1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tư tưởng hồ chí minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc

40 984 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Vấn Đề Dân Tộc Và Cách Mạng Giải Phóng Dân Tộc
Người hướng dẫn PHS. Nguyễn Văn A
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại bài giảng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 263,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt vấn đề Năm 1987, Nghị quyết số 24C/18.65 của UNESCO về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng đị

Trang 1

Bài 3: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

I Đặt vấn đề

Năm 1987, Nghị quyết số 24C/18.65 của UNESCO về kỷ niệm 100 năm

ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoàn bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” 1

Thật vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch HồChí Minh luôn cố gắng đem lại độc lập, tự do cho Tổ quốc và cuộc sống ấm no,hạnh phúc cho nhân dân Sự thật, Việt Nam đã trở thành một nước độc lập, nhândân Việt Nam từ thân phận nô lệ, nghèo hèn đã trở thành người chủ đất nước, tựquyết định vận mệnh của mình Đây chính là một trong những cống hiến vĩ đại củaChủ tịch Hồ Chí Minh cho cách mạng Việt Nam

Nghiên cứu, vận dụng và phát triển những luận điểm cơ bản của Chủ tịch HồChí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giả phóng dân tộc trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay là một việclàm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất sâu sắc

II Mục đích, yêu cầu

1 Mục đích: Bài giảng này giúp cho học viên:

1 Trích từ Tập biên bản của Đại hội đồng khóa họp 24 tại Pari, ngày 20/10 – 20/11/1987, do UNESCO xuất bản năm

1988, tr.144 Bản dịch của Ủy ban UNESCO của Việt Nam.

Trang 2

vận dụng những quan điểm quan trong này vào công cuộc đổi mới đất nước hiệnnay.

- Về tư tưởng, thái độ:

+ Xây dựng cho học viên niềm tin vững chắc vào con đường cách mạng màĐảng và nhân dân ta đã lựa chọn; tích cực đấu tranh chống lại các quan điểm saitrái

+ Giúp học viên thấy được những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minhđối với cách mạng Việt Nam, từ đó xây dựng tình cảm, niềm tin và sự kính trọngđối với vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng, của cách mạng và dân tộc

- Về kĩ năng:

+ Thu thập, xử lý các tài liệu có liên quan để nghiên cứu vấn đề

+ Vận dụng kiến thức của bài học để nghiên cứu những vấn đề có liên quan

ở bài học khác, môn học khác và trong cuộc sống

III Nội dung và thời gian

1 Nội dung: gồm 4 phần (Trọng tâm phần II, trọng điểm 2.1 )

- I Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giảiphóng dân tộc

- II Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc

- III Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc

- VI Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giảiphóng dân tộc trong công cuộc đổi mới hiện nay

2 Thời gian: toàn bài là 4 tiết

- Thời gian lên lớp:

Trang 3

- Thời gian thảo luận, ôn luyện:

IV Phương pháp

- Giáo viên: Thuyết trình, đàm thoại, nêu vấn đề

- Học viên: Đọc tài liệu, nghe, ghi chép, thảo luận

V Giáo trình, tài liệu

- Giáo trình:

+ HĐTW chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H, 2003 (Tái bản 2008).

- Tài liệu tham khảo:

+ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (Dùng trong

các trường đại học và cao đẳng), Nxb CTQG, H, 2006 (Tái bản 2008, 2010, 2011)

+ Tổng cục Chính Trị, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb QĐND, H, 2006 + Song Thành (Chủ biên), Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb CTQG, H, 2010 + Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 1 – 15.

Trang 4

I CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

* Khái niệm Dân tộc

- Theo các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin, dân tộc là sản phẩmcủa quá trình phát triển lâu dài của lịch sử Trước đó là những tổ chức cộng đồng

tiền dân tộc như thị tộc, bộ tộc, bộ lạc Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản

dẫn đến sự ra đời của nhà nước dân tộc tư bản chủ nghĩa Khi chủ nghĩa đế quốc rađời, chúng đã đi xâm chiếm và thống trị các dân tộc nhược tiểu từ đó xuất hiện vấn

đề dân tộc thuộc địa

- Từ điển Chính Trị: “Dân tộc – một cộng đồng người ổn định hình thành trong lịch sử, xuất hiện trên cơ sở cùng chung tiếng nói, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế

và cơ cấu về tâm lý, thể hiện trong nền văn hóa dân tộc Tất cả những đặc điểm trên của dân tộc đều liên quan lẫn nhau và chỉ có bao gồm tất cả những đặc điểm

ấy thì một cộng đồng người nào đó mới có thể gọi là dân tộc” 2

- Từ điểm Bách khoa Quân sự Việt Nam: “Dân tộc – cộng đồng người ổn định hình thành trong lịch sử tạo lập một quốc gia, trên cơ sở cộng đồng bền vững về: lãnh thổ quốc gia, kinh tế, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa, đặc điểm tâm lý, ý thức về dân tộc và tên gọi của dân tộc” 3

+ Chung về nền văn hóa

- Ngoài ra, dân tộc có thể hiểu theo nghĩa hẹp là Dân tộc thiểu số: Dân tộcKinh, Tầy, Thái

2 Từ điểm Chính trị, Nxb Sự thật, H, 1961, tr.14

3 Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, H, 2004, tr.300

Trang 5

- Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân về bản chất mạng tính quốc tế,nhưng ban đầu phải có hình thức dân tộc, có tinh dân tộc.

- Giai cấp công nhân không tự giải phóng mình nếu không đồng thời và vĩnhviễn giải phóng toàn thể xã hội khỏi mọi áp bức, bóc lột

- Có xóa bỏ đối kháng giai cấp thì mới xóa bỏ đối kháng dân tộc, một dân tộc

đi áp bức dân tộc khác thì dân tộc đó không thể tự do

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, các ông cho rằng: “Hãy xáo bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác sẽ bị xáo bỏ”.

- Trong thời đại ngày nay, chỉ có cuộc cách mạng do chính đảng của giai cấp

vô sản lãnh đạo mới thực hiện được sự thống nhất giữa giải phóng giai cấp, giảiphóng dân tộc và giải phóng con người

Trang 6

- Các ông đề cập đến sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản.

- C Mác kêu gọi: “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu” 4

Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử lúc bấy giờ Mác và Ăngghen quan tâm và

nhấn mạnh tới vấn đề giai cấp Mác nêu khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”.

* Lênin đã phát triển những quan điểm này thành hệ thống lý luận toàn diện

và sâu sắc về vấn đề dân tộc trong điều kiện CNTB chuyển sang giai đoạn CNĐQ,làm cơ sở cho cương lĩnh, đường lối, chính sách của các Đảng Cộng sản về vấn đềdân tộc Trong đó đáng chú ý là các vấn đề:

- Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng:

Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng: là quyền thiêng liêng của các dân tộc, đảmbảo mọi dân tộc đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau, không một dân tộc nàođược giữ đặc quyền, đặc lợi về địa vị kinh tế - chính trị - văn hoá trong quan hệ

xã hội cũng như trong quan hệ quốc tế

- Các dân tộc được quyền tự quyết:

Thực hiện quyền bình đẳng dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tựquyết, trước hết là quyền tự quyết về chính trị, quyền thành lập một quốc gia dân tộcđộc lập

- Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại:

Khẩu hiệu đó đã phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, phảnánh sự thống nhất giữa sự nghiệp GPDT và giải phóng giai cấp

- Người cho rằng vấn đề dân tộc là vấn đề lớn, mang tính quốc tế Nó phải lànội dung quan trọng trong chiến lược, sách lược của các ĐCS; phải cương quyếtđấu tranh chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc tư sản, của chủ nghĩa sô

vanh; phải tăng cường chủ nghĩa quốc tế vô sản Người đưa ra khẩu hiệu: “Vô sản

4 C.Mác – Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t 4, tr 623.

Trang 7

tất cả các nước, các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”.

- Lênin đã chỉ ra hai xu hướng phát triển của vấn đề dân tộc trong điều kiệncủa CNTB:

+ Một là, sự thức tỉnh ý thức dân tộc của phong trào đấu tranh chống áp bức

dân tộc sẽ dẫn đến hình thành các quốc gia dân tộc độc lập

+ Hai là, với việc tăng cường và phát triển các mối quan hệ giữa các dân tộc

sẽ dẫn tới việc phá huỷ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, thiết lập sự thống nhấtquốc tế giữa các dân tộc

- Tuy nhiên, Lênin cho rằng, CNTB, CNĐQ không thể giải quyết được vấn

đề dân tộc, bởi vì: Đây là một trong những nơi cung cấp nguồn nhân lực, vật lựcquan trong nhất cho chủ nghĩa đế quốc tồn tại và phát triển CNĐQ tạo ra mâuthuẫn, xung đột, chia rẽ giữa các dân tộc để dễ bề thống trị

- Lênin coi trọng cách mạng thuộc địa và cho rằng cách mạng thuộc địa vàcách mạng chính quốc có quan hệ gắn bó với nhau Cách mạng giải phóng dân tộc

ở các nước thuộc địa muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản

1.2 Thực tiễn phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam và thế giới.

* Ở Việt Nam.

- Trước khi thực dân Pháp xâm lược

- Khi thực dân Pháp xâm lược

II NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

* Vấn đề dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 8

- Nếu như Mác – Ăngghen giải quyết vấn đề dân tộc trong cuộc đấu tranhchống CNTB (Đấu tranh giai cấp), Lênin giải quyết vấn đề dân tộc trong cuộc đấutranh chống chủ nghĩa đế quốc (Cách mạng ở chính quốc), thì Hồ Chí Minh lại bànnhiều và giải quyết vấn đề dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dâncủa các nước thuộc địa (vấn đề dân tộc thuộc địa) Hồ Chí Minh nêu khẩu hiệu:

“Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại” T1, tr.461

- Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa là: vấn đề đấu tranh của các dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xoá bỏ ách áp bức, bóc lột của thực dân, thực hiện quyền dân tộc tự quyết và tạo điều kiện để phát triển đất nước.

2.1 Độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của các dân tộc

2.1.1 Khẳng định các quyền dân tộc cơ bản đó là quyền bình đẳng, độc lập, tự do, hạnh phúc

- Trên đường tiếp cận chân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm; trong những quyền

ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Người nhận định, đây là lời bất hủ, “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” 5

- Khi tiếp cận bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và luôn luôn phải được tự do và bình đẳng về quyền lợi” 6 Người khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” 7

- Tiếp thu những quan điểm tiến bộ trong hai bản tuyên ngôn đó, trong bản

5 T 4, tr.1

6 T 4, tr.1

7 T 4, tr.1

Trang 9

Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945, Người đã trịnh trọng tuyên bố và khẳng định với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” 8

 Như vậy, từ việc tìm hiểu và tiếp thu những nhân tố có giá trị trong haibản tuyên ngôn ấy, người đã khái quát nên một chân lý bất di bất dịch về quyền cơ

bản của dân tộc: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra có quyền bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do Đó là những quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm.

2.1.2 Khẳng định nội dung cơ bản của Độc lập dân tộc

 Độc lập dân tộc gắn với sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia

- Trong chuyến thăm chính thức nước Pháp (1946), trước khi lên đường, Chủtịch Hồ Chí Minh đã nắm tay và dặn lại cụ Huỳnh Thúc Kháng – nhà cách mạng

lão thành, quyền Chủ tịch nước: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ ở Cụ cùng với anh em giải quyết Mong cụ “dĩ bất biến, ứng vạn biến”9 Tinh thần “Dĩ bất biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính làlấy mục tiêu không thay đổi là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và tự do, hạnhphúc của nhân dân làm gốc, tùy điều kiện hoàn cảnh, tùy từng lĩnh vực và đốitượng cụ thể mà có sự vận dụng linh hoạt, uyển chuyển những phương pháp cáchmạng khác nhau cho phù hợp

- Trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ, năm 1946, Hồ Chí Minh khẳng định:

“Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” 10

- Người nhấn mạnh: “Nước ta là một, dân tộc ta là một”, “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam” Vì thế, lúc còn sống, Người

8 T 4, tr.4

9 Song Thành, Hồ Chí Minh Tiểu sử, Nxb Chính trị Quốc Gia, H, 2010, tr.400

10 T4, tr.246

Trang 10

luôn theo sát từng bước đi của cách mạng giải phóng miền Nam Ngày, đêm Ngườitưởng nhớ đến đồng bào và chiến sỹ miền Nam với tấm lòng thương yêu vô bờ bến.

- Với tinh thần hễ còn một tên xâm lược nào trên đất nước thì chúng ta phải chiến đấu quét sạch nó đi, Đảng ta và Bác Hồ luôn dương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, lãnh đạo toàn thể dân tộc đứng lên đấu tranh, “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, giang sơn thu

về một mối, đưa cả nước vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội

 Độc lập dân tộc phải là nền độc lập thực sự

- Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải là nền độc lập thực sự, phải đi tớiquyền dân tộc tự quyết, tức là quyền lựa chọn con đường phát triển, không phụthuộc vào bên ngoài

- Độc lập dân tộc thực sự trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, đốinội, đối ngoại… Độc lập thực sự đòi xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột và nô dịchdân tộc trên tất cả các lĩnh vực

- Độc lập dân tộc phải gắn liền với hòa bình – một nền hòa bình thực sự, hòabình trong độc lập tự do, không phải thứ hòa bình giả hiệu

 Độc lập dân tộc gắn với ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân

- Hồ Chí Minh cho rằng đây là vấn đề lớn, bởi nếu dân không được hưởng

11 T4, tr.56

Trang 11

phải thực hiện ngay: 1 Làm cho dân có ăn; 2 Làm cho dân có mặc; 3 Làm cho dân có chỗ ở; 4 Làm cho dân có học hành Cái mục đích mà chúng ta đi đến là 4 điều đó Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập và giúp sức cho tự do độc lập” 12

 Như vậy, theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải đi đến dân có ăn, cómặc, có chỗ ở và được học hành

2.1.3 Kiên quyết chống lại sự xâm phạm độc lập dân tộc

- Độc lập dân tộc là khát vọng thiêng liêng nhất của các dân tộc thuộc địa Vìvậy, bằng mọi cách, nhân dân các nước thuộc địa luôn cố gắng và quyết tâm chốnglại sự xâm lược của đế quốc, thực dân để bảo vệ và giữ vững nền độc lập của dântân tộc

- Là một người dân mất nước, lại được chứng kiến cảnh sống nô lệ, khổ cựccủa nhân dân mình trước sự áp bức, bóc lột dã man của kẻ thù, Hồ Chí Minh sớmnhận thấy giá trị của độc lập, tự do Vì thế, Người quyết tâm ra đi tìm đường cứunước, giành độc lập tự do cho Tổ quốc

- Thực tiễn trong hành trình tìm đường cứu nước cho dân tộc, Hồ Chí Minhluôn cố gắng đấu tranh chống lại sự xâm lược của kẻ thù, để bảo vệ các quyền dântộc cơ bản

+ Trong bài Trả lời phỏng vấn của các nhà báo nước ngoài, đăng trên Báo cứu quốc số 147 (21/1/1946), Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc ai cũng được học hành” 13

+ Người nhấn mạnh: “Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi, đó

là tất cả những gì tôi muốn, tất cả những gì tôi hiểu”, “cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập” 14

12 T4, tr.152

13 T4, tr.161

14 Hội đồng Trung ương chỉ đại biên soạn giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,

Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H, 2008, tr.57

Trang 12

+ Năm 1919, thay mặt cho những người Việt Nam yêu nước, Người gửi đếnhội nghị Vecxay bản ưu sách 8 điểm, đòi các quyền tự do dân chủ cho nhân dânViệt Nam với hai nội dung chính là:

• Một là, đòi quyền bình đẳng về chế độ pháp lý cho người bản xứ Đông

Dương như đối với châu Âu, xoá bỏ chế độ cai trị bằng sắc lệnh, thay thế bằng chế

độ đạo luật

• Hai là, đòi quyền tự do dân chủ tối thiểu cho nhân dân như các quyền tự do

ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, tự do cư trú

Mặc dù lời lẽ ôn hòa, nhưng bản yêu sách không được chấp nhận, Nguyễn Ái

Quốc rút ra bài học: “Muốn bình đẳng thực sự phải đấu tranh giành độc lập dân tộc Muốn giải phóng dân tộc chỉ có thể trông cậy vào chính mình, vào lực lượng của bản thân mình” 15

+ Năm 1930, trong Chính cương, Sách lược vắn tắt và Lời kêu gọi sau khi thành lập Đảng, Người đã xác định mục tiêu chính trị của Đảng là:

• Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến

• Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.16

+ Năm 1941, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng do Hồ Chí Minhchủ trì, Đảng ta xác định tình thế cách mạng đã xuất hiện, nguyện vọng của nhândân ta lúc này là giành độc lập dân tộc Do đó, nhiệm vụ giải phóng dân tộc được

đặt lên hàng đầu: “Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc, không đòi được độc lập, tự do thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu

mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” 17

Trong thư kính cáo đồng bào, Người cũng chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy” 18

15 Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Văn học, H, 1970, tr.30

16 T3, tr 1

17 ĐCSVN, Văn kiện đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 7, tr.136

18 T3, tr.198

Trang 13

Năm 1945, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Người khẳng đinh: “Dù phải

hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập, tự do” 19

+ Cách mạng Tháng Tám thành công, trong bản Tuyên ngôn độc lập, Người tiếp tục nhấn mạnh tư tưởng này: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giũ vững quyền tự

do, độc lập ấy” 20

+ Sau đó hơn một tháng, Người viết Lời kêu gọi Liên hợp quốc Trong đó, Người trịnh trong tuyên bố rằng: “Nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình Nhưng nhân dân chúng tôi cũng cương quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ và độc lập cho đất nước” 21

- Mong muốn hòa bình, Đảng và Hồ Chí Minh đã thực hiện sách lược khônkhéo để giữ hòa bình Nhưng khi không nhân nhượng được nữa, Người nhất tríphát động kháng chiến toàn quốc để bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc

Năm 1946, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Người khẳng định:

“Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” 22

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hồ Chí Minh cũng xác định

quyết tâm: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa.

Hà nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” 23

 Tóm lại: Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” không chỉ là tưtưởng mà còn là lẽ sống, là học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh Đó là lý do

19 Hoàng Trang, Hỏi và đáp tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTHC, H, 2009, tr.34

20 T4, tr.4

21 T4, tr 469

22 T4, tr.480

23 T12, tr.108

Trang 14

chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đồngthời cũng là nguồn động viên đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

2.2 Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn ở tất cả các nước đang đấu tranh giành độc lập

- Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải theo cái nghĩanhư chủ nghĩa tư bản hiểu, tức là chủ nghĩa dân tộc sôvanh, vị kỷ, hẹp hòi Chủ

nghĩa dân tộc mà Người nói ở đây là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính Đây là một động lực lớn của đất nước và chủ nghĩa dân tộc chân chính này

sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế vô sản

- Hồ Chí Minh là một trong những người sớm phát hiện ra chủ nghĩa yêunước, chủ nghĩa dân tộc ở các nước thuộc địa và sức mạnh của nó

+ Theo Hồ Chí Minh, trong hệ thống thuộc địa, chủ nghĩa đế quốc thực hiệnchính sách cai trị, áp bức, bóc lột tàn bạo Do đó tất cả các tầng lớp nhân dân: công,nông, trí thức, tư sản dân tộc, một bộ phận địa chủ yêu nước… đều mâu thuấn gaygắt với chủ nghĩa thực dân, tạo nên chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc

+ Người phân tích rằng, do kinh tế còn lạc hậu, chưa phát triển nên sự phậnhóa giai cấp ở Đông Dương chưa triệt để, cuộc đấu tranh giai cấp ở đây khônggiống ở phương Tây Bởi vì, xã hội Đông Dương, Ấn Độ hay Trung Quốc xét vềcấu trúc xã hội không giống các xã hội phương Tây, đấu tranh giai cấp ở đó khôngquyết liệt như ở đây Ở phương Đông dù là địa chủ hay nông dân thì họ đều lànhững người nô lệ mất nước Do đó, họ phải đoàn kết trên tinh thần yêu nước vàtinh thần dân tộc để đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng chính mình Nhữngngười cộng sản phải nắm lấy sức mạnh ấy để làm cách mạng Đó là một chính sách

mà Hồ Chí Minh cho rằng mang tính hiện thực tuyệt vời

- Thực tiễn hoạt động cách mạng, ngay từ năm 1924, trong Báo cáo về Bắc

kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Người khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” 24 Theo Người, trong cách mạng giải phóng dân tộc, “người ta sẽ không

24 T1, tr.466

Trang 15

làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ” 25, sẽ không giải phóng được dân tộc nếu không dựatrên động lực ấy

 Do đó, Người đã kiến nghị về Cương lĩnh hành động của Quốc tế Cộng

sản: “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản… Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi…nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế” 26

2.3 Kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế

 Vấn đề dân tộc và giai cấp có quan hệ khăng khít vơi nhau

- Hồ Chí Minh luôn đứng trên quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểmcủa giai cấp công nhân để giải quyết vấn đề dân tộc

+ Mác – Ăngghen cho rằng, có triệt để xóa bỏ tình trạng bóc lột và áp bứcgiai cấp mới có điều kiện xóa bỏ áp bức dân tộc, mới đem lại độc lập thực sự chodân tộc Chỉ có giai cấp vô sản mới thực hiện được điều này

+ Lênin cho rằng, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc sẽ khôngthể giành được thắng lợi nếu nó không biết liên minh với cuộc đấu tranh chống chủ

nghĩa đế quốc của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa Người nêu khẩu hiệu: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bước đoàn kết lại”.

 Rõ ràng, xuất phát từ mục tiêu, yêu cầu của cuộc cách mạng vô sản ở châu

Âu, các ông vẫn tập trung nhiều hơn vào vấn đề giai cấp, vẫn “đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp

vô sản” 27

- Tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, xuất phát từ thực tiễn dân tộcthuộc địa, Hồ Chí Minh cho rằng, các dân tộc thuộc địa phải dựa vào sức của mình,đồng thời phải biết tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ của giai cấp vô sản và

25 T1, tr.467

26 T1, tr.467

27 T2, tr.136

Trang 16

nhân dân lao động thế giới để trước hết đấu tranh giành độc lập dân tộc, từ thắnglợi này làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, góp phần vào tiến trình cách mạng thếgiới

- Năm 1924, trong Báo cáo về Bác kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ, Người viết rằng:

“Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới; mỗi khi chủ nghĩa cộng sản giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào đó… thì đó càng là thắng lợi cả cho người An Nam” 28 Rõ ràng, Hồ Chí Minh đã nhận

thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa dân tộc và giai cấp trong cách mạng giảiphóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản

- Cụ thể, ở một nước thuộc địa cùng với những tàn tích phong kiến, xã hội đótồn tại hai mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa dân tộc với đế quốc xâm lược vàmâu thuẫn giữa nhân dân mà chủ yếu là nông dân với địa chủ phong kiến Trong

đó, nổi bật và gay gắt hơn là mâu thuẫn dân tộc Cho nên vấn đề dân tộc là vấn đềnổi bật, chủ yếu, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, có giải phóng được dân

tộc mới giải phóng được giai cấp Giải phóng dân tộc tạo tiền đề cho giải phóng giai cấp, có giải quyết được quyền lợi dân tộc mới giải quyết được quyền lợi giai cấp

- Tuy nhiên, ở một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam, nhiệm vụchống đế quốc gắn với nhiệm vụ chống phong kiến, cho nên vấn đề dân tộc vàquyền lợi giai cấp vẫn phải tiến hành nhưng rải ra từng bước để phục vụ cho quyềnlợi dân tộc, để đoàn kết các giai tầng trong mặt trận dân tộc thống nhất, mặt khác đểcải thiện đời sống cho công nông - chủ lực quân cách mạng

Tháng Tám năm 1945, khi thời cơ tổng khởi nghĩa vũ trang đến gần, Hồ Chí

Minh phân tích: “Trong lúc này quyền lợi của giai cấp đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc tự giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi

28 T1, tr.469

Trang 17

của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” 29

- Ở Việt Nam, cách mạng dân tộc dân chủ phải do giai cấp công nhân lãnhđạo, thông qua đội tiên phong là ĐCS Như vậy, vấn đề dân tộc được giải quyếttheo quan điểm của giai cấp công nhân, trong phạm trù của cách mạng vô sản

 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

- Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc sớm thấyđược mối quan hệ chặt chẽ giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với sự nghiệp giải

phóng giai cấp của giai cấp vô sản, nên Người khẳng định: “Cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của CNCS và của cách mạng thế giới” 30

- Năm 1930, khi thành lập Đảng, trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Hồ Chí Minh xác định con đường của cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng (CMDTDC) để

đi tới xã hội cộng sản (CMXHCN)”

- Năm 1960, Hồ Chí Minh xác định “chỉ có CNXH, CNCS mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” 31

- Theo Hồ Chí Minh ĐLDT phải đi tới CNXH mới xóa bỏ tận gốc cơ sở ápbức dân tộc, áp bức giai cấp Sự gắn bó giữa ĐLDT và CNXH vừa phản ánh quyluật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản,vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với các mụctiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người Do đó, giành được độc lập rồi phảitiến lên CNXH, phải làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người được ăn no, mặc

ấm, sung sướng, tự do

- Hồ Chí Minh yêu cầu: “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu CNXH, vì có tiến lên CNXH thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm” 32

29 ĐCSVN, Văn kiện đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tr.113

30 T1, tr.416

31 T10, tr.128

32 T9, tr.173

Trang 18

 Như vậy, ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã phát triểnthành chủ nghĩa yêu nước hiện đại, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

 Độc lập cho dân tộc mình và cho tất cả các dân tộc khác

- Nói đến quyền dân tộc, Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng

và quyền tự do” 33 Do vây, các dân tộc phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của

nhau Tức là, ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước chân chính luôn luôn thống nhấtvới chủ nghĩa quốc tế trong sáng

- Năm 1941, khi ở Anh, người đã đem toàn bộ số tiền dành dụm được từđồng lương ít ỏi để ủng hộ quỹ kháng chiến của người Anh và nói với bạn mình

rằng: “Chúng ta phải tranh đấu cho tự do, độc lập của các dân tộc khác như là tranh đấu cho dân tộc ta vậy” 34

- Với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh

cho độc lập dân tộc mình mà còn đấu tranh cho tất cả các dân tộc bị áp bức Ngườiluôn nêu cao tinh thần tự quyết của dân tộc, song không quên nghĩa vụ quốc tế cao

cả của mình trong việc giúp đỡ các Đảng Cộng sản ở một số nước Đông Nam Á,ủng hộ nhân dân Trung Quốc chống Nhật, ủng hộ Lào và Campuchia chống Pháp.Theo Hồ Chí Minh, lấy thắng lợi của cách mạng mỗi nước mà đóng góp vào thắnglợi chung của cách mạng thế giới

 Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc vừa mạng tính khoa họcđúng đắn, vừa có tính chất cách mạng sâu sắc, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễngiữa dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trongsáng, giữa độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Điều đó hoàn toàn phù hợp

với quan điểm của Ăngghen: “Những tư tưởng dân tộc chân chính trong phong trào công nhân bao giờ cũng là những tư tưởng quốc tế chân chính” 35

III TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG

33 T 4, tr.1

34 Hoàng Trang, Hỏi và đáp tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTHC, H, 2009, tr.39

35 C.Mác – Ph.Ăngghen, toàn tập, Nxb Tiến bộ, M, 1981, t33, tr.374

Trang 19

Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt.

Ví dụ: Galile (1633): Trái đất tròn và xoay quanh mặt trời

Stêphenxông (1800): chế tạo ra xe lửa

Đácuyn (1859): Thuyết tuyến hóa

- Cách mệnh có mấy thứ? Có 3 thứ:

+ Tư bản cách mệnh: như Pháp cách mệnh (1789), Mỹ cách mệnh (1776),Nhật cách mệnh (1864)

+ Dân tộc cách mệnh: như Italia đuổi cường quyền Áo (1859), Tầu đuổi MãnThanh (1911)

+ Giai cấp cách mệnh: như công nông Nga làm cách mạng đuổi tư bản vàgiành lấy quyền (1917)

- Vì sao có cách mệnh?

+ Cách mệnh tư bản: Do mâu thuẫn Tư bản > < địa chủ.

+ Cách mệnh Dân tộc: Do mẫu thuẫn Dân tộc bị áp bức > < Dân tộc đi áp

bức

+ Cách mệnh giai cấp: Do mâu thuẫn Vô sản > < Tư sản

3.1 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường của cách mạng vô sản

3.1.1 Cơ sở của luận điểm.

36 Xem T2, tr 263

Trang 20

* Cơ sở lý luận:

- Năm 1892, trong lời mở đầu tác phẩm Tuyên ngôn Đảng Cộng sản,

Ph.Ăngghen viết: “Chỉ trong tay giai cấp vô sản thì độc lập dân tộc mới giành được vĩnh viễn”.

- V.I.Lênin khẳng định: “Muốn giải phóng dân tộc thuộc địa phải bằng conđường cách mạng vô sản” (in trên báo Luymanitê tháng 7/1920)

* Cơ sở thực tiễn:

 Hồ Chí Minh nhận thấy các con đường cứu nước của phong kiến và

nông dân cuối thế kỷ XIX đã thất bại

- Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta Suốt từ đó đến những nămđầu thế kỷ XX, nhân dân miền Nam tiêu biểu là Nguyễn Trung Trực, Trương Định

đã nổi dạy chống Pháp Tiếp đến là phong trào Cần Vương diễn ra sôi nổi ở Trung

Kỳ và phong trào khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, NguyễnThiện Thuật, Hoàng Hoa Thám ở Bắc Kỳ Mặc dù cũng có một số thắng lợi, songtất cả các phong trào ấy đều chung một kết cục là thất bại vì chưa có đường lối vàphương pháp đấu tranh đúng đắn

- Lớn lên trên quê hương, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã chứng kiếnphong trào Đông Du của Phan Bội Châu, cuộc vận động Duy Tân của Phan ChuTrinh đều không có kết quả Năm 1908, cụ Phan Chu Trinh bị Pháp bắt đầy ra CônĐảo Cũng trong năm đó, Nhật Bản đã trục xuất lưu học sinh Việt Nam về nước,phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu thất bại

- Hồ Chí Minh khâm phục lòng yêu nước, tinh thần bất khuất của các bậctiền bối văn thân sỹ phu, nhưng không tán thành con đường cứu nước của họ Ngọn

cờ văn thân sỹ phu phong kiến dù là bạo động hay ôn hòa đều thất bại trước nhiệm

vụ của lịch sử Từ kinh nghiệm thất bại của các bậc tiền bối, Nguyễn Ái Quốcquyết tâm sang châu Âu – sang Pháp tìm đường cứu nước

 Nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản, Người cho rằng đó là những

cuộc cách mạng không triệt để, không thể giải phóng được dân tộc và giai cấp

Ngày đăng: 15/04/2014, 22:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w