+ Trình bày được quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức cáchmạng, những phẩm chất đạo đức cách mạng cơ bản và nguyên tắc xây dựng đạođức cách mạng.+ Trình bày quan điểm của Hồ
Trang 1Bài 8: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI
I Đặt vấn đề
Khóa họp Đại Hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của LiênHợp Quốc (UNESCO) lần thứ 24 tại Pari từ ngày 20/10 – 20/11 năm 1987 đã có
Nghị quyết 24C/18.65 vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là “Anh hùng
giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”
Điều này, ngay từ năm 1923, nhà thơ XôViết Ôxip Mandextam cũng đã có
những cảm nhận rất tinh tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra
một nền văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa của
II Mục đích, yêu cầu
1 Hồ Chí Minh Biên niên Tiểu sử, Nxb CTQG, 1993, tập 1, tr.204
2 Phạm Văn Đồng, Văn hóa và đổi mới, Nxb CTQG, H, 1994, tr.126
Trang 2+ Trình bày được quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức cáchmạng, những phẩm chất đạo đức cách mạng cơ bản và nguyên tắc xây dựng đạođức cách mạng.
+ Trình bày quan điểm của Hồ Chí Minh về con người, vai trò của conngười, chiến lược trồng người
+ Biết nghiên cứu tài liệu, thu thập, xử lý thông tin một cách khoa học, hợp
lý để luận giải và làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, văn hóa và xâydựng con người mới
+ Biết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, văn hóa và xây dựng conngười mới vào việc tu dưỡng hoàn thiện bản thân, góp phần tích cực vào việc xâydựng con người Việt Nam mới trong giai đoạn hiện nay
2 Yêu cầu
Sinh viên học tập với tình cảm và trách nhiệm cao nhất, ý thức học tập phảinghiêm túc, chấp hành tốt kỷ luật, nghe, ghi chép bài đầy đủ và tích cực thảo luậnnội dung của bài…
III Nội dung và thời gian
1 Nội dung: gồm 4 phần (trọng tâm phần II, trọng điểm 2.2)
- Phần I: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
- Phần II: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
- Phần III: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới
- Phần IV: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, văn hóa và conngười vào xây dựng con người Việt Nam mới hiện nay
Trang 32 Thời gian: toàn bài là 6 tiết
- Thời gian lên lớp:
- Thời gian thảo luận, ôn luyện:
IV Phương pháp
- Giáo viên: Thuyết trình, đàm thoại, nêu vấn đề
- Sinh viên: Đọc tài liệu, nghe, ghi chép, thảo luận
V Giáo trình, tài liệu
- Giáo trình:
+ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (Dùng trong
các trường đại học và cao đẳng), Nxb CTQG, H, 2006 (Tái bản 2008, 2010, 2011)
- Tài liệu tham khảo:
+ HĐTW chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí
Minh, Nxb CTQG, H, 2003 (Tái bản 2008).
+ Tổng cục Chính Trị, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb QĐND, H, 2006 + Song Thành (Chủ biên), Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb CTQG, H, 2010 + Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 1 – 15.
Trang 4I TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ
1.1 Những quan điểm chung của Hồ Chí Minh về văn hoá
1.1.1 Định nghĩa văn hoá
Theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2011, tr.1406:
Văn hóa: 1 Tổng thể nói chung những giá trị vật chật và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử 2 Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần nói chung 3 Tri thức kiến thức khoa học 4 Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội…
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc
(UNESCO):
Khái niệm Văn hóa được UNESCO đưa ra vào năm 1994 Theo UNESCO,văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng thì
“Văn hóa là một phức hệ- tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất,
tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”3; còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa
là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”4…
Theo Hồ Chí Minh:
- Ngay từ những năm 1942 - 1943, trong bài Mục đọc sách được viết vào những trang cuối của cuốn sổ ghi tập Nhật ký trong tù, Hồ Chí Minh đã đưa ra định
nghĩa về văn hoá như sau:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ và chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương
3 Dẫn theo chương Văn hóa trong giáo trình Nhân học đại cương của Bộ môn Nhân học, Đại học KHXH&NV
TP.HCM, tài liệu đánh máy.
4 Ngô Văn Lệ, Tộc người và văn hóa tộc người, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, 2004, tr 314.
Trang 5thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là
sự tổng hợp của mọi phương thức sinh họat cùng với biểu hiện của nó mà loài người
đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” 5
- Hồ Chí Minh đưa ra 5 điểm lớn cho việc xây dựng nền văn hóa dân tộc:+ Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường
+ Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng
+ Xây dựng xã hội: làm cho mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, bình đẳng.+ Xây dựng chính trị: thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, xây dựng nhànước của dân, do dân, vì dân
+ Xây dựng kinh tế
Như vậy, khái niệm Văn hóa theo Hồ Chí Minh được hiểu theo như sau:
- Nguồn gốc của văn hóa: Do con người sáng tạo ra
- Nội dung của Văn hóa: toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần
- Mục đích của Văn hóa: nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của conngười, đồng thời phục vụ mục đích cuộc sống của mình
- Biện pháp xây dựng Văn hóa: Muốn xây dựng nền văn hóa dân tộc thì phảixây dựng tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, tâm lý con người
1.1.2 Vị trí, vai trò của văn hóa
* Văn hóa quan trọng ngang kinh tế, chính trị, xã hội
- Văn hoá được Hồ Chí Minh xác định là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc
về kiến trúc thượng tầng Văn hoá có mối quan hệ mật thiết với chính trị kinh tế
-xã hội, tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống -xã hội
- Trong Bài nói chuyện tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III (1962), Hồ
Chí Minh khẳng định: “Dân tộc bị áp bức thì văn nghệ cũng mất tự do Văn nghệ
muốn tự do, phải tham gia cách mạng” 6
5 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, Tr.431
6 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Tr.645
Trang 6Như vậy, văn hóa nghệ thuật không thể tách rời đời sống chính trị của dân tộc.Văn hóa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thục đẩy xây dựng và phát triển kinh tế:
“Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”.
- Văn hoá quan trọng ngang chính trị, kinh tế, xã hội Bốn yếu tố này có mốiquan hệ mật thiết với nhau tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội
+ Chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hoá mới được giải phóng.Chính trị giải phóng mở đường cho văn hoá phát triển Dưới chế độ thực dân phongkiến, nhân dân ta bị nô lệ, đàn áp thì văn nghệ cũng bị đàn áp, không phát triểnđược Sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân, conngười được giải phóng thì văn nghệ phát triển mạnh mẽ, đi sâu phản ánh cuộckháng chiến và sinh hoạt của nhân dân
+ Xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hoá.Kinh tế thuộc cơ sở hạ tầng, là nền tảng cho việc xây dựng văn hoá, xây dựng kiếntrúc thượng tầng Vì vậy, Hồ Chí Minh cho rằng phải tập trung phát triển kinh tế để
có diều kiện xây dựng và phát triển văn hoá Người phân tích: “Cơ sở hạ tầng có
kiến thiết rồi văn hoá mới kiến thiết được và đủ điều kiện phát triển được” 7
* Văn hoá là một kiến trúc thượng tầng nhưng không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị Văn hóa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng kinh tế phát triển
- Theo Hồ Chí Minh: “Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp cho
chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ, cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh” 8
- Theo Hồ Chí Minh văn hóa có vai trò, sức mạnh to lớn ảnh hưởng trở lạikinh tế và chính trị Theo Người, văn hoá phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩyxây dựng và phát triển kinh tế Phát triển kinh tế là cơ sở để phát triển văn hoánhưng không có nghĩa là văn hoá thụ động, chờ cho kinh tế phát triển rồi mới đến
7 Báo Cứu quốc, số ra ngày 8/10/1946
8 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Tr.281
Trang 7lượt mình phát triển Văn hoá có tính tích cực chủ động, là một động lực to lớn thúc
đẩy kinh tế và chính trị phát triển, “văn hóa mở đường cho quốc dân đi”
- Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa – nghệ thuật cũng như mọi hoạt động
khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị” 9
+ “Văn hoá ở trong chính trị” tức là phải tham gia vào nhiệm vụ chính trị,
tham gia kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội
+ “Văn hoá ở trong kinh tế” tức là văn hoá phải phục vụ, thúc đẩy việc xây
dựng và phát triển kinh tế
+ “Văn hoá ở trong kinh tế và chính trị” có nghĩa là làm kinh tế, làm chính
trị phải có văn hoá
Do đó, Người yêu cầu: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có 4 vấn đề
cần chú ý đến, cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa” 10
1.1.3 Tính chất của nền văn hoá mới
* Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
- Ngay từ năm 1943, trong Đề cương văn hóa, Đảng nêu lên 3 tính chất
của cuộc vận động xây dựng nền văn hóa mới: dân tộc, khoa học, đại chúng
- Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nhiều lần nhắc lại 3 tính chất này
• Trong buổi tiếp đoàn đại biểu Ủy ban văn hóa lâm thời Bắc Bộ, ngày
7/9/1945, Người nói: “Cái văn hóa mới này cần phải có tính cách khoa học,
tính cách đại chúng thì mới thuận với trào lưu tiến hóa của tư tưởng hiện đại” 11
• Trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội II của Đảng (1951), Người khẳng định: “Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa
học và đại chúng” 12
9 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Tr.368
10 Báo Cứu quốc, số ra ngày 8/10/1945
11 Hồ Chí Minh Biên niên Tiểu sử, tập 3, tr.13
12 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Tr.173
Trang 8+ Tính dân tộc (còn gọi là đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc) là cái tinh tuý
bên trong, rất đặc trưng của dân tộc, để phân biệt với văn hoá của các dân tộc khác
Tinh dân tộc của văn hóa là sự thể hiện của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần độc lập tự cường của dân tộc trong lĩnh vực văn hóa Do đó, văn hóa phải thể hiện
được cốt cách, tâm hồn của người Việt Nam Tính dân tộc của văn hóa còn được
thể hiện ở hình thức và phương tiện diễn đạt Người nhắc nhở: “Nhân dân ta có
truyền thống kể chuyện ngắn gọn và có duyên” 13 …
+ Tính khoa học: nghĩa là văn hoá mới phải phù hợp với trào lưu tiến hoá của
tư tưởng hiện đại
Người nói: “Nay nước ta đã được độc lập, tinh thần được giải phóng, cần
phải có một nền văn hóa hợp với khoa học và hợp cả với nguyện vọng của nhân dân” 14 Tính khoa học đòi hỏi phải đấu tranh chống lại những gì trái với khoa học,phản tiến bộ, phải truyền bá tư tưởng mácxít, đấu tranh chống duy tâm, bài trừ mêtín dị đoan…
+ Tính đại chúng là văn hoá phải phục vụ nhân dân; phản ánh tâm tư
nguyện vọng, ý chí của nhân dân
Tại Hội nghị Đại biểu những người tích cực trong phong trào văn hóa
quần chúng (2/1960), Người nói: “Văn hóa phải thiết thực phục vụ nhân dân,
góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng” 15
* Trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa
- Thời kỳ đầu Hồ Chí Minh nói tính chất của nền văn hoá mới là phải xã hộichủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức
- Từ Đại hội III (1960), Người nói nền văn hoá mới có nội dung xã hội chủnghĩa và có tính chất dân tộc
+ Nội dung xã hội chủ nghĩa là thể hiện tính tiên tiến, khoa học, hiện đại,
biết tiếp thu văn hoá nhân loại, phù hợp với trào lưu tiến hoá trong thời đại mới
13 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Tr.553
14 Hồ Chí Minh Biên niên Tiểu sử, tập 3, tr.16
15 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Tr.59
Trang 9+ Tính dân tộc là biết giữ gìn, kế thừa, phát triển những truyền thống dân tộc
cho phù hợp với thời đại mới
* Trong giai đoạn cách mạng hiện nay: với hai tính chất Tiên tiến và Đậm
đà bản sắc dân tộc sẽ làm văn hóa Việt Nam thành một nền văn hóa ngang tầm thời
đại, phục vụ tích cực cho việc thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội dân chủ, công bằng, văn minh; đồng thời góp phần làm phong phú them khotằng văn hóa nhân loại Đó cũng chính là quan điểm của Hồ Chí Minh về sự pháttriển biện chứng của văn hóa
1.1.4 Chức năng của nền văn hoá mới
* Một là, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp
- Tư tưởng và tình cảm là hai vấn đề chủ yếu nhất của đời sống tinh thần củacon người Tư tưởng có thể đúng đắn hoặc sai lầm, tình cảm có thể cao đẹp hoặcthấp hèn Do đó, văn hóa phải bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp vàloại bỏ sự sai lầm và thấp hèn trong tư tưởng và tình cảm của con người
- Tư tưởng đúng đắn là theo chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, quan điểmcủa Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Tình cảm caođẹp là lòng yêu nước, yêu thương con người, là tính trung thực, thẳng thắn, thuỷchung, đề cao cái chân, thiện, mỹ
+ Trong diễn văn khai mạc hội nghị văn hoá toàn quốc 24/11/1946, Hồ Chí
Minh nêu rõ: Văn hoá phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự
do Đồng thời văn hoá phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng.
+ Trong lời kêu gọi nhân dân chống Mỹ cứu nước, Nguời nhắc lại lý tưởng
độc lập tự do bằng một mệnh đề mới: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, độc
lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội thì mới bền vững
- Chức năng bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp phải đượctiến hành một cách thường xuyên vì tư tưởng, tình cảm con người luôn chuyển biếntheo hoạt động thực tiễn xã hội Việc bồi dưỡng đó phải đặc bịêt quan tâm đến
Trang 10những tư tưởng và tình cảm lớn có ý nghĩa chi phối đời sống tinh thần của mỗingười và của cả dân tộc.
Theo Hồ Chí Minh, phải làm thế nào cho văn hóa đi vào tâm lý quốc dân, đểxây dựng tình cảm lớn như long yêu nước, yêu CNXH, yêu thương con người, yêucái thiện, cái đẹp, sống chung thực chân thành; ghét thói hư, tật xấu, sa đọa biếnchất, căm thù giặc…
* Hai là, nâng cao dân trí
- Đây là chức năng chủ yếu của văn hoá Dân trí là trình độ hiểu biết, trình
độ kiến thức của người dân trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá (theonghĩa vẫn thường dùng là trình độ học vấn), chuyên môn, nghiệp vụ, khoa học, kỹthuật, lịch sử, thực tiễn Việt Nam và thực tiễn thế giới… nhằm phục vụ cho mụctiêu độc lập dân tộc và CNXH
- Khi đất nước đã được độc lập, Hồ Chí Minh nói: “Một trong những công
việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí” 16 Bởi vì: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.
- Khi miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Người nói: “Chúng ta phải
biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống vui tươi, hạnh phúc” 17
- Vấn đề nâng cao dân trí thực sự chỉ có thể thực hiện được khi chính quyền
về tay nhân dân, khi chính trị đã được giải phóng
Phan Chu Trinh, nhà yêu nước đầu thế kỷ XX đã đề ra chủ trương: “Khaidân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, Lương Văn Can mở trường Đông Kinh nghĩathục, song không thể thực hiện được bởi sự đàn áp của thực dân, phong kiến Do
đó, dòng văn hoá cách mạng trước cách mạng Tháng Tám chỉ làm chuyển biến dântrí được phần nào
- Sự nghiệp xây dựng CNXH rất khó khăn, phức tạp, lâu dài nên nâng caodân trí là đòi hỏi không có điểm tận cùng
16 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Tr.36
17 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Tr.494
Trang 11* Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách lành mạnh, luôn hướng con người tới chân, thiện, mỹ, không ngừng hoàn thiện mình
- Phẩm chất tốt đẹp (chính là 4 phẩm chất đạo đức mà Hồ Chí Minh nêu ra)
và phong cách lành mạnh được hình thành trong đạo đức, lối sống, thói quen,phong tục, tập quán của cá nhân, cộng đồng
- Văn hoá sẽ hướng con người hướng tới cái chân, thiện, mỹ, loại bỏ nhữngcái lỗi thời, lạc hậu ra khỏi đời sống xã hội
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phải làm thế nào cho văn hoá đi sâu vào trong tâm lý
quốc dân, nghĩa là văn hoá phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ” 18 Người đã nêu ra một luận điểm khái quát “Văn hoá phải soi đường cho quốc
dân đi”.
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về một số lính vực chính của văn hoá
Văn hoá gồm nhiều lĩnh vực, Hồ Chí Minh đã đề cập đến ba lĩnh vực chính,
đó là: văn hoá giáo dục, văn hoá văn nghệ, văn hoá đời sống
1.2.1 Văn hoá giáo dục
- Khi ra đi tìm đường cứu nước, người đã bỏ nhiều thời gian, công sức để tìmhiểu nền giáo dục thực dân, phong kiến
+ Nền giáo dục phong kiến mang tính kinh viện, sách vở, không quan tâmđến thực nghiệm; coi đỉnh cao trí tuệ là kinh thánh, mẫu người đào tạo ra là kẻ sỹ,bậc quân tử, bậc trượng phu hoàn toàn khác với kẻ bình dân; người phụ nữ bị tướcnhiều quyền, chỉ làm công việc thứ yếu
+ Nền giáo dục thực dân là nền giáo dục ngu dân, đồi bại, xảo trá, nguyhiểm, dạy con người lòng trung thực giả dối, sùng bái kẻ mạnh hơn mình Mục đíchcủa nền giáo dục đó là đào tọa những người phục vụ chính quyền thực dân: tùyphái, thong ngôn, viên chức nhỏ…
- Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đã chọn lọc và nêu ra một hệ thống lý luậnphong phú, toàn diện về vấn đề giáo dục
18 Báo Cứu quốc, ngày 25/11/1946
Trang 12Trong bài Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa (3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại cho nhân dân chúng ta Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng vơi nước Việt Nam độc lập” 19
+ Mục tiêu của giáo dục là thực hiện cả ba chức năng của văn hoá bằng giáo
dục, có nghĩa là bằng dạy và học
• Thứ nhất, dạy và học để mở mang dân trí, nâng cao kiến thức, bồi dường tư
tưởng và tình cảm đúng đắn, những phẩm chất trong sáng và phong cách lành mạnhcho nhân dân; đào tạo những con người có đức có tài, biết làm chủ đất nước, đónggóp vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
• Thứ hai, học không phải chạy theo bằng cấp mà phải học thực chất, học để
làm việc, làm cán bộ sau này, đó là quá trình “cải tạo tri thức cũ, đào tạo tri thứcmới”, thực hiện “công nông hoá trí thức, trí thức hoá công nông”, xây dựng đội ngũtrí thức ngày càng đông đảo và có trình độ cao
+ Nội dung giáo dục: Phải bao gồm cả văn hóa, chính trị, khoa học – kỹ
thuật, chuyên môn, nghề nghiệp, lao động… Những nội dung đó phải phù hợp với
sự phát triển của đất nước ta và phải đặt nó trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau,không được xem nhẹ mặt nào
+ Phương châm, phương pháp giáo dục
• Phương chấm: học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tế, học tập kết hợp
với lao động Phối hợp ba khâu gia đình, nhà trường, xã hội; thực hiện dân chủ, bìnhđẳng trong giáo dục, “Học không bao giời đủ, còn sống là còn phải học”, coi trọngviệc tự học, tự đào tạo và đào tạo lại Học ở mọi nơi, mọi lúc, học ở mọi người
• Phương pháp: với từng đối tượng, dạy từ dễ đến khó, kết hợp học tập với
vui chơi có ích, giáo dục phải dùng phương pháp nêu gương và gắn liền với thi đua
+ Quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên:
19 Tập 4, tr 8
Trang 13Hồ Chí Minh nói không có giáo viên thì không có giáo dục, phải xây dựngđược đội ngũ giáo viên có lòng yêu nghề, có đạo đức cách mạng, yên tâm công tác,đoàn kết, giỏi về chuyên môn, thuần thục về phương pháp Người đi giáo dục cầnđược giáo dục và phải học tập suốt đời.
+ Cải cách giáo dục: bao gồm xây dựng một hệ thống trường lớp với
chương trình, nội dung dạy và học thật khoa học, hợp lý, phù hợp với các giai đoạncách mạng Giáo dục phải kết hợp ba khâu gia đình - nhà trường - xã hội thì mớimang lại hiệu quả cao
1.2.2 Văn hoá văn nghệ
* Vai trò của văn hóa văn nghệ.
- Văn nghệ là biểu hiện tập trung nhất của văn hoá, là đỉnh cao của đời sốngtinh thần, là hình ảnh của tâm hồn dân tộc
- Dân tộc ta có truyền thống yêu văn nghệ Văn nghệ đã trở thành lẽ sống, lànhu cầu không thể thiếu của con người Việt Nam, nó đã giúp nhân dân ta vượt quakhó khăn, gian khổ để tiến tới thắng lợi cuối cùng
- Hồ Chí Minh là người đã khai sinh ra một nền văn nghệ cách mạng và làchiến sỹ đi tiên phong trong sáng tác văn nghệ: truyện, ký, kịch, thơ, ca, chính luận,
lý luận văn nghệ, … (Yêu sách của nhân dân An Nam, Đông Dương, Con rồng tre,Con người biết mùi hun khói, Hành hình kiểu Linsơ, Bản án chế độc thực dânPháp, Đường kách mệnh, … ) Người đã có nhiều cống hiến cho nền văn nghệnước nhà và được tôn vinh là danh nhân văn hoá thế giới
* Một số quan niệm chủ yếu của Hồ Chí Minh về văn nghệ:
- Văn nghệ là mặt trận, nghệ sỹ là chiến sỹ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xã hội mới, con người mới.
Trong bài thơ Cảm tưởng đọc Thiên gia thi, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quanđiểm này:
Trang 14“Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông;
Nay ở trong thơ nên có thép, Nhà thơ cũng phải biết xung phong.”
- Văn nghệ phải gắn bó với đời sống nhân dân.
+ Thực tiễn đời sống nhân dân ta là lao động sản xuất, chiến đấu, sinh hoạt
và xây dựng cuộc sống mới
+ Nhà văn phải thật gần gũi chan hoà, quan hệ mật thiét với nhân dân để nắmbắt tâm tư, tình cảm của nhân dân và phản ánh vào trong các tác phẩm văn nghệ
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chỉ có nhân dân mới nuôi dưỡng cho sáng tác của các
nhà văn bằng những nguồn nhựa sống Còn nếu nhà văn quên điều đó nhân dân cũng sẽ quên anh ta”.
- Văn nghệ phải có những tác phẩm hay phản ánh sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
+ Tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ III (1/12/1962), Hồ Chí Minh đã
nói với văn nghệ sỹ: “Quần chúng đang chời đợi những tác phẩm văn nghệ xứng
đáng vơi thời đại vẻ vang cuẩ chúng ta” 20
+ Tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại là tác phẩm miêu tả vừa hayvừa chân thật sự nghiệp cách mạng của nhân dân, hướng nhân dân tới những lýtưởng cao đẹp
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, văn nghệ phục vụ quần chúng không phải là
hạ thấp nghệ thuật mà phải tạo ra những tác phẩm có tính nghệ thuật cao
1.2.3 Văn hoá đời sống
* Quan niệm về văn hóa đời sống.
- Quan điểm này của Hồ Chí Minh thể hiện rõ sau khi đất nước ta giành đượcđộc lập Tháng 1/1946, Người ký sắc lệnh thành lập Uỷ ban Trung ương vận động
20 Tập 10, tr.646
Trang 15xây dựng đời sống mới Tháng 3/1947, Hồ Chí Minh viết tác phẩm Đời sống mới
để định hướng cho phong trào
- Quan điểm xây dựng đời sống mới của Hồ Chí Minh rất độc đáo, dễ hiểu,
dễ đi sâu vào đời sống xã hội Đời sống mới bao gồm đạo đức mới, lối sống mới,
nếp sống mới Ba nội dung này có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo
đức mới là quan trọng nhất, nó được thể hiện trong lối sống mới và nếp sống mới
* Nội dung của văn hóa đời sống mới.
- Đạo đức mới:
Đạo đức mới chính là những phẩm chất của con người Việt Nam trong thời
đại mới mà Hồ Chí Minh nêu ra Người viết: “Thực hành đời sống mới là cần,
kiệm, liêm, chính” 21 (Sẽ trình bày rõ hơn ở phần II của bài).
- Lối sống mới:
Lối sống mới mà Hồ Chí Minh xây dựng cho mọi người và thể hiện ngay ởbản thân mình là lối sống có lý tưởng, có đạo đức, văn minh, tiên tiến, kết hợp hàihoà truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại
+ Sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông: cách ăn, cách mặc, cách ở,
cách đi lại, cách làm việc đối với mỗi người cũng như đối với mỗi tập thể, cộngđồng Đây chính là phong cách sống của mỗi người, còn gọi là lối sống mới hay lốisống văn minh
+ Phong cách sống: khiêm tốn, giản dị, điều độ, ngăn nắp, vệ sinh, yêu lao
động, biết quý thời gian, ít lòng ham muốn về vật chất, chức quyền danh lợi, trongquan hệ với bạn bè, đồng chí, nhân dân thì cởi mở, chân thành, tế nhị, giàu lòngyêu thương quý mến, trân trọng con người, chặt chẽ với mình, khoan dung, độlượng với người khác
+ Phong cách làm việc: phải bao gồm tác phong quần chúng, tác phong tập
thể - dân chủ, tác phong khoa học
+ Phong cách viết, nói: chân thật, tế nhị, dễ hiểu, bình dân mà không thô thiển.
21 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, tr.94
Trang 16+ Phong cách ăn mặc: phải sạch sẽ, giản đơn, chất phác, chớ lượt thượt, xa
xỉ, loà loẹt
Tất nhiên, Hồ Chí Minh không phủ nhận nhu cầu chính đáng của mỗi con
người: “Người ta ai cũng muốn ăn ngon mặc đẹp, nhưng muốn phải cho đúng thời,
đúng hoàn cảnh Trong lúc nhân dân ta còn thiếu thốn mà một nguời nào đó muốn riêng hưởng ăn ngon mặc đẹp như vậy thì không có đạo đức” 22
- Nếp sống mới
+ Nếp sống mới có nghĩa là biến lối sống mới thành thói quen của mỗingưòi, thành phong tục, tập quán của cả cộng đồng Hiện nay ta gọi là nếp sốngmới hay nếp sống văn minh
+ Nếp sống mới là phải vừa kế thừa, phát triển những truyền thống tốt đẹp củadân tộc vừa biết cải tạo những phong tục, tập quán lạc hậu
Hồ Chí Minh viết: “Đời sống mới, mới không phải cái gì cũng bỏ hết, không
phải cái gì cũng làm mới Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ Thí dụ: ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa lại cho hợp lý Thí dụ: đơm cúng, cưới hỏi qúa xa xỉ, ta phải giảm bớt đi Cái gì cũ mà tốt, ta phải phát triển thêm Thí dụ: ta phải tương thân tuơng ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước Cái gì mà hay thì ta phải làm Thí dụ: ăn ở cho hợp
vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp” 23
+ Thói quen là rất khó thay đổi nên phải kiên trì thực hiện và phải có thờigian, vì vậy phải nâng cao nhận thức trong nhân dân, phải có những người làmgương, trước hết là những người lãnh đạo, quản lý, những người tuyên truyền xâydựng đời sống mới
Bác Hồ viết: “Đời sống mới cũng cần có những người làm gương, những
nhà làm gương, những làng làm gương Khi trông thấy hiệu quả tốt tươi, thì chắc những nơi khác sẽ hăng hái làm theo Nếu miệng thì tuyên truyền bảo người ta
22 TËp 8, tr 392
23 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, tr 94-95
Trang 17siêng làm mà tự mình thì ăn trưa ngủ trễ; bảo nguời ta tiết kiệm mà tự mình thì xa
xỉ, lung tung, thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích” 24
II TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
* Khái niệm đạo đức
- Theo Từ điển Tiếng việt của Viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng
2002: “Đạo đức là những nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, qui định hành
vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội”, “là phẩm chất tốt đẹp củacon người do tu dưỡng theo những chuẩn mực đạo đức mà có”
- Quan niệm đạo đức theo lý luận duy vật lịch sử: “Đạo đức là những hìnhthái ý thức xã hội, xuất hiện sớm nhất trong lịch sử loài người Đạo đức là tổng hợpnhững quan niệm về thiện, ác, trung thực, giả dối, đáng khen, đang chê, cùng vớinhững quy tắc phù hợp với những quan niệm đó, nhằm điều chỉnh hành vi của conngười đối với xã hội, đối với giai cấp, đối với Đảng và đối với người khác”
- Theo Hồ Chí Minh:
+ Trong Báo cáo trước Hội nghị lần thứ 2 BCHTW khoá II (1953): “Đạo
đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí” (T7, tr.19).
+ Trong Đạo đức cách mạng (1958): “Đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt
đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng Đó là điểu chủ chốt nhất” (T9, tr.285).
“Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân” (T9, tr.285) “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ thù, luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu” (T9, tr.287) “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”(T9, tr.289) “Đạo đức cách mạng là hoà mình với quần chúng thành một khối thống nhất, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng” (T9, tr.290).
24 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, tr.108
Trang 18 Tóm lại: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những qui
tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó mà con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và với tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội.
* Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Đạo đức
- Truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam:
+ Đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam ta khuyên mọi người sống cótình có nghĩa, có trước, có sau, thủy chung, hiếu thảo…
+ Dân tộc Việt Nam là một dân tộc đề cao đạo lý làm người, trong đó yêunước giữ vị trí trung tâm Đó chính là tình yêu và lòng trung thành đối với Tổ quốc
và nhân dân
+ Truyền thống đạo đức của dân tộc đã tác động đến Hồ Chí Minh thong qualối hành xử đầy tính nhân ái của những người than trong gia đình Bác
- Tư tưởng đạo đức phương Đông, phương Tây:
Hồ Chí Minh chú trọng chắt lọng tinh hoa đạo đức nhân loại chứa đụng trongcác học thuyết của Nho giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo Đó là điều nhân và đạo tuthan của Nho giáo, là tư tưởng từ bi, cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo, là tư tưởngBác ái, bao dung của đức chúa Giê Su
- Quan niệm Mác, Ăngghen, Lênin về đạo đức:
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn bắt nguồn từ tư tưởng đạo đức của Mác,Ăngghen, Lênin Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu tư tưởng, quan điểm của các nhàsáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học mà còn học tấm gương đạo đức cao đẹp mà
họ đã để lại Theo Hồ Chí Minh, đối với người phương Đông thì một tấm gươngsống còn có giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền
- Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh:
Hồ Chí Minh đã trải qua quá trình hoạt động đầy phong ba, bão táp nhưng rấtoanh liệt và vẻ vang Người đã thấy được sự tàn bạo, vô đạo đức của chủ nghĩathực dân trong việc nô dịch và áp bức con người Vì thế, Người đã tìm đến một học
Trang 19thuyết giải phóng và phát triển con người, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa ngườivới người, mang lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho đông đảo nhân dân – đó là họcthuyết chủ nghĩa xã hội.
2.1 Quan niệm về vai trò của đạo đức cách mạng
Trong tác phẩm Đạo đức cách mạng (1955), Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quan
tâm giúp đỡ loài người ngày càng tiến bộ và thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, luôn luôn giữ vững tinh thần chí công vô tư – đó là đạo đức cách mạng” 25
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nókhông phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc,của loài người Nó khác hẳn về chất so với nền đạo đức cũ của phong kiến tróibuộc nhân dân lao động vào những lế giáo, hủ tục hà khắc của giai cấp phong kiến
Nó cũng hoàn toàn đối lập với đạo đức của giai cấp tư sản, kìm hãm và làm tha hóacon người trong cách sống thực dụng vì đồng tiền, coi đồng tiền là tất cả…
Cho nên đạo đức cách mạng – đạo đức mới có vai trò rất quan trọng đối vớicon người và xã hội
* Đạo đức là cái gốc của người cách mạng
- Theo Hồ Chí Minh, đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của người cách mạng
“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải
có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” 26
- Theo Hồ Chí Minh làm cách mạng là để giải phóng giai cấp, giải phóng
dân tộc và giải phóng nhân loại Đây là một việc làm to lớn vẻ vang “mà tự mình
không có đạo đức cách mạng, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá xấu xa thì còn làm nổi việc gì” 27
Người còn nhấn mạnh, cách mạng là một cuộc đấu tranh phức tạp, lâu dài,gian khổ Do đó, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng – đây chính là sức
25 Tập 7, tr.568
26 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, tr 252
27 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, tr 253
Trang 20mạnh tinh thần to lớn để vượt qua mọi khó khăn, hiểm nguy Người nói: “Sức có
mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” 28
Vì thế, năm 1955, trong bài Người cán bộ cách mạng đăng trên Báo Nhân
dân, Người chỉ rõ “Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần
đạo đức cách mạng hay không” 29
- Thực tế, chính đạo đức yêu nước, thương dân của Hồ Chí Minh là động lực
to lớn góp phần làm nên sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người
Theo Hồ Chí Minh nếu tha hóa về đạo đức thì sớm muộn gì cũng tha hóa vềchính trị Vì thế, suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người luôn quantâm chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân
Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường cách mệnh, mở đầu, trước hết, người đề cập đến “Tư cách người cách mệnh”, trong đó người nhấn mạnh phải cần
kiệm, vị công vô tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, giầu lòng hy sinh, ít lòngtham muốn vật chất…
Và trước khi qua đời, trong Di chúc thiêng liêng Người còn căn dặn: “Đảng
ta là một đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Phải giữ gìn đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân” 30
* Ngoài ra đạo đức còn là động lực giúp chúng ta vượt lên khi khó khăn cũng như lúc thuận lợi Theo Hồ Chí Minh, trong đấu tranh cách mạng, trong
công việc có lúc chúng ta gặp khó khăn, nếu chúng ta giữ được đạo đức cách mạngthì sẽ không sợ sệt, không rụt rè, bi quan, chán nản và khi thuận lợi sẽ không rơivào kiêu căng, tự mãn…
28 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, tr 283
29 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, tr 480
30 Hå ChÝ Minh: Toµn tËp, tËp 12, tr.498
Trang 21* Đạo đức còn là thước đo lòng cao thượng của con người và sự văn minh tiến bộ của xã hội
Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi con người có công việc, tài năng, địa vị khácnhau, nhưng để xem người đó có lòng cao thượng hay không thì phải căn cứ vàođạo đức của họ Ai giữ được đạo đức là cao thượng
Trong xã hội cũng thế: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc
giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ” 31
* Mối quan hệ giữa Đức và Tài:
- Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của con người không có
nghĩa là tuyệt đối hóa mặt Đức, coi nhẹ mặt Tài Theo Người: “Có đức mà không
có tài làm việc gì cũng khó Có tài mà không có đức không những vô dụng mà còn
có hại” Do đó, đức phải là cái gốc.
- Tuy nhiên, trong nhân cách của người cách mạng đạo đức luôn quan hệchặt chẽ với tài năng Sự kết hợp chặt chẽ giữa Đức và Tài, giữa Hồng và Chuyên
đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mỗi cán bộ, đảng viên
Người căn dặn: “Trong giáo dục không những phải có tri thức phổ thong mà
phải có đạo đức cách mạng Có tài phải có đức Có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước Có đức không có tài như ông Bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai” 32
* Liên hệ vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên hiện nay.
- Sự suy thoái về đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiệnnay…
- Cần bồi dưỡng, giáo dục nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảngviên và nhân dân…
2.2 Quan điểm về những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại mới
2.2.1 Trung với nước, hiếu với dân
31 Tập 5, tr.642
32 Tập 8, tr.184