Chính sách cho thuê môi trường rừng tại các vườn quốc gia ở khu vực phía Bắc Việt Nam – Nghiên cứu tại vườn quốc gia Ba Vì, Tam Đảo và Bến En
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÙI THỊ MINH NGUYỆT
CHÍNH SÁCH CHO THUÊ MÔI TRƯỜNG RỪNG
TẠI CÁC VƯỜN QUỐC GIA Ở KHU VỰC PHÍA BẮC VIỆT NAM – NGHIÊN CỨU TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ, TAM ĐẢO, BẾN EN
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 62.62.01.15
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Vũ Đình Thắng
2.PGS.TS Trần Quốc Khánh
Hà Nội - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong Luận án này là trung thực, chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ Luận án nào, không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố Các thông tin trích dẫn trong Luận án đã được chỉ rõ nguồn gốc Các hình, bảng biểu không ghi nguồn trích dẫn là của tác giả
Hà Nội, ngày 5 tháng 03 năm 2014
Tác giả
BÙI THỊ MINH NGUYỆT
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành cảm ơn PGS.TS Vũ Đình Thắng và PGS TS Trần Quốc Khánh - những người Thầy đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành Luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Viện Đào tạo sau Đại học, Khoa Bất động sản và Kinh tế tài nguyên, Trường Đại học Lâm
nghiệp, Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Bộ Nông nghiệp và PTNT, VQG Ba
Vì, Tam Đảo, Bến En đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi thực hiện Luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp và bạn bè vì sự ủng hộ và những
ý kiến đóng góp quí báu giúp tôi hoàn thành Luận án
Cuối cùng tôi xin cảm ơn các thành viên trong gia đình đã động viên, ủng hộ, chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành bản luận
Trang 4IUCN Tổ chức quốc tế về bảo tồn thiên nhiên
WTP Willingness to pay (sẵn lòng chi trả)
Trang 5MỤC LỤC
Mục lục i
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình ix
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài luận án 1
2 Mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
3 Đóng góp mới của luận án 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Kết cấu của Luận án 9
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 10
1.1.1 Các nghiên cứu về giá trị của rừng, giá trị dịch vụ môi trường rừng 10
1.1.2 Các nghiên cứu về khai thác dịch vụ DLST tại VQG 12
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về chính sách cho thuê môi trường rừng kinh doanh DLST tại VQG 14
1.1.4 Các công trình nghiên cứu về lượng giá giá trị dịch vụ môi trường rừng và xác định giá thuê môi trường rừng 20
1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 26
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về hệ thống quản lý rừng ở Việt Nam 26
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về xác định giá trị của rừng tại Việt Nam 27
1.2.3 Các công trình nghiên cứu về thuê rừng và thuê môi trường rừng 30
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH CHO THUÊ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI CÁC VƯỜN QUỐC GIA 32
2.1 Thuê môi trường rừng tại các Vườn quốc gia 32
2.1.1 Khái niệm và vai trò của rừng đối với đời sống xã hội 32
2.1.2 Vườn quốc gia và hệ thống vườn quốc gia ở Việt Nam 33
2.1.3 Khái niệm môi trường rừng và cho thuê môi trường rừng VQG 39
2.2 Chính sách cho thuê môi trường rừng Vườn quốc gia 45
2.2.1 Khái niệm về chính sách và chính sách cho thuê môi trường rừng 45
2.2.2 Các yếu tố cơ bản hình thành chính sách cho thuê môi trường rừng 46
Trang 62.2.3 Hệ thống tổ chức xây dựng chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG 47 2.2.4 Định hướng xây dựng chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG 47 2.3 Kinh nghiệm trong xây dựng và thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng trên thế giới và ở Việt Nam 48 2.3.1 Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn trên thế giới 48 2.3.2 Kinh nghiệm trong khai thác dịch vụ môi trường rừng tại VQG ở Việt Nam 57 2.3.3 Bài học kinh nghiệm trong hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng 59 Chương 3.THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHO THUÊ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ, TAM ĐẢO, BẾN EN.62 3.1 Khái quát về VQG khu vực phía Bắc Việt Nam 62 3.2 Đặc điểm của Vườn quốc gia Ba Vì, Tam Đảo, Bến En ảnh hưởng đến thực hiện chính sách cho thuê và thuê môi trường rừng 62 3.2.1 Lịch sử hình thành các VQG nghiên cứu 62 3.2.2 Hiện trạng đất đai, tài nguyên du lịch tại VQG Ba Vì, Tam Đảo, Bến En 64 3.2.3 Đánh giá kết quả khai thác tiềm năng tự có để phát triển DLST tại VQG Tam Đảo, Ba Vì, Bến En 67 3.2.4 Các hoạt động cơ bản tại VQG nghiên cứu 70 3.3 Chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG được áp dụng tại các VQG nghiên cứu trong thời gian qua 73 3.3.1 Hoàn cảnh ra đời của chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG 74 3.3.2 Chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về cho thuê môi trường rừng tại VQG 75 3.3.3 Mục tiêu của chính sách thuê môi trường rừng kinh doanh DLST tại VQG 78 3.3.4 Hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến cho thuê môi trường rừng VQG 78 3.4 Thực trạng thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì, Tam Đảo, Bến En 84 3.4.1 Công tác tuyên truyền phổ biến, xây dựng phương án cho thuê môi trường rừng tại VQG nghiên cứu 84 3.4.2 Xác định, lựa chọn các tổ chức thuê môi trường rừng tại VQG nghiên cứu 86
Trang 73.4.3 Xác định giá thuê, các điều khoản trong hợp đồng thuê môi trường rừng và
ký kết hợp đồng thuê môi trường rừng tại các VQG nghiên cứu 88
3.4.4 Công tác kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện hợp đồng thuê môi trường rừng tại VQG nghiên cứu 100
3.4.5 Kết quả thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì, Tam Đảo, Bến En 100
3.5 Đánh giá tác động của chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì, Tam Đảo, Bến En 114
3.5.1 Những tác động tích cực 114
3.5.2 Tác động chưa tích cực của chính sách cho thuê môi trường tại các VQG và những nguyên nhân 118
Chương 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CHO THUÊ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA KHU VỰC PHÍA BẮC VIỆT NAM125 4.1 Cơ sở hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại các VQG khu vực phía Bắc Việt Nam 125
4.1.1 Chủ trương của Đảng và Nhà nước ảnh hưởng tới việc hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG 125
4.1.2 Bối cảnh trong nước và thế giới ảnh hưởng đến tới việc hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại các VQG 129
4.2 Mục tiêu hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại các VQG khu vực phía Bắc Việt Nam 137
4.3 Một số giải pháp hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại các VQG khu vực phía Bắc Việt Nam 139
4.3.1 Giải pháp liên quan đến xây dựng chính sách 140
4.3.2 Giải pháp thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG 153
KẾT LUẬN 162
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phương pháp lượng giá được sử dụng cho các loại hàng hóa và dịch vụ
môi trường rừng 24
Bảng 1.2 Tổng hợp kết quả lượng giá giá trị du lịch và giải trí của rừng 24
Bảng 1.3 Các phương pháp định giá rừng tự nhiên 28
Bảng 1.4 Phương pháp xác định giá các loại rừng 30
Bảng 3.1 Diện tích đất đai của các VQG nghiên cứu 64
Bảng 3.2 Số lượng loài động, thực vật ở các VQG nghiên cứu 65
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả tính giá thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì 89
Bảng 3.4 Số lượng đơn vị được phép thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì 101
Bảng 3.5: Bảng tổng hợp diện tích cho các doanh nghiệp thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì 102
Bảng 3.6: Diễn biến tài nguyên rừng sau khi thuê môi trường tại VQG Ba Vì 106
Bảng 3.7 Mức đầu tư bảo vệ rừng của các đơn vị thuê môi trường rừng năm 2010 107
Bảng 4.1 Dự báo giá trị dịch vụ môi trường (triệu USD) 126
Bảng 4.2 Ý kiến đánh giá về chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì 135
Bảng 4.3 Nội dung cơ bản của phương án cho thuê rừng 148
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Phân loại phương pháp lượng giá không dựa vào thị trường 21
Hình 3.1 Diện tích đất đai của các VQG nghiên cứu 65
Hình 3.2 Tình hình thu hút khách du lịch đến VQG nghiên cứu 68
Hình 3.3 Doanh thu từ bán vé tại VQG nghiên cứu 68
Hình 3.4 Doanh thu bán vé theo các tháng tại VQG Ba Vì 70
Hình 3.5 Số lượng khách theo các tháng tại VQG Tam Đảo 70
Hình 3.6 Doanh thu từ hoạt động cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì 103
Hình 3.7 Tổng doanh thu của các khu du lịch tại VQG Ba Vì 104
Hình 3.8 Doanh thu từ DLST của VQG Ba Vì và các đơn vị thuê môi trường rừng 104 Hình 3.9 Cơ cấu nguồn thu của KDL Thiên Sơn - Suối Ngà và KDL Thác Đa 105
Hình 3.10 Tình hình thu hút khách du lịch tại VQG Ba Vì 108
Hình 3.11 Tình hình thu hút khách du lịch tại các đơn vị nhận thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì 108
Hình 3.12 Thay đổi cơ cấu nguồn thu của VQG Ba Vì 118
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài luận án
Rừng là quần thể sinh vật bao gồm: thực vật, động vật, vi sinh vật và các yếu
tố môi trường sinh thái như: đất, nước, thời tiết, khí hậu, Vì vậy, giá trị của rừng không chỉ nằm trong các sản phẩm gỗ mà tiềm ẩn một giá trị rất lớn khác là dịch vụ môi trường rừng [26] Ý thức được giá trị nhiều mặt của rừng, vai trò của Đa dạng sinh học trong cuộc sống nên nhiều nước trong đó có Việt Nam đã thành lập các VQG để bảo tồn các giá trị của rừng Tính đến 30/12/2011 cả nước có 30 VQG được phân bố ở nhiều vùng miền cả nước [21] VQG được thành lập với chức năng là để bảo tồn tài nguyên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, bảo vệ nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, Đây là những hoạt động công ích nên về nguyên tắc, những khu rừng này được ngân sách Nhà nước cấp kinh phí và được giao cho các tổ chức Nhà nước (Ban quản lý rừng) trực tiếp quản lý Thực tế hiện nay, nguồn kinh phí từ ngân sách hạn hẹp làm ảnh hưởng đến công tác BV&PTR tại các VQG, đặc biệt là tận dụng các tiềm năng của VQG để phát triển kinh tế, tăng nguồn thu từ rừng, huy động các nguồn lực của xã hội
Trong những thập kỷ gần đây, khai thác các lợi ích từ các VQG, đặc biệt là giá trị sử dụng gián tiếp của rừng (giá trị dịch vụ môi trường rừng), trong đó có dịch
vụ DLST được nhiều VQG trên thế giới quan tâm và thử nghiệm Việt Nam cũng cho phép các VQG chủ động tổ chức các hoạt động kinh doanh DLST để tạo nguồn thu đầu tư lại cho việc BV&PTR, giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, đồng thời góp phần thay đổi nhận thức về vai trò và giá trị nhiều mặt của rừng Tuy nhiên, nhưng hoạt động này tiến hành rất chậm chạp tại các VQG, có nơi không triển khai được do không có nguồn kinh phí để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho loại hình dịch vụ DLST
Một xu thế phát triển mới trong thời gian gần đây là các công ty, tổ chức, cá nhân có nhu cầu thuê môi trường rừng tại các VQG để kinh doanh DLST Mặc dù mới được hình thành, nhưng đây là một hướng phát triển có tiềm năng và nhận được sự
Trang 11đồng thuận của xã hội, vì nó tạo ra sự liên kết mật thiết, chặt chẽ thúc đẩy lẫn nhau của hai hoạt động phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ phát triển nguồn tài nguyên rừng Thuê môi trường rừng còn là 1 phương thức nhằm xã hội hóa dịch vụ môi trường rừng từ đó góp phần tạo nguồn thu để đầu tư lại BV&PTR bằng nguồn vốn tự có, giảm đầu tư của Nhà nước đối với các khu rừng có nhiều dịch vụ môi trường rừng trong đó có VQG
Ở Việt Nam, thuê môi trường rừng kinh doanh DLST được thể hiện trong các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đã được thí điểm áp dụng ở VQG Ba Vì, Bidup Núi
Bà, Ba Bể từ năm 2002 Thực tế triển khai chính sách cho thuê môi trường rừng kinh doanh DLST hiện đang được tổ chức khá thành công tại các VQG trên Năm 2009, Bộ NN&PTNT đã tổ chức đánh giá mô hình "Thuê môi trường rừng làm DLST" ở một số
tỉnh, thành phố, các ý kiến tại hội nghị đều ghi nhận: "Thuê môi trường rừng không chỉ
mang lại hiệu quả kinh tế, mô hình này còn tạo lợi ích cho cả "ba nhà" (Nhà nước, doanh nghiệp và nông dân) và đặc biệt đã thực hiện xã hội hoá nghề rừng" [6]
Mặc dù Nhà nước đã có chủ trương cho thuê môi trường rừng để kinh doanh DLST và được đánh giá khá thành công ở VQG thí điểm nhưng thực tế triển khai còn chậm, một trong những lý do chính là chính sách cho thuê môi trường rừng chưa hoàn chỉnh, quy định tản mạn ở một số văn bản pháp luật khác nhau, thiếu những quy định cần thiết, hoặc một số quy định còn bất cập gây khó khăn cho quá trình triển khai như: trình tự, thủ tục, thẩm quyền cho thuê môi trường rừng chưa rõ, giá cho thuê môi trường rừng mới xác định được ở một số VQG, thiếu quy định thống nhất về quản lý
sử dụng tiền thuê, xử lý tranh chấp, quyền và trách nhiệm của bên thuê và cho thuê, cơ chế chuyển nhượng, góp vốn trong hợp đồng cho thuê môi trường rừng [6]
Chính vì vậy, các phương án quản lý, khung pháp chế, chính sách cho thuê môi trường rừng vẫn là những câu hỏi mở cần có các định hướng của các cấp quản lý và ngành lâm nghiệp Xuất phát từ những vấn đề trên việc nghiên cứu hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại các VQG là cần thiết và cấp bách Đây là lý do nghiên cứu sinh chọn vấn đề này làm đề tài luận án của mình
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng vào mục đích kinh doanh DLST tại VQG ở khu vực phía Bắc Việt Nam
* Câu hỏi nghiên cứu
- Chính sách cho thuê môi trường rừng được thực hiện trên cơ sở khoa học nào ?
- Trên thế giới chính sách cho thuê môi trường rừng được xây dựng và triển khai như thế nào ? Những kinh nghiệm nào có thể tham khảo trong xây dựng chính sách và thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng ở Việt Nam ?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến xây dựng chính sách và thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng ở Việt Nam ?
- Việc thực thi chính sách được tổ chức như thế nào ? Ưu, nhược điểm và nguyên nhân ?
- Chính sách cho thuê môi trường rừng và thực thi chính sách cho thuê môi trường rừng cần được hoàn thiện như thế nào ?
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu chính sách cho thuê môi trường rừng cho mục đích kinh doanh DLST tại một số VQG ở khu vực phía Bắc Việt Nam
2.3 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Các VQG ở khu vực phía Bắc Việt Nam, đề tài lựa chọn nghiên
Trang 13cứu điểm tại 3 VQG Ba Vì (Hà Nội), Tam Đảo (Vĩnh Phúc) và Bến En (Thanh Hóa)
- Thời gian: Nghiên cứu từ năm 2002, bắt đầu có Đề án thí điểm cho thuê
môi trường rừng tại một số VQG của Việt Nam
- Nội dung nghiên cứu:
(1) Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG
+ Cơ sở lý luận về chính sách cho thuê môi trường rừng và cho thuê với mục đích kinh doanh DLST tại VQG
+ Căn cứ thực tiễn về chính sách cho thuê môi trường rừng kinh doanh DLST tại VQG trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
(2) Nghiên cứu thực trạng chính sách và tổ chức thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì, Tam Đảo, Bến En, những kết quả, hạn chế và nguyên nhân
- Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng và khả năng phát triển DLST tại VQG Tam Đảo, Ba Vì, Bến En
- Thực trạng chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG ở Việt Nam
- Kết quả thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng kinh doanh DLST tại VQG Tam Đảo, Ba Vì, Bến En
- Đánh giá những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân trong tổ chức thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì, Tam Đảo, Bến En
- Bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn tổ chức triển khai thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì, Tam Đảo, Bến En
(3)Giải pháp hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG khu vực phía Bắc Việt Nam
- Cơ sở đề xuất giải pháp
- Giải pháp hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại các VQG khu vực phía Bắc (Giải pháp xây dựng chính sách và tổ chức thực hiện chính sách)
3 Đóng góp mới của luận án
- Về lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách cho thuê môi trường
rừng và cho thuê với mục đích kinh doanh DLST tại các VQG Tổng kết kinh nghiệm cho thuê môi trường rừng trên thế giới và rút ra những bài học kinh nghiệm
Trang 14cho Việt Nam Tổng hợp các văn bản chính sách có liên quan đến thuê môi trường rừng ở Việt Nam, phân tích những hạn chế và tồn tại của chính sách cho thuê môi trường tại các VQG
- Về thực tiễn: Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách cho thuê
môi trường rừng tại các VQG nghiên cứu; đánh giá những mặt tích cực, tiêu cực trong tổ chức thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại các VQG nghiên cứu; đánh giá tính phù hợp của các chính sách liên quan đến thuê môi trường rừng tại các VQG; đưa ra những bài học kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại các VQG
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất ra những định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách và tổ chức thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại các VQG ở khu vực phía Bắc Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Lựa chọn đối tượng nghiên cứu
VQG Ba Vì (Hà Nội), Bến En (Thanh Hóa), Tam Đảo (Vĩnh Phúc) được chọn nghiên cứu là những VQG nằm ở các vị trí địa lý khác nhau đại diện cho khu vực phía Bắc, do chủ thể quản lý khác nhau, có tiềm năng cho thuê môi trường và đã triển khai các hoạt động thuê môi trường rừng ở mức độ khác nhau VQG Ba Vì đã thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng từ năm 2002 theo Đề án thí điểm cho thuê môi trường rừng phát triển DLST được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, VQG Bến En bắt đầu triển khai từ năm 2010, VQG Tam Đảo đã có chủ trương nhưng vẫn đang trong quá trình triển khai các thủ tục để thực hiện Trên cơ sở lựa chọn đối tượng nghiên cứu như trên Luận án sẽ tìm hiểu quá trình triển khai chính sách ở các VQG, nhưng thuận lợi, những khó khăn của từng Vườn và nguyên nhân chậm triển khai chính sách
4.2 Phương pháp thu thập thông tin
* Thông tin thứ cấp: Thông tin thứ cấp được thu thập thông qua phương
pháp kế thừa, nghiên cứu tại bàn, bao gồm các tài liệu sau:
- Các văn bản pháp luật có liên quan đến thuê môi trường rừng kinh doanh DLST tại VQG để tìm hiểu chính sách cho thuê môi trường rừng tại các VQG của
Trang 15Việt Nam hiện nay như thế nào, đề cập trong các văn bản pháp luật nào, mức độ đầy đủ của chính sách ở Việt Nam làm cơ sở gợi ý cho việc hoàn thiện chính sách
- Thông tin trên các trang thông tin của Tổng cục Lâm nghiệp, cục Kiểm lâm
về diễn biến rừng, các chủ trương của ngành trong quản lý VQG và cho thuê môi trường rừng tại VQG
- Các tài liệu, kết quả nghiên cứu liên quan đến thuê môi trường rừng và chính sách sách cho thuê môi trường rừng để hệ thống cơ sở lý luận cho Luận án và
có những thông tin bước đầu phục vụ cho nghiên cứu
- Báo cáo của các cấp chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp, các VQG nghiên cứu… để phục vụ cho đánh giá thực trạng triển khai chính sách tại cơ sở, đánh giá các các tác động về kinh tế - xã hội - môi trường của chính sách trên thực tiễn
* Thông tin sơ cấp:
- Phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý, chủ thể cho thuê và đi thuê để có thông
tin dùng cho việc nghiên cứu đánh giá chính sách và thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng kinh doanh DLST, gợi ý cho việc hoàn thiện chính sách, xem xét các quan điểm của các bên liên quan đối với chính sách, nhận biết được những khó khăn trong triển khai chính sách
Đề tài tiến hành phỏng vấn trực tiếp cán bộ tại VQG đã triển khai chính sách cho thuê môi trường rừng thông qua các mẫu phiếu phỏng vấn để nhằm thu thập các
ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về mục tiêu chính sách, về nội dung chính sách,
về tổ chức thực hiện chính sách, về tổng thể chính sách Đối tượng phỏng vấn là ban lãnh đạo, cán bộ làm việc tại các phòng ban liên quan, ban Du lịch và cán bộ kiểm lâm Vườn quốc gia Ba Vì Hiện nay, do mới có VQG Ba Vì đã triển khai thực hiện chính sách qua nhiều năm nên cán bộ quản lý mới nắm rõ về chính sách cũng như
có thông tin về thực trạng thực hiện chính sách, còn VQG Tam Đảo và Bến En chỉ phỏng vấn cán bộ lãnh đạo Số mẫu phỏng vấn phụ thuộc vào số lượng cán bộ quản
lý tại VQG Đối với các cán bộ quản lý ở VQG khác (chưa thực hiện chính sách hay đang bắt đầu triển khai thực hiện) chủ yếu phỏng vấn để thu thập các thông tin về
Trang 16nhu cầu cho thuê môi trường rừng, những cản trở khi thực hiện chính sách và định hướng để thúc đẩy thực hiện chính sách
Đề tài tiến hành phỏng vấn cán bộ tại các đơn vị thuê với nội dung phỏng vấn như cán bộ VQG thông qua phiếu điều tra Bên cạnh đó, phỏng vấn thêm về những tồn tại của chính sách mà các đơn vị thuê đang gặp phải từ đó làm cơ sở hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng trên khía cạnh của đối tượng đi thuê
- Tham vấn ý kiến các chuyên gia thông qua các cuộc phỏng vấn trực tiếp để làm căn cứ đề xuất hoàn thiện các chính sách cho thuê môi trường rừng kinh doanh DLST tại VQG Các ý kiến chuyên gia chủ yếu là các nhà quản lý cấp Trung ương
và các nhà khoa học liên quan đến lĩnh vực hoạch định chính sách hay giảng dạy để
có định hướng trong xây dựng và hoàn thiện chính sách
- Nghiên cứu trường hợp điển hình: Tác giả đã tiến hành nghiên cứu toàn diện 3 VQG, đi sâu nghiên cứu VQG Ba Vì - nơi đã triển khai chính sách, so sánh các VQG nghiên cứu để tìm ra những tồn tại, những nguyên nhân cần khắc phục và những lý do ảnh hưởng đến việc triển khai chính sách trong thực tế Rút ra những bài học kinh nghiệm cho xây dựng và thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng kinh doanh DLST ở khu vực phía Bắc Việt Nam Tác giả đã xây dựng bảng phỏng vấn cho các đối tượng là nhà quản lý của VQG Ba Vì, các công ty du lịch đang thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì để nhằm thu thập các ý kiến đánh giá khác nhau về mục tiêu, nội dung chính sách cho thuê môi trường rừng kinh doanh DLST tại VQG Trong mẫu phỏng vấn bao gồm cả câu hỏi đóng và câu hỏi mở nhằm đánh giá và có định hướng hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng kinh doanh DLST tại VQG
- Các thông tin được thu thập tại các VQG lựa chọn nghiên cứu, bao gồm: + Thông tin về đặc điểm cơ bản của VQG, tiềm năng của VQG để phát triển DLST và các yếu tố đầu vào để thực hiện cho thuê môi trường rừng
+ Thông tin về tình hình quản lý VQG, quản lý các hoạt động DLST, quản lý các hoạt động cho thuê môi trường rừng tại VQG Thông tin này thu thập từ các nhà quản lý tại VQG
Trang 17+ Thông tin về tình hình triển khai chính sách cho thuê môi trường rừng tại các VQG như kết quả hoạt động kinh doanh của các đơn vị sau khi ký hợp đồng thuê môi trường rừng (doanh thu, chi phí, lợi nhuận ), kết quả đạt được từ việc thực hiện chính sách (nguồn thu từ cho thuê, sử dụng kinh phí thuê, ) Thông tin này thu thập từ ban quản lý Vườn, các chủ doanh nghiệp đang tiến hành thuê môi trường rừng tại các VQG
+ Thông tin về tình hình xây dựng và thực hiện chính sách tại VQG, sự đầy đủ, phù hợp của chính sách Thông tin này thu thập từ nhà quản lý VQG, chủ doanh nghiệp
+ Thông tin về sự tham gia của các bên trong việc triển khai thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng cũng như những tác động của chính sách đến từng bên Thông tin này thu thập từ các nhà quản lý, chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư
+ Thông tin đánh giá của các nhà quản lý về chính sách cho thuê môi trường rừng đang áp dụng tại VQG
4.3 Xử lý và phân tích thông tin
Thông tin, số liệu được tổng hợp và phân tích theo từng địa điểm và từng nội dung nghiên cứu Cụ thể:
- Các thông tin định lượng (biểu mẫu, số liệu…) sẽ được xử lý và tổng hợp với sự hỗ trợ chương trình excel
Các phương pháp phân tích được sử dụng:
+ Phương pháp thống kê kinh tế để phân tích đánh giá và tổng hợp kết quả nghiên cứu nhằm tìm quy luật cũng như phân tích biến động và xu thế phát triển của đối tượng nghiên cứu
+ Phương pháp tổng hợp: Dùng phương pháp tổng hợp để hệ thống hóa tài liệu thu thập được làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng thực hiện chính sách thuê môi trường rừng tại các VQG nghiên cứu
+ Phương pháp mô tả: Dùng phương pháp này để mô tả quá trình tổ chức thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng cũng như các hoạt động liên quan từ kết quả khảo sát thực tế và các thông tin thu thập được tại địa điểm nghiên cứu
+ Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để so sánh kết quả thực hiện cũng như những điều kiện cụ thể giữa các VQG nghiên cứu với nhau, tìm
Trang 18ra những điều kiện, những cách thức thực hiện giống và khác nhau giữa các VQG nghiên cứu
+ Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các nhà quản lý, các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm để phân tích, đánh giá tình hình xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng thông qua các hình thức trao đổi trực tiếp, email, điện thoại,…
5 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các Phụ lục, Luận án được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách cho thuê môi trường rừng tại các Vườn quốc gia
Chương 3: Thực trạng chính sách và thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì, Tam Đảo, Bến En
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG khu vực phía Bắc Việt Nam
Trang 19Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay, việc khai thác các giá trị dịch vụ môi trường rừng tại các VQG đang nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và những người trực tiếp làm nghề rừng Trong thời gian vừa qua, đã có một số công trình nghiên cứu về vấn
đề này ở các khía cạnh khác nhau Các công trình nghiên cứu về chính sách cho thuê môi trường rừng tại VQG chưa có nhiều, chủ yếu mới tập trung vào các công trình nghiên cứu liên quan đến thuê rừng, xác định các giá trị của rừng và khai thác các giá trị dịch vụ môi trường rừng kinh doanh DLST
1.1.1 Các nghiên cứu về giá trị của rừng, giá trị dịch vụ môi trường rừng
Một số nghiên cứu đã bước đầu ước tính được các giá trị của rừng như nghiên cứu của Sutherland (1985), Pearce (2001) Các nghiên cứu đã chỉ ra giá trị nhiều mặt của rừng như là cung cấp gỗ, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ và phục hồi đất, điều hòa khí hậu, hấp thụ cacbon, tạo vẻ đẹp cảnh quan cho giải trí Những giá trị này của rừng đã đem lại rất nhiều lợi ích khác nhau cả về kinh tế, sinh thái, môi trường Việc đánh giá đầy đủ giá trị của rừng và môi trường rừng là cơ sở để khai thác và quản lý rừng bền vững Mặc dù, đã nhận biết được giá trị nhiều mặt của rừng nhưng trong một thời gian dài con người mới chỉ quan tâm đến giá trị từ khai thác gỗ Chỉ đến khi các vấn đề về ảnh hưởng của việc khai thác gỗ quá mức gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường thì những vai trò của môi trường của rừng và dịch vụ môi trường rừng mới được thực sự quan tâm [95], [88]
Do chưa nhận thức đầy đủ giá trị của rừng nên ngành lâm nghiệp được đánh giá
là ngành mang lại giá trị rất nhỏ cho nền kinh tế và nhiều giá trị của rừng đang chưa được thừa nhận Nguyên nhân của những đánh giá trên là do đặc thù của ngành Lâm nghiệp, do nhận thức về giá trị của rừng chưa đầy đủ, nhiều lợi ích kinh tế của rừng chưa xác định được giá trị vì các lợi ích này không được đem bán ra thị trường Chính do quan niệm như vậy nên nhiều người làm nghề rừng không thể sống được
Trang 20bằng nghề cũng như là không thể tách được ra khỏi sự trợ cấp của Chính phủ Xuất phát từ thực tế đó, việc khai thác các giá trị môi trường rừng và dịch vụ môi trường rừng được rất nhiều nước, nhiều người làm nghề rừng quan tâm [56]
Công trình nghiên cứu của Hultala (2004) đã chỉ ra rằng, hiện nay môi trường rừng đang bị coi là thứ “hàng hoá công cộng” nên mọi người đều có thể tự do tiếp cận, tự do
sử dụng và hưởng lợi từ giá trị của môi trường rừng Tình trạng này, nhất là ở những nước nghèo, đã không khuyến khích người làm lâm nghiệp bảo vệ và phát triển những giá trị môi trường rừng, dẫn đến thiệt hại cho nhiều ngành sản xuất và đời sống nói chung [70] Thực tế đó đã buộc những người làm nghề rừng và những người hưởng lợi chính từ giá trị môi trường rừng phải hợp tác với nhau, chia sẻ với nhau trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát triển những giá trị môi trường rừng Trong quá trình đó những giá trị môi trường rừng được phân tích, lượng giá, mua bán, trao đổi như những hàng hoá và dịch vụ khác Người ta gọi những lợi ích môi trường của rừng được đưa ra trao đổi, mua bán như vậy là dịch vụ môi trường rừng Tuy nhiên, trong thời gian dài kết quả nghiên cứu giá trị của môi trường rừng chỉ có ý nghĩa làm tăng kiến thức của con người về giá trị nhiều mặt của rừng, làm thay đổi giá trị của rừng mà chưa trở thành căn cứ cho những quyết định về biện pháp tác động vào rừng [70]
Natasha (2002) đã xác định cơ cấu giá trị cho các loại dịch vụ môi trường của rừng là: Hấp thụ các bon chiếm 27%; Bảo tồn đa dạng sinh học chiếm 25%; Bảo vệ đầu nguồn chiếm 21%; Vẻ đẹp cảnh quan chiếm 17% và giá trị khác chiếm 10% [86] Sự đánh giá này cho thấy, rừng có thể cung cấp nhiều loại dịch vụ khác nhau
và mỗi dịch vụ này sẽ có một giá trị nhất định trong tổng giá trị kinh tế của rừng
Laitos và Reiss (2004) khi nghiên cứu về những xung đột giữa bảo tồn và giải trí trong quản lý tài nguyên thiên nhiên tại Mỹ đã cho rằng, luật tài nguyên thiên nhiên (Natural Resource Law) đã được hình thành và phát triển theo ba giai đoạn khác nhau trong suốt lịch sử 50 năm của nó Giai đoạn 1 từ 1962-1964, Luật pháp Mỹ tập trung vào khuyến khích việc khai thác khoáng sản, dầu khí, gỗ và các sản phẩm thương mại khác Quốc hội Mỹ đã đưa ra nhiều đạo luật phục vụ cho mục tiêu này Chính những vấn đề về môi trường từ những hoạt động khai thác trong
Trang 21giai đoạn I này đã dẫn đến những thay đổi về chính sách trong giai đoạn II Giai đoạn II bắt đầu từ 1964 đến 1990, các bộ luật và chính sách được xây dựng nhằm hạn chế những vấn đề về môi trường thông qua việc ngăn chặn khai thác kiệt quệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ không khí và nước, bảo tồn sinh cảnh và loài quý hiếm Tuy nhiên cũng giống như trong giai đoạn I, việc quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên chỉ bao gồm việc khai thác khoáng sản, chặt gỗ và chăn nuôi kèm theo các quy định bảo vệ môi trường khác Tuy nhiên đến giai đoạn III, con người được chứng kiến sự thay đổi căn bản từ bảo vệ môi trường tới bảo tồn và giải trí Việc khai thác các nguồn tài nguyên như khoáng sản, dầu mỏ và gỗ đã không còn là vấn đề căn bản trong quản lý tài nguyên nữa mà được thay bằng các vấn đề bảo tồn và du lịch, giải trí [77]
Công trình nghiên cứu của Sven Wunder (2005) chỉ ra rằng, giá trị của rừng là rất lớn, đặc biệt là giá trị môi trường và dịch vụ môi trường của rừng Với tầm quan trọng này nhiều tổ chức, quốc gia đã hình thành các cơ chế khác nhau nhằm quản lý dịch vụ môi trường rừng trên quan điểm coi dịch vụ môi trường là một loại hàng hoá Một số quốc gia đã tiến hành nghiên cứu và xây dựng cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường rừng - PES (Payment for Environment Services) nhằm quản lý bền vững các dịch vụ môi trường rừng Theo đó, các khái niệm và thuật ngữ được thừa nhận để chỉ
sự thương mại các dịch vụ môi trường như: chi trả, đền đáp, thị trường, bồi thường [96] Đây được coi là những xu hướng mới nhằm quản lý dịch vụ môi trường rừng
và hướng tới phát triển bền vững
1.1.2 Các nghiên cứu về khai thác dịch vụ DLST tại VQG
Riera và cộng sự (2012) đã chỉ ra rằng, ở những nước phát triển khi giá thuê đất cao, kinh doanh gỗ có chu kỳ dài sẽ tạo ra những áp lực lớn với Nhà nước và những người làm nghề rừng Vì vậy, những nhà quản lý rừng cần suy nghĩ để tìm ra những nguồn thu nhập khác để tăng giá trị của rừng, bù đắp sự tăng giá thuê đất và chi phí sử dụng vốn Ở một vài nước Chính phủ vẫn có các chính sách hỗ trợ ngành sản xuất và chế biến gỗ nhưng đây chỉ được coi như là một cách để gìn giữ vùng nông thôn, thay vào đó các nhà quản lý được yêu cầu phải suy nghĩ tìm ra những nguồn thu nhập khác
Trang 22Xuất phát từ thực tế đó, các hoạt động kinh doanh DLST, giải trí đang có xu hướng tăng lên và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị của rừng [89]
Tại nhiều nước khác, giá trị dịch vụ môi trường rừng cũng ngày càng được đánh giá cao và các biện pháp quản lý sử dụng bền vững những giá trị này là một phần quan trọng trong định hướng chung của Chính phủ Vấn đề này được trình bày trong nhiều nghiên cứu khác nhau trên thế giới, như nghiên cứu của Salam D E (1998) về chính sách của Tanzania, nghiên cứu của Bryner, G (1999) về sự cần thiết giữa cân bằng trong bảo tồn và khai thác gỗ thông qua việc so sánh và phân tích chính sách đất đai công của British Columbia - Canada với Miền Tây nước Mỹ
Các nghiên cứu về giá trị cảnh quan du lịch của các khu vực có rừng nhiệt đới đã được tiến hành Một số khu vực DLST thu hút một lượng lớn khách du lịch
và do đó có giá trị kinh tế tính trên mỗi héc ta rất cao Tuy nhiên, khó đưa ra được một con số giá trị tiêu biểu bởi giá trị này thay đổi theo khu vực và tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể Ví dụ, tính toán giá trị du lịch giải trí hàng năm ở Trung Quốc cho thấy giá trị này khoảng 220,9 - 10.564 NDT/ha (tương đương 27,6 - 1.320 USD/ha) Trong năm 1996, người Bristish Clumbia chi tiêu khoảng 1,9 tỷ USD cho các hoạt động DLST, đóng góp cho ngành thuế của địa phương là 116 triệu USD [83] Krieger (2001) cho rằng, giá trị du lịch giải trí của rừng ở Đức được xác định
là khoảng 2,2 tỷ USD/năm [76]
Công trình nghiên cứu của Tek B Dangi (2010) cho thấy, DLST được coi là một trong những cách thức vừa hỗ trợ bảo tồn đồng thời phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững [97] Tại Hội nghị các VQG thế giới lần thứ V do IUCN tổ chức năm
2009, các nhà khoa học đã khẳng định “DLST ở trong và ngoài khu bảo tồn là một
phương pháp bảo tồn: hỗ trợ, tăng cường nhận thức về các giá trị quan trọng của khu bảo tồn như giá trị sinh thái văn hóa, tinh thần, thẩm mỹ, giải trí và kinh tế; đồng thời tạo thu nhập phục vụ bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học, hệ sinh thái và di sản văn hóa DLST cũng đóng góp nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng bản địa”
[98] Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới dừng lại ở việc nghiên cứu các chính sách quản lý hoạt động DLST ở các VQG nhưng chưa đề cập đến hình thức thực
Trang 23hiện và đánh giá được các hình thức đó để cung cấp các kinh nghiệm cũng như giải pháp nhằm hoàn thiện được chính sách cho thuê môi trường rừng
Theo Riera và cộng sự (2012), để thực hiện các hoạt động kinh doanh DLST các chủ rừng có thể tiến hành bằng nhiều cách khác nhau Hiện nay, một số chủ rừng
có thể tự thực hiện việc kinh doanh hoặc có thể cho thuê một phần hay toàn bộ công việc kinh doanh DLST Cho thuê môi trường rừng kinh doanh DLST đã được xem như một trong những nội dung quan trọng của quản lý rừng trong giai đoạn hiện nay Các chủ rừng khi cung cấp các tiện ích cho du lịch và giải trí phải quan tâm đến chi phí xây dựng, duy trì các tiện nghi, dịch vụ, cơ sở hạ tầng Duy trì tiện nghi và sự hài lòng của khách hàng phải được gắn chặt với trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội [89] Tại Châu Âu, công trình nghiên cứu của Hultala (2004) đã cho thấy, cơ bản việc kinh doanh du lịch và giải trí cũng được thực hiện trên cả rừng công cộng sở hữu của Nhà nước cũng như rừng sở hữu tư nhân Tuy nhiên, nhiều nước thuộc vùng Bắc Âu có chính sách miễn phí sử dụng các dịch vụ giải trí cơ bản tại các khu rừng thuộc quản lý của Nhà nước và các VQG Ngoài ra, người dân cũng có quyền tự do tham quan tất cả các vùng tự nhiên chưa phát triển Tại các VQG, Chính phủ chi trả trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho các dịch vụ cơ bản (củi để đốt, vệ sinh, thu dọn rác …) và người dân được miễn phí vào cổng Do vậy, các chi phí này không được tính vào khi xây dựng các kế hoạch phát triển dịch vụ giải trí tại các VQG [70] Đối với các khu vực giải trí thuộc sở hữu Nhà nước, chính phủ cũng dành một phần từ thuế để hỗ trợ sự duy trì và phát triển chúng Xuất phát từ những quy định đó, như một truyền thống người dân tại các nước này là không phải chi trả lệ phí đường vào tất cả những khu vực có xây dựng đường xá dù nó thuộc sở hữu tư nhân hay công cộng Các loại chi phí chủ yếu mà người dân phải chi trả khi tham gia các dịch vụ du lịch và giải trí gồm có phí hướng dẫn du lịch, thuê lều/nhà gỗ, thuê môi trường để cắm trại, câu cá và săn bắn [70]
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về chính sách cho thuê môi trường rừng kinh doanh DLST tại VQG
Những kinh nghiệm về thuê rừng và đất rừng của nhiều quốc gia trên thế giới
được đề cập đến trong tham luận “Những khía cạnh kinh tế và tài chính của thuê
Trang 24đất rừng quốc gia” của Adrian Whiteman (1998) tại hội thảo “Cho thuê đất công: Bài học từ kinh nghiệm quốc tế” Trong tham luận này, tác giả đã có luận bàn về
mục đích của các quốc gia khi đưa ra chính sách này; các khía cạnh kinh tế của chính sách cho thuê rừng như làm thế nào xác định được giá cho thuê; các khía cạnh thể chế của việc cho thuê; các nhân tố kinh tế và tài chính chủ yếu cần được cân nhắc khi thiết lập các phương án cho thuê [102]
Các mục đích của chính sách cho thuê rừng được xác định: (1) Cải thiện tình hình tài chính của Chính phủ từ sự loại bỏ các tài sản công cộng Đối với ngành Lâm nghiệp, áp dụng đối với những tài sản rừng có lợi ích phi thương mại đáng kể (các lợi ích chiến lược quốc gia, các lợi ích xã hội hay môi trường) hoặc những tài sản rừng có đem lại những lợi ích đó trong tương lai nhưng phải được bảo đảm hợp lý bằng một khung pháp lý đủ mạnh (2) Tăng hiệu quả của ngành Lâm nghiệp thông qua việc tiếp nhận những kỹ năng quản lý và đầu tư của thành phần kinh tế tư nhân (3) Phát triển công nghiệp nội địa trên nền tảng tài sản thuộc sở hữu công cộng (4) Hỗ trợ sự phát triển của cộng đồng địa phương [102]
Tài liệu của Chính Phủ Nam Phi về phổ biến kinh nghiệm cho thuê rừng đã thống kê những hình thức thuê rừng được nghiên cứu: (1) Cho thuê thương mại hoàn toàn (Người đi thuê có quyền sử dụng đất và các tài sản có liên quan trên đất trong một chu kỳ nhất định, giá thuê được xác định là giá thị trường); (2) Hợp đồng hoặc giấy phép khai thác gỗ; (3) Chuyển nhượng rừng; (4) Thoả thuận quản lý rừng Tài liệu này đã được chuẩn bị để hỗ trợ cho các nước và Cục Lâm nghiệp Nam Phi (DWAF) đánh giá các phương án của các hợp đồng thuê rừng Cục Lâm nghiệp đã xem xét các phương án thuê rừng khác nhau sẵn có cho Chính phủ và soạn thảo các kinh nghiệm từ các quốc gia khác mà có liên quan đến lĩnh vực tư nhân trong quản
lý rừng thuộc sở hữu Nhà nước Phần 2 và phần 3 của tài liệu này thảo luận các mục tiêu mà các nước khác nhau đã theo đuổi với các chính sách của họ nhằm khuyến khích sự tham gia nhiều hơn của khu vực tư nhân vào trong lĩnh vực lâm nghiệp và các phương án điển hình sẵn có đối với các Chính phủ Phần 4 thảo luận về các khía cạnh kinh tế của thuê rừng như phương pháp xác định giá thuê trong các hợp đồng thuê
Trang 25rừng Phần 5 thảo luận các khía cạnh về thể chế của việc thuê rừng như phương pháp tập hợp chi phí và sự giám sát việc cho thuê Phần cuối cùng trình bày các nhân tố tài chính và kinh tế chủ yếu nên được xem xét khi thiết lập các hoạt động thuê rừng Công trình nghiên cứu này mới tập trung vào nghiên cứu các chính sách liên quan đến thuê rừng sản xuất với mục đích kinh doanh lâm sản [26]
Tuy nhiên, ngày này vai trò của rừng và các chức năng của rừng đã được đánh giá một cách toàn diện hơn Theo đánh giá của FAO (2003), rừng được coi là
bộ phận không thể thay thế của môi trường sinh thái, giữ vai trò quan trọng trong đời sống con người và là cơ sở để phát triển nhiều ngành kinh tế khác [67] Vì vậy, giá trị của rừng không chỉ là giá trị trực tiếp mà còn giá trị gián tiếp (giá trị dịch vụ môi trường rừng) Trong báo cáo của tổ chức Liên hợp quốc (1992) đã chỉ ra, trong những thập kỷ gần đây người ta mới nhận thức được rằng một trong những nguyên nhân cơ bản của suy thoái rừng là không xác định được giá trị môi trường của rừng bên cạnh sự phá rừng của cộng đồng địa phương [100] Những sự thay đổi về nhận thức giá trị môi trường rừng được thể hiện rõ nét thông qua những thay đổi về chính sách và luật về lâm nghiệp của nhiều nước trên thế giới
Tại Châu Âu, Font & Tribe (2000) cho rằng, để quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng phải đảm bảo chức năng kinh tế - xã hội của rừng Công trình nghiên cứu đã chỉ ra việc quản lý rừng hiện tại ở khu vực này không chỉ đơn thuần là quản lý
để khai thác các giá trị sử dụng trực tiếp của rừng (giá trị thị trường), mà còn phải bao gồm việc quản lý để khai thác các giá trị sử dụng gián tiếp (giá trị dịch vụ môi trường rừng) hay giá trị phi thị trường Sự bền vững trong quản lý sử dụng rừng chỉ có được thông qua việc khai thác gỗ và các sản phẩm không phải gỗ cũng như là thu lợi nhuận
từ việc cho thuê hoặc cung cấp trực tiếp các dịch vụ du lịch và giải trí Điều này thể hiện một sự thay đổi trong quản lý rừng, chuyển từ lấy khai thác lâm sản làm trung tâm sang quản lý rừng phải đảm bảo đầy đủ các chức năng của rừng như khai thác gỗ bền vững, cung cấp dịch vụ môi trường rừng, phát triển hoạt động du lịch và giải trí, đảm bảo chức năng kinh tế-xã hội của rừng Như vậy ở Châu Âu, các chính sách lâm nghiệp đã dần được hoàn thiện theo hướng khai thác, sử dụng bền vững các dịch vụ
Trang 26môi trường rừng thay vì chỉ đơn thuần là khai thác gỗ [68]
Cho đến nay các giá trị thu được từ kinh doanh dịch vụ du lịch trong rừng đã được đề cập đến trong rất nhiều nghiên cứu được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau (Tobias và Medelsohn, 1991 [99], Chase và cs., 1998 [64], Vuletic, 2009 [101]) Công trình đã nghiên cứu về lợi nhuận thu được từ kinh doanh dịch vụ, lợi nhuận
có thể được tính trên diện tích (ha) hoặc trên đầu khách du lịch Trung bình tại Châu
Âu, người dân sẵn sàng trả $1-3 trên 1 lần thăm rừng/người (Theo Secretariat of the Convention on Biological Diversity, 2001) Tại Ai-len, con số này là $250/ha cho việc sử dụng các giá trị của rừng như cảnh quan, giải trí và động vật hoang dã
Với những thay đổi trong nhận thức về giá trị dịch vụ môi trường rừng đã dẫn đến thay đổi trong chính sách lâm nghiệp và quản lý tài nguyên rừng, điều này cũng dẫn đến sự triển khai ngày càng phong phú các hoạt động kinh doanh (thuê và cho thuê) môi trường rừng
Theo Huhtala (2004) thì du lịch và giải trí là các dịch vụ phổ biến nhất tại các quốc gia có chính sách cho thuê môi trường rừng [70] Nghiên cứu của Font và Tribe (2000) đã chỉ ra những dịch vụ giải trí có thể cho thuê như săn bắn, quan sát động vật Dịch vụ môi trường rừng được sử dụng nhiều nhất là dịch vụ săn bắn Tuy nhiên, do nhu cầu về không gian lớn và sự không phù hợp với việc kinh doanh các loại hình giải trí khác nên tại nhiều nơi đó không phải sự lựa chọn khả thi Dịch vụ cho thuê để quan sát hoặc cơ hội được quan sát động vật hoang dã được cho là chiếm 1/3 trong tổng số giá trị giải trí từ rừng và đây cũng là dịch vụ hấp dẫn được mà các công ty du lịch cung cấp cho du khách tại các nước đang phát triển [68] Ngoài ra, đi dạo trong rừng thành thục cũng là một trong những dịch vụ mà theo nghiên cứu của O’ Brien (1999) được nhiều du khách mong muốn chi trả [87] Bên cạnh đó, những hoạt động cắm trại, trượt tuyết, thu hái lâm sản ngoài gỗ cũng được khai thác tại nhiều nơi trên thế giới Kèm theo các hoạt động đó là các dịch vụ ăn theo như hướng dẫn du lịch, khách sạn, ăn uống, thuê dụng cụ phục vụ du lịch, thuê nhà gỗ trong rừng …
Tuy nhiên, tại phần lớn các nước đang phát triển, các chính sách của Nhà nước chưa thật sự phù hợp với yêu cầu thực tiễn, chưa có chính sách quy định cụ thể cho
Trang 27việc thuê môi trường rừng Do vậy, việc thực hiện cho thuê môi trường rừng mới chỉ mang tính nhỏ lẻ và tự phát Theo Capozzi, S.,M (2001), phần lớn những nghiên cứu
về thuê môi trường rừng được thực hiện tại Mỹ và một số nước phát triển khác [62]
Tại các nước phát triển như Mỹ, Chính phủ đã có những chính sách và quy định cụ thể cho việc quản lý hiệu quả các hoạt động cho thuê và kinh doanh dịch vụ môi trường rừng, đặc biệt là trong du lịch và giải trí - hai hình thức phổ biến nhất hiện nay Từ những năm 1960, các hoạt động giải trí ngoài trời ở Mỹ đã phát triển nhanh chóng như hoạt động đi bộ, cắm trại, lái xe địa hình, nghiên cứu thiên nhiên Theo nghiên cứu của Cordell và cộng sự (1998) thì 94,5% người Mỹ từ 16 tuổi trở nên đã từng tham gia ít nhất một loại hình giải trí ngoài trời [65]
Stephanie và cộng sự (2012) cho rằng, do hạn chế về số lượng, diện tích cũng như nguồn vốn để mở rộng các VQG và các khu giải trí công cộng cho nên ở Mỹ các nhu cầu giải trí đã không được đáp ứng đầy đủ Đứng trước cơ hội này rất nhiều cá nhân, công ty sở hữu rừng sản xuất gỗ đã nắm bắt nhu cầu và phát triển các hoạt động kinh doanh dịch vụ giải trí từ rừng Họ nhận thấy đây là nguồn thu rất quan trọng đặc biệt khi mà chu kỳ kinh doanh gỗ thường rất dài Hoạt động đầu tiên đó là cho thuê rừng để săn bắn Theo thời gian các hoạt động ngày càng trở nên đa dạng hơn như câu cá, quan sát động vật hoang dã, đi bộ và thu hái sản phẩm ngoài gỗ [93] Theo nghiên cứu của O’Bien và cs (1999), ở phía Nam nước Mỹ các công ty kinh doanh gỗ cho thuê khoảng 75% diện tích đất với phí cho thuê hàng năm khoảng 1.69-3.28 USD/arc, tùy thuộc vào từng bang [87] Theo các báo cáo của US Department of the Interior (USDOI) năm 2001 và 2006, đa phần các hoạt động giải trí thường được tiến hành trên đất thuộc sở hữu tư nhân, 75% là các hoạt động săn bắn Công trình nghiên cứu của Kebede và cộng sự (2006) chỉ ra, các hoạt động kinh doanh này đều chịu sự quản lý của chính quyền liên bang và bang [75] Đặc biệt, Chính phủ Mỹ đã có những chính sách và quy định quản lý rõ ràng để thúc đẩy sự phát triển du lịch và giải trí đồng thời kiểm soát để các hoạt động này luôn gắn chặt với việc bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng Chính vì vậy, nguồn thu cho thuê môi trường là một trong những nguồn thu nhập quan trọng của chủ rừng tại Mỹ Sterk (1998) cho rằng, không
Trang 28chỉ các chủ rừng có lợi mà Chính phủ cũng nhận thấy đây là hoạt động rất cần thiết nhằm đảm bảo sự phát triển xã hội, đáp ứng các nhu cầu giải trí của nhân dân và giảm sức ép nên các VQG và khu giải trí công cộng Do vậy tại Mỹ, Chính quyền liên bang
đã có những chính sách hỗ trợ cụ thể nhằm khuyến khích các chủ rừng thực hiện các hoạt động phát triển du lịch và giải trí [94]
Theo Kearsley (2000), tất cả các bang của nước Mỹ đều ban hành quy chế khai thác và phát triển các hoạt động giải trí nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ rừng khi họ cho phép mọi người vào khu vực thuộc sở hữu của mình với mục đích giải trí Hiện nay, 26 bang tại Mỹ đã có chương trình hỗ trợ các chủ rừng khi tham gia cung cấp các dịch vụ giải trí cho xã hội như là hỗ trợ vốn và kỹ thuật (Voluntary Public Access and Habitat Incentive Program 2011) Một số bang còn giảm tiền thuế tài sản cho các chủ rừng nếu họ đồng ý cung cấp dịch vụ giải trí, ví dụ như chương trình
“New Hampshire’s Current Use program 2012” Mặt khác, các tổ chức đi thuê môi trường rừng để kinh doanh du lịch cũng phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật như phải có giấy phép hành nghề và phải đăng ký hoạt động kinh doanh tùy theo yêu cầu của các bang Ví dụ tại Texas, Cục quản lý công viên và thiên nhiên (Texas Parks and Wildlife Department) quản lý việc đăng ký giấy phép cung cấp dịch vụ săn bắn và giấy phép này được gia hạn hàng năm Có 3 loại giấy phép liên quan đó là giấy phép cho thuê săn bắn (Hunting Lease License), liên doanh kinh doanh săn bắn (Hunting Cooperative) và săn bắn có liên quan đến quản lý động vật hoang dã (Wildlife Management Association) Các giấy phép này phải được xuất trình khi yêu cầu Lệ phí phải đóng góp hàng năm phụ thuộc vào loại giấy phép và diện tích kinh doanh Ví dụ như đối với loại 1, nếu diện tích nhỏ hơn 500 acres lệ phí là $79, từ 500-1,000 acres là $147 và lớn hơn 1.000 arces là $252 Trong khi loại đầu có thể mua trực tiếp thì 2 loại giấy phép sau phải đăng ký hồ sơ và chỉ được cấp khi đáp ứng đủ các yêu cầu của Cơ quan quản lý Nếu cá nhân hoặc tổ chức vi phạm thì sẽ bị xử phạt theo quy định [74]
Bên cạnh đó, việc cho thuê môi trường rừng tại Mỹ được thực hiện thông qua các hợp đồng cho thuê Theo Capozzi,S.,M (2000), các hợp đồng chủ yếu hiện nay đó là
Trang 29hợp đồng cho thuê giải trí và du lịch Hợp đồng cho thuê môi trường rừng để giải trí được pháp luật thừa nhận là một văn bản hợp pháp quy định rõ thời gian cho thuê và dựa trên sự nhất trí về phí thuê, chuyển đổi quyền sử dụng của một phần tài sản của bên cho thuê với bên thuê với mục đích là kinh doanh các dịch vụ giải trí [62]
Trong báo cáo của Bộ Lâm nghiệp - đất đai và tài nguyên thiên nhiên Canada (2013) đã tổng kết tình hình thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng với mục đích thuê để kinh doanh du lịch và giải trí tại Bristis Columbia Trước sự phát triển của các hoạt động du lịch đặc biệt là du lịch ngoài trời (gọi chung là du lịch thám hiểm “Adventure tourism”), Chính phủ đã ban hành các chính sách liên quan như Luật đất đai (Land Act, 1996), Quy định về phí đất hoàng gia (Crown Land Fees Regulation, 2003) và mới đây là Chính sách về du lịch thám hiểm (Adventure Tourism Policy, 2013) Chính sách này áp dụng cho các công ty du lịch cung cấp các hoạt động giải trí ngoài trời Trong chính sách này các vấn đề như đăng ký hồ sơ, cấp giấy chứng nhận, phí quản lý và phí thuê đất được quy định rõ ràng [83]
Theo Kearsley (2000), nghiên cứu tại Newzealand cho thấy, diện tích che phủ của rừng tự nhiên chiếm 1/4 diện tích cả nước và các rừng tự nhiên này phần lớn được bảo vệ hoàn toàn bởi một hệ thống các VQG và lâm viên Chính phủ có quan điểm rằng bảo tồn được đặt lên trên tất cả các lợi ích khác, các hoạt động giải trí truyền thống như săn bắn trong rừng hoặc câu cá ở một số sông, hồ đều bị kiểm soát trong các giới hạn nhất định Trong những năm gần đây, nhu cầu về giải trí ngoài trời đã tăng nhanh nhưng các hệ thống rừng vẫn được quản lý rất tốt do sự quản lý chặt chẽ cũng như quan điểm nhất quán về bảo tồn của Chính phủ [74]
1.1.4 Các công trình nghiên cứu về lượng giá giá trị dịch vụ môi trường rừng và xác định giá thuê môi trường rừng
Cùng với việc nhận thức được hiệu quả to lớn từ khai thác giá trị dịch vụ môi trường rừng, con người thấy cần thiết lượng giá những giá trị ấy thành tiền và đưa vào
hệ thống hạch toán kinh tế đầy đủ của nghề rừng Khi lượng hóa được giá trị con người mới có cơ sở để cân nhắc đưa ra những quyết định đúng đắn trong quản lý rừng, trong liên kết các ngành kinh tế, liên kết các lực lượng xã hội để bảo vệ và phát triển rừng
Trang 30[51] Tuy nhiên nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, rừng có rất nhiều giá trị, việc lượng hóa giá trị này tương đối phức tạp
Nghiên cứu các phương pháp lượng giá giá trị dịch vụ môi trường đã thu hút
sự quan tâm của nhiều nhà kinh tế học hơn 100 năm qua, tuy nhiên chỉ trong khoảng 3 thập kỷ gần đây mới có những bước tiến rõ ràng trong việc phát triển học thuyết, phương pháp, cách tiếp cận cũng như các công cụ phục vụ việc lượng giá Điều này đã gây ra những ảnh hưởng khác nhau tới việc xây dựng và triển khai các chính sách của Nhà nước [101]
Hiện nay, các phương pháp lượng giá giá trị khi rừng được coi là hàng hóa công cộng (với các lợi ích gián tiếp, không sử dụng) được dựa trên các phương
pháp không dựa vào giá thị trường (Nonmarket Evaluation Methods) Phương pháp
lượng giá giá trị dịch vụ môi trường rừng cũng dựa trên ý tưởng của sự sẵn lòng chi trả và dựa vào lý thuyết căn bản của kinh tế phúc lợi xã hội (Welfare economics) Trong nhóm phương pháp này lại được chia nhỏ thành các nhóm phương pháp khác nhau tùy theo từng tác giả
Bateman (1994) [54] chia phương pháp không dựa vào giá thị trường thành
03 nhóm bao gồm: nhóm phương pháp đánh giá dựa trên sự bộc lộ sở thích (revealed preference method) (RP), nhóm phương pháp đánh giá dựa trên tuyên bố
sở thích (stated preference method) (SP) và nhóm phương pháp chi phí - lợi ích (cost-benefit methods) Trong nhóm này lại chia thành từng phương pháp khác nhau như trong Hình 01:
Hình 1.1 Phân loại phương pháp lượng giá không dựa vào thị trường
Nguồn: [54]
Trang 31Trong các phương pháp trên thì phương pháp dựa trên lợi ích-chi phí được thực hiện để xác định các chi phí và lợi nhuận thu được Nhìn chung, đây là một trong những mục đích cơ bản của định giá giá trị dịch vụ môi trường rừng Theo phương pháp này để đạt được hiệu quả phân tích thì các giá trị biến số như giá trị liên quan đến tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế phải được xác định chính xác khi mô hình hóa Tuy nhiên trên thực tế thì các biến số này không được xác định một cách chính xác bởi vì trong xác định giá trị môi trường rừng điều này là không khả thi Theo Banzhaf (2010), xuất phát từ thực tế đó một số phương pháp mới đã được nghiên cứu và phát triển trong hơn một thập kỷ nay đó là phương pháp chuyển đổi lợi ích (Benefit transfer) và phương pháp phân tích tổng hợp (Meta-analysis) [52] Kết quả thu được từ việc áp dụng những phương pháp này sẽ được phục vụ cho việc phân tích lợi ích-chi phí
Một số tác giả khác như Smith và Osborne (1996) lại chia các phương pháp lượng giá không dựa vào thị trường theo cách khác, gồm có các phương pháp dựa vào thị trường thay thế (phương pháp chi phí du lịch, phương pháp giá hưởng thụ, ), phương pháp dựa vào thị trường giả định (bao gồm các phương pháp định giá ngẫu nhiên) và phương pháp hỗn hợp (phương pháp chuyển đổi lợi ích, phương pháp định giá sinh thái) [92]
Trong khi đó một số tác giả như Johnston lại phân chia thành các phương pháp như phương pháp dựa trên bộc lộ sở thích, các phương pháp dựa trên tuyên bố
sở thích và các phương pháp suy đoán mức sẵn lòng chi trả (WTP) [73]
Mặc dù có nhiều cách phân loại nhưng chỉ có bề ngoài là khác biệt còn về bản chất thì gần giống nhau Cho đến nay các phương pháp này đặc biệt là nhóm phương pháp dựa trên tuyên bố sở thích và bộc lộ sở thích đã được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu để xác định giá trị dịch vụ môi trường rừng, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch và giải trí
Phương pháp dựa vào tuyên bố sở thích phụ thuộc vào sự trả lời của người được phỏng vấn với các bộ câu hỏi được thiết kế tùy thuộc vào từng nghiên cứu khác nhau Thông thường nội dung phỏng vấn liên quan đến số lượng tiền, sự lựa
Trang 32chọn, đánh giá hoặc các cách khác để thể hiện sở thích của người được phỏng vấn Nhóm phương pháp này đã được sử dụng hơn 20 năm qua tại Na Uy, Thụy Điển và Phần Lan để định giá các giá trị ngoài gỗ [78] Ngoài ra nhóm phương pháp này còn được sử dụng trong nhiều nghiên cứu liên quan đến giá trị của các loài có nguy cơ tuyệt chủng [81], đất ngập nước [58], [104], phát triển tài nguyên nước [73], chất lượng không khí [92], bảo tồn các không gian xanh ở thành phố [81] và xác định giá trị tồn tại của rừng [82], [80]
Theo Vuletic, trong nhóm phương pháp dựa vào tuyên bố sở thích thì phương pháp định giá ngẫu nhiên được sử dụng rộng rãi nhất [101] Phương pháp này được phát triển từ những năm 60 của thế kỷ XX tại Mỹ nhằm mục đích để định giá bằng tiền những giá trị mà con người sử dụng như hàng hóa, dịch vụ và các tiện ích, dựa trên việc phỏng vấn để định giá khi mà không có sự tồn tại của thị trường Phương pháp này được áp dụng lần đầu tiên để lượng giá giá trị du lịch ở Mỹ tại Lưu vực sông Delaware năm 1992, tại các VQG ở Mỹ năm 1958 và rừng trồng ở Maine năm 1961 (Huhtala, 2004 [70] tham khảo từ Hanemann, 1962) Hiện nay, nó có thể được thiết kế và áp dụng cả trong các lĩnh vực mà ở đó các chính sách của Nhà nước
là khác nhau từ giải trí đến chăm sóc sức khỏe [101]
Liên quan đến nhóm phương pháp bộc lộ sở thích, nhóm phương pháp này dựa trên dữ liệu thu được từ việc ghi nhận sự lựa chọn thực của các đối tượng nghiên cứu hay nói cách khác việc xác định giá trị dịch vụ căn cứ vào quyết định chi trả của đối tượng tham gia (mức giá và lượng chi trả đã thực hiện) Trong số những phương pháp thuộc nhóm này thì hai phương pháp chi phí du lịch và phương pháp giá trị hưởng thụ là được sử dụng rộng rãi nhất trong các nghiên cứu [101]
Tùy theo loại hàng hóa và dịch vụ môi trường do rừng cung cấp mà sẽ có những phương pháp lượng giá cụ thể được áp dụng Bảng sau đây sẽ tóm tắt các phương pháp lượng giá cho các loại hàng hóa và loại hình dịch vụ khác nhau của rừng
Trang 33Bảng 1.1 Phương pháp lượng giá được sử dụng cho các loại hàng hóa
và dịch vụ môi trường rừng Hàng hóa/Dịch vụ môi
$160/ha Phương pháp chi phí du lịch
(Travel cost method) Chase và cs., 1998
[64]
3 VQG ở Costa Rica
$21-25/ khách quốc tế
Đánh giá ngẫu nhiên (Contigent valuation) Garrod và Willis,
1997 [69]
Malaysia $740/ha Đánh giá ngẫu nhiên
(Contigent valuation) Phương pháp chi phí du lịch (Travel cost method)
Bellu và Cistulli,
1997 [56]
Liguria forests, Italy
$77-85/ha Đánh giá ngẫu nhiên
(Contigent valuation) Phương pháp chi phí du lịch (Travel cost method)
bị săn bắn
Chi phí du lịch hưởng thụ Hedonic Travel Cost Moskowitz và
Talberth, 1998 [84]
Lưu vực sông Columbia, Mỹ
$150 triệu Tính tổng chi tiêu cho săn bắn
Trang 34Barnhill, 1999 [53] Rừng quốc gia ở
Southern Appalachian, Mỹ
$6 tỷ năm do
du lịch đem lại
Dựa vào ảnh hưởng kinh tế của giải trí với rừng quốc gia (Economic impact of recreation
on the national forests) Barnhill, 1999 [53] Rừng quốc gia ở
Southern Appalachian, Mỹ
$594 do săn bắn và ngắm động vật
Tổng ảnh hưởng kinh tế của săn bắn và ngắm động vật hoang dã
Kebede và cs., 2006
[76]
Rừng quốc gia Tuskegee, Alabama, Mỹ
$4.6/người/
lần thăm quan
Đánh giá ngẫu nhiên (Contigent valuation) và Phương pháp chi phí du lịch (Travel cost method)
Vuletíc và cộng sự, (2009) [101] trình bày các phương pháp khác nhau, trình tự thực hiện, đánh giá các công cụ được sử dụng trong nghiên cứu để thu thập các loại thông tin khác nhau, phân tích định lượng và định tính v.v Công trình này cung cấp thông tin và hỗ trợ các nhà khoa học, quản lý và lập kế hoạch trong các vấn đề liên quan đến phương pháp lượng giá không dựa vào thị trường đối với dịch vụ môi trường rừng
Lindhjem (2006) [78] đã rà soát lại việc sử dụng phương pháp tuyên bố sở thích đang được áp dụng tại Na Uy, Thụy Điển và Phần Lan, tác giả còn phân tích những vấn đề nổi bật trong các nghiên cứu như là sự sẵn lòng chi trả (WTP) không phụ thuộc vào diện tích rừng, sự chi trả có thể tăng gấp đôi khi sử dụng các phương pháp WTP ước lượng giá trị dịch vụ môi trường rừng phức tạp, gồm nhiều loại hình dịch vụ và sự chi trả dường như cao hơn nếu người hỏi với tư cách là cá nhân so với khi họ là đại diện cho gia đình Những kết quả này có ý nghĩa đóng góp cho thực
Trang 35tiễn trong việc đánh giá đúng giá trị dịch vụ môi trường rừng và cần được chú ý trong các nghiên cứu sau
Trên cơ sở nghiên cứu giá trị của môi trường rừng, nhiều tác giả đã ước tính giá trị sinh thái môi trường của rừng Ở Nga, Tarancop (1986) đã ước lượng giá trị sinh thái cảnh quan của rừng ở vành đai xanh thành phố Voronhez là khoảng 70% tổng giá trị của rừng Khi nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2, Zhang (2000) cho rằng rừng nhiệt đới có giá trị hấp thụ CO2 từ 500-2000USD/ha, còn rừng ôn đới là 100-300USD/ha Ở Nhật Bản, người ta ước tính rằng giá trị môi trường của rừng ở ven những thành phố lớn lên đến tới 95% tổng giá trị của rừng
1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới chưa có nhiều công trình nghiên cứu về thuê môi trường rừng và chính sách thuê môi trường rừng, tuy nhiên cũng có một số công trình có liên quan như sau:
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về hệ thống quản lý rừng ở Việt Nam
Việt Nam có diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm khoảng 54% tổng diện tích toàn quốc, trong đó diện tích rừng chủ yếu được giao quản lý cho Ban quản lý rừng (32,6%), hộ gia đình (24,8%), UBND các cấp (18,3%) và doanh nghiệp Nhà nước (15,4%) Số liệu này cho thấy, rừng của Việt Nam chủ yếu do Nhà nước quản
lý, riêng đối với rừng đặc dụng thì hoàn toàn do Nhà nước quản lý thông qua các Ban quản lý rừng Kết quả đánh giá của một số địa phương, hiệu quả sau giao rừng chỉ đạt 20-30%, nhiều doanh nghiệp Nhà nước quản lý diện tích rừng lớn nhưng không có khả năng kinh doanh và chưa được tạo điều kiện để sản xuất kinh doanh
có hiệu quả Một phần rất lớn diện tích đất lâm nghiệp đang giao cho địa phương quản lý, nhưng thực tế đất đai vẫn đang như trong tình trạng vô chủ hoặc không được bảo vệ, quản lý tốt; nhiều diện tích giao cho các hộ gia đình, cá nhân chưa phát huy hiệu quả kinh tế, người dân vẫn chưa sống được bằng nghề rừng [21] Kết quả đánh giá ở nhiều báo cáo cho thấy, chính sách giao rừng vẫn còn nhiều kẽ hở, hiệu quả thực hiện chính sách không cao Tuy nhiên, mỗi loại rừng sẽ thực hiện các chính sách giao rừng và đất rừng khác nhau Đối với rừng sản xuất, thì Nhà nước
Trang 36giao cho nhiều chủ thể hơn như tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, đơn vị vũ trang, tổ chức nghiên cứu khoa học, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam; bên cạnh đó còn thực hiện cho thuê rừng, khoán rừng để phát triển rừng sản xuất và bản thân các chủ rừng này được Nhà nước công nhận quyền sở hữu cũng như quyền sử dụng rừng sản xuất Riêng đối với rừng phòng hộ và đặc dụng thì Nhà nước giao cho các Ban quản lý rừng để BV&PTR với kinh phí đầu tư do Nhà nước cấp Thực tế hiện nay, mặc dù được cấp kinh phí khá cao (đặc biệt là đối với các VQG do Trung ương quản lý nhưng các khu rừng đặc dụng đang phải đối mặt với những vấn đề lớn về tài chính, dẫn đến những bất cập nghiêm trọng trong công tác quản lý Những bất cập này càng nghiêm trọng hơn do các vấn đề
về thể chế và sự phối hợp liên ngành bị hạn chế Sự tham gia của cộng đồng địa phương chủ yếu thông qua hình thức khoán bảo vệ - một cơ chế để đền bù (ở mức độ nhất định) cho tổn thất về việc mất khả năng tiếp cận rừng, chứ chưa phải là cơ chế để khuyến khích quản lý rừng Tại các khu rừng đặc dụng hiện chưa có những chính sách phù hợp để vừa đảm bảo chức năng bảo tồn vừa đảm bảo thu được lợi ích kinh tế và giảm gánh nặng về tài chính cho Nhà nước
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về xác định giá trị của rừng tại Việt Nam
Định giá rừng là một nội dung quan trọng trong quản lý sử dụng rừng và là
cơ sở xác định giá thuê rừng ở Việt Nam Tác giả tiêu biểu trong lĩnh vực này là TS Nguyễn Nghĩa Biên với công trình nghiên cứu “Phương pháp định giá rừng tự nhiên
ở Việt Nam” [4] Trong công trình này tác giả đã xác định các hợp phần giá trị của rừng và phương pháp định giá rừng tự nhiên với kết quả tổng hợp lại (Bảng 1.3)
Tuy nhiên, việc hạch toán đầy đủ các giá trị trên là vô cùng khó khăn hoặc nếu có hạch toán được để xác định giá cho thuê thì chắc chắn mức giá đó sẽ rất cao, không mang tính khả thi và nghiên cứu này chủ yếu mới dừng lại ở khía cạnh định hướng và gợi ý về phương pháp thực hiện việc định giá rừng tự nhiên ở Việt Nam
Trang 37Bảng 1.3 Các phương pháp định giá rừng tự nhiên
Sử dụng cho mục đích giáo dục, nghỉ ngơi
và văn hóa Môi trường sống cho con người
Phân tích thị trường
PP dùng hàng hóa liên quan
PP du lịch phí Định giá ngẫu nhiên Định giá hưởng thụ
Gián
tiếp
Phòng hộ đầu nguồn Chu trình dinh dưỡng Giảm ô nhiễm không khí Điều tiết tiểu khí hậu Lưu trữ các bon
Chi phí khôi phục Chi phí phòng phòng ngừa Phương pháp hàm sản xuất Chi phí thay thế
Định giá ngẫu nhiên
Giá trị
để lại
Sử dụng có thể trong tương lai các hàng hóa/dịch
vụ liệt kê trong mục 1& 2 (giá trị sử dụng) bởi thế hệ kế tiếp của các bên liên quan thực tế
Định giá ngẫu nhiên
Giá trị
tồn tại
Đa dạng sinh học, Di sản văn hóa
Lợi ích cho các bên liên quan chỉ từ việc hiểu biết sự tồn tại của hàng hóa và dịch vụ
về nguyên tắc và phương pháp xác định giá rừng; (2) Định giá một số loại rừng tại miền Bắc, Trung, Nam, (3) Xây dựng nguyên tắc, phương pháp và khung giá rừng tại các địa điểm và đối tượng nghiên cứu, (4) Thử nghiệm, hoàn thiện nguyên tắc và phương pháp xác định giá trị các loại rừng [33]
Nghiên cứu được thực hiện trên các đối tượng rừng: (1) Rừng đặc dụng: Khu bảo tồn Nà Hẩu (Yên Bái), Vườn quốc gia Bạch Mã (Huế), Vườn quốc gia Kon Ka Kinh (Gia Lai) (2) Rừng sản xuất: gồm rừng tự nhiên (theo các trạng thái rừng) và rừng trồng nguyên liệu công nghiệp (keo, bạch đàn, thông) Địa điểm nghiên cứu rừng sản xuất được thực hiện trên địa bàn các tỉnh miền Bắc (Bắc Giang, Phú Thọ,
Trang 38Yên Bái), miền Trung (Thanh Hóa, Quảng Bình, Huế) và miền Nam (Gia Lai, Bình Định, Đồng Nai) (3) Rừng phòng hộ (rừng phòng hộ đầu nguồn: lưu vực sông Bồ, lưu vực sông Ba; rừng phòng hộ ven biển: rừng ngập mặn ở Giao Thủy-Nam Định; rừng phòng hộ chống cát bay ở Bảo Ninh-Quảng Bình) Nhìn chung, các điểm khảo sát tương đối đại diện cho mẫu nghiên cứu Tuy nhiên, việc lý giải về chọn điểm nghiên cứu chưa được trình bày một cách rõ ràng và thuyết phục Tác giả chưa làm
rõ được lý do khảo sát và tính đại diện của điểm nghiên cứu
Việc nghiên cứu định giá rừng được tiếp cận dưới 2 giác độ là giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp của rừng Giá trị sử dụng trực tiếp của rừng được tính toán cụ thể cho từng loại rừng tự nhiên và rừng trồng Giá trị sử dụng gián tiếp của rừng, được khẳng định là những giá trị rất khó hạch toán được một cách chính xác Trong đề tài, nhóm nghiên cứu đã cố gắng tính toán được giá trị phòng hộ của rừng theo phương pháp phòng chống thiệt hại, phương pháp suy đoán mức sẵn lòng chi trả(Willingness to Pay – WTP) Việc xác định giá trị cảnh quan được thực hiện với phương pháp thu nhập, Phương pháp chi phí du lịch (Travel cost method –TCM) Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu còn xác định giá trị hấp thụ các bon của rừng
Ở đây có một số điểm cần bàn thêm nữa là: (1) Giá trị sử dụng trực tiếp của rừng và Giá trị sử dụng gián tiếp của rừng được đề cập một cách khá tỷ mỉ trong đề tài nhưng giá tổng hợp của mỗi loại rừng (rừng trồng, rừng tự nhiên) theo mục đích
sử dụng (sản xuất, phòng hộ, đặc dụng) được tính toán như thế nào lại chưa rõ, đặc biệt với rừng đa mục đích (2) Tác giả chưa chỉ ra được việc định giá này phục vụ cho mục đích gì? (3) Tính khả thi của phương pháp này như thế nào?, cần phải có những điều kiện gì để đảm bảo cho sự thành công khi áp dụng? (4) Liệu giá rừng khi được tính toán một cách đầy đủ (bao gồm cả Giá trị sử dụng trực tiếp của rừng
và Giá trị sử dụng gián tiếp) có thể sử dụng trong các giao dịch về quyền sử dụng rừng tự nhiên và quyền sở hữu rừng trồng hay không? (5) Rừng chỉ là một tài sản trên đất, vậy khi định giá rừng có tính cả giá trị đất hay không?
Hiện nay, trong Nghị định số 48/2007/NĐ-CP ngày 28/3/2007 của Chính phủ
về nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng đã đưa ra 3 phương pháp
Trang 39được áp dụng để xác định giá quyền sử dụng rừng (rừng phòng hộ; rừng đặc dụng, rừng sản xuất là rừng tự nhiên), giá quyền sở hữu rừng (rừng sản xuất là rừng trồng):
Bảng 1.4 Phương pháp xác định giá các loại rừng Phương pháp
1 Thu nhập - Thu nhập thuần tuý
- Lãi suất trái phiếu của Chính phủ
Có đủ thông tin để xác định được các khoản thu nhập thuần tuý mang lại cho chủ rừng từ diện tích rừng cần định giá
2 Chi phí - Các khoản chi phí đầu tư tạo rừng
- Lãi suất trái phiếu của Chính phủ tại thời điểm định giá
Có đủ thông tin để xác định được các khoản chi phí đầu tư tạo rừng đối với diện tích rừng cần định giá tính từ thời điểm đầu tư đến thời điểm định giá
3 So sánh Phân tích mức giá
Nguồn: [13]
Nhìn chung, giá rừng được xác định bằng các phương pháp này chủ yếu mới chỉ bao hàm các giá trị kinh tế hữu hình, chưa tính tới các giá trị khác Hơn nữa, chưa có sự phân biệt rõ ràng về cách xác định giá cho từng loại rừng
1.2.3 Các công trình nghiên cứu về thuê rừng và thuê môi trường rừng
Có thể khẳng định các công trình nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam chưa
có và chưa được quan tâm nhiều Tiêu biểu trong lĩnh vực này có tác giả Lê Trọng
Hùng (2008) với công trình: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chính
sách cho thuê rừng, xây dựng và phát triển thì trường quyền sử dụng đất rừng sản xuất ở Việt Nam” - thuộc đề tài cấp Bộ NN&PTNT Trong công trình này tác giả đi
vào nghiên cứu xây dựng các mô hình cho thuê rừng, điều kiện cho thuê rừng, xác định giá thuê rừng cho từng loại rừng Tuy nhiên, công trình mới đi sâu nghiên cứu cho đối tượng là rừng sản xuất, mặc dù có đề cập đến thuê rừng đặc dụng nhưng chưa đầy đủ, chưa làm rõ được chính sách cho thuê đối với từng đối tượng rừng cụ
thể [26] Theo tác giả, các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai chính sách cho
thuê môi trường rừng tại VQG phụ thuộc:
- Địa điểm và sự phức tạp của quản lý;
Trang 40- Thu nhập mà Chính phủ hy vọng thu được từ việc cho thuê môi trường rừng và phạm vi mà Chính phủ được chuẩn bị để tham gia vào việc quản lý rừng hoặc từ bỏ quyền kiểm soát;
- Năng lực tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp để giám sát hoạt động cho thuê môi trường rừng;
- Điểm mạnh của các giải pháp khác, chẳng hạn như khung nghị định để đảm bảo rằng việc quản lý hoạt động cho thuê môi trường rừng thích hợp được thực thi;
- Các khía cạnh kinh tế của thuê môi trường rừng: Ở đây chủ yếu liên quan đến vấn đề định giá rừng cho thuê, lợi ích thu được từ hoạt động cho thuê môi trường rừng, thời hạn cho thuê có hiệu quả;
- Năng lực của các đơn vị thuê môi trường rừng và các lợi ích mà họ nhận được khi triển khai
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước liên quan tới chính sách cho thuê môi trường rừng nói chung và VQG nói riêng đã phần nào giúp hoàn thiện hơn hệ thống lý luận, cũng như thực tiễn về chính sách cho thuê môi trường rừng VQG tại Việt Nam Tuy nhiên, khái niệm môi trường rừng còn tương đối trừu tượng, chính sách quản lý VQG ở mỗi nước, mỗi khu vực khác nhau nên để tìm ra được những hình mẫu hoàn thiện về quản lý cũng như một chính sách phù hợp với tất cả các nước hay tất cả các VQG là tương đối khó Các công trình nghiên cứu về phương diện nào đó đã chỉ ra những vấn đề liên quan, một khía cạnh nhất định của chính sách, cũng như những kinh nghiệm nhất định Trước những đòi hỏi của quá trình hội nhập và phát triển kinh tế thì việc đổi mới, hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn về chính sách cho thuê môi trường rừng
là xu thế tất yếu ở Việt Nam hiện nay