1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR

115 1,9K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Nhân Tố Tác Động Lên Lạm Phát Của Việt Nam Giai Đoạn 1995-2007 Bằng Mô Hình P-Star
Tác giả Nguyễn Hoài Bảo
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Trọng Hoài
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế Phát Triển
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR

Trang 1

Nguyễn Hoài Bảo

PHÂN TÍCH NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG LÊN LẠM PHÁT

CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995-2007

BẰNG MÔ HÌNH P-STAR

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2008

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM

Nguyễn Hoài Bảo

PHÂN TÍCH NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG LÊN LẠM PHÁT

CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995-2007

BẰNG MÔ HÌNH P-STAR

Chuyên ngành: Kinh tế Phát Triển

Mã số: 60.31.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS Nguyễn Trọng Hoài

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2008

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả phân tích trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nguyễn Hoài Bảo

Trang 4

Nguyễn Hoài Bảo

Trang 5

Mục lục

Mục lục i

Danh mục chữ viết tắt và ký hiệu iv

Danh mục các bảng v

Danh mục các hình vi

Phụ lục vii

MỞ ĐẦU 1

1 Trình bày vấn đề nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu của đề tài 3

6 Những đóng góp của đề tài 4

CHƯƠNG 1 5

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT LẠM PHÁT VÀ MÔ HÌNH P-STAR 5

3.1 Định nghĩa lạm phát và cách đo lường 5

3.2 Quan điểm các trường phái kinh tế vĩ mô về nguyên nhân lạm phát 8

1.2.1 Lạm phát là một hiện tượng của tiền tệ 9

1.2.2 Lạm phát không phải là một hiện tượng tiền tệ 12

1.2.3 Nhân tố kỳ vọng và lạm phát 18

1.2.4 Lạm phát và kinh tế học chính trị 20

Trang 6

1.2.5 Tóm tắt các lý thuyết lạm phát 20

3.3 Lợi ích của giá cả ổn định 21

3.4 Mô hình P-Star 22

1.4.1 Giới thiệu 22

1.4.2 Mô hình P-Star và nền kinh tế “đóng” 24

1.4.3 Mô hình P-Star và nền kinh tế “mở - nhỏ” 27

1.4.4 Mô hình P-Star tổng quát 29

3.5 Những bằng chứng thực nghiệm của mô hình P-Star 30

CHƯƠNG 2 33

LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM: DIỄN BIẾN VÀ MÔ TẢ 33

2.1 Lịch sử lạm phát của Việt Nam 33

2.2 Lạm phát trong giai đoạn nghiên cứu (1995-2007) 37

2.3 Tranh luận về nguyên nhân lạm phát trong giai đoạn nghiên cứu 40

2.3.1 Lạm phát là vấn đề của đo lường 41

2.3.2 Lạm phát là do nhập khẩu 44

2.3.3 Lạm phát là hiện tượng tiền tệ 47

CHƯƠNG 3: 52

KIỂM ĐỊNH NHÂN TỐ TẠO RA LẠM PHÁT BẰNG MÔ HÌNH P-STAR 52

3.1 Nhận dạng mô hình kinh tế lượng 52

3.2 Mô tả số liệu và kiểm định tính chất của các biến 54

3.2.1 Mô tả các biến cơ sở 54

3.2.2 Neo tỷ giá của đồng Việt Nam 55

3.2.3 Kiểm định thống kê các biến 58

3.3 Ước lượng các giá trị cân bằng 60

Trang 7

3.4 Chênh lệch giá và kiểm định tính chất các biến hồi qui 64

3.5 Lựa chọn mô hình thích hợp 67

3.6 Phân tích kết quả thực nghiệm 69

3.7 Kết luận và gợi ý chính sách 71

3.7 1 Kết luận về kết quả thực nghiệm 71

3.7 2 Mô hình P-Star trong phân tích lạm phát Việt Nam 72

3.7 3 Gợi ý chính sách 73

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Tài liệu tham khảo tiếng Việt 78

Tài liệu tham khảo tiếng Anh 79

PHỤ LỤC 83

Trang 8

Danh mục chữ viết tắt và ký hiệu

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á Asia Development Bank IMF Quĩ Tiền tệ Quốc tế International Monetary Fund

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới World Trade Organization

CPI Chỉ số giá tiêu dùng Consumer Price Index

E Tỷ giá hối đoái (danh nghĩa) Exchange rate

ER Tỷ giá hối đoái thực Real Exchange rate

GAPD Chênh lệch giá trong nước Domestic Price Gap

GAPF Chênh lệch giá nước ngoài Foreign Price Gap

GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product GDPdeflator GDP điều chỉnh GDP deflator

Trang 9

Danh mục các bảng

Bảng 1 1 Quan hệ giữa chênh lệch sản lượng, vòng quay tiền và lạm phát 26

Bảng 2 1 Cơ cấu tính CPI của Việt Nam 39

Bảng 2 2 Giá cả tăng vọt của một số hàng hoá của năm 2004 so với 2003(%) 45

Bảng 2 3 Thay đổi dự trữ ngoại hối của Việt Nam (2000-2006) 49

Bảng 3 1 Mô tả các biến cơ sở và ký hiệu sử dụng 54

Bảng 3 2 Tóm tắt thống kê các biến 55

Bảng 3.3 Kết quả kiểm định ADF (biến số dạng giá trị) 58

Bảng 3.4 Giá trị tới của thống kê τ (tau) cho mẫu nghiên cứu 59

Bảng 3.5 Kết quả kiểm định ADF (biến số dạng logarit) 60

Bảng 3.6 Kết quả kiểm định tính dừng của các biến hồi qui: lạm phát, chênh lệch giá trong nước và nước ngoài dưới dạng mức và sai phân 65

Bảng 3 7 Ma trận tương quan giữa các biến hồi qui 65

Bảng 3.8 Kết quả ước lượng 68

Bảng 3 9 Kiểm định tương quan chuỗi Breusch-Godfrey LM 69

Trang 10

Danh mục các hình

Hình 2 1 Lạm phát của Việt Nam giai đoạn 1986-2006 34

Hình 2 2 Tăng trưởng Việt Nam,Thái Lan và Trung Quốc 1988 – 2006 (%) 36

Hình 2 3 Tỷ lệ tổng đầu tư trong GDP của Việt Nam 1995 – 2006 (%) 36

Hình 2 4 Cơ cấu đầu tư của Việt Nam 1995 – 2006 (%) 37

Hình 2.5 Lạm phát của Việt Nam tính theo CPI và GDPdeflator 1995-2007 (%) 38

Hình 2.6 Chỉ số giá của Việt Nam trong từng nhóm hàng chi tiết 2000 – 2007 40

Hình 2.7 Tốc độ tăng giá của nhóm lương thực thực phẩm hàng tháng so với mức tốc độ tăng giá chung trong các năm 44

Hình 2 8 Giá dầu thô trên thế giới trong giai đoạn 1995 – 2007 45

Hình 2.9 Tăng trưởng M2 của Việt Nam, Thái Lan và Trung quốc qua các năm 47

Hình 2.10 Kiếu hối của Việt Nam, số liệu thống kê chính thức (triệu đô la) 49

Hình 2.11 Tỷ giá hối đoái của Việt Nam và Trung Quốc 50

Hình 3.1 Biến động tỷ giá của VND so với một số đồng tiền mạnh 56

Hình 3.2 Tỷ trọng (%) của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của từng nước trong 10 đối tác thương mại chính 57

Hình 3.3 Giá trị cân bằng của thu nhập, vòng quay tiền và tỷ giá Việt Nam 1995Q2 – 2007Q2 63

Hình 3.4 GAPD và GAPF dạng mức và I(1) 66

Trang 11

Phụ lục

Phụ lục I - Công thức tính chỉ số giá 83Phụ lục II - Tóm tắt kết quả các nghiên cứu sử dụng mô hình P-Star trên thế giới 84Phụ lục III - Tóm tắt về kiểm định ADF 86Phụ lục IV - Kết quả chi tiết kiểm định ADF các biến 87Phụ lục V - Quá trình hồi qui và kiểm định mô hình tổng quát 96Phụ lục VI - Kết quả hồi qui với giả định Việt Nam là nền kinh tế “đóng” (closed economy) 100Phụ lục VII - Kết quả hồi qui với giả định Việt Nam là nền kinh tế mở, nhỏ nhưng

tỷ giá cố định hoàn toàn 101Phụ lục VIII - GAPD, GAPF và lạm phát trong giai đoạn 2004-2007 102

Trang 12

MỞ ĐẦU

1. Trình bày vấn đề nghiên cứu

Lạm phát tính bằng CPI năm 2008 của Việt Nam cho đến tháng Tám là 22,14 phần trăm Đây là tỷ lệ lạm phát cao nhất kể từ 10 năm qua và cũng là tỷ lệ cao nhất so với tất cả các nền kinh tế trong khu vực Đông Nam Á Lạm phát cao cho đến thời điểm này là một quá trình tích luỹ từ khá lâu Lạm phát bắt đầu cao từ năm 2004 (9,6 phần trăm) và khi đó mặc dù có một số giải pháp ngắn hạn từ Chính phủ, chẳng hạn như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với hệ thống ngân hàng thương mại nhằm thắt chặt tiền tệ, nhưng lạm phát trong giai đoạn 2004-2007 vẫn tiếp tục tăng vọt Trong giai đoạn này, thay vì giảm lạm phát phải trở thành mục tiêu ưu tiên cao nhất trong các mục tiêu quản lý vĩ mô thì Chính phủ vẫn tiếp tục xem tăng trưởng kinh tế

là quan trọng hàng đầu Sự thiếu quan tâm này xuất phát từ những nhận định trái ngược nhau về nguyên nhân tạo ra lạm phát, không ít trong số đó xem lạm phát tăng cao là kết quả của những nguyên nhân khách quan chứ không phải từ chính sách chủ quan của chính Chính phủ

Thực tế, một cách tổng quát, có hai dòng ý kiến trái ngược nhau Dòng ý kiến thứ

nh ất là cho rằng lạm phát có thể bắt nguồn từ giá thế giới tăng (đại diện là giá dầu

lửa và giá lương thực tăng) và như vậy sự tăng giá của các mặt hàng này trên thế giới lan truyền sang giá nội địa là một điều hiển nhiên Giải pháp khả dĩ chống lạm phát của nhóm này là hạn chế sự lan truyền thông qua thuế quan và can thiệp giá trực tiếp trên thị trường nội đia, chẳng hạn như trợ giá xăng dầu

Ngược lại, nhóm ý kiến thứ hai phản biện rằng sự gia tăng của lạm phát bắt nguồn

từ nguyên nhân bên trong chứ không phải từ bên ngoài Cụ thể, nhóm này cho rằng cung tiền đã tăng quá cao trong suốt giai đoạn trên chính là nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao Mặc dù hai nhóm ý kiến trên đều có luận cứ cho riêng mình, nhưng phần lớn đều là những nhận định chủ quan và thiếu những bằng chứng thực nghiệm tin cậy

Trang 13

Hơn thế nữa, những sự kiện ảnh hưởng đến lạm phát này ngày càng diễn ra phức tạp, giá dầu trong năm 2007 và nữa đầu năm 2008 tiếp tục leo thang, cung tiền trong nước tiếp tục mở rộng, dòng vốn đầu tư gián tiếp và trực tiếp vẫn tràn vào Việt Nam sau khi quốc gia này trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới….Trong năm 2007, sự mở cửa trên thị trường vốn và sự tăng vọt về khối lượng thương mại trên thị trường hàng hoá đã làm cho các biến số gây ra lạm phát vô cùng phức tạp Điều này đã dẫn đến các đề nghị chính sách không theo một hướng nhất quán và thậm chí những tranh luận đối lập vẫn tiếp tục tồn tại

Trong bối cảnh trên, một nghiên cứu thực nghiệm để giải thích các nguyên nhân lạm phát cần được tiến hành một cách nghiêm túc Nghiên cứu này đòi hỏi phải dựa trên một nền tảng lý thuyết cũng như các bằng chứng nghiên cứu trước đây một cách vững chắc và nhất quán Kết quả của nghiên cứu thực nghiệm này cũng sẽ tránh đi các nhận định chủ quan và có tính chất sự kiện để từ đó có thể đưa ra một

đề nghị chính sách thích hợp và có cơ sở, nhất là ở trung hạn Hơn nữa, lạm phát là một hiện tượng tổng hợp của rất nhiều yếu tố và vì thế sẽ rất sai lầm nếu lý giải nó

chỉ bằng một nguyên nhân nào đó và xem đó như là điều duy nhất để rồi bác bỏ các

nguyên nhân còn lại Chính vì nhu cầu thực tế này tác giả đã lựa chọn vấn đề nghiên

cứu “Phân tích nhân tố tác động lên lạm phát của Việt Nam giai đoạn

1995-2007 bằng mô hình P-Star” Mô hình được lựa chọn trong nghiên cứu này có khả

năng lý giải lạm phát một cách tổng hợp nhất, nó cho phép xem xét đồng thời hai nhóm nguyên nhân bên trên

2. Mục tiêu nghiên cứu

Th ứ nhất, kiểm chứng tính thích hợp của mô hình P-Star trong phân tích nhân tố

gây ra biến động lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu

Th ứ hai, trên cơ sở của mục tiêu thứ nhất, nghiên cứu này sẽ trả lời câu hỏi rằng

nhân tố quan trọng ảnh hưởng lên lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu là bắt nguồn từ đâu Từ chính sách chủ động bên trong hay là do sự lan truyền

từ bên ngoài một cách bị động?

Trang 14

Th ứ ba, dựa trên kết quả thực nghiệm, tác giả sẽ đề nghị chính sách khả dĩ trong vấn

đề kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

3. Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu này thực hiện trên cở sở dữ liệu của Việt Nam trong giai đoạn từ quí 2 năm 1995 đến quí 2 năm 2007 Toàn bộ những nhận định, phân tích và kết luận chính là bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, khi phân tích nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng đến lạm phát của Việt Nam – như một nền kinh tế nhỏ và mở cửa thì nền kinh tế Mỹ sẽ đại diện như là nước ngoài, khi đó VND neo danh nghĩa vào USD

4. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là những vấn đề liên quan đến lạm phát cũng như biến động của nó Các nhân tố tạo nên lạm phát trong ngắn hạn và dài hạn cũng được kiểm chứng ở đây

Để trả lời cho các câu hỏi ở phần mục tiêu nghiên cứu Ngoài các phương pháp mô

tả thống kê cơ bản và nhận định vấn đề theo lối diễn dịch hoặc qui nạp, nghiên cứu này dựa vào phương pháp định lượng để kiểm chứng giả thuyết Người viết sẽ thực hiện các hồi qui thực nghiệm trên cơ sở của giả thuyết mô hình kinh tế lượng P-Star Những hồi qui này được thực hiện bằng phần mềm Eviews phiên bản 5

5. Kết cấu của đề tài

Ngoài lời mở đầu, danh mục bảng, danh mục hình, danh mục các chữ viết tắt, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương nội dung:

Chương 1: Tổng quan về lý thuyết lạm phát và mô hình P-Star Mục tiêu của

chương này là tóm tắt những lý thuyết có liên quan đến vấn đề lạm phát của một nền kinh tế Sau đó chúng tôi phân tích chi tiết về sự phát triển cũng như ứng dụng của mô hình P-Star trong phân tích lạm phát Chương này làm cơ sở cho các vấn đề phân tích thực nghiệm của các chương sau

Trang 15

Chương 2: Lạm phát ở Việt Nam: diễn biến và mô tả Mục tiêu của chương 2 là

mô tả bối cảnh phát triển kinh tế và lạm phát của của Việt Nam Chương này đặc biệt nhấn mạnh những diễn biến chi tiết của lạm phát trong giai đoạn mà nghiên cứu này thực hiện Những ý kiến phân tích trong cùng chủ đề này cũng được đề cập nhằm mục đích làm rõ cho tính thực tiễn và lý do chọn đề tài Nội dung của chương này cũng là cơ sở cho các giả thuyết cần kiểm chứng ở chương 3

Chương 3: Kiểm định nhân tố tạo ra lạm phát bằng mô hình P-Star Đây là

chương chuyển tải mục tiêu của đề tài này Các mô hình nhằm kiểm định giả thuyết các nhân tố tạo ra lạm phát được thực hiện ở đây Chương này sẽ trình bày kết quả của mô hình hồi qui mà tác giả lựa chọn và đó cũng là cơ sở cho toàn bộ nhận định, kết luận cũng như đề nghị chính sách của đề tài này Cũng trong chương này, tác giả đưa ra những kết luận quan trọng và từ đó đề nghị chính sách trong việc kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

6. Những đóng góp của đề tài

Th ứ nhất, đây là nghiên cứu định lượng đầu tiên ứng dụng mô hình P-Star trong

phân tích biến động lạm phát ở Việt Nam

Th ứ hai, đề tài này cung cấp một bằng chứng định lượng về nhân tố tạo ra lạm phát

ở Việt Nam trong giai đoạn 1995-2007

Th ứ ba, đề tài này cũng cung cấp một bằng chứng có cơ sở cho đề nghị chính sách

tiền tệ của Việt Nam trong chủ đề “lạm phát.”

Trang 16

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT LẠM PHÁT VÀ MÔ HÌNH P-STAR

3.1. Định nghĩa lạm phát và cách đo lường

“Lạm phát (inflation) là sự tăng lên của mức giá cả chung theo thời gian” (Mankiw,

2003) Định nghĩa này cũng ngụ ý rằng lạm phát không phải là hiện tượng giá của một vài hàng hoá hay nhóm hàng hoá nào đó tăng lên Và nó cũng không phải là hiện tượng giá cả chung tăng lên “một lần” Nếu sự tăng lên một lần của giá cả thì hiện tượng này chỉ dừng là lại một cú sốc về giá chứ chưa phải là lạm phát Lạm phát là sự tăng giá “liên tục” Ngay từ đầu, định nghĩa này cũng đã tạo ra những câu hỏi cần được trả lời thấu đáo Thế nào là giá cả chung? Thế nào là tăng một lần?

Để giảm bớt sự tranh luận thế nào là nhóm hàng cá biệt hoặc thế nào là sự tăng lên một lần hay liên tục, các nhà kinh tế thống kê đề xuất ra các loại lạm phát mang tính

“chính xác” với định nghĩa của nó hơn như là lạm phát cơ bản (core inflation) hay

l ạm phát cơ sở (underlying inflation) Với các chỉ số lạm phát này, bằng các phương

pháp thống kê khác nhau, các nhà thống kê tìm cách loại trừ đi các biến động nhất thời như các cú sốc về giá dầu, yếu tố thời tiết …để thấy được xu hướng cơ bản và

Có thể tham khảo bài “Better measures of core inflation” của Julie K Smith, bài trình bày tại Hội thảo Đo

l ường Giá cả cho Chính sách tiền tệ (Price Measuring ofr Monetary Policy) tổ chức tại Federal Reserve

Bank of Dallas ngày 24-25/5/2007 tại: http://www.dallasfed.org/news/research/2007/07price.cfm (Smith, 2007) Trong luận văn này, khái niệm lạm phát hiểu một cách tổng quát là sự tăng lên của mức giá chung Khi đề cập đến lạm phát cụ thể của Việt Nam thì lạm phát tính theo CPI và lạm phát tính theo GDPdeflator được sử dụng Hiện tại ở Việt Nam chưa công bố các chỉ số lạm phát cơ bản

Trang 17

Để đo lường mức giá chung này, các nhà thống kê xây dựng hai chỉ số giá để đo lường Thứ nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và thứ hai là GDP điều chỉnh (GDPdeflator) Cả hai chỉ số này đều tính toán mức giá trung bình (có trọng số) của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế Sự khác biệt duy nhất giữa hai loại chỉ số này là quan điểm của rổ hàng hoá làm trọng số tính toán

CPI là một tỷ số phản ánh giá của một rổ hàng hoá trong nhiều năm so với chính giá

của rổ hàng đó ở một năm nào đó Thống kê gọi đó là năm cơ sở hay năm gốc (based year) Nghĩa là, rổ hàng hoá được lựa chọn để tính giá là không thay đổi trong nhiều năm Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm gốc và sự lựa

chọn rổ hàng hoá tiêu dùng CPI có một số nhược điểm cơ bản Thứ nhất, mức độ

bao phủ của chỉ số giá này chỉ giới hạn đối với một số hàng hoá tiêu dùng và do vậy

không phản ảnh biến động giá của hàng hoá tư bản Thứ hai, trọng số cố định dựa

vào tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hoá cơ bản của người dân thành thị mua vào năm gốc và do vậy nó không phải ảnh đúng và đầy đủ những cơ cấu chi tiêu khác nhau trong toàn xã hội, đặc biệt ở những xã hội có sự phân tán nông thôn –

thành thị Thứ ba, bởi vì trọng số của rổ hàng hoá là cố định ở một năm “gốc”, do

vậy không phản ánh sự biến đổi trong cơ cấu hàng hoá tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hoá khác nhau theo thời gian

GDPdeflator, thì ngược lại với CPI, là một tỷ số phản ánh giá của một rổ hàng hoá trong nhiều năm so với giá của chính rổ đó nhưng với giá của năm gốc Như vậy, rổ hàng hoá được lựa chọn để tính giá là có sự khác biệt trong giai đoạn tính toán Về

cơ bản, sự khác biệt giữa các rổ hàng hoá trong các thời điểm tính giá là không nhiều bởi vì cơ cấu tiêu dùng của dân chúng thường mang tính ổn định trong ngắn hạn

GDPdeflator là loại chỉ số có mức bao phủ rộng nhất Nó bao gồm tất cả các hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế và trọng số tính toán được điều chỉnh tuỳ thuộc vào mức độ đóng góp tương ứng của các loại hàng hoá và dịch vụ

Trang 18

vào giá trị gia tăng Về mặt khái niệm, đây là chỉ số đại diện tốt nhất cho việc tính toán tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế Tuy nhiên, chỉ số giá này không phản ánh trực tiếp sự biến động trong giá hàng nhập khẩu cũng như sự biến động của tỷ giá hối đoái Nhược điểm chính của chỉ số giá này là không thể hiện được sự thay đổi của chất lượng hàng hoá khi tính toán tỷ lệ lạm phát Hơn nữa, về mặt thống kê chỉ số giá này thường được tính toán chậm hơn so với CPI và có thể phản ảnh trễ diễn biến giá của nền kinh tế vì nó được tính toán căn cứ vào GDP thực và GDP danh nghĩa,

mà kết quả thống kê của hai loại GDP này trong nền kinh tế thường được công bố trễ từ một quí đến một năm (tuỳ vào cơ quan thống kê của từng quốc gia)

Bởi vì tính chất khác biệt như trên, về mặt lý thuyết, CPI thường phóng đại mức giá sinh hoạt Còn đối với GDPdeflator thì ngược lại, nghĩa là có khuynh hướng đánh giá thấp mức giá này (Chung, 2002).2

Chính vì sự thiếu hoàn hảo của cả hai chỉ số, một chỉ số trung bình nhân của cả CPI

và GDPdeflator được đề nghị và gọi là chỉ số Fisher (Fisher Index) theo tên của nhà

kinh tế học Irving Fisher.3

Ba chỉ số trên là giá trị cơ sở, các cơ quan thống kê của các nước có thể ước tính chỉ

số giá theo một số đặc điểm khác nhau nhằm phục vụ cho những phân tích khác nhau của nền kinh tế Ví dụ như chỉ số giá tiêu dùng ở nông thôn, thành thị, chỉ số giá bán buôn, chỉ số giá công nghiệp, chỉ số giá nhập khẩu,…

Tóm lại, với một định nghĩa đơn giản, song về thực nghiệm thì có nhiều cách để đo lường lạm phát và nó tuỳ thuộc vào chỉ số giá chung nào của nền kinh tế được áp dụng Cho dù bằng phương pháp nào đi chăng nữa thì vẫn có những hạn chế hoặc

về phương pháp luận lẫn thực hành Để giảm bớt hai sai lầm này, việc phân tích lạm phát phải dựa trên nhiều chỉ số đối chứng khác nhau và trong một bối cảnh thời gian

2 Phạm Chung và Trần Văn Hùng, 2002, Kinh tế Vĩ mô Phân tích, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ

Chí Minh

3 Phụ lục I trình bày công thức tính toán 3 chỉ số giá vừa nêu

Trang 19

tương đối dài để tránh các nhận định nhất thời Đồng thời sự thiếu tin cậy này cũng

là một phần nguyên nhân của các cuộc tranh luận không chỉ trong vấn đề tính toán

mà còn làm cho các phân tích căn nguyên của lạm phát trở nên phức tạp Phần 1.2 bên dưới chúng tôi tiếp tục trình bày sự tranh luận này

3.2. Quan điểm các trường phái kinh tế vĩ mô về nguyên nhân lạm phát

Có lẽ, định nghĩa lạm phát đơn giản bao nhiêu thì giải thích nguyên nhân dẫn đến lạm phát lại phức tạp bấy nhiêu Về mặt lý thuyết, giá cả tổng quát trong nền kinh tế

là giá cân bằng giữa tổng cung và tổng cầu hàng hoá và dịch vụ Và do vậy, một sự

tăng lên liên tục của giá có thể bắt nguồn từ sự tăng lên liên tục của tổng cầu hoặc

tổng cung và cũng có thể là cả hai Nếu giá cả tăng lên bắt nguồn từ sự tăng lên của

phía cầu nhanh hơn phía cung thì gọi là lạm phát cầu kéo (demand-pull inflation);

và ngược lại nếu chi phí của các doanh nghiệp tăng lên do tiền lương tăng, lãi suất, thuế hoặc giá cả đầu vào nhập khẩu tăng…khi đó tổng cung bị sụt giảm, hàng hoá

thiếu hụt và làm giá tăng lên thì gọi là lạm phát chi phí đẩy (cost-push inflation)

Trên thực tế, không phải lúc nào cũng dễ dàng để phân biệt đâu là sự tăng lên của lạm phát bắt nguồn từ chi phí đẩy hay là cầu kéo Hơn nữa, lạm phát hầu hết là sự biến động của kết quả tổng hợp từ phía cung lẫn phía cầu Điều này dẫn đến sự cần thiết phải phân tích nhân tố tạo ra lạm phát ở các hướng có tính khả thi cao hơn, đặc biệt đối với khả năng cung cấp những công cụ cho chính sách kiểm soát lạm phát Cùng là chủ đề lạm phát, nhiều trường phái kinh tế khác nhau có cách tiếp cận khác nhau Chẳng hạn, có sự khác biệt giữa lạm phát trong ngắn hạn và dài hạn; lạm phát giữa nền kinh tế đóng so với nền kinh tế mở; lạm phát trong cơ cấu thị trường cạnh tranh hoàn hảo hay độc quyền; lý thuyết lạm phát với giả định thông tin là hoàn hảo hay không hoàn hảo …

Các mục bên dưới, chúng tôi trình bày những nội dung chính về sự tranh luận có liên quan đến lạm phát của các nhóm trường phái kinh tế vĩ mô từ cổ điển đến hiện đại Một cách tổng quát, có bốn nhóm tiếp cận để giải thích lạm phát: nhóm thứ

Trang 20

nh ất, lạm phát bắt nguồn chủ yếu là từ tiền tệ; nhóm thứ hai là lạm phát bắt nguồn

từ những nhân tố phi tiền tệ; nhóm thứ ba là lạm phát bắt nguồn từ kỳ vọng và nhóm cuối cùng, thứ tư, là lạm phát bắt nguồn từ các yếu tố kinh tế chính trị

Cũng nên lưu ý rằng, trong từng nhóm này lại có những quan điểm tranh luận khác

nhau Chẳng hạn như, mặc dù cùng đồng ý với nhau khối tiền hay tốc độ tăng cung

tiền trong nền kinh tế là nguyên nhân chính tạo ra lạm phát Nhưng giữa các nhà kinh tế trong nhóm Tân cổ điển (neo-classical) lại giải thích cơ chế lan truyền khác với nhóm của những nhà kinh tế gọi là trường phái tiền tệ (monetarism)

1.2.1. Lạm phát là một hiện tượng của tiền tệ

a Quan điểm của Cổ điển và Tân cổ điển

Những nhà kinh tế học Cổ điển (classical) và Tân cổ điển (neo-classical)4 sử dụng

thuy ết số lượng tiền (quantity theory of money) để giải thích cho lạm phát Thuyết

số lượng tiền tệ dựa trên phương trình trao đổi như sau:

[1.1] MV = PT

Trong đó là M là khối lượng cung tiền, V là vòng quay của tiền, P là mức giá chung trong nền kinh tế và T là khối lượng giao dịch thực (the real volume of transactions)

và giả thuyết T này bằng với sản lượng trong nền kinh tế là Y Trong khuôn khổ của

lý thuyết này thì tổng cung (AS) được giả định là cho trước ở mức độ tòan dụng, hay nói cách khác là sản lượng đang ở tình trạng cân bằng dài hạn

Trang 21

Cân bằng trong thị trường hàng hoá và dịch vụ xảy ra khi AD = AS, hay nói cách khác tổng mua (PY) phải bằng tổng chi (MV)

[1.4] MV = PY

Các nhà kinh tế Cổ điển và Tân cổ điển giả định rằng V là một hằng số, bởi vì giá trị này phụ thuộc vào sự phát triển của hệ thống tài chính mà điều này không phải thay đổi một sớm một chiều Irving Fisher đưa thêm giả định rằng Y là một hằng số khi nó đạt được ở mức sản lượng toàn dụng (trong dài hạn), do vậy [1.4] có thể viết lại:

[1.5] P = (/)M

Phương trình trên cho thấy, nếu các yếu tố khác không đổi thì một bội số tăng lên của M cũng sẽ làm P tăng lên một bội số tương ứng Loagrit hoá các giá trị trên theo cách tính xấp xỉ của tốc độ tăng (hay còn gọi là phần trăm thay đổi), và viết lại ta có:

[1.6]  = (v-g) + m

Trong đó , v, g và m là phần trăm thay đổi của P, V, Y và M, trong cách tính này thì v và g là bằng không (vì giả thuyết chúng không đổi ở trên), do đó  = m; hay nói cách khác phần trăm tăng của giá, hay tỷ lệ lạm phát, sẽ đúng bằng phần trăm

tăng lên của của cung tiền trong dài hạn Kết luận này dẫn đến kết luận rằng lạm phát là m ột hiện tượng tiền tệ

O’ Brien (O' Brien, 1975) lập luận rằng có một vài khác biệt trong cơ chế lan truyền (transmission mechanisms) giữa Cổ điển và Tân cổ điển trong thuyết tiền tệ Trường phái Tân cổ điển dựa trên giả định rằng có sự toàn dụng lao động (full employment) và có sự phân đôi (dichotomy) giữa giá trị thực và khu vực tiền tệ (monetary sector) Tiền lương thực (real wage) sẽ được xác định trong khu vực thực (real sector) thông qua thị trường lao động Trong khi đó giá danh nghĩa (nominal price) là một hàm số của cung tiền Bởi vậy, cung tiền tăng sẽ làm tăng mức giá

Trang 22

tổng quát mà không ảnh hưởng gì đến cung và cầu hàng hoá, hay nói cách khác là sản lượng thực trong nền kinh tế không thay đổi Hiện tượng này thường được biết đến với tên gọi là tính trung lập của tiền (neutrality of money)

Ngược lại, theo O’Brien thì những nhà kinh tế học cổ điển, chẳng hạn như David Hume, thì giả định rằng không có toàn dụng lao động và vì thế không có sự phân đôi ở đây Theo Hume, sự tăng lên của cung tiền sẽ dẫn đến sự tăng lên của mức giá tổng quát bằng một cơ chế lan truyền khác Cụ thể, sự tăng lên của khối lượng tiền

mặt sẽ trước hết dẫn đến việc chi tiêu hàng hoá và dịch vụ nhiều hơn và khi đó phải sản xuất nhiều hơn Sau đó, dưới giả định chưa toàn dụng lao động, giá sẽ từ từ điều

chỉnh theo sự tăng cung tiền Do vậy, tiền tệ không đóng vai trò trung lập như trong Tân cổ điển Theo cách tiếp cận này, lạm phát sẽ khác nhau giữa ngắn hạn và dài hạn Trong ngắn hạn giá cả có thể bị cứng nhắc và sản lượng thực cũng có thể tăng lên bởi lượng tiền tăng

b Quan điểm của trường phái tiền tệ

Milton Friedman đóng vai trò là người sáng lập ra trường phái tiền tệ (monetarism)

Có nhiều đóng góp khác nhau trong khoa học kinh tế vĩ mô của nhóm này Một trong những đóng góp nổi bật là phân tích vai trò của tiền ảnh hưởng như thế nào đến giá cả và sản lượng trong nền kinh tế Friedman đã đặt ra một quan điểm khác

về cầu tiền so với hầu hết các quan điểm thống trị đương thời, chẳng hạn như quan điểm về cầu tiền của J M Keynes (chúng ta sẽ nói rõ hơn về quan điểm của Keynes trong phần bên dưới) Hàm cầu tiền của Keynes là một hàm số liên quan đến thu nhập thực và tiền chỉ đóng vai trò trao đổi Trong khi đó Friedman cho rằng dân chúng giữ tiền vì ngoài việc dùng tiền để trao đổi thì họ còn xem tiền như một tài sản và thu nhập thường xuyên, chứ không phải là thu nhập thực, là biến số ảnh hưởng đến cầu tiền

Dựa vào giả định này, Friedman đã cho kết luận rằng tiền đóng vai trò trung lập giống như kết luận của Tân cổ điển Hay nói cách khác, việc tăng cung tiền sẽ kéo theo lạm phát trong dài hạn Nhưng ông cho rằng không có sự phân đôi cổ điển

Trang 23

(classical dichotomy), nghĩa là không có sự tách rời các biến danh nghĩa (nominal variables) và các biến thực (real variables) trong nền kinh tế (Chung, 2002)

Kết hợp với những sáng kiến khác, ví dụ như tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (natural rate

of unemployment), kỳ vọng thích nghi (adaptive expectation), Trường phái tiền tệ

đã có những kết luận quan trọng: (Nigger, 2004)

• Sự mất cân bằng trong nền kinh tế hầu hết bắt nguồn từ sự thay đổi của khối tiền;

• Nếu thực hiện việc thay đổi cung tiền một cách bất ngờ thì nó có thể làm dao động sản lượng trong nền kinh tế; và

• Lạm phát hay giảm phát là kết quả của khối tiền tăng lên hay giảm xuống quá mức

Tóm lại, cả trường phái cổ điển, tân cổ điển và tiền tệ đều xem tiền là một nhân tố chủ yếu tạo ra lạm phát cho nền kinh tế Nếu tân cổ điển cho rằng tiền không thể tạo

sự dao động sản lượng thì trường phái tiền tệ cho rằng nếu thay đổi cung tiền một cách bất ngờ thì việc này cũng có thể làm sản lượng dao động Còn nếu tăng cung tiền không đột ngột và khi dân chúng biết rõ việc này thì tăng cung tiền không có ích lợi gì vì dân chúng cũng thay đổi giá cả kỳ vọng của mình (xem thêm phần lạm phát và kỳ vọng bên dưới)

1.2.2. Lạm phát không phải là một hiện tượng tiền tệ

a Quan điểm theo Keynes

John Maynard Keynes trong quyển sách mang tính cách mạng về khoa học kinh tế,

Lý thuy ết Tổng quát về Lao động, Lãi suất và Tiền Tệ xuất bản năm 1936 (Keynes,

1936) dựa trên giả định rằng không có sự toàn dụng trong thị trường lao động và giá

cả là cố định Bởi thế, lạm phát không có chỗ đứng trong lý thuyết ban đầu của Keynes cho mãi đến 1940 giả thuyết giá cứng nhắc (sticky prices) được nới lỏng Lúc này, sự cứng nhắc của giá chủ yếu diễn ra trong thị trường lao động (tiền lương) và giá cả hàng hoá và dịch vụ có thể thay đổi Ông mô tả lạm phát trong một

Trang 24

mô hình có tên gọi là “hố cách lạm phát” (inflationary gap) Theo đó, lạm phát hoạt động như một cái bơm chuyển thu nhập từ những người làm công ăn lương–đây là nhóm có khuynh hướng tiết kiệm biên (marginal rate of saving) lẫn biên độ thuế (marginal tax rate) là thấp, sang khu vực doanh nghiệp – đây là nhóm có khuynh hướng tiết kiệm biên lẫn biên độ thuế cao Như vậy, lạm phát như là một cơ chế để tái phân phối thu nhập

Theo Keynes, một sự tăng lên đột ngột của tổng cầu, chẳng hạn như trong tình huống chiến tranh, sẽ dẫn đến mức giá tăng lên trong khi thị trường lao động đang toàn dụng Trong bối cảnh này, với tiền lương danh nghĩa tạm thời cố định (ví dụ như do các hợp đồng lao động đã ấn định tiền lương trong giai đoạn làm việc) nên việc tăng giá tạo ra một khoản lợi nhuận ngoài dự kiến cho các doanh nghiệp Lợi nhuận tăng lên này sẽ tạo ra một mức dư cầu trong thị trường hàng hoá Chính mức

dư cầu trong thị trường hàng hoá này sẽ tạo ra sự dư cầu trên thị trường lao động Kết quả là với sự cạnh tranh của các doanh nghiệp thì tiền lương danh nghĩa sẽ tăng cho đến khi nào mà tiền lương thực quay về với mức ban đầu của nó Trong trường hợp tiền lương thực tăng lên cũng có tác động tương tự, nghĩa là cũng tạo ra sức ép

ở phía cầu trong thị trường hàng hoá và giá cả lại tiếp tục tăng Một khi mà cơ chế lan truyền từ cầu sang cung và thị trường lao động có độ trễ thì vòng xoáy lạm phát

sẽ diễn ra Do vậy, theo Keynes, cắt giảm phía cầu là là giải pháp chính để cắt giảm lạm phát

Hộp 1: Tranh luận xung quanh đường cong Phillips

Lập luận của Keynes bên trên thì cho rằng lạm phát xảy ra hoàn toàn bắt nguồn từ phía cầu khi mà tiền lương bị cứng nhắc mà không hề nhắc gì đến thị trường tiền tệ như trường phái Cổ điển hoặc Tân cổ điển Ở mức độ tổng quát thì nguyên nhân lạm phát của Keynes đến từ phí cầu kéo lẫn chi phí đẩy Nhưng phần lớn các hậu duệ của ông, được gọi là trường phái Keyens (Keynesian school), chẳng hạn như A Smithies, G Ackley, S Maital và A Trevithhick thì luôn xem phía cầu là một nguyên nhân ban đầu của lạm phát và lập luận này vẫn thắng thế cho mãi đến những

Trang 25

• Mô hình IS-LM trong nền kinh tế đóng được phát triển bởi John R Hicks và Franco Modigliani vào những năm cuối 1930s và trong thập niên 1940s

• Đường Phillips được phát triển bởi Alban W Phillips và Richard Lipsey trong những năm cuối 1950s và được phổ biến rộng rãi bởi Paul A

Samuelson và Robert Solow vào những năm đầu 1960s

• Mô hình Mundell-Fleming trong nền kinh tế nhỏ và mở cửa phát triển bởi hai tác giả được đặt tên cho mô hình vào những năm 1960s

Trong mô hình IS-LM một lần nữa lạm phát lại không có chỗ đứng bởi vì vẫn giữ nguyên giả thuyết nguyên thuỷ của Keynes là giá cố định Tuy nhiên, nhóm Tân Keynes đã có một đóng góp quan trọng là kết nối sự biến động của thị trường lao động vào mô hình IS-LM và điều này đã giải thích được bằng chứng thực nghiệm

của Phillips mà sau đó gọi là đường cong Phillips (Phillips curve)

Đường cong Phillips là tên gọi quen thuộc có mặt trong hầu hết các sách giáo khoa kinh tế học Phillips là tên của một nhà kinh tế - người mà vào năm 1958 có một nghiên cứu thực nghiệm nổi tiếng cho thấy mối quan hệ nghịch biến và ổn định giữa suất tăng tiền lương danh nghĩa và tỷ lệ thất nghiệp ở Anh Ý tưởng của này có thể diễn giải như phương trình bên dưới, với  là lạm phát, u là tỷ lệ thất nghiệp và α là

hệ số cho biết sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp và nó có giá trị âm

 = αu

Khi này, một sự giảm xuống của u, nghĩa là trong thị trường lao động đang dư cầu

và lúc đó cũng có dư cầu trong thị trường hàng hoá thì lạm phát sẽ tăng lên, và ngược lại

Tuy nhiên, quan hệ này đã không còn đúng nữa vào giai đoạn 1973-1974 và

Trang 26

1978-1979 khi nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng vừa thất nghiệp cao và vừa lạm phát cao (thuật ngữ tiếng Anh gọi hiện tượng này là stagflation) Milton Friedman và Edmund Phelps như là những người chống đỡ để đường cong Phillips nguyên thuỷ

không bị sụp đổ bằng cách đưa thêm vào mô hình biến số kỳ vọng 5 Khi đó gọi là

đường Phillips bổ sung kỳ vọng (expectation-augmented Phillips curve) Lúc này

phương trình trên được viết lại:

 = αu + β

Trong phương trình trên  là lạm phát kỳ vọng và β thông số điều chỉnh Trong ngắn hạn, với một  cho trước thì quan hệ nghịch biến giữa lạm phát và thất

nghiệp vẫn còn tồn tại Đường Phillips sẽ dịch chuyển một khi mà lạm phát kỳ vọng

thay đổi Tuy nhiên, trong dài hạn, Friedman cho rằng thất nghiệp luôn ổn định ở

một tỷ lệ mà ông gọi là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (natural rate of unemployment);

và trong dài hạn với khoảng thời gian đủ dài do vậy  =  và kết quả là đường Phillips sẽ trở nên thẳng đứng

b Quan điểm của trường phái cơ cấu

Trong những năm 1960s và 1970s cũng nổi lên những lập luận khác từ những nhà kinh tế học thuộc trường phái cơ cấu (structuralists) và trường phái tiền tệ (monetarists) rằng lạm phát là từ “cầu kéo” hay “chi phí đẩy”

Trường phái cơ cấu đóng một vai trò quan trọng trong nhóm lý thuyết lạm phát chi phí đẩy Ý tưởng chính của trường phái này cho rằng lạm phát bắt nguồn từ quá trình chuyển đổi cơ cấu của các khu vực trong nền kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp, khu vực xuất khẩu Những tác giả có ảnh hưởng trong nhóm này là Streeten

5 Cũng nên lưu ý rằng, khái niệm kỳ vọng dùng trong trường hợp này là kỳ vọng thích nghi (adaptive

expectation) hay còn gọi là kỳ vọng bằng cách nhìn về phía sau (backward-looking expectation) Theo lối kỳ vọng này thì giá trị kỳ vọng của lạm phát tại thời điểm t là kết quả trong bình có trọng số của các giá trị lạm phát thực tế lẫn giá trị kỳ vọng đã diễn ra trong giai đoạn trước Phương trình bên dưới một lần nữa mô tả lại

ý tưởng này, trong đó,  là thông số điều chỉnh, hay có thể hiểu là trọng số:   =  

Trang 27

và Baumol (Kibritcioglu, 2002) Họ lập luận rằng có những khu vực truyền thống

trong nền kinh tế, chẳng hạn như khu vực nông nghiệp, thường phản ứng với tiền tệ,

tổng cầu hoặc các cú sốc chậm chạp hơn là khu vực hiện đại, chẳng hạn như khu

vực công nghiệp Ví dụ như sản lượng trong khu vực nông nghiệp tăng làm tăng tiền lương của khu vực này trong ngắn hạn Một khi tiền lương tăng thì nhu cầu về hàng hoá của khu vực nông nghiệp cũng tăng theo, trong khi đó khu vực này thì phản ứng chập chạp, hoặc có độ trễ, do vậy thay vì tổng cung bên khu vực nông nghiệp tăng để đáp ứng sự tăng lên về phía cầu của khu vực mình thì giá cả sẽ tăng lên trước Phản ứng này lại tiếp tục, một khi mà giá cả tăng lên thì làm tăng tiền lương trong khu vực nông nghiệp và lại một lần nữa làm tăng nhu cầu sản phẩm trong khu vực công nghiệp Quá trình này cứ lặp đi lặp lại như một vòng xoáy và sự không cùng nhịp của hai khu vực là lý do tạo ra lạm phát trong nền kinh tế

c Quan điểm của trường phái hậu Keynes

Một đóng góp khác nữa cho lý thuyết lạm phát chi phí đẩy là từ các tác giả như Don Patinkin và Axel Leijonhufvud trong những năm 1970s Trường phái này được biết đến với tên là hậu Keynes (post- Keynesian) Về đại thể, nhóm này vẫn cùng quan điểm rằng tiền tệ là không trung lập trong ngắn hạn lẫn dài hạn, có nghĩa là không

có chuyện cân bằng dài hạn trong nền kinh tế Chính vì thế nhóm này đôi khi được

biết với tên gọi là trường phái kinh tế không cân bằng (disequilibrium economics)

Nhóm này nhấn mạnh rằng các biến danh nghĩa sẽ tác động lên các biến thực Chẳng hạn như thay đổi trong lãi suất danh nghĩa cũng có thể tác động thường xuyên (permanent effect) lên quyết định đầu tư trong thị trường tài sản và từ đó ảnh hưởng lên sản lượng thực(Oreiro, 2008)

Trường phái hậu Keynes cũng có nhiều quan điểm khác về quá trình hình thành lạm phát Theo họ, nếu nền kinh tế vì lý do nào đó rơi vào tình trạng thiếu hụt (dư cầu) thì sẽ tạo ra sức ép tăng giá, song chuyện này chỉ xảy ra trên thị trường giao ngay (spot market) Nếu giá trên thị trường giao ngay mà cao hơn giá trên thị trường kỳ hạn (forward market) thì lúc đó sản lượng sẽ điều chỉnh để đảm bảo hàng hoá trên

Trang 28

thị trường không bị thiếu hụt nữa Điều này có nghĩa là giá cả trên thị trường kỳ hạn không phụ thuộc vào phía cầu mà chỉ phụ thuộc vào phía cung trong nền kinh tế Một kết luận tiếp theo trong lập luận này là sự biến động của giá tuỳ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận mong muốn của chủ doanh nghiệp và tiền lương thực của người làm công Do vậy, lạm phát diễn ra, hay nói cách khác giá cả tăng là do sự mâu thuẫn giữa chủ tư bản và người làm thuê trong việc phân bổ thu nhập Lạm phát biến động tuỳ thuộc vào lợi nhuận mục tiêu của doanh nghiệp, tiền lương thực mục tiêu của người lao động hoặc là giá tương đối giữa các yếu tố sản xuất, ví dụ như sự biến động của tỷ giá, giá dầu … Ở nhiều khía cạnh, trường phái post-Keynes có cùng quan điểm với trường phái Tân Marx (neo-Marxian)

d Quan điểm của trường phái Cổ điển mới

Trong những năm 1980s một nhóm các nhà kinh tế học như Edward C Presscott, Finn E Kydland và Charles I Plosser có một cách lý giải về sự dao động của sản lượng trong nền kinh tế khác với những lý giải đương thời Thay vì sự dao động đó bắt nguồn từ phía cầu như những nhà kinh tế học khác, nhóm này lý giải sự dao động bắt nguồn từ phía cung Chẳng hạn như sự tiến bộ công nghệ, có các phát minh mới, tìm ra được nguồn lực mới, thay đổi trong giá tương đối giữa các nhóm hàng hoá hoặc giữa trong và ngoài nước …tất cả đều ảnh hưởng lên tổng cung và

làm sản lượng thay đổi Cách giải thích này được biết đến với tên gọi là lý thuyết chu k ỳ kinh doanh thực (real business cycle) hay còn gọi là trường phái Cổ điển mới (New Classical school)

Thực ra, trường phái này có chủ đích lý giải sự dao động của sản lượng hơn là giá

cả Song, một cách logic những cú sốc vừa nói ở trên một mặt tác động vào sản lượng nhưng nó cũng ảnh hưởng lên giá cả tổng quát và vì thế nó cũng có giá trị cho giải thích lạm phát

Trở lại phương trình [1.6] ở trên, một khi mà có một cú sốc cung bất lợi (trong trường hợp đó thì g < 0) thì cũng có thể tạo ra lạm phát với giả định rằng vòng quay

Trang 29

tiền tệ lẫn tốc độ tăng tiền là không đổi (v= m = 0) Chính vì điều này, trường phái

cổ điển mới đề nghị một nước nên có sự cải thiện công nghệ liên tục Chính sự cải thiện này là một biện phát để giảm lạm phát

e Quan điểm của trường phái Keynes mới

Các nhà lý thuyết trong trường phái Tân cổ điển, Tiền tệ và cả Cổ điển mới đều có

một giả định chung rằng thị trường là cân bằng một cách liên tục (continuous market-clearing) Cơ sở của giả định này là dựa vào tốc độ điều chỉnh của giá và lượng trong nền kinh tế có thể diễn ra rất nhanh Tuy nhiên, tất cả họ đều bỏ qua

một khả năng khác là sự điều chỉnh luôn có độ trễ bởi có yếu tố cứng nhắc (rigidity)

trong tiền lương và mức giá ở ngắn hạn Những nhà kinh tế sử dụng tính chất này để

tấn công giả định trên gọi là trường phái Keynese mới (New Keynesian) Những đại

diện cho trường phái này là George Akerlof, Janet Yellen, Josheph E Stiglitz, Robert J Jordon, John B Taylor, N Gregory Mankiw, Guillermo Calvo, Olivier Blanchard và Julio Rotemberg Họ đã sử dụng những công cụ kinh tế vi mô nhằm bảo vệ các giả định chính thống của Keynes như giá và tiền lương là cố định trong ngắn hạn cũng như phản bác lại thị trường là có sự cân bằng liên tục Kết luận của nhóm này vẫn đồng ý rằng trong dài hạn, lạm phát là một hiện tượng tiền tệ, song trong ngắn hạn không phải lúc nào giá cả cũng biến động ngay khi có các cú sốc về phía cầu Bởi việc thay đổi giá một cách liên tục có thể tạo ra chi phí mà họ gọi là

chi phí th ực đơn (menu cost) Và ngay cả có sự thay đổi giá đi chăng nữa thì các cá nhân cũng không thay đổi nó một cách cùng lúc (non-synchronized) và vì thế giá cả

thường ổn định trong ngắn hạn

1.2.3. Nhân tố kỳ vọng và lạm phát

Kinh tế học vĩ mô vào những năm 1970s có một phát kiến làm ảnh hưởng toàn bộ

các lý thuyết truyền thống, đó là khái niệm kỳ vọng hợp lý (rational expectation)

Yếu tố kỳ vọng này được đề xướng bởi những nhà kinh tế học như Robert E Lucas, Thomas J Sargent, Neil Wallace, Robert J Barro và Bennett T McCallum Nhóm

này được gọi là trường phái Cổ điển mới (New classical school)

Trang 30

Kỳ vọng thích nghi (adaptive expectation) vừa mô tả ở trên được hình thành từ chuỗi thông tin trong quá khứ, trong đó bao gồm giá trị thực tế của quá khứ lẫn sự sai biệt giữa những gì xảy ra giữa kỳ vọng và thực tế Bởi vậy, sự sai biệt trong giá

trị kỳ vọng ở hiện tại, nếu có, luôn có tính liên quan (relevant) với nhau

Nhưng đối với kỳ vọng hợp lý thì sự sai biệt của giá trị kỳ vọng (nghĩa là xác xuất

bị sai) là hoàn toàn ngẫu nhiên (random), không có tính liên quan Quá trình hình

thành kỳ vọng hợp lý không chỉ dừng lại ở quá khứ mà các cá nhân trong nền kinh

tế còn sử dụng cả những thông tin đang xảy ra trong hiện tại Ví dụ nhà chức trách thông báo trước sẽ tăng cung tiền thì lập tức người dân dự đoán rằng giá cả sẽ tăng cho dù dữ kiện trong quá khứ cho cho thấy là giá cả đang có xu hướng giảm Điều này đã dẫn đến những kết luận hết sức quan trọng trong lý thuyết tiền tệ Nhóm các nhà kinh tế vừa nói ở trên kết luận rằng, nếu thông tin là đầy đủ thì việc tăng cung tiền cũng không ảnh hưởng gì đến sản lượng thực ngay cả trong ngắn hạn bởi vì giá

cả cũng tăng lên theo kỳ vọng của dân chúng Trong tình huống ngày, thì đường cong Phillips sẽ trở nên thẳng đứng trong ngắn hạn lẫn dài hạn

Câu hỏi quan trọng hơn là làm thế nào để dân chúng biết được cung tiền sẽ tăng nếu nhà chức trách âm thầm làm việc này? Sargent và Wallace (Sargent, 1981) cho rằng thâm hụt ngân sách là một dấu hiệu tích cực để tiên đoán lạm phát Bởi vì sự thâm hụt ngân sách một cách triền miên có thể tồn tại được khi mà có sự tài trợ thâm hụt này từ phía ngân hàng trung ương và điều này đồng nghĩa với cung tiền liên tục được mở rộng , điều đó lại càng đúng trong bối cảnh nền kinh tế theo đuổi chế độ

áp chế tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu huy động vốn cho công nghiệp hóa khi mà thị trường vốn còn quá sơ khai Do vậy, đôi lúc người nhiều nhà kinh tế cho rằng

cung tiền chỉ là nguyên nhân thứ yếu (secondary) trong việc xác định mức giá Thâm hụt cán cân ngân sách của chính phủ mới là nguyên nhân khởi đầu (primary)

của vấn đề lạm phát (Woodford, 2000) Nói tóm lại, cho dù bắt nguồn từ nhân tố tiền tệ hay phi tiền tệ thì yếu tố kỳ vọng đóng một vai trò quan trọng trong chiều hướng lạm phát của nền kinh tế

Trang 31

(non-tố này được gọi là kinh tế chính trị mới (new political economy), phần lớn tập trung

nghiên cứu bản chất chính trị của các quá trình ra quyết định Sự lựa chọn chính sách không bao giờ dựa trên phân tích kinh tế đơn thuần, mà nó luôn có hàm ý chính trị Chính vì điều này những nhân tố chính trị (chẳng hạn như vai trò của các nhóm lợi ích liên quan đến chính sách tài khoá và tiền tệ) luôn ảnh hưởng đến thành quả kinh tế mà trong đó có lạm phát Nhóm này kết luận rằng những vấn đề như các chu kỳ bầu cử, mất ổn định chính trị, mức độ tin cậy của chính sách, sự độc lập của ngân hàng trung ương…chính là nhân tố tạo ra lạm phát (Garrat, 1998)

Vào những năm gần đây, sự khác biệt giữa các trường phái ngày càng thu hẹp Sự hợp tác giữa họ đã manh mún tạo ra một giai đoạn mới trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô

Sự phối hợp này được gọi là Tổng hợp Tân cổ điển mới (New Neoclassical Synthesis) Trong mô hình này, Micheal Goodfriend và Robert King là người có

6 Ví dụ như kết luận “Lạm phát ở mọi lúc, mọi nơi là một hiện tượng tiền tệ” của Milton Friedman được trích lại trong hầu hết các bài viết có liên quan đến lạm phát và tiền tệ

Trang 32

đóng góp quan trọng (Goodfriend, 2002) (King, 1997) Mô hình tổng hợp của họ có mặt đầy đủ các yếu tố tiền tệ, các cú sốc cầu và cung cũng như giả định tính kết dính về giá của trường phái Keynes; nói cách khác, trường phái tiền tệ, Keynes và

cả trường phái chu kỳ kinh doanh thực đã đóng góp một phần của riêng mình trong

mô hình tổng hợp chung này nhằm giải thích cho lạm phát (và sản lượng)

Nói tóm lại, lạm phát là một hiện tượng tổng hợp Nó bao gồm cả nhân tố tiền tệ lẫn phi tiền tệ Cho dù theo trường phái nào đi chăng nữa thì một mô hình giải thích lạm phát có tính khách quan nhất vẫn phải đảm bảo có mặt các yếu tố tiền tệ (lượng tiền cung ứng ra nền kinh tế có tương quan hợp lý giữa sản lượng làm ra và vòng quay tiền hay không?) và những nhân tố phi tiền tệ như yếu tố kỳ vọng Những nhân tố tạo ra lạm phát cũng có thể khác nhau giữa ngắn hạn và dài hạn Tách biệt khung thời gian này cũng là điểm cần lưu ý trong các mô hình phân tích lạm phát Mô hình P-Star bên dưới chúng tôi sẽ phân tích khả năng tách rời hai khung thời gian này khi phân tích chiều hướng lạm phát của một nền kinh tế

3.3. Lợi ích của giá cả ổn định

Ổn định giá cả hay lạm phát nằm trong tầm kiểm soát là một trong những mục tiêu quan trọng của tất cả các nước Lạm phát gia tăng ở tốc độ cao làm sói mòn vai trò của tiền trong chức năng trung gian trao đổi cho những ai giữ tiền mặt Trong một môi trường có lạm phát cao sẽ dẫn đến hiện tượng đầu tư quá mức Bởi các doanh nghiệp và cá nhân có khuynh hướng mở rộng đầu tư để tránh những chi phí của lạm phát (English, 1996)

Lạm phát cũng tạo những biến động không lường trước trong giá tương đối giữa các hàng hoá hoặc giá cả trong tương lai, và chính điều này làm cho các cá nhân rất khó

ra được một quyết định thích hợp và dẫn đến giảm hiệu quả kinh tế (Lucas, 1972) Hơn nữa, sự tác động qua lại giữa hệ thống thuế và lạm phát làm bóp méo và tạo ra các lựa chọn ngược trong hoạt động kinh tế (Feldstein, 1997)

Trang 33

Lạm phát không tiên đoán được cũng dẫn đến việc tái phân bổ của cải giữa các bộ phận thu nhập trong xã hội một cách không công bằng Trong một chừng mực nào

đó, lạm phát cao thường là không ổn định và điều này dẫn đến tăng các khoản chi phí đối với phía đi vay

Tóm lại, các quốc gia trên thế giới đều tìm cách quản lý và kiểm soát lạm phát nền kinh tế của mình sao cho ổn định Chưa có một thực nghiệm nào cho biết rằng tỷ lệ lạm phát bằng bao nhiêu là tốt và bao nhiêu thì sẽ đẩy nền kinh tế vào bất ổn Nó tuỳ thuộc vào tình trạng và xu hướng biến động của lạm phát hơn là con số tuyệt đối của nó Quản lý lạm phát sao cho tiên đoán được là một mục tiêu quan trọng để ổn định vĩ mô

3.4. Mô hình P-Star

1.4.1 Giới thiệu

Có nhiều mô hình kinh tế lượng để phân tích thực nghiệm của vấn đề lạm phát Những mô hình này đều dựa trên ý tưởng lý thuyết từ các trường phái kinh tế vừa trình bày ở trên Mục tiêu của các mô hình kinh tế lượng có thể là kiểm chứng tính chính xác của các giả định, kết luận của mô hình lý thuyết hoặc kiểm chứng sự phù hợp của mô hình với một nền kinh tế cụ thể nào đó

Việc lựa chọn mô hình nào để ứng dụng kiểm chứng tuỳ thuộc vào tính thích hợp của mô hình đối với môi trường được đem ra kiểm chứng cũng như mục tiêu nghiên cứu của tác giả Bởi lẽ ở các quốc gia hoặc nền kinh tế khác nhau, đặc tính của nền kinh tế cũng khác so với giả định của các mô hình lý thuyết Rõ ràng là đặc tính của

nền kinh tế đang phát triển có những khác biệt so với một nền kinh tế chuyển đổi và càng khác biệt hơn khi so với nền kinh tế đã phát triển Giả định thị trường là cạnh

tranh hoàn toàn của trường phái tân cổ điển có thể không còn phù hợp nữa khi áp dụng mô hình của họ cho một nền kinh tế chuyển đổi mà ở đó một phần giá cả còn điều tiết bởi chính phủ

Trang 34

Một yếu tố không kém phần quan trọng nữa trong việc chọn lựa mô hình đó là sự sẵn có hoặc khả thi về mặt dữ liệu Độ dài, tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu… là những câu hỏi cần phải trả lời trước khi lựa chọn mô hình

Mô hình P-Star trong luận văn này được lựa chọn cũng dựa trên các tiêu chí chủ quan lẫn khách quan như trên Mô hình này cũng bao hàm được các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến lạm phát như tiền tệ, sản lượng, kỳ vọng…và do vậy nó có khả năng để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu của luận văn Mô hình P-Star cũng đã được kiểm chứng rộng rãi ở nhiều nền kinh tế với nhiều giả thuyết đa dạng, ví dụ như nhiều tác giả đã kiểm chứng cho nền kinh tế Mỹ, các nước nhỏ và mở cửa ở Châu

Âu, Nhật Bản…Vì thế, nền kinh tế Việt Nam cũng có thể trở thành một mẫu kiểm chứng cho mô hình này

Ý tưởng chính của mô hình P-Star là dựa trên thuyết số lượng tiền (quantity theory

of money) kinh điển với giả định rằng mức giá trong dài hạn được quyết định bởi cung tiền; hay nói cách khác, có tồn tại giá trị cân bằng của sản lượng và vòng quay tiền tệ trong dài hạn Do đó, với điều kiện này thì tốc độ tăng trưởng cung tiền sẽ quyết định lạm phát

Khái niệm “mô hình P-Star” lần đầu tiên được đề xuất vào năm 1989 bởi Hallman,

Porter và Small (Hallman J S., 1989) và sau đó cũng chính nhóm tác giả này ứng dụng mô hình để phân tích biến động lạm phát của nền kinh tế Mỹ trong giai đoạn 1955-1988 (Hallman J J., 1991) Kể từ đó mô hình P-Star được phát triển và ứng dụng khá rộng rãi trong việc phân tích và dự báo về lạm phát cho nhiều quốc gia và vùng kinh tế

Ban đầu, mô hình được phát triển để phân tích lạm phát cho một quốc gia lớn và xem như một nền kinh tế đóng Chẳng hạn như Tatom (Tatom J A., 1990); Hoeller

và cộng sự (Hoeller, 1991); và Todter (Todter, 1994) Sau đó, mô hình này cũng được nhiều tác giả điều chỉnh bổ sung về khía cạnh lý thuyết lẫn phân tích thực nghiệm để có thể ứng dụng phân tích cho một nền kinh tế nhỏ và mở cửa Chẳng

Trang 35

hạn như Tatom (Tatom J A., 1992); Kool và cộng sự (Kool, 1994); Garcia-Herrero

và cộng sự (Garcia - Herrero, 1998); Wesche (Wesche, 1998); Frait và cộng sự (Frait, 2000); Matuszek (Matuszeck, 2004); và Justé và cộng sự (Justé, 2005) Phần 1.5 bên dưới sẽ trình bày cụ thể kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả này

Phần này sẽ trình bày lại sự phát triển của mô hình P-Star theo thời gian Đầu tiên

sẽ trình bày mô hình cơ sở với giả định là nền kinh tế đóng, sau đó sẽ trình bày mô hình mở rộng cho nền kinh tế mở và mô hình tổng quát mà tác giả sẽ sử dụng để phân tích cho Việt Nam

1.4.2 Mô hình P-Star và nền kinh tế “đóng”

Mô hình P-Star dựa trên lý thuyết phương trình số lượng tiền của trường phái tân cổ điển với giả định rằng có sự tách biệt giữa giá cả thực tế ở ngắn hạn (short run price) và giá cả cân bằng trong dài hạn (long run equilibrium price) Trong dài hạn mức giá, sản lượng và vòng quay tiền tệ là hội tụ ở trạng thái cân bằng của chúng Nhưng trong ngắn hạn, giá trị thực tế của các biến số này có thể dao động xung quanh giá trị cân bằng Cụ thể, phương trình số lượng tiền được trình bày như sau: [1.7] Mt.Vt=Pt.Yt

Trong đó, M là khối lượng cung tiền, V là vòng quay của tiền, P là mức giá, Y là sản lượng thực trong nền kinh tế ở một thời điểm t nào đó Giả sử rằng, trong dài hạn, V, P và Y đạt được giá trị cân bằng (với dấu * thể hiện cho sự cân bằng này)

do vậy [1.7] trên được viết lại như sau:

Trang 36

[1.10] mt+vt*=pt*+yt*

Theo lý thuyết tiền tệ, trong dài hạn, lạm phát là một hiện tượng tiền tệ, bởi vì v* và y* đạt ở giá trị cân bằng và chúng hầu như không đổi, vì thế biến động của p* là phụ thuộc vào cung tiền (m) Tuy nhiên, trong ngắn hạn, biến động của giá cả không những phụ thuộc vào cung tiền mà nó còn phụ thuộc vào độ lệch giữa giá trị thực tế của vòng quay tiền cũng như sản lượng so với giá trị cân bằng của chúng Chênh lệch giữa giá cả thực tế, vòng quay tiền tệ và sản lượng so với giá trị cân

bằng của nó gọi là chênh lệch giá (price gap) Bằng cách lấy hiệu của hai phương

trình [1.10] và [1.9] chúng ta tính được chênh lệch giá như phương trình [1.11] bên dưới:

[1.11] GAPD  (pt*– pt) (vt* – vt) + (yt – yt*)

Như thế, từ đồng nhất thức [1.11] trên cho thấy, chênh lệch của giá (price gap), ký hiệu là GAPD, là sự sai biệt giữa mức giá thực tế so với mức giá cân bằng trong dài hạn Sự chênh lệch này là tập hợp của chênh lệch vòng quay tiền (velocity gap), (vt* – vt), và chênh lệch sản lượng (output gap), (yt – yt*) Ý nghĩa của GAPD giải thích được chiều hướng lạm phát của nền kinh tế Một khi mà (pt*– pt) mang giá trị

d ương, hay nói cách khác pt* lớn hơn pt thì trong giai đoạn sau pt có khuynh hướng phải điều chỉnh tăng bởi dựa vào giả định rằng giá cả luôn luôn điều chỉnh về trạng thái cân bằng trong dài hạn, hay nói cách khác trong tình huống này thì lạm phát

trong nền kinh tế có khuynh hướng tăng Ngược lại, một khi mà (pt*– pt) mang giá

trị âm, thì lúc đó pt có khuynh hướng phải điều chỉnh giảm hay nói cách khác lạm

phát sẽ giảm

Câu hỏi quan trọng hơn là nguyên nhân nào dẫn đến GAPD biến động Vế phải của phương trình [1.11] trên cho biết nguyên nhân chi tiết của sự biến động này Như phương trình [1.11] chỉ ra, GAPD là kết quả gộp của sự chênh lệch về sản lượng thực và vòng quay tiền tệ

Trang 37

Đối với sản lượng thực, nếu trong trường hợp nền kinh tế đang quá nóng hoặc suy

thoái , nghĩa là sản lượng trong ngắn hạn cao/thấp hơn sản lượng cân bằng (tiềm

năng) của nó trong dài hạn thì (yt –yt*) mang giá trị dương/âm Trong lúc này, giả

sử rằng có sự cân bằng trong vòng quay tiền, hay (v*-v) = 0, thì lúc đó (pt*– pt) sẽ

mang giá trị dương/âm Như thế, có sự ổn định trong vòng quay tiền tệ, nền kinh tế

đang tăng trưởng nóng thì sẽ xuất hiện sức ép lạm phát tăng, và ngược lại

Đối với vòng quay tiền tệ, một khi là lượng cung tiền cao/thấp hơn cầu tiền trong

nền kinh tế thì vòng quay thực tế của tiền thấp/cao hơn giá trị cân bằng dài hạn Lúc

đó (vt* – vt) sẽ mang giá trị dương/âm Giả sự rằng có sự cân bằng trong sản lượng

thực, nghĩa là (yt* – yt) = 0, thì GAPD sẽ mang giá trị dương/âm Trong tình huống

này, một lần nữa thể hiện ý tưởng rằng nếu sản lượng đạt được cân bằng trong dài hạn thì tiền là nguyên nhân tạo ra lạm phát

Bảng 1 1 Quan hệ giữa chênh lệch sản lượng, vòng quay tiền và lạm phát

Nhân tố thực (real factor) (yt –yt*) >0 (yt –yt*) <0 Nhân tố tiền tệ

(monetary factor)

(vt* – vt) >0 Lạm phát tăng ? (vt* – vt) <0 ? Lạm phát giảm

Bảng 1-1 ở trên tóm tắt mô hình P-Star trong nền kinh tế đóng Mô hình này giải

thích sức ép lạm phát của nền kinh tế bắt nguồn từ nhóm nhân tố thực và nhân tố

ti ền tệ Đây chính là ý tưởng sơ khởi mà Hallman và các tác giả sau này sử dụng sự

chênh lệch giá như là một biến đại diện quan trọng để phân tích và dự báo chiều hướng lạm phát

Về tính chất thống kê, Hallman và cộng sự năm 1991 đã chỉ ra rằng p và p* là đồng tích hợp (co-integrated) và cân bằng trong dài hạn thì p = p* Hay nói cách khác, mức giá hiện tại luôn có khuynh hướng điều chỉnh về mức cân bằng và Hallman đề

Trang 38

nghị một phương trình kinh tế lượng để phân tích lạm phát cho nền kinh tế Mỹ như sau:

[1.12] ∆ =  + ∑ (pt*-pt)t-i + ∑ ∆  + 

Trong đó  đại diện cho lạm phát, (pt*-pt) là chênh lệch của giá và  là sai số của

mô hình Bởi vì số liệu về lạm phát thường không có tính dừng (nonstationary) nên

∆ được sử dụng như là một cách để giải quyết vấn đề của kinh tế lượng.7 Các độ trễ lần lượt từ 1 đến 4 của i cũng được thử nghiệm để tìm kiếm mô hình giải thích

có ý nghĩa nhất

Một trong những nhân tố cấu thành lên kỳ vọng lạm phát cho giai đoạn hiện tại là lạm phát đã xảy ra trong quá khứ Do vậy, biến ∆  là độ trễ của lạm phát cũng được đưa vào Trong khi đó, độ trễ của chênh lệch giá (pt*-pt)t-i giải thích cho độ trễ thời gian mà chúng ảnh hưởng tới chiều hướng của lạm phát thực tế Như vậy, mối quan hệ trong phương trình hồi qui [1.12] có thể giúp chúng ta kiểm nghiệm sự chênh lệch của mức giá trong nước lên sự thay đổi của lạm phát và đảm bảo sự có mặt của cả nhân tố thực, tiền tệ lẫn giá trị kỳ vọng

1.4.3. Mô hình P-Star và nền kinh tế “mở - nhỏ”

Một nền kinh tế mở và nhỏ thường rơi vào tình huống là đồng tiền của mình neo chặt vào đồng tiền của một nước lớn Chính vì điều này mà chính sách tiền tệ của nước lớn có thể lan truyền sang nước nhỏ thông qua kênh tỷ giá hối đoái Cụ thể, sự cân bằng của mức giá ở nước ngoài có thể xác định sự cân bằng của mức giá trong nước trong dài hạn, điều mà chúng ta vẫn gọi là qui luật ngang bằng sức mua (purchasing power parity) Phương trình [1.13] bên dưới mô tả điều này

[1.13] Pd* = E.Pf*/ER

7

Để tạo ra một biến có tính dừng thường các nhà kinh tế lượng phải tính sai phân bậc 1 của biến đó, viết tắt

là I(1) Vì vậy mà đối với  nếu không dừng, chúng ta phải tính sai phân cho nó và ký hiệu là ∆

Trang 39

Trong đó, Pd* là mức giá cân bằng trong dài hạn trong nước, Pf* là mức giá cân bằng dài hạn của nước ngoài hay là quốc gia được dùng để neo tỷ giá E là tỷ giá danh nghĩa và ER là tỷ giá thực cân bằng trong dài hạn Logarit hoá [1.13] và viết lại như sau:

[1.14] ptd* ptf* + et – ert*

Đồng nhất thức [1.14] trên cho biết nếu tỷ giá gần như cố định thì giá cân bằng trong nước bị ảnh hưởng bởi mức giá cân bằng ở quốc gia mà họ neo tỷ giá Khi đó,

chênh lệch giữa giá trong nước có tính đến giá nước ngoài (mà từ đây gọi là chênh

l ệch giá nước ngoài), gọi là GAPF, được viết lại như sau:

[1.15] GAPF  (ptd*-ptd ) (ptf* + et – ert*) - ptd

Trong đó, ptd* là mức giá cân bằng trong nước, ptd là mức giá hiện hành trong nước,

ptf* là mức giá cân bằng ở nước ngoài, et là tỷ giá danh nghĩa và ert* là tỷ giá thực cân bằng Tất cả các biến này đều ở dạng logarit (thể hiện phần trăm thay đổi) Kool và Tatom (1994) đã giới thiệu một mô hình kinh tế lượng phân tích thực nghiệm 5 quốc gia với sự có mặt đồng thời hai biến GAPD và GAPF và kết quả cho thấy GAPD gần như không ảnh hưởng đến lạm phát trong nước khi áp dụng cho một quốc gia nhỏ và tỷ giá cố định Biến động của lạm phát trong mẫu của Kool và Tatom phần lớn tuỳ thuộc vào mức giá của quốc gia mà họ neo tỷ giá

Tóm lại, một nước nhỏ và mở cửa, giá cả nội địa không những ảnh hưởng bởi thị trường hàng hoá và tiền tệ trong nước mà nó còn ảnh hưởng bởi nước ngoài Tỷ giá của họ neo danh nghĩa và đồng tiền của nước nào thì giá cả của nước đó sẽ lan truyền qua giá cả nội địa theo nguyên tắc ngang bằng sức mua Quy trao đổi hàng hoá và vốn giữa hai nền kinh tế càng lớn thì tốc độ lan truyền giá giữa chúng càng nhanh

Trang 40

Trên cơ sở lý thuyết vừa trình bày, mô hình P-Star áp dụng cho một nước nhỏ với

giả định lạm phát của nó bị phụ thuộc hoàn toàn vào GAPF thể hiện thông qua

phương trình hồi qui sau:

[1.16] ∆ =  + ∑ (ptd*-pdt)t-j + ∑ ∆  + 

Trong phương trình [1.16], (ptd*-pdt) là đại diện cho sự chênh lệch giá nước ngoài (GAPF) Các độ trễ về thời gian cũng như biến động của lạm phát trong quá khứ ảnh hưởng đến lạm phát hiện tại cũng được đưa vào với ý tưởng của giá trị kỳ vọng như đã nói trong mô hình [1.12]

1.4.4 Mô hình P-Star tổng quát

Cho dù nhiều nghiên cứu gần đây, chẳng hạn Tatom (1992) hoặc Kool và cộng sự (1994) cho thấy chênh lệch giá trong nước không có dấu hiệu tương quan mạnh để giải thích biến động của lạm phát khi mà chênh lệch giá nước ngoài được đưa vào

mô hình Bởi lẽ, một quốc gia nhỏ, mở cửa và theo chế độ tỷ giá cố định thì chính sách tiền tệ của họ trở nên bị động, hay nói cách khác cung tiền trở thành một biến nội sinh (endogenous) chứ không phải là một biến giải thích cho lạm phát

Tuy vậy, trên thực tế mức độ lan truyền giá, hay nói cách khác sự mất độc lập của ngân hàng trung ương đến mức nào còn tuỳ thuộc vào việc kiểm soát dòng vốn và các chính sách can thiệp nhằm vô hiệu những dòng vốn này (sterilization) của từng quốc gia trong từng giai đoạn nhất định nào đó Điều này cho thấy khó có thể bác

bỏ vai trò của biến số chênh lệch giá trong nước cũng như biến số chênh lệch giá nước ngoài Cả hai đều có một trọng số nhất định nào đó trong biến động lạm phát của quốc gia Gần đây, chẳng hạn như Justé và Aiva (2005) hay Jan Frait cùng cộng

sự (2000) đã kiểm nghiệm đồng thời vai trò của chênh lệch giá trong nước lẫn trong nước ngoài và cho thấy chúng đều có giá trị giải thích nhất định Hay nói cách khác, biến động lạm phát có thể được thể hiện bằng một hàm số với sự có mặt của chênh lệch giá trong nước và chênh lệch giá nước ngoài:

[1.17] ∆ = f(GAPD, GAPF)

Ngày đăng: 15/04/2014, 15:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. 1 Lạm phát của Việt Nam giai đoạn 1986-2006 - PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR
Hình 2. 1 Lạm phát của Việt Nam giai đoạn 1986-2006 (Trang 45)
Hình 2. 4 Cơ cấu đầu tư của Việt Nam 1995 – 2006 (%) - PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR
Hình 2. 4 Cơ cấu đầu tư của Việt Nam 1995 – 2006 (%) (Trang 48)
Hình 2.5 Lạm phát của Việt Nam tính theo CPI và GDPdeflator 1995-2007 (%) - PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR
Hình 2.5 Lạm phát của Việt Nam tính theo CPI và GDPdeflator 1995-2007 (%) (Trang 49)
Hình 2.6 Chỉ số giá của Việt Nam trong từng nhóm hàng chi tiết 2000 – 2007 - PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR
Hình 2.6 Chỉ số giá của Việt Nam trong từng nhóm hàng chi tiết 2000 – 2007 (Trang 51)
Hình 2.7 Tốc  độ tăng giá của nhóm lương thực thực phẩm hàng tháng so với - PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR
Hình 2.7 Tốc độ tăng giá của nhóm lương thực thực phẩm hàng tháng so với (Trang 55)
Hình 2.9 Tăng trưởng M2 của Việt Nam, Thái Lan và Trung quốc qua các năm - PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR
Hình 2.9 Tăng trưởng M2 của Việt Nam, Thái Lan và Trung quốc qua các năm (Trang 58)
Bảng 2. 3 Thay đổi dự trữ ngoại hối của Việt Nam (2000-2006) - PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR
Bảng 2. 3 Thay đổi dự trữ ngoại hối của Việt Nam (2000-2006) (Trang 60)
Hình 2.11 Tỷ giá hối đoái của Việt Nam và Trung Quốc - PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR
Hình 2.11 Tỷ giá hối đoái của Việt Nam và Trung Quốc (Trang 61)
Bảng 3. 2 Tóm tắt thống kê các biến - PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR
Bảng 3. 2 Tóm tắt thống kê các biến (Trang 66)
Hình 3.1 Biến động tỷ giá của VND so với một số đồng tiền mạnh. - PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR
Hình 3.1 Biến động tỷ giá của VND so với một số đồng tiền mạnh (Trang 67)
Hình  3.2  Tỷ  trọng  (%)  của  tổng  kim  ngạch  xuất  nhập  khẩu  của  từng  nước  trong 10 đối tác thương mại chính - PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR
nh 3.2 Tỷ trọng (%) của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của từng nước trong 10 đối tác thương mại chính (Trang 68)
Hình  3.3  Giá  trị  cân  bằng  của  thu  nhập,  vòng  quay  tiền,  tỷ  giá  và  giá  nước  ngoài 1995Q2 – 2007Q2 - PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR
nh 3.3 Giá trị cân bằng của thu nhập, vòng quay tiền, tỷ giá và giá nước ngoài 1995Q2 – 2007Q2 (Trang 74)
Bảng I: Hồi qui 1 - PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR
ng I: Hồi qui 1 (Trang 107)
Hình A Chênh lệch lạm phát và tỷ giá - PHÂN TÍCH NHÂN tố tác ĐỘNG lên lạm PHÁT của VIỆT NAM GIAI đoạn 1995 2007 BẰNG mô HÌNH p STAR
nh A Chênh lệch lạm phát và tỷ giá (Trang 113)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w