Những năm gần đây, chăn nuôi gà đã và đang phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Tổng đàn gia cầm của cả nước tại thời điểm tháng 122019 đạt 467 triệu con, tăng 14,2% so với cùng thời điểm năm 2018; sản lượng thịt gia cầm hơi xuấ chuồng cả năm ước đạt 1.278,6 nghìn tấn, tăng 16,5% so với năm 2018 (Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam, 2020). Với chăn nuôi truyền thống với qui mô vừa và nhỏ phát triển nhanh, nhất là trong giai đoạn vừa qua dịch tả lợn Châu phi xảy ra, thì người dân đang dần dần chuyển đổi sang chăn nuôi gia súc khác, quan tâm nhất là chăn nuôi gà thả vườn đảm bảo an toàn sinh học. Điều này đòi hỏi nước ta luôn phải đẩy mạnh công tác giống, lai tạo giữa các giống gà bản địa với nhau hoặc lai tạo với giống gà nhập nội với gà địa phương để đáp ứng nhu cầu của người chăn nuôi. Việc lai tạo giữa các giống gà nội với các giống gà thả vườn nhập nội đã và đang được áp dụng. Kết quả lai tạo đã tạo ra các con lai cho mầu lông phù hợp với thị hiếu của người dân, chất lượng thịt thơm ngon, thích hợp cho từng vùng, từng địa phương. Ở nước ta các giống gà nội hiện đang được nuôi phổ biến hiện nay như gà Ri, gà Mía, gà Chọi..., những giống gà này có đặc điểm chất lượng thịt thơm ngon, tuy nhiên chúng lại có nhược điểm năng suất thịt, trứng thấp dẫn đến không đáp ứng được đủ nhu cầu của người dân cũng như xu hướng chăn nuôi gà thả vườn. Chính vì vậy cần lai tạo các giống gà nội với các giống gà nhập nội có năng suất cao nhưng chất lượng thịt còn chưa ngon. Các giống gà Ri, gà Mía là giống gà có tầm vóc trung bình, sức sống cao, là giống gà lông màu có ngoại hình đẹp, chất lượng thịt ngon, nhược điểm tầm vóc không lớn, sinh trưởng chậm. Gà Lương Phượng có nguồn gốc từ Nam Ninh – Quảng Tây – Trung Quốc, được nhập vào nước ta đã trở thành giống gà lông màu chăn thả phổ biến ở nhiều địa phương, trong đó tỉnh Bắc Giang là một trong địa phương Trung du miền Núi có số lượng gà 15.509 triệu con (thống kê 2018) được nuôi chủ yếu thả vườn tận dụng ưu thế điều kiện tự nhiên, giống gà nuôi phổ biến là gà lông màu là chủ yếu. Ưu điểm lớn nhất của mô hình nuôi gà thả vườn là tận dụng lợi thế đất đai, vườn đồi, với nguồn ánh sáng tự nhiên luôn giúp đàn gà khỏe mạnh. Đặc biệt là các dòng gà lông mầu thả vườn do có chất lượng sản phẩm tốt, đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng và phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở nông hộ. Góp phần làm cho gia cầm phát triển bền vững, tăng thu nhập cho người chăn nuôi, từng bước chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên việc đánh giá khả năng sinh trưởng của gà (Ri x Lương Phượng), (Mía lai x Lương Phượng) chưa được nghiên cứu đánh giá cụ thể tại Bắc Giang. Chính vì vậy Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất chất lượng thịt của gà (Ri x Lương Phượng, Mía x Lương Phượng) chăn nuôi an toàn sinh học tại Bắc Giang”.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG 3
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI 2
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.2 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng của gia cầm 4
1.2.1 Khối lượng cơ thể 4
1.2.2 Tốc độ sinh trưởng 7
1.4 Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm 8
1.5 Cơ sở khoa học của công tác lai tạo và ưu thế lai 9
1.2 NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA GÀ RI LAI VÀ GÀ MÍA LAI 12
1.2.1 Gà Ri 12
1.2.2 Gà Mía 12
1.2.3 Ri lai, Mía lai 12
1.2.3 Giới thiệu về các dòng gà TP4, TP2, TP3 12
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 13
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 13
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 18
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 23
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 23
2.3 NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI 23
* Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm 23
Trang 22.3.1 Đặc điểm ngoại hình 23
2.3.2 Tỷ lệ nuôi sống 23
2.3.3.Sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tương đối và sinh trưởng tuyệt đối 23
2.3.4.Khả năng thu nhận và chuyển hóa thức ăn 23
2.3.5.Năng suất, chất lượng thịt 23
2.3.6 Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà ATSH 23
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.4.1 Công thức lai tạo 23
Công thức 1: Gà lai (♂Ri x ♀Lương Phượng) 23
Công thức 2: Gà lai (♂ Mía x ♀Lương Phượng) 23
2.4.1 Phương pháp thiết kế thí nghiệm 23
2.4.2 Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng 24
2.4.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 27
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Tỷ lệ nuôi sống gà qua các tuần tuổi 33
3.2 Khối lượng thí nghiệm gà qua các tuần tuổi 35
3.3 Tốc độ sinh trưởng của gà thí nghiệm 37
3.4 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiêm 38
3.5 Khả năng thu nhận và chuyển hóa thức ăn 40
3.5.1 Khả năng tiêu tốn thức ăn: 40
3.1.2 Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) qua các tuần tuổi kgTA/KgTT 40
3.6 Kết quả mổ khảo sát gà lúc 14 tuần tuổi 42
3.7 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu chất lượng thịt gà lúc 14 tuần tuổi 45
3.8 Kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế 47
Phần 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
4.1.KẾT LUẬN: 49
2.KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số công thức lai tạo đã được công bố gần đây 11
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 24
Bảng 2.2: Nhu cầu dinh dưỡng cho gà thí nghiệm 25
Bảng 2.3 Lịch phòng bệnh cho gà thí nghiệm 27
Bảng 2.4 Chỉ tiêu khảo sát năng suất thịt 29
Bảng 2.5: Dự kiến hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà Ri lai, Mia lai 32
Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 33
Bảng 3.2 Khối lượng gà thí nghiệm qua các tuần tuổi gam/con 35
Bảng 3.3 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (gam/con/ngày) 37
Bảng 3.4 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (%) 39
Bảng 3.5 Tiêu tốn thức ăn gam/ngày 40
Bảng 3.6 Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) qua các tuần tuổi kgTA/KgTT 41
Bảng 3.7 Kết quả mổ khảo sát các loại gà lúc 14 tuần tuổi (n=6) 42
Bảng 3.7a Kết quả mổ khảo sát gà trống Mía lai, Ri lai lúc 14 tuần tuổi (n=6) 42
Bảng 3.7b Kết quả mổ khảo sát gà mái Mía lai, Ri lai lúc 14 tuần tuổi (n=6) 44
Bảng 3.8a Chất lượng thịt của gà trống Mía lai Ri lai 46
Bảng 3.8b Chất lượng thịt của gà mái Mía lai Ri lai 46
Bảng 3.9 Hoạch toán hiệu quả kinh tế của gà thí nghiệm 47
Trang 4MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Những năm gần đây, chăn nuôi gà đã và đang phát triển mạnh cả về sốlượng và chất lượng Tổng đàn gia cầm của cả nước tại thời điểm tháng12/2019 đạt 467 triệu con, tăng 14,2% so với cùng thời điểm năm 2018;sản lượng thịt gia cầm hơi xuấ chuồng cả năm ước đạt 1.278,6 nghìn tấn,tăng 16,5% so với năm 2018 (Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam, 2020) Vớichăn nuôi truyền thống với qui mô vừa và nhỏ phát triển nhanh, nhất làtrong giai đoạn vừa qua dịch tả lợn Châu phi xảy ra, thì người dân đang dầndần chuyển đổi sang chăn nuôi gia súc khác, quan tâm nhất là chăn nuôi gàthả vườn đảm bảo an toàn sinh học Điều này đòi hỏi nước ta luôn phải đẩymạnh công tác giống, lai tạo giữa các giống gà bản địa với nhau hoặc laitạo với giống gà nhập nội với gà địa phương để đáp ứng nhu cầu của ngườichăn nuôi Việc lai tạo giữa các giống gà nội với các giống gà thả vườnnhập nội đã và đang được áp dụng Kết quả lai tạo đã tạo ra các con lai chomầu lông phù hợp với thị hiếu của người dân, chất lượng thịt thơm ngon,thích hợp cho từng vùng, từng địa phương Ở nước ta các giống gà nội hiệnđang được nuôi phổ biến hiện nay như gà Ri, gà Mía, gà Chọi , nhữnggiống gà này có đặc điểm chất lượng thịt thơm ngon, tuy nhiên chúng lại cónhược điểm năng suất thịt, trứng thấp dẫn đến không đáp ứng được đủ nhucầu của người dân cũng như xu hướng chăn nuôi gà thả vườn Chính vì vậycần lai tạo các giống gà nội với các giống gà nhập nội có năng suất caonhưng chất lượng thịt còn chưa ngon Các giống gà Ri, gà Mía là giống gà
có tầm vóc trung bình, sức sống cao, là giống gà lông màu có ngoại hìnhđẹp, chất lượng thịt ngon, nhược điểm tầm vóc không lớn, sinh trưởngchậm Gà Lương Phượng có nguồn gốc từ Nam Ninh – Quảng Tây – TrungQuốc, được nhập vào nước ta đã trở thành giống gà lông màu chăn thả phổbiến ở nhiều địa phương, trong đó tỉnh Bắc Giang là một trong địa phươngTrung du miền Núi có số lượng gà 15.509 triệu con (thống kê 2018) đượcnuôi chủ yếu thả vườn tận dụng ưu thế điều kiện tự nhiên, giống gà nuôi
Trang 5phổ biến là gà lông màu là chủ yếu Ưu điểm lớn nhất của mô hình nuôi gàthả vườn là tận dụng lợi thế đất đai, vườn đồi, với nguồn ánh sáng tự nhiênluôn giúp đàn gà khỏe mạnh Đặc biệt là các dòng gà lông mầu thả vườn
do có chất lượng sản phẩm tốt, đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng
và phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở nông hộ Góp phần làm cho gia cầmphát triển bền vững, tăng thu nhập cho người chăn nuôi, từng bước chuyểndịch cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp nông thôn
Tuy nhiên việc đánh giá khả năng sinh trưởng của gà (Ri x LươngPhượng), (Mía lai x Lương Phượng) chưa được nghiên cứu đánh giá cụ thểtại Bắc Giang Chính vì vậy
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất chất lượng thịt của gà (Ri x Lương Phượng, Mía x Lương Phượng) chăn nuôi an toàn sinh học tại Bắc Giang”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Xác định đặc điểm ngoại hình và tỷ lệ nuôi sống của các gà lai nuôitại Bắc Giang
- Xác định được khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của gà Ri lai(Ri x Lương Phượng) và gà Mía lai (Mía x Lương Phượng)
- Xác định được năng suất thịt và một số chỉ tiêu về chất lượng thịtcủa gà Ri lai, Mía lai
- Xác định được hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà lông màu thả vườnATSH
3 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của gà Rilai, Mía lai trong điều kiện chăn nuôi thả vườn tại huyện Hiệp Hòa, tỉnhBắc Giang
- Đánh giá được năng suất thịt và một số chỉ tiêu về chất lượng thịt của
gà Ri lai, Mía lai
- Đánh giá được hiệu quả của mô hình chăn nuôi gà lông màu ATSH.
Trang 64 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Ý nghĩa khoa học
- Kết quả của đề tài cung cấp số liệu khoa học về khả năng sinhtrưởng, năng suất, chất lượng thịt, hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà Rilai, Mía lai cho các nghiên cứu tiếp theo
Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua mô hình giúp cho người nông dân đã tiếp cận được quytrình nuôi theo hướng ATSH, có được cái nhìn khác hơn về việc chăn nuôitheo hướng bảo vệ môi trường, được trao đổi học hỏi tiếp thu kỹ thuật mới
để có thể tự áp dụng chăn nuôi trên quy mô rộng Đây là hướng đi mới, cóhiệu qủa không những có thể áp dụng cho một số nông hộ mà có thể ápdụng rộng rãi cho người nông dân chăn nuôi toàn tỉnh trong điều kiện dịchbệnh ngày càng phức tạp và nguy hiểm như hiện nay
- Khuyến cáo cho người chăn nuôi lựa chọn loại gà nuôi có hiệu quảkinh tế cao
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA GIA CẦM
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình sinh tổng hợpprotein nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giáquá trình sinh trưởng Để đánh giá đặc điểm về khả năng sinh trưởng người
ta hay dùng các chỉ tiêu khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối vàtốc độ sinh trưởng tương đối, tốc độ mọc lông
1.2.1 Khối lượng cơ thể
Khối lượng cơ thể là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quá trình sinhtrưởng của vật nuôi Theo Ogbu (2012) nghiên cứu trên gà bản địa Nigeria,cho biết hệ số di truyền về khối lượng cơ thể sẽ tăng cao đến 20 tuần tuổi(dao động từ 0,24 - 0,59) và thấp ở 39 tuần tuổi (dao động từ 0,13 - 0,25).Theo Marks (1983), chọn lọc nâng cao khối lượng cơ thể ở gà thịt sẽ cóhiệu quả nhất ở 4 - 8 tuần tuổi và từ 4 - 20 tuần tuổi ở gà trứng (Oluyemi,1979) bởi vì thời kỳ này hệ số di truyền của các tính trạng này cao Bằngphương pháp giới hạn tương đồng tối đa (REML - Restricted MaximumLikelihood), Kuhlers và McDaniel (1996) đã cho biết hệ số di truyền củatính trạng khối lượng cơ thể 7 tuần tuổi trên giống gà thịt là 0,5 Hệ số ditruyền tính trạng khối lượng cơ thể 8 tuần tuổi của giống gà Creode(Mexico) đã được Prado-Gonzlez và cs (2002) công bố là 0,21 khi sử dụngphương pháp REML Theo Chambers (1990) hệ số di truyền về khối lượng
cơ thể ở 42 ngày tuổi của gà thịt vào loại cao: h2S = 0,4; h2D = 0,6; h2S+D
= 0,5 Theo Niknafs và cs (2012) xác định hệ số di truyền về khối lượng cơthể của giống gà bản địa ở Mazandaran (Iran) ở các tuần tuổi: 1 tuần tuổi, 8tuần tuổi và 12 tuần tuổi và lúc thành thục sinh dục Kết quả, hệ số ditruyền dao động từ 0,24 - 0,47 Oni và cs (1991) đã xác định hệ số ditruyền về khối lượng cơ thể của gà Rhode Island ở 16 tuần tuổi và 20 tuầntuổi tương ứng là 0,41 và 0,38 Byung Don Sang và cs (2006) đã xác định
Trang 8hệ số di truyền về khối lượng cơ thể ở 270 ngày tuổi trên 5 giống gà bảnđịa của Hàn Quốc dao động 0,3 - 0,67 Bahmanimehr (2012) cho biết hệ số
di truyền của gà ở 1 ngày tuổi, 8 tuần tuổi và 12 tuần tuổi tương ứng là:0,56; 0,44; 0,51
Như vậy, trên cùng một tính trạng, các ước tính về hệ số di truyền có
sự khác nhau không chỉ do các phương pháp khác nhau, mà còn phụ thuộcvào quần thể đó là giống thuần hay giống lai
Ở Việt Nam, Trần Long và cs (1994) đã công bố kết quả nghiên cứu
về hệ số di truyền một vài tính trạng sản xuất của các dòng gà thịt Hybro HV85 bằng phương pháp phân tích ANOVA, cho thấy hệ số di truyền khốilượng 42 ngày tuổi như sau: dòng V1 gà trống h2D = 0,312, gà mái h2D =0,394; dòng V3 gà trống h2S = 0,154, h2D = 0,396, h2S+D = 0,275; dòngV3 gà mái h2S = 0,240, h2D = 0,280, h2S+D = 0,260
-Khối lượng cơ thể phụ thuộc vào loài, giống và dòng, các giống gàchuyên thịt có khối lượng cơ thể lớn hơn gà kiêm dụng và gà chuyên trứng,
gà dòng trống có khối lượng cơ thể lớn hơn gà dòng mái Kết quả nghiêncứu trên trên gà LV1, LV2 lúc 7 tuần tuổi cho thấy: dòng trống LV1 contrống có khối lượng 1233g, con mái có khối lượng 1024g/con, dòng máiLV2 con trống có khối lượng 1190g/con, con mái có khối lượng 1086g/con(Trần Công Xuân và cs, 2004); kết quả nghiên cứu chọn tạo gà LV qua 4thế hệ ở 8 tuần tuổi: dòng trống LV4, con trống có khối lượng là1795g/con, con mái là 1196,33g/con; ở dòng mái LV5 khối lượng của gàtrống là 1648g/con và khối lượng của gà mái là 1165g/con (Phùng ĐứcTiến và cs, 2010)
Giới tính và tuổi cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng cơ thể Gàtrống có khối lượng cơ thể lớn hơn so với gà mái 24-32% Những sai khácnày cũng được biểu hiện về cường độ sinh trưởng, được qui định khôngphải do hormone sinh học mà do các gen liên kết với giới tính Sự sai khác
về mặt sinh trưởng còn thể hiện rõ hơn đối với các dòng phát triển nhanh sovới các dòng phát triển chậm (Chambers.J.R, 1988)
Trang 9Theo North (1990): lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổicàng tăng sự khác nhau càng lớn; ở 2 tuần tuổi là 5%, 3 tuần tuổi >11%, 5tuần tuổi >17%, 6 tuần tuổi > 20%, 7 tuần tuổi > 23%, 8 tuần tuổi > 27% Bùi Hữu Đoàn và Nguyễn Văn Lưu (2006) gà Hồ có khối lượng cơthể lúc 12 tuần tuổi ở đạt 1297,21g/con (con trống) và 1124,51g/con (conmái) Kết quả nghiên cứu của Đào Văn Khanh (2002) về khả năng sinhtrưởng đến 12 tuần tuổi của gà Lương Phượng và gà Tam Hoàng ở vụ xuâncho thấy: gà Lương Phượng, con trống có khối lượng 2662,75g/con, conmái 2036,37g/con; gà Tam Hoàng: con trống 2339,31g/con, con mái1766,26g/con.
Ngoài ra, chế độ dinh dưỡng, các điều kiện môi trường như nhiệt độ,
ẩm độ, chế độ chiếu sáng, phương thức nuôi, mật độ nuôi cũng ảnh hưởngđến quá trình sinh trưởng từ đó ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể của vậtnuôi
Theo Đào Văn Khanh (2002) đã nghiên cứu khả năng sinh trưởng của
gà Kabir nuôi bán chăn thả ở 4 mùa vụ khác nhau tại Thái Nguyên Kết quảcho thấy: Ở 9 tuần tuổi, gà Kabir nuôi ở vụ hè, vụ thu, vụ đông và vụ xuân,
gà trống và gà mái lần lượt có khối lượng: 1895,09g/con, 1534,64g/con;1943,55g/con, 1533,09 g/con; 1946,50g/con (trống), 1643,83g/con và1953,60g/con (trống), 1631,66g/con
Theo Niknafs và cs (2012) khối lượng cơ thể ở các độ tuổi khác nhau
có tương quan thuận với tính trạng khối lượng trứng ở 1, 12, 28, 30, 32tuần tuổi và dao động từ 0,30 đến 0,59
Theo Bahmanimehr (2012) cho biết sự tương quan di truyền giữa khốilượng cơ thể và khối lượng trứng là tương quan dương, trong đó tươngquan di truyền giữa khối lượng cơ thể 1 ngày tuổi với khối lượng trứng ở
30 tuần tuổi là 0,64 (rG=0,64) Từ đó ông đưa ra kết luận: việc chọn lọc cáctính trạng về khối lượng cơ thể trước tuổi trưởng thành sẽ làm tăng các tínhtrạng khối lượng trứng và nó sẽ hữu ích trong các kế hoạch nhân giống.Như vậy, có thể sử dụng khối lượng cơ thể ở giai đoạn 6 - 8 tuần tuổi
để tiến hành chọn lọc, đồng thời khối lượng cơ thể có tương quan nghịch
Trang 10với tiêu tốn thức ăn, nên trong chọn giống thường sử dụng chọn lọc tăngkhối lượng cơ thể để làm giảm chỉ tiêu tiêu tốn thức ăn, theo Foomani và cs(2014) tương quan di truyền giữa tiêu tốn thức ăn và khối lượng cơ thể ở 28ngày tuổi là tương quan nghịch với giá trị rG = -0,49.
1.2.2 Tốc độ sinh trưởng
Sinh trưởng theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992) làcường độ tăng các chiều của cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định.Trong chăn nuôi gia cầm để đánh giá sinh trưởng người ta sử dụng 2 chỉ số
đó là: Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối
- Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước của cơthể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát, sinh trưởng tuyệt đốithường tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối
có dạng parabol Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tếcàng lớn
- Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng,kích thước trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát Đồ thị sinh trưởngtương đối có dạng hypebol Gà còn non có tốc độ sinh trưởng cao, sau đógiảm dần theo tuổi
Theo Giang Hồng Tuyến (2013) gà Chọi nuôi theo phương thức thảvườn tại Hải Phòng có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối ở 2 tuần tuổi đạt15,92g/con/ngày, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối cao nhất ở 11 tuần tuổi đạt34,46g/con/ngày, đến 14 tuần tuổi chỉ còn 12,36g/con/ngày
Theo Bùi Hữu Đoàn và Nguyễn Văn Lưu (2006), tốc độ sinh trưởngtuyệt đối của gà Hồ tăng dần từ 1 - 11 tuần tuổi sau đó giảm dần; đạt caonhất ở tuần 11: 23,1g/con/ngày (gà trống), gà mái: 22,18g/con/ngày) vàthấp nhất ở 1 tuần tuổi: 3,08 g/con/ngày (gà trống: 3,27 g/con/ngày; gà mái:2,89 g/con/ngày)
Nguyễn Văn Dũng (2008) tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gà Ross
308 thấp nhất ở 1 tuần tuổi đạt 11,27g/con/ngày, cao nhất ở 7 tuần tuổi đạt45,89g/con/ngày; tốc độ sinh trưởng tương đối thì giảm dần qua các tuần
Trang 11tuổi (1-8 tuần tuổi): cao nhất ở 1 tuần tuổi (99,44%), thấp nhất ở 9 tuần tuổi(15,01%).
1.4 TIÊU TỐN THỨC ĂN/ĐƠN VỊ SẢN PHẨM
Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế quan trọngtrong chăn nuôi gia cầm, theo tính toán chi phí thức ăn thường chiếm 70 -75% giá thành sản phẩm chăn nuôi, cho nên việc giảm chi phí thức ănthường được quan tâm hàng đầu của các nhà di truyền chọn giống Đối với
gà nuôi sinh sản thì hiệu quả sử dụng thức ăn được tính là tiêu tốn thứcăn/10 quả trứng, còn đối với gà nuôi thương phẩm lấy thịt hiệu quả sử dụngthức ăn được tính là tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng
Theo Trần Công Xuân và cs (2004), tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơthể của gà lai thương phẩm (LV1 × LV2) ở thế hệ xuất phát là 2,68kg, thế
hệ I là 2,58kg và ở thế hệ II là 2,61kg
Theo Nguyễn Chí Thành và cs (2007) nghiên cứu trên gà Hồ, gà Mía,
gà Đông Tảo cho thấy: Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà Mía làtăng dần, 1 tuần tuổi và 20 tuần tuổi tương ứng là 0,50 và 6,32 kg TĂ/kgtăng trọng; Từ 1-8 tuần tuổi, gà Mía có mức tiêu tốn thức ăn thấp nhất, tiếpđến là gà Hồ và cao nhất là gà Đông Tảo; Tuy nhiên, vào giai đoạn cuối, gàMía lại có mức tiêu tốn thức ăn cao hơn 2 giống kia Trung bình toàn bộ giaiđoạn sinh trưởng từ 1 - 20 tuần tuổi, gà Hồ có mức tiêu tốn thức ăn thấp nhất(3,72kg), tiếp đó là gà Đông Tảo (4,14kg) và cao nhất là gà Mía (6,32kg).Phương thức nuôi có ảnh hưởng đến tiêu tốn thức ăn Trong cùng mộtphương thức nuôi thì ở vụ Xuân - Hè tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượngcủa gà thí nghiệm thấp hơn trong vụ Thu - Đông Ở cùng một mùa vụ thì gànuôi bán chăn thả có tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cao hơn nuôinhốt Theo Hoàng Thị Hồng Nhung (2008) khi kết thúc thí nghiệm ở 9 tuầntuổi nuôi gà Sasso, tiêu tốn thức ăn cộng dồn tính chung cho phương thứcnuôi nhốt là 2,26kg; bán nuôi nhốt là 2,33kg; tiêu tốn thức ăn tính chungcho vụ Xuân - Hè là 2,25kg, vụ Thu - Đông là 2,32kg
Trang 121.5 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC LAI TẠO VÀ ƯU THẾ LAI
Trong công tác lai tạo giống gia cầm, thì lai kinh tế là phương phápphổ biến nhất Lai kinh tế là phương pháp lai giữa 2, 3 và 4 dòng hoặcgiống hoặc loài khác nhau để tạo ra con lai thương phẩm, không sử dụnglàm giống, vì vậy có thể sử dụng phương pháp lai kinh tế để sản xuất hàngloạt và chỉ cần thời gian ngắn đã cho nhiều sản phẩm với chất lượng tốt.Hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng phương pháp lai kinh tế để tạocon lai có năng suất và chất lượng đem lại hiệu quả cao Có nước tới 80%sản phẩm thịt có được là do sử dụng lai kinh tế để tạo ra (Trần Đình Miên,Nguyễn Kim Đường, 1992)
Trong quá trình lai giữa các loài, giống, dòng khác nhau người ta lợidụng được một hiện tượng sinh vật học quan trọng đó là ưu thế lai(Heterosis), thuật ngữ ưu thế lai được Shull - nhà di truyền học người Mỹ
đề cập tới từ năm 1914 Sau đó ưu thế lai được nghiên cứu và ứng dụngkhá rộng ở cả thực vật và động vật (ở tất cả các gia súc từ lớn nhất đến bénhất) và ưu thế lai được biểu hiện qua tốc độ sinh trưởng, phát triển, sứcsản xuất, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh
Ưu thế lai nói chung của các tính trạng sinh sản có ảnh hưởng caohơn so với tính trạng về sinh trưởng (Fairfull và Gowe, 1990) và là ảnhhưởng của phía mẹ và dinh dưỡng (Liu và cs, 1993)
Theo Amin (2008) các tổ hợp lai thường cho năng suất vật nuôi caohơn trung bình các giống thuần chủng tạo nên chúng, bao gồm giá trị của ditruyền cộng gộp của từng tính trạng và các thành phần của ưu thế lai chomỗi tổ hợp lai
Các thành phần di truyền cộng gộp: Giá trị di truyền cộng gộp của
các giống thuần tham gia tạo nên các tổ hợp lai của bất kỳ tính trạng nàocũng bao gồm: giá trị di truyền cộng gộp trực tiếp của từng giống (Ad), giátrị di truyền cộng gộp của bố (Ab) và giá trị di truyền cộng gộp của mẹ (Am)
Di truyền cộng gộp trực tiếp (Ad): Là tỷ lệ gen của mỗi giống thuần
tham gia đóng góp trực tiếp cho mỗi cá thể tổ hợp lai Tổng tỷ lệ nguồn gen
Trang 13của tất cả các giống thuần trong mỗi thành phần di truyền cộng gộp của bất
kỳ hệ thống lai nào cũng luôn bằng 100%
Di truyền cộng gộp của cá thể bố (Ab): Là tỷ lệ nguồn gen của các
giống ở vị trí làm bố đóng góp cho mỗi cá thể của tổ hợp lai do chính bố đótạo nên, Tổng tỷ lệ nguồn gen của tất cả các giống đóng vai trò làm bốtrong mỗi hệ thống lai tạo các tổ hợp lai luôn bằng 100%
Di truyền cộng gộp của cá thể mẹ (Am): Là tỷ lệ nguồn gen của mỗi
cá thể giống ở vị trí làm mẹ đóng góp cho tổ hợp lai do chính cá thể mẹ
đó đẻ ra, tổng tỷ lệ nguồn gen của các cá thể giống đóng vai trò làm mẹcũng bằng 100%
Các thành phần ưu thế lai: Các thành phần ưu thế lai cấu tạo nên
giá trị thực của bất kỳ một tính trạng nào ở các tổ hợp lai cũng đều baogồm: ưu thế lai trực tiếp (Dd), ưu thế lai của cá thể bố lai (Db), ưu thế laicủa cá thể mẹ lai (Dm), ưu thế lai của ông nội và bà nội lai, ưu thế lai củaông ngoại và bà ngoại lai…, song trong chăn nuôi chỉ đề cập đến các thànhphần cơ bản nhất của ưu thế lai là ưu thế lai trực tiếp, ưu thế lai của cá thể
bố lai và ưu thế lai của cá thể mẹ lai
Ưu thế lai trực tiếp (Dd): Là thành phần ưu thế lai cơ bản nhất do
chính cá thể đó tạo nên, ưu thế lai trực tiếp là tỷ lệ đóng góp của thành viên
đó trong tổng thể ưu thế lai, ưu thế lai trực tiếp cao nhất ở các tổ hợp lai có100% nguồn gen là dị hợp tử
Ưu thế lai của bố lai và ưu thế lai của mẹ lai: Là thành phần ưu thế
lai do cá thể bố lai và mẹ lai đóng góp vào cho tổ hợp lai của chúng tạo ra
Ưu thế lai của cá thể bố lai và mẹ lai chỉ có khi con lai được tạo ra từ cáccông thức lai mà bố mẹ là các tổ hợp lai
Theo Basant và cs (2013) lai tạo là một trong những công cụ để khaithác sự biến đổi di truyền Mục đích chính của việc lai tạo là tạo ra con lai
có khả năng sản xuất vượt trội so với gà bố mẹ, để nâng cao khả năng sinhtrưởng và khả năng sinh sản
Trang 14Bảng 1.1 Một số công thức lai tạo đã được công bố
gần đây
Hồ ×Tam Hoàng
Mía ×Tam Hoàng
Tàu vàng ×Tam Hoàng
Nguyễn Đăng Vang và cs (1999)
Sasso X44 × Lương Phượng hoa Trần Công Xuân và cs (2003)
Mía × F1 (Hồ - Lương Phượng) Bùi Hữu Đoàn và Hoàng Thanh (2011)Lai giữa các giống gà bản địa
Nigeria: Lông bình thường (NF),
Trang 151.2 NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA GÀ RI LAI
Chính vì vậy, cần chọn tạo các dòng gà lông màu phù hợp nhiềuvùng sinh thái khác nhau, có chất lượng cao từ nguồn nguyên liệu sẵn có,đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu của ngườitiêu dùng Đi theo hướng đó, từ giống gà Lương Phượng (với 2 dòng làLV2; LV3) và Sasso (với các dòng SA31L, X44) Trung tâm Nghiên cứuGia cầm Thụy Phương đã chọn tạo để cho ra 3 dòng gà TP4, TP2 và TP3theo sơ đồ công nghệ sau:
♂X44 × ♀X44 ♂F1(LV2 x SA31L) × ♀SA31L ♂LV3 × F1(LV2 × SA31L)
TH2
Chọn lọc theo định
hướng, cố định dòng
TH2 Chọn lọc theo định hướng,
cố định dòng
TH2 Chọn lọc theo định hướng,
Trang 16cố định dòng
+ Dòng trống TP4: Gà mái có màu nâu nhạt; gà trống lông màu nâucánh gián, khối lượng cơ thể 56 ngày tuổi đạt: 2,0 - 2,1 kg/con (con trống);1,5 - 1,6kg/con (con mái)
+ Dòng mái TP2: Gà mái lông màu vàng xám tro, cườm cổ (vàngnâu chấm hoa mơ, giống gà LV) chiếm chủ yếu (>93%), còn lại là màu đấtsét và màu nâu nhạt; năng suất trứng đạt 176-178 quả/mái/68TT Gà trống
có màu nâu nhạt, búp cánh và đuôi có màu đen
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, địa bàn dân cư chủ yếu là nôngthôn, chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống và phổ biến Những nămgần đây chăn nuôi gia cầm đã phát triển mạnh và vững chắc, có được thànhtựu đó là do nhiều yếu tố trong đó yếu tố quan trọng góp phần quyết định làcác tiến bộ khoa học kỹ thuật về di truyền giống mà chọn lọc và lai tạo làcác biện pháp được các nhà chọn giống sử dụng rộng rãi
Trần Long và cs (1994) đã xác định hệ số di truyền và tương quan ditruyền một số một số tính trạng sản xuất và xây dựng phương pháp chọnlọc giống thích hợp đối với các dòng gà thịt Hybro HV85 Theo tác giảchọn lọc khối lượng cơ thể lúc 42 ngày tuổi theo phương pháp định hướngdòng V1 áp lực chọn lọc tăng từ 28,96 - 29,2% so với phương pháp xếp cấp
và cho điểm chỉ chú trọng kiểu hình của cá thể Dòng V3 và V5 áp lựcchọn lọc gà trống là 8%, gà mái 35% hiệu quả chọn lọc tăng từ 9,92 -19,0%
Đoàn Xuân Trúc và cs (2004) nghiên cứu chọn tạo 2 dòng gà thuầnchủng HB5 và HB7 của giống gà chuyên thịt lông màu, bán chăn thả HB
2000 cho kết quả: tỷ lệ nuôi sống giai đoạn gà con của gà ông bà đạt 96%,giai đoạn gà dò, hậu bị đạt 94% NST của gà đến 64TT là 160-180 quả/mái.TTTĂ/10 trứng là 2,62 kg Tỷ lệ trứng có phôi là 97%, số gà con loại 1/mái
Trang 17là 135 con/ 68 TT Trên đàn gà bố mẹ: tỷ lệ nuôi sống đến 20 TT đạt 96%,
số gà con loại 1/mái là 166-172 con/ 68 TT, đạt 95% so với tiêu chuẩn củahãng cung cấp
Nguyễn Huy Đạt và cs (2004) đã tiến hành nghiên cứu chọn lọc nângcao năng suất gà Ri vàng rơm có năng suất trứng cao phù hợp với điều kiệnnuôi bán chăn thả và tạo mái nền lai với các giống gà trứng lông màu nhậpnội, con lai phục vụ chăn nuôi nông hộ
Phùng Đức Tiến và cs (2004) đã nghiên cứu chọn lọc nhân thuầndòng gà chăn thả của Ai Cập có chất lượng và màu sắc vỏ trứng được thịtrường ưa chuộng và đã được Hội đồng Khoa học Bộ Nông nghiệp &PTNT công nhận là dòng thuần và được đưa vào danh mục giống gốc quốcgia
Trần Công Xuân và cs (2004) đã chọn tạo 3 dòng gà Lương PhượngLV1, LV2, LV3 Qua 3 thế hệ chọn tạo, gà đã ổn định về đặc điểm ngoạihình, tỷ lệ nuôi sống cao, khả năng sinh sản tốt
Phùng Đức Tiến và cs (2010) đã chọn tạo thành công 08 dòng gàlông màu trong đó có 05 dòng gà hướng thịt từ nguồn nguyên liệu nhập nội
và nguồn gen quý trong nước, có năng suất đạt tương đương với một sốgiống gà lông màu năng suất trong khu vực và thế giới: Dòng trống TP4:đến thế hệ 3 có khối lượng lúc 8 tuần tuổi đạt 1958,78g/con đối với gàtrống và 1580,97g/con đối với gà mái Dòng trống LV4: khối lượng cơ thể
gà trống và gà mái ở thế hệ 3 đạt 1795,33 và 1196,00 g/con Dòng trốngVP2: khối lượng cơ thể gà trống và gà mái ở thế hệ 3 đạt 1077,5 và 785,7g/con Hệ số di truyền về khối lượng cơ thể lúc 8 tuần tuổi ở thế hệ 2 và thế
hệ 3 là 0,35 và 0,37 tuy nhiên hệ số biến dị cao (Cv = 13-14%) và sai sốcủa hệ số di truyền còn cao chứng tỏ khối lượng cơ thể là chưa ổn định Haidòng mái TP1, TP2: thế hệ 3 có năng suất trứng/mái/68 tuần tuổi dòng TP1đạt 181,74 quả; dòng TP2 đạt 177,79 quả (cao hơn gà LV 8-10 quả) Hệ số
di truyền về năng suất trứng 3 tháng đẻ đầu ở 02 dòng chưa ổn định (0,13 0,18) và hệ số biến dị về năng suất trứng còn cao (26-40%)
-Phạm Công Thiếu và cs (2011) đã chọn lọc nâng cao năng suất, chất
Trang 18lượng gà H’mông Kết quả chọn lọc: gà có sức sống tốt, thích nghi rộng, tỷ
lệ nuôi sống đạt cao (0-19TT) từ 94,31- 96,14% Sản lượng trứng từ 104,4quả lên 114,32 quả/mái/72 tuần tuổi (tăng 9,92 quả so với thế hệ xuất phát),giảm tiêu tốn thức ăn/10 trứng, tỷ lệ phôi cao 97,60- 97,87%
Theo Nguyễn Minh Hoàn và cs (2014) kết quả chọn lọc theo ngoạihình và sinh trưởng của gà ri qua 2 thế hệ, kết quả cho thấy: Mức độ đồngđều về khối lượng gà Ri vàng rơm thế hệ II cao hơn thế hệ I Chọn lọc đãlàm tăng khối lượng gà trống và gà mái ở thế hệ II so với thế hệ I, tuy nhiênkhác biệt về khối lượng ở gà mái rõ rệt hơn so với gà trống giữa 2 thế hệ
Võ Lâm và cs (2016) đã chọn lọc giống gà Tàu Vàng qua 2 thế hệ.Kết quả như sau: ở thế hệ thứ 2 tuổi đẻ trứng đầu tiên, năng suất trứng/năm,khối lượng trứng lần lượt là 124 ngày, 84 trứng/năm, 39,7g/quả; tỷ lệ nuôisống đạt 95,4%; khối lượng cơ thể của gà mái, gà trống vào đẻ lần lượt là1,8 -2,2kg/con, 2,5 - 2,8kg/con; khối lượng trung bình của gà thịt thươngphẩm lúc 120 ngày tuổi là 1,9kg/con (gà trống), 1,5kg/con (gà mái)
Ngoài việc nghiên cứu chọn tạo, cũng đã có nhiều công trình đi sâunghiên cứu về lai tạo nâng cao năng suất các dòng gà
Tạ An Bình và cs (1973) nghiên cứu lai kinh tế giữa một số giống gàtrong nước đã kết luận con lai F1 (trống Mía x mái Ri), F1 (trống Phù Lưu
Tế x mái Ri), F1 (trống Chọi x mái Ri) đều có tỷ lệ nuôi sống cao, thịtthơm ngon tương tự gà Ri
Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài Tao (1985) đã tạo ra được giống gàRhoderi (từ 1975 - 1985) thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi của ViệtNam Gà có hình dáng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, sức đềkháng tốt với bệnh tật,dễ nuôi ở điều kiện chăn nuôi thấp Nguyên liệu sửdụng lai tạo là gà Ri được chọn ở vùng Gia Lộc (Hải Dương), có màu lôngvàng rơm, chân vàng, mào đơn, đầu thanh Gà trống ngực vuông, màođứng, khối lượng gà trưởng thành 1,2 - 1,3 kg
Đoàn Xuân Trúc (1994) nghiên cứu con lai 3 dòng gà thịt Hybro kếtquả cho thấy gà Hybro lai giữa 4 dòng AV35, AV53, VI, V53 đều có vócdáng cho thịt rõ: Ngực nở, đùi to, tốc độ sinh trưởng cao, tỷ lệ nuôi sống
Trang 19Nguyễn Đăng Vang và cs (1999) nghiên cứa một số tổ hợp lai giữa
gà Tam Hoàng nhập từ Trung Quốc với một số giống gà nội như gà Hổ, gàMía, gà Tàu vàng tại Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra kết luận: Khối lượng
cơ thể của gà lai (Hồ × Tam Hoàng) cao hơn trung bình bố mẹ 1,7%, F1(Mía × Tam Hoàng cao hơn 6,2%, (Tàu vàng × Tam Hoàng) cao hơn 7%.Cũng theo Nguyễn Đăng Vang và cs (1999) khi nghiên cứu lai giữa gàĐông Tảo với gà Tam Hoàng kết quả nuôi thịt đến 12 tuần tuổi khối lượngcon lai F1 cao hơn trung bình bố mẹ 6,92%, tiếu tốn thức ăn cho 1 kg tăngtrọng thấp hơn 2,69%, tỷ lệ thân thịt cao hơn 6,01%
Nguyễn Thanh Sơn và cs (2001) đã cho lai trống Kabir với mái Ri,kết quả cho thấy con lai nuôi thịt đến 12 tuần tuổi có khối lượng cơ thể đạt1,68kg/con (cao hơn gà Ri 60 - 70%); tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng là3,17kg (thấp hơn gà Ri 10,7%)
Trần Công Xuân và cs (2003) đã nghiên cứu tạo tổ hợp lai giữa gàtrống Sasso dòng X44 với gà mái Lương Phượng hoa Kết quả cho thấy conlai có khả năng tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp và đã được Hộiđồng Khoa học Bộ NN&PTNN công nhận là tiến bộ kỹ thuật và cho phépphát triển rộng rãi vào sản xuất
Bùi Hữu Đoàn và Hoàng Thanh (2011) tiến hành để đánh giá năngsuất, chất lượng thịt của một tổ hợp gà lông màu lai 3 giống trên cơ sở sửdụng gà lai F1 (Hồ × Lương Phượng) và gà Mía Kết quả: gà lai 3 giống(Mía - Hồ - LP) có tỷ lệ nuôi sống đến 12 tuần tuổi đạt 91,7%, ở 12 tuần
Trang 20tuổi, gà có khối lượng 1915g FCR là 2,83; PN là 80,45; tỷ lệ thân thịt là69,38%; tỷ lệ thịt đùi là 22,16%; tỷ lệ thịt lườn là 22,86%; các chỉ tiêu đánhgiá chất lượng thịt như giá trị pH; tỷ lệ mất nước sau chế biến của thịt gà,màu sắc thịt, độ dai của thịt đều tốt.
Nguyễn Bá Mùi và Phạm Kim Đăng (2016) đã đánh giá khả năngsinh sản của gà Ri và con lai RSL (Ri-Sasso-Lương Phượng) Kết quảnghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ nuôi sống của gà RSL và gà Ri khá cao, cókhả năng thích nghi tốt với điều kiện ở địa phương Khối lượng lúc 1 ngàytuổi, 8 và 19 tuần tuổi của gà RSL đều cao hơn gà Ri Tuổi thành thục sinhdục của gà gà RSL là 145 ngày, muộn hơn của gà Ri (131 ngày) Tuổi đẻđạt đỉnh cao của gà RSL lúc 30 tuần tuổi, của gà Ri là 26 tuần tuổi Các chỉtiêu về chất lượng trứng của gà RSL và gà Ri đều đạt tốt và trong tiêuchuẩn cho phép Kết quả ấp nở trứng giữa gà RSL và gà Ri ở các chỉ tiêu tỷ
lệ trứng có phôi, tỷ lệ nở và tỷ lệ gà con loại tốt là tương đương
Gần một thế kỷ qua, ngành chăn nuôi gia cầm được cả thế giới quantâm và phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng Chăn nuôi gia cầmchiếm một vị trí quan trọng trong cung cấp protein động vật cho con người.Sản lượng thịt gia cầm lớn thứ 2 sau thịt lợn, chiếm khoảng 20 - 25% trongtổng sản phẩm thịt, ở các nước phát triển thịt gà chiếm tới 30% hoặc hơnnữa (Lê Hồng Mận, 2009) Thịt gà đại diện cho khoảng 88% sản lượng thịtgia cầm toàn cầu (Võ Văn Sự, 2014) Có được những thành tựu như vậy lànhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đặc biệt trên lĩnh vựcchọn lọc, lai tạo giống
Như vậy, kết quả của các đề tài chọn tạo giống đã khẳng định cơ sở
di truyền và phân tích thống kê ứng dụng trong công tác giống gia cầm làkhâu then chốt, một trong những chìa khoá của sự thành công trong côngtác giống gia cầm Chính vì vậy, trong những năm qua, chăn nuôi gia cầm
đã đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về tiêu dùng thực phẩm trong nước.Yếu tố công nghệ, công nghiệp trong chăn nuôi gia cầm đã được coi trọng,tăng trưởng về sản lượng thịt và trứng luôn cao trong khi số đầu con khôngtăng hoặc tăng ít
Trang 211.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Một số kết quả nghiên cứu chọn lọc trên gà trên thế giới:
Emmerson (1997) đã chọn lọc về khả năng sinh trưởng và chuyểnhóa thức ăn trong chăn nuôi gia cầm Theo tác giả, chọn lọc về tính trạngkhối lượng cơ thể đã giảm đáng kể số ngày cần phải nuôi gia cầm cho tớikhi đạt khối lượng bán thịt và làm cải thiện gián tiếp đến tính trạng chuyểnhoá thức ăn Tác giả đã chọn lọc trực tiếp về tỷ lệ chuyển hoá thức ăn bằngcách chọn lọc các con trống có tỷ lệ chuyển hoá thức ăn trội hơn thông quachọn lọc đàn lớn, chọn lọc theo chỉ số Tuy nhiên chọn lọc về khối lượngcũng làm giảm khả năng sinh sản, làm ảnh hưởng đến bộ xương và làmtăng lượng mỡ trong cơ thể
Kumar và cs (1996) nghiên cứu về cải tiến dòng gà mái hướng thịtthông qua chỉ số chọn lọc, đã phân tích số liệu từ 2439 gà mái, đời con của
181 con trống qua 5 thế hệ sử dụng các chỉ số chọn lọc khác nhau Các tínhtrạng được nghiên cứu là khối lượng cơ thể 6 tuần tuổi, 20 tuần tuổi, tuổiđẻ quả trứng đầu tiên, số lượng trứng 40 tuần tuổi và khối lượng trứng tại
32 tuần tuổi Chỉ số chọn lọc kết hợp thông tin của cả 5 thế hệ tạo ra độchính xác tối đa của chọn lọc cũng như sự kết hợp tối đa tiến bộ di truyền.Các tác giả cho rằng việc loại trừ tính trạng khối lượng cơ thể 6 tuần tuổihay 20 tuần tuổi khỏi chỉ số chọn lọc thực chất không ảnh hưởng đến độchính xác hoặc tiến bộ di truyền Tiến bộ di truyền mong đợi cao nhất đãđược dự đoán bằng một chỉ số kết hợp tất cả các tính trạng, ngoại trừ khốilượng cơ thể 20 tuần tuổi Khối lượng trứng đã được ước tính là cao nhấtkhi chỉ số chọn lọc chỉ kết hợp khối lượng cơ thể 20 tuần tuổi và khốilượng trứng Các tác giả cho rằng để có hiệu quả tổng hợp cao nhất về khốilượng gà thịt, khối lượng trứng và sản lượng trứng, thì các chỉ số phải kếthợp được cả sản lượng trứng 40 tuần tuổỉ và khối lượng trứng tại 32 tuầntuổi
Morris và cs (1997) đã so sánh các phương pháp chọn lọc dựa trênkiểu hình, chỉ số chọn lọc và BLUP sử dụng số liệu từ một dòng gà thịt.Chọn lọc về tính trạng khối lượng cơ thể gà dò 32 ngày tuổi, phần trăm thịt
Trang 22ức và sản lượng trứng của gà hướng thịt theo các phương pháp sau: (1) Dựatrên giá trị giống (được tính bởi dự đoán tuyến tính không chêch tốt nhất -BLUP); (2) Dựa trên chỉ số chọn lọc (SI) và (3) Dựa trên kiểu hình riêng(SP) đã được so sánh Trung bình tương quan là 0,68 đã được tìm thấy giữachọn lọc theo kiểu hình riêng và theo BLUP đối với tính trạng khối lượng
cơ thể của gà dò Bình quân tương quan giữa SI và BLUP là 0,88; 0,68 và0,87 tương ứng với các tính trạng khối lượng cơ thể gà dò, sản lượng trứng
và sản lượng thịt ức Đáp ứng di truyền tính được bình quân cho một thế hệ
mà SP đạt được là 44,0% so với 56,6% mà BLUP đạt được Đáp ứng ditruyền mà SI đạt được bằng 90,7%, 66,9% và 88,4% so với giá trị màBLUP đạt được tương ứng với các tính trạng khối lượng gà dò, năng suấttrứng và sản lượng thịt
Kumar và cs (1995) nghiên cứu cải tiến dòng trống ở gà thịt thôngqua chỉ số chọn lọc Các chỉ số chọn lọc được xây dựng sử dụng dữ liệutrên 3923 gà IC-3, là đời con của 147 con trống qua 4 thế hệ Các tính trạngtham gia trong chỉ số gồm: khối lượng cơ thể 6 tuần tuổi, góc ngực, độ dài
cơ lườn và độ dài ống chân Các tác giả nhận thấy chỉ số xây dựng từ tất cả
4 tính trạng tạo nên sự kết hợp cao nhất giữa tăng giá trị kinh tế và độ tincậy của chọn lọc Tác giả cho rằng sự kết hợp tốt nhất giữa khối lượng cơthể và một tính trạng khác trong một chỉ số là sự kết hợp giữa khối lượng
cơ thể với độ dài ống chân để cải tiến khối lượng cơ thể và các tính trạngcấu tạo cơ thể ở dòng trống
Ogbu (2012) chọn lọc khối lượng cơ thể của dòng gà trống bản địaNigeria qua ba thế hệ chọn lọc ở giai đoạn 12, 16, 20 và 39 tuần tuổi Kếtquả cho thấy khối lượng cơ thể tăng từ 1372,66 ± 16,46g đối với thế hệ Gođến 1656,58 ± 27,45 và 1768,75 ± 33,15g lần lượt đối với thế hệ G1 và G2
Hệ số di truyền về khối lượng cơ thể ở mức từ trung bình đến tăng cao ở 20tuần tuổi (dao động từ 0,24 ± 0,27 đến 0,59 ± 0,45) và thấp nhất đối vớigiai đoạn 39 tuần tuổi (dao động từ 0,13 - 0,25) Cường độ chọn lọc giảmdần qua các thế hệ G0, G1, G2 tương ứng là 2,11; 1,75; 1,16 Từ những kếtquả trên, có thể kết luận rằng khối lượng cơ thể của gà bản địa có thể được
Trang 23cải thiện thông qua chọn lọc, đặc biệt là trong giai đoạn từ 12-20 tuần tuổi
Flisar (2014) đã tiến hành chọn lọc khối lượng cơ thể ở 8 tuần tuổicủa gà qua 34 thế hệ chọn lọc, kết quả như sau: Gà của dòng Prelux-broSlovenia thương phẩm đã được chọn lọc riêng rẽ hơn 34 thế hệ cho dòngcân nặng và nhẹ cân ở 8 tuần tuổi Mục đích của nghiên cứu là để ướclượng các kết quả đối với chọn lọc với một mẫu không định hướng Sau 34thế hệ, các dòng được phân biệt khác nhau bởi khoảng 2220g đối với contrống và và 1860g đối với con mái Ước tính cho một giới hạn chọn lọctrong dòng nặng cân là 2598,4g cho con trống và 2144,1g cho con mái.Một giới hạn chọn lọc đã không đạt được trong dòng nhẹ cân Một nửatrong số các kết quả chọn lọc đạt được sau khoảng 6-8 thế hệ trong dòngnặng cân và 20-28 thế hệ trong dòng nhẹ cân Ước tính hệ số di truyềngiảm qua nhiều thế hệ Hệ số di truyền là lớn hơn cho gà mái so với gàtrống và hệ số đó giảm nhanh hơn ở dòng nặng cân so với dòng nhẹ cân
Độ lệch tiêu chuẩn kiểu gen giảm qua nhiều thế hệ Độ lệch tiêu chuẩn kiểuhình tăng qua các thế hệ trong dòng nặng cân, nhưng giữ nguyên trong cácdòng nhẹ cân trong 22 thế hệ ban đầu và giảm sau đó
Basant và cs (2013) đã nghiên cứu tiến hành để đánh giá khối lượng
cơ thể, trung bình tăng trưởng hàng ngày (ADG), tỉ lệ tăng trưởng tươngđối (RGR), trọng lượng trứng trung bình, sản lượng trứng trung bình của gàmái (HDEP%), sản lượng trứng trung bình của gà mái nhà (HHEP%), tuổitrưởng thành sinh dục, trọng lượng cơ thể ở độ tuổi trưởng thành, khả năngsinh sản, tỉ lệ ấp nở và gà thương phẩm trong thí nghiệm lai [gà Ai Cập và
gà Rhode đỏ (RIR)] RIR cho thấy có (p ≤ 0,05) trọng lượng cơ thể cao hơnđáng kể, ADG, RGR, tuổi thành thục sinh dục và trọng lượng cơ thể ở độtuổi trưởng thành lân lượt là: 1898,76g, 9,04g, 19 3,95%, 144,66 ngày và1559,05g, so với kiểu gen khác Ngoài ra, RIR đạt trọng lượng trứng caonhất, tỷ lệ sinh sản, tỷ lệ phần trăm nở của nghiên cứu và thương mại lầnlượt là 44,28g, 85,59%, 94,91% và 81,49 Trong khi gà trống Fay lai vớimái RIR đạt chỉ số cao nhất với HDEP% và HHEP% (54,41 và 51,65%)
Theo Faruque và cs (2017) đã nghiên cứu chọn lọc 3 giống gà địa
Trang 24phương của Bangladesh Kết quả ở thế hệ 1, khối lượng cơ thể 8 tuần tuổicủa gà đã được cải thiện ở cả 3 giống gà, tương ứng ở gà trống và gà mái là58,98 và 11,50g (gà Non-descript Desi); 81,56 và 40,91g (gà Hilly); 53,81
và 15,82g (gà Naked Neck) Ngoài ra, chọn lọc cũng làm giảm tuổi đẻ quảtrứng đầu tiên của các giống gà trên
Ngoài những nghiên cứu về chọn lọc gà nói trên, còn có các nghiêncứu về lai tạo các dòng, giống nhằm nâng cao các tính trạng về năng suấtcủa các giống gà hiện nay
Theo Basant và cs (2013) cho rằng lai tạo là một trong những công
cụ để khai thác sự biến đổi di truyền Mục đích chính của việc lai tạo trong
là tạo ra con lai có khả năng sản xuất vượt trội so với gà bố mẹ, để nângcao khả năng sinh trưởng và khả năng sinh sản
Bosco và cs (2011) đã nghiên cứu sự thay đổi chất lượng thịt của gàAncona thuần và gà Cornish × Ancona nuôi hữu cơ Kết quả cho thấy khốilượng cơ thể và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Cornish × Ancona tốt hơn
so với gà Ancona thuần (khối lượng sống cuối cùng là 2369g so với 1874
g, hiệu quả sử dụng thức ăn 3,2kg so với 3,9kg) Ngoài ra, độ pH của phần
cơ ngực cũng có sự khác biệt (pH của gà gà Cornish × Ancona = 5,80, còncủa gà Ancona là 5,69) Các axit béo của ức không có sự khác biệt đáng kể.Tuy nhiên có hàm lượng TBARS (ThioBarbituric Acid ReactiveSubstances – một axit có tác dụng chống oxi hóa) ở gà Cornish × Anconacao hơn so với gà Ancona thuần (1,75 và 1,50 mg MDA/kg)
Adedokun và cs (2002) đã tiến hành lai tạo gà bản địa Nigeria vàDahlem đỏ để cải tạo năng suất và khả năng thích nghi Kết quả sau 5 năm,các nhóm gà: gà bản địa của Nigeria(NI) từ 2 vùng sinh thái (Fulani, Fu;Fulani lùn, FuD từ Bắc Guinea Savanna và Yoruba, Y, từ Savanna gốc) và
gà đỏ Dahlem của Đức (DR) và gà đỏ lùn (DRD) được dùng lai tạo DR ×
Fu, Fu × DR, DR × Y, and FuD × DRD Ở tuần thứ 40, các con gà mái laigiữa DR × Fu thì nặng hơn đáng kể (p<0,05) so với tất cả gà mái ở cácnhóm lai khác trong khi thế hệ con cháu có khối lượng cơ thể nhẹ nhất ở tấtcả các lứa tuổi được nghiên cứu Nhìn chung lai DR × Fu và DR × Y vượt
Trang 25trội hơn hẳn so với lai Fu × DR và FuD × DRD đối với hầu hết các đặcđiểm nghiên cứu Kgwatalala và cs (2013) đã tiến hành lai tạo giống gà bảnđịa Tswana với gà Australorp (gà TA) nhằm cải thiện khả năng sinh trưởngcủa gà bản địa Tswana ở giai đoạn từ 4 - 18 tuần tuổi Kết quả cho thấy: ở
4 và 6 tuần tuổi, con trống của cả gà lai và gà Tswana không có sự khácbiệt về khối lượng cơ thể (P > 0,05); từ 8 - 18 tuần tuổi, con trống lai luôn
có khối lượng lớn hơn so với con trống Tswana Ở 18 tuần tuổi, khối lượng
cơ thể con trống lai (TA) là 2378g, còn con trống Tswana là 1897.77g Ở
gà mái, không có sự khác biệt về khối lượng giữa gà lai F1 (Tswana xAustralorp) và gà Tswana ở 4,6,8 tuần tuổi Từ tuần thứ 10 - 18 tuần tuổi,
gà mái F1 luôn có khối lượng cao hơn gà Tswana (P > 0,05); trong đó ở 18tuần tuổi gà lai F1 có khối lượng 1774,93g, còn gà Tswana là 1545,14g.Kgwatalala và cs (2015) đã so sánh khả năng sinh trưởng của gà lai 3 giống(50% Orpington: 25% Australorp: 25% Tswana) và giống gà thuầnTswana Kết quả cho thấy: Ở con trống không có sự khác biệt về khốilượng cơ thể giữa con lai với giống thuần từ 4 - 8 tuần tuổi; Ở 4 và 6 tuầntuổi, con trống Tswana nặng hơn con lai nhưng ở 8 tuần tuổi thì ngược lại;
Từ 10 - 20 tuần tuổi, con trống lai lại nặng hơn đáng kể so với con trốngthuần Tswana (P<0,05); Ở con trống lai 3 giống, sự tăng khối lượng cơ thểdiễn ra nhanh nhất ở giai đoạn từ 8 - 10 tuần tuổi, còn ở giống gà thuầnTswana là 16 - 18 tuần tuổi Ở con mái, không có sự khác biệt về khốilượng cơ thể giữa con lai với gà Tswana ở giai đoạn từ 4 - 14 tuần tuổi;Con mái thuần Tswana có khối lượng cơ thể nặng hơn con lai ở 4 và 6 tuầntuổi nhưng ở 8 tuần tuổi thì ngược lại; Ở giai đoạn từ 16 - 20 tuần tuổi, conlai có khối lượng cơ thể nặng hơn mái thuần Tswana (P<0,05); gà máiTswana tăng trọng cao nhất ở giai đoạn 10 - 12 tuần tuổi, còn gà mái lai là
14 - 16 tuần tuổi
Trang 26Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
Vật liệu nghiên cứu: gà lai ( ♂Ri x ♀Lương Phượng); (♂ Mía x
♀Lương Phượng)
Từ 1 ngày tuổi đến 98 ngày tuổi ( 4 tháng)
Số lượng 150 con Ri lai (75 con trống + 75 con mái)
Số lượng 150 con Mía lai (75 con trống + 75 con mái)
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Thời gian: Tháng 7/2019 - Tháng 6/2020
Địa điểm: Huyện Hiệp Hòa - Tỉnh Bắc Giang
Phòng thí nghiệm Trường Đại học Nông – Lâm Bắc Giang
2.3 NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
* Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm
2.3.1 Đặc điểm ngoại hình
2.3.2 Tỷ lệ nuôi sống
2.3.3.Sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tương đối và sinh trưởng tuyệt đối2.3.4.Khả năng thu nhận và chuyển hóa thức ăn
2.3.5.Năng suất, chất lượng thịt
2.3.6 Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà ATSH
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Công thức lai tạo
Công thức 1: Gà lai (♂Ri x ♀Lương Phượng)
Công thức 2: Gà lai (♂ Mía x ♀Lương Phượng)
2.4.1 Phương pháp thiết kế thí nghiệm
- Bố trí thí nghiệm:
Trang 27+ Đàn gà thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh ngẫu nhiên một nhân tố Giữa các lô có sự đồng đều về tuổi, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, qui trình thú y phòng bệnh chỉ khác nhau về yếu tố thí nghiệm: công thức lai.
Gà thương phẩm chọn lúc 01 ngày tuổi đảm bảo đồng đều về khối lượng, đặc điểm ngoại hình.
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Loại gà Gà lai (♂Ri x ♀Lương
2.4.2 Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng
Giai đoạn nuôi úm từ 1 ngày tuổi đến 28 ngày tuổi, cả 2 loại gà được bằng quây cót, nền rải trấu, máng ăn, máng uống tự do
Giai đoạn từ 4 tuần tuổi đếm 14 tuần tuổi nuôi theo qui trình chăn nuôi gà theo Quy trình nuôi gà thả vườn theo tiêu chuẩn VietGAHP
Gà thí nghiệm với 150 gà Ri Lai (75 trống và 75 mái) và 75 gà Mía lai gồm
75 trống và 75 mái Trong đó, đàn gà thí nghiệm ở các đợt thí nghiệm đều.