Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, mật độ nuôi và thức ăn đến năng suất và chất lượng sinh khối Artemia franciscana nuôi trong ao đất tại Cam Ranh
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình “NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN, MẬT ĐỘ NUÔI VÀ THỨC ĂN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG SINH
KHỐI Artemia franciscana NUÔI TRONG AO ĐẤT TẠI CAM RANH” trong luận án
này là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả thu được trong luận án này là thành quả nghiên cứu của các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Mã số B2007-13-18 và B2010-13-59) Tôi là chủ nhiệm đề tài của 2 đề tài nghiên cứu trên
Tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào Tôi xin chịu trách nhiệm trước Nhà trường, Bộ Giáo dục & Đào tạo và pháp luật về lời cam đoan này
NGHIÊN CỨU SINH
NGUYỄN TẤN SỸ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin trân trọng kính gửi đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Ban Chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Khoa Sau Đại học Trường Đại học Nha Trang lòng biết ơn chân thành khi tôi là nghiên cứu sinh được học tập, công tác và nghiên cứu tại Trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai Thầy hướng dẫn: Phó Giáo sư – Tiến
sĩ Nguyễn Văn Hòa (Đại học Cần Thơ) và Phó Giáo sư - Tiến sĩ Lại Văn Hùng (Đại học Nha Trang) đã hướng dẫn đề tài và giúp đỡ để tôi hoàn thành luận án đúng tiến độ
Tôi xin chân thành cảm ơn Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cung cấp kinh phí để tôi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Mã số B2007-13-18 và B2010-13-59) Thành quả của các nghiên cứu đó đã giúp cho tôi hoàn thành được luận án này
Tôi xin cảm ơn Phòng KHCN đã đôn đốc và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành các đề tài NCKH cấp Bộ và được sử dụng số liệu để hoàn thành luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo trong Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang đã giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài Cảm ơn sự hỗ trợ tích cực trong nghiên cứu khoa học của các Thầy Cô giáo ở Bộ môn Sinh học Nghề cá
Tôi xin chân thành cảm ơn Công ty Muối Cam Ranh đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất và ao nuôi để tôi thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản – Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất và thiết bị
để bố trí các thí nghiệm trong quá trình triển khai đề tài Xin cảm ơn sự giúp đỡ của Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường, Trường Đại học Nha Trang và các cán bộ của Viện đã giúp đỡ trong việc phân tích mẫu
Xin cám ơn các em sinh viên khóa 45NT (Trần Thị Diễm Tuyết, Trần Thị Bích
Hà, Phạm Văn Tuân); Khóa 46NT (Đỗ Thị Mai Hương, Phạm Văn Lưỡng, Nguyễn Anh Tiến) Khóa 47NT (Nguyễn Duy Linh, Trương Thị Thắm, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Thị Mỹ Dung, Hoàng Thị Hoài); Khóa 48NT (Phan Thành Đông, Đỗ Thị Phương Dung, Lê Thị Dung, Nguyễn Thị Giang, Triệu Thị Lý, Đỗ Thị Phượng); Khóa
Trang 349NT (Hoàng Phú Sảm, Vũ Ngọc Phương, Lê Thị Thùy) đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong công tác nghiên cứu của đề tài
Cuối cùng tôi muốn nói lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình đã hỗ trợ về tinh thần cũng như vật chất cho tôi trong quá trình thực hiện luận án này
Nha Trang, 2011
Nguyễn Tấn Sỹ
Trang 41.2.2 Vai trò của Artemia trong nuôi trồng thủy sản 12 1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
1.3.1 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường trong ao nuôi 18
1.3.3 Ảnh hưởng của các yếu tố hữu sinh trong ao nuôi 24
Trang 51.5.3 Những điểm khác biệt về đặc điểm khí hậu, thủy văn và thổ nhưỡng giữa
2.3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn đến năng suất và chất
2.3.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi đến năng suất và chất
2.3.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của loài tảo làm thức ăn đến năng suất
2.3.4 Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của loài tảo chiếm ưu thế trong ao nuôi
2.3.5 Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn bổ sung đến năng suất và
2.3.6 Thí nghiệm 6: Thử nghiệm nuôi thu sinh khối Artemia franciscana với các
2.3.7 Thí nghiệm 7: Đánh giá chất lượng Artemia franciscana thông qua ương nuôi
cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) giai đoạn 30-60 ngày tuổi 44
2.5 PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN LOÀI, MẬT ĐỘ TẢO VÀ KỸ
3.1 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG SINH
3.1.1 Diễn biến của các yếu tố môi trường ở thí nghiệm 1 53
3.1.2 Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng của Artemia 54
3.1.3 Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của Artemia 56
Trang 63.1.4 Ảnh hưởng của độ mặn đến một số chỉ tiêu sinh sản của Artemia 57 3.1.5 Ảnh hưởng của độ mặn đến thành phần tảo trong ao nuôi 58
3.1.6 Ảnh hưởng của độ mặn đến năng suất sinh khối Artemia franciscana 66
3.1.7 Ảnh hưởng của các độ mặn khác nhau đến chất lượng Artemia 683.2 ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ NUÔI ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
3.2.1 Diễn biến của các yếu tố môi trường ở thí nghiệm 2 71
3.2.3 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến sinh trưởng của Artemia 76
3.2.4 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tỷ lệ sống của Artemia 77
3.2.5 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến một số chỉ tiêu sinh sản của Artemia 78
3.2.6 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến năng suất sinh khối Artemia franciscana 79 3.2.7 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng Artemia franciscana 803.3 ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
3.3.1 Ảnh hưởng của loài tảo làm thức ăn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và chất lượng
3.3.2 Ảnh hưởng của loài tảo có chất lượng tốt chiếm ưu thế trong ao nuôi đến
3.3.3 Ảnh hưởng của loại thức ăn bổ sung đến năng suất và chất lượng Artemia
3.4 THỬ NGHIỆM NUÔI THU SINH KHỐI Artemia franciscana TRONG AO ĐẤT
3.4.1 Diễn biến các yếu tố môi trường trong các ao nuôi thử nghiệm 108
3.4.3 Tỷ lệ sống của Artemia trong các ao nuôi thử nghiệm 110
3.4.4 Năng suất sinh khối Artemia ở thí nghiệm 6 110
3.4.5 Chất lượng của Artemia nuôi theo qui trình thử nghiệm 111
3.5 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG Artemia franciscana QUA ƯƠNG NUÔI CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) GIAI ĐOẠN 30-60 NGÀY TUỔI 115
Trang 73.5.1 Diễn biến các yếu tố môi trong các nghiệm thức thí nghiệm 115 3.5.2 Hàm lượng protein và lipit ở các loại thức ăn 116
3.5.3 Ảnh hưởng của các dạng sinh khối Artemia đến sinh trưởng của cá TN 116 3.5.4 Ảnh hưởng của các dạng sinh khối Artemia đến tỷ lệ sống của cá chim vây
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
o ANOVA Analysis Of Variance between groups
o GSL Great Salt Lake Hồ muối lớn
o HUFA (highly unsaturated fatty acids) Axít béo có mức chưa no cao
o PUFA (polyunsaturated fatty acids) Axít không no nhiều nối đôi
o SD Standard deviation Độ lệch chuẩn
Trang 9o SFA (saturated fatty acids) Axít béo bão hòa
o SFB San Francisco Bay Vịnh San Francisco
o SGR (specific growth rate) Tốc độ sinh trưởng đặc trưng
o TFA Total fatty acids Tổng acid béo
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Thành phần sinh hóa (%) ở các giai đoạn phát triển của Artemia 9
Bảng 1.2: Thành phần axít béo (%) ở các giai đoạn phát triển của Artemia 10
Bảng 1.3: Thành phần axit amin ở các giai đoạn phát triển của Artemia 10
Bảng 1.4: Hàm lượng vitamin (µg/g khô) ở các giai đoạn phát triển của Artemia 11Bảng 1.5: Chế độ cho ăn điển hình đối với các giai đoạn ấu trùng Penaeus 13 Bảng 1.6: Hàm lượng và tỷ lệ của EPA, DHA và ARA ở các loại thức ăn sống 15 Bảng 3.1: Các yếu tố môi trường trong ao nuôi ở các độ mặn khác nhau 53
Bảng 3.2: Sinh trưởng về chiều dài (mm) của Artemia ở các độ mặn khác nhau 54 Bảng 3.3: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng SGRL(%/ngày) của Artemia nuôi ở các độ mặn
Bảng 3.4: Tỷ lệ sống (%)của Artemia nuôi ở các độ mặn khác nhau 56
Bảng 3.5: Một số chỉ tiêu về sinh sản của Artemia ở thí nghiệm 1 57 Bảng 3.6: Kết quả gây nuôi tảo trong ao ở các độ mặn khác nhau 58 Bảng 3.7: Thành phần loài và tần số bắt gặp của tảo trong ao nuôi ở các độ mặn khác
Bảng 3.8: Thành phần sinh hóa của Artemia khi nuôi ở các độ mặn khác nhau 68
Bảng 3.9: Thành phần axít béo của Artemia khi nuôi ở các độ mặn khác nhau 69
Bảng 3.12: Thành phần loài và tần số bắt gặp của tảo trong các ao nuôi ở TN 2 74
Bảng 3.13: Sinh trưởng về chiều dài (mm) của Artemia ở thí nghiệm 2 76 Bảng 3.14: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng SGRL(%/ngày) của Artemia ở TN 2 77
Bảng 3.16: Một số chỉ tiêu về sinh sản của Artemia ở thí nghiệm 2 78
Bảng 3.17: Thành phần sinh hóa của Artemia ở thí nghiệm 2 80
Bảng 3.18: Thành phần axít béo của Artemia ở thí nghiệm 2 81
Trang 11Bảng 3.22: Thành phần sinh hóa của Artemia ở thí nghiệm 3 86
Bảng 3.23: Thành phần axít béo của Artemia ở thí nghiệm 3 87Bảng 3.24: Các yếu tố môi trường trong các ao nuôi ở thí nghiệm 4 88Bảng 3.25: Thành phần loài và tần số bắt gặp của tảo ở NT1 của thí nghiệm 4 90 Bảng 3.26: Thành phần loài và tần số bắt gặp của tảo ở NT2 của thí nghiệm 4 91 Bảng 3.27: Thành phần loài và tần số bắt gặp của tảo ở NT3 của thí nghiệm 4 92 Bảng 3.28: Thành phần loài và tần số bắt gặp của tảo ở NT4 của thí nghiệm 4 93
Bảng 3.31: Thành phần sinh hóa của Artemia ở thí nghiệm 4 99
Bảng 3.32: Thành phần axít béo của Artemia ở thí nghiệm 4 99
Bảng 3.36: Thành phần sinh hóa của Artemia ở thí nghiệm 5 105
Bảng 3.37: Thành phần axít béo của Artemia ở thí nghiệm 5 106
Bảng 3 40: Năng suất sinh khối của Artemia ở thí nghiệm 6 110
Bảng 3.41: Thành phần sinh hóa của Artemia ở thí nghiệm 6 111
Bảng 3.42: Thành phần axít béo của Artemia ở các giai đoạn phát triển 112
Bảng 3.43: Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế nuôi thu sinh khối Artemia 113
Bảng 3.45: Hàm lượng protein và lipit trong các loại thức ăn 116 Bảng 3.46: Chiều dài trung bình (cm/con) của cá trong quá trình thí nghiệm 117 Bảng 3.47: Khối lượng trung bình (g/con) của cá trong quá trình thí nghiệm 118
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.4: Sử dụng Artemia làm giàu để đưa các chất cần thiết vào cơ thể đối tượng
Hình 2.2: Cách đo chiều dài của Nauplius và Artemia trưởng thành 47 Hình 3.1: Kết quả gây nuôi tảo trong ao nuôi ở các độ mặn khác nhau 59 Hình 3.2: Biến động số lượng loài tảo trong thời gian thí nghiệm ở các độ mặn khác
Hình 3.3: Biến động mật độ tảo trong thời gian thí nghiệm ở các độ mặn khác nhau 65
Hình 3.4: Năng suất sinh khối Artemia franciscana nuôi ở các độ mặn khác nhau 67
Hình 3.6: Năng suất sinh khối của Artemia franciscana ở thí nghiệm 2 80
Hình 3.7: Năng suất sinh khối của Artemia ở thí nghiệm 4 98
Hình 3.8: Năng suất sinh khối của Artemia ở thí nghiệm 5 104
Hình 3.10: Tỷ lệ sống của cá trong quá trình thí nghiệm 119
Trang 13THÔNG TIN TÓM TẮT NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Đề tài luận án: “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, mật độ nuôi và thức ăn đến
năng suất và chất lượng sinh khối Artemia franciscana Kelloge, 1906
nuôi trong ao đất tại Cam Ranh”
Họ và tên nghiên cứu sinh: Nguyễn Tấn Sỹ
Họ và tên người hướng dẫn: 1 PGS-TS Nguyễn Văn Hòa
2 PGS-TS Lại Văn Hùng
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nha Trang
Tóm tắt những đóng góp mới của luận án:
1 Độ mặn không ảnh hưởng đến sinh trưởng, sức sinh sản, thành phần sinh hóa, nhưng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và có ảnh hưởng gián tiếp đến hàm lượng các axit béo thiết yếu trong nhóm HUFA (EPA, DHA) Do đó độ mặn ảnh hưởng trực tiếp
đến năng suất sinh khối và ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng Artemia Trong phạm vi nghiên cứu, độ mặn thích hợp nhất để nuôi Artemia đạt năng suất và chất
lượng cao trong khoảng 70-90 ‰
2 Mật độ nuôi không ảnh hưởng đến sức sinh sản, thành phần sinh hóa và thành phần
axit béo, nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của Artemia Trong phạm vi nghiên cứu, mật độ nuôi thích hợp nhất để nuôi Artemia đạt năng
suất và chất lượng cao là 100 nauplius/lít
3 Thức ăn có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng, tỷ lệ sống, năng suất và chất lượng
của Artemia Trong phạm vi nghiên cứu cho thấy loài tảo Chaetoceros sp là thức
ăn thích hợp cho Artemia Sinh trưởng, tỷ lệ sống, năng suất và chất lượng của Artemia ở các ao nuôi có loài tảo Chaetoceros sp chiếm ưu thế đều cao hơn so với
các loài tảo khác Việc sử dụng các loại thức ăn bổ sung như bột ngô, bột đậu nành
và tảo khô spirulina cho Artemia ở các ao nuôi thu sinh khối đã nâng cao năng suất sinh khối và chất lượng của Artemia Trong đó, tảo khô spirulina cho kết quả tốt
hơn các loại thức ăn bổ sung khác
4 Năng suất và chất lượng Artemia đã được nâng cao đáng kể khi nuôi thử nghiệm
trong ao đất ở độ mặn trong khoảng 70-90‰, mật độ nuôi 100 nauplius/lít, gây
nuôi tảo Chaetoceros sp chiếm ưu thế trong ao nuôi, dùng tảo khô Spirulina làm
thức ăn bổ sung khi mật độ tảo trong ao nuôi giảm
5 Có thể sử dụng sinh khối Artemia sống để thay thế cho thức ăn công nghiệp trong
ương nuôi cá chim vây vàng giai đoạn 30-60 ngày tuổi, sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá con không có sự sai khác có ý nghĩa giữa 2 loại thức ăn thí nghiệm Sử dụng
kết hợp sinh khối Artemia sống với thức ăn viên NRD để ương cá chim vây vàng
giai đoạn 30-60 ngày tuổi đã nâng cao tỷ lệ sống và sinh trưởng so với nghiệm thức đối chứng
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Tấn Sỹ
Trang 14Thesis title: “Study the effect of salinity, density and food on the productivity and
quality of Artemia franciscana biomass cultured in the earthen pond
at Cam Ranh”
Major: Marine and Brackishwater Aquaculture
Major code: 62 62 70 05
PhD Student: Nguyen Tan Sy
Supervisor: 1 Associate Prof Dr Nguyen Van Hoa
2 Associate Prof Dr Lai Van HungEducational institution: Nha Trang University
Key Findings:
1 Salinity did not affect the growth, fecundity, biochemical composition, but affectedthe survival and indirectly on levels of essential fatty acids of HUFA group (EPA,DHA) Thus salinity affected directly on biomass yield and impacts indirectly to
the quality of Artemia Within this study, the optimum salinity to improve productivity and quality of Artemia was determined between 70 ppt and 90 ppt.
2 Stocking density did not affect on fecundity, biochemical composition and fatty
acid composition, but affected directly on the growth and survival rate of Artemia.
within the study, the most appropriate stocking density to improve productivity of
Artemia biomass is 100 nauplii/litre.
3 The different foods had a significant effect on the growth, survival, productivity
and quality of Artemia This study showed that Chaetoceros sp displayed as a suitable food for Artemia franciscana in comparison to Chlorella sp., Nannochloropsis oculata or mixed algae The use of food supplements such as corn meal, soybean meal and spirulina algae in ponds for Artemia enhanced
biomass yield and quality of animals In particular, spirulina algae gives betterresults than the others
4 Productivity and quality of Artemia was significantly enhanced in trial culture in
the earthen ponds at salinities between 70 ppt and 90 ppt, stocking density 100
nauplii/liter, Chaetoceros sp and Spirulina algae as supplement food source when
the density of algae in the pond decrease
5 Artemia biomass can be used to replace artificial food in larval rearing of the snubnose pompano (Trachinotus blochii) at 30-60 day-old stage The growth and
survival of fry not different significantly between the two food treatments The use
of Artemia biomass in conjunction with industrial food NRD of INVE in larval
rearing the snubnose pompano in period 30-60 days of age had improved thesurvival and growth rate in comparison to the control treatment (only usingindustrial food)
Phd Student
Nguyen Tan Sy
Trang 15MỞ ĐẦU
Artemia được biết đến vào những năm đầu thập niên 30 và đã trở thành nguồn thức ăn sống lý tưởng cho ấu trùng cá và giáp xác [70], [83], [87], [91] Artemia có giá trị dinh dưỡng rất cao, đặc biệt Artemia tiền trưởng thành và trưởng thành có giá trị
dinh dưỡng cao hơn ở giai đoạn ấu trùng [12], [52], [70], [92], [93] Vì thế sinh khối
Artemia là thức ăn cần thiết cho hầu hết các đối tượng trong nuôi trồng thủy sản Trong vài năm trở lại đây, nhu cầu về sinh khối Artemia cho nghề nuôi ốc hương ở
khu vực Nam Trung Bộ nói chung và Khánh Hòa nói riêng rất lớn nên nhiều thương
lái ở miền Trung đặt mua sinh khối Artemia với số lượng lớn từ Vĩnh Châu
Các nghiên cứu về Artemia đã được thực hiện ở Sóc Trăng và Bạc Liêu nhưng
chủ yếu theo hướng thu trứng bào xác Ở khu vực miền Trung chỉ có một số thử
nghiệm nuôi Artemia của Vũ Đỗ Quỳnh và Nguyễn Ngọc Lâm ở Cam Ranh [16],
Trương Sĩ Kỳ và Nguyễn Tấn Sỹ ở Nha Trang [15]… và chưa có những nghiên cứu sâu về vấn đề này Tuy nhiên, không thể ứng dụng các kết quả đã được nghiên cứu ở Sóc Trăng và Bạc Liêu vào khu vực miền Trung vì có sự khác biệt về thổ nhưỡng và điều kiện thời tiết Do đó cần có những nghiên cứu chuyên sâu để hoàn thiện quy trình
nuôi thu sinh khối nhằm nâng cao năng suất và chất lượng Artemia, đáp ứng nhu cầu
thức ăn tươi sống cho nuôi trồng thủy sản ở khu vực Nam Trung Bộ
Năng suất và chất lượng Artemia nuôi trong ao đất phụ thuộc vào các yếu tố vô
sinh như: Độ mặn, nhiệt độ, pH, DO, cường độ chiếu sáng, lượng mưa,… và phụ thuộc vào các yếu tố hữu sinh như: Mật độ nuôi, nguồn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi, các
loài địch hại,… Vì vậy, nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố độ mặn, mật độ nuôi
và thức ăn tự nhiên trong ao nuôi để xác định rõ ảnh hưởng của chúng đến năng
suất và chất lượng Artemia là rất cần thiết.
Artemia là nhóm rộng muối, sống được trong nước lợ từ độ mặn vài phần nghìn đến nước mặn bão hòa (250‰) Ngay cả trong nước ngọt, Artemia có thể sống và hoạt động bình thường từ 1 – 2 giờ [102] Thế nhưng Artemia là thức ăn ưa thích của nhiều
loài động vật thủy sinh, nếu nuôi trong nước biển bình thường sẽ có nhiều địch hại đối với chúng như các loài tôm, cá, Copepoda,… Ngược lại, độ mặn quá cao và vượt
ngưỡng chịu đựng sẽ gây chết cho Artemia [12] Như vậy có thể nuôi Artemia trong ao
Trang 16ở độ mặn nào là thích hợp nhất để nâng cao năng suất và chất lượng cần được nghiên cứu cụ thể hơn
Đối với nuôi Artemia độc canh một chu kỳ, việc xác định mật độ nuôi thích hợp
có ý nghĩa rất quan trọng nhằm cân bằng các yếu tố môi trường ao nuôi, duy trì sự phát triển ổn định của quần thể, kéo dài thời gian thu sinh khối để nâng cao năng suất Vì
vậy việc nghiên cứu để xác định mật độ nuôi Artemia trong ao hợp lý nhất là rất cần
thiết
Trong ao nuôi thu sinh khối, vi tảo là nguồn thức ăn tốt nhất cho Artemia [50].
Tuy nhiên, do giá trị dinh dưỡng của các loài tảo là khác nhau nên ảnh hưởng của
chúng lên sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của Artemia sẽ khác nhau
[10] Mỗi loài tảo cá biệt có thể có chất dinh dưỡng này nhưng lại thiếu chất dinhdưỡng khác Do đó hỗn hợp nhiều loài tảo sẽ cung cấp cho động vật nuôi đầy đủ dinh
dưỡng hơn [45] Hàm lượng axít béo không no (HUFA) có trong Artemia phần lớn
phụ thuộc vào thức ăn mà nó nhận được [69] Việc sử dụng vi tảo thuộc chi
Nannochloropsis, Chaetoceros và Chlorella làm thức ăn cho Artemia sẽ nâng cao hàm
lượng HUFA [68] Vì vậy nghiên cứu về sự ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng, tỷ
lệ sống và chất lượng của Artemia franciscana cần được nghiên cứu đầy đủ hơn
Từ thực tiễn trên, đề tài luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn,
mật độ nuôi và thức ăn đến năng suất và chất lượng sinh khối Artemia
franciscana Kelloge, 1906 nuôi trong ao đất tại Cam Ranh” được thực hiện:
Mục tiêu nghiên cứu đề tài:
Nâng cao năng suất và chất lượng Artemia franciscana khi nuôi trong ao đất
Mục tiêu cụ thể:
1 Xác định độ mặn, mật độ và thức ăn thích hợp để nâng cao năng suất và chất
lượng Artemia nuôi trong ao đất
2 Sử dụng kết quả nghiên cứu để hoàn thiện qui trình nuôi sinh khối Artemia
trong ao đất
Trang 17Nội dung nghiên cứu:
1 Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn đến năng suất và chất lượng Artemia franciscana nuôi trong ao đất
2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi đến năng suất và chất lượng Artemia franciscana nuôi trong ao đất
3 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài tảo làm thức ăn và thức ăn bổ sung
đến năng suất sinh khối và chất lượng Artemia franciscana nuôi trong ao đất
4 Thử nghiệm nuôi sinh khối Artemia franciscana trong ao đất theo các kết quả
nghiên cứu đạt được
5 Đánh giá chất lượng Artemia franciscana qua ương nuôi cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) giai đoạn cá giống
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Về mặt khoa học, kết quả nghiên cứu sẽ xác định các chỉ số thích hợp về độ
mặn, mật độ nuôi và thức ăn lên nuôi thu sinh khối Artemia trong ao đất
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung các dẫn liệu có giá trị khoa học
trong nghiên cứu và ứng dụng, góp phần hoàn thiện quy trình nuôi sinh khối Artemia
trong ao đất ở khu vực Nam Trung Bộ
Những kết quả mới đã đạt được:
Là công trình đầu tiên ở khu vực Nam Trung Bộ:
- Xác định được vai trò của độ mặn, mật độ và thức ăn lên năng suất sinh khối
và chất lượng Artemia nuôi trong ao đất
- Cung cấp các dẫn liệu khoa học để bổ sung vào quy trình nuôi sinh khối
Artemia trong ao đất tại khu vực Nam Trung Bộ
Trang 18CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA ARTEMIA
1.1.1 Vị trí phân loại và phân bố
Artemia franciscana có vị trí phân loại như sau:
Giới (Kingdom) Động vật (Animalia)
Ngành (Phylum) Chân khớp (Arthropoda)
Lớp (Class) Giáp xác (Crustacea)
Lớp phụ (Subclass) Chân mang (Branchiopoda)
Bộ (Order) Anostraca
Họ (Family) Artemiidae Grockwski, 1895
Giống (Genus) Artemia Leach, 1819
Loài (Species) Artemia franciscana Kelloge, 1906 Tên đồng vật (Synonym) Artemia salina Linneus, 1758
Tên thường gọi: Artemia
Tên tiếng Anh: Brine shrimp [9], [11], [90],…
Hình 1.1: Artemia franciscana trưởng thành
Con cái
Con đực
Trang 19Artemia franciscana phân bố tự nhiên ở châu Mỹ và châu Đại dương, không phân bố tự nhiên ở Việt Nam (hình 1.2) Tuy nhiên hiện nay Artemia franciscana đã
được nuôi rộng rãi tại Sóc Trăng (Vĩnh Châu) và Bạc Liêu, mặc dù có nguồn gốc từ
Mỹ (San Francisco Bay, USA) và đã trở thành dòng Vĩnh Châu do chúng đã thích nghi với điều kiện tự nhiên của vùng này [12]
Hình 1.2: Sự phân bố của Artemia trên thế giới [36]
1.1.2 Đặc điểm sinh trưởng và vòng đời
Ấu trùng Artemia mới nở (instar I), có chiều dài 400 - 500 μm, màu vàng cam,
có mắt Nauplius màu đỏ ở phần đầu và ba đôi phụ bộ (anten I có chức năng cảm giác, anten II có chức năng bơi lội và lọc thức ăn và bộ phận hàm dưới để nhận thức ăn) Mặt bụng ấu trùng được bao phủ bằng mảnh môi trên lớn (để nhận thức ăn: chuyển các hạt từ tơ lọc thức ăn vào miệng) Ấu trùng giai đoạn này không tiêu hóa được thức ăn,
vì bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, chúng sống dựa vào noãn hoàng [90]
Sau khoảng 8 - 10 giờ từ lúc nở (phụ thuộc vào nhiệt độ), ấu trùng lột xác thành giai đoạn II (instar II) Lúc này, chúng có thể tiêu hóa các hạt thức ăn cỡ nhỏ (tế bào tảo, vi khuẩn, chất vẩn) có kích thước từ 1 đến 50 μm nhờ vào đôi anten II, và lúc này
bộ máy tiêu hóa đã hoạt động Ấu trùng phát triển và biệt hóa qua 15 lần lột xác Các đôi phụ bộ xuất hiện ở vùng ngực và biến thành chân ngực Mắt kép xuất hiện ở hai bên mắt Từ giai đoạn 10 trở đi, các thay đổi về hình thái và chức năng quan trọng bắt đầu, anten II mất chức năng vận chuyển và trải qua sự biệt hóa về giới tính Ở con đực chúng phát triển thành càng bám, trong khi anten của con cái bị thoái hóa thành phần
Trang 20phụ cảm giác Các chân ngực được biệt hóa thành ba bộ phận chức năng Các đốt chân chính và các nhánh chân trong (vận chuyển và lọc thức ăn) và nhánh chân ngoài dạng màng (mang) [90].
Hình 1.3: Vòng đời phát triển của Artemia [62] [90]
Artemia phát triển thành con trưởng thành sau 2 tuần nuôi và bắt đầu tham gia sinh sản, nhưng trong điều kiện tối ưu chỉ sau 7-8 ngày nuôi Artemia trưởng thành dài
khoảng 10 mm, cơ thể thon dài với hai mắt kép, ống tiêu hóa thẳng, anten cảm giác và
11 đôi chân ngực Con đực có đôi gai giao vĩ ở phần sau của vùng ngực Đối với con cái rất dễ nhận dạng nhờ vào túi ấp hoặc tử cung nằm ngay sau đôi chân ngực thứ 11
Tuổi thọ trung bình của cá thể Artemia trong các ao nuôi ở ruộng muối khoảng 40-60
ngày tùy thuộc điều kiện môi trường [9]
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Artemia có tập tính ăn lọc không chọn lựa và thức ăn của chúng là vi tảo, vi
khuẩn, sinh vật đơn bào, mùn bã hữu cơ,… chúng có khả năng lọc được những hạt lơ lửng trong môi trường nước có kích thước từ 1-50 µm [47], [52], [102] Ở giai đoạn ấu trùng chúng có thể sử dụng thức ăn có kích cỡ 25-30µm và 40-50µm khi trưởng thành
[54] Ở ruộng nuôi thức ăn cho Artemia chủ yếu dựa vào việc bón phân gây màu tảo
trực tiếp trong ao nuôi hoặc gián tiếp trong ao gây nuôi tảo Ngoài ra chúng còn sử
ẤU TRÙNG MỚI NỞ (CÒN NOÃN HOÀNG)
ẤU TRÙNG TRẢI QUA CÁC GIAI ĐOẠN LỘT XÁC CON TRƯỞNG THÀNH
PHÔI XUẤT HIỆN NHƯNG CÒN NẰM TRONG MÀNG NỞ
GIAI ĐOẠN “BUNG DÙ”
Con đực
TRỨNG BÀO XÁC
Trang 21dụng các phụ phẩm từ các nông sản hoặc từ ngành công nghiệp chế biến có giá thành thấp như: Cám gạo, cám ngũ cốc, bột đậu nành, là nguồn thức ăn thích hợp cho viêc
nuôi Artemia ở mật độ cao [50] Tuy nhiên, các loại thức ăn này có kích thước hạt lớn nên Artemia không thể lọc được, do đó cần được tiếp tục xử lý để đạt được kích thước
của hạt thức ăn nhỏ hơn 50 µm [50]
1.1.4 Đặc điểm sinh sản
Khi trưởng thành con đực dùng đôi càng ôm phần bụng của con cái gọi là “hiện tượng bắt cặp” để thụ tinh cho hoạt động sinh sản và hiện tượng này kéo dài suốt vòng đời của chúng Quá trình giao phối xảy ra trong tư thế bắt cặp, con đực sẽ cong mình
và dùng một trong hai gai sinh dục chuyển sản phẩm sinh dục vào buồng trứng của con cái và trứng sẽ được thụ tinh Trứng phát triển trong hai buồng trứng dạng ống ở phần bụng Trong vòng đời con cái có thể tham gia cả hai phương thức sinh sản là đẻ con và đẻ trứng và trung bình mỗi con đẻ khoảng 1500-2500 phôi [91]
Sự đẻ con (Ovoviviparity): Trứng thụ tinh sẽ phát triển thành ấu trùng bơi lội tự
do (nauplius) và được con cái phóng thích ra ngoài môi trường nước
Sự đẻ trứng (Oviparity): Trong điều kiện bất lợi, các phôi chỉ phát triển đến giai đoạn phôi vị (gastrula) và sẽ được bao bọc bằng một lớp vỏ dày (được tiết ra từ tuyến
vỏ trong tử cung) tạo thành trứng nghỉ (cyst) hay còn gọi là trứng “tiềm sinh” (diapause) và được con cái sinh ra [91]
Trang 221.2 GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA SINH KHỐI ARTEMIA
Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng Artemia là nguồn thức ăn
sống rất tốt cho ấu trùng cá và giáp xác [70], [91] Seale (1933) ở Mỹ và Rollefesen
(1939) ở Na Uy đã công bố ấu trùng nauplius của Artemia là một loại thức ăn lý tưởng cho ấu trùng tôm, cá Con non và con trưởng thành của Artemia được sử dụng làm
thức ăn trong ương nuôi tôm, cá, cua và các loài thủy sản khác không chỉ vì giá trị dinh dưỡng tối ưu của chúng mà còn bởi những giá trị về năng lượng [83], [87] Đồng
thời nhờ khả năng tạo nên trứng bào xác (cysts) mà Artemia có thể sử dụng bất cứ lúc
nào khi có nhu cầu bằng cách ấp nở chúng trong nước biển, sau 24 giờ ấp trứng nở
thành ấu trùng Nauplius và có thể dùng ngay làm nguồn thức ăn rất tốt trong ương
nuôi ấu trùng tôm cá [12], [64], [69]
Artemia trưởng thành lớn hơn 20 lần về kích thước và nặng hơn 500 lần về khối lượng so với ấu trùng Artemia lúc mới nở [82] Artemia tiền trưởng thành và trưởng thành có giá trị dinh dưỡng cao hơn Artemia mới được ấp nở từ trứng bào xác
nên được sử dụng làm thức ăn phổ biến trong các trại giống, trại ương hoặc nuôi vỗ
tôm cá bố mẹ [77], [91], [107] Artemia trưởng thành có giá trị dinh dưỡng rất cao,
chiếm gần 70% lượng đạm và rất giàu các axít amin [12]
Mặc dù đã có những cải tiến đáng kể về dinh dưỡng cho động vật thủy sản nhưng cho đến nay vẫn chưa có loại thức ăn nhân tạo nào có thể thay thế hoàn toàn
cho Artemia Trong thực tế, Artemia vẫn là thức ăn chủ yếu trong hoạt động sản xuất
giống cá biển và giáp xác [65]
Ngoài ra Artemia còn chứa một lượng đáng kể vitamin, kích dục tố, sắc tố [12] Artemia còn được sử dụng làm thành phần hoặc chất kích thích trong thức ăn chế biến cho ấu trùng tôm cá [69] Vì thế Artemia có vai trò rất quan trọng và được sử dụng
rộng rãi trong nuôi trồng thủy sản
1.2.1 Thành phần sinh hóa của Artemia:
Các giai đoạn khác nhau trong vòng đời của Artemia có sự khác nhau về thành
phần sinh hóa Các dòng khác nhau, thậm chí trong cùng một dòng nhưng từ các mẻ nuôi khác nhau hay thu hoạch ở các mùa khác nhau cũng cho thấy có sự khác biệt về
Trang 23thành phần sinh hóa [53] Vì Artemia có tập tính ăn lọc không chọn lựa [12] nên
chúng có sự khác biệt về thành phần sinh hóa ở các vùng địa lý khác nhau [53] Sự khác biệt về thành phần sinh hóa ở các dòng khác nhau và ở các giai đoạn phát triển khác nhau trong cùng một dòng có thể nhận thấy rất rõ ràng (bảng 1.1)
Bảng 1.1: Thành phần sinh hóa ở các giai đoạn phát triển của Artemia [53]
Giai đoạn
Phát triển
Chất đạm (%)
Lipit(%)
Carbohydrate(%)
Tro(%)
Xơ (%)
11,23,90,3-1,0
6,936,336,4
5,95,25,8-12,6
1720,9-23,114,412,012,415,9-27,2
3,610,510,6 11,2
7,69,57,127,415,48,17
-5,9 -
12,02,4-19,33,5
17,2-
-20,629,3-
10,8-30,69,44,5-12,14,0
4,0-12,3 20,0
5,2-13,621,6-20,6
4,2 -
Hàm lượng lipit ở các dòng Artemia có sự khác nhau do ảnh hưởng bởi điều
kiện môi trường rõ ràng hơn là nhân tố di truyền Tuy nhiên, hàm lượng lipit của trứng bào xác và nauplius ở giai đoạn instar I không bị tác động bởi điều kiện môi trường hay thức ăn [53]
Kết quả phân tích 150 axít béo của 20 dòng Artemia cho thấy hàm lượng các axít béo có sự biến đổi ở các giai đoạn đoạn phát triển và ở các dòng Artemia (Bảng
1.2) [69]
Trang 24Bảng 1.2: Thành phần axít béo (%) ở các giai đoạn phát triển của Artemia [69]
Giai đoạn phát triển Palmitic
(16:0)
Palmitoleic (16:1n-7)
Oleic (18:1n-9)
Linoleic (18:2n-6)
Linolenic (18:3n-3)
EPA (20:5n-3)
DHA (22:6n-3)
4,1-7,40,16,71,620,29,52,4
20-30,86,117,823,721,217,940,4
5,7-101,811,012,27,48,06,2
28,6-408,23,6-39,36,86,2516,7-
3,5-8,90,61,4-7,52,73,5-14,724,50,044,7
-0,0-0,40,40,0-0,40,00,30,2Trưởng thành
GSL, Mỹ
GSL, Mỹ
SFB, Mỹ
3,99,14,5-14,5
1,74,30,2-1,0
7,418,39,0-17,1
15,415,91,7-30,5
1,70,03,5-13,5
1,72,82,5-3,9
0,80,00,1-0,4 Hàm lượng protein và axit amin dường như ít có sự dao động giữa các dòng khác nhau hay giữa các giai đoạn phát triển khác nhau so với lipit (bảng 1.3)
Bảng 1.3: Thành phần axit amin ở các giai đoạn phát triển của Artemia
Ghi chú: * Các axít amin không thay thế mà các động vật có xương sống kể cả
cá không tự tổng hợp hoặc chuyển hóa được [57].
Trang 25Artemia trưởng thành có hàm lượng protein và axit amin cao hơn so với giai đoạn nauplius [58] Nauplius của Artemia có hàm lượng axit amin thấp hơn so với Copepoda [100] Tuy nhiên Artemia ở giai đoạn ấu trùng cũng như giai đoạn trưởng
thành đều chứa đầy đủ 10 loại axit amin không thay thế, đây là các axit amin thiết yếu
cho ấu trùng cá và hầu hết các protein ở Artemia đều có kích thước và khối lượng phân
tử nhỏ từ 7,4 – 49,2 kDa [57] Sự hiện diện của các chuỗi polypeptit có khối lượng
phân tử nhỏ và các axit amin tự do ở nauplius của Artemia, cùng với tính tan cao, giúp
cho ấu trùng cá tiêu hóa dễ dàng các loại protein này [53]
Nauplius của Artemia có hàm lượng vitamin cao hơn so với nhóm động vật nổi nước mặn [73] Artemia dường như đáp ứng đầy đủ nhu cầu về khẩu phần thức ăn vi
lượng của ấu trùng cá [63] Tuy nhiên, nhu cầu chính xác về khẩu phần vitamin đối với ấu trùng cá biển đến nay vẫn chưa được công bố [53] Theo Mæland và ctv (2000)
có sự khác nhau về hàm lượng vitamin C ở các dòng khác nhau và ở các giai đoạn phát triển khác nhau [73] Vitamin C tự do có ở trứng bào xác nhưng sau khi trứng nở thành
ấu trùng nauplius đến giai đoạn trưởng thành có sự chuyển đổi hoàn toàn thành dạng axit ascorbic 2 sulphat (bảng 1.4) [75]
Bảng 1.4: Hàm lượng vitamin (µg/g khô) ở các giai đoạn phát triển của Artemia
Trang 261.2.2 Vai trò của Artemia đối với nuôi trồng thủy sản
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng Artemia để nuôi vỗ tôm cá bố mẹ
đã kích thích sự thành thục của buồng trứng, gia tăng số lần đẻ và cải thiện đáng kể chất lượng ấu trùng [41], [77], [107]
So với Nauplius Artemia được ấp nở từ trứng bào xác thì Artemia tiền trưởng
thành và trưởng thành có những ưu điểm vượt trội như: chi phí thấp, chất lượng dinh dưỡng cao, đảm bảo sự cân bằng năng lượng tốt hơn nên có thể cải thiện được tỉ lệ sống của các loài tôm, cá Đồng thời với kỹ thuật làm giàu nhằm tăng chất lượng của
Artemia để trở thành loại thức ăn tươi sống tối ưu cho ương nuôi tôm, cá [12]
Các nghiên cứu ở Nhật và một số nước khác đã phát hiện ra rằng hàm lượng
axít béo thiết yếu eicosapentaenoic 20:5n-3 (EPA) ở nauplius của Artemia quyết định
giá trị dinh dưỡng của nó đối với các ấu trùng của nhiều loài cá và giáp xác biển [69]
Giá trị dinh dưỡng của Artemia sẽ được nâng lên đáng kể nếu được làm giàu để bổ
sung các axít béo thiết yếu như axit eicosapentaenoic 20:5n-3 (EPA) và axit
docosahexaenoic 22:n-3 (DHA) Artemia tuy có hàm lượng EPA thấp nhưng có thể cải thiện bằng cách cho ăn các thức ăn giàu HUFA sau khi nauplius của Artemia
chuyển sang giai đoạn ấu trùng Instar II (khoảng 8 giờ sau khi nở) [74]
Phương pháp “làm giàu” hoặc “làm vật nhồi sinh học” được áp dụng rộng rãi ở các trại sản xuất giống cá và giáp xác biển nhằm tăng giá trị dinh dưỡng của thức ăn sống bằng các axít béo thiết yếu hoặc đưa các chất cần thiết như vitamin, hóa chất, chất tạo màu, thuốc phòng trị bệnh, vào cơ thể đối tượng nuôi (hình 1.4)
Hình 1.4: Sử dụng Artemia làm giàu để đưa các chất cần thiết vào cơ thể đối
tượng nuôi [74]
Trang 271.1.2.1 Vai trò của Artemia đối với nuôi tôm he
Sử dụng sinh khối Artemia trưởng thành có thể gây phát dục cho tôm bố mẹ mà
không cần cắt mắt, kích thích sự thành thục của buồng trứng, gia tăng số lần đẻ và cải
thiện chất lượng ấu trùng [12], [41], [77], [97], [107]
Nauplius Artemia thường được dùng làm thức ăn cho ấu trùng tôm he ở giai
đoạn Mysis, đôi khi được dùng sớm hơn ở giai đoạn Zoea [74] Tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của một số loài tôm he tăng lên đáng kể khi cho ăn bằng nauplius của
Artemia đã được làm giàu bằng (n-3) HUFA Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của Artemia được làm giàu đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng (Penaeus
vannamei) cho thấy tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng ở giai đoạn PL 8 ở nghiệm thức được cho ăn bằng Artemia làm giàu bằng Selco luôn cao hơn so với nghiệm thức cho ăn bằng Artemia không làm giàu [74].
Bảng 1.5: Chế độ cho ăn điển hình đối với các giai đoạn ấu trùng Penaeus [74]
Ghi chú: - N: Nauplius; - Z: Zoea; - M: Mysis; - PL: Postlarvae
Nguyễn Thị Hồng Vân và ctv (2008) đã sử dụng năm loại sinh khối Artemia
nuôi ở các điều kiện khác nhau dùng làm thức ăn để ương tôm sú PL15 (khối lượng
ban đầu là 0,01g) bao gồm: 1 Sinh khối Artemia cuối mùa vụ (Thu từ các ao thu trứng
đã kết thúc vụ nuôi) 2 Sinh khối Artemia tiêu chuẩn (Thu từ ao nuôi thu sinh khối với thức ăn từ ao gây màu tự nhiên) 3 Sinh khối Artemia cho ăn bằng cám gạo (Nuôi trong bể theo phương pháp thông thường, cho ăn cám gạo) 4 Sinh khối Artemia cho
ăn bằng tảo tươi (Nuôi trong bể với tảo tươi Chaetoceros sp loài địa phương) 5 Sinh khối Artemia đông lạnh (Thu từ cuối mùa năm trước và được giữ lạnh ở nhiệt độ
Trang 28-200C) Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh trưởng của tôm khác biệt không có ý nghĩa khi sử dụng 5 loại sinh khối này làm thức ăn trong quá trình ương Tuy nhiên, tỉ lệ
sống khác biệt có ý nghĩa Tỉ lệ sống của tôm đạt cao nhất với thức ăn là Artemia đông lạnh (63,3±4,2%), kế đến là Artemia ăn tảo tươi (45,8 ± 1,2%) và thấp nhất là Artemia
tận thu cuối mùa (32,5 ± 4,1%) Tuy nhiên, kết quả từ nghiên cứu này cũng cho thấy
chất lượng dinh dưỡng của Artemia thông qua thành phần các acid béo thiết yếu dường
như không có tác động rõ ràng lên sinh trưởng và tỉ lệ sống của đối tượng nuôi Khi sử
dụng sinh khối Artemia để ương nuôi tôm, nhất là đối với Artemia đông lạnh cần phải
quan tâm tới quản lý môi trường nuôi [34]
1.1.2.2 Vai trò của Artemia đối với nuôi tôm nước ngọt
Artemia là thức ăn cho kết quả tốt nhất trong nuôi ấu trùng tôm nước ngọt Ngược với tôm he, tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) cần được cho ăn nauplius Artemia mới nở từ trứng bào xác ngay từ đầu với mật độ 100 nauplius/lít
1.1.2.3 Vai trò của Artemia đối với nuôi ghẹ xanh
Trần Ngọc Hải và Trần Minh Nhất (2008) đã nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ
ương và mật độ Artemia làm thức ăn lên tỷ lệ sống của ấu trùng Kết quả nghiên cứu cho thấy có thể sử dụng Artemia hoàn toàn để ương nuôi ấu trùng ghẹ xanh bằng cách cho ăn Artemia bung dù ở giai đoạn Zoea 1 đến Zoea 2 và cho ăn Artemia mới nở cho
giai đoạn tiếp theo Mật độ ương ấu trùng thích hợp nhất là 100-200 con/L, kết hợp với
giá thể là chùm nylon và lưới đáy và cho ăn mật độ Artemia vừa phải là 4 con/mL Tỷ
lệ sống và năng suất ghẹ xanh đạt được từ thí nghiệm này hoàn toàn tương đương hay cao hơn so với các kết quả trên thế giới và cho phép ứng dụng vào sản xuất [8]
Trang 291.1.2.4 Vai trò của Artemia đối với nuôi cá biển
Luân trùng, Artemia và Copepoda là các loại thức ăn sống đang được sử dụng
thành công trong ương nuôi ấu trùng của nhiều loài cá biển [44] Ấu trùng cá biển cần thức ăn sống có chứa các chất dinh dưỡng thiết yếu ở nồng độ thích hợp gồm các axít béo thuộc nhóm HUFA (EPA, DHA) [74] Hàm lượng và tỷ lệ các axít béo thiết yếu trong các loại thức ăn sống được thể hiện ở bảng 1.6
Bảng 1.6: Hàm lượng và tỷ lệ của EPA, DHA và ARA ở các loại thức ăn sống [39]
(% axít béo)
DHA(% axít béo)
ARA(% axít béo)
Tỷ lệ DHA: EPA
Tỷ lệ EPA:ARA
Cá nước ngọt có khả năng chuyển hóa rất tốt từ axít α-linolenic (18:3n-3) thành EPA (20:5n-3) và tiếp tục chuyển hóa thành DHA (22:6n-3); trong khi đó ở cá biển khả năng này rất hạn chế hoặc không có [39], [85] Sự khác biệt này là cơ sở cho việc giải thích nhu cầu axít béo không thay thế ở cá biển nói chung, đánh giá giá trị dinh dưỡng lipid của thức ăn sống và liên quan đến nhiều giải pháp kỹ thuật cung cấp axít béo cần thiết cho cá biển
Trong tự nhiên, tảo biển chứa một lượng lipid chiếm khoảng 20% khối lượng khô, trong số đó 50% là các n-3 PUFA Tảo đỏ cũng với thành phần giàu 20:4n-6 tương tự như giàu các n-3 PUFA [48] Nói chung, tảo biển là nguồn cung cấp các PUFA đầu tiên cho động vật biển Do đa số các loài cá biển nhận được nguồn cung cấp axít béo từ thức ăn tự nhiên nên việc tổng hợp axít béo, kể cả kéo dài mạch cacbon, không phải là nhu cầu cấp thiết đối với chúng Qua quá trình tiến hóa, khả năng tự tổng hợp, chuyển hóa axít béo của cá biển bị hạn chế [86] Do đó, trong thức
ăn của ấu trùng cá biển, nếu thiếu DHA (22:6n-3) thường sinh trưởng kém, tỉ lệ chết cao, dễ bị nhiễm bệnh [66], đồng thời sẽ hạn chế sự phát triển của thần kinh và thị giác, nếu không cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ các quá trình sinh lý và tập tính [85] Sự bất thường trong quá trình hình thành sắc tố xảy ra ở ấu trùng các loài cá
Trang 30biển có thể giải quyết bằng cách tăng cường hàm lượng DHA (22:6n-3) trong thức ăn
sống Artemia [6], [85].
Ấu trùng của nhiều loài cá biển như cá tráp đầu vàng, cá song, cá bơn sao,…
chỉ có thể cho ăn bằng khẩu phần thức ăn Artemia sau giai đoạn ban đầu cho ăn luân trùng (Brachionus plicatilis) Tuy nhiên, ấu trùng các loài cá biển thường được nuôi bằng Artemia trong thời gian dài hơn (từ 20 đến 40 ngày) so với ấu trùng các loài giáp xác Do đó nhu cầu về sinh khối Artemia trong ương nuôi ấu trùng cá biển là lớn hơn
so với các nhóm khác [74]
Trần Hữu Lễ và ctv (2008) đã sử dụng sinh khối Artemia sống để ương nuôi cá chẽm (Lates calcarifer) trong ao đất tại Sóc Trăng với 3 nghiệm thức khác nhau: NT1: 100% Artemia sinh khối tươi sống, NT2: 50 % Artemia sinh khối tươi sống và 50 % cá
tạp; NT3: 100% cá tạp Mật độ ương là 20 con/m2
với khối lượng cá ban đầu là
0,3±0,1g/con Kết quả sau 30 ngày ương cho thấy Artemia sinh khối tươi sống là loại
thức ăn rất được ưa thích của cá Chẽm, tốc độ sinh trưởng của cá khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Cá Chẽm đạt sinh trưởng tốt nhất ở nghiệm thức sử dụng 100 %
Artemia sinh khối tươi sống (L = 50,3 ± 2,0 mm và W = 4,5 ± 0,6 g), so với nghiệm thức cho ăn 50 % Artemia sinh khối + 50 % cá tạp (L = 46,9 ± 2,9 mm và W = 3,8 ±
0,7 g), và nghiệm thức cho ăn 100 % cá tạp (L = 38,4 ± 2,2 mm và W = 2 ± 0,4 g) Khối lượng cá đạt 2,0-4,5 g/con khi kết thúc thí nghiệm Tỷ lệ sống giữa các nghiệm thức đều >80% và không khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05) [17]
1.1.2.5 Vai trò của Artemia đối với nuôi cá nước ngọt
Ấu trùng cá nước ngọt thường được tiến hành ương nuôi trong các ao đất với thức ăn tự nhiên là động vật phù du Tuy vậy nhiều loài cá nước ngọt cũng được cho
ăn bằng Artemia, ấu trùng cá hồi trắng (họ Coregonidae) thường được cho ăn Artemia
cho đến khi chúng biến thái và chuyển sang cho ăn bằng thức ăn khô [74]
Ấu trùng loài cá nước ngọt ở miền Đông Bắc Bắc Mỹ (Stizostedion vitreum) được nuôi bằng Artemia hoặc động vật phù du ngoài tự nhiên, cho thấy ấu trùng cá thích ăn Artemia hơn động vật phù du từ lúc bắt đầu sử đụng thức ăn ngoài Do đó cần cho ấu trùng cá Stizostedion vitreum ăn Artemia 15 ngày trước khi cho ăn các loại thức ăn nhân tạo truyền thống Tương tự, nauplius của Artemia ngày càng được sử
Trang 31dụng nhiều ở Mỹ để làm thức ăn cho cá mú sọc (Morone saxatilis) từ sau khi nở
khoảng 5 ngày tới khoảng 20 ngày và sau đó ngừng cho ăn để chuyển sang các loại thức ăn nhân tạo ở ngày 30 [74]
1.1.2.6 Vai trò của Artemia đối với nuôi cá cảnh
Hiện nay các dạng sinh khối Artemia tươi sống và đông lạnh được dùng làm
thức ăn cho các loài cá cảnh Tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng, sức khỏe và sự hình thành sắc tố ở cá cảnh tốt hơn khi cá cảnh được cho ăn bằng các dạng sinh khối
Artemia so với thức ăn công nghiệp [74]
Lim và ctv (2001) đã thử nghiệm nuôi sinh khối Artemia làm thức ăn cho cá
cảnh ở Singapore Kết quả cho thấy giá trị dinh dưỡng tốt hơn so với nuôi bằng thức
ăn Moina, hiệu quả kinh tế cao hơn và thời gian thu hồi vốn đầu tư chỉ sau 18 tháng [70]
Mặc dù Artemia có nguồn gốc từ biển, nhưng có thể sử dụng sinh khối để nuôi
cá cảnh nước ngọt Việc sử dụng Artemia làm thức ăn cho cá cảnh nước ngọt đã cải thiện đáng kể tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá bảy màu (Poecilia reticulate) Với cá Dĩa, việc kết hợp cho ăn bằng luân trùng (Brachionus calyciflorus) và nauplius của Artemia đã giảm nguy cơ ấu trùng ăn thịt lẫn nhau, tốc độ sinh trưởng nhanh hơn,
thời gian nuôi được rút ngắn nên đã nâng cao năng suất cá giống [71]
Trang 321.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG ARTEMIA TRONG AO NUÔI
1.3.1 Ảnh hưởng của các yếu tố vô sinh trong ao nuôi
1.3.1.1 Ảnh hưởng của độ mặn
Hầu hết các dòng Artemia sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thành thục và sức sinh sản
đạt cao nhất ở độ mặn từ 35 – 80 ‰ [38] Tuy nhiên khi nuôi trong ao, trong khoảng
độ mặn này sẽ có rất nhiều địch hại, nên Artemia chỉ sinh trưởng và phát triển tốt ở độ mặn trong khoảng 80 – 120 ‰, ở độ mặn bão hòa (250 ‰) hoặc cao hơn Artemia chết
đồng loạt do môi trường vượt ngưỡng chịu đựng nên việc trao đổi chất cực kỳ khó
khăn [11], [12] Ấu trùng Artemia có khả năng chịu đựng sự thay đổi đột ngột của độ mặn tốt hơn Artemia trưởng thành [46]
Sự tồn tại của Artemia trong môi trường tự nhiên nhờ khả năng thích nghi về
sinh lý với độ mặn cao để tránh các loài địch hại theo cơ chế:
Hệ thống điều hoà áp suất thẩm thấu rất tốt
Khả năng tổng hợp sắc tố hô hấp cao khi hàm lượng oxy thấp do độ mặn cao
Khả năng đẻ trứng bào xác khi điều kiện môi trường trở nên bất lợi [12]
Khi độ mặn thấp sẽ có nhiều địch hại đồng thời nhiều loài tảo không thích hợp
cho Artemia xuất hiện trong ao nuôi, ngược lại khi độ mặn tăng cao sẽ hạn chế sức sản xuất sơ cấp trong ao nuôi, hoặc làm giảm hiệu quả lọc thức ăn của Artemia [106] Hơn
nữa khi độ mặn tăng cao thì nhiệt độ cao và hàm lượng oxy hòa tan giảm sẽ gây stress
cho Artemia và hậu quả là Artemia sinh trưởng chậm, sức sinh sản giảm, mức độ phục
hồi quần thể thấp, nếu quá ngưỡng sẽ gây chết hàng loạt [11], [103]
Kết quả nghiên cứu của Vũ Dũng (1991) cho thấy độ mặn trên dưới 80 ‰ kích
thích các dòng Artemia đẻ con, độ mặn từ 80 – 120 ‰ cho năng suất trứng cao nhất
và độ mặn là một trong nhiều yếu tố chi phối việc đẻ con hay đẻ trứng của Artemia [7].
Nhìn chung, chưa có các nghiên cứu sâu về ảnh hưởng của độ mặn đến năng
suất và chất lượng của Artemia nuôi trong ao đất tại Việt Nam
1.3.1.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất của Artemia thông qua sinh trưởng
và sinh sản, khi quá lạnh Artemia sẽ không sinh trưởng được, ngược lại khi quá nóng
Trang 33chúng sẽ không sinh sản được hoặc bị chết, quần thể mau bị già cỗi [12] Nhiệt độ dưới 20o
C Artemia franciscana sẽ sinh trưởng chậm hoặc chết rải rác và ngược lại khi
nhiệt độ quá cao trên 36oC sẽ gây ra hiện tượng chết, có khi chết hàng loạt, giảm khả năng sinh sản và quần thể phục hồi rất chậm [3], [4], [22]
Theo Browne và ctv (1988) ở nhiệt độ cao con cái Artemia cần nhiều năng
lượng hơn cho việc điều hòa nhiệt độ và ít năng lượng dự trữ cho việc sinh sản, do đó
sức sinh sản thấp [42] Khi nuôi Artemia trong phòng thí nghiệm (điều kiện nhiệt độ
ổn định) cho thấy rằng ở nhiệt độ 30oC số lứa đẻ con cao gấp chín lần so với nuôi ở nhiệt độ 26o
C [11]
Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng và năng suất của
Artemia còn liên quan đến các dòng địa lý Đối với các dòng Artemia có nguồn gốc từ
Bắc Mỹ có thang nhiệt độ ưa thích từ 19 – 25o
C Dòng Tangu của Trung Quốc có nhiệt độ thích hợp cao hơn các dòng địa lý ở Bắc Mỹ, thang nhiệt độ ưa thích trong khoảng 20 - 30o
dòng tổ tiên có nguồn gốc từ Mỹ (San Francisco Bay, USA) đặc biệt là khả năng chịu nóng cao, chúng có thể tồn tại ở nhiệt độ 38 – 41o
C thậm chí đến 42o
C [11]
Nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ ở các mức khác nhau (26o
C, 30oC và
34oC) ở hai độ mặn khác nhau (80 ‰ và 120 ‰) đến Artemia franciscana với các
dòng khác nhau (Vĩnh Châu, SFB, Y1, Y2, Y3) ở điều kiện trong phòng Kết quả nghiên cứu cho thấy khi nhiệt độ được duy trì ổn định ở 34o
C, Artemia chết nhanh
chóng sau khi bắt đầu tiến hành thí nghiệm Ở nhiệt độ 30o
C dòng SFB có số lượng con cái tham gia sinh sản thấp hơn, sức sinh sản thấp hơn, vòng đời ngắn hơn so với dòng Vĩnh Châu ở cả hai độ mặn 80 ‰ và 120‰ của thí nghiệm [81]
Trang 34Trong ao nuôi khi gặp mưa lớn và mực nước tăng cao thường có sự phân tầng
về độ mặn và nhiệt độ ở bề mặt và đáy ao, dẫn đến việc Artemia chết hàng loạt do
nhiệt độ cao và DO thấp nên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng sinh khối Để khắc phục sự phân tầng về độ mặn và nhiệt độ có thể tháo bớt lớp nước tầng mặt, bừa trục liên tục đáy ao để xáo trộn nước trong ao [37]
1.3.1.3 Ảnh hưởng của pH
Theo các thông tin được công bố, sự chịu đựng độ pH đối với Artemia là trong
khoảng 6,5 đến 8 Độ pH có xu hướng giảm dần trong thời kỳ nuôi do kết quả của các quá trình khử nitrate Tuy nhiên khi độ pH giảm thấp hơn 7,5 thì cần bổ sung thêm một lượng nhỏ NaHCO3 để tăng khả năng đệm của nước nuôi [50]
Ở các sinh cảnh tự nhiên, có thể thấy Artemia có mặt ở những nơi có độ pH từ 7,8 đến 8,2, đây là khoảng pH được coi là tối ưu đối với Artemia Tuy nhiên, cho đến nay tác động của pH tới sự sinh trưởng và sinh sản của Artemia vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Hơn nữa, có thể thấy một số quần thể Artemia có mặt ở các hồ có môi
trường kiềm với độ pH từ 9 đến 10 (Hồ Mono, California, Mỹ; Hồ Wadi Natrun ở Ai Cập) [37]
1.3.1.4 Ảnh hưởng của nồng độ oxy hòa tan (DO)
Khi nồng độ oxy hòa tan dưới 2 mg O2/lít sẽ ảnh hưởng đến năng suất Artemia
trong ao nuôi Tuy nhiên, để đạt sản lượng tối ưu theo các tài liệu đã công bố gợi ý nồng độ oxy hòa tan nên cao hơn 2,5 mg O2/lít Nếu duy trì nồng độ oxy hòa tan trong
ao nuôi cao hơn 5 mg O2/lít liên tục sẽ sản sinh ra quần thể Artemia có màu sắc nhạt
do sắc tố hô hấp thấp [50]
Khi nồng độ oxy hòa tan dưới ngưỡng thích hợp thì màu sắc và tập tính của
Artemia sẽ có sự biến đổi khác biệt như cơ thể Artemia chuyển sang màu đỏ, bơi
chậm, thường nổi lên sát mặt nước của ao nuôi,… [37]
1.3.2 Ảnh hưởng của các yếu tố hữu sinh trong ao nuôi
1.3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ nuôi
Artemia có thể nuôi trong bể tuần hoàn ở mật độ rất cao mà không ảnh hưởng
đến tỷ lệ sống Đối với các hệ thống nuôi siêu thâm canh có thể nuôi ở mật độ 5.000 nauplius/lít với cách nuôi theo mẻ và thu hoạch toàn bộ, có thể nuôi ở mật độ 10.000
Trang 35nauplius/lít đối hệ thống nuôi tuần hoàn kín hoặc có thể nuôi ở mật độ 18.000 nauplius/lít đối với hệ thống nuôi tuần hoàn hở mà không gây trở ngại cho tỷ lệ sống [51], [67], [99].
Mật độ nuôi tối đa không gây trở ngại thực sự đối với tập tính của Artemia.
Tuy nhiên, mỗi cách nuôi có những ưu nhược điểm riêng, nếu nuôi cao hơn mật độ này thì các điều kiện nuôi sẽ ở dưới điểm cực thuận như chất lượng nước xấu, lượng thức ăn cho từng cá thể giảm, tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống giảm Vì vậy khi mật
độ nuôi vượt quá khả năng của hệ thống nuôi thì sinh khối Artemia thu được không
những không tăng lên theo sự gia tăng mật độ mà thậm chí càng giảm đi [50]
Khi nuôi thu sinh khối Artemia trong ao đất với nguồn thức ăn tự nhiên thì mật
độ nuôi sẽ thấp hơn rất nhiều so với nuôi sinh khối trong bể Nếu mật độ nuôi ban đầu
cao, Artemia sẽ sinh trưởng chậm vì thiếu thức ăn, thậm chí có thể bị thiếu thức ăn
trước khi đạt tới thành thục nên sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng và sinh sản [12]
1.3.2.2 Ảnh hưởng của thức ăn
Trong ao nuôi sinh khối, thức ăn của Artemia là các loài vi tảo được gây màu
trực tiếp trong ao nuôi trước khi thả giống hoặc gián tiếp trong ao bón phân gây màu
Thành phần tảo không chỉ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và sinh sản của Artemia, mà
còn ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng của sinh khối [12] Vì vậy, tảo là nguồn thức ăn
tự nhiên quan trọng cho Artemia khi nuôi trong ruộng muối [79] Tuy nhiên, do giá trị
dinh dưỡng của các loài tảo là khác nhau nên ảnh hưởng của chúng lên sinh trưởng, tỷ
lệ sống và sinh sản của Artemia sẽ khác nhau [10] Sinh trưởng của Artemia được cho
ăn bằng hỗn hợp của nhiều loài tảo thường cao hơn so với khi chỉ được cho ăn bằngmột loài tảo Mỗi loài tảo có thể có chất dinh dưỡng này nhưng lại thiếu chất dinhdưỡng khác Do đó hỗn hợp nhiều loài tảo sẽ cung cấp đầy đủ dinh dưỡng hơn [45]
Vi tảo là nguồn thức ăn tốt nhất cho Artemia nhưng chi phí để nuôi tảo thuần khá cao Do vậy, nuôi sinh khối tảo thuần trong bể làm thức ăn cho Artemia thường
rất tốn kém Hơn nữa, không phải tất cả các loài tảo đơn bào đều được xem là thích
hợp đối với việc duy trì sinh trưởng của Artemia, Chlorella và Stichococcus có vách
tế bào dày nên Artemia không thể tiêu hóa được, Coccochloris sinh ra các chất gelatin
làm cản trở sự hấp thụ thức ăn, và một số chủng trùng roi sinh ra chất độc [47]
Trang 36Tảo khô cho hiệu quả sinh trưởng tốt, đặc biệt là khi các điều kiện chất lượng nước được giữ ở mức tối ưu Tuy nhiên, điểm yếu khi sử dụng tảo khô là chi phí cao,
phần lớn tảo khô hòa tan trong nước nên Artemia không thể ăn được, đồng thời làm
suy giảm chất lượng nước của môi trường nuôi [50]
Vi khuẩn và nấm men có thể thay thế cho vi tảo để làm thức ăn cho Artemia nhờ
các đặc điểm [50]:
- Đường kính tế bào nhỏ hơn 20 µm
- Thành phần dinh dưỡng khá hoàn chỉnh
- Vách tế bào cứng ngăn chặn sự hòa tan các chất dinh dưỡng trong nước của môi trường nuôi
- Sản phẩm sẳn có ở qui mô thương mại và giá thành chấp nhận được (thường được sử dụng làm thức ăn gia súc)
Hàm lượng axit béo không no (Highly Unsaturated Fatty Acid (HUFA)) có
trong Artemia phụ thuộc vào chất lượng thức ăn mà nó nhận được [69] Kết quả
nghiên cứu về ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến năng suất sinh khối
Artemia cho thấy năng suất ở nghiệm thức nước xanh có bón phân gà và bổ sung cám
gạo so với nghiệm thức chỉ cấp nước xanh là 2,6 tấn/ha và 2 tấn/ha theo thứ tự [22] Tuy nhiên nghiên cứu này chưa quan tâm đến thành phần loài và mật độ tảo trong nguồn nước xanh cung cấp cho hệ thống nuôi thí nghiệm
Lavens and Sorgeloos (1991) đã chứng tỏ rằng việc sử dụng vi tảo thuộc chi
Nannochloropsis, Chaetoceros và Chlorella làm thức ăn cho Artemia sẽ nâng cao hàm
lượng PUFA [68]
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc giảm các mức thức ăn đến tuổi thọ và sức sinh
sản của Artemia franciscana cho thấy có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản nhưng
không ảnh hưởng đến tuổi thọ của con cái Quá trình theo dõi các thông số sinh sản cho thấy: Tổng số phôi/con cái, số phôi/lứa đẻ, số phôi/ngày đẻ, số lứa đẻ giảm cùng với việc giảm mức thức ăn [23]
Lương Văn Thinh và ctv (1999) đã dùng 13 loài tảo biển với thành phần HUFA
khác nhau làm thức ăn cho Artemia, sau 7 ngày nuôi cho thấy thành phần HUFA trong thức ăn biểu hiện rõ trong thành HUFA của Artemia [72].
Trang 37Nghiên cứu ảnh hưởng của tảo Chaetoceros đến tỷ lệ sống, sinh trưởng và hàm lượng lipid của Artemia trong nuôi sinh khối đã được Naegel (1999) thí nghiệm với hai nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn là tảo Chaetoceros và thức ăn thương mại
Nestum (thức ăn cho trẻ con) Kết quả nghiên cứu cho thấy sau 14 ngày nuôi tỷ lệ sống
và sinh trưởng của Artemia ở hai nghiệm thức này tương đương nhau, nhưng hàm lượng lipid của Artemia ở nghiệm thức được cho ăn bằng thức ăn Nestum cao hơn so với nghiệm thức được cho ăn bằng tảo Chaetoceros [76].
Teresita và ctv (2003) đã thí nghiệm nuôi sinh khối Artemia bằng phân gà với
các liều lượng khác nhau trong các ao có thể tích 4m3
, sau 55 ngày nuôi chỉ thu được năng suất cao nhất là 467,33 g/ao [11]
Lora-Vilchis và ctv (2004) đã sử dụng hai loài tảo Isochrysis sp và Chaetoceros muelleri làm thức ăn trong giai đoạn đầu của Artemia Kết quả cho thấy rằng sau 7 ngày nuôi tỉ lệ sống của Artemia không khác biệt có ý nghĩa, ở nghiệm thức Artemia được cho ăn bằng tảo Isochrysis sp tỉ lệ sống là 85%, ở nghiệm thức Artemia được cho ăn bằng tảo Chaetoceros muelleri có tỉ lệ sống là 93%
Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của tảo Chaetoceros sp lên chất lượng sinh khối Artemia cho thấy có sự vượt trội về tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh sản của nghiệm thức nuôi bằng tảo thuần Chaetoceros sp - được phân lập từ ao bón phân của khu nuôi Artemia tại Vĩnh Châu - so với nghiệm thức được nuôi bằng nguồn tảo tạp thu ngoài
ao bón phân tự nhiên Hàm lượng các axít béo, đặc biệt là hàm lượng HUFA ở nghiệm
thức nuôi bằng tảo thuần Chaetoceros sp cao hơn ở nghiệm thức nuôi bằng tảo tạp 3,7
lần Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ tiến hành thí nghiệm trong các ống nghiệm có
thể tích nhỏ Khi nuôi sinh khối Artemia trong ao đất ở thể tích lớn thì ảnh hưởng của mỗi loài tảo lên chất lượng sinh khối Artemia phụ thuộc nhiều vào sự ưu thế của loài
tảo mong muốn, thành phần loài tảo trong ao nuôi, [28]
Hàm lượng Acid béo mạch cao không no (Highly Unsaturated Fatty Acid,
HUFA) có trong Artemia sinh khối đóng vai trò quan trọng trong ương nuôi các loài
thuỷ sản, nó quyết định đến sự thành công trong mẻ nuôi, nếu hàm lượng HUFA trong
Artemia thấp, thì mẽ ương tôm cá cho ăn bằng sinh khối Artemia sẽ có tỉ lệ sống sụt
giảm [12]
Trang 381.3.2.3 Ảnh hưởng của các loài địch hại
Các loài địch hại trực tiếp của Artemia như tôm, cua, còng, cá rô phi, các loài chim, có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh khối của Artemia trong ao nuôi Đối
với các loài chim có thể ngăn chặn bằng cách treo lưới hoặc xua đuổi Đối với tôm cá tạp có thể ngăn chặn khi cấp nước bằng cách dùng lưới lọc có kích thước mắt lưới 120
µm để tránh sự xâm nhập của trứng và ấu trùng vào ao nuôi hoặc có thể nâng độ mặn của ao nuôi lên trên 100 ‰ trong thời gian ngắn [12]
Các nhóm ấu trùng động vật thuộc họ Corixidae có thể tấn công ấu trùng
nauplius của Artemia và các loại sinh vật phù du cạnh tranh thức ăn với Artemia như
luân trùng (Rotifer), giáp xác chân chèo (Copepoda) và nhóm trùng tiêm mao (Fabrea)
cũng ảnh hưởng đến năng suất sinh khối của Artemia trong ao nuôi [12].
1.3.3 Ảnh hưởng của cấu trúc ao nuôi
- Diện tích ao nuôi:
Diện tích ao nuôi Artemia có ảnh hưởng đến năng suất sinh khối, năng suất sinh
khối ở các ao nhỏ thường cao hơn các ao có diện tích lớn, do diện tích ao nuôi càng lớn càng khó quản lý Năng suất trung bình khi nuôi ở các ao nhỏ (200m2
/ao) 6521 ±
1559 kg/ha/vụ và ở các ao lớn (trên 2000 m2/ao) 1716 ± 229 kg/ha/vụ [4]
- Độ sâu:
Độ sâu của ao nuôi có ý nghĩa rất quan trọng đối với những khu vực có nhiệt
độ không khí cao Độ sâu của nước trong ao nuôi được khuyến nghị là từ 40 – 50 cm Mực nước trong ao cao không chỉ hạn chế nhiệt độ nước trong ao tăng quá mức gây tử
vong cho Artemia mà còn để hạn chế sự phát triển của tảo đáy (lab-lab) Sự phát triển
của các loài thực vật đáy sẽ ảnh hưởng xấu cho sự sinh trưởng và phát triển của
Artemia vì chúng có kích thước lớn nên không thể làm thức ăn cho Artemia, đồng thời
chúng ngăn cản sự phát triển bình thường của các loài vi tảo là thức ăn thích hợp cho
Artemia.
Độ sâu của ao nuôi có thể được tăng lên bằng cách đào mương xung quanh ao Tuy nhiên, mực nước sâu từ đầu vụ sẽ ảnh hưởng đến việc phơi nước nâng độ mặn trong ao để đạt được độ mặn cao (trên 80‰) trước khi thả giống, vì tốc độ bốc hơi của nước sẽ phụ thuộc vào bề mặt ao và dung tích nước Do đó mực nước ban đầu trong
Trang 39ao thấp (15 – 20 cm) nên độ mặn tăng nhanh và sau đó cấp thêm nước để gia tăng độ sâu sẽ phù hợp hơn [12]
Nghiên cứu về ảnh hưởng của mức nước trong ao nuôi đến năng suất sinh khối
của Artemia cho thấy rằng ở ao được duy trì mức nước trung bình 60 cm đạt năng suất
8050 kg/ha/vụ, trong khi đó ở ao nông với mức nước 30 cm năng suất chỉ đạt 4992 kg/ha/vụ [4]
1.3.4 Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật
1.3.4.1 Quản lý nguồn thức ăn và các yếu tố môi trường trong ao nuôi
Quản lý tốt nguồn thức ăn và các yếu tố môi trường là biện pháp hữu hiệu để
nâng cao năng suất sinh khối và chất lượng Artemia trong ao nuôi Nhìn chung cách
quản lý ao nuôi thu sinh khối cũng tương tự như cách quản lý ao nuôi thu trứng bào xác
- Quản lý thức ăn trong ao nuôi:
Vi tảo là nguồn thức ăn tốt nhất để nâng cao năng suất sinh khối và chất lượng
Artemia [50], do đó cần duy trì mật độ tảo trong ao nuôi để đảm bảo cung cấp thức ăn đầy đủ cho Artemia [37] Lượng tảo trong ao nuôi được ước lượng thông qua độ trong
Trong ao nuôi độ trong dao động trong khoảng 25-35 cm là tốt, nếu độ trong cao hơn cần cấp thêm nước có tảo từ ao gây màu, nếu độ trong thấp hơn do mật độ tảo trong ao nuôi quá dày cần chú ý đến tình trạng thiếu oxy vào lúc sáng sớm trong những đêm không có gió [12]
Tảo được kích thích phát triển trong các ao nuôi tảo thông qua bón phân Bón phân vào ao nuôi làm tăng sức sản xuất sơ cấp (sự phát triển của tảo phù du) Thông thường tỉ lệ N:P được khuyến nghị bón vào ao nuôi theo hàm lượng 10:1, nhưng vì phospho hòa tan trong nước mặn kém và bị đáy ao hấp thu rất nhanh nên tỉ lệ N:P = 3 -
5 là thích hợp hơn để kích thích sự phát triển của các loài tảo mong muốn như tảo lục
(Tetraselmis, Dunaliella) và tảo khuê (Chaetoceros, Navicula, Nitzchia) [37] Nếu bón
quá nhiều phân lân, đặc biệt là ở nhiệt độ cao (>28oC) kết hợp với độ trong cao sẽ kích
thích sự phát triển của tảo đáy Artemia có thể lọc được một số loài tảo lục nhưng khó tiêu hóa vì có vách tế bào dày như: Nanochloropsis, Chlamydomonas Ở độ mặn cao
rất khó gây màu tảo vì có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đặc tính hóa học của phân bón
Trang 40(thành phần ion của nước biển, pH, chất nền đáy ao), sự phát triển của tảo và thành phần giống loài tảo hiện diện trong ao nuôi [12], [37]
- Quản lý các yếu tố môi trường trong ao nuôi:
Hằng ngày kiểm tra các yếu tố môi trường trong ao như: độ mặn, nhiệt độ, pH,
DO, để điều chỉnh kịp thời khi các yếu tố môi trường trở nên bất lợi cho Artemia.
- Độ mặn: Độ mặn có vai trò quan trọng trong việc xác lập các giới hạn trên và giới hạn dưới theo đó Artemia có thể phát triển được Mức giới hạn trên đối với độ mặn ở nhóm sinh vật ăn mồi sống được xác định là giới hạn dưới để Artemia có thể tồn tại Khi độ mặn quá cao (>250 ‰) thì nước trở nên độc hại đối với Artemia [37].
Trong trường hợp độ mặn quá cao cần nhanh chóng cấp nước có độ mặn thấp vào ao hoặc tháo bớt nước mặn trong ao trước khi cấp nước nhạt để hạ độ mặn Tuy nhiên không nên cấp quá nhiều nước có độ mặn thấp trong ngày mà nên cấp từ từ để đảm
bảo hạ độ mặn không quá 20-30 ‰/ngày để tránh gây sốc cho Artemia [12].
- Nhiệt độ: Nhiệt độ có ảnh hưởng rất nhiều đến sinh trưởng và sinh sản của Artemia, quá lạnh Artemia không sinh trưởng được và ngược lại quá nóng Artemia
không sinh sản được, quần thể mau già cỗi hay có thể bị chết hàng loạt, vì vậy nhiệt độ nên duy trì ở mức thích hợp [11], [12] Trong giai đoạn nắng nóng, nhiệt độ không khí tăng cao sẽ ảnh hưởng đến nhiệt độ nước trong ao nuôi và khoảng từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều nhiệt độ có khi lên đến 40oC, vượt ngưỡng chịu đựng và bắt đầu gây chết
cho Artemia Có thể khắc phục bằng cách bừa ao để đảo trộn lớp nước nóng ở đáy ao,
nếu nhiệt độ vẫn cao trên 40oC và kéo dài thì có thể cấp thêm nước có tảo từ ao nuôi tảo sang sẽ giảm bớt nhiệt độ trong ao nuôi [12]
Trong các ao nuôi có mực nước tăng cao, nước có thể bị phân tầng và nhiệt độ
ở trên bề mặt và ở dưới đáy ao có thể khác nhau đáng kể Trong những tình huống đặc biệt, điều này dẫn đến mức nhiệt độ có thể gây tử vong và nồng độ oxy thấp ở đáy ao nuôi, đặc biệt là trong những tình huống có sự phân tầng về độ mặn Những tình huống
này có thể nhận biết khi có hiện tượng Artemia co cụm thành mảng trên bề mặt ao,
chúng có màu đỏ thẫm và có ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống Bơm thêm nước hoặc bừa đáy ao nuôi thường xuyên sẽ phá vỡ được sự phân tầng [37]