Xây dựng các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN VĂN VINH
XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI
THỦY SẢN TẠI ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
Khánh Hòa- 2013
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HOÀNG HOA HỒNG
TS PHAN TRỌNG HUYẾN
Trang 3Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung và kết quả của mình./
Người cam đoan
Trần Văn Vinh
Trang 4bà con ngư dân và các đồng nghiệp đến nay luận án đã được hòan thành
Cám ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Viện Khoa học và công nghệ khai thác thủy sản, Khoa Sau Đại học đã tạo điều kiện giúp đỡ trong học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án
Xin tỏ lòng biết ơn Thầy giáo hướng dẫn TS.Hoàng Hoa Hồng, Thầy giáo
TS Phan Trọng Huyến và các thầy giáo giảng dạy tại Viện Khoa học và công nghệ khai thác thủy sản và các thầy giáo, các chuyên gia trong ngành thủy sản Việt Nam
Trân trọng cám ơn sự giúp đỡ quý báu của UBND tỉnh Bình Định, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bình Định, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bình Định, UBND huyện Tuy Phước, UBND thành phố Quy Nhơn, UBND các xã, phường và cộng đồng dân cư ven đầm Thị Nại đã cung cấp thông tin, tư liệu và giúp cho tôi tìm hiểu thực tế, nghiên cứu và xây dựng các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, đóng góp vào sự phát triển nghề cá có hiệu quả và bền vững tại đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định
Trang 5iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CÁM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Điều kiện tự nhiên đầm Thị Nại 6
1.2 Nguồn lợi thủy sản vùng nước đầm Thị Nại 9
1.3 Các hệ sinh thái đặc trưng trong đầm Thị Nại 10
1.4 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 12
1.5 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 42
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 44
2.2 Tiếp cận nghiên cứu 45
2.3 Phương pháp nghiên cứu 48
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56
3.1 Các vấn đề về kinh tế - xã hội có liên quan 56
3.2 Hiện trạng khai thác thủy sản và những tác động 61
3.3 Các hoạt động khác tác động đến nguồn lợi thủy sản trên đầm Thị Nại 83
3.4 Công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại đầm Thị Nại 90
3.5 Các giải pháp về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại đầm Thị Nại 96
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 118
1 Kết luận 118
2 Đề xuất những nghiên cứu tiếp theo 119
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC 127
Trang
Trang 6v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TIẾNG VIỆT
- BVNLTS : Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- PTNT : Phát triển nông thôn
TIẾNG ANH
- SCAFI : Strengthening of Capture Fisheries Management ( Dự án Tăng cường năng lực khai thác thủy sản )
- FAO : Food and Agriculture Organization ( Tổ chức Nông nghiệp và lương thực)
- UNCED : United Nations Conference on Environment and Development ( Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc)
- CoCRF : Code of Conduct for Responsible Fisheries ( Quy tắc ứng xử cho nghề
- GEF : Global Environment Fund ( Quỹ Môi trường toàn cầu )
- MSY : Maximum Sustainable Yield ( Sản lượng bền vững tối đa )
Trang 7vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Bảng 1.1 Một số mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản do FSPS II tài
Bảng 3.4 Thu nhập bình quân năm 2010 tại các xã, phường quanh đầm
sản theo nghề khai thác năm 2010
64
Bảng 3.9 Phân bố nghề khai thác thủy sản của địa phương theo tàu
thuyền
65
Bảng 3.10 Sản phẩm khai thác trong một ngày đêm của 01 thuyền nghề 66
Bảng 3.12 Sản lượng và cường lực khai thác trên đầm Thị Nại
Trang 8vii
Bảng 3.16 Sản lượng và cường lực khai thác tại vùng 4 từ năm 2005 đến
2011
74
Bảng 3.17 Bảng tính MSY và fMSY theo mô hình Fox và Schaefer dựa
vào sản lượng và cường lực khai thác tại vùng 1
75
Bảng 3.18 Bảng tính MSY và fMSY theo mô hình Fox và Schaefer dựa
vào sản lượng và cường lực khai thác tại vùng 2
77
Bảng 3.19 Bảng tính MSY và fMSY theo mô hình Fox và Schaefer dựa
vào sản lượng và cường lực khai thác tại vùng 3
78
Bảng 3.20 Bảng tính MSY và fMSY theo mô hình Fox và Schaefer dựa
vào sản lượng và cường lực khai thác tại vùng 4
80
Bảng 3.23 Lưu lượng nước thải của một số cơ sở công nghiệp
tại thành phố Quy Nhơn
87
Bảng 3.26 Đánh giá về sự thay đổi môi trường thủy sản tại đầm Thị Nại 91 Bảng 3.27 Đánh giá về sự thay đổi nguồn lợi thủy sản tại đầm Thị Nại 91 Bảng 3.28 Các hình thức khai thác ảnh hưởng đến môi trường và nguồn
lợi thủy sản tại đầm Thị Nại
91
Bảng 3.29 Khai thác đối tượng thủy sản ảnh hưởng đến sự suy giảm
nguồn lợi thủy sản tại đầm Thị Nại
92
Bảng 3.30 Đánh giá về công tác bảo vệ nguồn lợi của chính quyền và
cộng đồng dân cư quanh đầm Thị Nại
92
Bảng 3.31 Sự tham gia và năng lực của cộng đồng trong việc bảo vệ và
phát triển nguồn lợi thủy sản
93
Bảng 3.32 Số lượt đề xuất của cộng đồng trong việc bảo vệ và phát triển
nguồn lợi thủy sản tại đầm Thị Nại
93
Trang 9Bảng 3.36 Đánh giá nhận thức của cộng đồng về mô hình đồng quản lý
nguồn lôi thủy sản khu vực Bắc đầm Thị Nại
115
Hình 2.2 Mối tương quan giữa đồng quản lý, quản lý dự trên cộng đồng
Hình 2.3 Đồ thị minh họa tính chất khác nhau giữa hai mô hình Fox và
Hình 3.2 Cơ cấu nông nghiệp và thủy sản các xã, phường quanh đầm Thị
Hình 3.5 Tỉ lệ nghề khai thác thủy sản theo tàu thuyền của các xã,
Hình 3.6 Lồng xếp khai thác thủy sản của các xã, phường tại đầm Thị
Hình 3.7 Lưới rê ba lớp khai thác thủy sản của các xã, phường tại đầm
Hình 3.10 Bộ dụng cụ gồm : lưới, bộ kích điện và bình ắc quy trên
Trang 10ix
Hình 3.12 Đồ thị biểu diễn sản lượng trên cường lực khai thác tại đầm
Hình 3.13 Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa cường lực khai thác và
Hình 3.14 Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa cường lực khai thác
Hình 3.15 Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa cường lực khai thác và
Hình 3.16 Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa cường lực khai thác và
Hình 3.17 Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa cường lực khai thác
Hình 3.18 Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa cường lực khai thác
Hình 3.19 Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa cường lực khai thác
Hình 3.20 Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa cường lực khai thác
Hình 3.23 Sơ đồ cơ cấu tổ chức mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản
Hình 3.24 Sơ đồ tổ chức mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Ở Việt Nam, các đầm phá tiêu biểu phân bố ở dải ven bờ miền Trung từ Huế đến Ninh Thuận [30] bao gồm các đầm nổi tiếng như đầm Nại (Ninh Thuận), Thuỷ Triều (Khánh Hòa), Ô Loan ( Phú Yên), Cù Mông (Phú Yên), Trà Ổ (Bình Định), Nước Ngọt ( Đề Gi - Bình Định ), Thị Nại ( Bình Định), Nước Mặn (Quảng Ngãi),
An Khê (Quảng Ngãi), Trường Giang (Quảng Ngãi), Lăng Cô ( Thừa Thiên Huế)
và Tam Giang - Cầu Hai ( Thừa Thiên Huế) với tổng diện tích vào khoảng 448 km2 Lớn nhất trong số đó và cũng thuộc loại lớn nhất thế giới là hệ đầm phá Tam Giang
- Cầu Hai, chạy dài 67 km, rộng (1÷10) km và có diện tích vào khoảng 216 km2 Các đầm phá trên phân bố khá đều trên khoảng chiều dài chừng 700 km đường bờ biển và chiếm khoảng 21% chiều dài đường bờ biển nước ta
Đầm Thị Nại nằm ở cực nam tỉnh Bình Định, bao bọc bởi thành phố Quy Nhơn
và huyện Tuy Phước, đầm thông với vịnh Quy Nhơn và hướng ra biển Đầm Thị Nại thuộc loại đầm kín, đựơc che chắn với biển bởi bán đảo Phương Mai dọc theo phía đông Với diện tích là 5060 ha, chiều dài là 16 km, cửa đầm thông với vịnh Quy Nhơn có chiều rộng (400÷500) m Sự giao thoa nước giữa đầm và biển chủ yếu xảy ra dưới tác động của hai quá trình : truyền triều và nuớc sông đổ vào đầm ra vịnh và biển Vào mùa khô nước biển có khả năng thâm nhập sâu vào vùng đầm Nhưng vào mùa mưa, khi nước sông Côn và các sông nhỏ khác đổ vào đầm thì hầu hết diện tích đầm bị bao phủ bởi nước ngọt
Đây là một trong những đầm phá thể hiện những nét đặc trưng về một hệ sinh thái của vùng đất ngập nước ở khu vực miền Trung Việt Nam Khu vực này có yếu
tố sông họat động mạnh vào mùa mưa và yếu tố biển họat động mạnh vào mùa khô Các yếu tố sông và biển ở trên đã tạo nên các vùng nước ngọt, nước lợ, nước mặn theo mùa Tùy theo vị trí của bãi so với vị trí của sông và mép nước biển nguồn nước trên ngấm vào đất tạo ra những vùng đất nhiễm mặn khác nhau và ở đó có những thảm thực vật và các lọai động vật tương ứng thích hợp với môi trường sống
Trang 122
Vai trò của đầm Thị Nại rất quan trọng trong đời sống cho những cộng đồng dân cư
ở khu vực ven biển huyện Tuy Phước và thành phố Quy Nhơn - tỉnh Bình Định như:
- Hạn chế ảnh hưởng lũ lụt: Bằng cách giữ và điều hoà lượng nước mưa như
“bồn chứa” tự nhiên, giải phóng nước lũ từ từ và có thể làm giảm hoặc hạn chế lũ lụt ở vùng hạ lưu
- Ổn định vi khí hậu: Do chu trình trao đổi chất và nước trong các hệ sinh thái, nhờ lớp phủ thực vật của đất ngập nước, sự cân bằng giữa O2 và CO2 trong khí quyển khiến vi khí hậu địa phương được ổn định đặc biệt là nhiệt độ và lượng mưa
- Chống sóng, bão, ổn định bờ biển và chống xói mòn nhờ lớp phủ thực vật đặc biệt là rừng ngập mặn ven biển, thảm cỏ có tác dụng làm giảm sức gió của bão và bào mòn đất của dòng chảy mặt
- Xử lý nước, giữ lại chất cặn, chất độc và được coi như “bể lọc” tự nhiên, nó
có tác dụng giữ lại những chất lắng đọng và chất độc (chất thải sinh hoạt và công nghiệp)
- Giữ lại chất dinh dưỡng, làm nguồn phân bón cho cây và thức ăn của các sinh vật sống trong hệ sinh thái đó
Khu vực đầm Thị Nại là thủy vực khá lớn có vai trò kinh tế quan trọng đối với toàn tỉnh; nơi đây có cảng biển Quy Nhơn là cửa ngõ thông ra biển của tỉnh Bình Định và một số tỉnh Tây Nguyên Ngoài những vai trò quan trọng trên, hàng năm đầm Thị Nại mang lại cho cộng đồng dân cư ở khu vực này một khối lượng lớn về nguồn lợi thủy sản Nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao như : cá hồng, cá mú, hàu, vẹm, tôm góp phần giải quyết nhu cầu đời sống của đại bộ phận dân cư ven đầm
và đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội chung của địa phương và của tỉnh Bình Định
Bên cạnh sự phát triển kinh tế, do sức ép về gia tăng dân số, do nhu cầu sống nên một số bộ phận cư dân ven đầm đã tiến hành các họat động khai thác thủy sản bằng nhiều công cụ, phương tiện khác nhau mang tính chất hủy diệt như: sử dụng
Trang 133
xung điện, các lọai ngư cụ có kích thước mắt lưới nhỏ để khai thác thủy sản một cách triệt để; khai thác các đối tượng thủy sản trong giai đọan sinh sản và các lọai tôm cá trong thời kỳ ấu niên; khai thác và tiêu thụ các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao, quý hiếm, hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng
Mặt khác, do chưa có định hướng quy họach khai thác thủy sản tại các vùng nước trên đầm, nên việc gia tăng số lượng phương tiện khai thác, các lọai ngư cụ khác nhau đã làm tăng cường độ khai thác lớn trên một diện tích mặt nước; việc tranh giành ngư trường khai thác giữa các hộ dân; việc sử dụng hơn 1000 ha rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản; việc xả thải các tàu thuyền ở khu vực cảng và các khu công nghiệp … Các họat động kinh tế và của cộng đồng dân cư ở đây cùng với
sự biến đổi của các yếu tố sinh thái ở khu vực này đã làm cho diện tích đầm có nguy
cơ bị thu hẹp, môi trường vùng nước bị ô nhiễm, nguồn lợi thủy sản tại đầm Thị Nại trong những năm qua bị suy giảm nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến sinh kế của cộng đồng dân cư và nền kinh tế thủy sản tại huyện Tuy Phước và thành phố Quy Nhơn
Việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng trong lĩnh vực khai thác thủy sản và những tác động có liên quan đến nguồn lợi, môi trường thủy sản nhằm tìm kiếm các giải pháp cụ thể, khả thi về khai thác và bảo vệ nguồn lợi có hiệu quả và bền vững, gắn kết trách nhiệm của cộng đồng dân cư trong việc quản lý, khai thác
và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại các vùng đầm phá ven biển là việc làm rất cần thiết Đặc biệt là việc chọn lựa địa điểm nghiên cứu đầm Thị Nại nơi có tính chất đặc thù
và điển hình của vùng đất ngập nước, chứa đựng nhiều nguồn lợi thủy sản phong phú, đa dạng; khu vực đang bị tàn phá nghiêm trọng về môi trường và nguồn lợi thủy sản do việc khai thác bằng các công cụ, phương tiện mang tính hủy diệt và nhiều họat động kinh tế khác như: phá rừng ngập mặn, xả thải công nghiệp, tàu thuyền… Từ đó làm cơ sở cho việc ứng dụng các giải pháp, triển khai mô hình quản lý khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại các đầm phá trong tỉnh Đó là những vấn đề mang tính cấp thiết đặt ra trong thực tiễn quản lý, bảo vệ
Trang 144
và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản đối với các nhà khoa học, nhà quản lý nghề cá tại khu vực đầm Thị Nại tỉnh Bình Định
2 Mục tiêu của luận án
Xây dựng các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản nhằm bảo vệ, phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản; hướng đến sự phát triển nghề cá bền vững, có trách nhiệm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đầm Thị Nại tỉnh Bình Định
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các hoạt động khai thác thủy sản và các hoạt động quản lý có liên quan đến việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Cộng đồng ngư dân nghề cá tại các xã, phường : các xã thuộc huyện Tuy Phước (Phước Thắng, Phước Thuận, Phước Sơn, Phước Hòa), các xã phường thuộc thành phố Quy Nhơn ( Nhơn Hội, Nhơn Bình, Đống Đa, Thị Nại, Hải Cảng ) có số lượng
hộ tham gia khai thác, nuôi trồng thủy sản thuộc vùng nước của đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định
- Nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Các tác động khác về nuôi trồng thủy sản, ô nhiễm môi trường và các hoạt động khác được xem xét dưới góc độ phân tích và đánh giá các tác động tương quan
4 Nội dung nghiên cứu của luận án
- Hiện trạng về kinh tế - xã hội có liên quan đến hoạt động thủy sản trong cộng đồng cư dân ở khu vực đầm Thị Nại
- Nghiên cứu thực trạng về khai thác thủy sản và các tác động đến nguồn lợi và môi trường thủy sản ở đầm Thị Nại
- Các họat động kinh tế khác có tác động đối với nguồn lợi và môi trường thủy sản
ở đầm Thị Nại
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng về công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại khu vực đầm Thị Nại
Trang 15- Xây dựng cơ sở khoa học cho việc quy họach, kế hoạch bảo vệ nguồn lợi thủy sản,
tổ chức khai thác hợp lý ở các vùng đầm phá Việt Nam được đảm bảo khai thác lâu dài
- Góp phần bảo vệ đa dạng sinh học hệ đầm phá, nơi có sức bổ sung lớn về nguồn lợi thủy sản ở các vùng biển Việt Nam
- Khôi phục lại nguồn lợi và các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao có nguy cơ bị tuyệt chủng
- Áp dụng mô hình quản lý trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại vùng đầm phá, với điều kiện kinh tế - xã hội tại Việt Nam
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Giúp cho chính quyền địa phương xác định tiềm năng về nguồn lợi thủy sản của đầm Thị Nại để có những kế họach trước mắt và lâu dài cho việc định hướng phát triển về kinh tế - xã hội tại địa phương
- Tăng cường nhận thức của người dân về ý thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường đầm phá
- Tổ chức, quản lý có hệ thống các họat động nghề cá có hiệu quả và bền vững
- Ổn định và cung cấp các loài thủy sản có giá trị kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho cộng đồng cư dân ven đầm
- Giải quyết công ăn việc làm, chuyển đổi cơ cấu nghề đánh bắt cho những hộ ngư dân nghèo ven đầm không có điều kiện đầu tư đánh bắt ở những vùng biển xa bờ
Trang 166
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Điều kiện tự nhiên đầm Thị Nại
1.1.1 Vị trí địa lý
Đầm Thị Nại có chiều dài 16 km, chiều rộng từ 500m đến 5.000m, phía Bắc giáp huyện Tuy Phước và huyện Phù Cát, phía Nam giáp thành phố Quy Nhơn, phía Đông giáp cồn cát ven biển Diện tích tự nhiên mặt đầm 5.060 ha, độ sâu trung bình khoảng 1,2m, cửa đầm thông với vịnh Quy Nhơn rất hẹp (400÷500) m Đầm Thị Nại nằm trong khoảng (109010’00” ÷ 109017’00”) kinh độ Đông và (13045’00” ÷
13056’00” ) vĩ độ Bắc Địa giới hành chính bao gồm thành phố Quy Nhơn ( xã Nhơn Hội, phường Hải Cảng, Nhơn Bình, Đống Đa, Thị Nại ) và huyện Tuy Phước (xã Phước Thắng, Phước Hòa, Phước Sơn, Phước Thuận)
1.1.2 Địa hình và thổ nhưỡng
Theo Nguyễn Văn Lân (1991) [18] đất đai vùng đầm Thị Nại được phân bố như sau:
- Vùng nội đầm : đất đai vùng đầm phân bố theo các cao trình
+ Từ cao trình ( – 0,5 ÷ -1,00) m có diện tích 2.256,4 ha chiếm 45,1%
+ Từ cao trình (-1,01 ÷ -2,00) m có diện tích 1.275,0 ha chiếm 25,5%
+ Từ cao trình (-2,01 ÷ -3,00) m có diện tích 1.273,0 ha chiếm 25,4%
+ Từ cao trình ( -3,01 ÷ -21,50) m có diện tích 255,0 ha chiếm 4 %
- Vùng giữa đầm : có cồn nổi rộng 1,3 km dài 2 km có cao độ từ -1.5 mét đến +1,3
mét có diện tích 250 ha Dòng chảy tự nhiên trong đầm phân thành 2 luồng: luồng phía Đông rộng (600 ÷ 800)m và luồng phía Tây rộng (400 ÷ 600) mét
- Vùng ven đầm: được đê Đông bảo vệ có diện tích 5.342 ha, có độ cao từ 0,5m
đến -1,50 m, trong đó có 526 ha nằm ở cao trình từ -0,5m đến 0,00 m thường xuyên bị úng và nhiễm mặn nặng
Địa hình vùng đầm chủ yếu là trầm tích biển, gồm á sét màu xám có lẫn vỏ
sò và các tạp chất hữu cơ đã và đang phân giải, sét, á cát và cát có lẫn thạch anh và
mi ca
Trang 17Đầm Thị Nại có lưu vực 3.647 km2 gồm lưu vực sông Côn, sông Hà Thanh
và các suối nhỏ ở phía Nam núi Bà Sông Côn dài 178 km bắt nguồn từ Gia Lai – Kon Tum và huyện Vĩnh Thạnh có diện tích lưu vực là 3.067 km2, sông Hà Thanh bắt nguồn từ vùng núi phía tây huyện Vân Canh có chiều dài 48 km và diện tích lưu vực là 580 km2 Đặc điểm chung nổi bật của sông Côn và sông Hà Thanh là khi chảy về đồng bằng, sông không có dòng chính mà chia thành nhiều nhánh nhỏ, lòng sông hẹp và nông
Về mùa lũ, nước lũ chủ yếu là chảy tràn lan trên khắp ruộng đồng, bờ bãi Lượng nước chảy trong sông chỉ chiếm 30%, đặc điểm của lũ tập trung nhanh nhưng rút cũng nhanh, thời gian ngập lụt thường chỉ kéo dài vài ba ngày
Trang 18- Nhiệt độ không khí bình quân 26,80 C
- Nhiệt độ không khí trung bình lớn nhất 30,80 C
- Nhiệt độ không khí trung bình nhỏ nhất 24,10 C
Độ ẩm trong giới hạn từ (70÷84)% Lượng bốc hơi bình quân 1044ml/năm Tháng 6,7,8 bốc hơi nhiều nhất: (112÷142)ml Tháng 10,11 mùa mưa bốc hơi ít nhất: (64÷70)ml Hàng năm có tổng số giờ nắng 2568 giờ Tháng 3 đến tháng 8 là những tháng nắng nhất: (200÷280) giờ/tháng Tháng 10,11 là các tháng ít nắng nhất bình quân 130 giờ/tháng
Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 Mùa bão cũng trùng với mùa mưa Lượng mưa hàng năm từ (1681 ÷ 1944) mm và tập trung 75% lượng mưa vào các tháng 9 đến tháng 12 Các tháng mưa nhiều nhất là tháng 10,11 chiếm (50÷54) % và riêng tháng 11 có thể mưa đến 600mm Lượng mưa bình quân trên lưu vực sông Côn khoảng 1.790 mm và trên lưu vực sông Hà Thanh khoảng 1.900 mm
Bão cũng có thể xuất hiện trùng hợp vào các tháng 9, tháng 10 và tháng 11 với tần suất (1÷2) cơn bão trong năm
Gió mùa mùa Đông ở Bình Định đến muộn từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau với hướng gió Bắc và Tây Bắc là chính với sức gió vừa phải (2,7÷3,4)m/giây Gió mùa mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 8 với hướng gió Đông Nam và Nam, sức gió từ (2,7 ÷ 3,5) m/giây Xen kẽ là sự tranh chấp và sự chuyển tiếp giữa hai loại gió trên Khi bão đổ bộ vào đất liền tốc độ gió có thể đạt đến (40÷59)m/giây
1.1.4.2 Chế độ thủy văn
- Thủy triều : biển Quy Nhơn có chế độ từ bán nhật triều không đều đến biên
độ nhật triều đều với biên độ không đáng kể Trong tháng có từ (16 ÷ 22) ngày nhật triều, có 2 lần triều cường và triều kém Thời kỳ triều kém thường
có thêm một con nước nhỏ Thời gian triều dâng lâu hơn triều rút Biên độ
Trang 199
triều cường (1,5 ÷ 2)m Biên độ triều kém chỉ xấp xỉ 0,5m Biên độ triều vùng đầm nhỏ hơn biên độ triều vùng biển Chân triều vùng đầm cao hơn chân triều vùng biển từ (0,4÷ 0,6)m Biên độ triều cường vùng đầm là (1,3
÷1,4)m trong khi đó biên độ triều vùng biển cùng kỳ (1,6 ÷ 2,0)m
- Lũ : Lũ lớn thường tập trung chủ yếu vào 2 tháng 10 và tháng 11 Lũ tiểu mãn thường xuất hiện vào tháng 5 và tháng 6 Lũ chính vụ lúc mùa màng thu hoạch đã xong ít ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Lũ sớm, lũ muộn, lũ tiểu mãn ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Lưu lượng lũ của sông Côn và sông Hà Thanh đối với lũ chính vụ 10 % và lũ sớm, lũ muộn, lũ tiểu mãn ứng với tần suất 5%
1.2 Nguồn lợi thủy sản vùng nước đầm Thị Nại
Đầm Thị Nại có diện tích mặt nước lớn, là nơi tiếp giáp giữa hai làn nước mặn và ngọt qua cửa biển Quy Nhơn Lượng nước ngọt hàng năm đổ vào đầm khoảng trên dưới 4 tỷ mét khối nước mang theo phù du dinh dưỡng của đồng bằng Bình Định Vì vậy đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho nhiều loài sinh vật nhiệt đới phát triển đa dạng và phong phú
Đầm Thị Nại có 185 loài thực vật phù du, 64 động vật phù du, 181 loài động vật đáy, 136 loài rong biển và thực vật bậc cao, 100 loài động vật thân mềm, 119 loài cá và 14 loài tôm…
Theo các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến nguồn lợi thủy sản tại đầm Thị Nại của Nguyễn Tác An (2003) [1] ; Nguyễn Chính, Đỗ Chí Hưng (1981) [6] ; Nguyễn Thị Thanh Thủy ( 2010) [27], cho thấy rằng:
+ Về tôm: Đầm Thị Nại có 14 loài, trong đó có 3 loài có giá trị kinh tế cao là tôm
sú, tôm bạc và tôm đất
+ Về cá: Đầm Thị Nại có 116 loài cá thuộc 96 giống, 15 bộ Trong đó có nhiều loại
cá có giá trị kinh tế cao, thịt ngon chóng lớn ăn tạp, sinh trưởng nhanh được thị trường ưa chuộng, vừa là đối tượng khai thác tự nhiên vừa là đối tượng nuôi trồng như cá hồng, cá nhồng, cá dìa, cá đối, …
+ Ghẹ và cua
Trang 20hàu sau: Hàu Muỗng, Hàu Đá, Hàu Dán, Hàu Răng cưa Trong đó hàu Muỗng là
loài hàu có giá trị thương phẩm nhất, là đối tượng được khai thác và nuôi chủ yếu ở đầm Thị Nại, Mai Kim Thi (2006) [26]
Hàu được phân bố từ vùng cao triều, trung triều, hạ triều, đến vùng dưới triều
ở các bãi trong Đầm Mai Hương, như Bãi Vũng Bùn, Bãi Chùa, Bãi Nhỏ, Bãi Giữa, Bãi Đá Đỏ… Hàu phân bố và phát triển rất tốt ở những sinh cảnh bùn lỏng vùng dưới triều, và nơi có dòng triều lên xuống mạnh Hàu xuất hiện từ tháng (11 ÷ 8); mùa rộ nhất từ tháng (5 ÷ 6); hàu sữa xuất hiện vào tháng (1÷2)
+ Các đối tượng thủy sản khác
Don và dắt phân bố khắp đầm, trên các bãi, gò; ở lạch sâu ít; các bãi từ Phước Thắng - Cầu Nhơn Hội Don và dắt xuất hiện quanh năm, trong đó mùa chính từ tháng (8 ÷ 3), và rộ nhất vào khoảng tháng (9 ÷12)
Phểnh phân bố ở các bãi ven cửa sông, các gò nổi đáy cát như Cồn Tàu, Cồn Cát, Bãi Cồn Trũ… xuất hiện từ tháng (1 ÷7)
Sá sùng phân bố đều và tập trung nhiều ở các bãi thuộc Phước Sơn - Phước Thuận và Phước Hòa
Các đối tượng như ốc sắt, sá sùng, cá bống, sìa giống xuất hiện quanh năm 1.3 Các hệ sinh thái đặc trưng trong đầm Thị Nại
Hệ sinh thái đặc trưng của đầm Thị Nại là rừng ngập mặn và thảm cỏ biển Các hệ sinh thái này góp phần quan trọng làm nên tính đa dạng sinh học trong đầm Nhờ lớp phủ thực vật của đất ngập nước, sự cân bằng giữa O2 và CO2 trong khí quyển khiến vi khí hậu địa phương được ổn định đặc biệt là nhiệt độ và lượng mưa; làm giảm sức gió của bão và bào mòn đất của dòng chảy mặt và được coi như “bể
Trang 2111
lọc” tự nhiên, nó có tác dụng giữ lại những chất lắng đọng và chất độc Ngoài ra khu vực này là nơi trú ngụ, kiếm ăn của các loài thủy sản có giá trị kinh tế, đồng thời là nơi cung cấp nguồn giống quan trọng phục vụ cho nghề nuôi trồng thủy sản ven đầm 1.3.1 Rừng ngập mặn
Theo Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Xuân Hòa (2008) [28] cho thấy rằng trước năm 1975 có gần 1.000 ha rừng ngập mặn phân bố ven đầm Thị Nại, tập trung nhiều nhất ở vùng đỉnh đầm, vùng Cồn Chim (bao gồm Cồn Chim, Cồn Giá và Cồn Trạng) và bờ tây của đầm Tại khu vực rừng ngập mặn và vùng nước xung quanh dồi dào nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là những loài có giá trị kinh tế cao như tôm, cua , chim nước và chim di cư cũng rất phong phú
Trong những năm gần đây cho thấy các khu rừng ngập mặn có diện tích lớn không còn nữa, thay vào đó là những ao, đìa nuôi thủy sản Rừng ngập mặn chỉ còn lại những dãi cây ngập mặn nhỏ hẹp phân bố rãi rác dọc theo các bờ đìa nuôi thủy sản ở Cồn Chim và dọc theo bờ Tây của đầm Thành phần cây ngập mặn ở khu vực Cồn Chim và vùng lân cận gồm 25 loài, trong đó có 18 loài cây ngập mặn thực sự
và 7 loài cây tham gia rừng ngập mặn Các loài cây ngập mặn như : cây Đưng, cây Đâng, cây Đước, cây Mắm trắng, cây Giá, cây Tra nhớt là phổ biến
Nguồn lợi hải sản quan trọng trong khu vực phân bố của rừng ngập mặn là Cua xanh và các loại tôm Sản lượng khai thác Cua xanh ở vùng Cồn Chim vào khoảng 40 tấn/năm Đặc biệt, nguồn giống Cua xanh ở khu vực Cồn Chim và ven đầm Thị Nại rất dồi dào, là nguồn thu nhập đáng kể cho cư dân sống trong khu vực rừng ngập mặn
1.3.2 Thảm cỏ biển
Thảm cỏ biển là hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học và năng suất cao, làm
ổn định và bảo vệ tầng đáy, lắng tụ trầm tích, là nguồn dự trữ thức ăn cho thủy vực,
là nơi cư trú, kiếm ăn, nơi đẻ và là vườn ươm ấu thể của các loài hải sản có giá trị
Các nghiên cứu trong những năm gần đây của Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Xuân Hòa (2008) [28] đã xác định 6 loài cỏ biển phân bố trong đầm Thị Nại Các
Trang 221.4 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Vấn đề bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại các vùng nước : ao hồ, đầm phá, vùng biển đang ngày càng trở thành những nhiệm vụ kinh tế - xã hội rất quan trọng trong ngành thủy sản
Mối quan hệ giữa các yếu tố : con người, môi trường, nguồn lợi thủy sản, các điều kiện về kinh tế - xã hội và thể chế chính sách được liên kết chặt chẽ, hữu cơ và
có tác động qua lại giữa các yếu tố trong việc sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản có hiệu quả và bền vững
Đầm Thị Nại là nơi giao thoa giữa hai vùng nước ngọt - mặn đã tạo nên tính
đa dạng sinh học cao, bao gồm hệ thống rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, vùng đầm lầy, bãi triều… là nơi tập trung phong phú của nhiều loài thủy sản nước ngọt, lợ, mặn và các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao Đồng thời là vườn ươm của các loài thủy sản có sức bổ sung lớn cho vùng biển tỉnh Bình Định
Với diện tích khoảng 5060 ha, mặt nước phân bổ rộng kéo dài trên 09 xã phường của huyện Tuy Phước và thành phố Quy Nhơn, trên 5.500 người dân lao động trực tiếp bằng nghề thủy sản và khoảng 10.000 người phụ thuộc vào thu nhập
từ nguồn lợi thủy sản ven đầm, điều đó cho ta thấy rằng đầm Thị Nại có ý nghĩa rất
Trang 23Để làm rõ cơ sở lý luận, kết quả nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại đầm Thị Nại, nhằm phân tích, đánh giá sâu sắc và đề ra các giải pháp trước mắt cũng như lâu dài cho việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản một cách có hiệu quả Qua tìm hiểu các công trình khoa học, đề tài, dự án đã được công bố trong nước và nước ngoài về các vấn đề có liên quan đến việc quản lý, sử dụng nguồn lợi thủy sản tại đầm Thị Nại, cụ thể như sau : 1.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Đến nay, có nhiều nhà khoa học và quản lý thủy sản trên thế giới đã công bố những công trình nghiên cứu cơ bản về đầm phá, các vấn đề về phát triển bền vững
hệ sinh thái, sử dụng và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên Liên quan đến việc nghiên cứu bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, các nghiên cứu khoa học và thực tiễn trên thế giới tập trung vào các vấn đề sau :
1.4.1.1 Loại hình, điều kiện thủy văn và tính đa dạng sinh học đầm phá
Đầm phá ven biển đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu ngay từ những năm 1952 của thế kỷ XX Đầm phá ven biển được định nghĩa là vùng nước cạn được ngăn cách với biển bởi các vật chắn, được kết nối với biển có dòng chảy nhỏ thông qua một hay nhiều lạch nhỏ và thường có hướng song song với đường bờ Theo Barnes, R.S.K (1980) [37], Kjerfve, B (1986) [46] các vùng đầm phá ven biển chiếm 13% diện tích ven biển trên thế giới, có độ sâu trung bình
từ (1÷3)m Việc nghiên cứu tập trung nhiều về các nghiên cứu cơ bản về loại hình đầm phá ven biển, thủy triều, dòng chảy, môi trường và tính đa dạng sinh học của đầm phá Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu khoa học nhằm quản lý và sử dụng đầm
Trang 24Các kết quả nghiên cứu trên sẽ là luận điểm để phân tích, bổ sung về hình thái đầm phá và chứng minh tính đa dạng sinh học cho đầm Thị Nại
1.4.1.2 Quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Quản lý nghề cá là một bộ phận quan trọng trong khoa học nghề cá, mục tiêu của quản lý nghề cá là hướng đến việc bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản bền vững và có hiệu quả
Theo thống kê của FAO, hầu như 50% nguồn lợi thuỷ sản thế giới đã bị khai thác tới giới hạn và không còn khả năng tăng sản lượng; 25% nguồn lợi đã bị khai thác quá giới hạn cho phép Như vậy chỉ còn 25% nguồn lợi hải sản thế giới còn khả năng tăng sản lượng khai thác (FAO, Rome, 1999) Tình trạng này là kết quả của sự thất bại trong quá trình quản lý nghề cá nhằm đạt được sự quản lý có trách nhiệm và có hiệu quả một cách bền vững trên thế giới Điều này đòi hỏi tất cả các ngư dân, cơ quan quản lý nghề cá, các nhà khoa học thủy sản cũng như những người có trách nhiệm đối với các tác động gián tiếp làm suy thoái môi trường phải cùng nhìn nhận trách nhiệm đối với tình trạng nghề cá và nguồn lợi thủy sản đang trên đà suy giảm Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm áp dụng các biện pháp kết hợp nhằm đảo ngược xu thế này
Thực tiễn và các nghiên cứu khoa học về quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi hợp lý đang được triển khai và áp dụng tại nhiều nước trên thế giới theo các hướng sau:
a Giảm số lượng tàu cá khai thác và chuyển đổi nghề nghiệp
Trang 2515
Thống kê của FAO (2004), năm 2004 số lượng tàu cá trên thế giới có khoảng 4,1 triệu chiếc Số lượng tàu cá khai thác tập trung nhiều nhất ở châu Á chiếm 85%, sau đó đến châu Âu chiếm 8,9%
Sự gia tăng số lượng và công suất tàu thuyền ở các nước ngày có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự suy giảm về nguồn lợi thủy sản Một số nước đã thực hiện nghiêm túc việc cắt giảm số lượng tàu thuyền dư thừa
Trung Quốc đang nỗ lực giảm số lượng tàu thuyền khai thác ven bở và số lao động trong khai thác thủy sản sang các ngành nghề khác để hạn chế việc khai thác quá mức Nhiều chương trình, chính sách đã được triển khai để hỗ trợ cho ngư dân chuyển đổi nghề, đặc biệt là việc tăng cường tập huấn cho ngư dân khai thác về nuôi trồng thủy sản Kết quả là số người nuôi trồng thủy sản tăng 6% năm 2002 so với năm 2000, năm 2007 có khoảng 4% lực lượng khai thác thủy sản được chuyển qua làm việc khác và nguồn lợi thủy sản đã được khôi phục
Các nước công nghiệp, đặc biệt là Nhật Bản và châu Âu, lực lượng lao động trong khai thác thủy sản giảm qua các năm qua Số lượng người lao động thủy sản ở Nhật Bản giảm từ năm 1991 và chỉ còn 243.320 người năm 2002 Đây là kết quả các chương trình cắt giảm cường lực khai thác và áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến (FAO, 2004)
Khối liên minh châu Âu cắt giảm 2% tàu khai thác hàng năm Số lượng tàu
cá của liên minh châu Âu giảm từ 96.000 chiếc năm 2000 xuống còn 88.701 chiếc vào năm 2003 Trong đó có 13% là tàu lưới kéo, 6% lưới rùng, 3% lưới rê, 16% câu giăng, còn lại là các loại nghề khai thác khác (Davidse, 2000)
Ở Nauy, có 9.569 chiếc tàu khai thác đăng ký vào 12/2002 So với năm 2000 thì số lượng tàu giảm 48% (FAO, 2004)
Từ năm (1983 ÷ 1998), Hà Lan đã giảm 32% lượng tàu thuyền và 7% cường lực khai thác Kết quả là ngành khai thác thủy sản Hà Lan đã tăng lợi nhuận vào năm 1998 (Davidse, 2000)
Thực tiễn về chính sách cắt giảm số lượng tàu thuyền ở nhiều nước đã góp phần đáng kể đến việc khôi phục nguồn lợi và tăng hiệu quả khai thác thủy sản
Trang 2616
b Áp dụng các mô hình toán trong quản lý khai thác thủy sản
Một số mô hình toán học về quản lý nguồn lợi cũng được ứng dụng tại các nước trong công tác quản lý nghề cá Các mô hình này là sự kết hợp giữa sinh học
và kinh tế (Hannesson, 1978) Sự phát triển mô hình động học quần thể của Beverton và Holt (1957) đã góp phần quan trọng trong việc quản lý khai thác và bảo
vệ nguồn lợi thủy sản
Mô hình động vật quần thể của Beverton, Holt, Gordon, Schaefer và Fox là những mô hình đang được sử dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế thủy sản, đặc biệt là ở các nước nhiệt đới nơi có nghề cá đa loài và khó dự báo trữ lượng chính xác (Gordon, 1954) Các mô hình cho phép tính toán hiệu quả kinh tế và sinh học trong thủy sản, khả năng dự báo, lập kế hoạch và điều chỉnh về sản lượng và cường lực khai thác
c Áp dụng hệ thống quản lý nghề cá có trách nhiệm
Để quản lý khai thác thủy sản bền vững, Liên minh chậu Âu (EU) đã xây dựng
hệ thống quản lý mới là giảm số lượng tàu thuyền và nâng cao trách nhiệm giữa những người quản lý và người dân trong việc khôi phục nguồn lợi thủy sản
Nội dung xuyên suốt của hệ thống quản lý mới là chuyển quyền khai thác có trách nhiệm cho cộng đồng ngư dân, trong đó mọi người dân xem nguồn lợi thủy sản là tài sản chung của mọi người và cần phải bảo vệ Hệ thống quản lý này được
áp dụng và đem lại những thành công lớn trong việc tái tạo và hồi phục nguồn lợi Các thành viên EU đã thực hiện hiệu quả việc khôi phục trữ lượng, giảm áp lực khai thác và đem lại lợi ích kinh tế cao cho ngành công nghiệp khai thác của mình
d Áp dụng hệ thống quản lý khai thác theo hạn ngạch
Đầu những năm 1980, do nguồn lợi thủy sản càng ít trong khi đó số lượng thuyền khai thác quá nhiều Chính phủ New Zealand nhận thấy rằng cần phải có một hệ thống quản lý mới trong khai thác thủy sản Vào tháng 10/1986, sau 2 năm lập kế hoạch và thẩm định, hệ thống quản lý hạn ngạch được áp dụng Nguyên tắc của khai thác hạn ngạch là các cá nhân hay công ty đăng ký sẽ được quyền khai thác
Trang 27ra (Jeanette Fitzsimons,2002)
Theo sau hệ thống quản lý khai thác bằng hạn ngạch, trong những thập niên qua có nhiều quốc gia áp dụng hệ thống quản lý định mức khai thác cá nhân (ITQ) Thông qua quy định này, người dân có thể chuyển nhượng, bán hoặc cho thuê như tài sản của mình Nhiều quốc gia đã áp dụng thành công hệ thống quản lý này như Canada, Úc, Chile, Namibia và Mỹ Theo kiểu quản lý này, có nhiều dẫn chứng cho thấy trữ lượng đã được hồi phục (Arnason,2002; Hatcher,et al, 2002)
Các nghiên cứu về hệ thống quản lý ITQ của New Zealand cho thấy giá trị chuyển nhượng quyền khai thác đã được nâng cao Đặc biệt là quyền được khai thác các loài bị khai thác quá mức trước đây hiện nay đã hồi phục lại Trữ lượng đã được hồi phục ở nhiều vùng khác nhau khi áp dụng hệ thống quản lý này (Newell et al, 2002) Nhìn chung, trữ lượng quần thể đã ổn định và một số loài có biểu hiện gia tăng
Trong thực tế, hệ thống quản lý khai thác theo hạn ngạch còn có những nhược điểm sau: khai thác hạn ngạch tốt chỉ khi chúng ta có đầy đủ cơ sở dữ liệu về trữ lượng cá, tốc độ khôi phục quần thể, tỷ lệ tử vong, mức đe dọa sinh thái Tuy nhiên hầu hết chúng ta không có dữ liệu chính xác như vậy và hạn ngạch chỉ mang tính dự báo khoa học Khoảng 155 trữ lượng cá chúng ta không có đầy đủ dữ liệu Hầu hết các nghiên cứu về trữ lượng chỉ tập trung đánh giá đơn loài mà bỏ qua tác động đa loài (Jeanette Fitzsimons, 2002)
Trang 2818
Ngoài ra, trong khai thác hạn ngạch không đề cập đến việc bảo vệ sinh cảnh,
đa dạng sinh học và ngư cụ mang tính hủy diệt Một số lượng lớn cá đã bị vứt ra trước khi đưa vào bờ do khai thác vượt hạn ngạch (Jeaqnette Fitzsimons, 2002)
Theo Jeanette Fitzsimons (2002), khai thác hạn ngạch cũng không thể đảm bảo tính bền vững, mặc dù nó đã cải thiện quản lý nguồn lợi tốt
e Áp dụng mô hình quản lý nguồn lợi có sự tham gia của cộng đồng
Nhiều nghiên cứu về đồng quản lý hay quản lý trên cơ sở cộng đồng trong lĩnh vực quản lý nguồn lợi, quản lý hoạt động nghề cá được sử dụng trên thế giới Theo IFEP & ICLARM, 1999 cho rằng: “Quản lý nguồn lợi ven biển trên cơ sở cộng đồng là cộng đồng nhận trách nhiệm tự quản lý phần diện tích nguồn lợi ven biển được giao trong việc giám sát và thực hiện các quy định quản lý không trái với pháp luật hiện hành”; Pomeroy & Williams, 1994: “Đồng quản lý là sự chia sẽ trách nhiệm và/hoặc quyền hạn giữa chính phủ và những người/ cộng đồng địa phương sử dụng nguồn lợi để quản lý nguồn lợi hay hoạt động nghề cá”; SEAFDEC, 2006:
“Đồng quản lý là một cách tiếp cận quản lý mà ở đó chính quyền chia sẽ một số quyền hạn, trách nhiệm và chức năng quản lý nhất định trong việc quản lý nghề cá với cộng đồng sử dụng nguồn lợi như là những đối tác”
Việc ứng dụng mô hình đồng quản lý hoặc quản lý nguồn lợi có sự tham gia của cộng đồng đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện và có nhiều thành công lớn trong việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
Ở Philipiness, có khoảng hơn 400 khu bảo tồn biển do địa phương quản lý đã được thành lập Các khu bảo tồn biển được giao cho cộng đồng địa phương tự quản
lý, bảo vệ và khai thác hợp lý nhằm giảm nhẹ chi phí cho nhà nước đồng thời tăng hiệu quả quản lý
Khu bảo tồn Vịnh Co Tong (Philipines) nằm ở bờ đông của Bohol, Philipines Do việc tập trung một số lượng lớn tàu thuyền có quy mô lớn cũng vào khai thác hải sản ở trong vịnh, khai thác bằng chất nổ và khai thác mang tính tự do nên sản lượng khai thác các tàu thuyền thủ công của người dân địa phương giảm từ 20kg/chuyến biển những năm 60 xuống còn 10kg/chuyến cuối thập niên 70 Trước
Trang 2919
dấu hiệu của sự suy giảm nguồn lợi, chính quyền địa phương đã quyết định xây dựng khu bảo tồn vào năm 1978 chỉ cho phép khai thác có chọn lọc một số đối tượng
Đến năm 1996, các công việc đánh giá kết quả của dự án cho thấy sản lượng khai thác cá của người dân làm việc với ngư cụ thủ công tăng Thu nhập bình quân đầu người có tăng, người dân đã có ý thức hơn trong việc quản lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên
Mô hình đồng quản lý nguồn lợi tại Jemluk BaLi Indonesia : Jamluk là một làng cá nhỏ nằm phía đông bắc đảo BaLi, chiều dài bờ biển của làng là 2km, vùng nước nằm trong vùng ranh giới 400 m trở vào được quy định dành cho các hoạt động của cư dân có khoảng 720m, vùng nước này có độ bao phủ san hô rất lớn Hậu quả của việc khai thác bừa bãi san hô là các rạn san hô đã bị huỷ diệt dẫn đến sự huỷ diệt của môi trường sống của các loài thuỷ sản Ngư dân đã cùng với chính quyền địa phương xây dựng quy chế quản lý các khu rạn san hô tự nhiên và nhân tạo Hiệp hội ngư dân cũng được thành lập nhằm mục đích bảo vệ các rạn san hô đồng thời khai thác hợp lý tài nguyên san hô bằng các hình thức câu cá, du lịch Sau khi các rạn san hô được thả, nguồn lợi thuỷ sản tăng lên nhanh chóng kéo theo sự thu hút khách du lịch đến lặn, câu cá Việc phục vụ khách du lịch và câu cá ở các vùng san hô được quy định chặt chẽ cho mọi thành viên trong hội ngư dân đều phải tuân thủ Việc giám sát các quy định cũng được thực hiện bởi chính ngư dân với sự
hỗ trợ về pháp lý của chính quyền địa phương
Mô hình đồng quản lý nghề cá nội địa tại Bangladesh: Nghề cá nội địa đóng vai trò rất quan trọng ở Bangladesh, 80% hộ gia đình sống ở nông thôn khai thác cá nuớc ngọt làm thức ăn và tạo thu nhập, 60% lượng protein động vật là từ cá Tuy nhiên việc quản lý kém hiệu quả, khai thác quá mức, phương pháp khai thác có tính huỷ diệt đã làm suy giảm chất lượng môi trường là nguyên nhân dẫn đến nguồn lợi
cá bị giảm sút trầm trọng
Năm 1996, chính quyền, các tổ chức phi chính phủ đã tiến hành thử nghiệm đồng quản lý nghề cá nội địa ở 19 vùng khác nhau của Bangladesh Từng nhóm
Trang 30Việc nghiên cứu các mô hình đồng quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở các nước, cho ta thấy rằng việc triển khai và ứng dụng mô hình đồng quản lý mỗi lãnh thổ, mỗi vùng nước, phạm vi đều có một cách triển khai phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội, nguồn lợi và môi trường, phong tục tập quán, trình độ văn hóa, quyền sử dụng mặt nước của cộng đồng Tất cả các mô hình đều đạt được những kết quả nhất định như: nhận thức của cộng đồng ngư dân trong việc khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản được nâng lên, nguồn lợi thủy sản được phục hồi và cộng đồng ngư dân có trách nhiệm cùng với chính quyền trong việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
f Ban hành các chính sách về quản lý nghề cá bền vững
Quan điểm quản lý theo hướng phát triển bền vững là một quan điểm và cách tiếp cận mới đã được đặt ra từ những năm 1972 tại Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và con người tại Stockholm, Thụy Điển Sau đó là một loạt các cuộc gặp gỡ hội nghị quốc tế mà đỉnh cao là Hội nghị quốc tế về đánh cá có trách nhiệm, tháng 5/1992; Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường UNCED tại Rio de Janeiro (Braxin), tháng 6/1992 và kết quả là Nghị quyết 4/95 của Liên Hợp quốc đã thông qua Bộ quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm vào ngày 31/10/1995, đồng thời yêu cầu FAO cùng phối hợp với các thành viên và các tổ chức liên quan soạn thảo các văn bản hướng dẫn kỹ thuật phù hợp để hỗ trợ thi hành Bộ quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm
Bộ quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm [39] là mang tính tự nguyện thi hành, tuy nhiên vẫn có các phần có liên quan mật thiết với các qui định của luật quốc tế buộc các nước phải tuân thủ : Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về Luật
Trang 3121
Biển năm 1982 (UNCLOS, 1982) ; Công ước CITES Trên tinh thần của các quy định và luật pháp quốc tế, quá trình quản lý nghề cá đã được FAO hướng dẫn trong tập 4 của bộ tài liệu hướng dẫn kỹ thuật nghề cá nhằm thực hiện Bộ quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm Cụ thể là hướng dẫn hỗ trợ cho việc thực hiện điều 7 và điều 12 của Bộ qui tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm
Thông qua chương trình “ Hướng đến phân cấp quản lý vì sự phát triển bền vững nghề cá tại khu vực ASEAN giai đoạn 2002-2005”, Ban Thư ký của SEAFDEC đã xây dựng bộ hướng dẫn khu vực về đồng quản lý áp dụng quyền sử dụng của cộng đồng đối với nghề cá quy mô nhỏ ở các nước Đông Nam Á nhằm hướng dẫn cách tiếp cận quản lý nguồn lợi thủy sản dựa trên quyền sử dụng cộng đồng, cộng đồng ngư dân sẽ có trách nhiệm cùng với chính quyền địa phương phối hợp quản lý, sử dụng tài nguyên có hiệu quả và bền vững Bằng cách tiếp cận này, các nhu cầu về quản lý được chia sẽ phù hợp với những người sử dụng nguồn lợi thì mức độ tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản sẽ được cải thiện đáng kể
Các hoạt động cơ bản về quản lý nghề cá gắn liền với các nội dung sau :
+ Khuyến cáo cho chính quyền, người sử dụng và cộng đồng về tình trạng của nguồn lợi và hình thức quản lý
Nghiên cứu về phương pháp quản lý nghề cá hiện nay, nhằm hướng đến cách tiếp cận cho việc xây dựng các giải pháp quản lý cho đầm Thị Nại mang tính khoa
Trang 3222
học và phù hợp với thực tiễn nghề cá thế giới
1.4.2 Các nghiên cứu trong nước
1.4.2.1 Các nghiên cứu về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
Trong những năm qua, nghề khai thác thủy sản tại Việt Nam đã và đang phát triển một cách nhanh nhóng, sản lượng khai thác hải sản không ngừng tăng lên Sự gia tăng cường lực khai thác đã tạo áp lực rất lớn đến nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là
sự suy giảm nguồn lợi cả về số lượng và chất lượng ở vùng nước ven bờ Chính phủ Việt Nam cũng có những biện pháp nhằm bảo vệ nguồn lợi và quản lý nghề cá theo hướng bền vững, các nghiên cứu tập trung vào các nội dung:
a Xác định khu vực cấm khai thác
Khu vực cấm khai thác được xác định thông qua nghiên cứu phân bố của trứng cá và cá con trong vùng biển nghiên cứu Vùng cấm khai thác có thể là vùng sinh sản hoặc vùng ương nuôi của các loài hải sản Từ năm (2006 ÷ 2008), Viện Nghiên cứu hải sản đã triển khai nghiên cứu đánh giá hiện trạng, đề xuất các giải pháp bảo vệ trứng cá, cá con và ấu trùng tôm, tôm con ở vùng biển Đông – Tây Nam Bộ [36] Phạm vi nghiên cứu giới hạn từ 30 m nước trở vào bờ, bao phủ hầu hết vùng biển Đông và Tây Nam Bộ
Kết quả nghiên cứu đã xác định được mùa đẻ của các loài hải sản ở vùng biển Đông và Tây Nam Bộ thường từ tháng (2 ÷ 4) và tháng (7 ÷ 9) hàng năm, đẻ rộ vào tháng 3 và tháng 8 Khu vực trứng cá – cá con và ấu trùng tôm – tôm con cũng được xác định
+ Đối với trứng cá – cá con: Bãi sinh sản của các loài cá biển ở vùng biển Đông Nam Bộ được xác định là khu vực cửa sông Cửu Long và vùng ven biển Bạc Liêu, ở vùng biển Tây Nam Bộ là khu vực quần đảo Nam Du Sau khi trứng cá nở thành cá con, dưới tác động của dòng hải lưu, cá con tập trung ở một số khu vực chính, gồm phía bắc cửa sông Cửu Long, khu vực mũi Cà Mau và vùng ven biển Kiên Giang Đây được xác định là vùng nuôi ương cá con
+ Đối với ấu trùng tôm – tôm con: Bãi sinh sản của các loài tôm ở vùng biển Đông Nam Bộ được xác định là khu vực ven biển Vũng Tàu, thuộc phía bắc cửa
Trang 3323
sông Cửu Long và khu vực hòn Trứng, ở vùng ven biển Tây Nam Bộ là khu vực quần đảo Nam Du Bãi ương nuôi đối của các loài tôm ở vùng biển Đông Nam Bộ cũng chủ yếu tập trung ở các khu vực bãi sinh sản và ở vùng biển Tây Nam Bộ là khu vực ven bờ Kiên Giang kéo dài tới quần đảo Nam Du
Để bảo vệ nguồn lợi hải sản nói chung thì các khu vực bãi sinh sản và bãi ương nuôi nói trên cần được bảo vệ bằng hình thức cấm hoặc hạn chế đánh bắt nhằm bảo vệ cá con, ấu trùng tôm vì mục đích phục hồi, tái tạo nguồn lợi
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về biến động của trứng cá, cá con và ấu trùng tôm, tôm con đã xác định khu vực và thời gian cấm hoặc hạn chế khai thác Trong đó các khu vực cấm hoặc hạn chế khai thác được xác định là các bãi đẻ và bãi ương nuôi của các loài hải sản Thời gian cấm hoặc hạn chế khai thác được đề xuất là tháng 3 và tháng 8 hàng năm
b Sử dụng kích thước mắt lưới khai thác phù hợp
Sử dụng lưới rê khai thác cá nổi lớn đặc biệt là các loài cá thuộc họ cá Thu ngừ là hình thức khai thác phổ biến ở các tỉnh miền Trung và Đông Nam Bộ Vấn
đề đặt ra là sử dụng kích thước mắt lưới như thế nào cho phù hợp, vừa đảm bảo năng suất khai thác cao, ổn định và hạn chế tới mức thấp nhất tác động của ngư cụ khai thác đến nguồn lợi
Xuất phát từ thực tế đó, dự án đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam và
dự án khai thác xa bờ đã phối hợp thực hiện các chuyến điều tra, nghiên cứu nguồn lợi cá nổi lớn khai thác bằng nghề lưới rê ở vùng biển xa bờ miền Trung và Đông Nam Bộ [35] Trong đó thử nghiệm tính chọn lọc khai thác của kích thước mắt lưới
rê đối với năng suất và kích thước khai thác của cá ngừ vằn đã được tiến hành với 5 loại kích thước mắt lưới là 2a = 73mm, 85mm, 100mm, 123mm và 150 mm
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiều dài lần đầu sinh sản đối với cá Ngừ vằn dao động trong khoản 40 cm Chiều dài đánh bắt tối ưu của cá Ngừ vằn đối với các kích thước mắt lưới 2a = 73, 85, 100, 123 và 150 mm tương ứng khoảng 30, 35, 41,
50 và 61 cm Như vậy, về khía cạnh sinh học thì kích thước mắt lưới phù hợp sử dụng để khai thác cá Ngừ vằn là 2a = 100 mm hoặc các kích thước mắt lưới lớn
Trang 3424
hơn Năng suất đánh bắt của các loại kích thước mắt lưới khác nhau rõ rệt Loại lưới 2a = 100 mm có năng suất đánh bắt cao nhất, tiếp đến là loại lưới 2a = 123 mm và 2a = 85 mm Loại lưới 2a = 73 mm và 2a = 150 mm cho năng suất đánh bắt rất thấp
Từ khía cạnh năng suất khai thác cho thấy, loại lưới 2a = 100 mm cho năng suất đánh bắt cao nhất, kích thước đánh bắt tối ưu cá Ngừ vằn của loại lưới này cao hơn
so với kích thước lần đầu sinh sản, như vậy cá đánh bắt bằng loại lưới 2a = 100 mm phần lớn sẽ thuộc nhóm cá đã sinh sản Như vậy, nếu sử dụng loại lưới 2a = 100
mm sẽ hạn chế được sản lượng cá chưa trưởng thành trong sản lượng khai thác, từ
đó giảm áp lực khai thác lên quần thể loài cá mà vẫn đảm bảo đạt năng suất khai thác cao nhất
1.4.2.2 Các chính sách về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
Ngày 26/11/2003, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Thủy sản thay cho Pháp lệnh Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản năm 1989; Luật Thủy sản có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2004 Về phạm vi, luật này được áp dụng đối với hoạt động của tổ chức, cá nhân là người Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài trên đất liền, hải đảo, vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam Hoạt động thủy sản ở nước ta phải tuân theo các nguyên tắc chung là: Phải bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với việc bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, tính đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan thiên nhiên và phải tuân theo quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành thủy sản trong phạm vi cả nước và từng địa phương; chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ tác hại của thiên tai và dịch bệnh thủy sản, bảo đảm an toàn cho người, công trình và thiết bị trong hoạt động thủy sản; phải kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên sông, biển
Để thi hành Luật Thủy sản, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành nhiều văn bản về công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản có liên quan đến tại các vùng nước nội địa ( Phụ lục 6.1 )
Tại khoản 3, điều 15 Luật Thủy sản: “ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành quy chế vùng khai thác thủy sản ở sông, hồ, đầm, phá và các vùng
Trang 3525
nước tự nhiên khác thuộc phạm vi quản lý của mình theo hướng dẫn của Bộ Thủy sản; tổ chức cho nhân dân địa phương thực hiện quyền giám sát, phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về thủy sản trong vùng khai thác thủy sản” Trên cơ sở Luật thủy sản và các văn bản của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT, căn cứ thực trạng về môi trường, nguồn lợi thủy sản, điều kiện kinh tế xã hội và đặc điểm nghề cá tỉnh Bình Định, UBND tỉnh Bình Định đã ban hành một số văn bản triển khai trong công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản ( Phụ lục 6.2 )
Nhận xét: Hệ thống văn bản pháp quy từ trung ương đến địa phương cho
chúng ta thấy rằng: quản lý nhà nước về thủy sản được chú trọng và tăng cường, Luật Thủy sản và các văn bản pháp luật của Chính phủ và của tỉnh đã xác định rõ chức năng quản lý nhà nước của Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), các Bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về thủy sản ở phạm vi cả nước, đối với từng ngành, từng lĩnh vực và ở địa phương Đồng thời công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản ngày càng được cũng cố, chất lượng đáp ứng việc thực thi pháp luật về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; phát hiện ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản
1.4.2.3 Một số mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản tại Việt Nam
a Mô hình đồng quản lý Khu bảo tồn biển Rạn Trào huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa
Mô hình đồng quản lý Khu bảo tồn biển Rạn Trào thuộc xã Vạn Hưng huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa là một mô hình đầu tiên ở Việt Nam xây dựng và thành lập Khu Bảo tồn biển dựa trên cơ sở sự tham gia của cộng đồng, tham khảo ý kiến của cộng đồng dân cư địa phương về địa điểm và cách quản lý phù hợp nhất với tình hình kinh tế xã hội ở địa phương, chú trọng công tác tuyên truyền vận động nâng cao nhận thức của cộng đồng về môi trường sinh thái, đa dạng sinh học, bảo
vệ nguồn lợi phát huy tốt nhất sức mạnh cộng đồng trong công tác bảo vệ, quản lý
và phát triển sinh kế bền vững dưới sự hỗ trợ của tổ chức IMA - Việt Nam và chính quyền địa phương
Trang 3626
Mô hình đồng quản lý khu bảo tồn biển Rạn Trào sau ba năm thực hiện đã trở thành một trong những khu bảo tồn biển đầu tiên của Việt Nam do địa phương quản lý góp phần quản lý bền vững nguồn lợi ven bờ Mô hình đã thành công được một số nội dung cơ bản sau:
Năng lực quản lý nguồn lợi thuỷ sản ven bờ của người dân và cán bộ thuỷ sản được nâng cao thông qua các hoạt động đào tạo và quản lý dự án
Ý thức gìn giữ môi trường biển và nguồn lợi thuỷ sản tại vùng dự án được nâng cao, nhận thức về bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học và nguồn lợi biển của đại bộ phận nhân dân được nâng cao rõ rệt
Người dân đã có ý thức trong việc vệ sinh môi trường biển và đất liền, không
xả chất thải sản xuất và sinh hoạt làm ô nhiếm môi trường
Tình trạng khai thác thuỷ sản bằng các hình thức huỷ diệt đánh mìn, dùng xianua, phá hoại các rạn san hô cơ bản đã được xoá bỏ
Nguồn lợi rạn san hô và cá rạn san hô tại khu vực Rạn Trào được bảo vệ và tái tạo với số chủng loại và trữ lượng loài tăng lên rõ rệt
Các nguồn sinh kế thay thế cho người dân được tăng cường, ngưòi dân được tạo điều kiện tiếp cận các nguồn tín dụng, tăng cường sinh kế, các kỹ thuật nuôi trồng hải sản lựa chọn được cải thiện theo hướng tăng năng suất và giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường biển
Mô hình nuôi trồng thuỷ sản kết hợp bền vững được ngưòi dân ủng hộ và tham gia tích cực Người dân được chính quyền và các tổ chức hỗ trợ cho vay vốn phát triển sản xuất nuôi trồng thuỷ sản có kết quả, đời sống được cải thiện, tỷ lệ các
hộ nghèo trong vùng dự án giảm nhanh
Tuy nhiên, ngoài các kết quả đã đạt được ở trên cũng nhận thấy những mặt hạn chế của dự án về quy mô của dự án, kế hoạch quản lý nguồn lợi sau khi dự án kết thúc và hướng phát triển sinh kế cho người dân những vấn đề còn tồn tại mà người dân thôn Xuân Tự nói riêng và cộng đồng chính quyền địa phương huyện Vạn Ninh cần phải giải quyết và có các giải pháp khắc phục khi dự án kết thúc như:
Trang 3727
- Dự án chỉ tập trung ở Rạn Trào ở thôn Xuân Tự, chưa mở rộng ra các thôn khác để người dân có thể tham gia và hưởng ứng nhiều hơn nữa, chưa có tính bao quát, phổ cập
- Các hoạt động của dự án chưa gắn được với quy hoạch chung về nuôi trồng thuỷ sản ở địa phương, xã, huyện Chỉ tập trung vào phục hồi rạn san hô
- Chưa có kế hoạch khai thác nguồn lợi hợp lý, do nguồn lợi thuỷ sản phục hồi nhanh, nhiều cá nên đã kích thích một bộ phận ngư dân lén lút khai thác trộm
- Chưa có sự ủng hộ, gắn kết giữa dự án với chính quyền địa phương và cơ quan chức năng là Chi cục Khai thác và BVNL Thủy sản, vì vậy rất khó khăn cho việc duy trì lâu dài
- Hiện tại nhóm hạt nhân gồm 9 thành viên thường thay nhau canh gác khu bảo tồn, các thành viên nhóm hạt nhân tham gia bảo vệ khu bảo tồn nhưng không có các chính sách hỗ trợ về tài chính nên gặp rất nhiều khó khăn
- Chưa có kế hoạch cho những bước tiếp theo sau khi dự án kết thúc, đây là một vấn đề cần được các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương nghiên cứu xem xét và đề xuất được để đảm bảo tính bền vững của mô hình
b Mô hình phát triển nghề cá dựa vào cộng đồng tại đầm phá Thừa Thiên Huế
Mô hình thí điểm quy hoạch, quản lý nghề cá dựa vào dân tại xã Quảng Thái thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế là mô hình mang tính chính thống của nhà nước, nằm trong Đề án “Quy hoạch tổng thể quản lý khai thác thủy sản đầm phá Thừa Thiên Huế” được xây dựng trong năm 2003 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế
Đầu tiên, một tổ chức ngư dân được thành lập: Chi hội nghề cá Quảng Thái gồm
108 thành viên, hiện nay Chi hội phát triển đến 210 thành viên và tách làm đôi để phù hợp với trình độ quản lý của ngư dân Tổ chức sản xuất, hợp tác tiết kiệm chi phí sản xuất, bảo vệ ngư trường, nguồn lợi, môi trường nuôi trồng thủy sản…là những vấn đề được quan tâm hàng đầu của Chi hội Nghề cá
Mô hình đạt được những thành tựu nhất định trên góc độ quan tâm từ phía cộng đồng ngư dân và Nhà nước:
Trang 3828
- Các cộng đồng ngư dân mong muốn được giúp đỡ xây dựng hội nghề nghiệp
để tập trung lực lượng giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống
- Cơ quan quản lý thủy sản cũng mong muốn có hệ thống tổ chức ngư dân cấp
cơ sở để làm cầu nối giữa nhà nước và ngư dân trong việc quản lý thủy sản: chống khai thác hủy diệt, ô nhiễm môi trường,…mục tiêu ổn định và phát triển sản xuất nâng cao đời sống ngư dân đầm phá
Tuy nhiên về góc độ quản lý nguồn lợi mô hình này chỉ tập trung ở chi hội nghề nghiệp, bố trí lại phân bố nghề nghiệp trên khu vực mặt nước giao, chưa đi sâu vào công tác bảo vệ nguồn thủy sản chung cho cộng đồng dân cư, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương và việc bổ sung tái tạo nguồn lợi cho khu vực này chưa được đề cập Mặt khác mô hình này nghiêng về hành chính, chưa thể hiện
Việc áp dụng mô hình đồng quản lý trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã được triển khai rộng khắp tại các vùng miền, tại các thủy vực: đầm,
hồ và vùng ven biển; Các mô hình đồng quản lý đã đi vào hoạt động đều mang lại hiệu quả về các khía cạnh: môi trường, nguồn lợi, kinh tế- xã hội và thể chế quản lý nguồn lợi; Cộng đồng ngư dân và chính quyền tại các địa phương ứng dụng các mô hình đồng quản lý ý thức hơn về vai trò và trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; Hầu hết các mô hình đồng quản lý được thành lập đều xuất phát trên cơ sở thực tiễn, từ những bức xúc trong quản lý và đề xuất của chính ngư dân Hình thức tổ chức mô hình phong phú và đa dạng với các chi hội, hiệp hội nghề nghiệp, tổ nghề nghiệp, tổ cộng đồng, câu lạc bộ hay các hợp tác xã Bên cạnh
Trang 3929
đó việc triển khai, tổ chức các mô hình đồng quản lý cũng gặp những khó khăn: về thể chế và thiết chế chưa có văn bản pháp quy hướng dẫn giao ranh giới vùng nước thực hiện đồng quản lý cho cộng đồng; nhận thức của người dân về môi trường, nguồn lợi, sinh trưởng và bảo tồn còn hạn chế; mức thu nhập thường xuyên từ nguồn lợi thủy sản của cộng đồng vẫn còn thấp và việc chuyển đổi sinh kế cho cộng đồng đồng ngư dân vẫn là bài toán nan giải cho các mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản hiện nay
Bảng 1.1 Một số mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản do FSPS II tài trợ
Quy mô diện tích mặt nước
1 Sơn La Chi hội đồng quản lý xã Quy
Cửa sông ven biển
hô
đường bờ biển
Khánh Bình (An Phú)
Diện tích hồ: 300ha
Diện tích 6411,15ha
( Nguồn: Báo cáo tổng kết mô hình đồng quản lý Chương trình FSPS II năm 2010 )
1.4.2.4 Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản vùng đầm
phá ven bờ tại Bình Định
Theo báo cáo tổng kết về công tác bảo vệ và nguồn lợi thủy sản từ năm 2005 đến năm 2011 của Chi cục Khai thác và BVNL Thủy sản Bình Định, cho ta thấy rằng công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại Bình Định rất được quan tâm chú trọng và đã được triển khai liên tục và đồng bộ trên mọi mặt, góp phần bảo
vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại các vùng đầm phá ven biển trong tỉnh Kết quả đạt được trên các mặt sau :
Trang 40vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh Bình Định Quy chế quản lý hoạt động khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Bình Định gồm 7 chương 20 điều, quy định cụ thể về công tác quản lý, hoạt động khai thác bảo vệ nguồn lợi thủy sản; chính sách, biện pháp và nguồn lực trong quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong hoạt động khai thác, bảo vệ, phát triển nguồn lợi thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Bình Định
Đặc biệt trong Quy chế này khuyến khích cộng đồng ngư dân, chính quyền địa phương cấp xã, phường tổ chức quản lý các hoạt động nghề cá tại các vùng nước nội địa, vùng nước ven bờ với sự tham gia của cộng đồng; gắn trách nhiệm và quyền lợi cuả người dân trong việc khai thác, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản và bảo vệ môi trường Tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng ngư dân thành lập Hợp tác xã, tổ nhóm, hội và phối hợp với chính quyền địa phương quản lý việc khai thác, nuôi trồng, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản trên vùng nước nội địa, vùng nước ven bờ Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, thành phố căn cứ các quy hoạch đã được phê duyệt tiến hành giao quyền sử dụng mặt nước cho cộng đồng ngư dân để thực hiện các mô hình đồng quản lý trong khai thác, nuôi trồng thủy sản nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, gắn kết sinh kế cộng đồng ở vùng nước nội địa và vùng nước ven bờ; ưu tiên phát triển các mô hình gắn kết phát triển thủy sản và du lịch, bảo vệ hệ sinh thái và môi trường
b Công tác tuyên truyền giáo dục về ý thức của ngư dân trong việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản