Đề tài Kiện toàn mô hình tổ chức và đội ngũ cán bộ thi hành án để thực hiện có hiệu quả luật thi hành án dân sự năm 2008 thuộc công trình nghiên cứu khoa hoc cấp bộ Nội dung gồm có
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
*******
ĐỀ ÁN KHOA HỌC NĂM 2009
ĐỀ ÁN KIỆN TOÀN MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ THI HÀNH ÁN ĐỂ THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ
LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008
Chủ nhiệm Đề án: PGS.TS Nguyễn Văn Luyện Thư ký Đề án : T.S Nguyễn Quang Thái
8219
Hà Nội, Tháng 11/2010
Trang 2Danh sách Nhóm nghiên cứu Đề án
Đề án kiện toàn mô hình tổ chức và đội ngũ cán bộ thi hành án để
thực hiện có hiệu quả Luật THADS năm 2008
CHỦ NHIỆM: PGS.TS Nguyễn Văn Luyện
Tổng cục trưởng Tổng cục THADS - Bộ Tư pháp
THƯ KÝ: 1 TS Nguyễn Quang Thái - Vụ trưởng Vụ Tổ
Trang 3MỤC LỤC Trang
Chương I:
THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC TRIỂN KHAI
LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008
14
I SƠ LƯỢC VỀ TỔ CHỨC CÁN BỘ NGÀNH THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
14
1 Về tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý THADS 14
II NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC ĐẶT RA
VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN
DÂN SỰ KHI TRIỂN KHAI LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
I MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM KIỆN TOÀN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỂ THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ LUẬT THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ
40
II PHƯƠNG HƯỚNG KIỆN TOÀN TỔ CHỨC, CÁN BỘ NGÀNH
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỂ THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ LUẬT THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ
46
1 Kiện toàn mô hình tổ chức ngành THADS 46
Trang 42 Về kiện toàn đội ngũ cán bộ ngành THADS 71
II GIẢI PHÁP VỀ KIỆN TOÀN ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC, CÔNG
CHỨC LÃNH ĐẠO CỦA HỆ THỐNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ ĐƯỢC GIAO
XÂY DỰNG, THAM GIA GÓP Ý ĐỂ BAN HÀNH
279
Trang 55 CQTHA Cơ quan thi hành án
6 CQTHADS Cơ quan THADS
8 BA, QĐ Bản án, quyết định
9 TAND Tòa án nhân dân
11 CQQLNN Cơ quan quản lý nhà nước
12 VKSND Viện kiểm sát nhân dân
13 CBCC Cán bộ công chức
14 CCHC Cải cách hành chính
Trang 6MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết
Luật THADS được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 là cơ sở pháp lý quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong công tác THADS, khắc phục tình trạng tồn đọng
án kéo dài, nâng cao hiệu quả hoạt động THADS, góp phần giữ vững kỷ cương phép nước và tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân Một trong những vấn đề quan trọng được Luật THADS đề cập đến đó là vấn đề tổ chức bộ máy và công chức THADS Tuy nhiên, do xác định mô hình tổ chức cơ quan THADS liên quan chặt chẽ đến trách nhiệm quản lý nhà nước của Chính phủ, hơn nữa,
để đảm bảo tính linh hoạt trong công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức, chỉ đạo công tác THADS thì mô hình tổ chức, nhiệm
vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý; tên gọi, cơ cấu, tổ chức cụ thể của cơ quan THADS do Chính phủ quy định Qua nghiên cứu cho thấy, Luật THADS có 09 điều liên quan đến cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS
và công chức làm công tác THADS giao cho Chính phủ quy định chi tiết, bao gồm: nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý THADS; tên gọi, cơ cấu, tổ chức cụ thể của cơ quan THADS (khoản 3 Điều 13 Luật THADS); trình tự, thủ tục thi tuyển, bổ nhiệm CHV (Điều 17); các trường hợp đặc biệt áp dụng cho người có thời gian làm công tác pháp luật từ 10 năm trở lên có thể được
bổ nhiệm CHV trung cấp hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ 15 năm trở lên có thể được bổ nhiệm CHV cao cấp (Điều 18); trình tự, thủ tục miễn nhiệm CHV (Điều 19); sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ (khoản 9 Điều 20); tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS và cơ quan thi hành án trong quân đội (Điều 22); cấp trang phục, phù hiệu, tiền lương, chế độ phụ cấp nghề nghiệp và chế độ ưu đãi khác đối với CHV, Thẩm tra viên và công chức khác làm công tác THADS (Điều 26); quản lý nhà nước về công tác THADS và
Trang 7thực hiện quản lý chuyên ngành về THADS của Cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp (khoản 2 Điều 167); việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng (Khoản 3 Điều 168) Ngoài ra, Điều 183 Luật THADS còn giao cho Chính phủ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình hướng dẫn thi hành những nội dung cần thiết khác của Luật để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước
Bên cạnh đó, để phù hợp với điều kiện cụ thể về nguồn công chức làm công tác thi hành án tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa trong giai đoạn hiện nay, điểm 3 Nghị quyết số 24/2008/QH12 của Quốc hội về thi hành Luật THADS giao Chính phủ quy định những cơ quan THADS cụ thể ở các địa bàn nêu trên được tuyển chọn người có trình độ cử nhân luật làm CHV không qua thi tuyển trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật THADS có hiệu lực thi hành
Để các quy định của Luật THADS phát huy hiệu quả, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó giải pháp quan trọng là hoàn thiện thể chế để tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ chức, cán bộ của cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS Đây là vấn đề đã được đặt ra từ năm 1993, khi chuyển giao công tác THADS từ Toà án nhân dân tối cao sang cho Chính phủ
và qua 16 năm thực hiện, đến nay đã có đủ điều kiện để xác định rõ mô hình
tổ chức cơ quan THADS Kết quả tổng kết thi hành Pháp lệnh THADS năm
2004 đã chỉ ra rằng, một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho công tác THADS còn nhiều hạn chế, bất cập là do mô hình tổ chức cơ quan thi hành án chưa ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc được giao Vị trí, mối quan hệ của hệ thống cơ quan THADS chưa rõ ràng, nhất là cơ quan THADS cấp tỉnh và cơ quan THADS cấp huyện
Tất cả những vấn đề nêu trên là những vấn đề quan trọng, phức tạp, một số vấn đề còn mới ở Việt Nam, nhiều nội dung được giao cho Chính phủ
và các cơ quan có liên quan ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Vì
Trang 8vậy, có nhiều vấn đề phải chờ văn bản hướng dẫn mới có cơ sở để triển khai thực hiện
Trong khi đó, theo Kế hoạch triển khai thực hiện Luật THADS và Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Luật này, ban hành kèm theo Quyết định
số 2425/QĐ-BTP ngày 29/12/2008 của Bộ Tư pháp thì trong năm 2009 phải xây dựng 03 Nghị định, 01 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 07 Thông
tư liên tịch để thực hiện Luật THADS Đây là những yêu cầu cấp bách về thể chế THADS đặt ra trong năm 2009, đòi hỏi phải có sự nỗ lực cao của các cấp,
bộ ngành ở Trung ương và địa phương đặc biệt vai trò tham mưu, chủ trì, phối hợp của Tổng cục THADS
Từ tất cả những vấn đề nêu trên cho thấy, sự cần thiết phải khẩn trương
thực hiện Đề án kiện toàn mô hình tổ chức và đội ngũ cán bộ thi hành án
để thực hiện có hiệu quả Luật THADS năm 2008
II Mục tiêu Đề án
1 Xây dựng được những luận cứ khoa học, tạo tiền đề cần thiết cho việc kiện toàn hệ thống tổ chức THADS để thực thi có hiệu quả Luật THADS
2 Xây dựng được những luận cứ khoa học, tạo tiền đề cần thiết cho việc kiện toàn đội ngũ cán bộ THADS để thực thi có hiệu quả Luật THADS năm 2008
3 Tổ chức triển khai kịp thời các quy định của Luật THADS
III Quan điểm chỉ đạo
Đề án được xây dựng theo những quan điểm chỉ đạo sau đây:
1 Quán triệt và triển khai đầy đủ các nghị quyết của Đảng, như:
- Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
Trang 9- Chỉ thị số 53/CT-TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị về một số công việc cấp bách của các cơ quan Tư pháp cần thực hiện trong năm 2000 và Nghị quyết quốc hội khoá X kỳ họp thứ 8 về nhiệm vụ năm 2001 đã chỉ ra 2 nhóm biện pháp chủ yếu: tăng cường đội ngũ cán bộ công chức làm việc trong các cơ quan tư pháp; bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất để các cơ quan bảo vệ pháp luật hoàn thành nhiệm vụ
- Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: "Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó, xác định Toà án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm; “từng bước thực hiện việc xã hội hoá và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án”; "nghiên cứu chế định thừa phát lại (thừa hành viên); trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”;
"Có chế độ, chính sách tiền lương, khen thưởng phù hợp với lao động của cán
bộ tư pháp ";
2 Tiếp tục thực hiện chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp, từng bước xã hội hoá hoạt động thi hành án, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với hoạt động THADS Phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
IV Nội dung chủ yếu của Đề án
1 Nội dung nghiên cứu:
Để thực hiện được các mục tiêu đề ra, Đề án sẽ tập trung nghiên cứu một số nội dung cơ bản sau đây:
a) Về mô hình tổ chức và quản lý THADS
Trang 10- Luận giải các cơ sở khoa học để quy định về mô hình tổ chức, tên gọi,
cơ cấu tổ chức bên trong của cơ quan quản lý THADS và cơ quan THADS
- Luận giải các cơ sở khoa học để quy định quản lý Nhà nước về công tác THADS tại địa phương
- Làm rõ các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc quy định phân cấp quản lý cán bộ các cơ quan THADS trong tình hình mới
b) Về cán bộ công chức làm công tác THADS
- Nội dung, hình thức và một số vấn đề đặt ra đối với việc thi tuyển vào ngạch CHV theo tinh thần của Luật THADS
- Luận giải cơ sở để xác định cơ cấu, số lượng, điều kiện chuyển đổi từ ngạch CHV cấp huyện, cấp tỉnh sang ngạch CHV sơ cấp, trung cấp, cao cấp;
- Nghiên cứu, đề xuất các tiêu chí để xác định các đơn vị thực hiện tuyển chọn CHV không qua thi tuyển theo tinh thần Nghị quyết của Quốc hội
về thi hành Luật THADS
2 Các chuyên đề nghiên cứu:
Để thực hiện được các mục tiêu, nội dung nghiên cứu, Đề án tập trung nghiên cứu một số chuyên đề cơ bản sau đây:
- Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS theo quy định mới của Luật THADS năm 2008
- Thuận lợi và thách thức đặt ra đối với việc hoàn thiện mô hình tổ
chức, cán bộ của hệ thống cơ quan THADS theo tinh thần Luật THADS
- Cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định mô hình tổ chức của cơ quan
quản lý THADS, cơ quan THADS theo quy định mới của Luật THADS 2008
- Thực trạng và giải pháp để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý
THADS tại địa phương theo tinh thần Luật THADS
- Cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định cơ cấu, tổ chức các đơn vị
chuyên môn thuộc cơ quan THADS cấp tỉnh trong tình hình mới
Trang 11- Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc quy định phân cấp quản lý cán bộ
các cơ quan THADS trong tình hình mới
- Nội dung, hình thức và một số vấn đề đặt ra đối với việc thi tuyển vào
ngạch CHV theo tinh thần của Luật THADS
- Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến cơ cấu, số lượng, điều kiện
chuyển đổi từ ngạch CHV cấp huyện, cấp tỉnh sang ngạch CHV sơ cấp, trung cấp, cao cấp
- Những cơ sở khoa học để xác định các đơn vị thực hiện tuyển chọn
CHV không qua thi tuyển theo tinh thần Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Luật THADS
- Kinh nghiệm liên quan đến việc tổ chức thi tuyển, thi nâng ngạch
công chức ở trong nước và quốc tế có thể vận dụng vào việc thi tuyển vào ngạch CHV theo quy định của Luật THADS
V Quá trình thực hiện Đề án
Quá trình thực hiện Đề án gắn với tiến độ xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản có liên quan hướng dẫn thực hiện Luật THADS, Nghị định số 74/2009/NĐ-CP; quá trình kiện toàn hệ thống tổ chức THADS và quá trình kiện toàn đội ngũ cán bộ THADS, cụ thể:
1 Thời gian thực hiện:
- Tháng 5-8/2009: Xây dựng đề cương tổng quát, thu thập tư liệu, ký hợp đồng viết chuyên đề nghiên cứu với cộng tác viên
- Tháng 9/2009: Tổ chức nghiên cứu tại chỗ và tổ chức các buổi tọa đàm khoa học giữa Ban Chủ nhiệm đề án với cộng tác viên
- Tháng 8/2009-01/2010: Hoàn thiện các chuyên đề nghiên cứu
- Tháng 01-02/2010: Viết báo cáo phúc trình
- Tháng 3/2010: Tổ chức các buổi tọa đàm góp ý hoàn thiện báo cáo phúc trình
Trang 12- Tháng 3-9/2010: Hoàn thiện báo cáo phúc trình, sản phẩm nghiên cứu đầy đủ
- Tháng 11/2010: Nộp sản phẩm nghiên cứu và tổ chức nghiệm thu
2 Địa điểm tổ chức thực hiện Đề án: phần tổ chức toạ đàm, hội thảo
khoa học được thực hiện ở Hà Nội; khảo sát tình hình tổ chức bộ máy, biên chế, đội ngũ cán bộ, cơ cấu chức danh công chức THADS trước yêu cầu thực hiện Luật THADS năm 2008 được thực hiện chủ yếu ở một số cơ quan THADS đại diện cho các đơn vị ở thành phố, đồng bằng, miền núi, vùng sâu, vùng xa
VI Sản phẩm của Đề án
- Báo cáo thuyết minh đưa ra những cơ sở khoa học về lý luận và thực tiễn cho việc kiện toàn tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ THADS để thực hiện có hiệu quả Luật THADS năm 2008 (bao gồm báo cáo phúc trình và hệ các chuyên đề có liên quan)
- Danh mục các sản phẩm trung gian có sự tham gia, đóng góp ý kiến của Ban Chủ nhiệm Đề án
- Các tài liệu, tư liệu trong nước và nước ngoài phục vụ cho quá trình nghiên cứu, hoàn thiện Đề án
Trang 13Phần I
Trang 14Chương I THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC TRIỂN KHAI
LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008
I SƠ LƯỢC VỀ TỔ CHỨC CÁN BỘ NGÀNH THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1 Về tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý THADS
Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến khi có Pháp lệnh THADS năm 1989 là giai đoạn mà tổ chức hoạt động THADS chưa được dựa trên một văn bản pháp luật chính thức có hiệu lực pháp lý cao do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Công tác THADS đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Toà án Giai đoạn từ 1945 đến 1950 ở miền Bắc, trên cơ sở Sắc lệnh ngày 10 tháng 10 năm 1945 về việc tạm thời giữ các luật lệ hiện hành của chế độ cũ với điều kiện những điều khoản trong các luật này “không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hoà”,
hoạt động THADS chủ yếu vẫn do Thừa phát lại thực hiện Thừa phát lại do
Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và quản lý, hành nghề trên cơ sở quy định của pháp luật, được hưởng thù lao từ khách hàng theo biểu giá quy định Tổ chức Thừa phát lại chủ yếu tồn tại, hoạt động ở các thành phố lớn, còn ở các vùng nông thôn việc thi hành án do chính quyền cơ sở đảm nhiệm mà chủ yếu
là Ban Tư pháp xã Giai đoạn 1950 - 1959, việc THADS do một Thẩm phán Toà án cấp huyện thực hiện dưới sự chỉ đạo của chánh án, còn ở miền Nam việc THADS vẫn do Thừa phát lại thực hiện cho đến năm 1975 Từ năm 1960-1980, việc thi hành án do nhân viên chấp hành án và sau đó là CHV đặt tại các toà án nhân dân địa phương thực hiện Nhà nước không tổ chức cơ quan THADS riêng mà chỉ đặt CHV tại các toà án nhân dân địa phương để thực hiện chuyên trách việc THADS Ngoài ra, pháp luật cũng quy định trách nhiệm của Uỷ ban hành chính xã, phường cùng các cơ quan có liên quan
Trang 15trong việc hỗ trợ thi hành án Từ năm 1981 đến năm 1989 ở địa phương, tại các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Phòng thi hành
án nằm trong cơ cấu bộ máy và biên chế của Toà án để giúp chánh án quản lý chỉ đạo công tác thi hành án, ở các Toà án cấp huyện có các CHV và cán bộ làm công tác thi hành án Trong việc quản lý và chỉ đạo công tác thi hành án, chánh án Toà án nhân dân huyện, quận báo cáo kết quả công tác thi hành án với Sở Tư pháp và Toà án nhân dân tỉnh, thành phố báo cáo công tác THADS địa phương mình với Bộ Tư pháp và Toà án nhân dân tối cao
Có thể thấy rằng trong thời kỳ này tổ chức bộ máy cũng như nguyên tắc hoạt động của cơ quan thi hành án chưa được chú trọng Cơ chế quản lý và tổ chức thi hành án chưa tạo được vị trí của CHV tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra Tổ chức và hoạt động thi hành án là một giai đoạn khép kín trong Toà án và tuỳ thuộc vào sự chỉ đạo của chánh án Toà án nhân dân địa phương Do đó, tình trạng án xét xử xong không được thi hành chiếm tỉ lệ ngày càng cao trong lượng án phải thi hành hàng năm
Giai đoạn từ năm 1990 đến trước khi có Pháp lệnh THADS năm 1993,
cơ quan THADS, CHV vẫn thuộc Toà án, do Chánh án Toà án trực tiếp chỉ đạo về nghiệp vụ và chịu trách nhiệm báo cáo cấp trên về kết quả của hoạt động thi hành án Do Tòa án vừa là cơ quan xét xử duy nhất, vừa là cơ quan làm nhiệm vụ thi hành án, dễ dẫn đến việc chưa thực sự bảo đảm tính khách quan và quá tải trong hoạt động THADS Giai đoạn từ năm 1993 đến năm
2003, việc Hiến pháp 1992 và các Luật về tổ chức bộ máy được ban hành đã đặt ra những nguyên tắc, nền tảng cho quá trình cải cách tư pháp, trong đó công tác THADS được đổi mới một cách cơ bản thông qua việc Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc bàn giao công tác thi hành án từ Toà án nhân dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ Từ đó, hệ thống các cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS được hình thành từ Trung ương đến địa phương trong phạm vi cả nước, hoạt động độc lập, tách khỏi Toà án nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để toà án tập trung thực hiện chức năng xét xử Hệ thống cơ quan quản lý THADS đã được hình thành ở ba cấp gồm Cục quản lý
Trang 16THADS thuộc Bộ Tư pháp; Phòng quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng;
Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; phòng tư pháp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Các cơ quan thi hành án cũng được hình thành ở hai cấp là Phòng thi hành án thuộc Sở Tư pháp, Đội thi hành án thuộc Phòng Tư pháp So với giai đoạn trước đó thì trong giai đoạn này công tác THADS đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt sau nhiều năm trì trệ Theo kết quả thống kê chưa đầy đủ, từ năm
1995 đến năm 2003, số lượng vụ việc mà các cơ quan THADS thụ lý và giải quyết ngày càng tăng1 Tuy nhiên, sau 10 năm thi hành, Pháp lệnh THADS năm 1993 bộc lộ nhiều bất cập trước những đòi hỏi khách quan của quá trình đổi mới, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, đặc biệt là những vướng mắc
về cơ chế quản lý, mô hình tổ chức thi hành án chưa phù hợp và ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ
Giai đoạn từ năm 2004 đến trước khi có Luật THADS năm 2008 Theo quy định của Pháp lệnh THADS năm 2004 thì mô hình tổ chức THADS gồm
có cơ quan quản lý THADS và cơ quan THADS Cơ quan quản lý THADS gồm Chính phủ thống nhất quản lý công tác THADS; các cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về THADS bao gồm: Bộ Tư pháp, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Để cụ thể hoá thẩm quyền quản lý nhà nước về công tác THADS, tổ chức các cơ quan THADS, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 50/2005/NĐ-
CP ngày 11/4/2005 quy định về cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và cán bộ, công chức làm công tác THADS Theo đó, cơ quan quản lý nhà nước
về công tác THADS bao gồm Cục THADS thuộc Bộ Tư pháp (cơ quan giúp
Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác THADS trong phạm vi cả nước), Sở Tư pháp (cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý nhà nước về công tác thi hành án trên địa bàn cấp tỉnh, thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý đối với cơ quan THADS ở địa phương theo uỷ quyền của Bộ
Trang 17trưởng Bộ Tư pháp); Phòng Tư pháp (cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quản lý về công tác THADS trên địa bàn cấp huyện) So với Pháp lệnh THADS năm 1993 thì Pháp lệnh THADS năm 2004 đã có bước tiến bộ rõ rệt trong việc phân cấp quản lý nhà nước về THADS, xác định rõ hơn về nội dung quản lý nhà nước về THADS của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, tạo cơ sở pháp
lý để hệ thống các cơ quan này hoạt động có hiệu quả hơn Tuy nhiên, qua thực tiễn thực hiện Pháp lệnh THADS năm 2004 cũng cho thấy có những hạn chế, vướng mắc trong chế định về các cơ quan quản lý THADS Ở một số nơi, các cấp chính quyền do chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, vai trò của công tác thi hành án nên chưa làm tròn trách nhiệm chỉ đạo thực hiện việc tổ chức phối hợp các cơ quan hữu quan trong việc thi hành án ở địa phương Việc giao cho
cơ quan tư pháp giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quản lý nhà nước
về thi hành án ở địa phương cũng chưa hợp lý vì đây không phải là những cơ quan trực tiếp tổ chức việc thi hành án nên không nắm chắc được các vụ việc
cụ thể, không thể tham mưu kịp thời, đầy đủ cho Uỷ ban nhân dân về những quy định cần thiết liên quan đến công tác thi hành án
Cơ quan trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Toà án theo Pháp lệnh THADS năm 2004 bao gồm THADS cấp tỉnh và THADS cấp huyện THADS cấp tỉnh có các phòng chuyên môn trực thuộc Như vậy, so với Pháp lệnh THADS năm 1993 thì Pháp lệnh THADS năm 2004 đã tạo ra một bước tiến rõ rệt trong việc nâng cao vị trí, trách nhiệm của cơ quan THADS Theo đó, vị thế của cơ quan THADS đựơc nâng cao một bước, độc lập hơn trong tác nghiệp của mình Cơ quan THADS không còn là một phòng, đội thuộc Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp như trước đây mà có tư cách độc lập nhất định Việc quy định thành lập các đơn vị trực thuộc trong cơ quan THADS cấp tỉnh cũng như quy định chức danh thẩm tra viên tại các cơ quan THADS đã góp phần hoàn thiện tổ chức bộ máy các cơ quan THADS Tuy nhiên, so với yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp thì hệ thống
cơ quan THADS hiện nay vẫn còn những vướng mắc, chưa thực sự độc lập
Trang 18trong tổ chức và hoạt động, trong chừng mực nhất định còn lệ thuộc vào Sở
Tư pháp nhất là trong khâu tổ chức cán bộ
Về cơ chế quản lý THADS theo quy định của Pháp lệnh THADS năm
2004 cho thấy pháp luật hiện hành đã xây dựng được cơ chế quản lý theo ngành kết hợp quản lý theo lãnh thổ, tạo ra cơ chế quản lý tương đối phù hợp được thể hiện trên các mặt sau:
Một là, cơ chế quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ đã
tạo ra cơ chế tương đối thích hợp, giúp cho hoạt động THADS được thống nhất trong toàn quốc, hiệu quả được nâng cao, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương
Hai là, việc giao cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện
một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác THADS ở địa phương đã tạo điều kiện cho sự phối hợp giữa các ban ngành trong việc tổ chức thi hành án, đặc biệt là các vụ việc phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương
Ba là, việc giao cho Bộ Tư pháp quản lý thống nhất về mặt tổ chức và
nghiệp vụ thi hành án đã giúp cho việc hướng dẫn, chỉ đạo được thống nhất trong phạm vi cả nước, đồng thời việc quản lý đội ngũ CHV, cán bộ, công chức cơ quan THADS được chặt chẽ từ khâu tuyển dụng cán bộ, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chức danh CHV, thông qua đó đánh giá đúng năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ thi hành án, xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng hợp lý cán bộ, thực hiện các chế độ khen thưởng, kỷ luật đối với công chức thi hành án được chính xác, phát huy hiệu quả
So với Pháp lệnh THADS năm 1993 thì Pháp lệnh THADS năm 2004
về cơ bản vẫn giữ nguyên mô hình tổ chức THADS nhưng quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện trong quản lý nhà nước về công tác THADS ở địa phương
Trang 19Tuy nhiên, cơ chế quản lý THADS theo quy định của Pháp lệnh THADS năm 2004 cũng còn nhiều hạn chế và còn nhiều quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng cần tổ chức các cơ quan THADS theo hệ
thống dọc, độc lập với uỷ ban nhân dân và cơ quan tư pháp địa phương;
Quan điểm thứ hai cho rằng cần phân cấp hẳn công tác thi hành án cho
Uỷ ban nhân dân địa phương đảm nhiệm, Bộ Tư pháp chỉ làm chức năng quản
lý nhà nước thuần tuý mà không trực tiếp chỉ đạo cụ thể đối với hoạt động này;
Quan điểm thứ ba thì đề nghị cơ bản giữ mô hình tổ chức thi hành án
như hiện nay, vừa quản lý theo hệ thống dọc, vừa kết hợp phân cấp hợp lý cho địa phương
Ngoài ra, việc quy định cơ chế tham gia của nhiều ngành, nhiều cơ quan, tổ chức trong công tác thi hành án như hiện nay đã làm cho công tác thi hành án ở trong tình trạng bị phân tán, nhiều đầu mối thiếu tập trung thống nhất cả về quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện Sự phân tán, cắt khúc này ảnh hưởng không nhỏ đến các quan hệ giám sát, chỉ đạo, phối hợp, hỗ trợ, tham gia của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong công tác thi hành án, nhất là sự phối hợp giữa các cơ quan thi hành án và chính quyền địa phương Đặc biệt do chưa có sự gắn kết giữa THADS và thi hành án hình sự nên công tác THADS gặp phải những vướng mắc khi mà trong nhiều trường hợp cùng một bản án có hai cơ quan chịu trách nhiệm ra quyết định và tổ chức thi hành (cơ quan thi hành án hình sự chịu trách nhiệm thi hành hình phạt tù, còn cơ quan THADS chịu trách nhiệm thi hành phần án phí, tiền phạt và phần dân sự trong các bản án hình sự) Sự chưa gắn kết đó cũng tạo không ít khó khăn cho
cơ quan THADS trong việc xác minh điều kiện thi hành án của những bị can,
bị cáo bị tạm giam, người bị kết án, khó khăn trong việc tống đạt các loại giấy
tờ về thi hành án có liên quan đến quá trình thi hành phần nghĩa vụ dân sự
Trang 20Nhìn một cách tổng quát có thể nói công tác tổ chức bộ máy và quản lý thi hành án hiện nay đang có những khó khăn, vướng mắc, hạn chế nhất định như hoạt động thi hành án hiện đang do nhiều cơ quan chức năng khác nhau quản lý, tổ chức thực hiện; thiếu sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ giữa THADS
và thi hành án hình sự, nhất là những vụ án hình sự có bồi thường thiệt haị, tịch thu, phạt tiền Đề cập đến mô hình tổ chức và quản lý thi hành án, trong bài phát biểu tại Hội nghị triển khai công tác năm 2009 của ngành tư pháp ngày 29-30/12/2008, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã nêu rõ: “Từ thể chế chính trị của chúng ta cho thấy “dọc” hoàn toàn cũng không được, chẳng hạn như các ngành công an, quân đội, ngân hàng là những ngành rất dọc nhưng nếu không có cấp uỷ, chính quyền địa phương hỗ trợ thì cũng không "ổn", Đối với tổ chức cơ quan THADS trên Trung ương có thể là Tổng cục song dưới đó là mô hình ra sao cho phù hợp, nhưng không thể tách rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương"
Việc nghiên cứu lịch sử mô hình tổ chức và quản lý THADS ở Việt Nam với những ưu điểm, hạn chế của từng mô hình thông qua hiệu quả công tác thi hành án được phản ánh ở tỉ lệ thi hành về việc, về tiền và mức độ hài lòng của dư luận quần chúng nhân dân đối với công tác THADS có ý nghĩa quan trọng để từ đó từng bước khắc phục hạn chế, kế thừa và phát triển những
ưu điểm nhằm xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý THADS, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
2 Về cán bộ, công chức THADS
Vào thời điểm tháng 6/1993, các Toà án địa phương đã tiến hành bàn giao công tác thi hành án sang các cơ quan thuộc Chính phủ với số lượng biên chế 1.126 người trong đó có 700 CHV và 426 cán bộ, phần lớn số cán bộ ở thời điểm bàn giao chưa bảo đảm đủ tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định, có nơi không có cán bộ thi hành án để bàn giao
Trang 21Đến hết năm 2002, qua tổng kết 10 năm công tác THADS cho thấy, cả nước đã có 61 Phòng thi hành án cấp tỉnh và 631 Đội thi hành án cấp huyện với tổng biên chế đã thực hiện là 4.357/5183 (trong tổng số 5.183 biên chế được Chính phủ giao có 682 biên chế mới được bổ sung đầu năm 2003) Đội ngũ cán bộ thi hành án hiện có 1.920 CHV, trong đó có 306 CHV cấp tỉnh, 1.614 chấp viên cấp huyện và 2.437 cán bộ nghiệp vụ Đến năm 2008 (năm trước khi Luật THADS được ban hành), toàn ngành có 7.651 người (trong đó
có 2.843 CHV)
Trong số đội ngũ cán bộ, công chức của các cơ quan THADS thì CHV giữ vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan này Theo quy định tại Pháp lệnh THADS năm 1993, sau đó là Pháp lệnh THADS năm 2004
và các văn bản hướng dẫn có liên quan thì CHV có hai ngạch: CHV cấp huyện và CHV cấp tỉnh; tiêu chuẩn bổ nhiệm CHV phải có trình độ Cử nhân luật
Với việc quy định về đội ngũ CHV như trên đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ được giao Tuy nhiên, so với yêu cầu thì việc quy định CHV có hai ngạch đã ít nhiều ảnh hưởng đến việc phân công và bố trí công việc của cơ quan THADS, phù hợp với tính chất và mức độ khác nhau của công việc Thực tế cho thấy, quá trình THADS có những vụ việc thi hành án đơn giản, rõ ràng, lượng tiền, tài sản phải thi hành có giá trị nhỏ, nhưng cũng có những vụ việc tương đối phức tạp, thậm chí một số vụ việc đặc biệt phức tạp Trong khi đó, CHV chỉ có ở hai cấp đó là cấp tỉnh, cấp huyện dẫn đến khó khăn trong việc bố trí, phân công công tác Chưa kể còn ảnh hưởng đến việc điều động, luân chuyển CHV
Ngoài CHV là lực lượng chính của ngành THADS thì kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2010, các
cơ quan quản lý và cơ quan THADS có Thẩm tra viên thi hành án Tuy nhiên,
kể từ khi có chức danh này thì việc bố trí công tác vẫn còn nhiều khó khăn do
Trang 22chưa xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của cơ quan THADS
II NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC ĐẶT RA
VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ KHI TRIỂN KHAI LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
và nhất là trong Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị
về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Về thể chế THADS: Từ năm 1993 đến nay Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan tham mưu giúp Chính phủ trình Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội và Quốc hội ban hành 03 văn bản pháp lý quan trọng về công tác THADS như: Pháp lệnh THADS năm 1993; Pháp lệnh THADS năm 2004 Đặc biệt đã trình và Quốc hội đã ban hành Luật THADS Đây là văn bản pháp
lý quan trọng được ban hành nhằm hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án, xác định rõ địa vị pháp lý của cơ quan thi hành án, quy định nguyên tắc về hệ thống tổ chức cơ quan THADS, phân định rõ cơ quan quản
Trang 23lý THADS và cơ quan THADS, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình đổi mới, phát triển và không ngừng nâng cao hiệu quả của hoạt động THADS ở nước ta Bộ cũng đã phối hợp với các bộ ngành có liên quan trình Chính phủ ban hành gần
10 Nghị định về THADS Đồng thời ban hành hoặc phối hợp với các ngành ban hành nhiều Thông tư, Thông tư liên tịch về THADS
1.2 Công tác THADS giai đoạn 2004 đến 2009 tiếp tục có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực
Mặc dù công tác THADS giai đoạn 1993 - 2003 đã thu được những kết quả nhất định, song công tác thi hành án đứng trước những khó khăn, thử thách rất lớn và còn nhiều tồn tại cần được giải quyết kịp thời Hoạt động thi hành án chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ trật tự xã hội, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế xã hội đang có sự chuyển đổi mạnh Kết quả hoạt động THADS nói riêng và công tác thi hành án nói chung giai đoạn này chưa thực sự đáp ứng được mong mỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân Tình trạng án “tồn đọng” kéo dài, số lượng ngày càng tăng, chưa có biện pháp giải quyết hiệu quả (năm
2003, tổng số án tồn đọng chưa được giải quyết là 356.804 vụ việc) Trước tình hình đó, ngày 14/01/2004, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh THADS năm 2004 với nhiều đổi mới quan trọng về trình tự thủ tục, hoạt động THADS, trong đó có cả đổi mới về tổ chức, cán bộ các cơ quan THADS Trên cơ sở của Pháp lệnh này, ngày 11 tháng 4 năm 2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 50/2005/NĐ-CP Theo quy định của Nghị định này, Hệ thống tổ chức THADS đã có những thay đổi căn bản về tên gọi và vị thế Cục THADS trực thuộc Bộ Tư pháp được giao thêm nhiều nhiệm vụ quan trọng như tổ chức áp dụng thống nhất pháp luật về THADS trong toàn quốc, hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo về thi hành án ; giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý theo ngành dọc đối với cơ quan THADS cấp tỉnh, cấp huyện Bên cạnh đó, tính chất của các tranh chấp về dân
sự, kinh tế cũng ngày càng phức tạp, số lượng tiền, tài sản phải thi hành án ngày càng lớn Vì vậy, cùng với việc xác định rõ hơn vị trí, vai trò của các cơ
Trang 24quan THADS địa phương, Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ, Quyết định số 32/2009/QĐ-TTg ngày 02 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Cục THADS trực thuộc Bộ Tư pháp Nhờ đó, từ năm 2004 đến năm 2009, công tác tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý tổ chức, hoạt động THADS của Cục THADS ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng được nâng lên rõ rệt Về thể chế, đã tham mưu để Bộ trưởng
Bộ Tư pháp trình cấp có thẩm quyền ban hành Pháp lệnh THADS năm 2004, Nghị định 164/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ về kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án; Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2004 về thủ tục, cưỡng chế và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực THADS; Nghị định 50/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2005 về cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và cán bộ, công chức làm công tác THADS và một số văn bản hướng dẫn thi hành khác Đây là các văn bản quan trọng, bước đầu giải quyết được nhiều vấn đề có liên quan đến cải cách hành chính trong THADS Công tác quản lý ngành tiếp tục được quan tâm chú trọng, góp phần đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng đối với công tác THADS ở nước ta
Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quản lý nhà nước về công tác THADS trên địa bàn Giám đốc Sở Tư pháp thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý đối với cơ quan thi hành án ở địa phương theo ủy quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp
Đối với cơ quan THADS cấp tỉnh, cấp huyện, từ chỗ là Phòng Thi hành
án thuộc Sở Tư pháp, Đội Thi hành án thuộc Phòng Tư pháp, trở thành Hệ thống cơ quan tương đối độc lập THADS cấp tỉnh là cơ quan chịu sự quản lý, chỉ đạo của Bộ Tư pháp về tổ chức, cán bộ, công chức, kinh phí và nghiệp vụ; chịu sự quản lý, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về mặt nhà nước theo quy định của pháp luật THADS cấp huyện trực thuộc và chịu sự quản lý, chỉ
Trang 25của Ủy ban nhân dân cấp huyện về mặt nhà nước theo quy định của pháp luật Đội ngũ cán bộ THADS tiếp tục được củng cố, kiện toàn cả về số lượng và chất lượng; cơ sở vật chất, trụ sở làm việc, kinh phí hoạt động của các cơ quan Thi hành án được tăng cường Bộ Tư pháp đã xây dựng đề án tăng cường cơ sở vật chất, xây dựng trụ sở và kho vật chứng của cơ quan THADS trình Chính phủ phê duyệt Nhờ đó, công tác THADS ngày càng có sự chuyển biến tích cực, kết quả thi hành án về việc và tiền năm sau cao hơn năm trước (theo số liệu thống kê của Tổng cục THADS thì, năm 2005: toàn ngành thi hành xong 177.991 việc, đạt 61,77 %; thu được gần 1.700 tỷ đồng, đạt 39,89
% (tăng hơn 505 tỷ đồng so với năm 2004) thì đến năm 2008, toàn ngành thi hành xong 334.448 việc, đạt 78,71%; tăng 32.075 việc so với năm 2007; thu được hơn 4.000 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 55,46% số có điều kiện thu; tăng so với năm
2007 gần 800 tỷ đồng ), nhiều vụ việc thi hành án phức tạp đã được giải quyết dứt điểm Hoạt động THADS góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giữ vững trật tự an toàn xã hội; tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
Kết quả nêu trên là quan trọng, nhưng so với đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới thì công tác THADS ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, trong đó phải kể đến một vấn đề rất lớn đó là chưa xác định rõ vị thế của các cơ quan thi hành án trong hệ thống các cơ quan hành chính, tư pháp ở địa phương; đội ngũ lãnh đạo của cơ quan thi hành án,
cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án chưa ngang tầm và chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ được giao
Cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, các ngành, đoàn thể đã có sự quan tâm đúng mức về công tác THADS: Hoạt động THADS đã được coi là một trong các nhiệm vụ chính trị quan trọng, được cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương quan tâm Vai trò chỉ đạo tổ chức thi hành án của các cấp chính quyền địa phương ngày càng được tăng cường, bước đầu hình thành cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hữu quan ở địa phương trong công tác thi hành án
Trang 261.3 Luật THADS quy định nhiều điểm mới quan trọng về tổ chức, cán bộ THADS
1.3.1 Cơ chế quản lý về THADS đã được xác định rõ ràng
Một là, mô hình Cơ quan THADS kế thừa cơ bản những kết quả tích
cực của mô hình hiện có, khắc phục được những bất cập hiện nay để thống nhất quản lý, chỉ đạo điều hành theo tinh thần một công việc chỉ giao cho một
cơ quan chịu trách nhiệm chính, có sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan Quy định tổ chức THADS theo hệ thống dọc (Tổng cục THADS thuộc Bộ Tư pháp, Cục THADS cấp tỉnh và Chi cục THADS cấp huyện) về cơ bản kế thừa hệ thống cơ quan THADS hiện hành, không làm xáo trộn về hệ thống tổ chức cơ quan THADS, không làm tăng biên chế và bộ máy, phù hợp với tính chất, đặc thù của hoạt động THADS, bảo đảm tính độc lập tương đối và chịu trách nhiệm trước pháp luật của cơ quan THADS và CHV, cơ chế quản lý theo ngành kết hợp quản lý theo lãnh thổ, sự phân cấp quản lý cũng như sự phối hợp quản lý đã tạo ra cơ chế tương đối thích hợp, giúp cho hoạt động THADS được thống nhất trong toàn quốc, đồng thời góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng địa phương
Hai là, việc giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương, quận huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác THADS ở địa phương đã tạo điều kiện cho sự phối hợp của các ban ngành trong việc tổ chức thi hành án, đặc biệt là các vụ việc phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội ở địa phương Nhất là gần đây, Chính phủ đã quy định việc duy trì hoạt động của Ban chỉ đạo thi hành
án (do Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện làm Trưởng ban chỉ đạo thi hành án) Đây thực sự là cầu nối trong việc phối hợp giữa cơ quan THADS với các ngành để tham mưu giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện chỉ đạo thi hành đối với các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương
Trang 27Ba là, đối với các cơ quan THADS địa phương, với những quy định
mới về tổ chức của cơ quan THADS bảo đảm cơ quan THADS cấp tỉnh là quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời quản lý về tổ chức của cơ quan THADS ở địa phương Cục THADS tỉnh quản lý tổ chức và nghiệp vụ THADS trên địa bàn giúp cho việc quản lý đội ngũ CHV và cán bộ thi hành
án được chặt chẽ hơn từ khâu tuyển dụng cán bộ, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức CHV Thông qua kết quả hoạt động nghiệp vụ, giải quyết khiếu nại, tố cáo mà đánh giá được năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ Trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng hợp lý, thực hiện chế độ đề bạt, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức thi hành án được chính xác hơn
1.3.2 Luật THADS đã quy định khá rõ ràng, cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý THADS cấp tỉnh, cấp huyện
Để tạo điều kiện cho quá trình triển khai thực hiện, trên cơ sở pháp điển hoá các quy định tại Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ về cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và cán bộ, công chức làm công tác THADS, Luật THADS đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan THADS So với quy định của Pháp lệnh THADS năm
2004 thì nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan THADS theo Luật THADS năm 2008 có một số điểm mới sau đây:
* Cục THADS cấp tỉnh có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Quản lý, chỉ đạo về THADS trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm: bảo đảm việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật trong hoạt động THADS; chỉ đạo hoạt động THADS đối với cơ quan THADS cấp huyện; hướng dẫn nghiệp vụ THADS cho CHV, công chức khác của cơ quan THADS trên địa bàn; kiểm tra công tác THADS đối với cơ quan THADS cấp huyện; tổng kết thực tiễn THADS; thực hiện chế độ thống
kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động THADS theo hướng dẫn của cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp
Trang 28- Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định tại Điều
35 của Luật THADS; lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ THADS; phối hợp với cơ quan Công an trong việc lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm chấp hành hình phạt tù và đặc xá cho người có nghĩa vụ THADS đang chấp hành hình phạt tù; giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật THADS
- Thực hiện quản lý công chức, cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện hoạt động của cơ quan THADS tại địa phương theo hướng dẫn, chỉ đạo của
cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp
- Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện trách nhiệm, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 173 của Luật THADS; báo cáo công tác THADS trước Hội đồng nhân dân cùng cấp khi có yêu cầu
* Chi cục THADS cấp huyện có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 35 của Luật THADS; giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật THADS
- Thực hiện quản lý công chức, cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện hoạt động được giao theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan THADS cấp tỉnh
- Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan THADS cấp tỉnh; lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ THADS
- Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 174 của Luật THADS; báo cáo công tác THADS trước Hội đồng nhân dân khi có yêu cầu
1.3.3 Nhiều quy định mới về CHV
Thứ nhất, quy định mới về ngạch CHV:
Theo quy định của Pháp lệnh THADS năm 2004 thì CHV có hai ngạch
Trang 29thời gian qua đã gặp những trở ngại, khó khăn cho việc sắp xếp, điều động, luân chuyển CHV giữa các cơ quan THADS Hơn nữa, việc quy định CHV theo hai cấp với mức chênh lệch về bậc lương khởi điểm khá cao, trong khi lại chưa có cơ sở khoa học rõ ràng để phân loại năng lực, trình độ giữa CHV cấp tỉnh và CHV cấp huyện nên chưa động viên, khuyến khích được những người có tài năng và kinh nghiệm đã dẫn đến hạn chế trong hoạt động của CHV trong thời gian qua Mặt khác, thực tế hoạt động THADS cho thấy các bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật khi được đưa ra thi hành thì tính chất, mức độ phức tạp cũng khác nhau: có những vụ việc đơn giản, nhưng cũng có nhiều vụ việc phức tạp, số tiền, tài sản phải thi hành rất lớn, việc thi hành liên quan đến nhiều địa phương, nhiều cấp, nhiều ngành, vụ việc
có yếu tố nước ngoài v.v Việc thi hành những vụ việc như vậy đòi hỏi phải
có những CHV có năng lực chuyên môn và giàu kinh nghiệm Trên cơ sở đó, những vụ việc thi hành án đơn giản, rõ ràng, lượng tiền, tài sản phải thi hành
có giá trị nhỏ sẽ do CHV sơ cấp thực hiện, những vụ việc tương đối phức tạp
do CHV trung cấp thực hiện, những vụ việc đặc biệt phức tạp sẽ do CHV cao cấp thực hiện
Xuất phát từ những lý do trên, để khắc phục những bất cập trong cơ cấu CHV hiện nay, đảm bảo sự công bằng giữa công sức mà các CHV bỏ ra với tính chất, yêu cầu công việc của họ, Điều 17 của Luật THADS quy định: CHV
có ba ngạch là CHV sơ cấp, CHV trung cấp và CHV cao cấp, dựa trên tiêu chuẩn về chuyên môn, trình độ, năng lực nghiệp vụ, thâm niên, kinh nghiệm công tác và không phụ thuộc vào cấp hành chính là hợp lý Quy định các ngạch CHV như vậy cũng tương tự như cơ cấu ngạch công chức có tính đặc thù như Điều tra viên, Thanh tra viên
Thứ hai, quy định mới về thi tuyển CHV:
Trong quá trình soạn thảo Luật THADS, nhiều ý kiến cho rằng, việc tuyển chọn để bổ nhiệm CHV đang được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành, thực tế đã bộc lộ những hạn chế, bất cập trong thủ tục và quy trình tuyển
Trang 30chọn Trong khi đó hình thức thi tuyển khắc phục được những hạn chế này, cho phép lựa chọn được người có đủ tiêu chuẩn, năng lực để bổ nhiệm CHV, tạo khả năng thu hút cán bộ hoạt động ở những lĩnh vực khác, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp Hơn nữa, CHV là một chức danh tư pháp gắn với việc thực hiện nghiệp vụ chuyên môn về thi hành án do pháp luật quy định Việc bổ nhiệm không theo nhiệm kỳ sẽ tạo ra sự yên tâm để CHV làm tốt công tác thi hành án, khắc phục bất cập trong quy trình xem xét, bổ nhiệm lại và cũng không làm hạn chế đến việc xử lý kỷ luật CHV nếu có vi phạm hoặc miễn nhiệm nếu không đủ năng lực, điều kiện làm CHV Xuất phát từ tình hình trên, Luật THADS đã quy định việc bổ nhiệm CHV thông qua thi tuyển và không có nhiệm kỳ là phù hợp
với định hướng của Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị: “Nghiên cứu thực
hiện cơ chế thi tuyển để chọn người bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không
có kỳ hạn”
Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện cụ thể về nguồn công chức làm công tác thi hành án tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa trong giai đoạn hiện nay, tại khoản 3 Nghị quyết thi hành Luật THADS năm 2008, giao Chính phủ quy định những cơ quan THADS cụ thể ở các địa bàn nêu trên được tuyển chọn người có trình độ cử nhân luật làm CHV không qua thi tuyển trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật THADS có hiệu lực thi hành
Thứ ba, quy định CHV được sử dụng công cụ hỗ trợ khi thi hành công vụ:
Thực tiễn cho thấy, THADS là công việc khó khăn, phức tạp Sự chống đối, tấn công của đương sự, nhất là người phải thi hành án đa dạng, với nhiều hình thức, tình huống bất ngờ, khó lường trước và diễn ra ở các giai đoạn của quá trình thi hành án Thực tế đã có nhiều trường hợp không phải cưỡng chế, nhưng CHV, cán bộ thi hành án vẫn bị đương sự dùng hung khí tấn công gây thương tích khi xác minh, giải quyết việc thi hành án (như ở Kon Tum, Bà
Trang 31Rịa - Vũng Tàu, Hà Nội, v.v ) CHV bị đương sự đánh bằng gậy, gạch đá gây thương tích khi đến nhà đương sự xác minh, vận động đương sự tự nguyện thi hành án Mặt khác, việc "giữ gìn trật tự, ngăn chặn những hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án" là nhiệm vụ được giao cho cơ quan Công an song
sự tham gia của cơ quan này chỉ diễn ra trong trường hợp cưỡng chế thi hành
án
Xuất phát từ thực trạng trên, để bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của CHV, cán bộ thi hành án, cũng như đảm bảo giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ tài sản Nhà nước, tài sản công dân, đồng thời phòng vệ, ngăn chặn những hành vi chống đối quyết liệt của người phải thi hành án, Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 Chính phủ đã quy định trang bị công cụ hỗ trợ cho cơ quan THADS, cùng với quy định trang bị công cụ hỗ trợ cho nhiều cơ quan khác Các công cụ hỗ trợ này đã thường xuyên được sử dụng, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của CHV, cán bộ thi hành án, cũng như đảm bảo giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ tài sản Nhà nước, tài sản công dân, đồng thời phòng vệ, ngăn chặn những hành vi chống đối quyết liệt của người phải thi hành án Các cơ quan thi hành án sử dụng công cụ hỗ trợ chủ yếu là
để tự vệ, không có trường hợp nào lạm dụng công cụ hỗ trợ để làm những việc trái pháp luật Hơn nữa, ngoài cơ quan thi hành án, nhiều cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác mặc dù chưa có Luật hoặc Pháp lệnh nào quy định nhưng vẫn được phép trang bị, sử dụng công cụ hỗ trợ, như: Ban, Đội bảo vệ chuyên trách của một số cơ quan, tổ chức nhà nước; Ban bảo vệ dân phố hoặc
tổ chức quần chúng bảo vệ an ninh trật tự ở phường, xã; Trường, Trung tâm huấn luyện tập võ thuật và thể thao của nhà nước; tổ chức, cá nhân thi công xây dựng
Tuy nhiên, Uỷ ban pháp luật Quốc hội khoá XI cho rằng, Pháp lệnh THADS không quy định CHV và cơ quan thi hành án được cấp và sử dụng công cụ hỗ trợ nên việc trang bị công cụ hỗ trợ cho CHV là trái quy định của pháp luật Vì vậy, Luật THADS đã bổ sung quy định CHV "được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ" là sự
Trang 32kế thừa pháp luật hiện hành, tạo điều kiện để CHV có công cụ tự vệ khi gặp
sự chống đối, tấn công của đương sự, đồng thời khắc phục hạn chế của Pháp lệnh THADS năm 2004
Thứ tư, bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của CHV:
Điều 14 Pháp lệnh THADS năm 2004 quy định CHV có bảy nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cho thấy, với những quy định này thì CHV chưa có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Vì vậy, trong quá trình soạn thảo Luật THADS, nhiều ý kiến cho rằng, CHV cần phải
có quyền chủ động hoặc theo yêu cầu của đương sự áp dụng ngay các biện pháp bảo đảm thi hành án (phong toả tài khoản; tạm giữ tài sản; tạm dừng việc chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản) nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thi hành án mà không cần phải thông báo trước cho đương sự Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng, ngoài thẩm quyền áp dụng ngay các biện pháp bảo đảm thi hành án, cần quy định CHV có quyền khám người, khám nơi cất giấu để thu giữ đồ vật, tài liệu, phương tiện của người phải thi hành án Có như vậy mới khắc phục được tình trạng, nhiều trường hợp CHV biết người phải thi hành án có tài sản cất giấu ở một nơi nhất định nhưng không thể buộc họ giao tài sản để thực hiện nghĩa vụ thi hành án
Về vấn đề trên, qua quá trình thảo luận các ý kiến cho rằng, khoản 2 Điều 7 Pháp lệnh THADS năm 2004 đã quy định "trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì CHV có quyền áp dụng kịp thời các biện pháp cưỡng chế quy định tại Điều 37 của Pháp lệnh này" Tuy nhiên, pháp luật về THADS chưa có quy định cụ thể các biện pháp bảo đảm thi hành án nên việc thực hiện quyền của CHV theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Pháp lệnh THADS năm 2004 còn có nhiều hạn chế Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản làm hạn chế hiệu quả hoạt động THADS ở nước ta hiện nay Còn việc bổ sung quy định CHV có thẩm quyền khám người, khám nơi cất giấu để thu giữ đồ vật, tài liệu, phương tiện của người phải thi hành án có
Trang 33thể sẽ thu được hiệu quả lớn cho quá trình thi hành án, song đây là vấn đề nhạy cảm, dễ sai phạm, có liên quan đến quyền cơ bản của công dân Vì vậy, trước mắt Luật THADS chỉ bổ sung quy định các biện pháp bảo đảm thi hành
án mà chưa quy định CHV có quyền khám người, khám nơi cất giấu để thu giữ đồ vật, tài liệu, phương tiện của người phải thi hành án Tuy nhiên, để việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án được chặt chẽ, hạn chế việc lạm dụng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, thì cần quy định rõ thủ tục, thời hạn và trách nhiệm của CHV khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án Trên cơ sở đó, khoản 5 Điều 20 Luật THADS đã quy định bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của CHV đó là "Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án" Đồng thời đã quy định chặt chẽ hơn về thẩm quyền, thủ tục, thời hạn và trách nhiệm của CHV trong việc áp dụng từng biện pháp bảo đảm thi hành án
Thứ năm, quy định những việc CHV không được làm:
Để phù hợp với tính chất, yêu cầu nhiệm vụ, đồng thời trên cơ sở Luật hoá các quy định tại Nghị định 50/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ, Điều 21 của Luật THADS năm 2008 quy định cụ thể những việc CHV không được làm Theo quy định này thì CHV không được làm những việc sau đây:
1 Những việc mà pháp luật quy định công chức không được làm
2 Tư vấn cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dẫn đến việc thi hành án trái pháp luật
3 Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm thi hành án
4 Sử dụng trái phép vật chứng, tiền, tài sản thi hành án
5 Thực hiện việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân
và những người sau đây:
a) Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi;
Trang 34b) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của CHV, của vợ hoặc chồng của CHV;
c) Cháu ruột mà CHV là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì
6 Sử dụng thẻ CHV, trang phục, phù hiệu thi hành án, công cụ hỗ trợ
để làm những việc không thuộc nhiệm vụ, quyền hạn được giao
7 Sách nhiễu, gây phiền hà cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án
8 Cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; trì hoãn hoặc kéo dài thời gian giải quyết việc thi hành án được giao không có căn cứ pháp luật
Trang 35nhắc kỹ lưỡng với tinh thần là phải quán triệt quan điểm về tổ chức và hoạt động cơ quan thi hành án phù hợp với mục tiêu định hướng cải cách tư pháp:
“xác định đúng, đủ quyền năng và trách nhiệm pháp lý” của cơ quan THADS, CHV và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong THADS”2
Với vị trí, vai trò và tầm quan trọng như vậy, song do mô hình tổ chức
cơ quan THADS liên quan chặt chẽ đến trách nhiệm quản lý nhà nước của Chính phủ, hơn nữa, để đảm bảo tính linh hoạt trong công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức, chỉ đạo công tác THADS nên mô hình tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý; tên gọi, cơ cấu, tổ chức cụ thể của cơ quan THADS không quy định trong Luật THADS mà do Chính phủ quy định
Do Luật THADS chưa quy định cụ thể tên gọi, mô hình tổ chức của cơ quan THADS Trong khi đó, đây là vấn đề rất quan trọng Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng, cần phải đổi tên Cục THADS thành Tổng Cục THADS nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo thống nhất trong cả nước hoạt động THADS vốn rất đa dạng, phức tạp hiện nay Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, hiện nay Cục THADS là Cục loại I (đơn vị tương đương Tổng cục) nên không nhất thiết phải đổi tên của cơ quan này
2.2 Nhiều vấn đề lớn đặt ra liên quan đến CHV, cán bộ THADS khi thực hiện Luật THADS năm 2008
Luật THADS có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 đã quy định
bổ sung nhiều nhiệm vụ quan trọng liên quan đến cán bộ, công chức THADS Theo quy định tại Điều 17 của Luật THADS thì: CHV có ba ngạch là CHV sơ cấp, CHV trung cấp và CHV cao cấp Căn cứ quy định này, vấn đề đặt ra là việc bổ nhiệm ngạch CHV cần phải thực hiện như thế nào, ví dụ việc chuyển đổi từ ngạch CHV cấp huyện, cấp tỉnh sang ngạch CHV sơ cấp, trung cấp, cao cấp; cơ cấu, số lượng, điều kiện để được bổ nhiệm vào các ngạch CHV; vấn đề thi tuyển CHV Hay theo quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật
2 Uỷ ban tư pháp Quốc hội: Báo cáo thẩm tra sô 1052 /UBTP12 ngày 17 tháng 4 năm 2008
Trang 36THADS thì: Chính phủ quy định tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS và cơ quan thi hành án trong quân đội Vấn đề đặt ra là những trường hợp Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh, cấp huyện đã được bổ nhiệm có thời hạn theo quy định của Pháp lệnh THADS năm 2004 và các văn bản có liên quan nay nếu chưa hết nhiệm kỳ hoặc mới được bổ nhiệm thì có cần phải bổ nhiệm lại theo quy định của luật mới hay không? trình tự thủ tục bổ nhiệm như thế nào Có thể kể đến các vấn đề sau đây:
2.2.1 Thi tuyển vào ngạch CHV là một chế định mới ở Việt Nam
Trong thời gian qua, ở Việt Nam việc thi nâng công chức là một công việc diễn ra thường xuyên đối với các ngạch công chức Tuy nhiên, việc thi tuyển vào ngạch CHV là một vấn đề mới, chưa có tiền lệ, kể cả đối với các chức danh tư pháp khác như Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán Vì vậy, việc quy định rõ các điều kiện như tiêu chuẩn, vấn đề sơ tuyển, tuyển chọn và trình tự tổ chức thi tuyển có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến hiệu quả của công tác thi tuyển vào ngạch CHV
Vấn đề thứ nhất, bổ nhiệm và thi tuyển CHV cần theo tiêu chí nào? Xác định điều kiện tham dự thi tuyển vào ngạch CHV cũng chưa thật rõ ràng, cụ thể
Ngoài ra, một số vấn đề cũng cần phải nghiên cứu để xác định tiêu chuẩn và bổ nhiệm CHV trong một số trường hợp đặc biệt Thực tiễn cho thấy, do yêu cầu công tác tổ chức cán bộ, một công chức lãnh đạo được điều động từ cơ quan khác sang bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS Những trường hợp này nếu quy định áp dụng đúng tiêu chuẩn bổ nhiệm CHV, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS nhưng các trường hợp đang công tác tại cơ quan THADS sẽ dẫn đến không khả thi Ngược lại nếu không quy định rõ dẫn đến sự lợi dụng hoặc tuỳ tiện khi các trường hợp
từ cơ quan khác sang cơ quan THADS thì dễ dàng, trong khi việc bổ nhiệm CHV ở cơ quan thi hành án lại đòi hỏi tiêu chuẩn chặt chẽ
Trang 372.2.2 Chưa có quy định về kỷ luật cách chức CHV
Theo quy định hiện hành3, thì trong một số trường hợp CHV có hành vi
vi phạm kỷ luật có thể bị cách chức chức danh CHV Luật THADS không quy định về cách chức CHV Thực tế đó dẫn đến nếu không quy định về kỷ luật CHV sẽ không đáp ứng được yêu cầu quản lý, tính răn đe không cao Ngược lại nếu quy định sẽ không bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật
2.2.3 Thẩm tra viên thi hành án chưa có quy định rõ về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
Thẩm tra viên thi hành án không phải là một chức danh mới Tuy nhiên, cho đến nay, ngoài các tiêu chuẩn do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành thì chưa có văn bản nào quy định cụ thể về Thẩm tra viên Điều này, ít nhiều
đã ảnh hưởng đến vị trí, vai trò và trách nhiệm của thẩm tra viên trong quá trình thực thi nhiệm vụ được giao Vì vậy, vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu
và quy định như thế nào cho phù hợp nhằm xác định rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của đội ngũ Thẩm tra viên thi hành án
2.2.4 Tiêu chuẩn Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS chưa được quy định
Luật THADS chỉ quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm CHV Tuy nhiên, Luật này chưa quy định tiêu chuẩn bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS Trong khi đó, đây là chức danh lãnh đạo khá quan trọng được thể hiện trong Luật THADS, có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả hoạt động
a) Bị buộc thôi việc;
b) Bị kết án bằng một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật tuyên người đó có tội
2 Chấp hành viên có thể bị cách chức chức danh Chấp hành viên khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Vi phạm quy định của pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành án mà chưa đến mức bị buộc thôi việc hoặc truy cứu trách nhiệm về hình sự nhưng xét thấy cần phải áp dụng hình thức kỷ luật cách chức Chấp hành viên;
b) Vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 19 của Nghị định này;
c) Bị kỷ luật bằng hình thức cách chức chức vụ quản lý đang đảm nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức nhưng xét thấy không còn đủ điều kiện, tiêu chuẩn làm Chấp hành viên và cần phải cách chức chức danh Chấp hành viên;
d) Vi phạm nghiêm trọng về đạo đức nghề nghiệp của Chấp hành viên;
đ) Có hành vi vi phạm pháp luật khác
Trang 38THADS Hơn nữa so với trước đây thì CHV chỉ có hai ngạch - CHV cấp tỉnh, CHV cấp huyện Vì vậy rất dễ khẳng định Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh phải là CHV cấp tỉnh; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS cấp huyện phải là CHV cấp huyện
Do đó, một vấn đề khá cơ bản đó là phải nghiên cứu để xácđịnh rõ tiêu chuẩn Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh, cấp huyện
2.2.5 Chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, từ chức, cách chức Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS
Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, từ chức, cách chức Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS là những vấn đề khá quan trọng bảo đảm lựa chọn chính xác những người có đủ điều kiện bổ nhiệm vào các chức vụ nói trên, đồng thời cũng là những căn cứ để xử lý chính xác những người có vi phạm Tuy nhiên, Luật THADS chưa có quy định cụ thể về vấn đề này Vì vậy, vấn đề đặt ra đó là cần phải nghiên cứu để đưa ra những quy định đầy đủ, chính xác về trình tự thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, từ chức, cách chức Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS
2.2.6 Chưa có quy định cụ thể chuyển tiếp về tổ chức cán bộ THADS
Một trong những vấn đề quan trọng đó là cần phải bảo đảm tính liên tục giữa việc thực hiện các quy định của Pháp lệnh THADS năm 2004 (sẽ hết hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2009) và Luật THADS, nhất là các vấn đề như tuyển chọn và bổ nhiệm CHV trong trường hợp không qua thi tuyển; Hội đồng tuyển chọn CHV; thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng tuyển chọn CHV cơ quan THADS địa phương; bổ nhiệm từ ngạch CHV huyện, CHV tỉnh, CHV quân khu sang ngạch CHV sơ cấp, CHV trung cấp và CHV cao cấp; điều kiện để bổ nhiệm từ ngạch CHV huyện, ngạch CHV tỉnh, ngạch CHV cấp quân khu sang ngạch CHV sơ cấp, CHV trung cấp và CHV cao cấp;
bổ nhiệm lại Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THADS
Trang 39Ngoài ra, một số các quy định về trình tự, thủ tục có liên quan đến quản
lý tổ chức cán bộ thi hành án như trước đây công tác tổ chức cán bộ các cơ quan THADS địa phương do Giám đốc Sở Tư pháp thực hiện theo uỷ quyền của của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, nay theo quy định mới ai sẽ triển khai thực hiện ?
Tất cả những vấn đề trên cho thấy cần phải nghiên cứu để xác định rõ trách nhiệm, tránh tuỳ tiện hoặc buông lỏng quản lý làm ảnh hưởng đến tổ chức, hoạt động của cơ quan THADS
2.2.7 Quy định về những trường hợp không qua thi tuyển mà tuyển chọn CHV
Để phù hợp với điều kiện cụ thể về nguồn công chức làm công tác thi hành án tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa trong giai đoạn hiện nay theo quy định tại điểm 3 Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Luật THADS thì cần quy định những cơ quan THADS cụ thể ở các địa bàn nêu trên được tuyển chọn người có trình độ cử nhân luật làm CHV không qua thi tuyển trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật THADS có hiệu lực thi hành
Đây là chế độ đặc thù, áp dụng trong một giai đoạn nhất định Trong khi đó nếu căn cứ theo quy định chung thì các đơn vị miền núi chiếm một tỷ
lệ khá lớn Do đó, vấn đề đặt ra cần phải xác định tiêu chí nào là phù hợp vừa bảo đảm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của quốc hội, vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chung của ngành là một vấn đề khá quan trọng
Trang 40Chương II PHƯƠNG HƯỚNG TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
I MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM KIỆN TOÀN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỂ THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1 Mục tiêu
Kiện toàn tổ chức, hoạt động ngành THADS bảo đảm số lượng, chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển ngành giai đoạn 2011-2020 nhằm bảo vệ tốt hơn quyền của người được thi hành án, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan theo bản án, quyết định của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của trọng tài thương mại, đồng thời thực hiện có hiệu quả Luật THADS
2 Quan điểm
a) Kiện toàn tổ chức cán bộ phải phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp
ở nước ta hiện nay
Trong những năm qua, chất lượng hoạt động tư pháp đã được nâng lên một bước, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Tuy nhiên, kết quả đó mới là bước đầu và mới tập trung vào giải quyết những vấn đề bức xúc nhất Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế Chính sách hình sự, chế định PL dân sự và PL tố tụng về tư pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi bổ sung Tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ,
cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu; trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của cơ