1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng, giải pháp hoàn thiện cơ chế và phương thức chuyển giao hồ sơ cuộc kiểm toán có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan chức năng xử lý

55 381 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng, giải pháp hoàn thiện cơ chế và phương thức chuyển giao hồ sơ cuộc kiểm toán có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan chức năng xử lý
Tác giả Ths. Đặng Văn Hải
Trường học Hà Nội
Chuyên ngành Kế toán và Kiểm toán
Thể loại đề tài khoa học cấp cơ sở
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 584,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xỏc định rừ trỏch nhiệm của Kiểm toỏn viờn, Tổ kiểm toan, Đoàn kiểm toỏn, Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành, khu vực, các vụ chức năng trong việc phát hiện hành vi tham nhũng và kiến nghị

Trang 1

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

-H•I -

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ

VÀ PHƯƠNG THỨC CHUYỂN GIAO HỒ SƠ

CUỘC KIỂM TOÁN CÓ DẤU HIỆU TỘI PHẠM CHO CƠ QUAN CHỨC NĂNG XỬ LÝ

Chủ nhiệm đề tài: Ths Đặng Văn Hải

7547

02/11/2009

Hà Nội, 2009

Trang 2

Mục lục

Phần mở đầu

Chương I

Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện cơ chế và

phương thức chuyển giao hồ sơ vụ việc cú dấu hiệu tội phạm

cho cơ quan chức năng xử lý

1.1 Đặc điểm tội phạm phát hiện trong hoạt động kiểm toán

và vai trò của KTNN, của các cơ quan chức năng trong phát hiện,

điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm đ−ợc phát hiện qua

hoạt động kiểm toán

1.1.1 Khỏi niệm tội phạm và các dấu hiệu của tội phạm

1.1.1.1 Khỏi niệm tội phạm

1.1.1.2 Cỏc dấu hiờu của tội phạm

1.1.2 Đặc điểm của tội phạm phát hiện qua hoạt động kiểm toán

1.1.2.1 Về chủ thể

1.1.2.2 Về hành vi

1.1.2.3 Về khách thể

1.1.3 Trỏch nhiệm của KTNN, của các cơ quan chức năng trong

phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm đ−ợc phát

hiện qua hoạt động kiểm toán

1.2 Cơ chế và phương thức chuyển giao hồ sơ vụ việc cú dấu

hiệu tội phạm cho cơ quan chức năng xử lý theo pháp luật

1.2.1 Cơ chế chuyển giao hồ sơ vụ việc cú dấu hiệu tội phạm

cho cơ quan chức năng xử lý theo pháp luật

1.2.2 Phương thức chuyển giao hồ sơ vụ việc cú dấu hiệu tội

phạm cho cơ quan chức năng xử lý theo pháp luật

1.3 Thực trạng thực hiện cơ chế và phương thức chuyển

giao hồ sơ vụ việc cú dấu hiệu tội phạm cho cơ quan chức năng xử

Trang 3

1.3.1 Những kết quả đó đạt được trong việc thực hiện cơ chế và

phương thức chuyển giao hồ sơ vụ việc cú dấu hiệu tội phạm cho cơ

quan chức năng xử lý

1.3.2 Những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện cơ chế và

phương thức chuyển giao hồ sơ vụ việc cú dấu hiệu tội phạm cho cơ

quan chức năng xử lý

1.3.3 Nguyờn nhõn của những hạn chế, bất cập trong việc thực

hiện cơ chế và phương thức chuyển giao hồ sơ vụ việc cú dấu hiệu tội

phạm cho cơ quan chức năng xử lý

Chương II Phương hướng, nội dung và các giải pháp hoàn thiện cơ chế

và phương thức chuyển giao hồ sơ cuộc kiểm toỏn cú dấu hiệu tội

phạm cho cơ quan chức năng xử lý

2.1 Phương hướng hoàn thiện cơ chế và phương thức chuyển

giao hồ sơ cuộc kiểm toỏn cú dấu hiệu tội phạm cho cơ quan chức

năng xử lý

2.1.1 Xác định rõ vai trũ, trách nhiệm của KTNN trong đấu

tranh phũng, chống tham nhũng

2.1.2 Tăng cường phối hợp với cỏc cơ quan chức năng trong

việc xử lý hành vi tham nhũng được phát hiện thụng qua hoạt động

kiểm toỏn

2.1.3 Trong quỏ trỡnh phối hợp cần cú sự phõn định rừ chức

năng giữa KTNN – cơ quan cung cấp thụng tin về vụ việc cú dấu hiệu

tội phạm với cơ quan điều tra – cơ quan tiếp nhận thụng tin và cú trỏch

nhiệm chứng minh tội phạm

Trang 4

2.2 Nội dung hoàn thiện cơ chế chuyển giao hồ sơ kiến nghị

xử lý hỡnh sự

2.2.1 Nội dung hoàn thiện cơ chế chuyển giao hồ sơ kiến nghị

xử lý hỡnh sự

2.2.1.1 Hoàn thiện về phỏp luật

2.2.1.2 Kiện toàn tổ chức bộ mỏy giỳp Tổng Kiểm toỏn Nhà

nước tổ chức thực hiện tốt việc chuyển giao hồ sơ vụ việc cú dấu hiệu

tội phạm cho cơ quan điều tra xử lý

2.2.1.3 Xỏc định rừ trỏch nhiệm của Kiểm toỏn viờn, Tổ kiểm

toan, Đoàn kiểm toỏn, Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành, khu vực,

các vụ chức năng trong việc phát hiện hành vi tham nhũng và kiến nghị

chuyển giao hồ sơ vụ việc cú dấu hiệu tội phạm cho cơ quan điều tra

xử lý

3.2 Hoàn thiện phương thức chuyển giao hồ sơ cuộc kiểm

toỏn cú dấu hiệu tội phạm cho cơ quan điều tra xử lý

3.2.1 Lập hồ sơ cuộc kiểm toỏn cú dấu hiệu tội phạm để chuyển

giao cho cơ quan điều tra xử lý

3.2.2 Thủ tục giao nhận hồ sơ

3.3 Giải phỏp hoàn thiện cơ chế và phương thức chuyển

giao hồ sơ vụ việc cú dấu hiệu tội phạm cho cơ quan chức năng xử

3.3.1 Tổ chức tập huấn chuyờn sõu về Luật kiểm toỏn nhà nước,

Luật phũng, chống tham nhũng và cỏc văn bản phỏp luật cú liờn quan

cho đội ngũ cỏn bộ, cụng chức Kiểm toỏn Nhà nước

3.3.2 Thụng qua kiểm toỏn phỏt hiện kịp thời và kiên quyết kiến

nghị xử lý cỏc hành vi vi phạm phỏp luật, tham nhũng, lãng phí

3.3.3 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng kiểm

toán và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên

Trang 5

3.3.4 Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ bảo

đảm cho Vô Ph¸p chÕ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

3.3.5 Xây dựng văn bản pháp luật liên tịch phối hợp giữa

KTNN với các cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý

các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do KTNN phát hiện và kiến nghị xử

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kiểm toán Nhà nước (KTNN) với vị thế cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, cú vai trũ và trỏch nhiệm

to lớn trong đấu tranh phũng, chống tội phạm, mà trực tiếp là tội phạm tham nhũng Vai trò và trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nước nói chung và trong phòng, chống tham nhũng nói riêng trước hết được khẳng định tại Điều 3 Luật

kiểm toán nhà nước quy định về mục đích kiểm toán: “Hoạt động kiểm toán nhà

nước phục vụ việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân

sách, tiền và tài sản nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước”; khoản 10 Điều 15:

“Chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra và các cơ quan khác của Nhà nước có thẩm

quyền kiểm tra, xử lý những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân đã được phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán” Đặc biệt, Luật

phòng, chống tham nhũng được Quốc hội khoỏ XI, kỳ họp thứ 8 thụng qua và cú hiệu lực từ ngày 01/6/2006 đó xếp Kiểm toán Nhà nước vào nhóm các cơ quan trực tiếp có trách nhiệm phát hiện và phối hợp xử lý tham nhũng bao gồm: cơ quan Thanh tra nhà nước, cơ quan Điều tra, Kiểm toán Nhà nước, Viện kiểm sát, Toà án

Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, KTNN không có chức năng điều tra, xử lý hành vi phạm tội, do vậy, trong quá trình thực hiện kiểm toán khi phát hiện các vụ việc có dấu hiệu tội phạm, KTNN phải chuyển hồ sơ vụ việc đó cho cơ quan chức năng có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự Trong những năm qua, qua thực tiễn hoạt động của mình KTNN đã chuyển một số hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm mà cụ thể là tội phạm tham nhũng, làm thất thoát tiền và tài sản nhà nước cho cơ quan chức năng để xử lý theo pháp luật Song, việc chuyển giao hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm để xử

lý theo quy định của pháp luật chưa có một cơ chế và phương thức rõ ràng, cụ thể; chưa có sự phối hợp nhịp nhàng giữa KTNN với các cơ quan chức năng, nên

Trang 7

việc chuyển giao hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm để xử lý theo pháp luật còn

có nhiều bất cập, cần phải làm sáng tỏ về cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan này, nhằm khai thác một cách hiệu quả nhất các bằng chứng kiểm toán về vụ việc có dấu hiệu tội phạm đã được phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán, góp phần phòng, chống tham nhũng tích cực và hiệu quả Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa và giá trị thực tiễn cao,

đáp ứng đòi hỏi cấp thiết hiện nay trong hoạt động KTNN

2 Mục đớch nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài gồm:

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về tội phạm, đặc biệt là tội phạm tham nhũng; vai trò và trách nhiệm của KTNN, của các cơ quan chức năng trong phát hiện, điều tra, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm được phát hiện qua hoạt

động kiểm toán; những quy định của pháp luật về việc chuyển giao hồ sơ vụ việc

có dấu hiệu tội phạm cho các cơ quan chức năng xử lý

- Đánh giá thực trạng thực hiện cơ chế và phương thức chuyển giao hồ sơ

vụ việc có dấu hiệu tội phạm cho các cơ quan chức năng xử lý;

- Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện cơ chế và phương thức chuyển giao hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan chức năng xử lý

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc lập và chuyển giao hồ sơ vụ việc

có dấu hiệu tội phạm cho các cơ quan chức năng xử lý

- Phạm vi đề tài nghiên cứu cơ chế và phương thức chuyển giao hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm, chủ yếu là tham nhũng phát hiện trong hoạt động kiểm toán của KTNN cho các cơ quan chức năng xử lý

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, khảo sát, thống kê, hệ thống hoá…

Trang 8

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày thành 2 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện cơ chế và phương thức chuyển giao hồ sơ vụ việc cú dấu hiệu tội phạm cho cơ quan chức năng xử lý

Chương II: Phương hướng, nội dung và các giải pháp hoàn thiện cơ chế và phương thức chuyển giao hồ sơ cuộc kiểm toỏn cú dấu hiệu tội phạm cho cơ quan chức năng xử lý

Trang 9

Chương I

CƠ SỞ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CƠ CHẾ VÀ PHƯƠNG THỨC CHUYỂN GIAO

HỒ SƠ CUỘC KIỂM TOÁN Cể DẤU HIỆU TỘI PHẠM

CHO CƠ QUAN CHỨC NĂNG XỬ Lí

1.1 Đặc điểm tội phạm phát hiện trong hoạt động kiểm toán và vai trò của Kiểm toỏn Nhà nước, của các cơ quan chức năng trong phát hiện,

điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm đ−ợc phát hiện qua hoạt

động kiểm toán

1.1.1 Khỏi niệm tội phạm và các dấu hiệu của tội phạm

1.1.1.1 Khỏi niệm tội phạm

Theo quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1999: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xó hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người cú năng lực trỏch nhiệm hỡnh sự thực hiện một cỏch cố ý hoặc vụ ý, xõm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lónh thổ

Tổ quốc, xõm phạm chế độ chớnh trị, chế độ kinh tế, nền văn hoỏ, quốc phũng,

an ninh, trật tự an toàn xó hội, quyền, lợi ớch hợp phỏp của tổ chức, xõm phạm tớnh mạng, sức khoẻ, danh dự, nhõn phẩm, tự do, tài sản, cỏc quyền, lợi ớch hợp phỏp khỏc của cụng dõn, xõm phạm những lĩnh vực khỏc của trật tự phỏp luật XHCN”

Định nghĩa tội phạm trờn đõy là định nghĩa cú tớnh khoa học thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm Định nghĩa này khụng những là cơ sở cho việc nhận thức đỳng đắn về tội phạm mà cũn là cơ sở để ỏp dụng đỳng đắn những điều luật quy định về từng tội phạm cụ thể

1.1.1.2 Cỏc dấu hiệu của tội phạm

Dấu hiệu của tội phạm là những quy định của phỏp luật nhằm để phõn biệt giữa hành vi bị coi là tội phạm với những hành vi khụng phải là tội phạm Theo luật hỡnh sự Việt Nam, hành vi bị coi là tội phạm cú bốn dấu hiệu là:

- Tớnh nguy hiểm cho xó hội;

Trang 10

- Tính có lỗi;

- Tính trái pháp luật hình sự;

- Tính phải chịu hình phạt

Trong bốn dấu hiệu trên, dấu hiệu thứ nhất và dấu hiệu thứ hai là dấu hiệu

về nội dung, dấu hiệu thứ ba là dấu hiệu về hình thức pháp lý và dấu hiệu thứ tư

là dấu hiệu về hậu quả pháp lý

a Tính nguy hiểm cho xã hội

Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm Hành vi nào đó sở dĩ bị quy định trong luật hình sự là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự vì nó có tính nguy hiểm cho xã hội

Nguy hiểm cho xã hội, về khách quan có nghĩa là gây ra hoặc đe doạ gây

ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Đó là những quan hệ xã hội có tính tương đối quan trọng hoặc quan trọng và khi bị xâm hại có thể gây ra những thiệt hại hoặc những ảnh hưởng đáng kể cho điều kiện tồn tại và phát triển của chế độ XHCN Điều 8 Bé luËt h×nh sù Việt nam đã xác định những quan hệ xã hội đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khoẻ, tự do, danh dự, nhân phẩm, sở hữu, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân

Những hành vi bị coi là tội phạm, theo luật hình sự Việt nam, phải là những hành vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội là dấu hiệu của tội phạm cho phép làm sáng rõ tính giai cấp trong quan niệm về tội phạm và qua đó cũng cho phép khẳng định thêm tính giai cấp của luật hình sự nói riêng cũng như của pháp luật nói chung

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm không những là căn cứ để phân biệt hành vi là tội phạm với những hành vi vi phạm khác mà còn là cơ sở để đánh giá mức độ nghiêm trọng nhiều hay ít của hành vi phạm tội và qua đó giúp cho việc cá thể hoá trách nhiệm hình sự được chính xác

Trang 11

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà làm luật Với ý nghĩa là thuộc tính khách quan của tội phạm, tính nguy hiểm cho xã hội hoàn toàn có thể được con người nhận thức và nhận thức đúng Do vậy, khi khẳng định hành vi nhất định là hành

vi nguy hiểm cho xã hội thì không có nghĩa đó là sự áp đặt theo ý muốn chủ quan của con người mà đó chỉ là sự xác nhận thực tế khách nhau của hành vi hoặc có liên quan đến hành vi Những tình tiết đó, trước hết phải kể đến là:

- Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại;

- Tính chất của hành vi khách quan, trong đó bao gồm cả tính chất của phương pháp, thủ đoạn, của công cụ và phương tiện phạm tội;

- Mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe doạ gây ra cho quan hệ xã hội bị xâm hại;

- Tính chất và mức độ lỗi;

- Động cơ, mục đích của người có hành vi phạm tội;

- Hoàn cảnh chính trị - xã hội lúc và nơi hành vi phạm tội xảy ra;

- Nhân thân của người có hành vi phạm tội;

- Những tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự khác Những tình tiết trên đây không những có ý nghĩa đối với người áp dụng luật hình sự mà trước hết nó là cơ sở để các nhà làm luật xác định những hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội và cấu thành tội phạm để quy định trong Bộ luật hình sự

có đủ điều kiện quyết định thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội

Xử sự của người bình thường bao giờ cũng là sự thống nhất của các yếu

tố khách quan và chủ quan Hai mặt khách quan và chủ quan của tội phạm có liên hệ chặt chẽ với nhau Không thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không

Trang 12

có lỗi của người phạm tội Chính vì tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã bao gồm cả tính có lỗi cho nên có ý kiến cho rằng không thể coi tính có lỗi là dấu hiệu độc lập với dấu hiệu nguy hiểm cho xã hội

Trong Bé luËt h×nh sù Việt nam, tính có lỗi được nêu trong định nghĩa về tội phạm là dấu hiệu độc lập với tính nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải để tách tính có lỗi ra khỏi tính nguy hiểm cho xã hội mà để nhấn mạnh tính chất quan trọng của tính có lỗi Luật hình sự Việt nam không chấp nhận việc quy tội khách quan, nghĩa là quy trách nhiệm hình sự cho người chỉ căn cứ vào việc người đó đã thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà không căn cứ vào lỗi của họ Chúng ta áp dụng hình phạt không phải để trừng trị hành vi mà để trừng trị người đã thực hiện tội phạm nhằm cải tạo, giáo dục họ Mục đích giáo dục, cải tạo này chỉ có thể đạt được nếu hình phạt được áp dụng cho người có lỗi Đối với người không có lỗi, hình phạt không thể phát huy được tác dụng giáo dục, cải tạo

c Tính trái pháp luật hình sự

Theo Điều 8 Bé luËt h×nh sù của nươc Cộng hoà XHCN Việt Nam, hành

vi nguy hiểm cho xã hội chỉ có thể bị coi là tội phạm nếu “… được quy định trong Bộ luật hình sự…” Như vậy, tính được quy định trong luật hình sự hay tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu đòi hỏi phải có ở hành vi bị coi là tội phạm Việc quy định này là sự thừa nhận nguyên tắc đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc: “không ai bị kết án

vì một hành vi mà lúc họ thực hiện luật pháp quốc gia hay quốc tế không coi là tội phạm” (khoản 2 Điều 1) Trong sự thống nhất với việc xóa bỏ nguyên tắc tương tự và cấm hồi tố, việc khẳng định tính trái pháp luật hình sự của tội phạm

là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế XHCN

Trong Bé luËt h×nh sù, tính trái pháp luật hình sự không những chỉ được thể hiện ở Điều 8 mà còn được thể hiện ở Điều 2 và Điều 7 Điều 2 Bé luËt h×nh

sù quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bé luËt h×nh sù quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự ” Khoản 2 Điều 7 quy định: “Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc

Trang 13

hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm tình phạt, xoá án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật

đó có hiệu lực thi hành”

Việc quy định tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu của tội phạm không những là cơ sở đảm bảo cho đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất, bảo đảm cho quyền dân chủ của công dân không bị những hành vi

xử lý tuỳ tiện vi phạm mà còn là động lực thúc đẩy cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung, sửa đổi luật theo sát sự thay đổi của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Tinh trái pháp luật hình sự tuy chỉ là dấu hiệu về mặt hình thức pháp lý, phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội, nhưng nếu coi nhẹ nó sẽ dẫn đến tình trạng tuỳ tiện trong việc xác định tội phạm, việc xác định tội danh và quyết định mức độ

xử lý sẽ không được thống nhất Nhưng ngược lại, nếu quá coi trọng tính trái pháp luật hình sự sẽ dẫn đến tình trạng xác định tội phạm một cách hình thức, máy móc Nhằm tránh những trường hợp như vậy, khoản 4 Điều 8 Bé luËt h×nh

sù đã quy định: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm….”

Luật hình sự Việt nam coi tính trái pháp luật hính sự là dấu hiệu của tội phạm nhưng không phải là dấu hiệu duy nhất mà chỉ là dấu hiệu biểu hiện mặt hình thức pháp lý của dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội - dấu hiệu cơ bản của tội phạm Hai dấu hiệu – tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự

có quan hệ biện chứng của mối quan hệ giữa nội dung và hình thức Tính trái pháp luật hình sự tuy có tính độc lập tương đối nhưng vẫn là dấu hiệu được xác định bởi dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội Chỉ trên cơ sở thừa nhận tính nguy hiểm cho xã hội, kết hợp tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự mới có thể nhận thức được tính trái pháp luật hình sự một cách đầy đủ

d Tính phải chịu hình phạt

Tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu của tội phạm nhưng không phải là thuộc tính bên trong của tội phạm như hai dấu hiệu trên Do vật, Điều 8 Bé luËt h×nh sù của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam không đề cập dấu hiệu này trong

Trang 14

định nghĩa tội phạm Hành vi bị coi là tội phạm vì về nội dung, nó có tính nguy hiểm cho xã hội và về hình thức, có tính trái pháp luật hình sự chứ không phải vì

nó có tính chịu hình phạt Ngược lại, hành vi sở dĩ có tính chịu hình phạt, vì là tội phạm – vì nguy hiểm cho xã hội và trái pháp luật hình sự Như vậy, tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu kèm theo của tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự Tính chất này không những chỉ thể hiện ở chỗ chỉ hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt trong từng trường hợp phạm tội cụ thể Tính nguy hiểm cho xã hội vừa là cơ sở của việc phân hoá tính chịu hình phạt trong luật vừa là cơ sở để cá thể hoá hình phạt trong thực tiễn áp dụng luật hình sự Tính chịu hình phạt được coi là dấu hiệu của tội phạm vì nó được xác định bởi chính những thuộc tính khách quan bên trong của tội phạm Chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu biện pháp trách nhiệm là hình phạt; không có tội phạm thì cũng không có hình phạt

Nói tội phạm có tính chịu hình phạt có nghĩa là bất cứ hành vi phạm tội nào, do tính nguy hiểm cho xã hội cũng đều bị đe dọa phải chịu hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước có tính nghiêm khắc nhất trong hệ thông những biện pháp cưỡng chế nhà nước Nhưng điều đó không có nghĩa là việc áp dụng và thi hành trong thực tế hình phạt cụ thể là có tính chất bắt buộc tuyệt đối cho mọi trường hợp phạm tội Trong thực tế vẫn có trường hợp người phạm tội không phải chịu hình phạt Đó là những trường hợp có tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự, được miễn hình phạt hoặc được miễn chấp hành hình phạt

Vì có những trường hợp như vậy nên có ý kiến cho rằng không nên coi tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu của tội phạm Quan niệm như vậy là không thấy được mối liên hệ giữa tội phạm và hình phạt Trong các hành vi của con người, chỉ có tội phạm là hành vi có thể áp dụng hình phạt Có thể có tội mà không phải chịu hình phạt nhưng không thể áp dụng hình phạt khi không có tội Nếu không coi tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu của tội phạm thì sẽ không thấy được hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất luôn gắn liền với tội phạm và chỉ có thể áp dụng đối với người có hành vi phạm tội Trong những trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, được miễn hình phạt hoặc được

Trang 15

miễn chấp hành hỡnh phạt, người phạm tội tuy khụng phải chịu hỡnh phạt nhưng khụng cú nghĩa tội phạm mà họ thực hiện khụng cú tớnh chịu hỡnh phạt mà trỏi lại, khả năng đe doạ phải chịu hỡnh phạt vẫn cú Người phạm tội khụng phải chịu hỡnh phạt vỡ đó được miễn với những lý do khỏc nhau Đú là những lý do đó được quy định trong cỏc điều 25, 54, 57 và 60 của Bộ luật hình sự

Như vậy, núi tội phạm cú tớnh chịu hỡnh phạt cú nghĩa là bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều bị đe dọa cú thể phải chịu biện phỏp cưỡng chế nhà nước nghiờm khắc nhất là hỡnh phạt

1.1.2 Đặc điểm của tội phạm được phát hiện trong hoạt động kiểm toán của KTNN

Hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước là việc kiểm tra, đánh giá

và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp

luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và

tài sản nhà nước Hoạt động kiểm toán nhà nước cú mục đớch phục vụ việc kiểm

tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước Đối tượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước là hoạt động có liên quan đến quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước của các đơn vị được kiểm toán Theo quy định tại Điều 63 của Luật KTNN, các

đơn vị được kiểm toán bao gồm:

1 Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan khác ở trung ương

2 Cơ quan được giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước các cấp

3 Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan khác ở địa phương

4 Đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân

5 Đơn vị quản lý quỹ dự trữ của Nhà nước, quỹ dự trữ của các ngành, các cấp, quỹ tài chính khác của Nhà nước

Trang 16

6 Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước

7 Đơn vị sự nghiệp được ngân sách nhà nước bảo đảm một phần hoặc toàn bộ kinh phí

8 Tổ chức quản lý tài sản quốc gia

9 Ban Quản lý dự án đầu tư có nguồn kinh phí ngân sách nhà nước hoặc

Như vậy, đơn vị được kiểm toán là các cơ quan, đơn vị, tổ chức có quản lý,

sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước Từ thực tiễn kiểm toán những năm qua cho thấy còn nhiều sai phạm trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước Tính đến hết năm 2006, KTNN đã kiến nghị tăng thu, giảm chi, ghi thu- ghi chi quản lý qua ngân sách nhà nước, xử lý các khoản tạm thu, tạm giữ, với tổng số tiền hơn 25.297,5 tỉ đồng; trong đó: tăng thu thuế và các khoản thu khác trên 7.925,9 tỉ đồng; giảm chi ngân sách nhà nước trên 3.861,5 tỉ đồng; kiến nghị ghi thu - ghi chi quản lý qua ngân sách nhà nước trên 7.568,6 tỉ đồng;

xử lý các khoản tạm thu, tạm giữ, nợ đọng thuế trên 3.187,7 tỉ đồng; cho vay tạm ứng không đúng quy định, sai phạm khác… trên 2.753,8 tỉ đồng Chỉ tính riêng kết quả kiểm toán năm 2006, KTNN đó phỏt hiện và kiến nghị xử lý tài chớnh hơn 7.600 tỉ đồng, trong đú: số kiến nghị tăng thu ngõn sỏch gần 1.900 tỉ đồng gồm cỏc loại thuế, cỏc loại phớ, lệ phớ và thu khỏc Nguyờn nhõn: doanh nghiệp

Trang 17

hạch toán, kê khai báo cáo tài chính không trung thực, có cả sai sót, gian lận (tức sai sót cố ý), hạch toán vào giá thành cả chi phí không hợp lý, hợp lệ hoặc do sai thuế suất Cũng có tồn tại ở khâu kiểm tra thuế bước một, hoặc do phạm vi kiểm tra thuế không thể bao quát hết Nếu số tiền gần 1.900 tỉ đồng này không bị phát hiện, rất có thể ngân sách bị thất thu Phần chi ngân sách có gần 1.340 tỉ đồng phải giảm, tức chiếm 20% so với tổng số trên 7.600 tỉ đồng phải xử lý tài chính 1.340 tỉ đồng phải giảm chi ngân sách có nhiều loại khác nhau:

Loại “giảm trừ dự toán, giảm thanh toán” chiếm gần 247 tỉ đồng Đây là

tiền các đơn vị đã tính toán sai số lượng chi, sai số tiền phải thanh toán cho nhà thầu nhưng chưa trả, Kiểm toán Nhà nước phát hiện, kiến nghị phải giảm trừ dự toán và giảm thanh toán; nếu thực hiện đúng kiến nghị thì ngân sách không bị mất đi

Loại hai là “quyết toán sai niên độ”, tức là chi rồi, có thể chi đúng nhưng

lại hạch toán vào niên độ không phù hợp qui định Khoản này chiếm gần 206 tỉ đồng

Loại thứ ba là “địa phương bố trí hoàn vốn” Tức sử dụng vốn, kinh phí

sai mục đích, dùng tiền của việc A chi cho việc B nên phải bố trí nguồn vốn hợp pháp khác của đơn vị để hoàn trả, đảm bảo sử dụng đúng qui định Khoản này chiếm gần 140 tỉ đồng

Loại thứ tư “giảm chi khác” chiếm 550 tỉ đồng Ở đây có cả sai phạm và

cả do cơ chế, qui định bất cập, như chi vượt tổng mức đầu tư, chi ngoài dự toán

Loại cuối cùng và đáng quan tâm nhất là “sai chế độ, phải thu hồi nộp

ngân sách” Khoản này là 140 tỉ đồng, trong đó có cả chi thường xuyên và chi

xây dựng cơ bản Sau khoản thu, khoản chi là khoản phải ghi thu - ghi chi quản

lý qua ngân sách nhà nước, đã thu rồi nhưng “cất giữ” không đúng qui định gồm 1.350 tỉ đồng Đó là học phí, viện phí, phí giao thông , các lệ phí đã thu nhưng

Trang 18

chưa được nộp vào kho bạc Thờm gần 300 tỉ đồng là cỏc khoản tiền tạm giữ do thu nộp phạt, chống buụn lậu hiện đang để tại kho bạc nhưng chưa được xử lý theo đỳng qui định

Phần cuối cựng của hơn 7.600 tỉ đồng là tiền nhà nước đó bị cho vay, cho tạm ứng sai qui định, đến cuối năm vẫn chưa thu hồi được chiếm 1.570 tỉ đồng cựng một số sai phạm khỏc chiếm hơn 1.100 tỉ đồng

Tuy nhiên, trong các hành vi vi phạm nêu trên thì chỉ những hành vi vi phạm nghiêm trọng đã được Bộ luật hình sự của nước ta quy định là tội phạm do những người có trách nhiệm trong các đơn vị được kiểm toán thực hiện mới được xem xét để xử lý về hình sự Theo quy định của Bộ luật hình sự, nhóm tội phạm

do các chủ thể có chức vụ, quyền hạn thực hiện này được gọi là tội phạm về chức

vụ, quyền hạn, bao gồm 2 nhóm là: tội phạm về chức vụ và tội phạm về tham nhũng, trong đó nhóm tội phạm được phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán chủ yếu là tội phạm tham nhũng

Về khỏi niệm tham nhũng: Khoản 2, Điều 1 Luật phũng, chống tham

nhũng quy định: “Tham nhũng là hành vi của người cú chức vụ, quyền hạn đó lợi dụng chức vụ, quyền hạn đú vỡ vụ lợi” Theo đú, hành vi tham nhũng gồm cú

ba yếu tố là: yếu tố chức vụ, quyền hạn; yếu tố lợi dụng chức vụ, quyền hạn đú

và yếu tố vụ lợi Thiếu một trong cỏc yếu tố trờn thỡ khụng là hành vi tham nhũng mà cú thể là vi phạm phỏp luật khỏc

Như vậy, tham nhũng được mô tả dưới dạng hành vi, bao gồm ba yếu tố:

Thứ nhất, hành vi này được thực hiện bởi một đối tượng đặc biệt là người

có chức vụ, quyền hạn;

Thứ hai, người có chức vụ, quyền hạn đã có sự lợi dụng chức vụ, quyền

hạn đó khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao;

Thứ ba, hành vi này thực hiện với mục đích vì vụ lợi Yếu tố vụ được hiểu

không chỉ là vụ lợi cho cá nhân mình mà còn có thể là vụ lợi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình hoặc tổ chức, cá nhân khác Lợi ích được hướng

Trang 19

tới ở đây không chỉ là lợi ích về vật chất mà có thể là cả lợi ích về tinh thần Lợi ích đó có thể trực tiếp hoặc gián tiếp

Được coi là hành vi tham nhũng nếu có đủ cả 3 yếu tố, nếu thiếu một trong các yếu tố đó thì vẫn không là tham nhũng, nhưng có thể là một hành vi vi phạm pháp luật khác (chẳng hạn: hành vi cố ý làm trái, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

Từ khái niệm tham nhũng nêu trên, chỳng ta có thể thấy các tội phạm tham nhũng có các đặc điểm sau đây:

1.1.2.1 Về chủ thể

Chủ thể của tội phạm tham nhũng phải là người có chức vụ, quyền hạn Những đối tượng được coi là người có chức vụ, quyền hạn đã được quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật phòng, chống tham nhũng bao gồm:

a) Cán bộ, công chức, viên chức;

b) Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sĩ quanm hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;

c) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước, cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp

d) Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó

Như vậy, có bốn nhóm đối tượng được coi là người có chức vụ, quyền hạn Nhóm thứ nhất là cán bộ, công chức, viên chức được quy định cụ thể trong Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000, năm 2003)

Đây là nhóm đối tượng chủ yếu, chiếm tỷ lệ lớn về số lượng trong số người có chức vụ, quyền hạn thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật phòng, chông tham nhũng Đồng thời, cán bộ, công chức, viên chức cũng là nhóm đối tượng thường nắm giữ những vị trí, công việc liên quan đến vốn, tài sản nhà nước hoặc tiếp xỳc trực tiếp, giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp có nhiều cơ hội để thực hiện hành vi tham nhũng nên cần được thể chế hoá và giám sát chặt chẽ để giảm thiểu nguy cơ tham nhũng

Trang 20

Những người có chức vụ, quyền hạn nêu tại Điểu b) là nhóm đối tượng có

địa vị pháp lý tương đối đặc thù, thuộc các lực lương vũ trang nhân dân và được quy định cụ thể tại Luật Quốc phòng và Luật Công an nhân dân

Nhóm đối tượng thứ ba nêu tại Điểm c) có thể được chia thành 2 loại: thứ nhất, những cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; thứ hai, cán bộ, lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp

Những người có chức vụ, quyền hạn quy định tại điểm d) cũng đã được quy định là người có chức vụ, quyền hạn tại Phần các tội phạm về chức vụ, Bộ luật Hình sự Theo đó, bên cạnh đối tượng là cán bộ, công chức nhà nước, những người tuy không phải là cán bộ, công chức nhưng được giao nhiệm vụ, công vụ

và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó cũng được coi là người có chức vụ, quyền hạn và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật phòng, chông tham nhũng

3.Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

4 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì

vụ lợi

5 Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

6 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi

7 Giả mạo trong công tác vì vụ lợi

8 Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi

9 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì

vụ lợi

10 Nhũng nhiều vì vụ lợi

Trang 21

11 Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

12 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi

Như vậy, so với những hành vi tham nhũng tại Pháp lệnh chống tham nhũng và các tội phạm về tham nhũng trong Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Luật phòng, chống tham nhũng có bổ sung 5 hành vi tham nhũng mới Đây là những hành vi xuất hiện ngày càng phổ biến trong thời gian gần đây Việc quy định thêm 5 loại hình mới này là cần thiết và là cơ sở pháp lý để đấu tranh với những biểu hiện ngày càng phức tạp của tham nhũng Tuy nhiên, không phải là mọi hành vi tham nhũng đều bị xử lý về hình sự mà chỉ những hành vi hội đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm quy định trong Bộ luật Hình sự thì mới được xác định là tội phạm và bị xử lý bằng biện pháp hình sự (các hành vi được quy định từ khoản

1 đến khoản 7 Điều 3 của Luật) còn những hành vi khác (từ khoản 8 đến khoản

12, Điều 3 của Luật) được xác định là hành vi tham nhũng nhưng chưa cấu thành tội phạm thì được xử lý bằng biện pháp kỷ luật

1.1.2.3 Về khách thể

Khách thể của loại tội phạm này là hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội Mỗi cơ quan Nhà nước, mỗi tổ chức xã hội hoạt động trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ do nhà nước quy định trong các văn bản pháp luật Thông qua việc quy định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước,

tổ chức xã hội, pháp luật của Nhà nước ta bảo đảm hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước và các tổ chức xã hội Vì vậy, hoạt động đúng đắn cần hiểu là hoạt

động theo đúng quy định của pháp luật Mọi hành vi xâm phạm hoạt động đúng

đắn đó đều có thể gây ra những thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc lợi ích hợp pháp của công dân Đặc biệt trong tình hình hiện nay tham nhũng đã trở thành “quốc nạn”; tình hình tham nhũng diễn ra rất phức tạp, ở nhiều lĩnh vực và có xu hướng tăng về quy mô, tính chất ngày càng nghiêm trọng Tội phạm tham nhũng không chỉ xâm phạm nghiêm trọng hoạt động đúng

đắn của bộ máy Nhà nước mà còn làm ảnh hưởng đến uy tín của bộ máy nhà nước, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu

Trang 22

quả quản lý của Nhà nước Chớnh vỡ vậy, một trong những nhiệm vụ cấp bỏch

mà Đảng, Nhà nước ta đề ra trong tỡnh hỡnh hiện nay là phải kiờn quyết đấu tranh ngăn chặn và từng bước đẩy lựi tệ tham nhũng Xử lý nghiờm minh, kịp thời, cụng khai cỏn bộ, cụng chức tham nhũng, khụng phõn biệt chức vụ và địa

vị xó hội cũn đương chức hay đó nghỉ việc Thiết lập cơ chế khuyến khớch, bảo

vệ quyền và lợi ớch hợp phỏp của những người phỏt hiện và đấu tranh chống tham nhũng; đồng thời xử lý nghiờm minh những người bao che tham nhũng, ngăn cản việc chống tham nhũng

Ngoài cỏc tội phạm về tham nhũng nờu trờn, trong hoạt động kiểm toỏn cũn phỏt hiện hành vi cú dấu hiệu của một số tội được quy định tại Chương XVI

Bộ Luật hỡnh sự năm 1999 về cỏc tội xõm phạm trật tự quản lý kinh tế mà chủ thể thực hiện hành vi phạm tội khụng phải là người cú chức vụ, quyền hạn, như: hành vi trốn thuế phỏt hiện thụng qua đối chiếu kờ khai, hoàn thuế của cỏc doanh nghiệp ngoài quốc doanh; phỏt hiện gian lận trong thực hiện, quyết toỏn cụng trỡnh xõy dựng của nhà thầu

1.1.3 Trỏch nhiệm của Kiểm toỏn Nhà nước, của các cơ quan chức năng trong phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm được phát hiện qua hoạt động kiểm toán

Trước khi có Luật phòng, chống tham nhũng, trỏch nhiệm của Kiểm toỏn Nhà nước, của các cơ quan chức năng trong phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc

có dấu hiệu tội phạm được phát hiện qua hoạt động kiểm toán chưa được quy

định cụ thể Luật phòng, chống tham nhũng được ban hành đã có nhiều quy định nhằm tăng cường trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, điều tra, viện kiểm sát, toà án trong phòng, chống tham nhũng, cụ thể như sau:

“Cơ quan thanh tra, Kiểm toỏn Nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với nhau

và phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan trong việc phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng và phải chịu trách nhiệm trước

Trang 23

pháp luật về kết luận, quyết định của mình trong quá trình thanh tra, kiểm toán,

điều tra, truy tố, xét xử vụ việc tham nhũng

Cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện, cộng tác với cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong việc phát hiện , xử lý người có hành vi tham nhũng” Trong đú, trỏch nhiệm của từng cơ quan trong đấu tranh phũng, chống tham nhũng được quy định cụ thể như sau:

1.1.3.1 Trỏch nhiệm của Kiểm toỏn Nhà nước

Kiểm toán Nhà nước với vị thế cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, được Luật phòng, chống tham nhũng xếp vào nhóm các cơ quan trực tiếp có trách nhiệm phát hiện và phối hợp

xử lý tham nhũng, bao gồm: cơ quan thanh tra nhà nước, cơ quan điều tra, Kiểm toán Nhà nước, viện kiểm sát, toà án; đồng thời, quy định cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm trong phòng, chống tham những Những quy định về trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nước trong Luật phòng, chống tham nhũng về cơ bản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán Nhà nước và thống nhất với các quy

định của Luật kiểm toán nhà nước được thông tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá

XI

Vai trò và trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nước nói chung và trong phòng, chống tham nhũng nói riêng trước hết được khẳng định tại Điều 3 Luật kiểm toán nhà nước quy định về mục đích kiểm toán; đồng thời, được quy định khá đầy đủ trong Luật thông qua các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm toán Nhà nước, nhất là những nội dung mới như: Kiểm toán Nhà nước tự quyết định kế hoạch kiểm toán hàng năm và báo cáo với Quốc hội, Chính phủ trước khi thực hiện; trình ý kiến của Kiểm toán Nhà nước để Quốc hội xem xét, quyết định dự toán ngân sách nhà nước, quyết định phân bổ ngân sách trung ương, quyết định dự án, công trình quan trọng quốc gia; tham gia với các cơ quan của Chính phủ, của Quốc hội khi có yêu cầu trong việc xây dựng và thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh; tổ chức công bố công khai báo cáo kiểm toán; chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét xử lý những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân đã

Trang 24

được phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán; chỉ đạo và hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán nội bộ…(Điều 15, Điều 16)

Tuy nhiên, trong Luật phòng, chống tham nhũng trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng được quy định cụ thể, rõ ràng hơn phù hợp với phạm vi điều chỉnh của một đạo luật chuyên biệt và đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Điều 77 của Luật Phũng, chống tham nhũng quy định rõ trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nước như sau: Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Kiểm toán Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc kiểm toán nhằm phòng ngừa, phát hiện tham nhũng; trường hợp phát hiện hành vi tham nhũng thì

đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý

- Để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có cơ sở xử lý trách nhiệm của người

đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị: Kết luận thanh tra, kết luận kiểm toán, kết luận điều tra vụ việc, vụ án tham nhũng phải nêu rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng theo các mức độ sau đây:

+ Yếu kém về năng lực quản lý;

+ Thiếu trách nhiệm trong quản lý;

+ Bao che cho người có hành vi tham nhũng (khoản 4 Điều 55)

- Cơ quan thanh tra, Kiểm toỏn Nhà nước, điều tra, Viện kiểm sỏt, Toà ỏn

cú trỏch nhiệm chủ động phỏt hiện hành vi tham nhũng, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị việc xử lý thụng qua hoạt động thanh tra, kiểm toỏn, điều tra, kiểm sỏt, xột xử theo quy định của phỏp luật và chịu trỏch nhiệm trước phỏp luật

về quyết định của mỡnh (Điều 62)

1.1.3.2 Trách nhiệm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động điều tra tội phạm về tham nhũng

Trang 25

1.1.3.3 Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động truy tố các tội phạm về tham nhũng; kiểm sát hoạt động điều tra, xét

xử, thi hành án đối với các tội phạm về tham nhũng

- Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm xét xử, hướng dẫn công tác xét

Luật phũng, chống tham nhũng quy định rất cụ thể và cú nhiều điểm tiến

bộ quan trọng về cơ chế phối hợp trong phũng, chống tham nhũng giữa cỏc cơ quan thanh tra nhà nước, Kiểm toỏn Nhà nước, điều tra, Viện kiểm sỏt, Toà ỏn Phõn định rừ ràng hoạt động phối hợp thành hai mảng là phối hợp chung nhằm phũng ngừa tham nhũng và phối hợp trong phỏt hiện, xử lý hành vi tham nhũng

cú dấu hiệu tội phạm:

- Hoạt động phối hợp chung chủ yếu là trao đổi thường xuyờn thụng tin và kinh nghiệm nhằm ngăn ngừa hiệu quả và cú thể dự bỏo, phỏt hiện kịp thời tham nhũng; hoạt động phối hợp này từ trước tới nay chưa được chỳ trọng đỳng mức;

để đảm bảo cỏc nội dung này được thực hiện nghiờm tỳc, Luật phũng, chống tham nhũng lần đầu tiờn quy định một cơ quan cú trỏch nhiệm chủ trỡ hoạt động phối hợp này, đú là Thanh tra Chớnh phủ;

- Hoạt động phối hợp trong phỏt hiện, xử lý hành vi vi phạm phỏp luật cú dấu hiệu tội phạm núi chung và tội phạm tham nhũng núi riờng được quy định khỏ chi tiết trong phỏp luật về tố tụng hỡnh sự; Luật phũng, chống tham nhũng quy định những trỏch nhiệm cơ bản của cơ quan thanh tra nhà nước, Kiểm toỏn Nhà nước, cơ quan điều tra, Viện kiểm sỏt trong chuyển hồ sơ, tiếp nhận và xử

lý hồ sơ được chuyển giao trong trường hợp phỏt hiện hành vi tham nhũng cú

Trang 26

dấu hiệu tội phạm Điều 81 của Luật quy định: Trong trường hợp cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước chuyển hồ sơ vụ việc tham nhũng cho Cơ quan điều tra thì Cơ quan điều tra phải tiếp nhận và giải quyết theo quy định của pháp luật về

tố tụng hình sự Trong trường hợp không đồng ý với với việc giải quyết của cơ quan điều tra thì cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước có quyền thông báo với Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan điều tra cấp trên Điều 82 quy định: Trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ việc tham nhũng cho Cơ quan điều tra thỡ cơ quan thanh tra, Kiểm toỏn Nhà nước cú trỏch nhiệm thụng bỏo cho Viện kiểm sỏt cựng cấp để thực hiện việc kiểm sỏt Trong trường hợp cơ quan thanh tra, Kiểm toỏn Nhà nước chuyển hồ sơ vụ việc tham nhũng cho Viện kiểm sỏt thỡ Viện kiểm sỏt phải xem xột, giải quyết và thụng bỏo kết quả giải quyết bằng văn bản cho cơ quan đó chuyển hồ sơ

1.2.2 Phương thức chuyển giao hồ sơ vụ việc cú dấu hiệu tội phạm cho cơ quan chức năng xử lý theo pháp luật

Phương thức chuyển giao hồ sơ là cỏch thức mà Kiểm toỏn Nhà nước sử dụng để chuyển tải những thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm mà Kiểm toỏn Nhà nước đã phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán cho cơ quan chức năng xử lý theo pháp luật

Các thông tin do Kiểm toỏn Nhà nước cung cấp phải bao gồm:

- Cơ quan, đơn vị, tổ chức để xảy ra hành vi có dấu hiệu tội phạm: tên gọi, Quyết định thành lập, địa điểm, chức năng, nhiệm vụ hoặc ngành nghề kinh doanh, ;

- Khái quát về công việc mà đơn vi được kiểm toán thực hiện, qua kiểm toán phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật, làm thất thoát tài sản nhà nước;

- Thông tin về các sai phạm chủ yếu

Luật phũng, chống tham nhũng và cỏc văn bản phỏp luật cú liờn quan chưa cú quy định cụ thể về hồ sơ cũng như phương thức chuyển giao hồ sơ vụ việc cú dấu hiệu tội phạm cho cơ quan chức năng xử lý theo pháp luật, do vậy, trong quá trình thực hiện cơ chế phối hợp còn gặp khăn, lúng túng

Trang 27

1.3 Thực trạng thực hiện cơ chế và phương thức chuyển giao hồ sơ

vụ việc cú dấu hiệu tội phạm cho cơ quan chức năng xử lý

1.3.1 Những kết quả đó đạt được trong việc thực hiện cơ chế và phương thức chuyển giao hồ sơ vụ việc cú dấu hiệu tội phạm cho cơ quan chức năng xử lý

Trong điều kiện thực hiện Luật Kiểm toán nhà nước và Luật Phòng, chống tham nhũng, vai trũ, trỏch nhiệm của Kiểm toỏn Nhà nước trong đấu tranh phũng, chống tham nhũng được nõng cao Kiểm toỏn Nhà nước đó kịp thời xõy dựng Chương trỡnh hành động phũng, chống tham nhũng của Kiểm toỏn Nhà nước, trong đú chỳ trọng cỏc biện phỏp phũng, chống tham nhũng trong hoạt động kiểm toỏn; tổ chức tập huấn Luật phũng, chống tham nhũng cho đội ngũ cỏn bộ, Kiểm toỏn viờn trong toàn ngành, nhằm nõng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ lónh đạo các cấp và của đội ngũ kiểm toán viên trong đấu tranh phũng, chống tham nhũng Kiểm toỏn Nhà nước đã có trách nhiệm hơn trong kiểm toán tuân thủ, xác định rõ sai phạm, địa chỉ sai phạm, chỉ rõ nguyên nhân và trách nhiệm của tập thể, cá nhân để xảy ra sai phạm, kiến nghị cụ thể với các cơ quan liên quan xử lý theo quy định của pháp luật Thực hiện quy định tại Khoản 10

Điều 15 Luật Kiểm toán nhà nước và Điều 77 Luật Phòng, chống tham nhũng, năm 2006, Kiểm toỏn Nhà nước, đã chuyển 02 hồ sơ cú dấu hiệu tụi phạm sang Cơ quan điều tra- Bộ Công an để điều tra và xử lý theo quy định của phỏp luật Trong đú:

- Một vụ xảy ra tại dự ỏn của Cụng ty Tư vấn xõy dựng cụng trỡnh đường thủy 1 (Tổng cụng ty Xõy dựng đường thủy) Sau khi nhận hồ sơ từ Kiểm toỏn Nhà nước chuyển sang, cơ quan điều tra đó làm rừ trong quỏ trỡnh thực hiện cỏc

dự ỏn, cỏc cỏ nhõn cú liờn quan đó múc nối, mua hoỏ đơn GTGT, lập hồ sơ chứng từ, thanh toỏn khống nguyờn vật liệu xõy dựng và đó khởi tố vụ ỏn, khởi

tố, bắt tạm giam 4 bị can về cỏc hành vi liờn quan tới tham nhũng

- Vụ cũn lại xảy ra tại dự ỏn sản xuất nhũ tương nhựa đường thuộc Khu quản lý đường bộ 7 (Cần Thơ) Kinh phớ đầu tư dự ỏn là 2,7 triệu USD, song sau

Ngày đăng: 15/04/2014, 15:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luật Kiểm toán nhà nước, ngày 14/6/2005 Khác
2. Luật Phòng chống, tham nhũng, ngày 29/11/2005 Khác
3. Bộ luật hình sư, ngày 21/12/1999 Khác
4. Bộ luật tố tụng hình sư, ngày 26/11/2003 Khác
5. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật của Bộ Tư pháp số tháng 3/2000 chuyên đề về Bộ luật hình sự năm 1999 Khác
6. Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 556/QĐ-KTNN ngày 11/7/2006 của Tổng Kiểm toán nhà nước Khác
7. Giáo trình Luật hỡnh sự/Tr−ờng Đại học luật Hà nội. -H. NXB CAND, 2001 Khác
9. Thông tư liên tịch số 2462/2007/TTLT-TTCP-VKSNDTC-TANDTC-KTNN-BQP-BCA quy định việc trao đổi, quản lý và sử dụng thông tin, dữ liệu về phòng, chống tham nhũng Khác
10. Báo cáo kết quả công tác phòng, chống tham nhũng năm 2007 của Kiểm toán Nhà nước Khác
11. Báo cáo tổng kết công tác năm 2007 và phương hướng nhiệm vụ công Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w