1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu

76 1,2K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
Tác giả Vũ Thị Thu Hà
Người hướng dẫn PGS. TS. Vũ Thị Thu Hà
Trường học Viện Hóa Học Công Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu thuộc công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆN HÓA HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VIIC

NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VẬT LIỆU MỚI HẤP PHỤ CHỌN LỌC DẦU TRONG HỆ DẦU – NƯỚC CÓ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG CÁC QUÁ TRÌNH TÁCH CHẤT VÀ TRONG XỬ LÝ SỰ CỐ TRÀN DẦU

Thuộc Nhiệm vụ nghiên cứu thường xuyên Phòng Thí nghiệm trọng điểm

Công nghệ lọc, hóa dầu năm 2011

Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Vũ Thị Thu Hà

9015

Hà nội, tháng 1/2012

Trang 2

MỤC LỤC

I.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI 6

I.1.1.2 Các tính chất đặc biệt của ống nano carbon 10 I.1.1.3 Các phương pháp tổng hợp ống nano carbon 13

I.1.3 Vật liệu ống nano carbon phát triển trên đệm carbon 22

I.1.4 Vật liệu xốp ống nano carbon 23

I.1.5 Ứng dụng các vật liệu hấp phụ trong sử lý sự cố tràn dầu

I.1.5.1 Ảnh hưởng của sự cố dầu tràn

24

24

I.1.5.3 Yêu cầu kỹ thuật của các loại vật liệu hấp phụ dầu 28

I.1.6 Ứng dụng các vật liệu siêu kỵ nước trong quá trình tách chất 28 I.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM 30 I.2.1 Vật liệu ống nano carbon và sợi nano carbon 30

Trang 3

I.2.2 Vật liệu hấp phụ dầu 30 I.2.3 Sự cố tràn dầu tại Việt Nam và biện pháp khắc phục 31

I.3 KẾT LUẬN TRÊN CƠ SỞ PHÂN TÍCH LÝ THUYẾT 33

II.1 CHẾ TẠO ỐNG NANO CARBON (CNTs) 36

II.3 CHẾ TẠO VẬT LIỆU ỐNG NANO CARBON PHÁT TRIỂN

II.6 THĂM DÒ KHẢ NĂNG TÁCH DẦU TRONG HỆ

III.1 NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ ĐIỀU CHẾ VẬT LIỆU ỐNG NANO CARBON PHÁT TRIỂN TRÊN ĐỆM CARBON (C-CNTs) 43

III.1.1 Tối ưu hóa quá trình điều chế ống nano carbon 43

Trang 4

III.1.2 Nghiên cứu tổng hợp vật liệu ống nano carbon trên đệm carbon (C-CNTs)

III.1.3 Đặc trưng tính chất của vật liệu ống nano carbon trên đệm carbon (C-CNTs)

III.1.4 Tính chất siêu kỵ nước của vật liệu composite ống nano carbon trên đệm carbon (C-CNTs)

III.4 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HẤP PHỤ DẦU CỦA CÁC VẬT

III 5 THĂM DÒ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA VẬT LIỆU TRONG QUÁ TRÌNH TÁCH CHẤT VÀ TRONG XỬ LÝ SỰ CỐ

Trang 5

III 6.5 Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế và ý nghĩa thực tiễn 64

Trang 6

SWNTs: ống nano carbon đơn vách

MWNTs: ống nano carbon đa vách

CNFs: sợi nano carbon

C-CNFs: sợi nano carbon phát triển trên đệm carbon

TG-DTA: Phương pháp phân tích nhiệt vi sai

FTIR: Phương pháp phổ hồng ngoại

SEM: Phương pháp kính hiển vi điện tử quét

TEM: Phương pháp kính hiển vi điện tử truyền qua

BET: Phương pháp đẳng nhiệt hấp phụ

PL: Hiện tượng phát sáng quang hóa

CVD: Phương pháp tổng hợp lắng đọng pha hơi hóa học

LPG: Khí dầu mỏ hóa lỏng

C-CNTs (PF): vật liệu được tạo bởi CNTs, sử dụng chất kết dính là polyme

PF, sau khi carbon hóa

C-CNTs (PS): vật liệu được tạo bởi CNTs, sử dụng chất kết dính là polyme

PS, sau khi carbon hóa

C-CNTs (PVA): vật liệu được tạo bởi CNTs, sử dụng chất kết dính là polyme PVA, sau khi carbon hóa

C-CNFs: Sợi nano carbon phát triển trên đệm carbon

Trang 7

2

TÓM TẮT

Bằng cách phối hợp nhuần nhuyễn các phương pháp hóa học (tổng hợp lắng đọng pha hơi hóa học, CVD) và các phương pháp phân tích hóa lý hiện đại (FTIR, BET, TEM, SEM, TG-DTA), chúng tôi đã tổng hợp thành công các vật liệu mới trên cơ sở nano carbon, bao gồm ống nano carbon CNTs, composit C-CNTs, sợi nano carbon phát triển trên đệm carbon C-CNFs và xốp CNTs Đây là các vật liệu có bề mặt siêu kỵ nước, có khả năng hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ dầu – nước Các vật liệu C-CNTs, C-CNFs và xốp CNTs có hình dạng định sẵn, không phải dạng bột nên có khả năng ứng dụng thực tiễn rất cao Có thể sắp xếp khả năng hấp phụ dầu trong hệ dầu – nước của các vật liệu theo chiều giảm dần như sau: xốp CNTs >>>>> CNTs > C-CNFs > C-CNTs (PS) > C-CNTs (tấm) >> than hoạt tính Bên cạnh đó, vật liệu tấm lọc trên cơ sở ống nano carbon CNTs có khả năng tách rất tốt nước

và dầu trong hệ dầu – nước

Trang 8

3

MỞ ĐẦU

Tràn dầu là sự cố xảy ra trong quá trình khai thác, lưu trữ, vận chuyển

và sử dụng dầu Sự cố này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái

Cùng với tốc độ phát triển kinh tế cao, tại Việt Nam trong thời gian gần đây, các ngành công nghiệp dầu khí cũng đang phát triển mạnh mẽ Ước tính mỗi năm chúng ta tiêu thụ khoảng 11 triệu tấn dầu và các sản phẩm dầu Ngoài ra, Việt Nam còn nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế vận chuyển dầu từ Trung Đông đến Nhật Bản với lượng dầu vận chuyển lên đến 30 triệu tấn/năm Điều đó có nghĩa là hàng nhiều chục triệu tấn dầu đang được lưu thông trên lãnh thổ Việt Nam mỗi năm và kéo theo là nguy cơ xảy ra các sự

cố tràn dầu là rất lớn Thực tế cũng cho thấy các sự cố tràn dầu đã liên tiếp xảy ra từ nhiều năm trở lại đây Ví dụ, sự cố tàu Neptune Aries năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh, sự cố tàu Formosa One năm 2001 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, ba sự cố khác tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2003 và 2005, trong đó sự cố năm 2005 rất nghiêm trọng, sự cố tàu Mỹ Đình năm 2004 tại miền Bắc và hàng chục sự cố nhỏ lẻ khác trong cả nước và trong ngành Dầu khí

Căn cứ theo yêu cầu khách quan của một nền kinh tế đang trên đà phát triển có thể nhận thấy nguy cơ xảy ra sự cố tràn dầu tại Việt Nam chắc chắn còn tiếp tục tăng cao trong tương lai sắp tới Ngay trước mắt, Việt Nam đã có chiến lược xây dựng các nhà máy lọc dầu và điều này sẽ làm gia tăng sự vận chuyển dầu thô từ nước ngoài vào Việt Nam Đứng trước nguy cơ này, việc nghiên cứu các công nghệ ứng cứu với sự cố tràn dầu là một vấn đề có tính cấp bách và vô cùng quan trọng

Ngoài những phương pháp cơ học như sử dụng phao quây xa bờ, phao quây trên bờ, sử dụng thiết bị kiểu đập và hút chân không, còn nhiều công nghệ để xử lý sự cố tràn dầu như công nghệ phân tán hóa học, công nghệ phân hủy sinh học, đốt tại chỗ hoặc hấp phụ dầu mà trong đó, phương pháp hấp phụ có vẻ là giải pháp thích hợp nhất vì dầu có thể được thu hồi với những ảnh hưởng tiêu cực tối thiểu nhất

Phần lớn các chất hấp phụ hiện đang được sử dụng để xử lý sự cố tràn dầu như đất sét, đá trân châu, len thủy tinh đều có khả năng hấp phụ rất thấp Vật liệu xốp polyurethane có khả năng hấp phụ cao hơn nhưng lại rất cồng kềnh và tính tương thích về mặt hóa học với các loại dầu khác nhau là chưa cao hoặc không xử lý triệt để được dầu

Xuất phát từ việc nghiên cứu đặc tính của vật liệu xử lý dầu tràn chúng tôi nhận thấy, để có thể xử lý một cách hiệu quả vết dầu trên mặt nước, vật liệu phải có 3 tính chất quan trọng sau đây:

Trang 9

4

- Hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ dầu nước, tức là phải có tính chất kỵ nước, ưa dầu

- Có khối lượng riêng nhỏ để có thể nổi lên mặt nước

- Có thể chiết được dầu khỏi vật liệu để tái sử dụng

Để đáp ứng các yêu cầu trên, vật liệu trên cơ sở nano carbon là một trong những ứng cử viên tốt nhất hiện nay

Những nghiên cứu thăm dò trong thời gian gần đây của nhóm nghiên cứu chúng tôi cho thấy có thể chế tạo được loại vật liệu mới trên cơ sở hỗn hợp C-CNTs (carbon và ống nano carbon) từ các nguồn nguyên liệu trong nước có tính năng hấp phụ dầu rất tốt, rất thích hợp cho việc xử lý sự cố tràn dầu và đặc biệt, có thể xử lý triệt để cả các vết dầu loang trên mặt nước Kết hợp các phương pháp cơ học với phương pháp hấp phụ bằng vật liệu này chắc chắn sẽ giúp xử lý một cách hiệu quả sự cố tràn dầu, mang lại sự trong sạch cho môi trường Ngoài ra, với tính chất siêu kỵ nước và tính chất hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ dầu nước, vật liệu này còn hứa hẹn có nhiều ứng dụng hơn nữa trong các quá trình hóa học và xử lý môi trường

Vì lý do đó, đề tài đặt ra mục tiêu nghiên cứu chế tạo vật liệu mới trên

cơ sở carbon-ống nano carbon (C-CNTs) có tính chất siêu kỵ nước, có khả năng hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ dầu nước để ứng dụng trong việc xử lý

dầu tràn Cụ thể là sẽ nghiên cứu qui trình công nghệ qui mô phòng thí

nghiệm chế tạo vật liệu siêu kỵ nước trên cơ sở C-CNTs và nghiên cứu thăm

dò các ứng dụng của vật liệu trong quá trình tách chất và xử lý sự cố tràn dầu

Trang 10

5

PHẦN I TỔNG QUAN

Trang 11

6

I.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

I.1.1 Vật liệu ống nano carbon CNTs

I.1.1.1 Cấu trúc của CNTs

Các ống nano carbon (Tiếng Anh: Carbon nanotube - CNTs) là các dạng thù hình của carbon

Ống nano là một loại cấu trúc fullerene Ống nano có dạng hình trụ, đường kính cỡ một vài nanomet, độ dài có thể lên tới vài milimet, với ít nhất một đầu khép kín có dạng một bán cầu, cấu trúc buckyball Ống nano carbon

có cấu trúc rỗng, với các vách được tạo bởi các lớp vỏ carbon, được gọi là graphene Có hai loại ống nano carbon chính: ống nano đơn vách (SWNT) và ống nano đa vách (MWNT) [11]

Hình I.1 Cấu trúc fullerence

Bản chất của liên kết trong ống nano carbon được giải thích bởi hóa học lượng tử, cụ thể là sự xen phủ orbital Liên kết hóa học của các ống nano được cấu thành hoàn toàn bởi các liên kết sp2, tương tự với than chì Cấu trúc liên kết này, mạnh hơn các liên kết sp3 ở trong kim cương, tạo ra những phân

tử với độ bền đặc biệt Các ống nano thông thường tự sắp xếp thành các "sợi dây thừng" được giữ với nhau bởi lực Van der Waals Dưới áp suất cao, các ống nano có thể trộn với nhau, trao đổi một số liên kết sp2 cho liên kết sp3, có khả năng tạo ra các sợi dây khỏe, độ dài không giới hạn thông qua liên kết ống nano áp suất cao

Cấu trúc của CNTs

Cấu trúc của vật liệu CNTs được đặc trưng bởi véc tơ Chiral, kí hiệu là

Cb Véc tơ này chỉ hướng cuộn của các mạng graphene và độ lớn đường kính ống (hình I.2a)

Cb = na1 + ma2 = (n,m) Trong đó, n và m là các số nguyên

a1và a2 là các véc tơ đơn vị của mạng graphene

Góc của véc tơ Chiral θ:

Cos θ = Đường kính ống D được tính theo công thức sau:

Trang 12

7

Hình I.2 Véc tơ Chiral OA

Armchair Zigzag Chiral

Hình I.3 Các cấu trúc của CNTs

Theo véc tơ Chiral, vật liệu CNTs có các cấu trúc khác nhau tương ứng với các cặp chỉ số (n, m) khác nhau Ba cấu trúc thường gặp đó là: amchair, zigzag và chiral tương ứng với các cặp chỉ số (n, n), (n, 0) và (n, m) (hình I.3)

Tuy nhiên, đây chỉ là các cấu trúc lý tưởng của CNTs Trên thực tế, cấu trúc CNTs bao giờ cũng tồn tại các khuyết tật, tùy thuộc vào cấu trúc hình học và trạng thái lai hóa của các nguyên tử carbon cấu thành nên CNTs

Cấu trúc của ống nano đơn vách và đa vách được chỉ ra trên hình I 4 Ống nano đơn vách có thể được xem là tấm graphit dài có độ dày một nguyên

tử, được cuộn lại thành một hình trụ liền Thông thường, các ống có tỉ lệ l/d vào khoảng 1000, vì thế, chúng có thể được xem gần như có cấu trúc một chiều Hơn nữa, một SWNT gồm hai miền tách biệt với các tính chất lý hóa khác nhau Trước hết là thành bên của ống và thứ hai là đầu ống Cấu trúc khép kín là tương tự hoặc được xuất phát từ một fullerece nhỏ hơn, như C60

(a) (b)

Hình I.4 Cấu trúc của CNTs đơn thành (a) và đa thành (b)

Trang 13

8

Các nguyên tử C sắp xếp theo hình lục giác và ngũ giác hình thành các cấu trúc khép kín Có thể xem xét cấu trúc của CNTs dựa trên thuyết của Euler rằng mười hai hình ngũ giác là cần thiết để thu được một cấu trúc lồng kín chỉ gồm các hình lục giác và ngũ giác Sự tổ hợp của một hình ngũ giác

và năm hình lục giác xung quanh dẫn tới sự uốn cong của bề mặt thành một cuộn kín Vai trò thứ hai là vai trò độc lập của hình ngũ giác đó là các trạng thái mà khoảng cách giữa các hình ngũ giác ở lớp fullerene là lớn nhất để thu được độ uốn cục bộ với sức căng bề mặt nhỏ nhất, dẫn tới một cấu trúc bền vững hơn Cấu trúc nhỏ nhất bền vững mà có thể tạo ra theo cách này là C60, lớn hơn là C70, …Một đặc tính khác là tất cả các fullerence đó bao gồm một

số chẵn các nguyên tử C bởi vì việc thêm một hình lục giác vào cấu trúc đang tồn tại nghĩa là thêm hai nguyên tử C

Một cấu trúc khác, trong đó bao gồm SWNTs là một hình trụ Nó được sinh ra khi một tấm graphit có kích thước nhất định được cuộn theo một phương nhất định Hai nguyên tử trong lớp graphene được lựa chọn, trong đó một nguyên tử đóng vai trò là điểm mốc Tấm sẽ được cuộn cho tới khi hai nguyên tử trùng nhau Vecto đặt từ nguyên tử đầu tiên hướng tới nguyên tử khác được gọi là vecto chiral và chiều dài của nó bằng với chu vi của ống nano Các SWNTs với các vecto chiral khác nhau có các tính chất không giống nhau như hoạt tính quang học, độ mạnh cơ học và tính dẫn điện

SWNTs thể hiện các tính chất điện khác biệt so với ống nano carbon đa tường Cụ thể, độ rộng vùng cấm có thể thay đổi từ 0 eV đến 2 eV và độ dẫn điện có thể là kim loại hay bán dẫn trong khi MWNTs có độ rộng vùng cấm bằng không tức dẫn điện như kim loại SWNTs được sử dụng để thu nhỏ các linh kiện điện tử, chúng có thể làm dây điện cho độ dẫn điện rất tốt

Ống MWNTs gồm nhiều lớp than chì, có thể được xem như là một tập hợp các SWNTs đồng trục với đường kính khác nhau Chiều dài và đường kính của các cấu trúc này khác nhau nhiều so với các SWNTs và, tất nhiên, các tính chất của chúng cũng rất khác nhau.Có hai mô hình được sử dụng để

mô tả MWNTs Mô hình thứ nhất có tên gọi là Russian doll, trong đó, MWNTs gồm nhiều ống SWNTs đơn lồng vào nhau Mô hình thứ hai gọi là Parchment, trong đó, MWNTs được mô tả như một tấm graphite cuộn lại Khoảng cách giữa các vách trong MWNTs tương đương khoảng cách các lớp graphite trong cấu trúc than chì, xấp xỉ 3.4 Å

Trong các ống nano carbon đa tường, ống nano carbon hai vách (DWNT) được quan tâm nhiều bởi hình thái học và các tính chất rất giống với ống nano carbon đơn vách nhưng điện trở và tính chất hóa học của chúng được cải thiện đáng kể Điều này đặc biệt quan trọng khi sự chức hóa là cần thiết (nghĩa là ghép các nhóm chức hóa học lên bề mặt của ống) để thêm các tính chất mới cho CNT Đối với trường hợp SWNT, sự chức hóa đồng hóa trị

sẽ bẻ gẫy một số liên kết đôi C=C, để lại các lỗ trống trong cấu trúc của ống

Trang 14

Hình I.5 Các khuyết tật trong CNTs

Do cấu trúc rất nhỏ của CNTs, độ bền kéo của ống phụ thuộc vào độ bền của các đoạn yếu nhất của nó, nơi mà liên kết yếu nhất quyết định sức bền của cả chuỗi

Các khuyết tật tinh thể học cũng ảnh hưởng đến các tính chất điện của ống Nói chung, các chỗ có khuyết tật thì độ dẫn giảm Một khuyết tật trong kiểu ống armchair có thể gây ra vùng bao quanh để trở thành bán dẫn, và khoảng trống của các đơn nguyên tử gây ra các tính chất từ Ngoài ra, các khuyết tật tinh thể học cũng ảnh hưởng lớn đến các tính chất nhiệt của ống, chẳng hạn như các khuyết tật dẫn đến tán xạ phonon

Trong một số trường hợp nhất định, các khuyết tật có thể được đưa vào

để điều khiển cấu trúc theo ý muốn Chẳng hạn, việc đưa vào các khuyết tật cũng có thể dẫn tới các cấu trúc mới khác như nhánh chữ Y (hình I.6), nhánh chữ T hoặc đầu mối SWNT Các khuyết tật này sẽ dẫn tới những cấu trúc đặc biệt có nhiều điểm khác biệt, và thậm chí, những tính chất này còn thú vị hơn các dạng nguyên bản của chúng [13]

Hình I.6 Cấu trúc CNTs nhánh chữ Y

Trang 15

Tính dẫn điện

Phụ thuộc vào vecto chiral của chúng, các ống nano carbon có đường kính nhỏ hoặc là chất bán dẫn hoặc là có ánh kim Sự khác biệt giữa các tính chất dẫn điện là do cấu trúc phân tử, làm cho cấu trúc miền khác nhau và do

đó dải miền khác nhau Sự khác nhau ở tính dẫn diện có thể bắt nguồn từ các tính chất của vỏ graphene Điện trở dẫn được xác định bằng cơ học lượng tử

và được chứng minh là phụ thuộc vào chiều dài của ống

và phổ tán xạ Raman của nó Các tính chất này cho phép xác định đặc điểm

“chất lượng ống nano carbon” một cách nhanh chóng và chính xác

Hấp thụ quang

Hấp thụ quang trong CNTs khác với hấp thụ quang trong vật liệu khối 3D thông thường bởi có sự hiện diện của các đỉnh nhọn (ống nano carbon có cấu trúc 1D) thay vì một ngưỡng hấp thụ bởi sự tăng hấp thụ (trong trạng thái rắn có cấu trúc 3D) Hấp thụ trong ống nano bắt đầu từ sự chuyển tiếp điện tử

từ vùng dẫn v2 đến vùng hóa trị c2 hay từ v1 đến c1 Sự chuyển tiếp này là tương đối nhanh và có thể sử dụng để nhận ra các loại ống nano Chú ý rằng,

độ sắc của đỉnh càng giảm thì năng lượng càng tăng và nhiều ống nano có các mức năng lương tương tự E22, E11 và vì thế có sự chồng chập đáng kể trong phổ hấp thụ

Trang 16

11

Hình I.7 Cấu trúc năng lượng hấp thụ quang của CNTs

Phương pháp hấp thụ quang thường được sử dụng để xác định chất lượng của bột ống nano carbon

Hình I.8 Phổ hấp thụ quang từ sự phân tán của SWNTs

Sự phát quang

Hiện tượng phát sáng quang hóa (PL) là một trong những công cụ quan trọng để xác định đặc điểm của ống nano carbon Cơ chế của hiện tượng phát sáng quang hóa thường được mô tả như sau: một điện tử trong ống nano carbon hấp thụ ánh sáng kích thích từ chuyển tiếp S22 tạo ra một cặp điện tử-

lỗ trống Cả điện tử và lỗ trống nhanh chóng nhảy từ trạng thái c2 đến c1 và từ

v2 đến v1 Sau đó chúng tái hợp thông qua một quá trình chuyển đổi ánh sáng phát xạ từ c1 đến c2

Tán xạ Raman

Phổ tán xạ Raman có độ phân giải và độ nhạy tốt Tán xạ Raman trong SWNTs là cộng hưởng, tức là chỉ những ống được dò có một độ rộng vùng cấm bằng với năng lượng kích thích laser

Trang 17

12

Hình I.9 Phổ Raman của SWNTs

Cũng giống như phổ PL, năng lượng của ánh sáng kích thích có thể được quét vì vậy mà tạo ra được phổ Raman Phổ này cũng chứa các đặc điểm nổi bật nhân ra chỉ số (n, m) Trái ngược với phổ PL, phổ Raman phát hiện ra không chỉ chất bán dẫn mà còn nhận ra các ống kim loại

Độ bền cơ học

CNTs là loại vật liệu bền nhất, cứng nhất được biết đến hiện nay Độ bền này là kết quả của liên kết hóa trị sp2 được hình thành giữa các nguyên tử carbon Vào năm 2000, ống nano carbon đa tường đã được kiểm tra và có được kết quả độ bền kéo là 63 GPa Điều này được hình dung bằng một sợi dây cáp có tiết diện 1mm2 có thể chịu được lực căng 6422 kg Khối lượng riêng của ống nano carbon rất thấp với khoảng 1,3 -1,4 g/cm3, là vật liệu có sức bền riêng lớn nhất hiện nay với giá trị lên tới 48.000 kN.m/kg so với độ bền của thép carbon chất lượng cao là 154 kN.m/kg Khi xem xét theo một tổng thể, CNTs trở nên rất mềm dẻo do chiều dài lớn hơn nhiều so với đường kính Do đó, các hợp chất này thích hợp cho các ứng dụng trong các vật liệu composite cần có tính đẳng hướng

Bảng 1.1 Tính chất cơ học của CNTs với các cấu trúc khác nhau

Vật liệu Độ bền kéo Độ giãn dài (%)

Trang 18

13

Tính chất siêu kỵ nước và ưa dầu

Vật liệu kỵ nước là vật liệu được tạo lên từ phân tử không phân cực và

do đó chúng ưa các dung môi không phân cực và trung tính Các phần tử kỵ nước bao gồm các ankan, dầu, chất béo… Các phần tử kỵ nước thường cụm lại với nhau hình thành các dạng mixen trong nước Khi cho giọt nước trên bề mặt của vật liệu kỵ nước ta sẽ quan sát thấy góc tiếp xúc bề mặt (θc) lớn Với góc tiếp xúc lớn hơn 150o vật liệu đó là vật liệu siêu ky nước

Hình I.10 Hình mô phỏng góc tiếp xúc (a)

và hình ảnh giọt nước trên bề mặt của vật liệu siêu kỵ nước (b)

Vật liệu nano carbon được cấu thành từ các phân tử không phân cực nên bản chất của chúng đã có tính kỵ nước và ưa dầu Hơn nữa, diện tích bề mặt riêng lớn, độ xốp cao làm cho chúng có khả năng thấm hút được một lượng lớn dầu

I.1.1.3 Các phương pháp tổng hợp CNTs [17 -19]

Cơ chế mọc

Sự tạo thành các ống nano và cơ chế mọc của nó vẫn chưa được biết chính xác và là một chủ đề gây nhiều tranh cãi Có rất nhiều cơ chế có thể tác dụng trong suốt quá trình tạo thành của CNTs Một trong số các cơ chế bao gồm ba bước Trước hết, chất đầu để tạo thành các ống nano và các fullerence, C2, được tạo ra trên bề mặt của các hạt xúc tác kim loại Từ các hạt cacbua siêu bền này, carbon hình que được tạo thành nhanh chóng Thứ hai

có sự graphit hóa chậm của các vách của nó Cơ chế này dựa trên sự quan sát đúng chỗ của nó trên ảnh TEM

(b) (a)

Trang 19

14

Hình I.11 Cơ chế mọc của ống CNTs

Có một vài thuyết dựa trên cơ chế mọc chi tiết cho các ống nano Một thuyết đã công nhận rằng các hạt xúc tác kim loại đang lơ lửng hoặc đã hỗ trợ trên graphit hoặc một đế khác Người ta đoán rằng các hạt xúc tác có hình quả cầu hoặc hình quả lê, trong trường hợp sự phân hủy sẽ xảy ra chỉ trên một nửa

bề mặt (đó là mặt cong thấp hơn với các hạt hình quả lê) Carbon khuyếch tán dọc gradien nồng độ và lắng ở trên nửa đối diện, xung quanh và dưới chia đôi đường kính Tuy nhiên, không lắng từ chỏm của bán cầu, giải thích cho các lỗ trống là đặc trưng của các filament Cho các kim loại hỗ trợ, filament có thể tạo ra hoặc bằng sự đẩy (còn được biết đến như cơ sở của việc mọc) trong đó ống nano mọc hướng thẳng ra khỏi các hạt kim loại mà vẫn gắn vào đế, hoặc các hạt tháo và chuyển lên đầu của ống nano đang mọc, được gán cho là “mọc đầu” Phụ thuộc vào kích thước của các hạt xúc tác, SWNTs hoặc MWNTs đã mọc.Trong sự phóng hồ quang điện, nếu không xúc tác trên graphit, MWNTs

sẽ mọc trên các hạt C2 được tạo thành trong plasma

Phương pháp phóng điện hồ quang

Ban đầu phương pháp này được dùng để chế tạo fullerene C60, kể từ sau khi khám phá ra CNTs thì phương pháp này được sử dụng phổ biến nhất

và có lẽ là con đường dễ dàng nhất để chế tạo CNTs Tuy nhiên, nó là một kỹ thuật chế tạo hỗn hợp nhiều thành phần và yêu cầu tách các ống nano ra khỏi muội than và các xúc tác kim loại có mặt trong sản phẩm thô

Phương pháp này tạo ra các ống thông qua sự bốc hơi trong hồ quang giữa hai điện cực là hai sợi carbon đặt đối diện sao cho của hai sợi gần như chạm nhau, cách nhau xấp xỉ 1 mm, trong một buồng kín, thường được lấp

đầy bằng khí trơ (Heli, Argon) ở áp suất thấp (50 – 700 mbar)

Trang 20

Những hiểu biết sâu hơn về cơ chế mọc thông qua việc đo đạc đã chỉ ra rằng sự phân bố đường kính khác nhau phụ thuộc vào hỗn hợp của Heli và Argon Những hỗn hợp này có hệ số khuyếch tán khác nhau và độ dẫn nhiệt khác nhau Các tính chất này ảnh hưởng tới tốc độ khuyếch tán của các phân

tử carbon và xúc tác và tốc độ làm mát, ảnh hưởng tới đường kính của ống nano trong quá trình hồ quang Điều này đưa đến cấu tạo của ống là đơn lớp

và mọc trên các hạt kim loại với các kích thước khác nhau phụ thuộc vào tốc

độ tắt plasma và người ta công nhận rằng nhiệt độ, mật độ carbon và mật độ xúc tác kim loại ảnh hưởng tới sự phân bố đường kính của ống nano

Tùy thuộc vào độ chính xác của kỹ thuật, có thể tuyển chọn mọc SWNTs hoặc MWNTs Hai phương pháp tổng hợp khác biệt có thể được tạo

ra bằng thiết bị phóng điện hồ quang Sơ đồ thiết bị phóng điện hồ quang được đưa ra ở hình I.12

Hình I.12 Sơ đồ thiết bị phóng điện hồ quang

Trong điều kiện chế tạo MWNTs tối ưu thì quá trình bay hơi carbon sinh ra một lượng nhỏ muội than carbon vô định hình và 70% carbon bốc hơi

từ anot graphit sạch lắng đọng lên trên bề mặt của thanh graphit catot Điều

Trang 21

16

kiện tổng hợp tối ưu là sử dụng điện thế một chiều với thế 20 – 25 V, dòng 50 – 100 A và áp suất heli ở 500 mmHg Phóng điện hồ quang là một phương pháp đơn giản cho CNTs chất lượng cao và cấu trúc hoàn hảo

Tuy nhiên, phóng hồ quang điện thường không liên tục và không ổn định nên bằng phương pháp này không thể tạo ra một lượng lớn CNTs CNTs được tạo ra bám trên bề mặt catot và được sắp xếp không theo một quy tắc nào cả vì dòng chuyển động là không đồng nhất và điện trường là không thuần nhất Do đó, mật độ hơi carbon và nhiệt độ cũng không đồng nhất, hạt nano carbon và các tạp chất bẩn luôn cùng tồn tại với ống nano Để giải quyết vấn đề này, người ta đã tạo ra những hệ hồ quang mới với nhiều ưu thế mới

và có hiệu quả cao như hồ quang plasma quay Ở đây, lực ly tâm gây ra bởi

sự quay để tạo ra hiện tượng xoáy và gia tốc quá trình bay hơi của nguyên tử carbon theo phương thẳng đứng với điện cực anot Hơn nữa, quá trình quay làm cho sự phóng điện vi cơ đồng đều và tạo ra plasma ổn định Bởi vậy phương pháp này đã làm tăng thể tích plasma và tăng nhiệt độ plasma Với tốc độ quay là 5000 vòng/ phút tại nhiệt độ 1025oC, hiệu suất tạo CNTs là 60% Hiệu suất có thể đạt tới 90% nếu tốc độ quay tăng lớn và nhiệt độ lớn đạt tới 1150oC

Trong phương pháp hồ quang điện, để tạo MWNTs thì không cần sự có mặt của xúc tác Tuy nhiên, để tạo SWNTs, anot phải được cấy xúc tác, đặc biệt là các xúc tác kim loại Các xúc tác kim loại thường được sử dụng để chế tạo SWNT bao gồm một số kim loại chuyển tiếp như Fe, Co, Ni và một số kim loại đất hiếm như Y, hoặc Mo SWNTs có thể được tạo ra bằng cách phóng điện hồ quang qua điện cực Fe-graphit trong môi trường khí Argon Ở đây, điện cực anot chính là các hố nhỏ được tạo ra trên thanh graphit, được lấp đầy bởi một hỗn hợp bột kim loại và bột graphit, còn catot là thanh graphit sạch Các bó SWNTs thì thường được chế tạo với hỗn hợp của những chất xúc tác này như Fe/Ni hay Co/Ni

Tóm lại, phương pháp phóng điện hồ quang tạo ra sản phẩm có cấu trúc hoàn hảo, nhưng không thể điều khiển được đường kính cũng như chiều dài của CNTs

Phương pháp bốc bay laser (Ablation laser)

Vào năm 1995, nhóm của Smalley ở Đại học Rice đã công bố sự tổng hợp ống carbon nano bằng cách bốc bay nhờ laser Thiết bị hóa hơi bằng chùm laser mà nhóm Smalley sử dụng được đưa ra trên hình I.13 Laser xung hoặc laser liên tục được sử dụng để hóa hơi graphit trong lò tại nhiệt độ

1200oC Sự khác nhau chủ yếu giữa laser liên tục và laser xung, đó là với

kW/cm2)

Trang 22

17

Hình I.13 Sơ đồ thiết bị bốc bay nhờ laser

Trong phương pháp này, một tấm graphit dùng làm bia bị bốc bay bởi bức xạ laser dưới áp suất cao trong môi trường khí trơ MWNTs được tạo ra trên bia graphit sạch Chất lượng và hiệu suất của sản phẩm tạo ra phụ thuộc vào nhiệt độ phản ứng và ở1200oC chất lượng sản phẩm là tốt nhất Ở nhiệt

độ thấp hơn thì chất lượng sản phẩm giảm và trong cấu trúc của CNTs bắt đầu xuất hiện những sai hỏng Trong phương pháp bốc bay bằng chùm laser, năng lượng của chùm tia laser làm bay hơi bia graphit được đặt ở trong lò đốt bằng điện ở nhiệt độ khoảng 1200oC Luồng khí Ar (áp suất ~ 500 mmHg) thổi hơi carbon từ vùng nhiệt độ cao về điện cực lắng đọng bằng đồng được làm sạch bằng nước Nếu dùng bia graphit tinh khiết ta sẽ thu được MWNTs Nếu bia được pha thêm khoảng 1.2 % nguyên tử Co/Ni với khối lượng Ni và Co bằng nhau sẽ thu được SWNTs Trong sản phẩm còn có các dây nano tạo bởi các SWNTs với đường kính từ 10 nm đến 20 nm và dài trên 100 µm

Giá trị trung bình của đường kính ống và mật độ phân bố đường kính ống tùy thuộc vào nhiệt độ tổng hợp và thành phần xúc tác Để tạo SWNTs, người ta còn dùng phương pháp xung cực nhanh từ laser điện từ tự do (FEL) hoặc phương pháp xung laser liên tục

Lò đốt được bơm đầy khí heli hoặc argon để giữ áp suất ở 500 mmHg Một luồng hơi cực nóng hình thành, sau đó giãn nở và nguội một cách nhanh chóng Khi các dạng hơi nguội đi, các nguyên tử và phân tử carbon nhỏ nhanh chóng ngưng tụ để tạo ra các bó lớn hơn, có thể bao gồm cả fullerene Các chất xúc tác cũng bắt đầu ngưng tụ, nhưng lúc đầu chậm hơn, và hút các bó carbon, ngăn chúng tụ họp thành cấu trúc lồng Thậm chí các chất xúc tác có thể mở các cấu trúc lồng khi chúng bị hút tới đó Từ các bó ban đầu này, các phân tử hình ống mọc thành các ống nano carbon đơn vách cho tới khi các hạt xúc tác trở nên quá to, hoặc cho đến khi các điều kiện làm lạnh đủ để carbon không còn khuyếch tán qua hoặc trên bề mặt của các hạt xúc tác Các hạt cũng có thể bị bao bọc nhiều bởi lớp carbon do đó chúng không thể hấp phụ hơn nữa và các ống nano ngừng mọc Các SWNTs tạo thành trong trường hợp này được bó lại với nhau bởi lực Van der Waals

Trang 23

18

Sự bốc bay laser gần giống phương pháp hồ quang điện, do hỗn hợp tối

ưu của chất xúc tác và khí nền là giống với quá trình phóng điện hồ quang Điều này có thể do các điều kiện phản ứng cần thiết rất giống nhau và chắc chắn các phản ứng xảy ra với cơ chế giống nhau

Phương pháp bốc bay bằng laser là một phương pháp có hiệu quả cao cho quá trình tổng hợp bó SWNTs với vùng phân bố hẹp Phương pháp này

có ưu điểm là sản phẩm thu được có độ sạch cao (trên 90%) so với phương pháp hồ quang điện Tuy nhiên, đây là phương pháp khá tốn kém vì yêu cầu nguồn laser công suất lớn, điện cực than có độ sạch cao, lượng sản phẩm tạo

Hình I.14 Sơ đồ công nghệ CVD

Tổng hợp CNTs bằng phương pháp CVD

Phương pháp tổng hợp lắng đọng pha hơi hóa học (CVD) là một trong những phương pháp lắng đọng màng phổ biến nhất Khác với hai phương pháp phóng điện hồ quang và bốc bay bằng laze là nhóm nhiệt độ cao (> 3000 K), thời gian phản ứng ngắn (µs-ms), thì phương pháp CVD lại có nhiệt độ trung bình (700 - 1473K) và thời gian phản ứng dài tính bằng đơn vị phút, giờ Mặt hạn chế chính của hai phương pháp phóng điện hồ quang và bốc bay laze là CNTs được tạo ra không đồng đều, sắp xếp hỗn độn, độc lập, không theo một quy tắc cho trước hoặc không có tính định hướng trên bề mặt

Trang 24

19

Nguyên tắc: đặt một nguồn carbon trong một pha khí và sử dụng một

nguồn năng lượng, như plasma hoặc một cuộn điện trở gia nhiệt, để truyền năng lượng sang phân tử chứa carbon thể khí Thông thường nguồn carbon thể khí bao gồm CH4, CO, C2H2 Nguồn năng lượng được sử dụng để bẻ gãy phân tử thành carbon nguyên tử hoạt động Sau đó, carbon khuyếch tán thẳng tới đế Đế đã dược gia nhiệt và được phủ một lớp xúc tác (thường là các kim loại chuyển tiếp đầu dãy như Ni, Fe hoặc Co) CNTs sẽ được tạo thành nếu các thông số thích hợp được duy trì Liên kết trội, cũng như việc điều khiển vị trí theo kích thước nm, có thể thu được bằng việc sử dụng CVD Việc điều khiển đường kính, cũng như tốc độ mọc của CNTs cũng có thể được duy trì Xúc tác kim loại thích hợp có thể ưu tiên mọc SWNTs hơn là MWNTs

Sự tổng hợp CNTs theo phương pháp CVD thực chất là một quá trình hai bước bao gồm bước chuẩn bị xúc tác và bước tổng hợp CNTs Thông thường, xúc tác được điều chế bằng cách phun các kim loại chuyển tiếp lên đế

và sau đó xử lý bằng cách hoặc là khắc bằng phương pháp hóa học hoặc là ủ nhiệt để cảm ứng cho sự tạo thành mầm của các hạt xúc tác Việc ủ nhiệt dẫn tới sự hình thành dạng bó trên đế, từ đây CNTs sẽ mọc lên Amoniac có thể được dùng như một chất khắc ăn mòn Nhiệt độ cho sự tổng hợp CNTs bằng

pháp CVD là xấp xỉ 30%

Có những nguyên lý cơ bản cho quá trình CVD Trong thập kỷ vừa qua, những kỹ thuật khác nhau để tổng hợp CNTs bằng CVD đã phát triển, như CVD tăng cường plasma, CVD nhiệt, CVD xúc tác ancol, CVD hỗ trợ gel khí và CVD có laze hỗ trợ,…

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp CVD nhiệt hóa học

để chế tạo CNTs

Phương pháp CVD nhiệt để chế tạo CNTs

Trong phương pháp này, Fe, Ni, Co hoặc là hợp kim của ba kim loại lúc đầu được lắng đọng trên đế Sau khi đế được khắc bằng dung dịch HF loãng và nước cất, mẫu sẽ được đặt trong một cái thuyền bằng thạch anh Thuyền được đặt trong lò phản ứng CVD, và các hạt kim loại xúc tác kích thước nm được tạo thành sau khi khắc thêm một màng kim loại xúc tác bằng khí NH3 ở nhiệt độ 750 – 10500C Do CNTs mọc trên các hạt xúc tác mịn này theo phương pháp tổng hợp CVD, việc hình thành các hạt xúc tác mịn là quá trình quan trọng nhất

Khi CNTs mọc trên một màng xúc tác Fe bằng CVD nhiệt, đường kính của CNTs phụ thuộc vào chiều dày màng xúc tác.Với chiều dày màng là 13

nm, sự phân bố đương kính nằm trong khoảng 30 - 40 nm Khi chiều dày màng lên tới 27 nm, thì đường kính thu được sẽ trong khoảng 100 – 200 nm,

và thu được MWNTs

Trang 25

20

I.1.1.4 Các ứng dụng của CNTs [23]

Các ứng dụng trong ngành năng lượng

CNTs có khả năng tích trữ năng lượng cao Tốc độ chuyển tải điện tử

từ cực này sang cực kia với vật liệu CNTs là rất nhanh Do đó, hiệu suất của các pin nhiên liệu loại này thường rất cao Hai thành phần có thể tích trữ điện hóa trong CNTs là hidro và liti

Do CNTs có cấu trúc dạng trụ rỗng và đường kính cỡ nm nên vật liệu CNTs có thể tích trữ chất lỏng hoặc chất khí trong lõi trơ thông qua hiệu ứng mao dẫn Hấp thụ này được gọi là hấp thụ vật lý CNTs cũng có thể tích trữ hidro dưới dạng hóa học (hấp thụ nguyên tử)

Ứng dụng trong các linh kiện điện tử

- Thiết bị phát xạ điện từ trường: Yêu cầu chung là ngưỡng thế phát xạ của vật liệu phải thấp, mật độ dòng phải có độ ổn định cao, vật liệu phát xạ phải có đường kính nhỏ cỡ nano mét, cấu trúc tương đối hoàn hảo, độ dẫn điện cao, độ rộng khe năng lượng nhỏ và ổn định về mặt hóa học Các điều kiện này, vật liệu CNTs đáp ứng đầy đủ Hơn nữa, CNTs lại tương đối trơ về mặt hóa học nên có độ ổn định về mặt hóa học rất cao

- Đầu dò nano: Do tính dẻo dai và khả năng dẫn điện của CNTs có thể sử dụng làm các đầu dò điện tử trong kính hiển vi AFM và STM

- Các ứng dụng sensor: Do tương tác hóa học cũng như đặc tính tương tác hay hấp thụ có chọn lọc, tùy theo yêu cầu của từng ứng dụng Chẳng hạn với các sensor xác định nồng độ cồn cực thấp sử dụng vật liệu CNTs thì vật liệu CNTs phải được biến đổi trước để tạo các nhóm COOH trên bề mặt Các nhóm này sẽ tương tác với phân tử etanol và gắn các phân tử này lên bề mặt CNTs, làm thay đổi độ dẫn điện của vật liệu hấp thụ Từ sự thay đổi này, nồng độ cồn được hấp thụ có thể xác định được

- Vật liệu tổ hợp: Đây là ứng dụng lớn nhất có ý nghĩa quan trọng, vì với các tính chất tốt của CNTs khi tham gia vào vật liệu composit sẽ làm cho tăng tính chất cơ nhiệt điện của công cụ lên rất nhiều

Một hướng ứng dụng khác cũng đang được tập trung nghiên cứu là mạ Crom gia cường vật liệu CNTs Vật liệu CNTs được pha vào dung dịch mạ Trong quá trình mạ điện hóa, CNTs được xen lẫn vào trong lớp mạ và định vị một cách ngẫu nhiên trên lớp mạ hoặc hút tĩnh điện (với CNTs biến tính) Kết quả mạ cho thấy độ cứng tăng rõ rệt và lớp mạ cũng nhẵn hơn

Trang 26

21

I.1.2 Vật liệu C-CNFs [24]

CNFs có cấu trúc nano hình trụ được tạo nên từ những tấm graphit hình nón được xếp chồng lên nhau Các lớp graphit này cuộn lại thành các hình trụ

là các ống nano carbon (hình I.15)

Hình I.15 Cấu trúc của CNFs

CNFs dẫn điện, dẫn nhiệt và có tính chất cơ học rất tốt Các nghiên cứu

về vật liệu nano composite gia cường bằng nano carbon chủ yếu tập trung vào các hợp chất composite tạo bởi các ống nano carbon Điều này là do thực tế CNTs có ít khuyết tật cấu trúc hơn CNFs, dẫn tới các đặc tính tổng thể của nó tốt hơn cũng như kích thước nhỏ hơn và mật độ thấp hơn Tuy nhiên, CNFs lại không đắt và có thể sản xuất được với hiệu suất cao nên nhiều nghiên cứu

về khả năng ứng dụng các vật liệu của nó trên các chất đệm khác nhau

CNFs có cấu trúc hình chén xếp chồng lên nhau là kết quả của quá trình lắng đọng pha hơi được sử dụng trong sản xuất chúng Hiệu quả chất xúc tác tương đối thấp dẫn tới các khuyết tật trong cấu trúc micro của CNFs, yêu cầu các xử lý đặc biệt để CNFs thu được các thuộc tính mong muốn Một

số phương pháp xử lý đã được sử dụng, trong đó bao gồm xử lý bằng axit, xử

lý nhiệt (để loại bỏ các khuyết tật), xử lý plasma (làm sạch), và gắn nhóm chức lên bề mặt (cải thiện độ bám dính bề mặt) Do tỉ lệ kích thước các chiều lớn và năng lượng bề mặt cao (do đường kính cỡ nano), CNFs có xu hướng kết tụ, dẫn đến phân tán không đồng nhất Nhiều phương pháp đã được thực hiện nhằm hạn chế sự kết tụ của CNFs như pha loãng chất nền với các dung môi, kết hợp trộn cơ học với đánh siêu âm

Ngoài ra, do có độ dẫn điện cao, CNFs đã được sử dụng như chất độn

để cải thiện tính chất điện của vật liệu tổng hợp cao phân tử trong một số nghiên cứu

Vật liệu CNFs tạo ra trên đệm C là composite mới C-CNFs, đầy hứa hẹn tạo được sự tiếp xúc tốt giữa CNTs và vật liệu nền Ưu điểm của vật liệu CNFs tạo ra trên đệm C là CNFs và carbon có những thành phần nguyên tử tương tự nhau nên sẽ có xu hướng tạo liên kết tốt hơn giữa chúng, đồng thời không cần phải tạo hình cho sản phẩm CNFs tạo ra trên đệm C có tính chất

Trang 27

Các phương pháp định hình dạng hạt bao gồm: phương pháp gel hóa dị thể, phương pháp sử dụng tác nhân kết dính

Gel hóa dị thể

CNTs được phân tán đều trong chất gel hóa, thường là alginate natri, nhờ siêu âm, tạo dung dịch huyền phù, có độ nhớt thích hợp Sau đó, nhỏ từng giọt hỗn hợp huyền phù vào trong dung dịch CaCl2 bão hòa Quá trình gel hóa xảy ra nhanh chóng tạo lớp màng bao bọc các giọt huyền phù Tiến hành nung để phân hủy hoàn toàn chất gel hóa sẽ thu được sản phẩm là các hạt cầu CNTs

Đây là phương pháp định hình khá đơn giản, có nhiều ưu việt, sản phẩm tạo ra có độ tinh khiết cao, và đồng đều, các tính chất được đảm bảo như CNTs dạng nguyên khai

Sử dụng tác nhân kết dính [26 - 29]

Các chất kết dính thường được sử dụng là các polyme PS, PF, PVA Đã

có nhiều đề tài của nhiều tác giả nghiên cứu về composit trên cơ sở CNTs, tuy nhiên chỉ dừng ở mức độ xem CNTs như là tác nhân gia cường để tăng độ bền cơ cho vật liệu polyme trong đó nền polyme đóng vai trò môi trường phân tán cho CNTs, và không bị nhiệt phân sau khi định hình Với cách làm như vậy, tính chất về diện tích bề mặt lớn của CNTs không được tận dụng một cách triệt để Ở đây, chúng tôi sử dụng polyme giống như chất kết dính, liên kết các hạt CNTs lại với nhau Bằng cách này không những vẫn giữ được tính chất về diện tích bề mặt lớn của CNTs mà còn tạo được dạng hình trụ hoặc hình cầu, thuận lợi hơn cho quá trình ứng dụng thực tiễn Đối với mỗi loại nhựa khác nhau, phương pháp định hình cũng khác nhau Với nhựa PVA, quá trình định hình được tiến hành bằng cách nhỏ từng giọt hỗn hợp đồng nhất vào một trong các dung dịch chứa ion tetraborate B(OH)4-, còn với nhựa

PF và PS ở quy mô phòng thí nghiệm có thể sử dụng phương pháp vê tay

Trang 28

23

I.1.4 Vật liệu xốp CNTs [30 - 32]

Bọt biển CNTs được phát minh bởi các nhà khoa học từ Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa - Bắc Kinh trong thời gian gần đây Nhờ có những đặc tính ưu việt như mềm dẻo, khả năng hấp phụ cao, tỷ trọng thấp, dẫn điện, bền nhiệt, bền trong các môi trường khắc nghiệt, xốp CNTs hứa hẹn

có nhiều ứng dụng như sensor, màng lọc, điện cực, Đặc biệt, vật liệu xốp CNTs có tính chất siêu kỵ nước, ưu và có thể nổi lên mặt nước (hình I.16, I.17) nên có khả năng hấp phụ tốt dầu trong hệ dầu – nước, rất thích hợp với ứng dụng xử lý khâu sau khi có sự cố tràn dầu

Xốp CNTs được điều chế bằng phương pháp CVD, với nguồn carbon

là 1,2-diclobenzen, trong sự có mặt chất xúc tác Fe Các kết quả nghiên cứu

về khả năng hấp phụ dầu diesel của sản phẩm cho thấy dung lượng hấp phụ dầu của xốp CNTs là rất cao (Q = 143), cao hơn nhiều so với các vật liệu xốp khác (xốp có nguồn gốc polyme Q < 40, cotton và loofah Q < 4, than hoạt tính Q ≈ 1) Một ưu việt hơn nữa của các xốp CNTs là dễ dàng thu hồi triệt để dầu nhờ phương pháp ép cơ học, đồng thời có khả năng tái sử dụng cao

Hình I.16 Đặc tính xốp của vật liệu xốp CNTs

Hình I.17 Đặc tính kỵ nước ưu dầu của vật liệu xốp CNTs

Trang 29

24

I.1.5 Ứng dụng các vật liệu hấp phụ trong sử lý sự cố tràn dầu

I.1.5.1 Ảnh hưởng của sự cố dầu tràn [33]

Dầu tràn là sự giải phóng hydrocarbon dầu mỏ lỏng vào môi trường

do các hoạt động của con người và gây ra ô nhiễm môi trường Thuật ngữ này thường đề cập đến các vụ dầu tràn xảy ra trong môi trường biển hoặc sông Dầu có thể bao gồm nhiều loại khác nhau từ dầu thô, các sản phẩm lọc dầu (như xăng hoặc dầu diesel), bồn chứa dầu của các tàu, dầu thải hoặc chất thải dính dầu Việc phát tán hoặc thậm chí hàng năm để có thể dọn sạch Dầu cũng được giải phóng vào môi trường do rò rỉ tự nhiên từ các cấu trúc địa chất chứa dầu dưới đáy biển Hầu hết các vụ ô nhiễm dầu do con người đều từ hoạt động trên mặt đất, nhưng các vấn đề nổi trội đặc biệt hướng về các hoạt động vận chuyển dầu trên biển

Khi một vụ tràn dầu xảy ra, dầu nhanh chóng lan toả trên mặt nước Các thành phần của dầu sẽ kết hợp với các thành phần có trong nước, cùng với các điều kiện về sóng, gió, dòng chảy…sẽ trải qua các quá trình biến đổi không mong muốn như: Quá trình nhũ tương, quá trình lắng kết, quá trình oxy hóa, quá trình phân hủy sinh học… Chính những quá trình này đã làm giảm một cách đáng kể chất lượng nước, ảnh hưởng đến môi trường sống của con người và sinh vật Đồng thời, tác động không nhỏ đến nền kinh tế của các quốc gia gánh chịu sự cố này

Ảnh hưởng đến nền kinh tế

Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ (NRC) đưa ra con số ước đoán, hàng năm có khoảng 3,2 triệu tấn dầu làm ô nhiễm biển từ các nguồn khác nhau Nguồn ô nhiễm lớn nhất xuất phát từ các cơ sở công nghiệp và dân cư

đô thị Theo NRC, có khoảng 960.000 tấn dầu ô nhiễm từ nguồn này, chiếm 30% Đứng hàng thứ hai phải kể đến ô nhiễm do hoạt động của các tàu chở dầu, 22%, sau đó là các vụ tai nạn tàu chở dầu, 13%

Như đã trình bày ở trên, khi môi trường nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng sẽ kéo theo những tác động không nhỏ đến con người, sinh vật và nền kinh tế Chẳng hạn, ảnh hưởng kinh tế do vụ tràn dầu đối với ven bờ Vịnh Mê-hi-cô đã bắt đầu từng bước hiện rõ Trước tiên, dầu tràn đã gây ảnh hưởng sâu xa đối với sinh thái ven bờ Đại Tây Dương của Mỹ Vùng biển rộng hàng nghìn ki-lô-mét vuông trên Vịnh Mê-hi-cô bị ô nhiễm, mấy chục loài sinh vật biển và lục địa như các loài cá, chim, san hô, động vật có vú v.v

bị dầu thô đe doạ, môi trường sinh thái vùng nước bị ô nhiễm, có thể ít nhất phải mất 5 năm mới có thể khôi phục Hơn thế nữa đã tác động mạnh đến ngành du lịch ven bờ Vịnh Mê-hi-cô

Thứ hai, do vụ tràn dầu, công nghiêp dầu mỏ, chiếm trên một nửa tổng lượng kinh tế Vịnh Mê-hi-cô đứng trước thách thức nghiêm trọng Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma trước đó đã tuyên bố lệnh cấm khoan giếng và thăm dò

Trang 30

Uỷ ban Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Mỹ cũng đưa ra cảnh báo rằng, dầu tràn đã phát tán nhiều chất độc hại, mọi người một khi tiếp xúc hoặc hít vào, cơ thể sẽ xuất hiện một loạt phản ứng bất lợi, thậm chí mắc bệnh ung thư, chi phí chữa bệnh tuyệt đối là một chi tiêu lâu dài và to lớn

Ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sinh vật

Các chuyên gia đánh giá, nồng độ dầu trong nước đạt 0,1mg/l có thể gây chết các loài sinh vật phù du; ảnh hưởng lớn đến con non và ấu trùng của các sinh vật đáy; dầu bám vào cơ thể hoặc sinh vật hấp thụ qua quá trình lọc nước làm giảm giá trị sử dụng

Đối với chim biển, dầu thấm ướt lông chim, làm mất tác dụng bảo vệ thân nhiệt và chức năng nổi trên mặt nước Nhiễm dầu, chim di chuyển khó khăn, phải di chuyển chỗ ở, thậm chí bị chết Dầu còn ảnh hưởng đến khả năng nở của trứng chim

Cá - nguồn lợi lớn nhất của biển được đánh giá là loài chịu tác động tiêu cực mạnh mẽ của sự cố dầu tràn: Dầu gây ô nhiễm môi trường làm cá chết hàng loạt do thiếu oxy hòa tan trong nước; dầu bám vào cá làm giảm giá trị sử dụng do gây mùi khó chịu; dầu có thể làm trứng mất khả năng phát triển, trứng có thể bị ung, thối Ô nhiễm dầu cũng làm biến đổi cân bằng oxy, gây ra độc tính tiềm tàng trong hệ sinh thái, cản trở hoạt động kinh tế ở vùng ven biển

Ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống con người

Những nghiên cứu về hậu quả dầu tràn đối với sức khỏe con người cho thấy con người bị tổn thương thần kinh, ngoài da, mắt miệng khi tiếp xúc với hợp chất hữu cơ bay hơi trong dầu Nạn nhân có thể bị rối loạn nhận thức, mất định hướng, suy yếu tứ chi Dầu cũng gây ảnh hưởng ngắn hạn tới các chức năng của thận, phổi và gan

Tóm lại, sự cố tràn dầu đã kéo theo những hệ quả to lớn đến môi trường sống của con người và sinh vật Để giải quyết hậu quả của sự cố, cần thiết phải có sự can thiệp của các nhà khoa học trong lĩnh vực vật liệu và môi trường nhằm hạn chế những thiết hại đến mức thấp nhất Đồng thời, các nhà chức trách phải có sự kiểm soát chặt chẽ trong công tác phòng ngừa sự cố

Ở nhiều nước trên thế giới, để khắc phục sự cố tràn dầu người ta thường sử dụng các biện pháp như: cơ học, sinh học và hóa học

Trang 31

26

Đối với biện pháp cơ học, trước tiên dầu được quây gom, dồn vào một

vị trí nhất định để tránh bị lan ra trên diện rộng Có thể sử dụng phao ngăn để quây khu vực dầu tràn, chờ thu gom xử lý Sau khi dầu được quây, dùng máy hớt váng dầu hít dầu lên kho chứa Một công bố rất mới từ các nhà khoa học California về một cải tiến quan trọng trong kĩ thuật làm sạch dầu loang ở biển

đó là thiết bị tách váng dầu kiểu mới có khả năng gom một lượng lớn dầu, gấp 3 lần các thiết bị cổ điển Ưu điểm của biện pháp này là ngăn chặn, khống chế và thu gom nhanh chóng lượng dầu tràn tại hiện trường Vì vậy, biện pháp cơ học được xem là tiên quyết cho công tác ứng phó sự cố tràn dầu tại các sông, cảng, biển Song, việc xử lý sự cố tràn dầu bằng phương pháp cơ học là không triệt để, vết dầu vẫn còn lại, sẽ ảnh hưởng tới con người, môi trường và sinh vật

Biện pháp sinh học bao gồm việc sử dụng các vi sinh vật phân giải dầu như vi khuẩn, nấm mốc, nấm men Biện pháp này chỉ được thực hiện ở giai đoạn sau khi đã xử lý bằng phương pháp cơ học

Biện pháp hóa học bao gồm việc sử dụng các chất phân tán, các chất phá nhũ tương của hệ dầu - nước, các chất keo tụ và các chất hấp phụ dầu,…

I.1.5.2 Phân loại vật liệu hấp phụ [34 - 38]

Gần đây, phương pháp cải tiến các vật liệu hấp phụ để tăng khả năng hấp phụ dầu và tăng tính kị nước đang được chú trọng nghiên cứu Nhiều loại vật liệu mới đã được nghiên cứu như:

Vật liệu hấp phụ dầu hữu cơ tổng hợp

Hiện nay, vật liệu hấp phụ dầu chủ yếu được chế tạo từ các loại polyme hữu cơ tổng hợp như PP, PE, PU polyeste, polyamit, Copolyme khối trên cơ

sở của ankylstyren; polycacbodiimit, các loại copolyme khối trên cơ sở PP và

PE

Các loại vật liệu hấp phụ dầu từ polyme hữu cơ tổng hợp có các ưu và nhược điểm chính sau:

Ưu điểm: nhẹ vì có tỷ trọng thấp; không hoặc ít hút nước; có tính năng

cơ – lý cao; bền với môi trường và hóa chất; khả năng hấp phụ dầu cao; có thể sản xuất công nghiệp nên có sẵn trên thị trường; dễ dàng gia công thành sợi và từ đó dễ dàng tạo thành các sản phẩm khác nhau như các loại phao, gối, chăn, khăn,… rất tiện dụng cho công tác ứng cứu các sự cố tràn dầu;

Nhược điểm: giá thành cao; không bị phân hủy sinh học, gây ô nhiễm môi trường thứ cấp nghiêm trọng

Vật liệu hấp phụ dầu hữu cơ nguồn gốc thiên nhiên

Các sản phẩm và phế thải nông nghiệp như các loại sợi bông (bông vải, bông gạo,…), các loại cỏ bông, rêu than bùn, rơm rạ, lõi ngô, bã mía, mùn

Trang 32

Ưu điểm: giá thành rẻ, có nguồn gốc thiên nhiên và khả năng tái sinh

vô tận, thân thiện với môi trường và có khả năng tự phân hủy sinh học Phần lớn các loại vật liệu hấp phụ dầu hữu cơ có nguồn gốc thiên nhiên có cấu trúc sợi nên có thể dễ dàng gia công thành sợi và từ đó dễ dàng tạo thành các sản phẩm khác nhau như các loại phao, gối, chăn, khăn, tiện dụng cho công tác ứng cứu các sự cố tràn dầu

Nhược điểm: khả năng nổi kém vì có tỷ trọng cao, tính ưu nước (hydrophilicity) cao, tính ưa dầu (hydrophobicity) thấp vì thế vật liệu có khả năng hấp phụ dầu thấp

Vật liệu hấp phụ dầu vô cơ

Vật liệu hấp phụ dầu vô cơ gồm các loại khoáng sét (vermiculite, diatomite, perlite, cát thạch anh, thạch anh tinh thể, silica, natri bicarbonat), amberlite, khoáng sét hữu cơ, zeolite, sợi thủy tinh, than chì, than hoạt tính,…

Các ưu và nhược điểm chính của vật liệu hấp phụ dầu vô cơ kể trên như sau:

Ưu điểm: sẵn có, giá thành rẻ

Nhược điểm: có tỷ trọng cao, không tái sử dụng được, hút nước, tính

ưa dầu kém vì thế vật liệu có khả năng hấp phụ dầu thấp; khó khăn trong vận chuyển và sử dụng vì phần lớn vật liệu hấp phụ dầu vô cơ đều ở dạng bột hoặc hạt

Trên thế giới đã có rất nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu chế tạo thành công các vật liệu hấp phụ dầu Tiến sĩ S kathíean, giảng viên không công nghệ của đại học AIMST Malaysia đã chế tạo thành công vật liệu hập phụ dầu từ bột vỏ sầu riêng với khả năng hấp phụ dầu tương đối tốt; gấp 30 -40 lần (Q= 30-40) so với khối lượng vật liệu ban đầu [37] Vật liệu polyme như polypropylen, polyeste và polyuretan …, cũng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu tổng hợp chế tạo và ứng dụng trong sự cố tràn dầu Khả năng hấp phụ dầu của các này cao hơn so với vật liệu từ thiên nhiên Q = 40-60 [31, 37] Giá thành của loại vật liệu này rất đắt khoảng 100USD/kg Gần đây các nhà khoa học Trung Quốc (Xuchun Gui, Jinquan Wei, Kunli Wang) đã chế tạo thành công vật liệu xốp CNTs có khả năng hấp phụ dầu rất cao (Q=143) cao hơn nhiều lần so với các vật liệu xốp khác Đồng thời vật liệu này có ưu điểm vượt trội là có khả năng tái sử dụng nhiều lần do dễ dàng thu hồi dầu bằng phương pháp ép cơ học hoặc đốt cháy [31]

Trang 33

28

I.1.5.3 Yêu cầu kỹ thuật của các loại vật liệu hấp phụ dầu [38]

Để có thể trở thành các sản phẩm thương mại, các loại vật liệu hấp phụ dầu cần phải đáp ứng một số yêu cầu kỹ thuật sau:

- Khả năng hấp phụ dầu cao và vận tốc hấp phụ dầu nhanh và hút nước thấp;

- Khả năng lưu dầu cao trong quá trình vận chuyển;

- Khả năng thu hồi dầu (nhả hấp phụ) nhanh và bằng những phương pháp đơn giản nhất có thể;

- Có các tính chất cơ lý tốt và có khả năng tái sử dụng nhiều lần;

- Có tỷ trọng thấp, khả năng nổi cao trên mặt nước;

- Chịu được các dung môi, hóa chất thông dụng;

- Không bị phân hủy quang hóa;

- Sẵn có và giá thành rẻ;

- Đáp ứng tiêu chuẩn về khả năng hấp phụ dầu trên 1kg vật liệu hấp phụ dầu như sau:

9 Theo World Catalogue of Oil Spill Response Products,

khoảng dưới 5 kg dầu thì vật liệu hấp phụ dầu được xếp loại kém, không kinh tế và không có khả năng thành sản phẩm thương mại

9 Nếu 1kg vật liệu hấp phụ dầu hút được khoảng 5-10 kg dầu thì vật liệu hấp phụ dầu được xếp loại khá, có khả năng thương mại;

9 Còn nếu 1kg vật liệu hấp phụ dầu hút được khoảng 10 kg dầu thì vật liệu hấp phụ dầu được xếp loại tốt;

9 Theo tiêu chuẩn của Nhật Bản thì vật liệu hấp phụ dầu được chấp nhận như một mặt hàng thương mại thì phải có khả năng hấp phụ dầu ít nhất là 6 kg dầu trên 1kg vật liệu hấp phụ dầu [40]

I.1.6 Ứng dụng các vật liệu siêu kỵ nước trong quá trình tách chất

Vật liệu kỵ nước được sử dụng để loại bỏ dầu từ nước, xử lý sự cố tràn dầu và tách các chất không phân cực từ các hợp chất phân cực như tách nước khỏi dầu, tách nước khỏi hệ nhũ tương dầu – nước

Các loại vật liệu kỵ nước ưa dầu truyền thống là vật liệu aerogel được chế tạo bằng cách trộn đất sét với polyme và nước và sau đó được làm đông khô tạo ra vật liệu siêu nhẹ với độ xốp khoảng 96% [41]

Zhongxin Xue và cộng sự [42] đã chế tạo tấm lưới phủ hydrogel PAM

có đặc tính siêu kỵ nước và siêu ưa dầu Tấm lưới phủ PAM là vật liệu được phủ đồng thời một lưới thép không gỉ có cấu trúc micro với một loại vật liệu hydrogel điển hình và thân thiện với môi trường, có cấu trúc nano,

Trang 34

29

polyacrylamide (PAM) Đặc điểm của nó làm cho nó trở thành một ứng cử viên tốt làm lưới chắn lưu giữ dầu tại đầu ra của những đường ống nước thải công nghiệp, trong các vụ tràn dầu, thiết bị lọc nước nhiễm dầu; và tách dầu

có độ nhớt cao.Vật liệu mới này có thể chọn lọc tách nước từ hỗn hợp dầu/ nước như dầu thực vật, xăng, dầu diesel, và thậm chí cả hỗn hợp dầu thô/ nước cho hiệu quả làm sạch đạt trên 99%

Kangjian Tang và cộng sự [43] điều chế được màng boehmite [AlO(OH)] từ đế anodic alumina oxide (AAO), sử dụng xúc tác đồng Màng AlO(OH) có tính chất siêu kỵ nước và siêu ưa dầu với các góc tiếp xúc với

nước và dầu trên bề mặt lần lượt là 152,8 ° và 0 °

Các tác giả [44] đã đưa ra một phương pháp chế tạo một vật liệu siêu

kỵ nước và siêu ưa dầu thông qua các lớp phủ composite oxit kẽm trên màng polydimethyl siloxane Các lớp phủ này tạo ra bề mặt của vật liệu có góc tiếp

xúc với nước và dầu tương ứng là gần 160° và nhỏ hơn 5°

Gần đây, vật liệu trên cơ sở CNTs đã được đặc biệt chú ý cho ứng dụng này CNTs được sử dụng để chế tạo bộ lọc tách dầu và nước Theo Seunghyun Baik và cộng sự [45], bộ lọc VAMWNT được tổng hợp bằng cách tạo MWNTs mọc thẳng đứng trên lưới thép không gỉ bằng phương pháp lắng đọng pha hơi nhiệt hóa học, được thử nghiệm để tách riêng các lớp dầu diesel

và nước Kết quả thu được là các ống nano hình kim mọc trên lưới với các lỗ xốp kích thước micro kết hợp với năng lượng bề mặt thấp của carbon đã làm tăng cường tính chất siêu kỵ nước và siêu ưa dầu lên hơn 100 lần, góc tiếp xúc với dầu và nước đo được tương ứng là 0o và 163o (hình I.18)

Hình I.18 Bộ lọc VAMWNT tách diesel (màu đỏ) và nước (màu xanh)

(a) Góc tiếp xúc với nước (100 µL, 163 ± 4 o ),

(b) Hoạt động động học của giọt diesel,

(c) Diesel thấm qua bộ lọc một cách chọn lọc,

(d) Bình chứa được đảo ngược và áp suất thủy tĩnh của nước là 626.6 Pa

Trang 35

30

I.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM

I.2.1 Vật liệu CNTs và CNFs

Ở nước ta, việc sản xuất CNTs cũng đã được triển khai [1] Từ năm

2003, CNTs đã được tổng hợp để phát triển các ứng dụng trong các vật liệu composite, trong các thiết bị tản nhiệt, hấp thụ sóng điện từ, thiết bị phát xạ trường điện tử và đầu dò quét Hai cơ sở đầu tiên ở Việt Nam đã triển khai sản xuất CNTs với quy mô phòng thí nghiệm đó là Viện Khoa học Vật liệu- Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Khu Công nghệ cao Sài Gòn Tại Viện Khoa học Vật liệu, CNTs đã được sản xuất bằng phương pháp CVD, trung bình mỗi ngày có thể sản xuất 100-300 gam bột CNTs, với độ tinh khiết 95%, với chi phí sản xuất thấp hơn nhiều so với các nước trên thế giới, giá tương đương với giá của Trung Quốc, trong khi chất lượng sản phẩm lại tốt hơn Tại các phòng thí nghiệm trong Khu Công nghệ cao Sài Gòn, các nhà sản xuất cũng đã đưa ra một phương pháp sản xuất CNTs với chi phí thấp hơn giá nhập ngoại, đi từ nguồn nguyên liệu là bã cà phê và bã mía Năm 2009 sản lượng CNTs đạt gần 2 tấn

Về vật liệu CNF, Văn Đình Sơn Thọ và cộng sự đã công bố công trình nghiên cứu tổng hợp CNF dạng bột dựa trên phản ứng phân hủy hydrocarbon trên xúc tác [2]

Nhóm nghiên cứu của chúng tôi trong nhiều năm qua đã tiến hành một

số nghiên cứu liên quan đến việc chế tạo CNTs từ các nguồn carbon khác nhau và bước đầu có những nghiên cứu về định hình vật liệu CNTs [3 - 7] Tuy nhiên, đây mới chỉ là các nghiên cứu mang tính chất thăm dò, chưa có tính hệ thống

I.2.2 Vật liệu hấp phụ dầu

Trong những năm gần đây, vật liệu hấp phụ dầu đã được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam Các vật liệu có trong tự nhiên như rơm rạ hoặc các vật liệu xốp là những vật liệu sơ đẳng nhất được dùng để hấp phụ dầu, song dung lượng hấp phụ của chúng rất thấp, nên ít có hiệu quả, đồng thời không

thể loại bỏ hoàn toàn lớp dầu nên chỉ phù hợp với việc xử lý sơ bộ

Nhóm tác giả thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội và Viện Hóa Học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam [8] đã tiến hành chế tạo các vật liệu hấp thụ dầu trên cơ sở styren và lauryl metacrylat bằng phương pháp trùng hợp huyền phù Kết quả thí nghiệm cho thấy, khả năng hấp phụ toluen của polyme khi tỉ lệ St: LMA là 40:60 là thích hợp Khi hàm lượng styren tăng sẽ làm tăng khoảng hở bên trong của cấu trúc mạng không không gian 3 chiều của polyme vì vậy lượng dầu hấp thụ tăng Nếu hàm lượng styren tăng quá cao, khả năng co giãn linh động của mạng lưới không gian bị cản trở dẫn tới khả năng hấp phụ dầu giảm, đồng thời tính chất hút dầu của polyme phụ thuộc nhiều vào lượng toluen trong dầu Việc điều

Trang 36

I.2.3 Sự cố tràn dầu tại Việt Nam và biện pháp khắc phục [10]

Cùng với tốc độ phát triển kinh tế cao của Việt Nam trong thời gian gần đây, các ngành công nghiệp dầu khí cũng đang phát triển mạnh mẽ Sản lượng khai thác dầu thô của Việt Nam hiện đã tăng lên 20 triệu tấn/năm trong khi nền kinh tế phát triển đã đẩy mạnh nhu cầu năng lượng phục vụ các hoạt động sản xuất và lưu thông Ước tính mỗi năm các ngành kinh tế của Việt Nam tiêu thụ khoảng 11 triệu tấn dầu và các sản phẩm dầu Ngoài ra, Việt Nam còn nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế vận chuyển dầu từ Trung Đông đến Nhật Bản với lượng dầu được vận chuyển qua các tuyến đường hàng hải này lên đến 30 triệu tấn/năm

Như vậy, hàng chục triệu tấn dầu đang được lưu thông trên lãnh thổ Việt Nam mỗi năm Điều này tạo ra nguy cơ xảy ra các sự cố tràn dầu rất lớn Thực tế cũng cho thấy, các sự cố tràn dầu đã liên tục xảy từ nhiều năm trở lại đây

I.2.3.1 Sự cố tràn dầu tầu Neptune Aries

Sự cố tràn dầu tầu Neptune Aries, xảy ra ngày 3-10-1994 do tàu Neptune Aries đâm vào cầu cảng Cát Lái, sông Sài Gòn, Tp HCM Sự cố này

đã làm tràn đổ hơn 1600 tấn dầu DO ra sông Sài Gòn và hệ thống các sông nhánh và kênh rạch trong khu vực lân cận cảng Cát Lái Tổng thiệt hại về môi trường và kinh tế xã hội do hậu quả của sự cố được đánh giá rất nghiêm trọng Chủ tàu Neptune Aries đã bồi thường 4,2 triệu USD để khắc phục sự

cố và đền bù cho các thiệt hại do sự cố gây ra Theo thống kê, sự cố tràn dầu tầu Neptune Aries là sự cố có lượng dầu tràn đổ ra ngoài môi trường lớn nhất tại Việt Nam cho tới nay

I.2.3.2 Sự cố tràn dầu Formosa One

Sự cố tràn dầu tàu Formosa One xảy ra ngày 7-9-2001 tại vịnh Gành Rái tỉnh BR-VT Do không tuân thủ đúng các chỉ dẫn của cảng vụ Vũng Tàu, tàu Formosa One đã đâm va với tàu Petrolimex 01 đang neo đậu trong vịnh Gành Rái, làm tràn đổ 900 m3 (~ 750 tấn ) dầu DO Dầu tràn đã ảnh hưởng đến toàn bộ các khu vực bãi trước, mũi Nghinh Phong, đảo Long Sơn của tình

Bà Rịa – Vũng Tàu, gây thiệt hại nặng nề đến các hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, các hệ rừng phòng hộ ven biển, các bãi tắm du lịch và sức khỏe người dân địa phương Sau hơn ba năm giải quyết khiếu nại đền bù, chủ

Trang 37

do khu vực nhạy cảm cao như rừng ngập mặn, các bãi nuôi trồng thủy sản, các bãi tắm đã không được che chắn và bảo vệ kịp thời, sự cố tràn dầu tàu Formosa One vẫn gây ra thiệt hại nặng nề tới kinh tế và môi trường của tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu

I.2.3.3 Sự cố tràn dầu tàu Fortune Freighter

Sự cố tràn dầu tàu Fortune Freighter, xảy ra ngày 12-1-2003 trên sông Sài Gòn do va chạm giữa tàu biển Fortune Freighter và đoàn phương tiện tàu kéo của tỉnh đội An Giang Sự cố này đã làm tràn khoảng 300 tấn dầu DO vào môi trường Ước tính thiệt hại kinh tế và môi trường của sự cố khoảng hơn 2

I.2.3.4 Sự cố tràn dầu tàu Hồng Anh

Sự cố tràn dầu tàu Hồng Anh, xảy ra ngày 20-3-2003 do tàu Hồng Anh

bị đắm do sóng lớn trong khu vực vịnh Gành Rái, làm tràn khoảng 100 tấn dầu DO ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực rừng phòng hộ Cần Giờ và các khu vực nuôi trồng thủy sản của Huyện Cần Giờ Tổng thiệt hại về kinh tế và môi trường do sự cố gây ra được ước tính khoảng 23 tỷ đồng

UBND Huyện Cần Giờ đã nhanh chóng tổ chức cứu hộ các thuyền viên

và thông báo cho các cơ quan chức năng của Tp Hồ Chí Minh Sau khi nhận được thông báo, các lực lượng ứng cứu trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh và tỉnh BR-VT bao gồm Xí nghiệp Liên hiệp Trục vớt Cứu hộ (VISAL), Trung tâm ứng cứu Sự cố Dầu tràn quốc gia khu vực phía nam, công ty Hà Đạt, công ty Đại Minh và các cơ quan chức năng đã điều động lực lượng và phương tiện đến khu vực sự cố Đội thợ lặn của VISAL đã tiến hành bịt kín các nắp và van

để ngăn chặn rò rỉ trong khi dầu lẫn nước được hút ngay ra ngoài Các đơn vị khác như PVDrilling, Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro (VSP), Công ty Đại Minh… triển khai phao quây để cùng phối hợp trong công tác thu gom dầu

Trang 38

33

Đến ngày 26-3-2003, tàu Hồng Anh được làm nổi và đưa về cảng VISAL Vũng Tàu Hoạt động cứu hộ chấm dứt lúc 17h cùng ngày Tổng lượng dầu và nước bơm chuyển từ trong tàu ra ngoài là 567 tấn

I.2.3.5 Sự cố tràn dầu tàu Kasco Monrovia

Sự cố tràn dầu tàu Kasco Monrovia, xảy ra ngày 21-1-2005 do tàu Kasco Monrovia đâm vào trụ cảng trong khi cập cảng Saigon Petro trên sông Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh Hơn 500 tấn dầu DO đã tràn đổ ra môi trường Tổng thiệt hại được ước tính khoảng 15 tỷ đồng Việt Nam

Chỉ một giờ sau khi sự cố xảy ra, Công ty Đại Minh, được sự huy động của Sở TN&MT Tp.HCM, đã triển khai lực lượng gồm 25 nhân viên, 4 tàu ứng cứu, các tàu và ca nô phụ trợ, các phao quây dầu, và các máy hút dầu đến hiện trường sự cố Các lực lượng khác như đội ứng cứu của cảng Saigon Petro, Sở TN&MT, CSGT Đường thủy, Ban Quản lý Khu Đường sông đều có mặt ngay tại hiện trường để giải quyết sự cố

Mặc dù, các lực lượng ứng cứu đã được triển khai nhanh chóng, nhưng

do sự cố xảy ra đúng lúc triều lên gần đạt đỉnh, dòng triều đã làm dầu phân tán nhanh chóng vào hệ thông kênh rạch chằng chịt trong khu vực, tạo điều kiện không thuận lợi cho công tác thu gom dầu tràn Đến ngày 24-1-2005, các hoạt động ứng cứu được chấm dứt, tàu Kasco Monrovia được kéo về cảng Nhà Bè để sửa chữa Tổng lượng dầu thu được là khoảng 50 tấn

Thực tiễn ứng cứu các sự cố nêu trên cho thấy hiện công tác ứng cứu

sự cố ở Việt Nam vẫn chưa được phát triển mạnh mà mới chỉ chủ yếu là thu gom đơn giản Các địa phương nơi xảy ra sự cố chưa có các biện pháp bảo vệ sẵn sàng cho các khu vực nhạy cảm cũng như các nguồn lợi kinh tế quan trọng Chính vì vậy, khi dầu không thể thu gom được do các yếu tố tự nhiên không thuận lợi (gió to, sóng lớn, và dòng chảy mạnh), dầu đã ảnh hưởng trực tiếp vào các nguồn lợi kinh tế rất quan trọng như nuôi trồng thủy sản và du lịch, gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng Đây thực sự là một bài học cần được rút kinh nghiệm nhằm nâng cao từng bước và hoàn thiện năng lực công tác ứng cứu dầu tràn tại Việt Nam

I.3 KẾT LUẬN TRÊN CƠ SỞ PHÂN TÍCH LÝ THUYẾT

Trên cơ sở phân tích tổng quan tài liệu có thể rút ra kết luận như sau:

- Có nhiều phương pháp khác nhau để chế tạo CNTs, trong số đó, phương pháp phân huỷ xúc tác các khí chứa carbon là phương pháp

có triển vọng nhất để sản xuất CNTs và CNFs nhờ chi phí sản xuất thấp và hiệu suất cao Hơn nữa, phương pháp này tương đối đơn giản khi chuyển từ phòng thí nghiệm sang áp dụng thực tế

- Vật liệu nano carbon cần thiết phải được tạo hình dạng để có thể đưa vào ứng dụng thực tiễn Phương pháp sử dụng chất kết dính

Ngày đăng: 15/04/2014, 21:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. T.I.T. Okpalugo, P. Papakonstantinou, H. Murphy, J. McLaughlin, N.M.D. Brown, High resolution XPS characterization of chemical functionalised MWCNTs and SWCNTs, Carbon 43 (2005) 153–161 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Carbon 43
13. M. Daenen (N), R.D. de Fouw (ST), B. Hamers (ST, Treasurer), P.G.A. Janssen (ST), K. Schouteden (N), The Wondrous World of Carbon Nanotubes, Eindhoven University of Technology, 27-02- 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Wondrous World of Carbon Nanotubes
17. Ping Li, Tie-Jun Zhao, Jing-Hong Zhou, Zhi-Jun Sui, Ying-Chun Dai, Wei-Kang Yuan, Characterization of carbon nanofiber composites synthesized by shaping process, Carbon 43 (2005) 2701–2710 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Carbon 43
18. Marc-Jacques Ledoux, Cuong Pham-Huu, Carbon nanostructures with macroscopic shaping for catalytic applications, Catalysis Today 102–103 (2005) 2–14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Catalysis Today
23. Natnael Behabtua, Micah J. Greena, and Matteo Pasqualia, Carbon nanotube-based neat fibers Carbon, Nanotoday, Number 5-6 27, Volume 3 (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nanotoday
26. Jurgen Maul, Bruce G. Frushour, Jeffrey R. Kontoff, Herbert Eichenauer, Karl-Heinz Ott, Bayer AG, Dormagen, Christian Schade, Polystyrene and Styrene Copolymes (2007) Wiley-VCH Verlag GmbH&amp; Co. KGaA, Weinheim 10.1002/14356007.a21 615.pub2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Polystyrene and Styrene Copolymes
33. Crum, J. Peak expiratory flow rate in schoolchildren living close to Braer oil spill. British Medical Journal, 1993, 307:23–2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: British Medical Journal
44. Kangjian Tang, Jihong Yu, Yuanyuan Zhao, Yang Liu, Xiaofang Wang and Ruren Xu, Fabrication of super-hydrophobic and super-oleophilic boehmite membranes from anodic alumina oxide film via a two-phase thermal approach, J. Mater. Chem. (2006) 16, 1741-1745 Sách, tạp chí
Tiêu đề: via
45. Jilin Zhang, Gang Pu, and Steven J. Severtson, Fabrication of Zinc Oxide/Polydimethylsiloxane Composite Surfaces Demonstrating Oil- Fouling-Resistant Superhydrophobicity, ACS Appl. Mater. Interfaces, 2010, 2 (10) 2880 – 2883 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ACS Appl. Mater. Interfaces
2. Văn Đình Sơn Thọ. Chế tạo vật liệu sợi carbon và ống carbon bằng phương pháp kết tinh hóa học từ pha hơi. Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ GDĐT (2003) Khác
3. Nguyễn Đình Lâm. Nghiên cứu tổng hợp vật liệu Nano carbon (nanotube và nanofiber) bằng phương pháp phân hủy xúc tác các hợp chất chứa carbon trong điều kiện Việt Nam. Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ GDĐT (2006) mã số: B2006-DN02-02 Khác
4. Huỳnh Anh Hoàng, Nguyễn Đình Lâm. Nghiên cứu đề xuất quy trình tổng hợp carbon nano bằng phương pháp phân hủy xúc tác các hợp chất chứa carbon trong điều kiện Việt nam, Tạp chí Khoa Học và Phát triển - Sở KH&amp;CN Đà nẵng, 112 (2005) 20 Khác
5. Huỳnh Anh Hoàng, Nguyễn Đình Lâm. Cơ sở lý thuyết của việc lựa chọn xúc tác cho quá trình tổng hợp vật liệu nano carbon dạng ống và sợi bằng phương pháp kết tụ hóa học trong pha hơi, Tạp chí Khoa Học và Phát triển - Sở KH&amp;CN Đà nẵng (2009) Khác
6. Nguyễn Đình Lâm, Vũ Thị Thu Hà và cộng sự. Tạo hình và nghiên cứu tính siêu kỵ nước của vật liệu Composite C-CNTs Tạp chí Hoá học, 47, 6A (2009) 310-317 Khác
7. Nguyễn Đình Lâm. Tạo hình và những ứng dụng trong xúc tác quang hóa vật liệu tổ hợp TiO 2 -CNTs, Tạp chí KH&amp;CN, Đại học Đà Nẵng, số 4, 39 (2010) Khác
8. Nguyễn Tiến Dũng, Trịnh Đức Công, Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Hữu Trịnh. Chế tạo vật liệu hấp phụ dầu trên cơ sở styren và lảuyl metaacrylat bằng phương pháp huyền phù. Tạp chí Hóa học, số 6/07.(2011) Khác
10. Nguyễn Đức Huỳnh, Nguyễn Quang Huy, Nguyễn Trung Thuận. Ứng cứu sự cố tràn dầu tại Việt Nam: Thực tiễn và thử thách. Tuyển tập báo cao Hội nghị Khoa học công nghệ 30 năm Dầu khí Việt Nam – Cơ hội mới, thách thức mới, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Quyển 2, 339 – 350 (2005) Khác
11. Taylor and Francis. Fullenrences, Nanotubles, and Carbon Nanostructures. 19 (2010) 164 Khác
14. G. Gulino et al. C 2 H 6 as an active carbon source for a large scale synthesis/ Applied Catalysis A: General 279 (2005) 89 Khác
15. S. Pacheco Benito, L. Lefferts, Wettability of carbon nanofiber layers on nickel foils, Journal of Colloid and Interface Science, Volume 364, Issue 2 (2011), 530-538 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình I.2. Véc tơ Chiral OA - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh I.2. Véc tơ Chiral OA (Trang 12)
Hình I.7. Cấu trúc năng lượng hấp thụ quang của CNTs - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh I.7. Cấu trúc năng lượng hấp thụ quang của CNTs (Trang 16)
Hình I.9. Phổ Raman của SWNTs - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh I.9. Phổ Raman của SWNTs (Trang 17)
Hình I.10. Hình mô phỏng góc tiếp xúc (a) - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh I.10. Hình mô phỏng góc tiếp xúc (a) (Trang 18)
Hình I.11. Cơ chế mọc của ống CNTs - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh I.11. Cơ chế mọc của ống CNTs (Trang 19)
Hình I.12. Sơ đồ thiết bị phóng điện hồ quang - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh I.12. Sơ đồ thiết bị phóng điện hồ quang (Trang 20)
Hình I.13. Sơ đồ thiết bị bốc bay nhờ laser - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh I.13. Sơ đồ thiết bị bốc bay nhờ laser (Trang 22)
Hình I.14. Sơ đồ công nghệ CVD - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh I.14. Sơ đồ công nghệ CVD (Trang 23)
Hình I.18. Bộ lọc VAMWNT tách diesel (màu đỏ) và nước (màu xanh) - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh I.18. Bộ lọc VAMWNT tách diesel (màu đỏ) và nước (màu xanh) (Trang 34)
Hình II.3 Thiết bị lọc nước trong hệ dầu-nước - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh II.3 Thiết bị lọc nước trong hệ dầu-nước (Trang 46)
Hình III.1. Ảnh SEM và TEM mẫu CNTs tổng hợp ở 650 o C - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh III.1. Ảnh SEM và TEM mẫu CNTs tổng hợp ở 650 o C (Trang 48)
Hình III.2. Lượng CNTs tạo thành khi xét tương tác giữa nồng độ LPG  (x1) và vận tốc dòng (x2) - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh III.2. Lượng CNTs tạo thành khi xét tương tác giữa nồng độ LPG (x1) và vận tốc dòng (x2) (Trang 49)
Hình III.3. Lượng CNTs tạo thành khi xét tương tác giữa nồng độ LPG  (x1) và nhiệt độ tổng hợp (x3) - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh III.3. Lượng CNTs tạo thành khi xét tương tác giữa nồng độ LPG (x1) và nhiệt độ tổng hợp (x3) (Trang 50)
Hình III.4. Lượng CNTs tạo thành khi xét tương tác giữa vận tốc dòng  (x2) và nhiệt độ tổng hợp (x3) - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh III.4. Lượng CNTs tạo thành khi xét tương tác giữa vận tốc dòng (x2) và nhiệt độ tổng hợp (x3) (Trang 50)
Hình III.5. Lượng CNTs tạo thành ứng với các giá trị T o C khác nhau - Nghiên cứu chế tạo vật liệu mới hấp phụ chọn lọc dầu trong hệ đầu nước có khả năng ứng dụng trong quá trình tách chất và trong xử lý sự cố tràn dầu
nh III.5. Lượng CNTs tạo thành ứng với các giá trị T o C khác nhau (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w