Báo cáo thực tập: Tăng tỉ lệ nội địa hóa nhằm nâng cao sức cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô ở việt nam
Trang 1Lời mở đầu
Qúa trình toàn cầu hóa đã trở thành một xu thế tất yếu, nó tạo ra những thờicơ, thuận lợi, thách thức cũng nh khó khăn đối với mỗi quốc gia để đảm bảo duytrì thúc đẩy sự tăng trởng ổn định và bền vững, tránh nguy cơ tụt hậu và thua thiệttrong quá trình hội nhập thì một trong những yếu tố quan trọng là mỗi quốc gia
đều phải chú trọng nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
Những năm đầu của thế kỷ 21 là những năm có tính chất quyết định đối vớiViệt Nam khi chúng ta chập chững bớc vào sân chơi chung AFTA Việc thực hiện
lộ trình cắt giảm thuế CEPT / AFTA đang là vấn đề thách thức cho nhiều ngànhcông nghiệp trong đó có ngành công nghiệp ô tô, Không thể phủ nhận ngành côngnghiệp ô tô Việt Nam còn rất non trẻ song trong công cuộc thực hiện công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nớc , chúng ta nhất thiết phải đẩy cao khả năng cạnh tranhcủa ngành này Hiện nay ngành công nghiệp ô tô Việt Nam rất kém cạnh tranhtrên thị trờng do tỷ lệ nội địa hóa thấp, giá bán cao,… Chính vì vậy mà em mạnh Chính vì vậy mà em mạnhdạn chọn đề tài:
Tăng tỉ lệ nội địa hóa nhằm nâng cao sức cạnh tranh của ngành công
nghiệp ô tô ở Việt nam
Ngoài phần mở đầu và kết luận bài đề án này gồm ba phần
Phần 1: Nội địa hoá và ảnh hởng tới sức cạnh trạnh của ngành công nghiệp Phần 2: Thực trạng Nội địa hoá trong ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam
Phần 3: Một số giải pháp tăng tỷ lệ nội địa hóa nhằm nâng cao sức cạnh tranh
của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
Tuy đây là lần đàu tiên tiếp cận với cách viết đề án môn chuyên ngành,song đợc sự chỉ bảo tận tình của cô giáo Ngô Thị Hoài Lam đã giúp em hoànthành đề tài Em xin chân thầnh cảm ơn cô và bộ môn
Hà Nội, tháng 4 năm 2004 Sinh viên : Vũ Thị Minh Phợng
Phần 1 Nội địa hóa và ảnh hởng tới sức cạnh tranh của ngành
công nghiệp
1.1 Quan niệm về nội địa hóa
Đối với những ngành công nghiệp mà sản phẩm của chúng là sự kết hợpcủa hàng ngàn,thậm chí hàng trăm ngàn bộ phận, chi tiết với nhau ( nh ngành
Trang 2công nghiệp ô tô, xe máy, máy tính, máy bay… Chính vì vậy mà em mạnh) thì việc cùng lúc sản xuất ra toàn
bộ các bộ phận chi tiết đó tại một quốc gia là rất khó khăn Cuộc cách mạng kĩthuật phát triển rộng khắp toàn cầu cùng với sự chuyên môn hóa sâu trong sảnxuất đã tạo đà để giữa các quốc gia có sự phân công trong hiệp tác sản xuất Do
đó một sản phẩm có thể là sự đóng góp của nhiều công ty thuộc nhiều quốc giatrên thế giới Thờng thì khi phải nhập những bộ phận, linh kiện từ các nớc khác
đòi hỏi chi phí lớn, tính đồng bộ của sản phẩm khó đảm bảo nên mỗi quốc gia hạnchế việc nhập khẩu trừ khi không thể làm khác Họ đều cố gắng để tự mình sảnxuất các phụ tùng, linh kiện đó bằng chính các nguồn nguyên vật liệu, nguồnnhân lực của quốc gia
Vậy chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về nội địa hóa là quá trìnhthay thế dần các bộ phận, chi tiết nhập khẩu bằng các bộ phận, chi tiết đợc sảnxuất trong nớc
Nội địa hóa (hay địa phơng hóa – Localization) không chỉ là ý muốn củachính quyền các nớc sở tại , trớc hết nó đem lại lợi ích kinh tế cho các nhà sảnxuất với chiến lợc đầu t lâu dài Yếu tố quan trọng mang lại thành công cho cácnhà sản xuất chính là sự nhanh nhạy của họ đối với từng thời điểm cụ thể
Hoạt động bán xe nguyên chiếc nhập khẩu đang dần nhờng chỗ cho nhữngnhà sản xuất định hớng lâu dài, tơng xứng với tiềm năng của thị trờng Có thể kể
ra đây một loạt lợi thế của các nhà sản xuất xe hơi khi dùng hàng cung ứng nội
địa nh thuế đầu vào giảm, tránh đợc rủi ro do tỷ giá thay đổi, tính cạnh tranh tăng,chủ động về thời gian… Chính vì vậy mà em mạnh
1.2 Các phơng pháp đo lờng tỷ lệ nội địa hóa
Đối với các nớc có nền công nghiệp phát triển thì việc đa ra các tiêu chuẩn
về tỷ lệ nội địa hóa đã đợc thực hiên từ rất lâu, song ở Việt Nam hiện nay mới chỉbớc đầu thực hiện công việc này Nguyên nhân của tình trạng này là do chúng tacông nghiệp hóa chậm hơn các nớc khác đến một hoặc vài thập kỷ Nhng cũngkhông thể ỷ lại điểm xuất phát đó để bỏ qua việc định hình các tiêu chuẩn vể tỷ lệnội địa hóa Đầu năm 2004 vừa qua , Chính phủ đã chính thức đa ra cách tính tỷ lệnội địa hóa và tiêu chuẩn vể tỷ lệ này đối với từng ngành cụ thể
Tỷ lệ nội địa hóa là số phần trăm các phụ tùng linh kiện sản xuất nội địatrong tổng số phụ tùng, linh kiện của một sản phẩm
Tùy theo từng loại sản phẩm công nghiệp mà có quy định riêng về tỷ lệnày, tỷ lệ này càng cao phản ánh năng lực sản xuất của quốc gia đó càng lớn
Trang 3Theo cách tính này ta có các dạng thức lắp ráp trong ngành công nghiệp.Công nghệ lắp ráp dạng CKD1, 2( Complete knock down) là lắp ráp bằng các linhkiện nhập khẩu đồng bộ từ nớc ngoài thành ô tô hoàn chỉnh; Công nghệ lắp rápdạng IKD ( Incomplete knock down), SKD ( Semi knock down) là lắp ráp 1 phầnlinh kiện nhập khẩu từ nớc ngoài và một phần nội địa hóa.
Hiện nay trong các ngành công nghiệp ngời ta chủ yếu tiền hành công nghệlắp ráp dạng IKD và luôn nỗ lực để tăng phần nội địa hóa lên
1.3 Các yếu tố ảnh hởng tới tỷ lệ nội địa hóa
Tỷ lệ nội địa hóa càng cao thì khả năng cạnh tranh của ngành, của sảnphẩm càng tăng, song không phải lúc nào cũng thực hiện dễ dàng quá trình này
Có rất nhiều yếu tố khách quan cũng nh chủ quan tác động tới nó
Yừu tố đầu tiên ảnh hởng đến tỷ lệ nội địa hoá là vốn đầu t, bản thân cácdoanh nghiệp dù là nhà nớc hay t nhân cũng khó có thể đủ vốn để thực hiện nội
địa hóa Bởi nội địa hóa không đơn giản là vấn đề trong nội bộ doanh nghiệp,trong ngành mà công nghệ sản xuất tích hợp hàng ngàn chi tiết phụ tùng đòi hỏimột mạng lới các nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng, vệ tinh không chỉ ở một quốcgia Vốn đầu t càng lớn thì khả năng tăng đợc tỷ lệ nội địa hóa càng cao Nhng đểthu hút đợc vốn đầu t thì cần tạo ra một môi trờng thuận lợi, an toàn cho các nhà
đôi khi chúng ta không thể tận dụng đợc nguồn nguyên vật liệu trong nớc, dẫn tới
sự không đồng bộ của sản phẩm, sản phẩm mất khả năng cạnh tranh
Một yếu tố chủ quan nữa ảnh hởng tới nội địa hóa, đó là các chính sách,chiến lợc phát triển cụ thể của công ty Với các công ty sản xuất thì lợi nhuận làyếu tố sống còn với họ nên họ luôn cân nhắc giữa việc có tăng tỷ lệ nội địa hóalên hay không và việc nhập khẩu linh kiện, phụ tùng để về lắp ráp Trong khichính sách của Nhà nớc còn nhiều bất cập nh về hành lang pháp lí cho các doanhnghiệp, về thuế, về vốn đầu t thì nhiều ngành đã chấp nhận không tích cc nội địahóa mà chỉ chú trong nhập khẩu phụ tùng, linh kiện, vì nh thế sản phẩm lắp rápcòn rẻ hơn so với sản phẩm đã đợc nội địa hóa Thêm nữa năng lực sản xuất côngnghiệp của mỗi doanh nghiệp là một trong những yếu tố cơ bản để doanh nghiệp
định hớng công tác tăng tỷ lệ nội địa hóa Năng lực sản xuất ở đây chính là nhữngnguồn lực thuộc nội bộ doanh nghiệp bao gồm năng lực công nghệ, chất lợng
Trang 4nguồn nhân lực, trình độ quản lí về tổ chức sản xuất, nguồn lực về tài chính Vànói chung trong hội nhập kinh tế quốc tế thì việc phát huy năng lực mỗi doanhnghiệp là một vấn đề quan trọng góp phần nâng cao khả năng cậnh tranh giúpdoanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Trong quá trình toàn cầu hóa việc áp dụng các chính sách bảo hộ qúa lâuqua thuế cũng tác động không tốt tới việc tăng tỷ lệ nội địa hóa vì các doanhnghiệp sẽ dựa vào các chính sách đó để tăng lợi nhuận chứ không đa ra một chơngtrình hợp nhất sản xuất nào cho sản phẩm của mình
Một yếu tố nữa có liên quan đến tỷ lệ nội địa hoá là lợi thế cạnh tranh củadoanh nghiệp Loại hình chiến lợc mà doanh nghiệp đang sử dụng để nâng cao tỷ
lệ nội địa hóa đó là lĩnh vực có xu hớng cạnh tranh dựa trên mức lơng thấp và cácnguồn tài nguyên thiên nhiên Các doanh nghiệp dựa nhiều vào khách hàng và đốitác nớc ngoài cung cấp, thiết kế linh kiện, công nghệ, phân phối và thị trờng, kếtquả là năng suất thấp Nếu muốn chuyển sang một nền kinh tế với mức sống caohơn thì các chiến lợc này cần phải thay đổi Phải chuyển từ lợi thế so sánh( bằnglao động rẻ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên) sang lợi thế cạnh tranh dựa trênnăng lực đổi mới của các doanh nghiệp và khả năng của chúng trong việc nângcao các sản phẩm và quy trình công nghệ
1.4 Tác động của nội địa hóa tới sức cạnh tranh của ngành
Tăng tỷ lệ nội địa hóa là mục tiêu hớng tới của nhiều ngành công nghiệp ởmỗi quốc gia Nội địa hóa tác đông rất mạnh đến sức cạnh tranh của ngành songtác động này cũng có hai mặt của nó
Xét về mặt tích cực thì nội địa hóa làm cho sản phẩm của ngành có chi phísản xuất thấp hơn dẫn tới giá bán trên thị trờng hạ hơn so với những sản phẩmcùng loại đợc nhập khẩu Do đó sức cạnh tranh của sản phẩm rất lớn và cơ hội để
mở rộng thị trờng nhiều Thêm nữa để nội địa hóa đợc đòi hỏi phải có một hệthống các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp chính Chú trọngtăng tỷ lệ nội địa hóa trong ngành công nghiệp chính sẽ kéo theo các ngành côngnghiệp vệ tinh này phát triển theo, thu hút nhiều vốn đầu t hơn Nội địa hóa còn làlời giải đáp cho bài toán sử dụng các nguồn lực nh tài nguyên thiên nhiên haynguồn lực con ngời Tài nguyên thiên nhiên chỉ là tiềm năng để phát triển nguyênliệuvà trình độ phát triển nguyên liệu còn phụ thuộc vào trình đọ phát triển củacác ngành khai thác và chế biến tài nguyên thiên nhiên để tạo ra các sảnphẩmtrung gian trong quá trình tái sản xuất công nghiệp Giữa nội địa hoáa vàcông tác khai thcs tài nguyên thiên nhiên có mối quan hệ chặt chẽ Nếu chiến lợc
Trang 5của các doanh nghiệp là phát triển tỷ lệ nội địa hoá thì bắt buộc họ phải xem xets
đến các phơng thức tận dụng tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên sãen có trong
n-ớc để đảm bảo yêu cầu phát triển công nghiệp về quy mô cơ cấu Tốc đọ , trình đọcông nghệ, trình đọ kinh tế cũng nh hiệu quả kinh tế xã hội Còn đối với nguồnlực con ngời thì sẽ tạo ra việc làm cho nhiều lao động, đồng thời góp phần nângcao trình độ tay nghề cho họ Giúp ngời lao động có cơ hội tiếp cân với khoa họccông nghệ mới và phát triển tính chuyên môn hóa trong sản xuất
Bên cạnh tính tích cực thì Nội địa hóa cũng kéo theo những mặt tiêu cực.Nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đã chạy theo lợi nhuận, nội địa hóa sản phẩmcủa mình bằng nhng phụ tùng kinh kiện kém chất lợng dẫn tới sản phẩm khôngtạo đợc uy tín trên thị trờng, ảnh hởng đến cả ngành Vấn đề nội địa hóa còn đỏihỏi việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên cũng nh con ngời phải khéo léo, nếukhông sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí Nội địa hóa mà không thực hiện tốt hoặcthực hiện dở chừng sẽ có nguy cơ kéo cả ngành công nghiệp thụt lùi Nội địa hóacho mỗi ngành công nghiệp hiện tại có quy mô toàn cầu chứ không phải là cuộcchơi của mỗi quốc gia Vậy chúng ta cần hạn chế những mặt tiêu cực và khuyếnkhích phát triển những mặt tích cực để tăng thêm lợi thế cạnh tranh cho ngành
Trang 6Phần 2 Thực trạng Nội địa hoá trong ngành
công nghiệp ô tô ở Việt Nam
2.1 Sơ lợc về ngành công nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay
Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây ngành công nghiệp xe hơi ASEANnói chung và Việt Nam nói riêng không ngừng phát triển Hiên nay ASEAN làmột trong những thị trờng tiêu thụ xe hàng đầu thế giới, chỉ sau Bắc Mỹ, Tây Âu,
Đông A, vợt xa một số thị trờng đợc coi là tiềm năng nh Nam Phi, Trung Quốc… Chính vì vậy mà em mạnhVới số dân hơn 80 triệu,trong đó đa phần là giới trẻ, và tỷ lệ sử dụng xe còn rấtthấp, 1xe/170 ngời, đây là miền đất hứa với các nhà sản xuất xe
Mức độ sở hữu xe của Việt Nam và một số nớc:
(theo tạp chí ô tô - xe máy Việt Nam 7/2002)
1.3 0.9 170
Mỹ Malaixia Việt Nam
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam chính thức đợc thành lập vào năm 1995
và sau gần 10 năm đầu t với nhiều chính sách u đãi của Chính phủ, đến nay ViệtNam đã có trên 160 doanh nghiệp trong nớc sản xuất, lắp ráp, chế tạo phụ tùng,sửa chữa ô tô nh Transinco( miền Bắc), Samco( miền Nam), Trờng Hải( miềnTrung) và 11 liên doanh sản xuất, lắp ráp ô tô (FDI) Trong 11 liên doanh này có
sự góp mặt của các hãng sản xuất ô tô lớn trên thế giới nh Mercedes Benz, Toyota,Ford, Suzuki, Daewoo… Chính vì vậy mà em mạnh Cho đến tháng 8 năm 2000 các doanh nghiệp sản xuất ôtô ở nớc ta đã thành lập Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô , viết tắt là VAMA(Vietnam Automobile Manufacturers’ Association) gồm 11 thành viên Sự ra đờicủa Hiệp hội này đánh dấu một bớc phát triển mới của ngành công nghiệp ô tô tạiViệt Nam Thông qua Hiệp hội này Chính phủ và các doanh nghiệp có thể cócùng nhau đối thoại tìm ra phơng thức để tăng khả năng nội địa hóa của ngànhcũng nh mở rông thị trờng ô tô không chỉ trong nớc mà sang các nớc lân cận
Trang 7Tuy ngành công nghiệp ô tô Việt Nam còn non trẻ nhng thông qua cáccông ty liên doanh, Việt Nam đã thu hút đợc các nguồn vốn đầu t khá lớn từ các
đối tác nớc ngoài Tổng số vốn đầu t của các liên doanh này theo giấy phép là574,7 triệu USD, vốn thực hiện là 419,85 triệu USD đạt 74% Ví dụ nh Ford ViệtNam là công ty liên doanh giữa công ty Ford mô tô (75%) và công ty Diezen SôngCông(25%) với tổnh vốn đầu t là 102 triệu USD Bên cạnh khối liên doanh, cácdoanh nghiệp trong nớc cũng thu hút đợc vốn đầu t từ Nhà nớc, t nhân song không
đáng kể vì ở các doanh nghiệp này phần lớn trang thiết bị, công nghệ, nhà xởngrất lạc hậu, chủ yếu là sửa chữa Trừ công ty cơ khí 1/5 hiện đang triển khai dự án
đầu t 443 tỷ đồng, các doanh nghiệp còn lại chủ yếu lắp ráp ô tô từ xatxi nhậpkhẩu có xuất xứ từ SNG hoặc Trung Quốc với tổng giá trị tài sản rất thấp, trung
bình có 20 tỷ đồng mỗi doanh nghiệp( theo tạp chí Đầu t /42003)
Bảng chia thị phần của các hãng ô tô chính thức tại Việt Nam
(Theo tạp chí ô tô - xe máy Việt Nam 1/2002)
quân của Mỹ, Nhật Bản và ASEAN ( theo tạp chí ô tô xe máy số 3/2003)
Thực tế cho thấy gần 1 thập kỉ phất triển của ngành công nghiệp ô tô nhngViệt Nam vẫn cha chú trọng đầu t chế tạo ô tô mà mới dừng lại ở công nghệ lắpráp dạng CKD1, CKD2 (lắp ráp bằng các linh kiện nhập khẩu đồng bộ từ n ớcngoài thành ô tô hoàn chỉnh) với các đây chuyền công nghệ gần giống nhau hoặc
ở dang IKD ( lắp ráp 1 phần linh kiện nhập khẩu từ nớc ngoài và một phần nội địahoá) với giá trị tỉ lệ nội địa hoá sản xuất rất thấp Hơn nữa các nhà máy này chỉ
có thể thực hiện công nghệ lắp ráp giản đơn chứ cha có ứng dụng công nghệ caotrong sản xuất lắp ráp
Trong 11 doanh nghiệp FDI ô tô trừ công ty HYNO chuyên sản xuất xe tảinặng, còn lại đều tổ chức để có thể sản xuất bất kì loại xe nào mà thị trờng có nhucầu Các doanh nghiệp này đại diện cho những nhà sản xuất ô tô lớn với bí quyếtcông nghệ khác nhau nên hầu nh ít phối hợp hoạt động Sản phẩm của các công ty
ô tô đa dạng nhng giá thành lại rất cao so với sức mua của ngời đang trong nớc và
Trang 8với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc, Hàn Quốc nhập khẩu nguyên chiếcvào Việt Nam.
Tính đến hết năm 2003 tổng số xe lắp ráp của các doanh nghiệp FDI đợc117,137 xe, tổng doanh thu gần 3 tỷ USD Công suất khai thác của các liên doanhnăm 2003, năm cao nhất mới đạt 42,557 xe( khoảng 30% công suất thiết kế)
Toyota là công ty có thị phần lớn nhất nhng cũng chỉ bán đợc 12000 xe các loại.
( Theo tạp chí công nghiệp số 15/2003)
Hiện nay tổng công suất của cả ngành công nghiệp ô tô đạt khoảng 165000xe/ năm Nh vậy năng lực lắp ráp hiện thời gấp 5 lần so với khả năng tiêu thụtrong nớc Với năng lực sản xuất nh vậy thì lợng sản xuất trong nớc sẽ thừa sức
đáp ứng nhu cầu của ngời dân Tuy thế giá bán của xe ô tô trong nớc khá cao nênkhó tạo sự thu hút cho sức mua trong nớc Các doanh nghiệp sẽ phải tìm giải pháphữu hiệu để mở rộng sản xuất và nâng hiệu quả kinh doanh Điều nay chắc chắntạo ra một sân chơi cạnh tranh quyết liệt tại thị trờng trong nớc
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đang khó khăn bởi mức thu nhập của
ng-ời dân cha cao, hạ tầng cơ sở cha phát triển đồng bộ, đờng nhỏ hẹp, ít đờng caotốc Lợi thế duy nhất của Việt Nam là nhân công rẻ nhng đã bị mất ý nghĩa bởihầu hết các dây chuyền sản xuất ô tô đều đã đợc tự động hóa Trong bối cảnh đấy,hớng đi của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là tìm đến các loại xe phổ thông,giá hạ, phù hợp với thu nhập của ngời dân
Theo Bộ công nghiệp, ngành công nghiệp ô tô thừa công suất nh vậy nhnghiện đang có 45 dự án đang xin đầu t vào lĩnh vực lắp ráp và sản xuất ô tô Điềunày cho thấy thị trờng ô tô Việt Nam hiện nay tuy nhỏ nhng vẫn còn tiềm nănglớn, với số dân 80 triệu, thu nhập liên tục đợc cải thiện và tốc độ đô thị hoá diễn rakhá nhanh tại nhiều địa phơng, điều này tạo ra một môi trờng tơng đối thuận lợicho các nhà đầu t nớc ngoài và trong nớc, nhờ đó ngành công nghiệp ô tô có cơhội mở rộng
Dự báo thị trờng ô tô Việt Nam
(Đơn vị : chiếc)
40000 100000* 200000*
Trang 9
2005 2010 sau2010
(theo báo tài chính Việt Nam 20/1/2003)
Trên thực tế cho thấy các đối tác nớc ngoài tham gia liên doanh đa phần làcác hãng nổi tiếng thế giới, nhiều kinh nghiệm kinh doanh nên phía Việt Nam lúcnào cũng dới cơ của họ Mọi linh kiện phụ tùng nhập khẩu lắp ráp ô tô phần nhiều
là do công ty mẹ cung ứng nên phía Việt Nam cũng không thể kiểm soát đợc giácả
Những u diểm mà ngành công nghiệp nhỏ bé này mang lại cho Việt Nam làtiết kiệm ngoại tệ Theo viện nghiên cứu Nhật Bản cho biết với doanh số bán ô tôcủa các doanh nghiệp ô tô Việt Nam năm 2000 là 210 triệu USD, giá trị nhậpkhẩu linh kiện tơng ứng là 183 triệu USD thì mức thâm hụt thơng mại sẽ tăng 127triệu USD nếu Việt Nam nhập khẩu ô tô 100% Ngoài ra ngành này còn tạo lập d -
ợc một số doanh nghiệp sản xuât và cung cấp phụ tùng cho công nghiệp ô tô trong
nớc, thu hút đợc 3841 lao động kĩ thuật ( số liệu năm 2000)
Nhìn chung bớc đầu Việt Nam đã có đợc một ngành công nghiệp sản xuất,lắp ráp các loại xe ô tô cao cấp thông qua hoạt động của các doanh nghiệp trong
và ngoài nớc mà từ trớc năm 1990 cha hề có
2.2 Tình hình nội địa hoá hiện nay ở Việt Nam
Thị trờng ô tô ở Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với các nớc ASEAN và thếgiới Số lợng ô tô sản xuất tại Việt Nam chỉ bằng 4% so với Thái Lan nhng giáthành ô tô bán trong nớc cao gấp đôi so với thị trờng các nớc khác do phụ thuộcquá nhiều vào linh kiện nhập khẩu
Mục tiêu của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2005 và 2010 là
đáp ứng phần lớn nhu cầu phụ tùng ô tô hớng tới xuất khẩu, Theo đó các loại xephổ thông nh xe tải nhỏ nông thôn, xe khách phổ thông, xe taxi sẽ đáp ứng trongnớc 40 – 50% số lợng và đạt tỷ lệ nội địa hoá đến 40% vào năm 2005 và tỷ lệ nội
địa hoá là 60% vào năm 2010 các loại xe chuyên dụng đạt tỷ lệ nội địa hóa 40%vào năm 2005 và 60% vào năm 2010 Xe cao cấp nh các loại xe du lịch đạt tỷ lệ
nội địa hóa 20-25% vào năm 2005 và 45% vào 2010 (Theo tạp chí ô tô và xe
máy số 18/2000)
Mục tiêu là thế nhng cho đến nay những gì mà ngành công nghiệp ô tô đạt
đợc cha đáp ứng nhu cầu mong đợi Nhiều doanh nghiệp cam kết đạt tỷ lệ nội địahóa từ 30 – 40% sau 10 năm kể từ ngày cấp phép nhng cho đến nay hầu hết chỉ
đạt 2 – 10%, lại chỉ tập trung ở các công đoạn đơn giản nh hàn lắp khung xe, tẩy
Trang 10rửa, sơn, lắp ráp thiết bị kiểm tra.Theo nhận xét của Bộ công nghiệp, TMV làcông ty đi đầu trong viêc nội địa hóa sản phẩm với tỷ lệ nội địa hóa đạt 12%
Thực tế cho thấy các liên doanh sản xuất ô tô tại Việt Nam đi vào hoạt động
đợc 10 năm nhng tỷ lệ nội địa hóa còn quá thấp, hầu hết lại chỉ thực hiên phơngthức lăp ráp dạng CKD1 và CKD2, cao nhất là công ty Toyota Việt Nam cũng chỉ
đạt khoảng 13%, các liên doanh còn lại đạt khoảng 1- 9% Đã thế tỷ lệ sử dụngphụ tùng linh kiện trong nớc cha đợc bao nhiêu, chỉ một số ít các chi tiết có giá trị
thấp nh xăm lốp, ghế ngồi, dây điện, ăng ten (Theo tạp chí diễn đàn doanh
nghiệp) Các liên doanh là nơi đợc cấp vốn đầu t nhiều của các hãng tỷ lệ nội địa
hóa đã thấp nh thế nên khó tránh khỏi các doanh nghiệp trong nớc tỷ lệ nội địahóa còn thấp hơn Trong thị trờng ô tô sơ khởi và bấp bênh hiện nay, khi mà cácchính sách và quy chế liên tục thay đổi và bổ sung( mặc dù có chiều hớng tíchcực), các nhà sản xuất vẫn giữ mức dộ an toàn cao về giá, dè dặt trong các dự án
đầu t dài và sâu, những thử nghiệm tiên tiến về kĩ thuật, công nghệ còn ít đợc nhắc
đến nên việc bắt buộc các doanh nghiệp tăng tỷ lệ nội địa hóa là điều rất khókhăn Ví dụ Veam đang thực hiện một dự án về xe vận chuyển dùng cho nôngthôn đợc thiết kế động cơ ( chủ yếu xe tải có nội địa hóa cao, cả động cơ lẫntruyền lực); kết hợp với tập đoàn Daewoo sản xuất động cơ Diezen dùng để đóng
xe buýt loại nhỏ
Bảng 1: Tỷ lệ nội địa hóa của một số công ty qua 2 năm 1999 và 2003
(Theo báo diễn đàn doanh nghiệp 4/2/2004)
(%)
Năm 2003 (%)
đã thu nhiều lợi nhuận nhng lại không tích cực trong thực hiện nội địa hóa
Nếu đạt tỷ lệ nội địa hóa là 40% thì sẽ đợc thế giới công nhận là có nềncông nghiệp ô tô Nhng cho đến khi gia nhập WTO mà vẫn cha đạt đợc con số nàythì Việt Nam mãi mãi vẫn chỉ là nớc lắp ráp thuê cho nớc ngoài Mà điều này thìbản thân các doanh nghiệp cũng không muốn, chính vì thế chúng ta cần nhanh
Trang 11chóng tăng tỷ lệ nội địa hóa để ngành công nghiệp ô tô đứng vững chắc hơn nữatrong cơ cấu các ngành kinh tế ở nớc ta.
2.3 ảnh hởng của nội địa hóa tới sức cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô
Với mục tiêu đạt tỷ lệ nội địa hóa 40% cho đến năm 2010, quan điểm của
Bộ công nghiệp cũng nh một số doanh nghiệp lắp ráp ô tô trong nớc là tiếp tụcduy trì bảo hộ sản xuất ô tô trong nớc với thời gian thích hợp, đủ để nâng cao sứccạnh tranh của công nghiệp ô tô trớc khi hội nhập hoàn toàn Thời gian bảo hộthích hợp cha có con số cụ thể song thời gian mà các nhà hoạch định kế hoạch cho
“nền công nghiệp ô tô” Việt Nam chỉ còn từ 3 đến 7 năm nữa So với điểm xuấtphát quá thấp của ngánh hiện nay thì thời gian này là qúa ngắn để thực hiện toàn
bộ kế hoạch Để hỗ trợ cho ngành sản xuất ô tô dờng nh các nhà quản lí đã phảitạm khép cửa để hội nhập Chấp nhận để ngời tiêu dùng phải dùng xe ô tô với giá
đắt trong thời điểm hiện tại Điều đó thể hiện việc hạn chế và cấm nhập một sốloại ô tô, tăng thuế nhập khẩu linh kiện ô tô để thúc đẩy quá trình nội địa hóa
Công nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay rất kém cạnh tranh so với các quốcgia trong khu vực Hầu hết các linh kiện mà các doanh nghiệp sản xuất ô tô ViệtNam sử dụng đều phải nhập khẩu Do đó giá thành và giá bán ô tô lắp ráp tại ViệtNam cao hơn so với các nớc ASEAN Mặc dù nhà nớc đã có rất nhiều chính sách -
u đãi song quá trình tìm hiểu các cơ sở sản xuất thì hầu nh quy trình hoatj đọngcủa cáac liêm doanh thực chất chỉ là lắp ráp, nhập 100% các chi tiết, cụm chitiếtrời rạc dowis dạng CKD1 và CKD2, hàn lắp 1 số chi tiết thuộc hệ khung, tiếp theo
là lắp ráp sơn, kiểm tra tổng thể sau đó là xuất xởng Nghĩa là cho dến nay không
có một chi tiết nào đợc sản xuất tại Việt nam Cho dù giá lao đông trong nớc thấphơn nhiều so với giá lao động ở nớc ngoài, nhng giá thành ô tô lắp ráp trong nớclại cao hơn ô tô của nớc ngoài cùng loại, cho nên các liên doanh vẫn có lợi nhuận
mà thực chất là lợi nhuận đó thu đợc từ thơng mại, chứ không phải từ sản xuất Vìvậy giá bán ô tô ở Việt Nam vẫn quá cao, cao hơn các nớc trong khu vực và trênthế giới tới 60 – 100% Hay nói khác đi, ngời tiêu dùng Việt Nam vẫn đang phảimua ô tô với giá quá cao so với mặt bằn quốc tế từ 1,5 – 2 lần Thêm vào đó dothị trờng còn nhỏ, mỗi hãng xe chỉ tiêu thụ đợc vài nghìn chiếc một năm, nên phíacác nhà sản xuất không thể tận dụng đợc tính kinh tế nhờ quy mô lớn nh tại cácthị trờng khác.Tuy nhiên kể từ khi Chính phủ ra các chính sách yêu cầu cac doanhnghiệp trong nớc cũng nh liên doanh phải tăng cờng nâng cao tỷ lệ nội địa hoá thì
đã có những thay đỏi nhất định trong việc giảm giá bán ô tô của các doanh nghiệpViệt Nam