này khác nhau ở các chứng khoánkhác nhau, thường xuất phát từ các tổ chức phát hành
+ Chứng khoán là một loại tài sản sinh lời Khi sở hữu nó người tamong muốn thu được một thu nhập lớn hơn trong tương lai Nó được đảm bảo
Trang 19bằng việc trả cổ tức và sự tăng giá cổ phiếu Lợi tức và rủi ro luôn có sự đánhđổi với nhau.
2 Phân loại chứng khoán
+ Phân loại chứng khoán theo tính chất
Chứng khoán vốn: Là chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữuphần vốn góp hợp pháp khác đối với tổ chức phát hành
Đại diện cho chứng khoán vốn là cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tưchưa có định nghĩa
Cổ phiếu: là một chứng khoán vốn được phát hành dưới dạng chứng chỉhoặc bút toán ghi sổ , xác nhận quyền và lợi ích sở hữu hợp pháp đối với tàisản hoặc vốn của công ty cổ phần Là công cụ tài chính có thời gian đáo hạn
vô hạn Nhà đầu tư tham gia mua cổ phiếu trở thành các cổ đông của công ty
Chứng khoán nợ: Là chứng khoán quy định nghĩa vụ của ngươi pháthành (người đi vay) phải trả cho người đứng tên sở hữu chứng khoán (ngườicho vay) một khoản tiền nhất định bao gồm cả gốc và lãi trong một khoảngthời gian cụ thể
Trái phiếu là một loại chứng khoán nợ
Đặc trưng cơ bản của trái phiếu:
Mệnh giá của trái phiếu là số tiền ghi trên bề mặt trái phiếu, đến thờiđiểm đáo hạn tổ chức phát hành phải thanh toan cho người sở hữu trái phiếukhoản tiền bằng mệnh giá
Lãi suất cuống phiếu là lãi suất mà tổ chức phát hành phải trả cho chủ
sở hứu trái phiếu khi đến hạn thanh toán Lãi suất nhân với mệnh giá cho ta lãi
Trang 20suất cuống phiếu Thời gian đáo hạn: là thời gian mà tổ chức phát hành thu hồitrái phiếu và hoàn trả cả gốc và lãi cho chủ sở hữu trái phiếu Trái phiếuthường có thời gian đáo hạn dài và có biến động gía lớn
Chứng khoán phái sinh
Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn gốc từ chứngkhoán và có quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc, gồm:
Quyền mua trước hay còn gọi là đặc quyền mua: là một quyền ưu đãiđược gắn với một cổ phiếu đang lưu hành, do công ty phát hành ra cổ phiếu đó
để huy động thêm vốn cổ phần Cho phép những người sử dụng cổ phiếu đanglưu hành được phép mua một số nhất định cổ phiếu trong đợt phát hành mớivới mức giá thấp hơn mức giá chào bán trong một thời gian nhất định Cácquyền này có thể chuyển nhượng giữa các cổ đông
Chứng khế là bảo chứng phiếu được phát hành cùng với cổ phiếu ưu đãihoặc trái phiếu cho phép người sở hữu có quyền mua một số lượng cổ phiếunhất định với mức giá xác định trong một khoảng thời gian nhất định Quyềnnày thường được hình thành khi công ty tổ chức lại nhằm khuyến khích cácnhà đầu tư mua cổ phiếu ưu đãi hoặc trái phiếu trong điều kiện không thuận lợi
Hợp đồng kỳ hạn: là thỏa thuận giữa người mua và bán thực hiện giaodịch hàng hóa ở một thời điểm chắc chắn trong tương lai với khối lượng vàmức giá xác định Hợp đồng kỳ hạn không trao đổi trên thị trường, khôngđược định giá hàng ngày Hợp đông kỳ hạn không mất phí Các nhà đầu tư sửdụng nhằm mục đích đầu cơ và bảo hộ
Hợp đồng tương lai là thỏa thuận mua hoặc bán một tài sản vào mộtthời điểm chắc chắn trong tương lai với một mức giá xác định
Trang 21Hợp đồng quyền chọn là hợp đồng cho phép người nắm giữ đượcquyền mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) mộtkhối lượng hàng hóa cơ sở nhất định tại một mức giá xác định và trong mộtthời gian nhất định.
Các hàng hóa cơ sở trong các chứng khoán phái sinh là: cổ phiếu, chỉ số
cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, tiền hay hợp đồng tương lai
+ Phân loại chứng khoán theo khả năng chuyển nhượng
Chứng khoán vô danh ( giấy xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợkhông ghi tên chủ sở hữu) Loại chứng khoán này dễ dàng chuyển nhượng,không cần những thủ tục xác nhận của công ty hoặc cơ quan công chứng
Chứng khoán ghi danh (giấy xác nhận quyền đòi nợ hoặc quyền sở hữu
có ghi tên chủ sở hữu) Loại chứng khoán này được phép chuyển nhượngnhưng phải tuân theo thủ tục pháp lý cụ thể Nếu muốn chuyển nhượng người
sở hữu phải chứng minh mình được phép và có quyền chuyển nhượng ( xácđịnh chữ kí, chứng minh thư, tên trong danh sách cổ đông), như cổ phiếu ghidanh và trái phiếu ghi danh
+ Phân loại chứng khoán theo thu nhập
Chứng khoán có thu nhập cố định: là chứng khoán có quyền yêu cầu thunhập không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của nhà phát hành
Kỳ hạn của các chứng khoán có thu nhập cố định thường là rất khácnhau Tín phiếu có kỳ hạn ngắn (nhỏ hơn một năm), trái phiếu là trung và dàihạn (2-30 năm), cổ phiếu ưu đãi là vô thời hạn Tuy nhiên kỳ hạn này có thểthay đổi trong quá trình chuộc lại của nhà phát hành Về theo đối tượng phát
Trang 22hành ta có thể phân chia chứng khoán có thu nhập cố định thành: Trái phiếunhà nước, Trái phiếu địa phương, Trái phiếu công nghiệp (trái phiếu công ty),Trái phiếu ngân hàng và Tín phiếu quỹ tiết kiệm, Tín phiếu kho bạc.
Chứng khoán có thu nhập biến đổi: cổ phiếu thường đại diện cho chứngkhoán có thu nhập biến đổi Thu nhập do cổ phiếu mang lại gọi là cổ tức ( cổphần), biến động theo kết quả kinh doanh của công ty Một hình thức khác làphiếu tham gia hay chứng chỉ đầu tư Khác với cổ phiếu thường là không cóquyền giám sát hoạt động của công ty Khi phát hành chứng chỉ đầu tư, công
ty có thể huy động được vốn mà không chịu rủi ro về việc chi trả cổ tức cốđịnh như cổ phiếu ưu đãi hay trái phiếu, và không bị pha loãng quyền kiểm soát
Hình thức hỗn hộp của chứng khoán: các chứng khoán này vừa mangtính chất của chứng khoán có thu nhập cố định, vừa mang tính chát của chứngkhoán có thu nhập biến đổi, như: trái phiếu công ty có khả năng chuyển đổi,trái phiếu có quyền mua cổ phiếu, trái phiếu có thu nhập bổ xung
Trái phiếu công ty có khả năng chuyển đổi: là trái phiếu có mức lãi suất
cố định, nhưng nó còn đảm bảo cho người sở hữu quyền đổi cổ phiếu thànhtrái phiếu trong một thời gian nhất định với các điều kiện xác đinh Giá trị củaquyền chuyển đổi không chỉ phu thuộc vào điều kiện chuyển đổi mà còn phuthuộc vào chất lượng của trái phiếu
Trang 23III Phân tích và đẩu tư chứng khoán
1 Khái niệm phân tích và đầu tư chứng khoán:
Chứng khoán là các tài sản tài chính, đầu tư chứng khoán là đầu tư tàichính Trong hoạt động đầu tư các nhà đầu tư mua một danh muc đa dạng cácchứng khoán trên cả thị trường vốn và thị trường tiền tệ
Phân tích chứng khoán là hoạt động quan trọng nhằm hỗ trợ cho việc raquyết định đầu tư Trong hoạt động đầu tư chứng khoán có hai phương phápphân tích chủ yếu được sử dụng là phương pháp phân tích cơ bản và phân tích
kỹ thuật Phân tích cơ bản giúp doanh nghiệp có thể lựa chọn kết cấu danhmục phù hợp Phân tích kỹ thuật giúp các nhà quản lý có thể lựa chọn đươcthời điểm mua và bán chứng khoán tùy theo thị trường
2 Phân loại đầu tư chứng khoán
Căn cứ vào loại công cụ đầu tư có thể chia thành đầu tư vào trái phiếuChính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, đầu tư vào cổ phiếu
Căn cứ vào mục đích đầu tư, có thê phân thành đầu tư nhằm hưởng lợi
và đầu tư nắm quyền kiểm soát, quản lý tổ chức phát hành
Mục tiêu phân tích chứng khoán nhằm đầu tư đạt hiêu quả nhất sao chonhà đầu tư có được lợi nhuận cao và đảm bảo an toàn
3 Phân tích chứng khoán
3.1 Phân tích vĩ mô và thị trường chứng khoán
Nền kinh tế quốc tế có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình sản xuấtcuả doanh nghiệp và cả quốc gia, có những tác động trực tiếp đến hoạt độngcủa thị trường chứng khoán Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập của Việt Nam
Trang 24thì phân tích đầu tư không thể không xét đến tình hình kinh tế quốc tế, vì vậycác vấn đề như chính sách tiền tệ, chính sách tự do hóa tài chính, chính sáchbảo hộ, hay cả tình hình chính trị cần được xem xét.
Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong nước cũng tác động mạnh
mẽ đến thị trường chứng khoán
+ Tình hình chính trị bao gồm những thay đổi về chính phủ và các hoạtđộng chính trị kinh tế của nhiều nước Thay đổi chính trị làm cho nhiều quyđịnh và sự kiểm soát của Chính phủ trong một số ngành được thắt chặt và sốkhác có thể được nới lỏng Từ đó tác động đến kết quả kinh doanh của cácngành, các công ty và rất khó để khẳng định việc thắt chặt hay nới lỏng ảnhhưởng tích cực đến nền kinh tế
Môi trường pháp luật là môi trường cơ bản tác động tới thị trườngchứng khoán
+ Các điều kiện kinh tế vĩ mô: các điều kiện kinh tế vĩ mô quyết địnhrủi ro chung của thị trường Các rủi ro này tác động đến toàn bộ thị trường vàđến tất cả các chứng khoán Với các nhà đầu tư hay tổ chức phát hành thì đây
là yếu tố khách quan
Các điều kiện kinh tế vĩ mô ta cần quan tâm trong phân tích chứngkhoán là: tổng sản phẩm quốc dân GDP, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát, lãisuất, tỷ giá, mức thâm hụt ngân sách quốc gia, chính sách chính phủ trong lĩnhvực tài chính tiền tệ Tuy nhiên, có ba nhân tố vĩ mô cơ bản nhất tác động trựctiếp đến hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán, đó là tỷ giá hối đoái,lạm phát và lãi suât Với tỷ giá hối đoái: khi nhà đầu tư nhận thấy đồng nội tệ
có thể bị phá giá, nhà đầu tư sẽ giảm quyết định không đầu tư vào chứng
Trang 25khoán hoặc tìm cách thay thế bằng các tài sản ngoại tệ để phòng ngừa giá trịchứng khoán bị sụt giảm Với tỷ lệ lạm phát và lãi suất: đây là hai nhân tốquan trọng gây ảnh hưởng lớn tới quyết định đầu tư Lãi suất là nhân tố tácđộng tới giá chứng khoán và lãi suất yêu cầu của nhà đầu tư khi đầu tư vàochứng khoán Mức lãi suất này bị ảnh hưởng bởi tình hình sản suất kinh doanhcủa các công ty và sức chi tiêu của nhân dân Với cầu về vốn để mở rộng sảnxuất kinh doanh cao hơn, đồng thời sẽ có nhiều doanh nghiệp mới được thànhlập Vì vậy, sức cầu về vốn sẽ tăng và đẩy mức lãi suất vay vốn cao hơn Vớisức chi tiêu của nhân dân: nếu dự đoán nền kinh tế có triển vọng phát triển tốtthì nhu cầu tiêu dùng ngày hôm nay của mọi người dân tăng cao, thậm chí cóthể vay để tiêu dùng và đẩy mức lãi suất tăng cao.
+ Dự đoán về tình hình kinh tế và xu hướng thị trường: biến động giá cổphiếu đôi khi xảy ra trước biến động thị trường, có khi xảy ra sau Các nhàkinh tế cần có đánh giá về nền kinh tế để nhận biết được những đỉnh điểm chu
kì kinh tế và thời điểm thích hợp tham gia hay rút lui thị trường chứng khoán
3.2 Phân tích ngành
Phân tích ngành gồm: phân tích chu kì sống, chu kì kinh doanh củangành, xác định hệ số rủi ro, lợi suất kỳ vọng và các hệ số tài chính
Các bước trong phân tích ngành:
Xác định hệ số rủi ro của ngành β thông qua mô hình CAPM
Phân tích chỉ số P/E của toàn ngành: xem xét mối quan hệ giữa P/E củangành và P/E tổng thể của thị trường; xem xét các yếu tố ảnh hưởng trực tiếpđến P/E của ngành như hệ số chi trả cổ tức, mức sinh lời yêu cầu, tỷ lệ tăngtrưởng cổ tức
Trang 26Ước tính thu nhập của cổ phiếu EPS thông qua phương pháp phân tíchchu kì kinh doanh; phân tích đầu vào- đầu ra; phân tích mối quan hệ giữangành và nền kinh tế tổng thể
Tính giá trị cuối kỳ của chỉ số ngành bằng cách nhân hệ số P/E cuối kìtính toán được với ước tính thu nhập đầu cổ phiếu Sau đó so sánh giá trị chỉ
số cuối kỳ với giá trị đầu kỳ để ước tính lợi suất
r = ( giá trị chỉ số cuối kỳ- giá trị đầu kỳ+ cổ tức nhận trong kỳ)/giá trịđầu kỳ
Ta so sánh lợi suất thực tế này với lợi suất kỳ vọng
3.3 Phân tích công ty
3.3.1 Phân tích cơ bản
Phân tích cơ bản là tìm hiểu, phát hiện quy luật và diễn biến giá cổphiếu thông qua việc tìm hiểu, phát hiện một số yếu tố đặc trưng cho hoạtđộng của công ty niêm yết chi phối luồng thu nhập tương lai của công ty Cácyếu tố này thường được đo bởi các chỉ tiêu tài chính cơ bản được công bố định kỳ
3.3.2 Phân tích kĩ thuật
Phân tích kỹ thuật ta sử dụng hai chỉ tiêu: giá và khối lượng giao dịchtrong quá khứ của cổ phiếu, là một nguồn thông tin sử dụng trong phân tích thống
kê nhằm phát hiện quy luật diễn biến giá cổ phiếu và dự đoán xu thế ngắn hạn
3.3.3 Phân tích báo cáo tài chính
Phân tích báo cáo tài chính vô cùng quan trọng nhằm mục đích: đánhgiá khả năng sinh lời của tổ chức phát hành, đánh giá khả năng thanh toán nợdài hạn của tổ chức phát hành; khả năng thanh khoản, tức là khả năng chi trả các
Trang 27khoản nợ đặc biêt là các khoản nợ ngắn hạn của tổ chức phát hành, đánh giá tiềmnăng phát triển trong tương lai Việc phân tích này cần tiến hành theo cả chiều dọc
và chiều ngang Tức là ta phải tính toán các tỷ lệ của doanh nghiệp trong từng thời
kỳ để thấy được thực chất của việc tăng giảm, và so sánh giữa các doanh nghiệptrong cùng ngành với nhau Ta sử dụng chủ yếu bảng cân đối kế toán, báo cáo lưuchuyển tiền tệ và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
3.3.4 Phân tích rủi ro
Phân tích rủi ro là phân tích sự biến động của tổng thể các dòng thunhập của công ty Ta phân tích rủi ro này trên hai giác độ là: rủi ro từ hoạtđộng kinh doanh và rủi ro tài chính Rủi ro từ hoạt động kinh doanh của công
ty là mức biến động thu nhập phát sinh trong hoạt động kinh doanh của công
ty, là tỷ lệ độ lệch chuẩn của thu nhập hoạt động và thu nhập hoạt động bìnhquân, ngoài ra ta cân phân tích biến động của doanh số bán hàng và đòn bẩytài chính; rủi ro tài chính là rủi ro lợi nhuận của cổ đông do công ty vay nợ Đểphân tích rủi ro tài chính các doanh nghiệp sử dụng hai loại hệ số tài chính.Thứ nhất, các hệ số tài chính có trong bảng cân đối kế toán và thứ hai là nhóm
hệ số về các dòng thu nhập hoặc dòng tiền để thanh toán các chi phí Mục đích
để chỉ ra khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cũng như cơ cấu vốn và khả năngthanh toán nợ dài hạn
4 Quản lý danh mục đầu tư
4.1 Danh mục đầu tư và đặc trưng của danh mục đầu tư.
4.1.1 Danh mục đầu tư và đặc trưng
Danh mục đầu tư gồm nhiều tài sản với các mức giá đã biết và mối quan
hệ giữa các mức giá trong tài sản
Trang 28+ Tài sản và đặc trưng của tài sản:
Xét một nhóm gồm N tài sản rủi ro được giao dịch trên thị trường
ri : lợi suất của tài sản i trong một chu kì đầu tư
i
r : lợi suất kỳ vọng của tài sản i
2
i
: phương sai lợi suất của tài sản i
cov(ri, rk ) = ik : hiệp phương sai lợi suất giữa tài sản i và tài sản k
V =ikN*N (i k=1÷N): ma trận hiệp phương sai các tài sản
Ta có lợi suất của cac tài sản ri là độc lập tuyến tính, tức là không có bất
cứ mối liên hệ thuận hay nghịch chiều nào, nếu tồn tại ta sẽ không đưa vàodanh mục tài sản xét đên Vì thế V là ma trận xác định dương và luôn tồn tại
V-1, ma trận này cũng là ma trận xác định dương
r ≡ (r1, r2,…, rN): véc tơ lợi suất tài sản tính trong một chu kì
r ≡ (r1, r2, …, rN) : véc tơ lợi suất kì vọng của các tài sản
i
: là véc tơ cột i của ma trận V và cũng là véc tơ dòng của ma trận này
vì V là ma trận đối xứng
r f: là lãi suất phi rủi ro cùng chu kì đầu tư với tài sản rủi ro
+ Danh mục và một số đặc trưng của danh mục:
Ta có danh mục P: (w1, w2, …, wN) là danh mục khả thi gồm N tài sảnrủi ro, với :
Trang 29w1, w2, …, wN: lần lượt là tỷ trọng của tài sản 1,2,…, N trong danh mục
1 = (w, r) , w và r là các ma trận tỷtrọng và lợi suất tài sản i
Phương sai của danh mục P là: 2
P
=w,Vw
Độ dao động của danh mục P: P = w,Vw
Hiệp phương sai giữa danh mục P và tài sản k:
i u w
1 , 1 cov(ri,rj), uj là tỷ trọng của tài sản j trong danh mụcQ
4.1.2 Phân tích so sánh tĩnh với các đặc trưng của danh mục đầu tư
Xét danh mục P: (w1, w2, …, wN), nhà đầu tư không thể thay đổi lợi suấthay phương sai của danh mục đầu tư Nhà đầu tư chỉ có thể tác động vào tỷtrọng w của các tài sản trong danh mục từ đó gián tiếp điều chỉnh lợi suất vàphương sai của danh mục đầu tư Với cách điều chỉnh này, nhà đầu tư khôngphải bỏ thêm chi phí chỉ thay đổi cơ cấu đầu tư, ta có so sánh tĩnh với các đặctrưng của danh mục đầu tư
Giả sử nhà đầu tư tăng tỷ trọng đầu tư vào tài sản k một lượng ε >0 và giảm
tỷ trọng đầu tư vào tài sản i với tỷ trọng ε khi đó có danh mục đầu tư mới:
Trang 30P(ε) :( w1, w2, …, wi- ε , …, wk- ε , wN), các đặc trưng của tài sản thay đổi:
rp(ε) = rp+ ε(rk-rj)
2 )
=2Cov(rp, (rk-ri))=2(σkp- σki)
4.2 Quản lý danh mục đầu tư
4.2.1 Lý thuyết đa dạng hóa
Quá trình phân tán và tối thiểu hóa rủi ra là một hình thức đa dạng hóa.Theo đó nhà đầu tư nên đầu tư vào nhiều tài sản khác nhau sao cho tổng mứcrủi ro là nhỏ nhất trên toàn danh mục đầu tư Ta đã biết mỗi chứng khoán đềuchứa rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống Rủi ro hệ thống tác động lên cácchứng khoán như nhau do cùng có nguyên nhân phát sinh, và rủi ro này khôngthể thay đổi với mỗi chứng khoán Rủi ro không hệ thống xuất phát từ bản thânmỗi tổ chức phát hành, ta có thể tác động vào rủi ro này thông qua việc đa dạnghóa danh mục đầu tư Có thể làm được như vậy là do khi hai hoặc nhiều chứngkhoán tham gia tạo thành một danh mục đầu tư thì sẽ có những tương tác giữahai chứng quán với nhau tạo thành một kết quả chung cho danh mục đầu tư Độrủi ro của danh mục cao hay thấp phu thuộc vào sự tương tác giữa các chứngkhoán trong danh mục, càng đa dạng hóa danh mục thì rủi ro càng giảm trongdanh mục đầu tư cũng có rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống, nhưng ta có
Trang 31thể điều chỉnh làm giảm và thậm chí là làm cho rủi ro không hệ thống bằng 0,
và chỉ còn lại rủi ro hệ thống Thông thường khi xét đến một danh mục đầu tư,
ta quan tâm nhiều đến rủi ro hệ thống của danh mục Vì vậy quan tâm hơn đếnrủi ro hệ thống của chứng khoán tham gia vào danh mục đầu tư Hệ số β cho tabiết mức rủi ro hệ thống của môt tài sản cụ thể so vơi mức rủi ro hệ thống trungbình của tất cả các tài sản
4.2.2 Lý thuyết thị trường hiệu quả
Thị trường hiệu quả là thị trường mà giá cả của chứng khoán đã phảnánh đầy đủ, tức thời tất cả các thông tin hiện có trên thị trường Điều đó tức làgiá cả chứng khoán thay đổi một cách ngẫu nhiên do ảnh hưởng của nhữngthông tin không thể dự đoán được
Có ba dạng thị trường hiệu quả là:
Trạng thái yếu của thị trường: giá cả chứng khoán phản ánh kịp thời và đầy
đủ những thông tin trong quá khứ về giao dịch của thị trường như giá cả giao dịch,khối lượng, động thái, khi này các nhà phân tích kỹ thuật sẽ bị vô hiệu hóa
Hình thái trung bình: giá cả chứng khoán phản ánh tất cả những thôngtin liên quan đến công ty được phân bố công khai bên cạnh các thông tin trongquá khứ Khi tồn tại hình thái này thì nhà đầu tư không thể có lợi nhuận siêungạch nếu các phân tích chỉ dựa vào những thông tin trên thị trường
Hình thái mạnh: giá cả chứng khoán phản ánh đầy đủ tất cả các thôngtin cần thiết có liên quan đến tổ chức phát hành kể cả các thông tin mật haynội gián Với hình thái này , giá cả chứng khoán sẽ thay đổi rất nhanh trước sựthay đổi thông tin trên thị trường hình thái này tồn tại sẽ vô hiệu hóa mọiphương pháp phân tích
Trang 324.2.3 Quản lý danh mục đầu
Quản lý danh mục cổ phiếu thụ động là chiến lược mua, bán cổ phiếutheo một chỉ số chuẩn nào đó Mục đích của chiến lược này không phải để tạo
ra một danh mục vượt trội so với chỉ số chuẩn trên thị trường mà tạo ra danhmục cổ phiếu có số lượng và chủng loại gần giống với chỉ số chuẩn, nhằm đạtmức sinh lời dự kiến tương đương mức sinh lời chuẩn
Quản lý danh mục cổ phiếu chủ động là chiến lược mua bán cổ phiếunhằm thu được mức sinh lời dự kiên đầu tư cao hơn mức sinh lời của danhmục thụ động chuẩn hoặc thu được mức lợi nhuận trên mức trung bình chuẩn hoặcthu được mức lợi nhuận trên mức trung bình ứng với một mức rủi ro nhất định
Chương II: Phương pháp phân tích và quản lý danh mục đầu tư
I Phương pháp phân tích trung bình- phương sai
1 Mục tiêu tối ưu lý tưởng
Lợi ích nhà đầu tư khi nắm giữ danh mục P là U(P) Do U(P) tăng theolợi suất kỳ vọng r P và giảm theo phương sai 2
P
của danh mục P nên để tối
đa hóa lợi ích kỳ vọng nhà đầu tư chọn danh mục P :( w1, w2, …, wi- ε , …, wk- ε
, wN) sao cho đồng thời r P đạt cực đại và 2
P
là cực tiểu Đây là mục tiêu lýtưởng của nhà đầu tư Để đạt được mục tiêu lý tưởng nhà đầu tư phải giải bàitoán tối ưu:
i
i r w
w
1
=1
Trang 33Nghiệm của bài toán này là nghiệm lý tưởng.
2 Mục tiêu tối ưu Pareto
Trong nhiều trường hợp bài toán không có nghiệm lý tưởng khi đó taxét bài toán với dạng sau:
+ Cho trước phương sai 2
Ta có hai bài toán cho nghiệm tối ưu Pareto
Bài toán A: Max r P
P
N i i
i r w
i r w
1
=r o ,
N i i
Trang 34+ Và ngược lại ta cũng có điều tương tự
Như vậy nhà đầu tư với mục tiêu lựa chọn danh mục tối ưu Patero thìdanh mục tối đa hóa lợi ích kỳ vọng cũng là danh mục tối thiểu hóa độ rủi rovới lợi suất kỳ vọng cho trước Do vậy, ta chỉ cần xét một trong hai bài hoán là
đủ Ta sẽ xét bài toán tối thiểu hóa rủi ro vì các nhà đầu tư là được coi lànhững người e ngại rủi ro
3 Phương pháp trung bình phương sai
P N
i
i i
w
r r w
A P2 2 P
Trang 353.2 Xét nhóm tài sản có chứa tài sản phi rủi ro
Bài toán:
2
1w’Vw→ Min
V-1(r -rf) , 2
P
= H1 ((r P r f ) 2Vậy, cho dù danh mục P có hay không có tài sản phi rủi ro thì bài toántối ưu luôn có nghiệm duy nhất
4 Phân tích mô hình trung bình- phương sai
4.1 Danh mục biên duyên và tập danh mục biên duyên
Với nhóm tài sản rủi ro, ta có nghiệm: w(r P )= g +r P h
Khi r P (-, ), tập danh mục P(r P ) là tập danh mục biên duyên
Trang 36Ta có công thức xác định tập danh mục P khi r P (-, ) như sau:Với nhóm tài sản rủi ro: W(r P ) = P(0) +r P [P(1)-P(0)]
Trong đó r P = 0 là P(0) = g, danh mục có lợi suất kỳ vọng băng 0
r P = 1 là P(1) = g+h, danh muc biên duyên có lợi suất bằng 1Khi lợi suât thay đổi ta giải bài toán tối ưu được nghiệm mới và thuđược phương sai nhỏ nhất tương ứng với mức lợi suất đó Tập hợp (r P ,P)minh họa danh mục biên duyên trên đồ thị:
Trang 37Khi r P (-, )Tập danh mục biên duyên P(r P ): {w(r p ), wO
=[1-) ( P
Ta có danh mục biên duyên là tập hợp các danh mục P(r P )
Danh mục MVP là danh mục biên duyên có phương sai nhỏ nhất
Với nhóm tài sản rủi ro, danh mục MVP là danh mục có:
Trang 38Trên hình vẽ là điểm gần trục lợi suất nhất
Với danh mục có tài sản phi rủi ro, khi đầu tư vào danh mục P ta luônhưởng mức lợi suất tối thiểu rf Do đó lợi suất của danh mục biên duyên luônluôn lớn hơn lãi suất phi rủi ro
4.3 Danh mục hiệu quả và biên hiệu quả
Danh mục hiệu quả có lợi suất kỳ vọng lớn hơn lợi suất kỳ vọng của
danh muc MVP Như vậy danh mục hiêu quả có lợi suất r P > B A
Tập hợp các danh mục hiệu quả cho ta một biên hiệu quả
Với danh mục chỉ có tài sản rủi ro biên hiêu quả là nửa đường cong nằm phía trêntính từ danh mục MVP
Với danh mục chứa tài sản phi rủi ro biên hiệu quả là nửa đường thẳng nằm trên
4.4 Danh mục tiếp tuyến:
Danh mục buyên khi có tài sản phi rủi ro: P(r P ):{w(r p ),wO=[1-w i(r P)]} Taxét danh mục T:
Trang 39II Đường thị trường vốn, đường thị trường chứng khoán và mô hình chỉ số đơn
Ta dễ dàng thấy rằng danh mục tối ưu P* là đường mức của hàm lợi ích
kỳ vọng U(P) Vì thế U(P) sẽ tiếp xúc với đường biên hiệu quả
Trong trường hợp này, biên hiệu quả cũng là đường cung danh mục tối
ưu cho các nhà đầu tư lựa chọn Với ý nghĩa này ta có đường “ thị trường vốn”
là đường biên hiệu quả
Trang 40Nhà đầu tư lựa chọn trên đường thị trường vốn các danh mục đầu tư căn
cứ vào lợi suất r P , và phương sai P của danh mục P
Ta có đường CML:
P
T
f T f P
r r r
Mô hình CML biểu diễn mức lợi suất kỳ vọng bằng mức lợi suất thị
trường cộng thêm một lượng bù rủi ro Ta có thể xem
T
f
T r r
là lượng rủi ro khi chọn P
2 Đường thị trường chứng khoán:
Ta có tỷ suất lợi nhuận- rủi ro của một danh mục