Đề tài Quá trình hình thành và phát triển vùng đất nam bộ thuộc đề tài nghiên cứu khoa học xã hội cấp nhà nước do GS Phan Huy Lê chủ nhiệm cơ quan chủ trì hội khoa học lịch sử việt nam
Trang 1HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
Đề án Khoa học xã hội cấp Nhà nước
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG ĐẤT NAM BỘ
Chủ nhiệm: GS Phan Huy Lê
Cơ quan chủ trì: Hội Khoa học lịch sử Việt Nam
BÁO CÁO TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
8979
HÀ NỘI 2011
Trang 3BAN BIÊN SOẠN
Chủ biên
GS PHAN HUY LÊ
Thành viên
PGSTS PHAN XUÂN BIÊN
TS TRƯƠNG THỊ KIM CHUYÊN PGSTS TRẦN ĐỨC CƯỜNG GSTSKH VŨ MINH GIANG PGSTS ĐOÀN MINH HUẤN PGSTS NGUYỄN VĂN KIM GSTS NGÔ VĂN LỆ GSTS NGUYỄN QUANG NGỌC PGSTS VÕ CÔNG NGUYỆN PGSTS VŨ VĂN QUÂN PGSTS VÕ VĂN SEN
Cộng tác viên
PGSTS PHAN AN - PGSTS NGÔ VĂN DOANH
TS NGUYỄN NGỌC HÀ - PGSTS ĐINH QUANG HẢI
ThS TỐNG VĂN LỢI -TS LÊ ĐÌNH PHỤNG - TS TRẦN THIỆN THANH
PGSTS PHAN PHƯƠNG THẢO - TS HUỲNH NGỌC THU
TS TRẦN NAM TIẾN - TS LÊ VĂN THUYÊN - TS NGUYỄN VIỆT
Trang 5MỤC LỤC
Trang
PHẦN THỨ I
QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN VÀ SẢN PHẨM CỦA ĐỀ ÁN 13
1.2 Mục đích, yêu cầu 18
2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN XÁC ĐỊNH 21
2.1 Phạm vi không gian của “Nam Bộ” hay “vùng đất Nam Bộ” 21
2.2 "Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ" không chỉ
2.3 Mối quan hệ "bộ phận" và "toàn bộ ", "tính liên khu vực", tính
3 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 23 3.1 Nội dung bao quát của "Quá trình hình thành và phát triển vùng
3.2 Phương pháp tiếp cận riêng của từng đề tài và chung của đề án 25
4.1 Sản phẩm đã được nghiệm thu của các đề tài thuộc đề án 26
PHẦN THỨ II
2 NAM BỘ QUA LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 50
3 NAM BỘ QUA CÁC NGUỒN TƯ LIỆU 69
4 BỐ CỤC CỦA BÁO CÁO TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 72
Trang 6Chương 1
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC YẾU TỐ TỰ
1 KHÔNG GIAN NGHIÊN CỨU 75
1.1 Vị trí địa lý và phạm vi khu vực Nam Bộ 75
1.2 Không gian nghiên cứu 76
2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC YẾU TỐ TỰ
2.1 Mở đầu 77 2.2 Lịch sử địa chất và quá trình hình thành vùng Nam Bộ 80
2.3 Địa hình và đất đai 114
2.4 Các đặc trưng khí hậu và thủy văn 122
3 SỬ DỤNG VÀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN VÙNG NAM BỘ 133
3.1 Tài nguyên khí hậu 134
3.2 Tài nguyên đất 134
3.3 Tài nguyên nước mặt 135
3.4 Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học 136
3.5 Tài nguyên thủy sản 137
3.6 Tài nguyên khoáng sản 138
4.1 Từ tác động của tự nhiên trong quá khứ 141
Chương 2
VÙNG ĐẤT NAM BỘ TỪ KHỞI NGUỒN ĐẾN THẾ KỶ VII 173
1 QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC 173
2 VÙNG NAM BỘ THỜI TIỀN SỬ 178
2.1 Hoạt động kiếm sống của cư dân tiền sử trên vùng đất Nam Bộ 178
Trang 73.2 Tình hình kinh tế, văn hóa, chính trị của Phù Nam 231
4.1 Địa bàn gốc Phù Nam ở đâu? 238
4.2 Về huyền thoại Hỗn Điền và Liễu Diệp 240
4.5 Phù Nam và Lâm Ấp 253
5 SỰ THAY THẾ PHÙ NAM BẰNG CHÂN LẠP 255
5.2 Nhà nước Chân Lạp sớm và phân vùng văn hoá Chân Lạp 257
Chương 3 VÙNG ĐẤT NAM BỘ TỪ THẾ KỶ VII ĐẾN XVI 265
1.1 Sự suy thoái của Phù Nam và trỗi dậy của Chân Lạp 265
1.2 Sự chia tách giữa Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp 273
1.3 Bản đồ phân bố các di tích ở Nam Bộ 301
2.1 Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ ở Nam Bộ 324
2.2 Ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa ở Nam Bộ 330
2.3 Thiết chế chính trị - xã hội ở Nam Bộ 339
2.4 Lịch sử và văn hóa vùng đất Nam Bộ - Những yếu tố nội sinh và
Chương 4
VÙNG ĐẤT NAM BỘ TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN XIX 369
1 KHAI PHÁ ĐẤT ĐAI, XÁC LẬP VÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN ĐÀNG
2 GIA ĐỊNH TỪNG BƯỚC TRỞ THÀNH TRUNG TÂM QUY TỤ VÀ
3 HÀ TIÊN - YẾU ĐỊA MIỀN CỰC NAM, CƠ SỞ ĐẢM BẢO CHO
Trang 84 ĐẨY MẠNH KHAI HOANG LẬP LÀNG, CỦNG CỐ NỀN HÀNH
CHÍNH, BẢO VỆ TOÀN VẸN LÃNH THỔ TRONG ĐIỀU KIỆN
CHIẾN TRANH Ở NHỮNG THẬP KỶ CUỐI THẾ KỶ XVIII
396
5 MỞ RỘNG CÁC HÌNH THỨC KHAI HOANG, XÂY DỤNG NỀN
HÀNH CHÍNH THỐNG NHẤT, ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN
LÃNH THỔ TRÊN ĐẤT NAM BỘ
405
5.1 Đào kênh, phát triển kinh tế, ổn định xã hội, tăng cường các
5.2 Các phương thức tổ chức khai hoang, chế độ ruộng đất và kinh
5.3 Tái cơ cấu bộ máy hành chính Nam Bộ trong một nền hành
6 BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ
7 CHỦ QUYỀN VIỆT NAM Ở VÙNG ĐẤT NAM BỘ: MỘT QUÁ
Chương 5
1.1 Nam Bộ trong những năm đầu chống xâm lược của liên quân
2.2 Các khuynh hướng của phong trào dân tộc ở Nam Bộ trong 30
3.1 Tiến trình lịch sử Nam Bộ từ năm 1930 đến năm 1945 498 3.2 Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Nam Kỳ những năm
Trang 9Chương 6
1 NAM BỘ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
1.3 Nhân dân Nam Bộ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc 560
1.4 Nam Bộ trong thời gian kết thúc cuộc kháng chiến chống thực
2 NAM BỘ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
2.1 Nhân dân Nam Bộ đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay
2.2 Nam Bộ từ phong trào Đồng khởi, thành lập Mặt trận dân tộc
3 NAM BỘ THỜI KỲ THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC, ĐỔI MỚI, CÔNG
3.1 Thực hiện thống nhất đất nước, đối phó với chiến tranh biên giới
3.2 Nam Bộ thực hiện đường lối Đổi mới, từng bước thoát khỏi
3.3 Nam Bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chương 7
ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 611
2 ĐẶC TRƯNG TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO CỦA CƯ DÂN NAM BỘ 617
Trang 102.1 Những đặc trưng mang tính vùng văn hóa - lịch sử 637
2.2 Những đặc trưng mang tính tộc người 644
3 ĐẶC TRƯNG SINH HOẠT VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN NAM BỘ 654
3.2 Đặc trưng sông nước 661
3.4 Tính chủ đạo của văn hóa Việt 679
4 MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO VÀ SINH
4.1 Một số nhận định về tín ngưỡng tôn giáo ở Nam Bộ 682
4.2 Văn hóa và phát triển 693
5 KẾT LUẬN 712 5.1 Nam Bộ - Nơi không có một tôn giáo giữ vai trò chủ đạo 712
5.2 Nam Bộ - Nơi đa dạng văn hóa và sự giao lưu văn hóa 716
5.3 Vai trò tín ngưỡng tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của người Việt
2 CÁC THIẾT CHẾ QUẢN LÝ PHI QUAN PHƯƠNG 780
2.1 Thiết chế tự quản của người Việt 780
2.2 Thiết chế tự quản của người Khmer ở Nam Bộ 797
3 MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA THIẾT CHẾ QUẢN LÝ XÃ HỘI Ở
3.1 Lịch sử tổ chức và quản lý hành chính vùng đất Nam Bộ trải qua
Trang 113.2 Sự tồn tại của các mô hình thiết chế quản lý nhà nước đặc trưng
3.3 Xu hướng vận động của thiết chế quản lý nhà nước ở vùng đất
3.4 Liên kết cộng đồng theo địa vực của người Việt ở Nam Bộ
3.5 Các yếu tố tộc người - tôn giáo chi phối mạnh mẽ đến các hình
Chương 9
TỘC NGƯỜI VÀ QUAN HỆ TỘC NGƯỜI Ở NAM BỘ 843
1 TỔNG QUAN VỀ CƯ DÂN CÁC TỘC NGƯỜI Ở NAM BỘ 843
1.1 Chân dung dân số 843 1.2 Quá trình hình thành các tộc người ở Nam Bộ 856
2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC LỚP CƯ
DÂN THỜI TIỀN SỬ VÀ SƠ SƯ, CƯ DÂN PHÙ NAM VÀ CÁC TỘC
NGƯỜI THIỂU SỐ BẢN ĐỊA NAM BỘ
861
2.1 Các lớp cư dân thời tiền sử và sơ sử 861
2.3 Các tộc người thiểu số bản địa 872
3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC TỘC NGƯỜI
3.1 Quá trình nhập cư, sự hình thành và phát triển tộc người Khmer
3.2 Người Việt: Quá trình nhập cư và trở thành tộc người đa số 890
3.3 Người Hoa: Quá trình nhập cư và hội nhập 900
3.4 Người Chăm Hồi giáo ở Nam Bộ: Quá trình phân ly tộc người
4 QUAN HỆ TỘC NGƯỜI Ở NAM BỘ TRONG CÁC THỜI KỲ LỊCH
4.1 Quan hệ tộc người ở Nam Bộ trong các thời kỳ lịch sử 919
4.2 Quan hệ tộc người trong sự phát triển vùng đất Nam Bộ 929
Trang 12Chương 10
NAM BỘ TRONG TIẾN TRÌNH VIỆT NAM HỘI NHẬP
1 QUAN HỆ GIAO LƯU KINH TẾ, VĂN HÓA GIỮA NAM BỘ VỚI
1.1 Quan hệ giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Nam Bộ với nền văn hóa
và các nước trong khu vực thời tiền sử đến vương quốc Phù Nam 957 1.2 Nam Bộ trong không gian địa chính trị - kinh tế - văn hóa xứ
Đàng Trong với các quan hệ khu vực và thế giới (thế kỷ XVI - XVIII) 961 1.3 Nam Bộ trong không gian địa chính trị - kinh tế - văn hóa của
Việt Nam thời nhà Nguyễn với các quan hệ khu vực và quốc tế (1802 đến
hết thế kỷ XIX)
975
2 QUAN HỆ GIAO LƯU KINH TẾ, VĂN HÓA GIỮA NAM BỘ VỚI
CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX
3 NAM BỘ TRONG TIẾN TRÌNH VIỆT NAM HỘI NHẬP KHU VỰC
3.1 Bối cảnh quốc tế và tình hình Việt Nam sau năm 1975 và những
nhân tố tác động đến quá trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam
3.4 Vai trò và vị thế của Nam Bộ trong tiến trình Việt Nam hội nhập
khu vực và thế giới từ năm 1996 đến nay
1047
Trang 13PHẦN THỨ I
QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN
VÀ SẢN PHẨM CỦA ĐỀ ÁN
Trang 151 NHIỆM VỤ VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ ÁN
1.1 Quá trình chuẩn bị và xây dựng đề án
Đề án Khoa học xã hội cấp Nhà nước “Quá trình hình thành và phát triển
vùng đất Nam Bộ” đã được chuẩn bị từ những năm đầu thế kỷ XXI, xuất phát từ
yêu cầu nghiên cứu một cách toàn diện tiến trình lịch sử vùng đất Nam Bộ
Tuy đã có những nghiên cứu về thời tiền sử kể từ khi con người xuất hiện trên vùng đất Nam Bộ, rồi những nghiên cứu về văn hóa Óc Eo thời vương quốc Phù Nam, nhưng quan niệm phổ biến được trình bày trong sách giáo khoa và nhiều bộ lịch sử Việt Nam vẫn mở đầu lịch sử vùng đất Nam Bộ từ khi người Việt
di cư vào khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long thế kỷ XVII, nhất là từ năm
1698 khi Chúa Nguyễn cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý và thiết lập dinh Trấn Biên và Phiên Trấn, xác lập chủ quyền trên vùng đất phương Nam này Quan niệm đó vô hình trung đã gạt bỏ thời kỳ trước đấy ra khỏi lịch sử Nam Bộ nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung Nhận thức phiến diện đó không những tạo nên một khoảng trống vắng về lịch sử và văn hóa mà còn để lại sự hẫng hụt khi phải đối diện với những luận điểm của những kẻ cố tình bóp méo, xuyên tạc tính toàn vẹn về lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ
Xuất phát từ thực tế đó, Bộ Ngoại giao đã phối hợp với Hội Khoa học lịch
sử Việt Nam và Đại học quốc gia Hà Nội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức biên soạn một cuốn sách giản lược về lịch sử vùng đất Nam Bộ Đó là cuốn
sách Lược sử vùng đất Nam Bộ-Việt Nam do GSTSKH Vũ Minh Giang chủ biên
và Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Thế giới xuất bản lần thứ nhất năm 2006 Sau đấy, dưới sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo trung ương, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam thu thập ý kiến và các tác giả đã tiến hành chỉnh
lý, xuất bản lần thứ hai vào năm 2008
Cùng trong thời gian đó, Bộ Khoa học và công nghệ theo sự chỉ đạo của Chính phủ phối hợp với Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và các trung tâm khoa học lớn là Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức ba cuộc hội thảo khoa học về vùng đất Nam Bộ:
- Hội thảo lần thứ nhất năm 2004 về "Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam" nhân dịp kỷ niệm 60 năm phát hiện văn hóa Óc Eo, tổ chức tại thành phố
Hồ Chí Minh ngày 29-30/12/2004
Trang 16- Hội thảo lần thứ hai năm năm 2006 về "Vùng đất Nam Bộ đến cuối thế kỷ XIX", tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 4-5/4/2006
- Hội thảo lần thứ ba năm 2008 về "Nam Bộ thời cận đại", tổ chức tại Cần Thơ ngày 4-3-2008
Ngoài ra còn hội thảo về "Nam Bộ và Nam Trung Bộ, những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII-XIX" do Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 2000
và một số cuộc hội thảo về thời kỳ các Chúa Nguyễn, triều Nguyễn, những hội thảo mang tính chuyên đề về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng Một đề tài khoa học cấp nhà nước gần đây nhất là "Lịch sử hình thành
và phát triển vùng đất Nam Bộ" do PGSTS Trần Đức Cường làm Chủ nhiệm vừa kết thúc
Những kết quả nghiên cứu khoa học và những hội thảo khoa học trên đều góp phần nâng cao hiểu biết về vùng đất Nam Bộ và cũng từ đó bộc lộ một yêu cầu là phải có một công trình nghiên cứu mang tính tổng kết cao xác lập một nhận thức mang tính toàn bộ và toàn diện về vùng đất Nam Bộ trong tiến trình lịch sử
từ thời tiền sử cho đến ngày nay
Trên cơ sở chuẩn bị đó và xuất phát từ yêu cầu cần nghiên cứu, xây dựng một nhận thức toàn diện về vùng đất Nam Bộ, Bộ Khoa học và công nghệ đã xây
dựng một đề án khoa học xã hội cấp Nhà nước về Quá trình hình thành và phát
triển vùng đất Nam Bộ
Sau khi được Hội đồng tư vấn cấp Nhà nước thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 437/QĐ-BKHCN ngày 26-03-2007 phê duyệt Đề án khoa học xã hội cấp Nhà nước "Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ" do GS Phan Huy Lê làm Chủ nhiệm đề án, cơ quan chủ quản
là Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam và cơ quan chủ trì là Hội Khoa học lịch sử Việt Nam
Đề án gồm 11 đề tài:
1 Điều kiện địa lý tự nhiên, môi trường sinh thái tác động đến tiến trình lịch sử và đặc trưng văn hóa vùng đất Nam Bộ
Chủ nhiệm: TS Trương Thị Kim Chuyên
Cơ quan chủ trì: Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
2 Nam Bộ từ cội nguồn đến thế kỷ VII
Chủ nhiệm: GSTSKH Vũ Minh Giang, Đại học quốc gia Hà Nội
Cơ quan chủ trì: Viện Việt Nam học và khoa học phát triển, thuộc Đại học quốc gia Hà Nội
Trang 173 Nam Bộ từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII
Chủ nhiệm: PGSTS Nguyễn Văn Kim, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học quốc gia Hà Nội
Cơ quan chủ trì: Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học quốc gia Hà Nội
4 Quá trình khai phá và xác lập chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ
Chủ nhiệm: GSTS Nguyễn Quang Ngọc, Viện Việt Nam học và khoa học phát triển, thuộc Đại học quốc gia Hà Nội
Cơ quan chủ trì: Viện Việt Nam học và khoa học phát triển, thuộc Đại học quốc gia Hà Nội
5 Nam Bộ từ khi Pháp xâm lược đến năm 1945
Chủ nhiệm: TS Đoàn Minh Huấn, Học viện Chính trị hành chính khu vực I
Cơ quan chủ trì: Hội Khoa học lịch sử Việt Nam
6 Nam Bộ từ năm 1945 đến nay
Chủ nhiệm: PGSTS Trần Đức Cường, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học xã hội Việt Nam
7 Đặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của các cộng đồng
cư dân vùng đất Nam Bộ
Chủ nhiệm: GSTS Ngô Văn Lệ, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Cơ quan chủ trì: Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
8 Đặc trưng thiết chế quản lý xã hội ở Nam Bộ
Chủ nhiệm: PGSTS Vũ Văn Quân, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học quốc gia Hà Nội
Cơ quan chủ trì: Viện Việt Nam học và khoa học phát triển, thuộc Đại học quốc gia Hà Nội
9 Tộc người và quan hệ tộc người ở Nam Bộ
Chủ nhiệm: PGSTS Võ Công Nguyện, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ
10 Nam Bộ trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam
Chủ nhiệm: PGSTS Võ Văn Sen, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Cơ quan chủ trì: Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1811 Nghiên cứu giải pháp nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân về lịch sử vùng đất Nam Bộ
Chủ nhiệm: PGSTS Phan Xuân Biên, Viện Nghiên cứu xã hội, Trưởng ban Tuyên giáo thành ủy thành phố Hồ Chí Minh
Cơ quan chủ trì: Hội Khoa học lịch sử Việt Nam
* Tổng hợp, hệ thống hóa và xã hội hóa các kết quả nghiên cứu vùng Nam
Bộ nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân, khắc phục tình trạng nhận thức mơ hồ do thiếu thông tin khoa học của giới học giả, đồng thời góp phần làm thất bại mọi luận điệu xuyên tạc có ý đồ xấu
* Khuyến nghị giải pháp đưa kết quả nghiên cứu cơ bản về vùng Nam Bộ phục vụ việc hoạch định các chủ trương, chính sách đảm bảo quốc phòng, an ninh
và phát triển bền vững của vùng Nam Bộ
Như vậy mục tiêu cũng như yêu cầu của đề án đã được xác định rất rõ ràng như một đơn đặt hàng của Bộ Khoa học và công nghệ cho các nhà khoa học Đây
là một đề án mang tính khoa học cao và tính thực tiễn bức xúc
Một số chương trình và đề tài cấp nhà nước hay cấp tỉnh/thành phố trước đây đã góp phần giải quyết yêu cầu trên về từng phương diện, nhất là về kinh tế -
xã hội, về an ninh, quốc phòng Đề án này đòi hỏi phải trên cơ sở nghiên cứu khoa học toàn diện, tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã đạt được, cung cấp cứ liệu khoa học có sức thuyết phục, giải quyết hai yêu cầu về mặt thực tiễn:
- Xã hội hóa bằng cách công bố các kết quả nghiên cứu và biên soạn các loại tài liệu tuyên truyền mang tính phổ cập tùy theo từng loại đối tượng, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân, từng bước xây dựng hiểu biết khoa học về lịch sử và văn hóa vùng Nam Bộ, trang bị cho cán bộ
và nhân dân những tri thức cần thiết để tạo ra khả năng tự đề kháng chống lại các
Trang 19luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của những phần tử có ý đồ xấu về vùng đất Nam
Bộ liên quan đến lãnh thổ toàn vẹn và chủ quyền quốc gia của Việt Nam
- Đưa ra một số khuyến nghị góp phần cung cấp cứ liệu khoa học trong việc hoạch định các chủ trương, chính sách phục vụ sự phát triển bền vững của vùng đất Nam Bộ, đề phòng và ngăn ngừa hay xử lý những vấn đề liên quan đến
an ninh, quốc phòng của vùng đất cửa ngõ phương Nam này của đất nước Đây là vùng đất giữ vai trò rất quan trọng của đất nước trong phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như trong giao lưu và hội nhập quốc tế, nhưng nhìn dưới góc độ địa
- kinh tế, địa - chính trị, địa - văn hóa, địa - an ninh, quốc phòng, bên cạnh mặt đa dạng, phong phú, thuận lợi đều tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định cần được nhận thức một cách khoa học và toàn diện để xây dựng chiến lược phát triển bền vững và dự liệu mọi giải pháp ngăn ngừa, đối phó
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những yêu cầu thực tiễn mang tính chính trị trên đây cần được giải quyết trên cơ sở nghiên cứu toàn diện, sâu sắc, khách quan về vùng đất Nam Bộ Nhiệm vụ của đề án là cung cấp kết quả nghiên cứu khoa học
để góp phần phục vụ nhiệm vụ chính trị trên, xây dựng một hệ thống các căn cứ khoa học cùng với một số kiến nghị phục vụ công việc hoạch định chủ trương, chính sách của các nhà lãnh đạo và quản lý Trách nhiệm và yêu cầu hàng đầu của
đề án cũng như các đề tài là triển khai nghiên cứu khoa học một cách hết sức khách quan, trung thực và kết quả nghiên cứu đó là cơ sở khoa học để phục vụ yêu cầu thực tiễn Yêu cầu thực tiễn là nhằm xác định mục tiêu và từ đó, định hướng cho công trình khoa học, tuyệt đối không rơi vào lối "minh họa chính trị" hay
"chính trị hóa" công tác nghiên cứu khoa học, tự hạ thấp vai trò tích cực và tính chủ động của khoa học Chỉ trên cơ sở nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc, bảo đảm tính khách quan, trung thực và sức thuyết phục của một công trình khoa học đích thực thì mới có thể đưa ra những căn cứ khoa học đáng tin cậy góp phần giải quyết yêu cầu phát triển bền vững của vùng đất Nam Bộ
Trang 20+ Nhưng cũng do kinh tế tăng trưởng nhanh mà Nam Bộ cũng là vùng đang diễn
ra khá nhanh quá trình phân hoá giàu nghèo dẫn tới những nguy cơ tiềm ẩn cho ổn định xã hội
để chống phá, gây bất ổn nước ta
- Xét từ góc độ địa - văn hoá:
+ Nam Bộ nằm vào vị trí giao thoa văn hoá Diễn biến tộc người và quá trình tiếp biến văn hoá ở đây hết sức đa dạng, phong phú nhưng đồng thời cũng vô cùng phức tạp
+ So với các vùng khác trong cả nước, Nam Bộ là nơi có tỷ lệ dân theo các tôn giáo đông và có nhiều loại hình tôn giáo vào bậc nhất (ngoài những tín ngưỡng và tôn
giáo giống như các vùng khác, Nam Bộ còn có những tín ngưỡng, tôn giáo nội sinh
mà nơi khác không có như Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Hoà Hảo,…)
1.3.2 Nhu cầu cấp thiết về nhận thức khoa học
- Việc nghiên cứu vùng đất Nam Bộ từ trước đến nay chưa đáp ứng được yêu cầu nhận thức khoa học phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và bảo vệ an ninh quốc gia
+ Đã có một số nhiệm vụ khoa học được triển khai, nhưng chủ yếu là nhằm phục
vụ các mục tiêu cụ thể của từng ngành, từng địa phương nên với những kết quả đã thu được, nhận thức tổng hợp còn rất hạn chế
+ Cho đến nay cũng đã có những công trình thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau của cá nhân và tập thể viết về Nam Bộ, nhưng còn thiếu hệ thống, từng bộ phận
và có chỗ trùng lặp
- Nhận thức khoa học đầy đủ về quá trình hình thành, phát triển của vùng đất Nam
Bộ để phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững đang trở thành một nhu cầu bức thiết
+ Kết quả của những công trình nghiên cứu về Nam Bộ từ trước tới nay đã công
bố trong và ngoài nước còn rời rạc, cần được tổng hợp, đánh giá, hệ thống hoá + Tiếp tục nghiên cứu các vấn đề cơ bản nhằm nâng cao nhận thức sẽ góp phần tăng cường cơ sở khoa học cho các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên vùng đất Nam Bộ
- Có những thế lực thù địch đang lợi dụng những hạn chế trong nhận thức
Trang 21khoa học về vùng đất Nam Bộ để xuyên tạc, gây chia rẽ trong nhân dân, bóp méo hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế Những kết quả nghiên cứu khách quan và thuyết phục sẽ góp phần duy trì và củng cố ổn định chính trị, tăng cường khối đoàn kết toàn dân
2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN XÁC ĐỊNH
2.1 Phạm vi không gian của “Nam Bộ” hay “vùng đất Nam Bộ”
Trong tiến trình lịch sử, vùng đất Nam Bộ hiện nay đã từng là địa bàn phân
bố chủ yếu của văn hóa Óc Eo, là lãnh thổ chủ yếu của vương quốc Phù Nam, là vùng đất phụ thuộc nước Chân Lạp, là các đơn vị hành chính khi Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền từ năm 1698, rồi đất Nam Kỳ năm 1834 gồm 6 tỉnh thường gọi là Nam Kỳ lục tỉnh, rồi các đơn vị hành chính của Nam Kỳ thuộc địa của Pháp Tên Nam Bộ xuất hiện năm 1945 sau đảo chính Nhật hất chân Pháp, thành lập chính phủ Trần Trọng Kim và được sử dụng từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vùng đất này cũng trải qua nhưng thay đổi về tên gọi và các đơn vị hành chính Sau khi miền Nam được giải phóng, năm 1976, Nam Bộ chia làm 13 tỉnh/thành phố rồi sau đó lại có một số thay đổi về đơn vị hành chính, từ năm 2004 đến nay gồm 19 tỉnh/thành phố trong số 64 tỉnh/thành phố của cả nước (từ 01-8-2008 giảm tỉnh Hà Tây, còn 63 tỉnh/thành phố) Khái niệm Nam Bộ trong đề án là khu vực Nam Bộ mà về mặt hành chính
gồm 19 tỉnh/thành phố hiện nay, kể cả các hải đảo Trong Niên giám thống kê một
số năm gần đây của Tổng cục thống kê đã đưa cả tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận vào vùng Đông Nam Bộ Nhưng đó là phân vùng kinh tế, không làm thay đổi khái niệm "Nam Bộ" trong đề án khoa học này
Tuy nhiên đấy là xác định về mặt ranh giới, hay nói cách khác là phạm vi không gian địa lý của Nam Bộ dựa trên bản đồ hành chính hiện nay Đề án xuất phát từ không gian địa - hành chính của Nam Bộ hiện nay, nhưng khi nghiên cứu cần tôn trọng hệ thống đơn vị hành chính mang tính lịch sử trong từng thời kỳ và
về một số phương diện, không nhất thiết chỉ giới hạn trong phạm vi đó mà tùy theo yêu cầu từng lĩnh vực cần mở rộng trong một không gian liên quan rộng hơn như về mặt địa chất, mối quan hệ văn hóa thời tiền sử, sơ sử và các mối quan hệ văn hóa khu vực, liên khu vực
2.2 "Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ" không chỉ giới hạn trong phạm vi lịch sử
Khái niệm "Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ" dễ gây ra
nhận thức là chỉ nghiên cứu lịch sử vùng đất Nam Bộ Về phương diện này, đã có
Trang 22đề tài khoa học cấp nhà nước “Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ”
do Trần Đức Cường làm chủ nhiệm, vừa được nghiệm thu Trong đề án, tiếp cận về mặt lịch sử giữ vai trò quan trọng và được biểu thị qua các đề tài số 2, 3, 4, 5, 6 Tuy nhiên, ngay những đề tài mang nặng tính lịch sử này cũng không chỉ giới hạn trong nghiên cứu về diễn biến lịch sử, mà còn phải mở rộng ra những nội dung liên quan đến mục tiêu, yêu cầu của đề tài và của toàn bộ đề án Ví dụ, đề tài 2 "Nam Bộ
từ cội nguồn đến thế kỷ VII", trong mục tiêu đã xác định rõ là không chỉ nghiên cứu quá trình lịch sử vùng đất Nam Bộ từ thời tiền sử đến thế kỷ VII mà còn phải làm sáng rõ đặc trưng của văn hóa Óc Eo, vương quốc Phù Nam trong dòng chảy của lịch sử, văn hóa Việt Nam cùng những thay đổi không gian chính trị - xã hội của khu vực Hay đề tài 4 "Quá trình khai phá và xác lập chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ" thì rõ ràng không chỉ là lịch sử vùng đất này từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX mà nội dung chủ yếu cần tập trung nghiên cứu là công cuộc khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long từ khi di dân người Việt rồi những nhóm người Hoa và các nhóm cư dân khác vào khẩn hoang, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng đất này Điều đặc biệt quan trọng đặt ra cho đề tài này là nghiên cứu và phân tích sâu sắc những căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định việc xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ
Ngoài ra, đề án còn có những đề tài nghiên cứu về điều kiện địa lý tự nhiên, môi trường sinh thái (đề tài 1), về đặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống văn hóa của các cộng đồng cư dân (đề tài 7), về đặc trưng thiết chế quản lý
xã hội (đề tài 8), về tộc người và quan hệ tộc người (đề tài 9), về Nam Bộ trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam (đề tài 10) Cấu trúc hệ thống đề tài cũng như nhiệm vụ của từng đề tài là góp phần nghiên cứu vùng đất Nam Bộ một cách toàn bộ và toàn diện từ thời tiền sử cho đến nay
2.3 Mối quan hệ "bộ phận" và "toàn bộ ", "tính liên khu vực", tính
"nội sinh" và "ngoại sinh"
Trước hết luôn luôn phải đặt vùng đất Nam Bộ như một bộ phận của Việt Nam, tồn tại và phát triển trong mối quan hệ giữa "bộ phận" với "tổng thể" trong quan hệ giữa khu vực Nam Bộ với toàn bộ quốc gia - dân tộc Việt Nam Đây là yêu cầu tiếp cận "liên khu vực" trong phạm vi Việt Nam Tất nhiên nghiên cứu Nam Bộ thì phải xác định đối tượng tiếp cận chủ yếu là khu vực Nam Bộ nhưng cần đặt trong bối cảnh chung của đất nước và sự gắn bó trong vận mệnh chung của cả dân tộc Ngay cả trước khi vùng đất Nam Bộ hội nhập vào lãnh thổ Việt
Trang 23Nam, thuộc chủ quyền Việt Nam thì những giao lưu và tương đồng văn hóa với các khu vực miền Trung và miền Bắc cũng cần quan tâm nghiên cứu và lý giải Vùng đất Nam Bộ từ khi bắt đầu cuộc sống của con người cho đến nay đều
có mối quan hệ về điều kiện tự nhiên, môi trường, sinh thái cũng như về nhân chủng, cư dân - tộc người và kinh tế, văn hóa với các khu vực, các nước láng giềng và các nước Đông Nam Á rồi rộng ra với thế giới phương Đông và phương Tây Đây là mối quan hệ "liên khu vực" xét trên phạm vi ngoài quốc gia - dân tộc Việt Nam, đặt trong quan hệ khu vực rộng lớn mang tính liên quốc gia và thế giới Nam Bộ ở vào vị trí địa lý mang tính đầu mối giao thông tự nhiên và là nơi gặp gỡ của các đường thiên di cư dân, nơi giao thoa của các nền văn hóa của khu vực Đông Nam Á và cả vùng Đông Á, Nam Á Lịch sử vùng đất Nam Bộ lại trải qua sự tồn tại của vương quốc từ Phù Nam, Chân Lạp rồi đến Đại Việt - Việt Nam nên chứa đựng nhiều tầng lịch sử - văn hóa Vị trí địa lý và đặc điểm lịch sử đó tạo nên những nét đặc trưng văn hóa rất phong phú, đa dạng, kết hợp đan xen và hỗn dung giữa những yếu tố "nội sinh" và "ngoại sinh" văn hóa rất đặc sắc cần phân tích và lý giải một cách khoa học Cơ tầng văn hóa Đông Nam Á và ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc rồi Pháp, phương Tây đều để lại dấu ấn khá đậm trong văn hóa Nam Bộ Những yếu tố, thậm chí có lúc những lớp "ngoại sinh" được du nhập rất mạnh, nhưng nền tảng bản địa vẫn giữ vai trò chi phối và trên cơ sở đó mới có thể "bản địa hóa" các ảnh hưởng bên ngoài để giữ vững bản sắc văn hóa Nam Bộ như một phân vùng của văn hóa Việt Nam
Cũng cần lưu ý là đề án cần tổng hợp toàn bộ kết quả nghiên cứu với những thành tựu khoa học đã đạt được, nhưng điều đó không có nghĩa là chỉ dựa vào những kết quả khoa học đã có Ngay những kết quả nghiên cứu đã được công bố cũng cần phân tích, đánh giá một cách chặt chẽ để chọn lọc và tiếp thu những thành tựu có giá trị, đồng thời cần hệ thống hóa và sắp xếp theo cấu trúc của đề tài Hơn nữa tùy theo từng đề tài, đều phải làm công tác giám định, kiểm tra hết sức nghiêm túc và tổ chức nghiên cứu thêm một số nội dung mà yêu cầu của đề tài đặt ra Cả đề
án cũng như mỗi đề tài có mang tính kế thừa nhưng thực sự là những công trình khoa học mới không trùng lặp với bất cứ công trình nào đã công bố
3 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
3.1 Nội dung bao quát của "Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ"
Khái niệm "Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ" như đã
xác định, là không chỉ nghiên cứu về tiến trình lịch sử Nội dung của đề án cũng
Trang 24như cấu trúc hệ thống đề tài là nhằm nhận thức Nam Bộ một cách tổng hợp về tất
cả các lĩnh vực từ thời tiền sử cho đến nay
Các đề tài hình thành ba nhóm chính:
Nhóm thứ nhất: nghiên cứu điều kiện tự nhiên, từ vị trí địa lý, lịch sử kiến
tạo địa chất và đặc điểm địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, hình thái châu thổ, khí hậu và thuỷ văn đến hệ sinh thái, tài nguyên Điều kiện tự nhiên được nghiên cứu theo yêu cầu làm rõ tác động đến tiến trình lịch sử và đặc trưng văn hóa (đề tài 1)
Nhóm thứ hai: tiến trình lịch sử vùng đất Nam Bộ từ cội nguồn đến nay,
gồm 5 đề tài (đề tài 2, 3, 4, 5 và 6) Quá trình lịch sử được phân làm 5 thời kỳ tương ứng với 5 đề tài:
- Từ cội nguồn đến thế kỷ VII, bao gồm thời tiền sử và thời kỳ vương quốc Phù Nam (đề tài 2)
- Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVI, từ sau khi Phù Nam sụp đổ cho đến trước khi người Việt vào khai phá (đề tài 3)
- Từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX trước thời Pháp thuộc (đề tài 4)
- Từ khi Pháp xâm lược cho đến Cách mạng tháng Tám 1945 (đề tài 5)
- Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay (đề tài 6)
Các đề tài thuộc nhóm này làm rõ quá trình lịch sử của vùng đất Nam Bộ, đồng thời trong từng thời kỳ cần nghiên cứu sâu hơn một số nội dung mang tính đặc trưng của vùng đất này như văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, nguyên nhân tình trạng hoang hóa thời kỳ thế kỷ VII đến XVI, quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam
Nhóm thứ ba: một số vấn đề cơ bản mang tính cấp thiết như tôn giáo tín
ngưỡng và sinh hoạt văn hóa của cộng đồng cư dân (đề tài 7), đặc trưng thiết chế quản lý xã hội (đề tài 8), tộc người và quan hệ tộc người (đề tài 9), Nam Bộ trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam (đề tài 10)
Tất cả đều nhằm mục tiêu chung của đề án là làm rõ những đặc điểm cơ bản vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính đặc thù của tiến trình lịch sử vùng đất Nam Bộ, những đặc trưng về cấu trúc tộc người, quan hệ tộc người, kết cấu kinh
tế - xã hội và đời sống văn hóa của các cộng đồng cư dân vùng đất này Trên cơ
sở đó nêu lên những khuyến nghị xây dựng một nhận thức toàn diện về Nam Bộ, những vấn đề khoa học cần tiếp tục nghiên cứu và một số vấn đề cần giải quyết để bảo đảm sự phát triển bền vững, an ninh và quốc phòng của vùng đất có vị thế quan trọng này của đất nước
Đề án ngoài trách nhiệm cùng với các đề tài bảo đảm triển khai đúng kế hoạch, tiến độ và chất lượng, còn có một số hoạt động chung của đề án
Trang 25Trước hết là xây dựng cơ sở dữ liệu bao gồm thư mục nghiên cứu Nam Bộ tổng hợp và chuyên từng lĩnh vực, tuyển chọn và dịch một số tư liệu cần thiết cung cấp cho các đề tài Đây là cơ sở dữ liệu (data base) không chỉ phục vụ trực tiếp đề án mà còn để lại lâu dài cho công việc nghiên cứu Nam Bộ
Tổ chức triển khai một số hoạt động thuộc lĩnh vực liên quan giữa các đề tài
mà từng đề tài khó thực hiện hay hiệu quả bị hạn chế, trong đó thông báo kết quả triển khai của các đề tài, tổ chức các hội thảo khoa học chung của đề án và một số cuộc điều tra, khảo sát cần thiết
Trách nhiệm lớn nhất của đề án là cùng với chủ nhiệm đề tài tổ chức biên tập các sản phẩm của các đề tài, nhất là Báo cáo tổng quan kết quả nghiên cứu, thành các chuyên khảo để công bố dưới dạng các ấn phẩm xã hội hóa Đồng thời tổng hợp kết quả nghiên cứu và kiến nghị của các đề tài để xây dựng Báo cáo tổng quan và kiến nghị chung của đề án Báo cáo này cũng được biên tập thành chuyên khảo để xuất bản
3.2 Phương pháp tiếp cận riêng của từng đề tài và chung của đề án
Mỗi đề tài tùy theo yêu cầu và nhiệm vụ, chọn những phương pháp tiếp cận phù hợp, hiệu quả và cập nhật Những đề tài về lịch sử, phương pháp chủ yếu là phương pháp tiếp cận lịch sử, nhưng cũng tùy theo từng đề tài và những nội dung cần nghiên cứu mà áp dụng những phương pháp liên ngành phù hợp Những đề tài nghiên cứu một số vấn đề cơ bản, tùy theo từng lĩnh vực mà chọn những lý thuyết và phương pháp tương ứng, đồng thời triển khai một số điều tra xã hội học, nhân học cần thiết
Nhìn chung yêu cầu về phương pháp luận của đề án là:
- Tiếp cận toàn diện vùng đất Nam Bộ, nhưng có xác định những trọng tâm,
trọng điểm Trọng tâm nghiên cứu được giới hạn ở những nội dung mà nhu cầu
nhận thức của người dân và các nhà hoạch định chính sách đang đòi hỏi, nhất là những “khoảng trống” về nhận thức lịch sử
- Tiếp cận khu vực học, với yêu cầu liên ngành giữa sử học, khảo cổ học,
dân tộc học, văn hoá học, địa lý học, xã hội học, kinh tế học… để từ đó tìm ra
những mối liên hệ, tương tác giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội với sự hình thành những đặc trưng văn hoá và tiến trình lịch sử vùng Nam Bộ
- Tiếp cận liên khu vực, với yêu cầu đặt Nam Bộ trong mối quan hệ với các
khu vực khác của đất nước, của khu vực Đông Nam Á và rộng hơn là cả Đông Á Trong đó mối quan hệ liên khu vực giữa Nam Bộ với Nam Trung Bộ của Việt Nam và Đông Nam của Cămpuchia có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ trong thế giới hiện đại mà quan trọng hơn là gắn với tiến trình “động” của không gian chính trị - xã hội khu vực Đông Nam Á trong lịch sử
Trang 26- Tiếp cận nội sinh kết hợp ngoại sinh, với yêu cầu đặt nghiên cứu tiến trình
lịch sử và đặc trưng văn hoá của cộng đồng cư dân Nam Bộ trong không gian cảnh quan, môi trường, địa lý, nhân chủng… bản địa, đồng thời luôn xem xét trong mối quan hệ giao lưu, tương tác với các yếu tố bên ngoài Yếu tố nội sinh kết hợp với tác động ngoại sinh đã tạo nên những đặc trưng riêng biệt của tiến trình lịch sử và văn hoá vùng Nam Bộ
Trong nghiên cứu của đề án, Nam Bộ được coi một không gian địa lý-lịch sử-văn hóa và phương pháp tiếp cận chủ yếu là khu vực học Khu vực học hay nghiên cứu khu vực (area studies) mới ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ II và phát triển khá mạnh ở một số nước, nhất là Mỹ và Nhật Bản, đã thu được nhiều thành tựu và không ngừng được bổ sung, nâng cao về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Do đó, trong nhận thức và vận dụng phương pháp nghiên cứu khu vực, giữa các học giả quốc tế còn có những điểm khác biệt và đang được thảo luận, kiểm chứng và hoàn thiện Khái niệm "khu vực" trong khu vực học là một không gian địa lý-nhân văn gắn kết hai yếu tố cơ bản là thiên nhiên và con người trong mối quan hệ tương tác giữa con người với thiên nhiên Đó có thể là một quốc gia-dân tộc, một khu vực gồm nhiều quốc gia-dân tộc hay một khu vực nhỏ hơn trong một quốc gia-dân tộc Khái niệm khu vực là một không gian
ở nhiều cấp độ khác nhau Khu vực có thể trùng với một phân vùng địa lý hay một phân vùng văn hóa, nhưng không nhất thiết phải có những đặc trưng chung
về địa lý hay văn hóa Trong một khu vực có thể có sự thống nhất về các thành
tố thiên nhiên, tộc người, ngôn ngữ, tôn giáo , cũng có thể có sự đa dạng và khác biệt Khu vực trong khu vực học là một không gian nhất định, thường được coi như một không gian văn hóa, có thể có sự đồng nhất hay dị biệt, mà mục tiêu nghiên cứu là nhằm đi đến một nhận thức mang tính tổng hợp về tổng thể đó Vì vậy phương pháp nghiên cứu của khu vực học là phương pháp liên ngành (interdisciplinairy) và khu vực học được coi là một khoa học liên ngành Đối tượng nghiên cứu là khu vực được coi như một tổng thể gồm nhiều thành
tố có quan hệ tương tác mật thiết trong tồn tại và vận động Vì vậy chỉ có phương pháp liên ngành, tiếp cận đối tượng từ nhiều chuyên ngành liên kết với nhau trong tổ chức nghiên cứu mới xây dựng được một nhận thức tổng hợp, toàn bộ và toàn diện về đối tượng đó Phương pháp khu vực học là phương pháp tiếp cận chung của đề án và từng đề tài tùy theo yêu cầu, áp dụng trong mức độ cần thiết
4 SẢN PHẨM CỦA ĐỀ ÁN
4.1 Sản phẩm đã được nghiệm thu của các đề tài thuộc đề án:
Kết quả nghiệm thu cấp nhà nước:
Trang 27TT Tên đề tài Cơ quan chủ trì Chủ nhiệm
Ngày nghiệm thu
Kết quả: Điểm- Loại
1 Điều kiện địa lý tự nhiên,
môi trường sinh thái tác
động đến tiến trình lịch
sử và đặc trưng văn hóa
vùng Nam Bộ
Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
TS Trương Thị Kim Chuyên
GSTSKH
Vũ Minh Giang
PGSTS Nguyễn Văn Kim
GSTS Nguyễn Quang Ngọc
PGSTS Trần Đức Cường
24-6-2011 93,71
Xuất sắc
7 Đặc trưng tín ngưỡng,
tôn giáo và sinh hoạt
văn hóa của các cộng
đồng cư dân Nam Bộ
Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
GSTS Ngô Văn Lệ
PGSTS Vũ Văn Quân
10-6-2011 93,96
Xuất sắc
Trang 289-6-2011 92,33
Xuất sắc
10 Nam Bộ trong tiến
trình Việt Nam hội
nhập khu vực và thế
giới
Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
PGSTS Võ Văn Sen
10-6-2011 93,14
Xuất sắc
Riêng đề tài 11 không nghhiệm thu cấp nhà nước mà lập Hội đồng thẩm định Hội đồng xác nhận đề tài thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ được giao và đạt kết quả xuất sắc trong các hoạt đông biên soạn tư liệu và tổ chức tuyên truyền nhằm xã hội hóa kết quả nghiên cứu, góp phần xây dựng một nhận thức đúng đắn
về Nam Bộ cho cán bộ và nhân dân Đề tài đã phối hợp với Ban tuyên giáo các tỉnh/thành phố ở Nam Bộ tổ chức nói chuyện giới thiệu cuốn sách "Lược sử vùng đất Nam Bộ-Việt Nam", cùng với các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền những nhận thức đúng đắn về lịch sử Nam Bộ Đề tài phối hợp với Ban tuyên giáo trung ương, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam chuẩn bị bản thảo 100 câu hỏi và đáp về vùng đất Nam Bộ (320 trang)
* Sản phẩm của 10 đề tài nghiên cứu gồm:
- Báo cáo tổng quan kết quả nghiên cứu
- Tóm tắt báo cáo tổng quan
- Báo cáo hành chính
- Danh mục bài báo đã công bố
- Danh sách cử nhân, thạc sĩ, NCS được đào tạo của đề tài
* Tổng hợp kết quả chủ yếu của các đề tài là:
- 10 báo cáo tổng quan kết quả nghiên cứu biên tập thành 10 chuyên khảo
về Nam Bộ, mỗi chuyên khảo khoảng trên dưới 400 trang, tổng cộng trên dưới 4.000 trang
- Số lượng bài nghiên cứu đã công bố và kết quả đào tạo được tổng hợp trong bản thống kê sau:
Trang 29TT Tên đề tài Chủ nhiệm Số bài
1 Điều kiện địa lý tự nhiên,
môi trường sinh thái tác
động đến tiến trình lịch sử
và đặc trưng văn hóa vùng
Nam Bộ
TS Trương Thị Kim Chuyên
7 2 1 2
2 Nam Bộ từ cội nguồn đến
thế kỷ VI
GSTSKH Vũ Minh Giang
7 2
3 Nam Bộ từ thế kỷ VII đến
thế kỷ XVII
PGSTS Nguyễn Văn Kim
10 1 2 1
5 Nam Bộ từ khi Pháp xâm
lược đến năm 1945
PGSTS Đoàn Minh Huấn
6 1
6 Nam Bộ từ 1945 đến nay PGSTS Trần
Đức Cường
5
7 Đặc trưng tín ngưỡng, tôn
giáo và sinh hoạt văn hóa
của các cộng đồng cư dân
Nam Bộ
GSTS Ngô Văn Lệ
3 1
8 Đặc trưng thiết chế quản lý
xã hội ở Nam Bộ
PGSTS Vũ Văn Quân
Nguyện
6 1
10 Nam Bộ trong tiến trình
Việt Nam hội nhập khu vực
và thế giới
PGSTS Võ Văn Sen
8 4 3
Cộng: 78 11 12 11
- Số báo cáo khoa học và bài nghiên cứu đã công bố trong các kỷ yếu hội
thảo và trên các tạp chí khoa học là: 78
- Kết quả đào tạo trong quá trình triển khai đề án là:
Trang 30- 11 Cử nhân đại học
- 12 Thạc sĩ:
- 11 Nghiên cứu sinh Tiến sĩ (2 Nghiên cứu sinh Tiến sĩ đã bảo vệ)
4.2 Sản phẩm hoạt động chung của đề án:
4.2.1 Tổ chức hội thảo khoa học:
* Cùng Bộ Khoa học và công nghệ tổ chức 3 hội thảo khoa học trong quá
- Hội thảo về "Nam Bộ thời cận đại", tổ chức tại Cần Thơ ngày 4-3-2008
* Trong quá trình triển khai đề án, tổ chức 3 hội thảo:
- Hội thảo về "Những vấn đề phương pháp luận và các tiếp cận lịch sử - văn hóa vùng đất Nam Bộ", tổ chức tại Hà Nội ngày 12-8-2008
- Hội thảo về "Biến đổi kinh tế - xã hội vùng đất Nam Bộ: những vấn đề lịch sử và hiện tại", tổ chức tại Hà Nội ngày 30-5-2009
- Hội thảo về "Một số vấn đề bản sắc văn hóa - xã hội", tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 17-8-2011
4.2.2 Tổ chức điều tra khảo sát
Tổ chức hai lần điều tra khảo sát một số địa điểm tại Nam Bộ nhằm kiểm chứng và bổ sung tư liệu về Nam Bộ và một điều tra xã hội học Cuộc tham quan khảo sát ở Cămpuchia và Thái Lan do tình hình trượt giá không thể thực hiện được, đã đề nghị Bộ Khoa học và công nghệ cho chuyển kinh phí sang bổ sung cho điều tra trong nước và nghiên cứu khoa học
4.2.3.Xây dựng cơ sở dữ liệu về nghiên cứu Nam Bộ
- Đã tập hợp thư mục do các đề tài xây dựng và tổ chức thu thập, bổ sung, lập Tổng thư mục về Nam Bộ gồm hơn 5000 đơn vị thư mục
- Dịch một số tư liệu tham khảo quan trọng cung cấp kịp thời cho các đề tài
Trang 31- Tổng hợp các nguồn tư liệu xây dựng Cơ sở dữ liệu về Nam Bộ được vi
tính hóa để tiện tra cứu và lưu lại cho công việc nghiên cứu lâu dài về Nam Bộ
4.2.4 Các ấn phẩm đã công bố:kể cả trong quá trình chuẩn bị và triển khai
1) Lược sử vùng đất Nam Bộ-Việt Nam do Vũ Minh Giang chủ biên, Nxb
Thế giới, in lần thứ nhất 2006, 10.000 bản; lần thứ hai 2008, 30.000 bản
2) Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội 2008,
418 trang
3) Một số vấn đề nghiên cứu vùng đất Nam Bộ đến cuối thế kỷ XIX, Nxb
Thế giới, Hà Nội 2009, 582 trang
4) Một số vấn đề vùng đất Nam Bộ thời kỳ cận đại, Nxb Thế giới, Hà Nội
7) Một số vấn đề bản sắc văn hóa - xã hội vùng đất Nam Bộ, Nxb Thế
giới, đang in
8) 100 câu hỏi-đáp về Nam Bộ, bản thảo 320 trang đang hoàn chỉnh để
xuất bản
4.2.5 Sản phẩm tổng hợp của đề án:
- Báo cáo tổng quan kết quả nghiên cứu, 1.000 trang, sẽ hoàn chỉnh thành một công trình nghiên cứu tổng hợp về Nam Bộ và sẽ xuất bản
- Tóm tắt báo cáo tổng quan kết quả nghiên cứu
- Báo cáo hành chính về quá trình thực hiện đề án và kết quả đạt được, thanh quyết toán kinh phí
- Báo cáo kiến nghị
Trang 33PHẦN THỨ II
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 35CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1 XÁC ĐỊNH KHÔNG GIAN NAM BỘ QUA DIÊN CÁCH HÀNH CHÍNH
Trên bản đồ hành chính hiện nay, Nam Bộ không phải là một đơn vị hành chính mà là một khu vực phía nam của nước Việt Nam, tương ứng với khu vực miền trung gọi là Trung Bộ và khu vực miền bắc gọi là Bắc Bộ Năm 2010, Nam
Bộ gồm 19 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương trong tổng số 63 tỉnh và thành
phố trực thuộc trung ương của cả nước Theo Niên giám thống kê năm 2010, số
tỉnh và thành phố ở Nam Bộ phân bổ theo diện tích và dân số trung bình như sau:
TT Tỉnh/Thành phố Diện tích (km 2 )
Dân số (trung bình, người)
Mật độ (người/km 2 )
Trang 36So với cả nước, Nam Bộ chiếm tỷ lệ 64.123,6 ÷ 331.051,4 km2 1 = 19,36%
về diện tích đất liền và hải đảo ven bờ (chưa tính hai quần đảo Hoàng Sa, Trường San, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa), 31.838.700 ÷ 86.927.700 người = 36,62% về dân số (trung bình)
Nam Bộ là vùng đất phương Nam của nước Việt Nam, phía đông bắc giáp tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng, Đắk Nông của Trung Bộ, phía đông nam giáp Biển Đông, phía tây giáp vịnh Thái Lan, phía bắc giáp vương quốc Cămpuchia
Theo địa hình, Nam Bộ được phân làm hai vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ
Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh và thành phố nằm về phía Đông của Nam Bộ Vùng này có cao độ dao động khoảng trên dưới 200m so với mực nước biển, địa hình có nhiều gò đồi, các thềm sông, thềm biển, dốc từ bắc xuống nam, từ đông bắc xuống tây nam Vùng Đông Nam Bộ gồm 5 tỉnh Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 23.605,1km2, dân số (trung bình) 14.566.500 người, mật độ dân số 617 người/km2
Tây Nam Bộ nằm về phía Tây của Nam Bộ, được tạo thành chủ yếu do phù
sa sông Cửu Long, nên còn gọi là đồng bằng sông Cửu Long hay đồng bằng Nam
Bộ Đây là vùng đồng bằng rộng lớn, có cao độ dao động khoảng từ 1m đến 3m so với mực nước biển Địa hình nói chung bằng phẳng, nhiều sông rạch, nhưng cũng
có những vùng thấp trũng, đầm lầy, một số gò đồi ven thềm phù sa cổ, giồng cát ven biển Vùng Tây Nam Bộ gồm 13 tỉnh và thành phố: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, chiếm diện tích 40.518,5 km2, dân số (trung bình) 17.272.200 người, mật độ dân số 426 người/km2
Ngược về quá khứ, vùng đất Nam Bộ đã trải qua nhiều thay đổi về tên gọi cũng như không gian địa lý - hành chính
Sau thời tiền sử, vào khoảng 6 thế kỷ đầu Công nguyên, vùng đất Nam Bộ
là địa bàn chủ yếu của nền văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam Khi mới hình thành nhà nước, Phù Nam có "bảy ấp", người đứng đầu được phong là "Tiểu
1 Tính đến 1-1-2009, theo Quyết định số 2097b/QĐ-BTNMT ngày 29-10-2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 37vương"1 Có thể coi đó như "vùng thủ lĩnh" trong quá trình hình thành nhà nước theo mô hình "Mandala" Từ một vương quốc, Phù Nam đã phát triển thành một
đế chế cường thịnh của vùng Đông Nam Á lục địa Đế chế Phù Nam gồm đến trên
10 nước, trong thư tịch cổ Trung Quốc được gọi là "thuộc quốc", "ki mi" hay "chi nhánh", bao quát cả vùng hạ lưu và một phần trung lưu sông Mêkông lan sang vùng hạ lưu và trung lưu sông Ménam, xuống đến bán đảo Mã Lai Vùng đất Nam
Bộ nằm trong lãnh thổ vương quốc Phù Nam và là địa bàn chủ yếu của vương quốc Cảng thị Óc Eo trên đất tỉnh An Giang hiện nay giữ vai trò trung tâm mậu dịch quốc tế lớn nhất của vương quốc Phù Nam Tư liệu thư tịch và bi ký không cho biết về sự phân chia các vùng hay đơn vị cai quản của nhà nước Phù Nam
Khoảng từ giữa thế kỷ VI đế chế Phù Nam suy yếu Một thuộc quốc của Phù Nam là Chân Lạp dần dần hưng thịnh, đánh chiếm kinh thành Đặc Mục (có thể là Angkor Borei) rồi tấn công thành Na Phất Na (Naravaranagara, có thể là cảng thị Óc Eo, Nam Bộ), chấm dứt sự tồn tại của vương quốc Phù Nam vào đầu thế kỷ VII Từ đây, vùng đất Nam Bộ trên danh nghĩa phụ thuộc vào Chân Lạp Trong thời kỳ Tiền Angkor (thế kỷ VII cho đến thế kỷ IX), Chân Lạp lâm vào tình trạng chiến tranh quyết liệt giữa các tiểu quốc và thế kỷ VIII phân làm hai vùng: Lục Chân Lạp là miền đất cao ở phía bắc, có nhiều núi rừng, gồm đất trung lưu sông Mêkông, Hạ Lào và một phần Thái Lan hiện nay; Thủy Chân Lạp là vùng đất thấp ở phía nam, có đồng bằng, nhiều đầm lầy của một phần trung lưu và vùng
hạ lưu sông Mêkông Trong thế kỷ VIII, Thủy Chân Lạp luôn luôn bị quân Java tức quân đội của vương triều Sailendrra trên đảo Java (Indonesia), một đế chế biển cường thịnh, tấn công cướp phá Đầu thế kỷ IX, vương triều Angkor thành lập, dần dần thống nhất Thủy Chân Lạp với Lục Chân Lạp, rồi phát triển thành một đế
chế thịnh đạt, mở ra thời đại văn minh Angkor huy hoàng Theo Chân Lạp phong
thổ ký của Chu Đạt Quan, thế kỷ XIII, Chân Lạp gồm "hơn 10 thuộc quận", "mỗi
quận đặt quan lại, đều lấy gỗ rào làm thành"2 Văn bia thời Angkor gọi những đơn
vị hành chính của Chân Lạp là "prama" và "visaya", thấp nhất là "sruk" Tư liệu không cho biết về sự tồn tại của bất cứ một đơn vị hành chính nào của Chân Lạp thời Tiền Angkor và thời Angkor trên vùng đất Nam Bộ Theo kết quả nghiên cứu
về địa chất học, trong giai đoạn Holocene muộn, có một đợt biển tiến quy mô cục
bộ gọi là biển tiến Holocene IV khoảng từ thế kỷ VI đến XII mà đỉnh cao vào khoảng nửa đầu thế kỷ VII, mức nước dâng ở vùng đồng bằng Nam Bộ có thể lên
1 Diêu Tư Liêm: Lương thư, Q 54-8b, Thương vụ Ấn thư quán, Thượng Hải, 1958, bản dịch của Nguyễn
Hữu Tâm (tư liệu của đề án)
2 Chu Đạt Quan: Chân Lạp phong thổ ký, Nxb Thế giới, Hà Nội 2006, tr 54
Trang 38đến khoảng 1m so với mức nước biển Đây là một nhân tố thiên tai góp phần làm sụp đổ vương quốc Phù Nam Nhưng nước biển dâng lên từ từ và chắc hẳn là cư dân Phù Nam tìm những gò đất cao để sinh sống, cư trú thành từng nhóm Các di tích khảo cổ học từ thế kỷ VII đến XVI trên đất Nam Bộ hầu hết là các di tích Hậu
Óc Eo trên các gò đồi cao vùng đồng bằng sông Cửu Long và trên vùng đất cao của Đông Nam Bộ Đó là dấu tích cư trú của các nhóm cư dân Phù Nam sau khi nước Phù Nam sụp đổ và trong bối cảnh mới, họ tiếp nhận thêm ảnh hưởng văn hóa Chămpa, Chân Lạp Cư dân thưa thớt, "rừng thấp cây rậm, sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn "1 Từ vương triều Angkor, trung tâm của Chân Lạp là vùng Biển Hồ và trung lưu sông Mêkông, miền đất Nam Bộ hoang vu là vùng ngoại vi, không được quan tâm trong khai phá và quản lý, tư liệu không cho thấy một đơn vị hàng chính nào trên vùng đất này
Trên cảnh quan thiên nhiên và nhân văn như thế, đầu thế kỷ XVIII, di dân người Việt từ Đàng Trong đi về phương Nam khai khẩn đất hoang Họ tìm những vùng đất hoang để khai phá, lập thành những thôn ấp, chung sống với người Khmer như Trịnh Hoài Đức nhận xét: "dân lưu tán của nước cùng ở lẫn với người Cao Miên để khai khẩn ruộng đất"2 Từ Môi Xoài (Bà Rịa-Vũng Tàu) lên Đồng Nai, di dân người Việt lần theo các sông rạch, mở rộng dần địa bàn khai phá và trở thành một động lực mới của sự phát triển kinh tế - xã hội vùng đất Nam Bộ Từ giữa thế kỷ XVII, ở Trung Quốc, nhà Minh (1697-1644) sụp đổ, nhà Thanh (1644-1911) thay thế và một bộ phận người Hoa di cư ra nước ngoài sinh cơ lập nghiệp Vào nửa sau thế kỷ XVII, một số người Hoa cũng tham gia vào công cuộc
mở mang khai phá một số vùng đất trên đất Nam Bộ Như vậy là tiếp nối công cuộc khai phá từ thời tiền sử, qua các lớp cư dân Phù Nam, các lớp cư dân người
Mạ, Xtiêng, Cho Ro, Khmer, Chăm , người Việt và một bộ phận người Hoa đã đẩy mạnh công cuộc khai phá, làm biến đổi nhanh chóng và mạnh mẽ diện mạo vùng đất Nam Bộ
Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu (Tộ Minh Vương, 1691-1725) cử Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược, thiết lập các đơn vị hành chính và bộ máy quản lý trên đất khai phá của Nam Bộ Xứ Đồng Nai lập thành huyện Phúc Long và dựng dinh Trấn Biên (sau là Biên Hòa); xứ Sài Gòn lập thành huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn (sau là Gia Định) Dưới
1 Chu Đạt Quan: Chân Lạp phong thổ ký, Sđd, tr 45
2 Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chi, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1998, tr.75
Trang 39dinh và huyện (sau nâng thành phủ) là các đơn vị xã-thôn-phường-ấp Trên hệ thống hành chính đó là bộ máy quản lý với các chức quan được qui định về trách nhiệm, nghĩa vụ, việc chia địa giới, lệ thu tô thuế và sổ đinh điền cũng được qui
định Phạm vi đất đai mở mang "được hơn nghìn dặm, được dân hơn 4 vạn hộ"1
Đó là những đơn vị hành chính đầu tiên của chính quyền chúa Nguyễn thiết lập trên đất Nam Bộ gắn liền với công cuộc khai phá và xác lập chủ quyền
Cho đến năm 1757, toàn bộ vùng đất Nam Bộ hoàn toàn thuộc chủ quyền của chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong Các đơn vị hành chính trực thuộc trung ương có dinh Trấn Biên, dinh Phiên Trấn, dinh Long Hồ (có châu Định Viễn), đạo Trường Đồn, trấn Hà Tiên (có đạo Kiên Giang, đạo Long Xuyên) Năm
1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát (Hiếu Vũ Vương, 1738-1765) thống nhất các đơn
vị hành chính, chia toàn bộ Đàng Trong làm 12 dinh và 1 trấn Đất Nam Bộ có 3 dinh: Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ và 1 trấn: Hà Tiên Dưới dinh là huyện-tổng-xã ở vùng đồng bằng, hay huyện-thuộc-thôn-man, nậu ở miền núi Riêng dinh Long Hồ, dưới dinh là châu Cho đến hết thời chúa Nguyễn, cả Đàng Trong gồm 3 dinh (Trấn Biên, Phiến Trấn, Long Hồ) và 1 trấn (Hà Tiên) cùng các hải đảo ven bờ
Trong thời Tây Sơn, đất Nam Bộ là vùng đất tranh chấp quyết liệt giữa quân Tây Sơn với quân Nguyễn, là chiến trường của cuộc kháng chiến chống Xiêm năm 1784-1785 Trong thời gian này hệ thống hành chính chỉ có một thay đổi Năm 1779, Nguyễn Ánh đổi đạo Trường Đồn thành dinh Trường Đồn (dinh Hoằng Trấn, năm 1781 đổi làm dinh Trấn Định), đưa số đơn vị hành chính lên 4 dinh và 1 trấn Trong thời Tây Sơn và Nguyễn Ánh, số dinh/trấn không mấy thay đổi, nhưng do sự phát triển kinh tế - xã hội, số đơn vị cơ sở như xã, thôn, ấp, thuộc tăng lên nhiều
Sang đầu thời Nguyễn (1802-1945), vua Gia Long vẫn giữ nguyên các đơn
vị hành chính cũ, chỉ đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định Năm 1808, nhà vua quyết định thành lập Gia Định Thành bao gồm toàn bộ vùng đất Nam Bộ hiện nay Đây là một khu vực hành chính đặc biệt, tương ứng với Bắc Thành ở phía Bắc bao gồm toàn bộ vùng đất Bắc Bộ hiện nay Gia Định Thành có 4 dinh đổi làm 4 trấn: dinh Phiên Trấn đổi thành trấn Phiên An gồm phủ Tân Bình và 4 huyện (Bình Dương, Tân Long, Phúc Lộc, Thuận An); dinh Trấn Biên đổi thành trấn Biên Hòa gồm phủ Phúc Long và 4 huyện (Phúc Chính, Bình An, Long
1 Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Bản dịch Nxb Giáo dục, Hà Nội 2004, T I, tr 111
Trang 40Thành, Phúc An); dinh Long Hồ đã đổi làm dinh Vĩnh Trấn, nay đổi thành trấn Vĩnh Thanh gồm phủ Định Viễn và 3 huyện (Vĩnh An, Vĩnh Bình, Tân An); dinh Trấn Định đổi thành trấn Định Tường gồm phủ Kiến An và 3 huyện (Kiến Đăng, Kiến Hưng, Kiến Hòa); và trấn Hà Tiên chia đặt 2 đạo: đạo Long Xuyên gồm 2 huyện (Long Thủy, Quảng Xuyên), đạo Kiên Giang gồm 2 huyện (Kiên Định, Thanh Giang)1 So với bản đồ hành chính trước đây thì dưới trấn, các huyện phát triển thành phủ và các tổng phát triển thành huyện, đồng thời các đơn vị tổng và
thôn, xã, phường, ấp, lân tăng lên nhiều Theo thống kê của Gia Định thành
thông chí thì tổng số tổng lên đến 32, tổng số đơn vị cơ sở như thôn, xã, phường,
ấp, lân lên đến 1.5402
Việc thành lập hai khu vực hành chính lớn ở hai phía Bắc, Nam của đất nước là do nhu cầu quản lý mang tính tình thế khi triều Nguyễn vừa mới thiết lập nền thống trị trên một lãnh thổ rộng lớn bao gồm cả Đàng Trong và Đàng Ngoài Mặt khác, quyền lực quá lớn của hai Tổng trấn đứng đầu hai khu vực đó không khỏi gây mối lo ngại cho sự tập trung quyền lực của chế độ quân chủ tập quyền
Sau khi chuẩn bị chu đáo, năm 1831, vua Minh Mệnh thực hiện một cuộc cải cách hành chính trên qui mô toàn quốc nhằm thống nhất nền hành chính quốc gia, thống nhất sự quản lý của triều đình trung ương Trong năm 1831-1832, cả nước được chia làm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên (vùng kinh thành), hai khu vực Bắc Thành và Gia Định Thành bị xóa bỏ, các đơn vị hành chính thống nhất trong
hệ thống: tỉnh - phủ - huyện/châu - tổng - xã/thôn/phường/ấp Năm 1832, vùng Gia Định Thành được chia làm 6 tỉnh:
1) Tỉnh Phiên An (trấn Phiên An) gồm 2 phủ (Tân Bình, Tân An) và 5 huyện (Bình Dương, Tân Long, Phúc Lộc, Thuận An, Tân Hòa)
2) Tỉnh Biên Hòa (trấn Biên Hòa) gồm 1 phủ (Phúc Long) và 4 huyện (Phúc Chính, Phúc An, Bình An, Long Thành)
3) Tỉnh Vĩnh Long (trấn Vĩnh Long) gồm 3 phủ (Định Viễn, Hoằng An, Lạc Hóa) và 6 huyện (Vĩnh Bình, Vĩnh Trị, Tân Minh, Bảo An, Tuân Nghĩa, Trà Vinh)
4) Tỉnh Định Tường (trấn Định Tường) gồm 1 phủ (Kiến An) và 3 huyện (Kiến Hưng, Kiến Đăng, Kiến Hòa)
1 Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Sđd, T I, tr 716-717
2 Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, Sđd, tr 86-139 Thống kê của PGSTS Vũ Văn Quân