Tên tài liệu : Biên soạn đề cương tuyên truyền pháp luật1. Một số vấn đề chung1.1. Khái niệm đề cươngĐề cương tuyên truyền văn bản pháp luật là tài liệu dùng để tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn, phổ biến một văn bản pháp luật, một vấn đề pháp lý mà người sử dụng có thể dựa vào đó để nghiên cứu nội dung văn bản, các trọng tâm cần tập trung tuyên truyền, phổ biến văn bản hoặc để biên soạn các tài liệu tuyên truyền khác một cách cụ thể, sát hợp, sinh động, phù hợp với bối cảnh, đối tượng nhưng vẫn đảm bảo cho đối tượng hiểu chính xác nội dung văn bản và thực hiện thống nhất. Mặt khác, đề cương tuyên truyền còn có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức triển khai tuyên truyền văn bản pháp luật phù hợp với từng loại đối tượng, trên từng địa bàn.1.2. Sự cần thiết phải xây dựng đề cương tuyên truyền pháp luật Nhiệm vụ cơ bản của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là làm cho mọi ngành, mọi cấp, mọi cơ quan, tổ chức, mọi công dân đều hiểu biết pháp luật để nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ, nhân dân. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai ở nhiều ngành, nhiều cấp, bằng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau. Yêu cầu xuyên suốt trong quá trình triển khai là mọi người phải hiểu đúng các quy định của pháp luật để từ đó vận dụng một cách thống nhất, vì vậy họ phải nắm bắt được tư tưởng chủ đạo của văn bản trước khi nắm văn bản, những vấn đề cốt lõi khi xây dựng văn bản quy định những vấn đề gì, quy định như thế nào và tại sao lại quy định như vậy. Việc xây dựng một quy phạm pháp luật, một văn bản quy phạm pháp luật luôn bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học, kỹ thuật, tài chính, phong tục, truyền thống, trình độ dân trí... Vì vậy, chỉ với những tài liệu, kiến thức đã tích luỹ được trong quá trình lâu dài và cả những gì nắm được trong quá trình dự thảo văn bản, với trình độ pháp lý và kinh nghiệm nghề nghiệp nhất định, người viết đề cương mới thâu tóm được tinh thần văn bản đưa vào đề cương.Đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật còn có tác dụng hướng dẫn chỉ đạo việc triển khai tuyên truyền văn bản. Vì vậy, viết đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật bao giờ cũng giữ một vị trí quan trọng trong công tác chỉ đạo và tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật. 1.3. Đối tượng sử dụng đề cươngĐối tượng sử dụng đề cương tuyên truyền rất đa dạng, thường là các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, phóng viên báo đài, cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan tư pháp và cán bộ làm công tác pháp chế của các bộ, ngành, đoàn thể và các doanh nghiệp. 1.4. Yêu cầu của việc xây dựng đề cươngXây dựng đề cương tuyên truyền pháp luật cần bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau:Về hình thức: Bố cục đề cương phải rõ ràng, chặt chẽ, hợp lý. Ngôn ngữ được sử dụng trong đề cương phải là ngôn ngữ đại chúng, cách hành văn giản dị, trong sáng, dễ hiểu. Diễn đạt phải mạch lạc, súc tích, ngắn gọn.Về nội dung: Đề cương phải tạo điều kiện cho người sử dụng hiểu đúng mục đích, ý nghĩa của việc ban hành văn bản pháp luật, hiểu chính xác quy định của pháp luật, nắm được nội dung chính, những vấn đề trọng tâm của văn bản pháp luật, cách vận dụng văn bản trong các quan hệ pháp luật. Về thời gian: Để đảm bảo tính thời sự của văn bản, đề cương tuyên truyền cần được biên soạn và cung cấp kịp thời cho các đối tượng để tổ chức triển khai tuyên truyền, phổ biến trước ngày văn bản có hiệu lực pháp luật, tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật được thống nhất. 1.5. Yêu cầu đối với người viết đề cương Để đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật có chất lượng, yêu cầu người viết đề cương tuyên truyền pháp luật cần đáp ứng các yêu cầu sau đây:- Có trình độ pháp lý nhất định. Chất lượng của đề cương tuyên truyền pháp luật phụ thuộc nhiều vào trình độ pháp luật của người viết đề cương, vì thế để đảm bảo yêu cầu tối thiểu của đề cương, người viết đề cương phải được đào tạo về pháp luật hoặc có nhiều năm công tác thực tiễn trong lĩnh vực đó.- Nắm vững nội dung văn bản. Người viết đề cương tuyên truyền pháp luật có thể là người trực tiếp tham gia vào quá trình soạn thảo, cho ý kiến hoặc thẩm định nội dung văn bản pháp luật đó, thì họ chính là người hiểu rõ nhất những nội dung quan trọng và những vấn đề cốt lõi của văn bản pháp luật (như đối tượng, phạm vi điều chỉnh). Trong trường hợp, người viết đề cương tuyên truyền không phải là người trực tiếp tham gia vào quá trình soạn thảo, cho ý kiến hoặc thẩm định nội dung văn bản pháp luật đó, thì cần phải tìm hiểu và nắm vững nội dung của văn bản đó trước khi viết đề cương.- Hiểu sâu sắc vấn đề mà văn bản pháp luật điều chỉnh. Để đáp ứng yêu cầu này, người viết đề cương phải nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng về các vần đề cần nêu, các văn bản gốc và các văn bản có liên quan khác nếu có, tìm hiểu pháp luật của nước ta trước đây và pháp luật của nước ngoài quy định về vấn đề đó, các tài liệu, lý luận, giáo khoa và đôi khi phải tìm hiểu cả về mặt kỹ thuật nghiệp vụ trong lĩnh vực đó.- Hiểu rõ đối tượng sử dụng đề cương. Đối tượng sử dụng đề cương tuyên truyền pháp luật thường là cán bộ làm công tác tuyên truyền của các ngành, các cấp; báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật của các cơ quan, đơn vị, tổ chức và đội ngũ phóng viên, biên tập viên của các cơ quan thông tin đại chúng chuyên viết về pháp luật để từ đó người viết đề cương tuyên truyền có cách viết cho phù hợp với trình độ, nghề nghiệp, tâm lý lứa tuổi... - Nắm vững tình hình kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán, truyền thống ... tình hình vi phạm pháp luật và yêu cầu quản lý về từng lĩnh vực. Do đó, người viết đề cương tuyên truyền cần phải tích luỹ tài liệu, kiến thức, bám sát thực tế cuộc sống, có quan hệ phối hợp rộng rãi với các cơ quan ban, ngành.- Có vốn ngôn ngữ phong phú, lối hành văn giản dị, trong sáng, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ vận dụng. 2. Nội dung cơ bản của Đề cươngĐề cương tuyên truyền một văn bản pháp luật thường bao gồm 3 phần chính sau đây:Phần 1. Những vấn đề chungPhần này thường nêu sự cần thiết, mục đích, ý nghĩa của việc ban hành văn bản. Phần này cũng cần nêu nguồn gốc pháp lý của văn bản (xuất phát từ Hiến pháp, Luật hoặc các văn bản quy phạm khác), vị trí, vai trò của văn bản trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quan điểm và những nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng văn bản pháp luật; tư tưởng chủ đạo và yêu cầu của công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội trong đời sống hàng ngày và yêu cầu của chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước ta. Phần 2. Giới thiệu văn bảnMột trong những yêu cầu vô cùng quan trọng của đề cương tuyên truyền là giúp đối tượng nắm bắt một cách khái quát về nội dung của văn bản đó mà không thể đi sâu giới thiệu hết các chương, các điều của văn bản đó. Vì vậy phần đầu của đề cương phải giới thiệu bố cục của văn bản với nguyên văn tên các phần, chương, mục để người đọc khái quát được nội dung của văn bản pháp luật đó.Giới thiệu bố cục văn bản: số chương, tên các chương, số điều trong chương để người sử dụng có thể hình dung khái quát nội dung văn bản. Nội dung chủ yếu của văn bản: - Nhiệm vụ của văn bản;- Đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh của văn bản;- Những nguyên tắc chung chi phối các quy định trong văn bản;- Những vấn đề được đề cập trong nội dung văn bản, ý nghĩa các quy phạm, chế định trong văn bản;- Những điểm mới trong văn bản so với pháp luật hiện hành, những điểm sửa đổi, bổ sung, lý do sửa đổi, bổ sung, ý nghĩa của việc sửa đổi, bổ sung. Khi cần thiết có thể nêu một số vấn đề gây tranh luận, những vấn đề đang tồn tại;- Quyền, nghĩa vụ của các chủ thể và những người có liên quan, các quy định, thủ tục phải thực hiện;- Vị trí của văn bản trong hệ thống pháp luật hiện hành, các văn bản sẽ ban hành kèm theo (nếu có).Phần 3. Tổ chức thực hiệnĐây là phần hướng dẫn người sử dụng đề cương chủ yếu là các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, các cơ quan thông tin đại chúng. Trong phần này cần làm rõ các vấn đề:- Nêu trọng tâm, trọng điểm tuyên truyền, gắn tuyên truyền văn bản với việc thực hiện những chủ trương lớn, những vấn đề thời sự và yêu cầu quản lý của ngành, của địa phương; - Đưa ra các gợi ý về biện pháp tổ chức thực hiện, phương pháp và hình thức tuyên truyền đối với từng loại đối tượng, từng địa bàn căn cứ vào nhu cầu của đối tượng và điều kiện kinh tế xã hội của địa phương; đặc biệt là tập trung quan tâm đến đối tượng cần chú trọng tuyên truyền;- Phương hướng phối hợp giữa ngành tư pháp, các ngành hữu quan và các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tổ chức tuyên truyền văn bản.Phần 4. Phụ lục (nếu có) Trong điều kiện có thể, đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật nên có các tài liệu tham khảo kèm theo bao gồm các số liệu, các trích dẫn để khẳng định, chứng minh, so sánh, mở rộng những vấn đề đã nêu trong đề cương nhằm giúp cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền pháp luật; báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật ở các cấp, các ngành có điều kiện tham khảo, dẫn chứng khi thực hiện các hoạt động tuyên truyền pháp luật cho cán bộ và nhân dân. 3. Các bước cần thiết để viết Đề cươngĐể viết được một đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật hoàn chỉnh và có chất lượng, thường được tiến hành qua các bước sau: Bước 1: Chuẩn bị - Nghiên cứu văn bản pháp luật mới ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung.- Thu thập và nghiên cứu kỹ các tài liệu có liên quan trong quá trình xây dựng văn bản như: tờ trình về việc ban hành văn bản; báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp cho dự thảo văn bản; các văn kiện của Đảng, chính sách của nhà nước; các tài liệu trong nước và nước ngoài liên quan đến nội dung văn bản để nắm được xuất xứ của văn bản (nếu là văn bản ban hành lần đầu), văn bản gốc và yêu cầu thực tế khách quan liên quan đến những nội dung cần sửa đổi, bổ sung (đối với văn bản sửa đổi, bổ sung).- Tìm hiểu đối tượng sử dụng, mục đích sử dụng đề cương để đưa ra các hướng dẫn, chỉ đạo cách thức, biện pháp tuyên truyền thích hợp. - Nghiên cứu tình hình kinh tế xã hội, phong tục, truyền thống, tình hình vi phạm pháp luật, yêu cầu quản lý về lĩnh vực đề cập trong văn bản, để phân tích các vấn đề nêu ra trong văn bản đã đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội và yêu cầu của công tác quản lý trong lĩnh vực đó.Bước 2: Biên soạn đề cương. Trước khi viết một đề cương hoàn chỉnh, thường xây dựng bố cục đề cương chi tiết. Sau khi lãnh đạo thông qua bố cục đề cương, có thể: - Trực tiếp biên soạn bằng cách dựa trên cơ sở đề cương chi tiết và các tài liệu đã được nghiên cứu để viết đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật.- Phối hợp với các cơ quan chuyên môn tham gia soạn thảo văn bản đề nghị viết theo bố cục đề cương chi tiết.Bước 3: Biên tập đề cương.Bước 4: Hoàn chỉnh, in ấn và gửi cho các đối tượng sử dụng
Trang 1ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT
Trang 21.1.Giới thiệu chung về tuyên truyền miệng trong PBGDPL
1 Khái niệm, vị trí, vai trò của tuyên truyền miệng trong phổ biến, giáo dục pháp luật
Tuyên truyền miệng về pháp luật là một hình thức tuyên truyền mà ngườinói trực tiếp nói với người nghe về lĩnh vực pháp luật trong đó chủ yếu là phổbiến, giới thiệu các quy định pháp luật nhằm nâng cao nhận thức pháp luật chongười nghe, hướng cho người nghe hành động theo các chuẩn mực pháp luật
Tuyên truyền miệng pháp luật có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhiều hình thứctuyên truyền khác; lồng ghép với các hình thức tuyên truyền khác và là một bộphận quan trọng trong tổng thể các hình thức tuyên truyền pháp luật Điều đó đượcthể hiện như sau:
- Tuyên truyền miệng là một công đoạn không thể thiếu trong phần lớn các hìnhthức tuyên truyền pháp luật Ví dụ: Tuyên truyền pháp luật thông qua công tác hòagiải ở cơ sở thì hòa giải viên vẫn phải trực tiếp nói cho người được hòa giải về cácnội dung pháp luật có liên quan
- Tuyên truyền miệng pháp luật là hình thức chủ yếu được thực hiện thông qua hộinghị, hội thảo, tập huấn, sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật; là biện pháp chủ yếu củaphổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng nhưbáo nói, báo hình, qua mạng lưới truyền thanh cơ sở
- Trong việc thực hiện tuyên truyền miệng pháp luật, báo cáo viên phải sử dụnglồng ghép với các hình thức tuyên truyền pháp luật khác, ví dụ như: trước khi tuyêntruyền, báo cáo viên cần phải biên soạn đề cương mà giá trị của nó được coi như làtài liệu tuyên truyền, phổ biến pháp luật; trong khi tuyên truyền miệng, báo cáoviên sử dụng các hình ảnh minh họa có giá trị như là tuyên truyền thông qua tranhảnh trực quan
- Tuyên truyền miệng là hình thức tuyên truyền linh hoạt, có nhiều ưu thế, có thểtiến hành ở bất cứ nơi nào, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào với số lượngngười nghe không bị hạn chế Khi thực hiện việc tuyên truyền miệng, người nói có
đủ điều kiện thuận lợi để giải thích, phân tích, sáng tỏ nội dung cần tuyên truyền
2 Quy mô và đối tượng của tuyên truyền miệng pháp luật
Trang 3Quy mô của tuyên truyền miệng pháp luật rất đa dạng Có thể tổ chức dưới dạnghội nghị, lớp tập huấn, các buổi nói chuyện chuyên đề thu hút nhiều người nghehoặc có thể tổ chức dưới hình thức tuyên truyền miệng cá biệt chỉ có một hoặc vài
ba người
Đối tượng của tuyên truyền miệng rất phong phú cho đủ mọi thành phần: cán bộ, tríthức, công nhân, nông dân, doanh nhân, phụ nữ, người cao tuổi, thanh thiếuniên Như vậy, đối tượng của tuyên truyền miệng là bất cứ người nào trong xã hộiđang cần được tuyên truyền, phổ biến pháp luật
Trên cơ sở 3 tiêu chí chính: Đối tượng, quy mô và không gian, người nói cần lưu ýnghiên cứu tâm lý người nghe trong các lớp tập huấn, các buổi nói chuyện chuyên
đề, các buổi họp, các buổi tuyên truyền cá biệt
1.2.Phương thức tổ chức một số hình thức tuyên truyền miệng pháp luật
1 Mở các lớp tập huấn
Nội dung tập huấn có thể là một văn bản pháp luật quan trọng kèm theo văn bảnhướng dẫn thi hành hoặc nhiều văn bản pháp luật độc lập Những văn bản pháp luậtnày có thể là văn bản tuyên truyền lần đầu hoặc là văn bản được tuyên truyền lặp lại.Học viên của lớp tập huấn là những báo cáo viên, biên tập viên, phóng viên, cán bộthi hành pháp luật, cán bộ quản lý trong lĩnh vực văn bản điều chỉnh
Ở các lớp tập huấn, giảng viên không chỉ giới thiệu về các nội dung cơ bản của vănbản mà phải đi sâu vào những vấn đề liên quan đến các lĩnh vực nghiệp vụ nhất định:thẩm quyền của các chủ thể, các biện pháp quản lý, thủ tục tiến hành các công việc.Chú trọng đổi mới phương pháp tập huấn, kết hợp phương pháp truyền thống vàphương pháp hiện đại, lấy người học là trung tâm, áp dụng phương pháp tích cực,mọi người cùng tham gia, có sự trao đổi qua lại giữa học viên và giảng viên, huyđộng tính tích cực tham gia của học viên, giảng viên chỉ là người hướng dẫn, địnhhướng cho học viên vừa học lý thuyết vừa thực hành; kết hợp với các phương tiện hỗtrợ như tranh ảnh, băng hình để buổi tập huấn sinh động, người học dễ tiếp thu, thuộcbài ngay tại lớp và biết vận dụng thành thạo trong thực tiễn
Việc tổ chức các lớp tập huấn có thể ở quy mô lớn (mấy trăm người) cũng có thể ởquy mô nhỏ (mấy chục người) Lưu ý cần bố trí thời gian để triệu tập được đúng, đủhọc viên, có quy chế để việc học tập được nghiêm túc Cũng cần tổ chức viết thuhoạch hoặc kiểm tra, tổ chức đánh giá kết quả tập huấn (qua phiếu, phỏng vấn trực
Trang 4tiếp…), cấp chứng chỉ để kích thích ý thức và tinh thần học tập của học viên Về hìnhthức nên có trang trí, khai mạc, bế mạc để lớp học trang trọng và tăng tính hiệu quả.
2 Nói chuyện chuyên đề về pháp luật
Một buổi nói chuyện chuyên đề về pháp luật thường là một buổi nói về một lĩnh vựcchính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quản lý gắn với một số chế định, ngành luật Mộtbuổi nói chuyện chuyên đề thường không đóng khung trong phạm vi pháp luật, trongkhuôn khổ một vấn đề khép kín mà mở ra nhiều lĩnh vực có liên quan, nhiều hướngsuy nghĩ Chính vì thế, các buổi nói chuyện chuyên đề thường thu hút được đông đảobáo cáo viên pháp luật, cán bộ nghiên cứu, cán bộ xây dựng pháp luật, cán bộ tuyêntruyền pháp luật, hòa giải viên, thành viên các Câu lạc bộ pháp luật tham gia
Báo cáo viên trong các buổi nói chuyện chuyên đề phải là người có kiến thức chuyênngành sâu rộng về lĩnh vực được trình bày và am hiểu pháp luật
Khi tổ chức một buổi nói chuyện chuyên đề nói chung và chuyên đề pháp luật nóiriêng, người ta thường gắn vào các sự kiện chính trị, thời sự, những ngày có ý nghĩalịch sử
3 Lồng ghép việc tuyên truyền pháp luật vào một buổi họp
Do đối tượng dự, buổi họp rất đa dạng, có thể là cán bộ, công chức; người quản lýdoanh nghiệp; người lao động; người dân ở thôn, bản, tổ dân phố, cho nên tùy từngđối tượng mà người tuyên truyền lựa chọn nội dung pháp luật để lồng ghép cho phùhợp Nội dung pháp luật được truyền tải có thể trên cơ sở kế hoạch của cấp trên hoặc
có thể do cán bộ tuyên truyền đề xuất trên cơ sở tình hình chính trị, kinh tế, xã hộicủa địa phương
Khi lồng ghép nội dung pháp luật vào một buổi họp, điểm quan trọng bậc nhất là cáchđặt vấn đề với người nghe Cần đặt vấn đề sao cho người nghe thấy rằng vì sự quantrọng và cấp thiết của việc tuyên truyền văn bản pháp luật lồng ghép vào hội nghị,cuộc họp này chứ không phải “nhân thể” hội nghị, cuộc họp này mà phổ biến vănbản Nếu có thể được, người nói công bố việc tuyên truyền pháp luật là một nội dungtrong chương trình cuộc họp hoặc công bố chương trình cuộc họp trước cho người dựcuộc họp Một việc quan trọng nữa là xác định thời điểm, bối cảnh để phổ biến phápluật sao cho hợp lý nhất để người nghe dễ tiếp thu và tạo không khí thoải mái chongười nghe Qua đó, việc lồng ghép tuyên truyền pháp luật vào cuộc họp sẽ đạt đượchiệu quả cao hơn
Trang 54 Tuyên truyền miệng cá biệt
Tuyên truyền miệng cá biệt là hình thức tuyên truyền miệng về pháp luật mà đốitượng (người nghe) chỉ có một hoặc vài ba người Nếu như tuyên truyền trong hộinghị cung cấp cho người nghe hiểu biết chung về pháp luật thì tuyên truyền cá biệtthường cung cấp cho người nghe những nội dung pháp luật cụ thể; vận dụng phápluật trong những trường hợp, hoàn cảnh cụ thể mà người nghe đang quan tâm Hìnhthức tuyên truyền này thường được sử dụng trong trường hợp người thừa hành phápluật làm việc với đối tượng của mình; người tư vấn pháp luật hướng dẫn, giải thíchcho người được tư vấn; cán bộ trợ giúp pháp lý hướng dẫn, trợ giúp pháp luật chongười được trợ giúp
Trong tuyên truyền cá biệt, người nói thường ở vị trí “có lợi” đối với người nghe.Nhưng không vì thế mà trong khi thực hiện nhiệm vụ, người nói có thái độ áp đặt, lờinói mệnh lệnh đối với họ mà phải làm cho họ thực sự hiểu, tin, tôn trọng pháp luật, từ
đó tự giác tuân thủ pháp luật Muốn vậy người nói phải căn cứ từng đối tượng mà cóbiện pháp tuyên truyền thích hợp; tìm hiểu sâu hoàn cảnh, truyền thống của gia đình
họ, vận dụng đạo lý, phong tục, tập quán, mục đích, ý nghĩa của các quy phạm phápluật để giải thích, thuyết phục họ
Để chuẩn bị cho buổi tuyên truyền cá biệt đạt kết quả, cán bộ làm công tác tuyêntruyền pháp luật cần chuẩn bị các nội dung sau đây:
- Các quy định pháp luật liên quan đến sự việc của đương sự;
- Dự kiến tình huống, câu hỏi mà đương sự có thể hỏi, chất vấn;
- Phong tục, tập quán ở địa phương, đạo lý và những kiến thức xã hội có thể phải vậndụng;
- Nhân thân đương sự: Hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật của đương sự trước đây;điều kiện, hoàn cảnh, truyền thống gia đình, nguyện vọng của đương sự
Khi tuyên truyền cá biệt đòi hỏi phải vận dụng kỹ năng tuyên truyền miệng hết sứctinh tế Người nói còn phải là người nhạy cảm, tâm lý và có kinh nghiệm trong côngtác này Bên cạnh đó, để thuyết phục người nghe, tin ở pháp luật thì người nói phảithể hiện để người nghe tin mình là một cán bộ, công chức tốt (không có biểu hiệntham nhũng, cửa quyền, hách dịch, gây phiền hà, có trách nhiệm với công việc, liêmkhiết ) Trong khi tuyên truyền miệng cá biệt, những quy tắc tuyên truyền hội nghị
Trang 6không thể áp dụng một cách cứng nhắc, thậm chí học hàm, học vị, chức vụ củangười nói không có ý nghĩa lớn đối với người nghe.
Điều quan trọng nhất là người nói phải tạo được lòng tin, sự tôn trọng của ngườinghe; làm sao để người nghe tin rằng vận dụng pháp luật vào điều kiện, hoàn cảnhnày là hoàn toàn chính xác Như vậy, nếu một buổi tuyên truyền pháp luật ở hội nghịnhằm đạt yêu cầu chung là nâng cao niềm tin, hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luậtcho người nghe bằng cách cung cấp các hiểu biết, nhận thức chung về pháp luật cho
họ thì tuyên truyền cá biệt có mục đích cao hơn là thông qua việc vận dụng pháp luậtvào một hoàn cảnh, sự việc cụ thể để nâng cao niềm tin, ý thức chấp hành pháp luậtcủa người nghe Để đạt được mục đích, yêu cầu này người nói không những phải amhiểu pháp luật, hiểu biết đời sống xã hội mà phải có sự cảm thông sâu sắc với cuộcsống của đối tượng Đôi khi, trong quá trình tuyên truyền cá biệt người nói cần phảitâm sự chân tình, chia sẻ với người nghe về hoàn cảnh của họ; có những lời khuyên,động viên một cách chân thành, tình cảm để tạo sự tin tưởng, yêu mến của ngườinghe với mình Đó là những yếu tố cơ bản để thuyết phục đối tượng
1.3.Kỹ năng tuyên truyền miệng về pháp luật
1 Gây thiện cảm ban đầu cho người nghe
Việc gây thiện cảm ban đầu cho người nghe rất quan trọng Thiện cảm ban đầuthể hiện ở nhân thân, tâm thế và biểu hiện của người nói khi bước lên bục tuyêntruyền Danh tiếng, phẩm chất đạo đức, học hàm, học vị, chức vụ của người nói lànguồn thiện cảm ban đầu cho người nghe; kích thích người nghe háo hức chờ đónbuổi tuyên truyền Thiện cảm ban đầu tạo ra sự hứng thú, say mê của người nghe,củng cố được niềm tin về vấn đề đang tuyên truyền Thiện cảm ban đầu còn được tạo
ra bởi khung cảnh của hội trường, khung cảnh của diễn đàn, dáng vẻ bề ngoài, yphục, nét mặt, cử chỉ, phong thái, lời giao tiếp ban đầu Như vậy, báo cáo viên cầnphải tươi cười bao quát hội trường, có lời chào mừng, chúc tụng, có câu mở đầu dídỏm, hài hước, công bố thời gian, chương trình làm việc rõ ràng, thoải mái sẽ gâyđược thiện cảm ban đầu đối với người nghe Thế nhưng, thiện cảm ban đầu chủ yếu
là ở cách đặt vấn đề đầu tiên của người nói Trong những phút đầu tiên của bài giớithiệu, người nói phải nêu được khoảng từ 3, 4 vấn đề chủ yếu mà người nghe cần tìmhiểu nhất Ví dụ khi tuyên truyền cho đối tượng là công nhân về Bộ luật Lao động thìcác vấn đề mà công nhân quan tâm nhất là hợp đồng lao động; bảo hộ lao động; thờigiờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương; bảo hiểm xã hội Việc nêu các vấn đề
đó còn tuỳ thuộc ở khả năng thuyết trình của báo cáo viên Báo cáo viên có thể bắt
Trang 7đầu từ một câu chuyện pháp luật được các phương tiện thông tin đại chúng nói đếnnhiều thời gian qua hoặc có thể bắt đầu từ một bộ phim đã chiếu khá phổ biến hoặccũng có thể bằng các tình huống xảy ra gần địa bàn nơi tổ chức tuyên truyền
2 Tạo sự hấp dẫn, gây ấn tượng trong khi nói
Nghệ thuật tuyên truyền là tạo nên sự hấp dẫn, gây ấn tượng bằng giọng nói,điệu bộ, ngôn ngữ Giọng nói phải rõ ràng, mạch lạc nhưng truyền cảm Hết sứctránh lối nói đều đều Giọng nói, âm lượng phải thay đổi theo nội dung và nhấn mạnhvào những điểm quan trọng, cần phải chú ý Động tác, cử chỉ cần phải phù hợp vớinội dung và giọng nói để nâng cao hiệu quả tuyên truyền của lời nói Sắc thái có tácdụng truyền cảm rất lớn Vẻ mặt của người nói cần thay đổi theo diễn biến của nộidung Khi nói, cần chú ý nhìn vào một nhóm người ngồi dưới, thỉnh thoảng ngườinói cần thay đổi vị trí nhìn để tạo sự chú ý của cử tọa Người nói cần đưa ra số liệu,
sự kiện để minh hoạ, đặt câu hỏi để tăng thêm sự chú ý của người nghe
Người nói cũng cần phát huy vai trò thông tin, truyền cảm của ngôn ngữ bằngcách sử dụng chính xác, đúng mực thuật ngữ pháp lý, thuật ngữ chuyên ngành vàngôn ngữ phổ thông Người nói có thể kết hợp, lồng ghép, sử dụng hợp lý, chính xác
ý tứ, ngôn từ trong kinh điển, thơ văn, ca dao, dân ca vào buổi tuyên truyền pháp luật
để tăng tính hấp dẫn, thuyết phục đối với người nghe
3 Bảo đảm các nguyên tắc sư phạm trong tuyên truyền miệng
Người nói cần tôn trọng các nguyên tắc sư phạm Từ bố cục bài nói, diễn đạtcác đoạn văn, liên kết giữa các đoạn văn đến cách nói đều phải rõ ràng, mạch lạc,lôgic Người nghe cần được dẫn dắt từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ gầnđến xa (phương pháp suy diễn) hoặc từ xa đến gần (phương pháp quy nạp) và tuỳtừng vấn đề mà dùng lý luận soi sáng cho thực tiễn hoặc từ thực tiễn mà đi sâu vào lýluận Mục đích cuối cùng vẫn là để người nghe hiểu rõ hơn, toàn diện hơn về nhữngvấn đề mà người nói đã nêu ra Tuy nhiên dù phân tích, diễn giải rộng hay hẹp đềuphải luôn bám sát trọng tâm của vấn đề
4 Sử dụng phương pháp thuyết phục trong tuyên truyền miệng
Tuyên truyền miệng về pháp luật chủ yếu dùng phương pháp thuyết phục với
ba bộ phận cấu thành là chứng minh, giải thích và phân tích
- Chứng minh là cách thuyết phục chủ yếu dựa vào các dẫn chứng xác thực,
Trang 8ra gồm số liệu, sự kiện, hiện tượng, nhân chứng, danh ngôn, kinh điển Để có sứcthuyết phục, các dẫn chứng được đưa ra phải chính xác, tiêu biểu, toàn diện và sáthợp với vấn đề nêu ra.
- Giải thích là việc dùng lý lẽ để giảng giải giúp người nghe hiểu rõ và hiểu
đúng vấn đề Lập luận trong khi giải thích phải chặt chẽ, chính xác, mạch lạc, khúctriết, không ngụy biện
- Phân tích là diễn giải, đánh giá vấn đề nhằm tìm được đặc điểm, bản chất,
điểm mạnh, điểm yếu, điểm tốt, điểm xấu, sự phù hợp, không phù hợp của vấn đề.Việc phân tích phải dựa trên cơ sở khoa học, không được cường điệu mặt này hay hạthấp mặt kia Sau khi phân tích phải có kết luận, đánh giá, hướng người nghe vàođịnh hướng tư duy đúng đắn, không làm cho người nghe hoài nghi, dao động, hoangmang
5 Các bước tiến hành một buổi tuyên truyền miệng về pháp luật
Để có một buổi tuyên truyền miệng pháp luật cần qua 2 bước:
5.1 Bước chuẩn bị: gồm 5 nội dung chính sau đây :
- Nắm vững đối tượng truyên truyền: Báo cáo viên cần nắm vững đối tượng
tuyên truyền qua các yếu tố về số lượng; thành phần (trí thức, công nhân, nông dân,học sinh, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, phụ lão ); trình độ văn hoá; tình hình thựchiện pháp luật ở cơ sở; ý thức thực hiện pháp luật và nhu cầu tìm hiểu pháp luật củađối tượng
Báo cáo viên có thể nắm vững đối tượng bằng phương pháp trực tiếp (tự điềutra, tìm hiểu, gặp gỡ, quan sát ) hoặc bằng phương pháp gián tiếp (qua tài liệu, sáchbáo, báo cáo tổng kết, trao đổi với người tổ chức buổi tuyên truyền ) Cần có thôngtin đầy đủ từ phía cơ quan tổ chức tuyên truyền về thành phần dự Chú ý những thayđổi có thể diễn ra về thành phần người nghe
- Nắm vững vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh: Đó là các
vấn đề về kỹ thuật nghiệp vụ chuyên ngành, đường lối của Đảng, pháp luật của nhànước trong lĩnh vực đó, các tài liệu lý luận, giáo khoa, các tài liệu của nước ngoàitrong lĩnh vực đó Để nắm vững vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà văn bản điều chỉnhđòi hỏi báo cáo viên ngoài trình độ chuyên môn tốt cần phải có quá trình tích lũy, sưutầm với một ý thức trách nhiệm và lòng say mê với nghề nghiệp
Trang 9- Nắm vững nội dung văn bản, cụ thể là hiểu rõ bản chất pháp lý của vấn đề
được văn bản điều chỉnh, sự cần thiết phải ban hành văn bản; hiểu rõ đối tượng điềuchỉnh, phạm vi điều chỉnh của văn bản; hiểu rõ ý nghĩa của các quy phạm, đặc biệt là
ý nghĩa về mặt quản lý Nhà nước, về tác dụng điều chỉnh của từng quy phạm cụ thể;nghiên cứu các văn bản hướng dẫn thi hành, tài liệu hướng dẫn tuyên truyền và hệthống văn bản điều chỉnh lĩnh vực đó
Muốn vậy, người nói cần nắm được thông tin liên quan đến văn bản từ giaiđoạn soạn thảo, lấy ý kiến đến khi ban hành (tờ trình về dự án Luật, các báo cáo tổnghợp ý kiến tham gia xây dựng Luật ) Như vậy, người nói phải nắm được một cáchtoàn diện không những nội dung văn bản mà còn cả những vấn đề có liên quan đếnviệc ra đời và triển khai văn bản đó, cụ thể cần nắm vững tư tưởng, quan điểm chỉđạo của việc ban hành các văn bản đó thông qua các nghị quyết của Đảng, kế hoạchphát triển kinh tế, xã hội hoặc trực tiếp hơn là qua tờ trình về việc ban hành văn bản,qua các bài báo, bình luận khoa học về văn bản Ngoài ra, trong quá trình tuyêntruyền, người nói cũng cần giới thiệu có chọn lọc ý kiến đóng góp của các chuyêngia, nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động thực tiễn liên quan đến văn bản đó
- Sưu tầm tài liệu dẫn chứng, minh họa: Đây là nội dung rất quan trọng vì nó
ảnh hưởng đến chất lượng, độ sâu và sức thuyết phục của buổi tuyên truyền Tài liệu,dẫn chứng minh họa có tính chính thức, độ tin cậy cao, có thể được sưu tầm trên BáoNhân dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam hoặc các tạp chíchuyên ngành; các công trình khoa học đã được công bố; bài viết trên các báo, đặcsan khoa học; số liệu, dẫn chứng trên các trang thông tin điện tử (trang Web) cầnđược lựa chọn phù hợp Khi sưu tầm tài liệu, báo cáo viên cần chú ý đến tính chất,yêu cầu của tài liệu đó, tuyệt đối tránh tài liệu, dẫn chứng minh họa thuộc diện mậtcủa Đảng và Nhà nước; số liệu, dẫn chứng đã cũ không còn phù hợp với hiện tại
- Chuẩn bị đề cương: Đề cương tuyên truyền miệng (bao gồm đề cương sơ bộ
và đề cương chi tiết) cần đầy đủ về nội dung, thích hợp với đối tượng, chặt chẽ về bốcục, sắc sảo về lập luận Khi chuẩn bị đề cương cần chú ý những yêu cầu sau:
+ Đề cương không phải là một bài viết hoàn chỉnh, cụ thể mà là tài liệu nêu lêncác trọng tâm cần tập trung tuyên truyền, phổ biến Trên cơ sở đó, báo cáo viên phântích cụ thể, mở rộng những vấn đề nêu trong đề cương Đề cương tuyên truyền cónhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức triển khai tuyên truyền văn bản pháp luậtcho phù hợp với từng loại đối tượng, trên từng địa bàn
Trang 10+ Cần lựa chọn vấn đề cốt lõi của văn bản có liên hệ với hệ thống pháp luật đểlàm rõ mối quan hệ của văn bản với hệ thống pháp luật.
+ Để thu hút người nghe và tạo điều kiện cho người nghe hiểu văn bản có tính
hệ thống, toàn bộ các phần trong đề cương phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau nhưmột câu chuyện là: yêu cầu, nhiệm vụ của văn bản; cơ chế quản lý như thế nào;quyền và nghĩa vụ của các chủ thể ra sao; chế tài áp dụng đối với người vi phạm thếnào để sao cho đạt được yêu cầu, nhiệm vụ cần tuyên truyền
5.2 Tiến hành một buổi tuyên truyền miệng về pháp luật
Một buổi tuyên truyền miệng về pháp luật thường có các phần sau:
- Vào đề: Là phần giới thiệu vấn đề, định hướng tư duy, khơi gợi nhu cầu của
đối tượng, thiết lập quan hệ giữa người nói với người nghe Với tuyên truyền miệng
về pháp luật, cách vào đề có hiệu quả thường là gợi ra nhu cầu tìm hiểu ý nghĩa, sựcần thiết phải ban hành văn bản pháp luật
Trước khi bắt đầu phần này, báo cáo viên cần có những lời chào mừng, chúctụng đối với người nghe để gây thiện cảm và không khí gần gũi Trong phần vào đề,người nói phải nêu được khoảng từ 3, 4 vấn đề chủ yếu mà người nghe cần tìm hiểu
nhất để tạo sự chú ý, sức hấp dẫn cho người nghe (như đã trình bày ở điểm 3.1) Việc
nêu các vấn đề đó còn tuỳ thuộc ở khả năng diễn thuyết của báo cáo viên Báo cáoviên có thể bắt đầu từ một câu chuyện pháp luật được các phương tiện thông tin đạichúng nói đến nhiều thời gian qua; có thể bằng các tình huống xảy ra gần địa bàn nơi
tổ chức tuyên truyền hoặc một câu chuyện có liên quan mà tình cờ báo cáo viên biếtđược qua trao đổi trước buổi tuyên truyền với một số người nghe
- Nội dung: Là phần chủ yếu của buổi nói, làm cho đối tượng hiểu, nắm được
nội dung, chuyển biến nhận thức, nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượng Cần lưu ý
là phải nêu được những điểm mới, thời sự để người nghe chú ý; khi tuyên truyềnkhông được sao chép, đọc nguyên văn văn bản để tránh sự nhàm chán Khi giảng cầnphân tích, giải thích và nêu ý nghĩa của văn bản pháp luật đó Viết, đọc một đoạn nào
đó trong văn bản chỉ có tính chất dẫn chứng, minh họa những gì mà người nói đãphân tích, dẫn chứng ở trước
Trong tuyên truyền văn bản phải chú ý tới hai điều, đó là: lựa chọn cách trìnhbày phù hợp với đối tượng và nêu được vấn đề cơ bản, cốt lõi, trọng tâm để người
Trang 11nghe thâu tóm được tinh thần văn bản Sử dụng hợp lý kênh ngôn ngữ (nói) và kênhphi ngôn ngữ (cử chỉ, động tác).
Đối tượng tuyên truyền miệng rất phong phú nhưng có thể chia thành 4 loại:Cán bộ quản lý; cán bộ nghiên cứu, xây dựng văn bản; cán bộ tuyên truyền; nhữngngười phải chấp hành pháp luật (cán bộ, nhân dân) Trên cơ sở sự phân loại đó, báocáo viên có thể xác định được mục đích, yêu cầu, nội dung trọng tâm, phương pháptrình bày cho phù hợp với từng đối tượng, cụ thể là:
+ Với cán bộ quản lý: Báo cáo viên cần xác định người nghe là cán bộ quản lý
ở cấp nào để có thể có phương pháp trình bày thiên về khái quát hoặc diễn giải; thiên
về lý luận hoặc thực tiễn Đối với người nghe là cán bộ quản lý cấp tỉnh thì người nói
có thể trình bày vấn đề thiên về khái quát có kết hợp phân tích, diễn giải; nhưng nếungười nghe là cán bộ cấp xã thì người nói cần phải sử dụng phương pháp suy diễn,phân tích cụ thể về thực tiễn rồi sau đó khái quát thành những đánh giá, lý luận.Người nói cần làm rõ những quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quanquản lý nhà nước, cán bộ nhà nước; nội dung quản lý nhà nước; các hình thức viphạm và mức độ xử lý; thẩm quyền xử lý; tổ chức thi hành văn bản
+ Với cán bộ nghiên cứu, xây dựng văn bản: Phương pháp khái quát thườngđạt hiệu quả tuyên truyền cao vì đối tượng này có trình độ, thường quan tâm đếnnhững quan điểm, những vấn đề lý luận chứa đựng trong văn bản Ngoài ra báo cáoviên cần làm rõ: văn bản đã đáp ứng được những nhu cầu, đòi hỏi thực tiễn nào,những gì còn hạn chế, chưa đáp ứng được; những gì đã thống nhất, những gì tồn tại;các ý kiến khác nhau về những nội dung của văn bản trước khi được ban hành; cácvăn bản được ban hành tiếp theo và văn bản để cụ thể hóa văn bản này; vị trí của vănbản này trong hệ thống các văn bản thuộc lĩnh vực văn bản điều chỉnh
+ Với cán bộ tuyên truyền (bao gồm: báo cáo viên, tuyên truyền viên, phóngviên, biên tập viên các báo, đài): Có thể dùng phương pháp khái quát hoặc diễn giảituỳ thuộc vào hình thức văn bản nhưng cần tập trung nhấn mạnh những nội dung đểphục vụ cho công tác tuyên truyền của cán bộ tuyên truyền như: bản chất, ý nghĩapháp lý của vấn đề; sự cần thiết, mục đích của việc ban hành văn bản; những số liệu,tài liệu cần viện dẫn, đối chiếu, so sánh; các vấn đề chủ yếu cần tập trung phổ biến,tuyên truyền
+ Với những người phải chấp hành pháp luật: Sử dụng phương pháp diễn giải
là phù hợp Cần nêu bản chất, ý nghĩa của vấn đề, mục đích, sự cần thiết phải ban
Trang 12hành văn bản, ý nghĩa của các quy phạm liên quan đến từng đối tượng thi hành trongvăn bản Báo cáo viên cần tập trung phân tích quyền và nghĩa vụ của các chủ thểtrong quan hệ xã hội được văn bản điều chỉnh, cơ chế thực hiện quyền khiếu nại, khởikiện, thời hiệu khiếu nại, khởi kiện
* Trong thực tiễn tuyên truyền miệng pháp luật, vì nhiều lý do, có thể xảy ranhững “trục trặc” ngoài ý muốn khi đang thực hiện buổi tuyên truyền miệng phápluật Những “trục trặc” thường gặp trong thực tế là:
- Nói lắp, nói nhịu: Đôi khi trong khi đang nói vì căng thẳng hay mệt mỏi báo
cáo viên nói lắp, nói nhịu Đây là hiện tượng vô thức xảy ra ngoài ý muốn của conngười Khi xảy ra hiện tượng này, thường sẽ gây nên tiếng cười, ồn ào trong ngườinghe Để khắc phục hiện tượng này, báo cáo viên cần phải bình tĩnh, không được mấttinh thần; lấy lại sự tập trung vào bài giảng Báo cáo viên có thể kể một câu chuyệnvui hoặc có những câu nói hài hước để tạo nên không khí thoải mái, vui vẻ trong buổituyên truyền, sau đó khéo léo dẫn dắt vào bài giảng
- Lạc đề: Hiện tượng này xảy ra do báo cáo viên phân tích, diễn giải vấn đề quá
rộng dẫn đến những nội dung báo cáo viên nói không có liên quan hoặc ít liên quanđến bài giảng Trong trường hợp này, báo cáo viên không được mất bình tĩnh; sửdụng phương pháp quy nạp, từ những vấn đề đã phân tích, diễn giải rộng ở trên, báocáo viên khéo léo dẫn dắt người nghe đến những nội dung chính của bài giảng Đểkiểm soát được bài giảng của mình đúng trọng tâm, không lạc đề đòi hỏi báo cáo viênphải chuẩn bị kỹ nội dung bài giảng, trong khi giảng bài cần tập trung, luôn quan tâmtheo dõi đến thái độ (phản ứng) của người nghe để điều chỉnh bài giảng hợp lý
- Thừa giờ hoặc thiếu giờ: Tình huống này thường xảy ra đối với những báo
cáo viên còn thiếu kinh nghiệm trong nghề Đây là trường hợp thời gian dự kiến banđầu của buổi tuyên truyền miệng vẫn còn nhưng báo cáo viên đã truyền đạt hết cácnội dung văn bản pháp luật hoặc đã hết giờ mà chưa truyền đạt hết nội dung Nếu gặpphải trường hợp này, tuỳ vào từng hoàn cảnh cụ thể mà báo cáo viên cần phải nhanhnhạy chuyển sang hình thức khác có liên quan đến bài giảng như tổ chức thảo luận vềnhững nội dung của văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo viên sẽ trực tiếp giải đápnhững thắc mắc của người nghe hoặc báo cáo viên chuẩn bị sẵn những câu hỏi liênquan đến nội dung bài giảng để hỏi người nghe hoặc tổ chức giao lưu, học hỏi kinhnghiệm về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật giữa báo cáo viên và ngườinghe, nhất là khi người nghe là những cán bộ tuyên truyền pháp luật
Trang 13Ngoài ra, cần xử lý các tình huống khác trong hội trường như: Học viên ngủgật, nghe điện thoại di động, mất điện, học viên nói chuyện riêng
5.3 Phần kết luận:
Là phần người nói thường điểm lại và tóm tắt những vấn đề cơ bản đã tuyêntruyền Tùy từng đối tượng mà nêu những vấn đề cần lưu ý đối với họ Trong phầnnày, người nói sau khi đã phân tích, diễn giải cần phải tóm tắt lại những nội dungchính của buổi tuyên truyền miệng và những vấn đề cần lưu ý Tuy nhiên với mỗimột đối tượng khác nhau sẽ có cách thức tóm tắt khác nhau căn cứ vào nhu cầu, lĩnhvực công tác của đối tượng
5.4 Trả lời câu hỏi của người nghe: Người nói cần dành thời gian cần thiết trảlời các câu hỏi mà người nghe quan tâm, chưa hiểu rõ Đây là phần người nói có thểđánh giá được mức độ hiểu bài của người nghe; là dịp để người nói trao đổi nhữngkinh nghiệm, hiểu biết của mình cho người nghe
Tóm lại, hiệu quả của tuyên truyền miệng về pháp luật phụ thuộc vào rất nhiềuyếu tố Để đạt hiệu quả tuyên truyền cao, người tuyên truyền cần phải dày công tíchluỹ, chuẩn bị đề cương, phải có nghệ thuật vượt qua hàng rào ngăn cách ban đầu vềmặt tâm lý, gây thiện cảm, gây sự chú ý của người nghe từ khi bắt đầu buổi nóichuyện; phải biết tạo ra nhu cầu, kích thích, hấp dẫn, gây ấn tượng cho người nghetrong suốt buổi nói; biết kết luận đúng cách để khi kết thúc còn đọng lại những điềucần thiết cho người nghe tiếp tục suy nghĩ
2.1.Phổ biến, giáo dục pháp luật qua báo chí
1 Vai trò của báo chí trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật:
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội,báo chí ở Việt Nam gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báonói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe
- nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử
(được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc
thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài
"Báo in" là tên gọi loại hình báo chí được thực hiện bằng phương tiện in (báo,tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn)
Trang 14"Bỏo núi" là tờn gọi loại hỡnh bỏo chớ thực hiện trờn súng phỏt thanh (chươngtrỡnh phỏt thanh).
"Bỏo hỡnh" là tờn gọi loại hỡnh bỏo chớ thực hiện trờn súng truyền hỡnh (chươngtrỡnh truyền hỡnh, chương trỡnh nghe - nhỡn thời sự được thực hiện bằng cỏc phươngtiện khỏc nhau)
"Bỏo điện tử" là tờn gọi loại hỡnh bỏo chớ thực hiện trờn mạng thụng tin mỏy tớnh(Internet, Intranet)
Với chức năng là phương tiện thụng tin đại chỳng, bỏo chớ Việt Nam đó thựchiện tốt nhiệm vụ của mỡnh, trong đú cú nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến đờng lối,chủ trơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc
Với đặc tớnh cơ bản của bỏo chớ là tớnh phổ cập, nhanh chúng, kịp thời và rộngkhắp, trong cụng tỏc tuyờn truyền, phổ biến, giỏo dục phỏp luật, bỏo chớ đúng vai trũquan trọng, là cụng cụ, phương tiện hữu hiệu đưa phỏp luật đến với cỏn bộ, nhõn dõn,giỳp cho đụng đảo cỏn bộ, nhõn dõn dễ dàng tiếp thu, nắm bắt, tỡm hiểu, nõng caonhận thức, ý thức phỏp luật Bỏo chớ gúp phần phản ỏnh thực tiễn thi hành phỏp luật
và hướng dẫn dư luận xó hội ủng hộ, biểu dương người tốt, việc tốt trong chấp hànhphỏp luật, lờn ỏn, phờ phỏn những biểu hiện tiờu cực, những hành vi vi phạm phỏpluật trong xó hội, tạo niềm tin vào phỏp luật, vào cụng lý trong mọi tầng lớp nhõndõn Trong cụng tỏc tuyờn truyền chớnh sỏch, phỏp luật, bỏo chớ cũn đúng vai trũ làcầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhõn dõn Bờn cạnh việc tuyờn truyền chủ trương,đường lối, chớnh sỏch của Đảng, phỏp luật của Nhà nước đến nhõn dõn, bỏo chớ cũn làdiễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân Bỏo chớ phản ỏnh những
đề xuất, kiến nghị của người dõn với Đảng, Nhà nước về cỏc chớnh sỏch, cỏc quy địnhphỏp luật chưa thật phự hợp, về những bất cập, những vướng mắc, bức xỳc trong thựctiễn thi hành, chấp hành phỏp luật
Đặc biệt, ngày nay với sự phỏt triển đa dạng của cỏc loại hỡnh bỏo chớ và việcphỏt triển mạnh mẽ của khoa học và cụng nghệ đó gúp phần ngày càng nõng cao hiệuquả và chất lượng của thụng tin trong đú cú cỏc thụng tin về phỏp luật
2 Cỏc đặc trưng cơ bản của phổ biến, giỏo dục phỏp luật qua bỏo chớ:
2.1 Đối tượng rộng:
Trang 15So với các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác thì loại hình phổ biến,giáo dục pháp luật trên báo chí có lợi thế là có đông đảo bạn đọc, khán thính giả trongnước và ở nước ngoài.
2.2 Hình thức phong phú, hấp dẫn:
Báo chí có nhiều loại: báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử Trong mỗi loạihình đó lại có rất nhiều cách thể hiện như: tin, bài, tọa đàm, diễn đàn, truyện ngắn,tiểu phẩm, phim truyền hình, phim tài liệu,…
2.3 Tính nhanh chóng, kịp thời:
Do đặc thù của báo chí là thực hiện hoạt động thông tin, yêu cầu cơ bản củathông tin là phải nhanh nhạy, kịp thời, cập nhật, nếu không thông tin sẽ trở nên lỗithời, không còn tính hấp dẫn Hiện nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học, côngnghệ, các loại hình báo chí đều có đặc tính là truyền tin nhanh, đặc biệt là báo điện tử.Chính vì vậy, việc tuyên truyền pháp luật trên báo chí luôn được thực hiện nhanhchóng, kịp thời để đáp ứng nhu cầu được thông tin, tìm hiểu về pháp luật của ngườidân
2.4 Tính rộng khắp:
Với số lượng phát hành lớn (báo in), với diện phủ sóng rộng (đài phát thanh,đài truyền hình), sự kết nối mạng internet toàn cầu, việc thông tin của báo chí nóichung và việc tuyên truyền pháp luật trên báo chí nói riêng được thực hiện trên diệnrộng, về đặc tính này không có loại hình nào có thể ưu việt hơn báo chí
3 Tổ chức và duy trì chuyên mục pháp luật trên báo chí
Có thể nói, trên mặt trận văn hóa – tư tưởng nói chung và công tác tuyêntruyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói riêng, báo chí đóng vai trò là lực lượng xungkích Trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Trang 16phổ biến, giáo dục pháp luật của mình Để góp phần nâng cao chất lượng phổ biến,giáo dục pháp luật trên báo chí, việc xây dựng và duy trì các chuyên trang, chuyênmục, các chương trình phát thanh, truyền hình về pháp luật là cần thiết
3.1 Nội dung và hình thức chuyên mục pháp luật:
a Nội dung chuyên mục
Tuỳ theo đối tượng phục vụ, chuyên mục pháp luật trên báo chí có thể có cácnội dung chủ yếu sau đây:
- Giới thiệu chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và các văn bản quyphạm pháp luật Trong đó, chú trọng giới thiệu các văn bản pháp luật quan trọng, liênquan trực tiếp đến đời sống của nhân dân, cập nhật, phổ biến các văn bản pháp luậtmới được xây dựng và các văn bản pháp luật được sửa đổi, bổ sung
Đối với việc tuyên truyền các văn bản pháp luật mới ban hành, tuỳ từng vị trí,tầm quan trọng của văn bản pháp luật, báo chí cần vào cuộc từ khâu soạn thảo, phảnánh các ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân vào dự thảo luật, đăng các bài giớithiệu, tìm hiểu, phân tích, giải thích nội dung dự thảo các văn bản quy phạm phápluật
Việc giới thiệu văn bản pháp luật có thể đăng toàn văn, trích đăng hoặc ra sốphụ trương, hoặc có thể giới thiệu, thông tin sơ lược về văn bản pháp luật hoặc mởmục giới thiệu sách pháp luật Việc phổ biến rộng khắp nội dung văn bản pháp luật
và sách pháp luật như trên sẽ giúp nhân dân hiểu biết về pháp luật và khi cần có thể
về một bên (đương sự hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền), cũng không làm thaycông việc của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, kết luận vụ việc đúng sai, mà chỉ
Trang 17bày tỏ quan điểm của mình bằng cách đưa ra các bằng chứng, lý lẽ, lập luận mangtính tham khảo để các cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định Để việc tuyêntruyền đạt hiệu quả, các bài báo không nên đi sâu vào miêu tả, khai thác chi tiết hành
vi, thủ đoạn phạm tội, đưa ra những tình tiết “giật gân”, “câu khách”… làm phản tácdụng tuyên truyền pháp luật
Qua phản ánh thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật, báo chí cần phát hiệnnhững bất cập, bất hợp lý trong các văn bản pháp luật, những quy định không phùhợp, lỗi thời, chồng chéo của hệ thống pháp luật để kiến nghị cơ quan nhà nước cóthẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Đồng thời, cũng qua thực tiễncuộc sống, báo chí cần phát hiện những vấn đề còn bỏ ngỏ, thiếu sự điều chỉnh củapháp luật để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện.Bên cạnh đó, báo chí cũng cần đăng tải các ý kiến tiếp thu phê bình của các đơn vị có
vụ việc đã được nêu trước công luận, một mặt giúp các cơ quan nhà nước làm tốttrách nhiệm của mình, mặt khác tạo cho người dân lòng tin vào pháp luật, vào cônglý
- Thực hiện giải đáp, tư vấn pháp luật trên báo chí, nội dung này có tác dụngđáng kể trong việc đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật của nhân dân, không chỉ củanhững người có câu hỏi nhờ báo giải đáp mà còn của nhiều người có vấn đề tương tự
- Nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới trong thực tiễn thi hành, chấphành pháp luật, nhất là những cá nhân, tổ chức dũng cảm đấu tranh chống những biểuhiện tiêu cực, tham nhũng, vô trách nhiệm, những hành vi vi phạm pháp luật và tộiphạm
b Hình thức chuyên mục:
Yêu cầu của việc phổ biến, giáo dục pháp luật trên báo chí là phải đúng, chínhxác, ngắn gọn, đồng thời cũng phải hấp dẫn, truyền tải một cách sinh động, dễ hiểu,hiệu quả thiết thực Chính vì vậy, mỗi loại hình báo chí cần phải tìm những hình thứcthể hiện phù hợp
- Báo in: Các chuyên mục pháp luật được thực hiện thông qua các thể loại nhưtin, bài, phỏng vấn, hỏi – đáp pháp luật, tiểu phẩm, truyện ngắn, kết hợp với cáchtrình bày, cách đặt “tít”, hình ảnh minh họa…
- Báo hình, báo nói: Các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật được thựchiện dưới các hình thức như tin tức thời sự, phóng sự, phỏng vấn, tọa đàm, giải đáp
Trang 18pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật, lồng ghép vào các trò chơi truyền hình, tiểu phẩm,phim truyền hình, phim tài liệu…
- Báo điện tử: Phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện thông qua các hìnhthức như tin, bài, tổ chức diễn đàn, giao lưu trực tuyến Đặc biệt, hình thức tổ chứcdiễn đàn, giao lưu trực tuyến là hình thức trao đổi thông tin tận dụng được đầy đủ thếmạnh của báo điện tử, nó giúp cho sự trao đổi thông tin giữa báo chí và công chúngdiễn ra dễ dàng, thuận lợi, người đọc không chỉ chia sẻ ý kiến với tòa soạn mà cả vớiđông đảo bạn đọc
Để việc trao đổi thông tin được dễ dàng, đối với chuyên mục pháp luật, các báođiện tử có thể thiết lập địa chỉ thư điện tử riêng cho chuyên mục
3.2 Kinh nghiệm phối hợp giữa cơ quan tư pháp và báo chí trong việc xây dựng, duy trì và nâng cao hiệu quả của chuyên mục pháp luật:
Việc thực hiện các chương trình, chuyên mục pháp luật trên báo chí vừa đòihỏi nghiệp vụ báo chí, vừa cần có kiến thức pháp luật và những điều kiện khác, chính
vì vậy, sự phối hợp giữa cơ quan tư pháp và báo chí trong việc xây dựng và duy trìcác chương trình, chuyên mục pháp luật trên là cần thiết
Để xây dựng, duy trì và nâng cao hiệu quả của chuyên mục pháp luật, cơ quan
tư pháp và báo chí cần phối hợp thực hiện các công việc sau:
a Cơ quan tư pháp làm đầu mối phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với cơ quan văn hóa – thông tin và báo chí trong định hướng tuyên truyền pháp luật:
Mô hình tổ chức giao ban, họp báo định kỳ giữa cơ quan tư pháp, văn hóa –thông tin, các ban, ngành có liên quan với phóng viên báo chí là rất cần thiết để thôngtin, định hướng nội dung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong năm, từngtháng, quý; một mặt, vừa giúp báo chí kịp thời phổ biến những chính sách, văn bảnpháp luật mới; mặt khác, đó cũng là dịp để đánh giá, rút kinh nghiệm về công táctuyên truyền pháp luật trên báo chí thời gian qua, định hướng cho công tác này trongthời gian tiếp theo
b Xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên mục phổ biến, giáo dục pháp luật trên báo chí:
Kế hoạch phối hợp có thể gồm các nội dung sau:
- Xác định nội dung và hình thức của chuyên trang, chuyên mục;
Trang 19- Thời lượng của chuyên trang, chuyên mục; thời gian phát sóng, phát hànhbáo;
- Phân công trách nhiệm thực hiện:
+ Cơ quan tư pháp chịu trách nhiệm về nội dung pháp lý của chương trình, chuyênmục, cung cấp sách báo, tài liệu pháp luật; tạo điều kiện cho phóng viên đi cơ sởviết tin, bài, thực hiện chương trình, ghi âm, ghi hình, trong phòng thu, trườngquay hoặc hiện trường; cử cán bộ cùng thực hiện chương trình, chuyên mục; hỗtrợ một phần kinh phí thực hiện; giúp cơ quan báo chí tổ chức mạng lưới cộng tácviên viết về pháp luật; làm đầu mối tổ chức các cuộc họp cộng tác viên, sơ kết,tổng kết việc phổ biến, giáo dục pháp luật trên báo chí, tổ chức khen thưởng cáctập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phổ biến, giáo dục phápluật trên báo chí
+ Cơ quan báo chí chịu trách nhiệm sản xuất và thực hiện chương trình, chuyênmục theo kế hoạch; thực hiện theo đúng quy định của Luật báo chí về đính chính,cải chính trên báo chí, chịu trách nhiệm về nội dung thông tin
c Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cộng tác viên, phóng viên, biên tập viên cho chuyên mục:
Đây là một biện pháp rất quan trọng nhằm duy trì, nâng cao chất lượng chuyêntrang, chuyên mục về pháp luật
- Cần xây dựng một đội ngũ phóng viên, biên tập viên viết về pháp luật vữngvàng về chuyên môn nghiệp vụ, có tư cách đạo đức tốt, đồng thời phải có trình độ vàkiến thức cần thiết về pháp luật Viết về đề tài pháp luật mà không hiểu pháp luật sẽdẫn đến viết sai, không chính xác, làm phản tác dụng tuyên truyền
Kinh nghiệm của một số cơ quan báo chí trong việc tạo nguồn phóng viên, biêntập viên viết về pháp luật là:
· Tuyển những người tốt nghiệp Đại học Luật về cơ quan báo chí làm phóngviên của chuyên mục, tạo điều kiện để số phóng viên này vừa làm, vừa đượcđào tạo thêm về nghiệp vụ báo chí;
· Đào tạo nâng cao trình độ pháp luật cho đội ngũ phóng viên để bổ sungnguồn phóng viên, biên tập viên cho chuyên mục
Trang 20- Cơ quan Tư pháp cần giúp báo, đài xây dựng đội ngũ cộng tác viên viết vềpháp luật Nguồn cộng tác viên viết về pháp luật bao gồm: các luật gia đã và đangcông tác tại các cơ quan Công an, Tòa án, Kiểm sát, các trường và viện nghiên cứu vềpháp luật; đồng thời cũng tìm nguồn cộng tác viên từ các bộ, ngành, địa phương ởnhiều lĩnh vực khác nhau.
- Để nâng cao chất lượng đội ngũ cộng tác viên, phóng viên, biên tập viên viết
về pháp luật, cơ quan tư pháp và báo, đài cần phối hợp thực hiện các hoạt động sau:+ Tổ chức các hội nghị chuyên đề, các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật ngắnngày, theo chuyên đề nhằm nâng cao nghiệp vụ, kiến thức pháp luật cho đội ngũcộng tác viên, phóng viên, biên tập viên viết về pháp luật;
+ Tổ chức các câu lạc bộ pháp luật cho phóng viên viết về pháp luật Hình thứcnày quy tụ được những người viết về pháp luật tham gia sinh hoạt nghiệp vụ, traođổi học tập kinh nghiệm;
+ Tổ chức các cuộc thi viết về pháp luật cho các chương trình, chuyên mục phápluật Đây là hình thức có tác dụng mở rộng mạng lưới cộng tác viên, nâng caonghiệp vụ của phóng viên viết về pháp luật;
+ Cung cấp cho các cộng tác viên, phóng viên các tài liệu nghiệp vụ, tài liệu phápluật
d Khen thưởng đối với những cá nhân và tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên báo chí Việc khen thưởng này do cơ quan
tư pháp thực hiện trên cơ sở đánh giá thành tích của báo, đài thông qua hoat độngphối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Việc khen thưởng cần thực hiện thườngxuyên, kịp thời để động viên, khuyến khích những phóng viên, biên tập viên cónhững đóng góp tích cực vào việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trên báochí
4 Một số kỹ năng khi thực hiện tuyên truyền pháp luật trên báo chí
4.1 Khái niệm về tin, bài:
Tin là một thể tài của tác phẩm báo chí phản ánh trung thực một sự kiện, vụviệc mới xảy ra ở một địa điểm, trong một thời điểm cụ thể, có ý nghĩa về mặt chínhtrị, kinh tế, xã hội được dư luận quan tâm Lợi thế lớn nhất của tin là tính nhanh nhạy,kịp thời
Trang 21Tin gồm các loại chủ yếu sau đây:
- Tin vắn là tin tóm lược sự kiện vừa xảy ra, chủ yếu đáp ứng nhu cầu thôngtin nhanh nhạy
- Tin ngắn thường thông tin một cách ngắn gọn nhưng tương đối đầy đủ vềmột sự kiện mới xảy ra gồm chủ thể, địa điểm, thời gian, kết quả
- Tin chuyên sâu cũng là tin đề cập về các sự kiện, vụ việc nhưng phản ánhmột cách toàn diện, sâu sắc hơn, có sức khái quát để người đọc, người xemnắm chắc sự việc, bản chất của vấn đề
- Tin tổng hợp là tin chủ yếu phản ánh các vấn đề rộng, mang tính chuyên đề,lĩnh vực, được sắp xếp theo từng điểm
- Tin tường thuật chủ yếu dùng để phản ánh các hội nghị, đại hội, cuộc họptheo tuần tự thời gian và các sự việc xảy ra trong hội nghị đó
- Tin phỏng vấn cũng là tin về một vấn đề cụ thể được trình bày dưới dạnghỏi đáp
Bài báo là một trong những thể loại báo chí có từ lâu đời và có vị trí rất quantrọng Bài báo thường có dung lượng lớn hơn tin và phải đáp ứng yêu cầu cơ bản củatác phẩm báo chí là phản ánh hiện thực qua những sự kiện thời sự (ví dụ phóng sự,điều tra, bình luận, ghi chép của phóng viên…)
4.2 Yêu cầu chung đối với tin, bài tuyên truyền pháp luật:
Tin, bài tuyên truyền pháp luật cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau:
đó trong đời sống chính trị pháp lý mà chính là ở độ chín muồi của vấn đề Nếu đưatin về một sự kiện đang ở giai đoạn phôi thai mà không thể dự đoán được xu hướngphát triển của nó thì đó là nóng vội Ngược lại, nếu để một sự kiện, một hiện tượng đã
Trang 22xảy ra lâu rồi mới đưa tin, viết bài thì không còn tính hấp dẫn, mất tính định hướng vàlàm giảm hiệu quả thông tin giáo dục.
b Tin, bài tuyên truyền về pháp luật phải đảm bảo yêu cầu đúng pháp luật:
Đây là yêu cầu đặc thù của tin, bài tuyên truyền về pháp luật Đúng pháp luậtthể hiện ở nhiều điểm như:
- Sử dụng đúng thuật ngữ pháp lý;
- Các căn cứ pháp lý đưa ra phải phù hợp, chính xác;
- Việc phân tích lý lẽ, đánh giá, nhìn nhận vấn đề phải trên cơ sở pháp luật, phùhợp với quy định của pháp luật
c Tính chân thực, khách quan:
Là yêu cầu rất quan trọng trong việc viết tin, bài tuyên truyền về pháp luật Sựkiện, hiện tượng, các tình tiết, số liệu được công bố qua tin, bài phải là sự kiện cóthực, số liệu chính xác, không tô vẽ Khi đánh giá sự việc, hiện tượng đó phải đảmbảo cách nhìn khách quan, không phiến diện, không hình thức, phải đánh giá sự việc,hiện tượng một cách toàn diện, đúng bản chất, trong mối quan hệ qua lại với các sựviệc, hiện tượng khác Để tin, bài bảo đảm tính chân thực, khách quan cần tránh haikhuynh hướng:
- Thứ nhất là thiếu chọn lọc sự kiện, số liệu, chi tiết, đi sâu phản ánh nhiều chitiết quá vụn vặt, tỉ mỉ, dẫn đến việc phản ánh thực tế theo hướng tự nhiên chủ nghĩa,không có tác dụng giáo dục thậm chí có thể phản tác dụng giáo dục;
- Thứ hai, phản ánh sự việc, hiện tượng theo ý chí chủ quan của người viết, đưatin thiếu chính xác hoặc chưa trúng với bản chất của sự việc
d Phù hợp với đối tượng:
Khi đưa tin, viết bài, thực hiện chương trình, chuyên mục người làm báo phảitrả lời câu hỏi “viết cho ai?” như Bác Hồ đã dạy Đối tượng phục vụ chủ yếu nhất,rộng lớn nhất của báo chí cách mạng Việt Nam nói chung là đông đảo nhân dân laođộng Bên cạnh đó, mỗi tờ báo, bản tin, chương trình chuyên đề, chuyên ngành còn
có đối tượng phục vụ cụ thể mình Với mỗi đối tượng phục vụ cụ thể của mình, báochí cần có cách thể hiện phù hợp Người viết cần phải xác định rõ đối tượng phản ánh
và đối tượng phục vụ của mình, từ đó bám sát đối tượng để viết cho sâu sát, thiết
Trang 23thực, điều này giúp cho tác phẩm báo chí về đề tài pháp luật có chất lượng hơn, thôngtin trúng hơn, sâu hơn và vì vậy sẽ có tác dụng hơn
đ Tính định hướng đúng đắn của thông tin:
Khi đưa tin, viết bài, thực hiện chương trình tuyên tuyền về pháp luật ngườiviết cần phải trả lời câu hỏi “viết để làm gì?” để xác định mục đích của việc thông tin
là để phổ biến, giải thích pháp luật, để lên án, phê phán, đấu tranh với những hành vitiêu cực, vi phạm pháp luật, tội phạm, hay để cổ vũ, biểu dương người tốt, việc tốttrong thực tiễn thi hành pháp luật… Qua đó, người viết có thể định hướng đúng đắn
dư luận
e Về mặt hình thức thể hiện, tin, bài tuyên truyền về pháp luật phải đảm bảo yêu cầu ngắn gọn, súc tích, chính xác, ngôn ngữ giản dị, trong sáng, dễ hiểu, cách thể hiện phong phú, hấp dẫn Việc giải thích, phản ánh các quy định pháp luật, các sự
việc, hiện tượng liên quan đến pháp luật là việc làm không dễ dàng, vì vậy để cácthông tin pháp luật được truyền tải đến người đọc, người xem, người nghe một cáchhiệu quả, các tác phẩm báo chí cần tìm được hình thức thể hiện phong phú, hấp dẫn,cách diễn đạt dễ hiểu, có sức truyền tải sâu sắc đến đối tượng phục vụ
Các yêu cầu đặt ra đổi với tin, bài viết về pháp luật cần được đặt trong mốiquan hệ tổng thể, không thể coi nhẹ hay coi trọng bất cứ yêu cầu nào
4.3 Một số kỹ năng cơ bản về viết tin, bài tuyên truyền pháp luật
a Chọn vấn đề, sự kiện để viết bài, đưa tin:
Đó phải là những vấn đề, sự kiện xảy ra trong đời sống chính trị pháp lý có tínhchất tiêu biểu, có ý nghĩa quan trọng trong từng phạm vi, từng thời điểm, đồng thờivấn đề, sự kiện đó phải luôn mới mẻ, nóng hổi tính thời sự, ví dụ: giới thiệu Luậtphòng, chống tham nhũng trong điều kiện đang đấu tranh quyết liệt với những hành
vi tội phạm kinh tế trong thời gian qua Cần tránh xu hướng viết tin, bài dựa trên báocáo tổng kết công tác tháng, quý, năm, không có sự chọn lọc sự kiện, vấn đề nổi bật
b Lựa chọn cách thể hiện:
Khi một vấn đề, sự kiện được thể hiện dưới một hình thức tin, bài phù hợp sẽlàm tăng tính hiệu quả của thông tin Đối với những vấn đề cần thông tin nhanh nhạy,kịp thời, ngắn gọn thì lựa chọn thể loại tin Đối với những vấn đề cần trình bày mộtcách chi tiết, phân tích, nhìn nhận, đánh giá vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau thì lựa
Trang 24chọn thể loại bài Tiếp đó, cần phải căn cứ vào mục đích thông tin để lựa chọn thểloại tin, bài cho phù hợp.
b Xác định đối tượng thông tin:
Thông thường tin bài về đời sống pháp luật có đối tượng thông tin rộng rãi.Tuy nhiên để tin, bài phát huy hiệu quả, cần xác định cụ thể đối tượng chủ yếu cầnđược thông tin Từ đó căn cứ vào trình độ nhận thức, thị hiếu, sở thích nói chung củađối tượng đó mà chọn lọc thông tin, lựa chọn cách thể hiện, ngôn ngữ phù hợp
c Thu thập thông tin:
Tin, bài viết về pháp luật không thể thiếu số liệu, sự kiện Vì vậy phải thu thậpđầy đủ số liệu, sự kiện chủ yếu, phản ánh được, bao quát được vấn đề định nêu Cónhững sự kiện, số liệu chính và sự kiện, số liệu phụ Tùy theo tính chất của vấn đềcần thông tin, phải thu thập được những sự kiện, số liệu chính mà thiếu nó thì tin, bàikhông thể đứng vững được Tuy vậy, bên cạnh đó, cũng cần thu thập các số liệu, sựkiện phụ giúp làm sáng tỏ, làm “nặng” thêm sự kiện, số liệu chính
d Xử lý thông tin:
Việc xử lý thông tin bao gồm:
- Kiểm tra và nắm vững thông tin: Bên cạnh việc đưa tin nhanh, một trongnhững nhiệm vụ quan trọng của báo chí là phải đưa tin chính xác Vì vậy, sau khi thuthập thông tin, cần kiểm tra tính chính xác, khách quan của thông tin Nếu còn nghingờ, phân vân về thông tin nào đó mà chưa có điều kiện kiểm tra, xác minh thì kiênquyết không sử dụng Việc kiểm tra thông tin được thực hiện bằng nhiều cách: thôngqua tư liệu, thông qua nhân chứng…
- Lựa chọn thông tin: Lựa chọn tức là sàng lọc và loại bỏ những thông tinkhông cần thiết, những thông tin còn nghi ngờ về độ chính xác, chân thực, kháchquan
- Sắp xếp, so sánh, đối chiếu các thông tin khác, “dựng một bức tranh có ýnghĩa về diễn biến của sự kiện, mối quan hệ giữa các thông tin, mối liên kết” để cóđược cái nhìn bao quát về vấn đề, sự kiện
- Nhận dạng, phân biệt, tập trung sự chú ý vào các sự việc và nhân vật quantrọng trong tin, bài; đồng thời giải quyết từng điểm để làm cho tin, bài hấp dẫn, dễhiểu
Trang 25Có nhiều cách kết cấu một bài viết, cụ thể là:
- Kết cấu theo thời gian: sắp xếp bài viết theo trật tự thời gian;
- Kết cấu theo phương pháp diễn dịch: bằng cách đề cập đến thông tin chính,sau đó chứng minh bằng các lý lẽ dựa trên các sự việc;
- Kết cấu theo phương pháp quy nạp: trình bày nội dung bài viết từ các sựviệc, tình trạng, sau đó tổng hợp, khái quát;
- Kết cấu kim tự tháp ngược: tức là kết cấu theo thứ tự quan trọng giảm dần,
thông tin chính đề cập trước, sau đó là các thông tin bổ sung
e Viết tin, bài:
Tin, bài tuyên truyền pháp luật phải thể hiện ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, luônthu hút độc giả từ đầu đến cuối, tránh viết “dây cà ra dây muống” Ngôn ngữ trongtin, bài tuyên truyền pháp luật chủ yếu mang tính truyền tải thông tin, trong sáng, dễhiểu, giản dị, chuẩn xác trong sử dụng thuật ngữ pháp lý Tuy nhiên, thể tài tin, bàicũng rất cần sự sáng tạo trong ngôn ngữ thể hiện, cần sử dụng các hình thức đảo câu,đảo ý để tăng sự hấp dẫn của tin, bài; sử dụng trích dẫn, ví dụ cho phù hợp, góp phầnmang lại cho bài viết sự chân thực và sống động…
Mỗi đoạn trong tin, bài cần tập trung thể hiện một ý, chuyển đoạn một cáchchặt chẽ, logic
Lưu ý khi viết tin, không có những lời bình luận và không được hư cấu
2.2.Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua mạng lưới truyền thanh cơ sở
1 Một số vấn đề chung về hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật qua mạng lưới truyền thanh cơ sở:
Trang 26So với hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật qua báo chí, hình thức phổ biến,giáo dục pháp luật qua mạng lưới truyền thanh cơ sở có đối tượng và phạm vi tácđộng hẹp hơn, được xác định cụ thể trong phạm vi một xã, phường, thị trấn hay một
tổ dân phố, một thôn
So với các hình thức phổ biến, giáo dục khác, hình thức phổ biến, giáo dụcpháp luật qua mạng lưới truyền thanh cơ sở có những lợi thế như:
Có khả năng truyền tin nhanh, kịp thời;
Gần gũi, thân thiết với người dân ở cơ sở: bởi những nội dung pháp luật được phátthanh trên mạng lưới truyền thanh cơ sở là những quy định pháp luật liên quan thiếtthực đến đời sống hàng ngày của người dân cơ sở, những sự việc, những con ngườiđược phản ánh trong thực tiễn thi hành pháp luật là những sự việc, những con người
có thật tại địa phương, những băn khoăn, thắc mắc của người dân cơ sở về chínhsách, pháp luật được giải đáp kịp thời…
Hoàn toàn chủ động về thời gian: Có thể lựa chọn thời gian phát thanh một cách phùhợp với thực tế tập quán sinh hoạt, lao động sản xuất của người dân ở địa phương đểbuổi phát thanh có tác dụng cao;
- Chủ động trong việc lựa chọn nội dung: Có thể chủ động lựa chọn nội dungcho các buổi phát thanh phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương
và mong muốn tìm hiểu pháp luật của người dân;
- Có khả năng tác động tới nhiều đối tượng trong cùng một thời gian, phạm vi
tác động rộng: Tuyên truyền qua hệ thống truyền thanh có số lượng người ngheđông đảo, việc chọn thời gian phát thanh phù hợp cũng làm tăng đáng kể sốlượng người nghe, phạm vi có thể là một thôn, một tổ dân phố hoặc một xã,một phường;
- Có thể thực hiện phát thanh được nhiều lần;
- Tiết kiệm được thời gian, công sức và tiền của vì không phải tập trung dân tại
một điểm để phổ biến pháp luật
2 Kinh nghiệm phối hợp giữa cán bộ tư pháp và cán bộ văn hóa – thông tin xã, phường, thị trấn trong việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật qua hệ thống truyền thanh cơ sở:
Trang 27- Xây dựng kế hoạch phối hợp (quy chế phối hợp) giữa cán bộ tư pháp và cán bộ vănhóa – thông tin xã, phường, thị trấn trong phổ biến, giáo dục pháp luật trên hệ thốngloa truyền thanh cơ sở, trong đó xác định rõ trách nhiệm của các bên trong công tácphổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hệ thống truyền thanh ở cơ sở
Trong đó, cán bộ tư pháp có trách nhiệm:
· Làm đầu mối phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương trong việc tổchức phổ biến, giáo dục pháp luật qua hệ thống truyền thanh cơ sở;
· Chịu trách nhiệm về nội dung tuyên truyền pháp luật của chương trình phátthanh; Giúp cán bộ văn hóa – thông tin xây dựng đội ngũ cộng tác viên ở cácngành, các tổ chức đoàn thể tham gia viết bài cho chương trình phát thanh về phápluật
Cán bộ văn hóa – thông tin có trách nhiệm:
· Tổ chức mạng lưới truyền thanh trong phạm vi địa phương;
· Xây dựng đội ngũ cộng tác viên;
· Xây dựng kế hoạch phát thanh;
2.3.Phổ biến, giáo dục pháp luật qua mạng internet
1 Giới thiệu chung
10 năm qua, kể từ ngày chính thức được triển khai tại Việt Nam, Internet
đã phát triển với một tốc độ rất nhanh chóng Từ con số 0, chúng ta đã vượtqua cả Thái Lan, Philippin… thậm chí cả Trung Quốc để đứng thứ 3 toàn khuvực về mật độ dân cư sử dụng Internet Internet đã có mặt ở mọi lĩnh vựccủa đời sống… Thống kê của Bộ Bưu chính viễn thông cho thấy, hiện nay,Internet đã đi vào 100% các Viện nghiên cứu, các trường Đại học, Cao đẳng,các Bệnh viện trung ương, các Tập đoàn và các Tổng công ty nhà nước,98% các trường Trung học phổ thông, Trung học chuyên nghiệp, 92% cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, 50% các trường Trung học cơ sở, Bệnh viện cấptỉnh, 26/26 Bộ Ngành, 56/64 tỉnh thành đã có Website riêng; ở những vùngsâu, vùng xa, hải đảo, Internet cũng đã có mặt để phục vụ nhân dân Tuyêntruyền pháp luật trên mạng internet là một hình thức phổ biến, giáo dục phápluật có hiệu quả trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay Ưuđiểm của hình thức này là có thể hướng tới phổ biến pháp luật cho nhiều đốitượng, thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau như học sinh, sinh viên, cán bộ, côngchức, doanh nhân, công nhân… Đây là một lợi thế lớn của Internet so vớicác hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật khác
Trang 282 Một số cách thức tuyên truyền pháp luật phổ biến trên mạng Internet
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên mạng Internet là một hình thứctuyên truyền hiện đại nhằm truyền tải những thông tin, yêu cầu, nội dung cácquy định pháp luật đến với người dân, giúp cho người dân hiểu biết, nắm bắtpháp luật kịp thời, tiết kiệm nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu Cónhiều cách thức khác nhau để thực hiện tuyên truyền pháp luật trên mạngInternet, dưới đây là một số mô hình, cách thức tuyên truyền phổ biến
2.1 Cung cấp văn bản quy phạm pháp luật
Hiện nay, văn bản pháp luật vẫn là nguồn luật chủ yếu của hệ thống phápluật nước ta Vì vậy, nhu cầu tìm hiểu văn bản pháp luật luôn là một nhu cầulớn của mọi tổ chức, cá nhân
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩmquyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sựchung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xãhội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nước ta bao gồm: Văn bản do Quốc hội ban hành (Hiến pháp, luật, nghị quyết); văn bản do Uỷ ban thường
vụ Quốc hội ban hành (pháp lệnh, nghị quyết); văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ở trung ương ban hành để thi hành văn bản quy
phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội (lệnh, quyết địnhcủa Chủ tịch nước; nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thịcủa Thủ tướng Chính phủ; quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủtrưởng cơ quan ngang bộ; nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhândân tối cao; quyết định, chỉ thị, thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tốicao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; nghị quyết, thông tư liêntịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan nhà nước có
thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội); văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc
hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên;văn bản do Uỷ ban nhân dân ban hành còn để thi hành nghị quyết của Hộiđồng nhân dân cùng cấp (nghị quyết của Hội đồng nhân dân; quyết định, chỉthị của Uỷ ban nhân dân)
Điều quan trọng nhất khi đưa các văn bản pháp luật lên trên mạnginternet là văn bản đó phải đảm bảo tính chính xác Để có được điều này,người thực hiện công việc cần dựa vào các nguồn cung cấp văn bản chínhthống như Công báo Chính phủ, Công báo địa phương, Lệnh công bố của
Trang 29Chủ tịch nước, các bản chính, bản sao văn bản có giá trị như bản chính…Bên cạnh đó, có thể tham khảo các nguồn cung cấp văn bản pháp luật trêncác trang web có độ tin cậy cao như Trang web của Trung tâm thông tin Văn
phòng Quốc hội: http://www.na.gov.vn hoặc Website Chính phủ: http://www.chinhphu.vn hoặc Cổng thông tin của Bộ Tư pháp:
http://www.moj.gov.vn/ , hay Cơ sở dữ liệu Quốc gia về pháp luật tại địa chỉ
http://vbqppl.moj.gov.vn/ hoặc tham khảo các đĩa CD-ROM cơ sở dữ liệupháp luật Việt Nam
Việc cung cấp văn bản pháp luật cần đảm bảo tính cập nhật, kịp thờicung cấp những thông tin về các quy định mới, những chính sách mới củaNhà nước đến người dân Điều này đòi hỏi người thực hiện phải nhanhchóng cập nhật các thông tin mới về các kỳ họp của Quốc hội, Chính phủ,Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân…
Ngoài ra, tính có hệ thống là một yêu cầu quan trọng trong việc cung cấpvăn bản pháp luật phục vụ mục đích tuyên truyền pháp luật trên mạngInternet Bên cạnh việc sắp xếp theo ngày ban hành, các văn bản nên đượcsắp xếp theo lĩnh vực để người đọc tiện theo dõi, tra cứu khi cần
Bên cạnh việc cung cấp văn bản pháp luật, nếu có kèm theo lời tóm tắt,giới thiệu nội dung chính của văn bản thì sẽ rất hữu ích, tiện lợi cho ngườiđọc Thông qua nội dung tóm tắt, độc giả có thể biết được những nội dung cơbản của văn bản pháp luật Không nhất thiết phải tóm tắt tất cả các văn bảnpháp luật mà có thể lựa chọn những văn bản quan trọng, văn bản mới, liênquan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân Khi tóm tắt nội dung củavăn bản pháp luật cần nêu được tinh thần chung của văn bản, nêu nội dungcủa những quy định mới, những quy định cơ bản của văn bản Yêu cầu củalời tóm tắt là phải nêu được tên văn bản, cơ quan ban hành, ngày tháng banhành, ngày có hiệu lực của văn bản, tên các văn bản pháp luật hết hiệu lựcđược văn bản đó thay thế Lời tóm tắt cần ngắn gọn, dễ hiểu đồng thời bảođảm được tính chuẩn xác, tránh hiểu sai, hiểu nhầm các quy định của phápluật (vì thế khi cần thiết có thể trích nguyên văn những quy định của phápluật)
2.2 Hỏi đáp pháp luật
Hỏi đáp pháp luật là một trong những hình thức phổ biến, giáo dục phápluật hiệu quả Các câu hỏi về pháp luật có nhiều dạng, có thể là câu hỏi trựctiếp (ví dụ như “tội phạm là gì?”, “thủ tục thành lập doanh nghiệp tư nhânđược pháp luật quy định như thế nào?”) hoặc câu hỏi gián tiếp thông qua mộttình huống, một sự kiện xảy ra trong thực tế
Trang 30Câu hỏi trực tiếp thường dùng để giải thích các khái niệm hoặc thuật ngữpháp lý, các vấn đề có tính lý thuyết Vì thế, câu trả lời đối với câu hỏi trựctiếp thường gồm hai phần: giải thích khái niệm sau đó đưa ra ví dụ minh họa.
Đối với câu hỏi gián tiếp, câu trả lời cần phân tích tình huống, sự kiện, chỉ
ra các sự kiện pháp lý, sau đó chỉ dẫn các quy định của pháp luật liên quanđến vấn đề được hỏi
Tuy nhiên, dù dưới dạng nào thì câu hỏi và câu trả lời cũng cần ngắngọn, rõ ràng, tránh dài dòng, gây rối và khó hiểu cho người đọc
Hiện nay, nguồn hình thành các câu hỏi đáp pháp luật có hai dạng: một
là, độc giả truy cập vào trang web rồi gửi câu hỏi cho Ban biên tập (gọi là hỏiđáp theo yêu cầu độc giả); hai là, Ban biên tập nghiên cứu, phát hiện thấynhững vấn đề nhiều người quan tâm rồi xây dựng nội dung các vấn đề đódưới dạng hỏi đáp Tuy nhiên, cho dù các câu hỏi đáp được hình thành như
thế nào thì người biên tập cũng cần lưu ý là phải lựa chọn câu hỏi, trả lời phù hợp và cần sắp xếp câu hỏi đáp pháp luật một cách khoa học, dễ tìm, dễ tra
cứu khi cần thiết Việc sắp xếp này có thể theo nhiều tiêu chí như theo lĩnhvực pháp luật (ví dụ: pháp luật lao động, pháp luật đất đai…) hoặc theo đốitượng hỏi đáp (ví dụ: hỏi đáp pháp luật dành cho thanh niên, phụ nữ, doanhnghiệp…)
2.3 Xây dựng các chuyên mục chuyên sâu về pháp luật
Các chuyên mục tuyên truyền chuyên sâu về pháp luật cung cấp nhữngkiến thức sâu về từng vấn đề pháp luật cụ thể Các chuyên mục thuộc loạinày có thể được xây dựng theo tiêu chí như đối tượng cần tuyên truyền, nộidung pháp luật… (Ví dụ như chuyên mục thủ tục tố tụng dân sự, hình sự,pháp luật hội nhập WTO, pháp luật đất đai…) Song song với việc đảm bảo
về nội dung kiến thức, các chuyên mục này cần chú ý đến những vấn đềtrình bày, biên soạn nội dung cần tuyên truyền dưới dạng sơ đồ, bảng biểu,hình ảnh sinh động để người đọc dễ theo dõi
Bên cạnh việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua những chuyênmục chuyên sâu có nội dung mang tính lý thuyết nên xây dựng nhữngchuyên mục đi sâu phân tích các tình huống cụ thể dưới góc độ pháp luật.Thực tế cho thấy cách làm này mang lại hiệu quả cao, người đọc dễ hiểu và
dễ nhớ Những câu chuyện pháp luật, những tình huống mâu thuẫn có thậttrong cuộc sống được phân tích dưới góc độ pháp luật có thể giúp chuyển tảikiến thức pháp luật một cách sinh động, dễ hiểu, dễ nhớ tới người đọc
2.4 Đưa các tài liệu tuyên truyền pháp luật lên mạng Internet
Trang 31Đưa các tài liệu tuyên truyền pháp luật lên mạng Internet được hiểu làchuyển nội dung của các ấn phẩm tuyên truyền đã xuất bản (sách, đặc san,
tờ gấp, tờ rơi, băng casset, đĩa hình, đĩa tiếng…) thành dữ liệu điện tử vàđăng tải dữ liệu đó trên mạng Internet Như vậy, các tài liệu tuyên truyềnpháp luật đăng trên mạng Internet có nội dung giống như nội dung của các
ấn phẩm đã xuất bản
Cách làm này không những giúp tiết kiệm thời gian mà còn tiết kiệm cảchi phí, bởi vì không phải lúc nào cũng có điều kiện để xây dựng các chuyênmục tuyên truyền pháp luật hay biên soạn mới nội dung tuyên truyền cầnthiết Hơn nữa, người làm tuyên truyền có thể chủ động lựa chọn loại tài liệuphù hợp trong số nhiều ấn phẩm có chất lượng đã được xuất bản
Đầu tiên, cần căn cứ vào mục đích, đối tượng và nguồn tài liệu tuyêntruyền pháp luật hiện có để lựa chọn tài liệu (sách, đặc san, tờ gấp, tờ rơi,đĩa CD, VCD… ) đưa lên mạng Internet
Tiếp theo là, chuyển tài nội dung tài liệu từ dạng bản in sang dữ liệu điện
tử (ví dụ, đối với ấn phẩm dạng bản in giấy thì dữ liệu điện tử có thể là bảnđánh máy) Cần kiểm tra (nghe, đọc soát) để đảm bảo nội dung của dữ liệuđiện tử giống nội dung của ấn phẩm đã xuất bản
Sau khi đã lựa chọn được tài liệu, cần nghiên cứu cách thức đưa lênmạng như đưa dưới dạng file Word, file RAR hoặc file PDF… tùy thuộc vàodung lượng của tài liệu, tính năng kỹ thuật của trang Web… Đối với những tàiliệu có dung lượng không lớn, có thể đưa dưới dạng đơn giản là file Word.Các file đính kèm dạng RAR hoặc PDF có thể sử dụng trong trường hợp tàiliệu có dung lượng lớn, tuy nhiên cần có chương trình tương thích để xem,đọc
Hiện nay, có thể tham khảo cách làm này qua địa chỉ của một số Websitenhư Website của Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế(http://www.nciec.gov.vn); Trang thông tin Phổ biến, giáo dục pháp luật của
Bộ Tư pháp (http://pbgdpl.moj.gov.vn/pbgdpl); Tạp chí Nghiên cứu lập pháp(http://www.nclp.org.vn)…
2.5 Tổ chức giao lưu trực tuyến
Giao lưu trực tuyến là hình thức đối thoại qua mạng Internet, là dịp đểnhững người tham gia bày tỏ, trao đổi những quan điểm của mình về nhữngvấn đề cụ thể Nội dung giao lưu trực tuyến về pháp luật thường là hỏi và trảlời các vấn đề liên quan đến pháp luật, qua đó góp phần nâng cao nhận thức
về các vấn đề xã hội nói chung và nhận thức về pháp luật nói riêng
Trang 32Hiện nay hình thức giao lưu trực tuyến đang ngày càng trở nên phổ biến.
Có rất nhiều báo điện tử tổ chức các diễn đàn để độc giả có cơ hội trao đổivới những nhân vật nổi tiếng, những chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khácnhau như báo Tuổi trẻ điện tử, báo Thanh niên điện tử, báo Vietnamnet…(Trên báo Vietnamnet, Tổ thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư đã cóbuổi giao lưu trực tuyến về việc thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư…)Bên cạnh đó, một số cơ quan quản lý nhà nước ở cấp trung ương như Chínhphủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường… và một số địa phương như thành phố
Hồ Chí Minh, Hà Nội… đã tổ chức thành công hình thức đối thoại hiệu quả,tiện lợi này (Đối thoại trực tuyến giữa Thủ tướng Chính phủ Nguyễn TấnDũng với người dân qua Website Chính phủ, Báo Điện tử Đảng Cộng sản vàBáo Điện tử Vietnamnet, diễn ra từ 9h00 đến 12h00, ngày 09/02/2007 với
chủ đề: "Vì một Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; hội nhập thành công, phát triển bền vững")
Để tổ chức tốt việc tuyên truyền pháp luật bằng hình thức giao lưu trựctuyến, chủ đề của buổi giao lưu trực tuyến về pháp luật cần cụ thể, rõ ràng.Người tổ chức và người giải đáp các vướng mắc cần có sự chuẩn bị chu đáo
về nội dung vấn đề đặt ra, chú ý đến những vấn đề thời sự đang được nhiềungười quan tâm Bố trí hệ thống máy móc đảm bảo chất lượng và phân côngđội ngũ nhân sự giúp việc, phục vụ tốt cho buổi giao lưu
3 Các công việc cần tiến hành để thực hiện tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet
- Xây dựng kế hoạch tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet: Cần xác
định mục đích của việc tuyên truyền, những nội dung pháp luật sẽ tuyêntruyền và thời gian tuyên truyền: việc tuyên truyền sẽ diễn ra lâu dài, định kỳhay theo thời điểm (ví dụ như trước kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội tập trungtuyên truyền Luật bầu cử đại biểu quốc hội)… Mục đích tuyên truyền sẽquyết định mức độ đầu tư, tính năng kỹ thuật cũng như nội dung pháp luậtcần tuyên truyền… Vì vậy, đây là điều quan trọng cần xác định ngay từ đầu
- Xây dựng nội dung thông tin tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet:
Bước này bao gồm các thao tác như thu thập thông tin, biên soạn tài liệu,cung cấp ảnh (nếu có) Nội dung thông tin càng phong phú càng hấp dẫnđược độc giả Thông tin nên được biên soạn ngắn gọn, dễ hiểu, có hình ảnhminh họa sinh động và cần được cập nhật thường xuyên để tạo tính mới chotrang web
- Thiết kế giao diện, hình thức trình bày: Một giao diện website được thiết
kế khoa học, hợp lý sẽ thể hiện rõ được ý tưởng, mục đích của việc tuyêntruyền pháp luật
Trang 33- Quảng bá giới thiệu địa chỉ tuyên truyền trên mạng Internet: Mục đích
của công việc này là để nhiều người biết và truy cập vào trang web Thựchiện việc quảng bá, giới thiệu website có thể dựa vào các kênh thông tin phổbiến như truyền hình, đài phát thanh, báo chí… hoặc tổ chức lễ khai trươnggiới thiệu rộng rãi địa chỉ trang web
- Cập nhật thông tin, duy trì việc tuyên truyền trên mạng Internet: Sau khi
các bước trên được hoàn tất, để duy trì trang web và phát huy tác dụng trongtuyên truyền pháp luật đòi hỏi người làm phải cập nhật thông tin thườngxuyên Có thể nói đây là bước đòi hỏi sự đầu tư về thời gian và chi phí lớnnhất Vì thế, người làm tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet phải thực
sự quan tâm đến công việc này Trên thực tế, có rất nhiều trang web đã đượcxây dựng xong nhưng chỉ sau một thời gian hoạt động, do ít thông tin, thôngtin không cập nhật thường xuyên nên đã không đạt được các mục đích đề raban đầu Vì vậy, để thông tin được duy trì thường xuyên cần đầu tư thíchđáng cả về nhân lực và vật lực; chú ý đến vấn đề phát triển đội ngũ cộng tácviên; đầu tư kinh phí thích đáng đảm bảo chi phí thu thập thông tin, nhuậnbút, biên tập, cập nhật lên mạng Internet…
Một điểm cần lưu ý trong tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet là vấn
đề an ninh thông tin Thời gian qua, tình hình an ninh thông tin trên Internetdiễn biến phức tạp Theo khảo sát sơ bộ có tới 80% các trang tin điện tử cònnhiều sơ hở trong đảm bảo an ninh thông tin, nhiều hệ thống thông tin còn cókhiếm khuyết chưa được cập nhật và quan tâm đúng mức nên đã gây ranhững sự cố đáng tiếc ảnh hưởng tới các dịch vụ hành chính điện tử, thươngmại điện tử và các hình thức ứng dụng công nghệ thông tin khác Vì vậy, khithực hiện tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet cần lưu tâm đến vấn đềbảo mật thông tin, biện pháp phòng, chống sự xâm nhập của các đối tượngbên ngoài
3.1.Khái niệm, vai trò của thi tìm hiểu pháp luật
1 Khái niệm về thi tìm hiểu pháp luật
Thi tìm hiểu pháp luật là hình thức thi do cơ quan nhà nước, các tổ chức, cácdoanh nghiệp tổ chức nhằm động viên, khuyến khích đối tượng tìm đọc, nâng caohiểu biết pháp luật, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đối tượng và nângcao dân trí pháp lý
Trang 34Thi tìm hiểu pháp luật là một trong các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáodục pháp luật, là cầu nối chuyển tải những nội dung pháp luật vào cuộc sống, là hìnhthức sinh hoạt văn hoá pháp lý có sức hấp dẫn và hiệu quả.
2 Vai trò của thi tìm hiểu pháp luật
Thi tìm hiểu pháp luật là một trong những hình thức tuyên truyền, phổ biến,giáo dục pháp luật hấp dẫn, có hiệu quả cao, được sử dụng nhiều
Thi tìm hiểu pháp luật có ưu thế là dễ dàng mở rộng được phạm vi đối tượngtuyên truyền (bao gồm cả người dự thi và người theo dõi cuộc thi); đáp ứng được yêucầu phổ cập pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân, phát huy được tính tích cực, chủđộng của đối tượng dự thi và giúp họ nhận thức sâu sắc hơn nội dung pháp luật cầntìm hiểu, từ đó nâng cao ý thức pháp luật cho họ
Một lợi thế khác của thi tìm hiểu pháp luật là có thể sử dụng được nhiều loạiphương tiện thông tin đại chúng, bằng nhiều hình thức khác nhau và do đó có thể tổchức được ở nhiều nơi, nhiều lúc, với phạm vi, mức độ khác nhau tuỳ theo yêu cầu vàtình hình đặc điểm cụ thể
Thông qua các hình thức thi, những nội dung pháp luật được chuyển tải đếncác đối tượng một cách đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ hơn, sinh động hơn,tránh được sự cứng nhắc, khô khan; đối tượng tiếp nhận các kiến thức pháp luật mộtcách thoải mái và hoàn toàn chủ động, hiểu biết về pháp luật và khả năng áp dụngpháp luật của đối tượng được nâng cao hơn Bên cạnh đó, kiến thức pháp luật, kỹnăng tuyên truyền pháp luật của người tổ chức cũng được gọt dũa, được tôi luyện, trởnên tinh hơn, hiệu quả hơn Nhờ vậy, pháp luật có điều kiện lan toả, dễ đi vào cuộcsống hơn, phát huy hiệu quả tốt hơn Đây vừa là yêu cầu, đòi hỏi, vừa là vai trò củathi tìm hiểu pháp luật
Thông qua thi tìm hiểu pháp luật, pháp luật được truyền tải đến cán bộ và nhândân một cách trực tiếp và gián tiếp
Trang 35Trực tiếp chính là những đối tượng tham gia dự thi phải tìm hiểu pháp luật đểlàm bài, trả lời câu hỏi trên sân khấu.
Gián tiếp: tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của cuộc thi, thể lệ, câu hỏi thi trêncác phương tiện thông tin đại chúng qua đó pháp luật được tuyên truyền đến ngườidân
3.2.Các loại hình thi tìm hiểu pháp luật
Thi tìm hiểu pháp luật được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, do mụcđích, yêu cầu, điều kiện, hoàn cảnh và khả năng cụ thể quyết định Có 4 loại hình thư-ờng được áp dụng nhiều trên thực tế là: thi nói, thi viết, thi trên mạng và thi trắcnghiệm
Một cuộc thi cũng có thể sử dụng một, một số hoặc sử dụng tổng hợp các loạihình này
1 Thi nói (thông qua các hình thức cụ thể như thi vấn đáp, sân khấu )
- Thi vấn đáp: Đây là hình thức thi mà người dự thi phải trả lời bằng miệng
những câu hỏi của Ban Giám khảo về những nội dung pháp luật nào đó
Vì vậy, thi vấn đáp là hình thức thi đòi hỏi người dự thi phải thu thập tài liệupháp luật vừa phải hiểu và nắm vững các quy định pháp luật đó để có thể chủ độngtrả lời nhiều tình huống pháp luật được ban giám khảo đưa ra trên sân khấu Vì cácthí sinh không được sử dụng tài liệu pháp luật như hình thức thi viết, thời gian chuẩn
bị trả lời câu hỏi rất ngắn nên phần trả lời của thí sinh trước Ban giám khảo là nhữngkiến thức có thực của họ
Tuy nhiên hình thức thi này đòi hỏi sự chuẩn bị công phu về nội dung và conngười và đặc biệt là thời gian Do đó, số lượng người tham gia dự thi bằng hình thứcnày sẽ không thể nhiều như đối với hình thức thi viết
- Thi qua hình thức sân khấu: Là hình thức thi mà người dự thi (cá nhân hoặctập thể) dùng sân khấu (sàn diễn) để thực hiện phần thi của mình Người dự thi đồng
Trang 36thời là diễn viên chính, trong nhiều trường hợp vừa là người xây dựng kịch bản Dovậy, họ phải có một trình độ biểu diễn nghệ thuật nhất định mới hoàn thành đượcphần thi của mình Họ cũng có điều kiện thể hiện được kiến thức, trình độ pháp luậtcùng tài năng nghệ thuật và khả năng khác mà họ có Hình thức thi này đòi hỏi sựchuẩn bị công phu về nội dung và hình thức thể hiện.
Thi qua sân khấu có thể khắc phục được nhược điểm chung của thi tìm hiểupháp luật là khô khan, khó hấp dẫn người theo dõi cuộc thi và phần nào đó là đối vớingười thi Vì như trên đã phân tích, đặc điểm của hình thức thi qua sân khấu là có sựlồng ghép giữa pháp luật và nghệ thuật Do đó, ở hình thức này pháp luật được truyềntải tới người dự thi và người theo dõi cuộc thi nhẹ nhàng và tinh tế hơn
Tuy nhiên, hình thức thi này đòi hỏi thời gian tổ chức thi kéo dài từ 1-2 ngàytập trung tại Hội trường nhưng đối với thí sinh bắt buộc phải hoàn thành phần thi củamình trong một thời gian nhất định Hơn nữa, nó đòi hỏi người dự thi phải có mộttrình độ nghệ thuật (và phần nào là năng khiếu) trong khi phần lớn người dự thi lạikhông có đủ trình độ này và tốn kém về mặt kinh phí
Thi sân khấu thường được sử dụng tại các cuộc thi như "Hoà giải viên giỏi",
"Tuyên truyền viên pháp luật giỏi", "Hộ tịch viên giỏi", "Giáo viên giáo dục công dân
- pháp luật giỏi", "Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn với pháp luật" …
2.Thi viết
Là hình thức thi mà người dự thi trả lời các câu hỏi về những nội dung phápluật nhất định bằng việc thể hiện lên giấy những hiểu biết của mình về các nội dungpháp luật đó
Thi viết được sử dụng trong trường hợp cần tuyên truyền, phổ biến trên diệnrộng những nội dung của một văn bản pháp luật nhất định (thi tìm hiểu pháp luật về
an toàn giao thông, thi tìm hiểu Bộ luật Dân sự năm 1995, thi tìm hiểu Bộ luật Hình
sự năm 1999 Hình thức thi này được nhiều địa phương, đơn vị cơ sở, trường học,
Sở Tư pháp (nhất là các Sở Tư pháp) tổ chức
Trang 37Hình thức này có thể áp dụng cho các cuộc thi khác nhau, ở những phạm vi vàđối tượng khác nhau Nhiều người có thể cùng tham dự, cùng làm bài thi Người dựthi có điều kiện nghiên cứu văn bản, thảo luận, bàn bạc, thống nhất nội dung trả lời.
3 Thi trắc nghiệm:
Đây là hình thức thi mà người dự thi trả lời các câu hỏi thi bằng việc lựa chọnphương án phù hợp trong các phương án đã được Ban tổ chức chuẩn bị sẵn Hìnhthức này có ưu điểm là nhanh, gọn và tạo được sự tự tin và cảm giác thoải mái chongười dự thi Nhưng nhược điểm của nó là người tổ chức thi phải mất nhiều công sứcchuẩn bị nhiều phương án trả lời Đồng thời, hình thức thi này có hạn chế nữa làngười dự thi nhiều khi lựa chọn phương án trả lời theo cảm tính và ý chí chủ quan củamình chứ chưa chắc là do hiểu biết pháp luật
Có 2 hình thức thi trắc nghiệm: trắc nghiệm trên giấy và trắc nghiệm điện tử.Trắc nghiệm điện tử có thể được thực hiện qua mạng hoặc qua hình thức thi trực tiếptrên sân khấu
Như trên đã phân tích, thi trắc nghiệm trên giấy có ưu điểm dễ thu hút người
tham gia dự thi vì tiết kiệm thời gian và công sức nhưng vẫn thể hiện khá đầy đủ sựhiểu biết pháp luật của họ Tuy nhiên, trên thực tế, hình thức thi này rất ít được triểnkhai vì tính hiệu quả của loại hình này Tương tự như hình thức thi viết, hình thức thinày rất dễ dẫn đến tình trạng sao chụp bài của nhau
Thi trắc nghiệm điện tử qua mạng là một hình thức thi cần được mở rộng trong
thời gian tới Trắc nghiệm qua mạng với ngân hàng dữ liệu câu hỏi sẽ giúp người thi
tự kiểm tra kiến thức bằng cách trả lời các câu hỏi trắc nghiệm và các phương án trảlời được cho sẵn, chương trình sẽ tự động tính điểm dựa trên câu trả lời của người thi
và cho điểm Qua đó, người thi sẽ tự đánh giá được kiến thức của mình
Ưu điểm của hình thức thi này là người tham gia dự thi có thể trả lời câu hỏi ởbất kỳ thời gian nào phù hợp với điều kiện của họ và thời gian cho phép của cuộc thi;
sự hiểu biết pháp luật của người thi được thể hiện ngay bằng số điểm hiện trên máy
Trang 38tính sau khi đã hoàn thành phần trả lời Bên cạnh đó, hình thức thi này tiết kiệm thờigian, công sức và các chi phí về vật chất
Hiện nay, đã có một số cơ quan, bộ, ngành đã đưa các phần mềm thi trắcnghiệm tìm hiểu kiến thức lên mạng như chương trình “thi trắc nghiệm kiến thức quamạng Internet”
Tuy nhiên, hình thức này cũng có nhược điểm riêng, đó là chỉ phù hợp với đốitượng cán bộ công chức, học sinh, sinh viên - là những người có trình độ hiểu biếtkiến thức nói chung và pháp luật nói riêng tương đối cao Đồng thời, đối tượng nàyđược tiếp cận nhiều với công nghệ thông tin Với các đối tượng khác, đặc biệt là đốivới điều kiện, trình độ của người dân nông thôn và đồng bào dân tộc hiện nay sẽ rấtkhó khăn trong việc tiếp cận pháp luật thông qua hình thức này
Đối với Việt Nam, hình thức thi trên mạng còn rất mới mẻ, chưa được sử dụngnhiều Trong tương lai, hình thức thi này nếu tổ chức tốt sẽ trở thành hình thức thi cóhiệu quả
Thi trắc nghiệm trực tiếp trên sân khấu là một hình thức thi khá phổ biến hiện
nay Ưu điểm của hình thức này là sự sôi nổi, hào hứng của các thí sinh khi được trảlời trực tiếp trên sân khấu Thí sinh thuận lợi hơn khi các phương án trả lời đã đượcBan giám khảo đưa ra để lựa chọn Đáp án của các thí sinh thể hiện kiến thức phápluật thực có của các thí sinh đó Pháp luật tuyên truyền thông qua hình thức thi nàykhông chỉ hiệu quả đối với người tham gia cuộc thi mà còn hiệu quả đối với nhữngngười theo dõi cuộc thi
Cách thức thi trắc nghiệm trực tiếp trên sân khấu tiến hành như sau: Người dẫnchương trình đọc câu hỏi và đưa ra các phương án để thí sinh lựa chọn Câu hỏi vàphương án trả lời đồng thời được chiếu lên màn hình để thí sinh tiện theo dõi Tuynhiên, để chương trình hấp dẫn hơn, các câu hỏi hoặc tình huống sẽ không chỉ dừng ởviệc người dẫn chương trình đọc mà được thể hiện qua tiểu phẩm do diễn viên đóng
Trang 39Thi trắc nghiệm trực tiếp trên sân khấu có thể là các đội tham gia cuộc thi hoặc
cá nhân đại diện cho một tập thể tham gia cuộc thi Kinh nghiệm các cuộc thi chothấy Ban tổ chức cuộc thi nên lựa chọn thi theo đội thì hiệu quả sẽ cao hơn
Chương trình VTV2 - Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp đã với Tổng Cụcthuế - Bộ Tài chính tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật về thuế Cuộc thi được tổchức theo hình thức thi trắc nghiệm trên sân khấu Câu hỏi và tình huống được đưa rathông qua người dẫn chương trình và tiểu phẩm do những diễn viên chuyên nghiệpđóng rất hấp dẫn người tham gia cuộc thi và người theo dõi cuộc thi
4 Thi trên mạng internet
Internet (viết tắt từ International Network) là một mạng thông tin diện rộng,bao trùm toàn cầu, hình thành trên cơ sở kết nối các máy tính điện tử
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển với tốc độ cực kỳ nhanh như hiệnnay thì việc sử dụng mạng lưới thông tin hiện đại phục vụ cho công tác tuyên truyền,giáo dục pháp luật, trong đó có thi tìm hiểu pháp luật là một nhu cầu cấp thiết vàkhông phải là quá xa lạ đối với Việt Nam Thi trên mạng là việc người dự thi chỉ cầnngồi trước máy nhận nội dung yêu cầu thi từ Ban tổ chức (cũng qua máy) và trực tiếptrả lời hoặc trả lời sau đó, tuỳ yêu cầu cụ thể của Ban tổ chức
Cần phân biệt hình thức thi này với các cuộc thi tìm hiểu pháp luật khác đượcphát trên mạng lưới truyền hình là hình thức thi bằng sân khấu, được truyền tải quasóng truyền hình Tuy nhiên, hình thức thi này vẫn là hình thức thi trong tương lai dù
là trong tương lai gần Hiện tại, điều kiện thực tế của Việt Nam chưa cho phép chúng
ta thực hiện trên diện rộng hình thức này
3.3.Đối tượng tuyên truyền trong thi tìm hiểu pháp luật
Tuỳ mục đích, yêu cầu, quy mô, hình thức của cuộc thi và hoàn cảnh, điều kiện
cụ thể mà đối tượng tuyên truyền của cuộc thi tìm hiểu pháp luật cũng khác nhau ưng nhìn chung, đối tượng tuyên truyền của một cuộc thi tìm hiểu pháp luật gồm 2nhóm chính: Người dự thi và người theo dõi cuộc thi
Trang 40Nh-1 Người dự thi
Người dự thi là những người có nhu cầu tìm hiểu pháp luật, là cán bộ, côngchức, công nhân, nông dân, trí thức và những người lao động khác, là chiến sĩ lựclượng vũ trang nhân dân, học sinh, sinh viên, thậm chí cả các phạm nhân, người nướcngoài, người Việt Nam ở nước ngoài Tùy từng cuộc thi cụ thể mà người dự thi cóthể thuộc một, một số hoặc tất cả các thành phần kể trên Họ là những người trực tiếpthực hiện các nội dung thi như trả lời câu hỏi (viết hoặc miệng), thể hiện kiến thức,
sự hiểu biết pháp luật và khả năng của bản thân trong việc áp dụng pháp luật, xử lýcác yêu cầu cụ thể của cuộc thi (thể hiện tài năng ứng xử trước các tình huống cụ thểthường gặp trong cuộc sống qua cách trình bày dưới dạng câu trả lời, tiểu phẩm, kịchngắn, thơ, ca, hò, vè) Đối tượng này tham gia thi với tư cách là những "thí sinh"chính
Bên cạnh đó, người dự thi còn là những người tuy không trực tiếp thực hiệncác nội dung thi như các đối tượng trên đây (thí sinh) nhưng họ góp phần không nhỏcho thành công của các cuộc thi tìm hiểu pháp luật Đó là những người gần gũi vớicác "thí sinh" như anh, chị, em ruột, bố, mẹ, con cái, vợ chồng, đồng nghiệp, hàngxóm, láng giềng, bạn bè Những người này cũng có nhu cầu tìm hiểu pháp luật nhưthí sinh nhưng vì lý do nào đó (như không đủ điều kiện về thời gian, kiến thức hạnchế) hoặc e ngại hoặc chỉ muốn tạo điều kiện cho người thân của mình trực tiếp dựthi với tư cách thí sinh là đủ, họ chỉ tham gia dự thi với tư cách là người giúp đỡ, hỗtrợ, cộng tác, tham mưu cho thí sinh chính thực hiện thi
Đây là đặc trưng chính của cuộc thi tìm hiểu pháp luật, đòi hỏi các nhà tổ chứcphải thực sự nhanh nhạy, tinh tế trong việc nắm bắt nhu cầu; khéo léo, khoa học trongxây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch thi tìm hiểu pháp luật sao cho phù hợp, sátthực, tiết kiệm và hiệu quả cao
2 Người theo dõi cuộc thi