1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động của kiểm toán nhà nước

89 2,1K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động của kiểm toán nhà nước
Tác giả Ths. Đặng Thị Hoàng Liên, Lại Xuân Nghị
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán
Thể loại Đề tài khoa học cấp cơ sở
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 845,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nước làm cơ sở cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong KTNN và triển khai thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí 2.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, học tập, nghiên cứu và qu

Trang 1

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Chủ nhiệm đề tài: Ths Đặng Thị Hoàng Liên Thư ký: Lại Xuân Nghị

7545

02/11/2009

Hà Nội, 2009

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

HĐND Hội đồng nhân dân

KTNN Kiểm toán Nhà nước

NSĐP Ngân sách địa phương

NSNN Ngân sách nhà nước

NSTW Ngân sách trung ương

UBND Ủy ban nhân dân

XHCN Xã hội Chủ nghĩa

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỰC HÀNH TIẾT

KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM

1.2.2 Chủ trương, giải pháp về phòng, chống tham nhũng, lãng phí 7

1.3 Một số vấn đề thể chế hoá chủ trương, đường lối, cơ chế,

chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hành tiết kiệm,

1.3.2 Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm,

chống lãng phí - Giải pháp tổng thể triển khai thực hành tiết

kiệm, chống lãng phí

8

1.4 Sự cần thiết phải thực hành tiết kiệm và chống lãng phí

trong hoạt động của Kiểm toán Nhà nước

14

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG

LÃNG PHÍ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

19

2.1 Một số kết quả đạt được trong hoạt động của KTNN 19

2.1.3 Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 20

2.1.4 Công tác nghiên cứu khoa học 21

2.1.5 Công tác quan hệ hợp tác quốc tế 21

2.2 Thực trạng về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong

hoạt động của Kiểm toán Nhà nước

21 2.2.1 Xây dựng, hoàn thiện, bổ sung các văn bản quy định của Nhà 22

Trang 4

nước làm cơ sở cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

trong KTNN và triển khai thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí

2.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, học tập, nghiên cứu và quán

triệt việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

23

2.2.3 Thực hiện công khai tạo điều kiện kiểm tra, giám sát việc thực

hành tiết kiệm, chống lãng phí trên mọi lĩnh vực

24

2.2.4 Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm quy định về thực hành tiết

kiệm, chống lãng phí

24

2.2.5 Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong một số lĩnh vực cụ

thể của Kiểm toán Nhà nước

25

2.3 KTNN tăng cường phát hiện và ngăn chặn lãng phí thông

qua hoạt động kiểm toán và nâng cao chất lượng kiểm toán

32

2.3.1 Công tác tổ chức, triển khai, chỉ đạo thực hiện Luật Thực hành

tiết kiệm, chống lãng phí của các Bộ, ngành, địa phương đã

thực hiện kiểm toán

33

2.3.2 Tình hình thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 34

2.4 Công tác công khai thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

theo Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Luật

Kiểm toán Nhà nước

42

2.5 Đánh giá thực trạng và rút ra những vấn đề cần xử lý về

thực hành tiết kiệm và chống lãng phí trong hoạt động của

Kiểm toán Nhà nước

45

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG

PHÍ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

47

3.1 Định hướng thực hành tiết kiệm và chống lãng phí trong

hoạt động của Kiểm toán Nhà nước

47

3.2 Một số giải pháp về thực hành tiết kiệm và chống lãng phí

trong hoạt động của Kiểm toán Nhà nước

3.2.5 Tiến hành rà soát các văn bản về thực hành tiết kiệm, chống

Trang 5

3.2.6 Tăng cường minh bạch hóa, công khai hóa kết quả kiểm toán,

chú trọng công khai kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

tại đơn vị được kiểm toán

56

3.3 Điều kiện thực hiện các kiến nghị giải pháp thực hành tiết

kiệm, chống lãng phí trong hoạt động của Kiểm toán Nhà

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động của Kiểm toán Nhà nước (KTNN) luôn được lãnh đạo KTNN quan tâm chỉ đạo và cụ thể hóa bằng các quy định liên quan đến nhiều lĩnh vực tổ chức và hoạt động của ngành, đặc biệt là đối với hoạt động kiểm toán KTNN đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn và quy định cụ thể nhằm quán triệt, phổ biến thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng kinh phí, tài sản cơ quan, chi tiêu công quỹ cũng như tiêu dùng cá nhân đến toàn thể cán bộ công chức,

viên chức và người lao động trong cơ quan (Quy định về trang bị và thanh toán

cước điện thoại; Quy định về định mức sử dụng văn phòng phẩm, Quy chế về tiêu chuẩn, đối tượng sử dụng xe ôtô; Quy định về giờ giấc làm việc; thực hiện công khai tài chính từ khâu giao dự toán đến khâu chấp hành, quyết toán NSNN ) Đồng thời, KTNN đã thực hiện nhiều giải pháp đẩy mạnh công tác

thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng NSNN, sử dụng nguồn nhân lực và thông qua nhiệm vụ kiểm toán góp phần phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi lãng phí, thất thoát trong việc quản lý sử dụng NSNN, tiền

và tài sản nhà nước

Mặc dù phần lớn các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đề ra đối với hoạt động của KTNN đã được triển khai và đạt được những kết quả nhất định nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số biện pháp chưa đáp ứng được tiến độ đặt ra như: chế độ báo cáo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa được thực hiện thường xuyên; việc phát hiện, tuyên truyền những điển hình tốt cũng như việc phê phán mạnh mẽ những hành vi sai phạm trong thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa quan tâm đúng mức; một số Đoàn kiểm toán chưa chú trọng đánh giá việc thực hiện thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại các đơn vị được kiểm toán

Trước yêu cầu ngày càng cao của việc tăng cường hiệu quả hoạt động của KTNN trong thực hành tiết kiệm chống lãng phí; thực hiện chức năng, nhiệm vụ

Trang 7

của KTNN theo quy định của Luật KTNN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cần được đẩy mạnh hơn trong tất cả các hoạt động của KTNN và tập trung trên một số mặt chủ yếu như: việc quản lý và sử dụng NSNN; quản lý và sử dụng tài sản công; đào tạo, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động; tuyên truyền, phổ biến;

rà soát các văn bản về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thường xuyên kiểm tra về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng tài sản công và đặc biệt đẩy mạnh công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thông qua hoạt động kiểm toán

Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là một trong những mục tiêu của công cuộc cải cách hành chính nhà nước, KTNN là cơ quan trong hệ thống thiết chế Nhà nước do vậy không thể tách khỏi xu hướng này Bên cạnh đó, KTNN là

cơ quan kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước nhằm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực tài chính công nên việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động của cơ quan này là rất cần thiết

Nghiên cứu triển khai và thực hiện tốt các giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động của KTNN sẽ góp phần quan trọng trong việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả của KTNN, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền

vững của đất nước Do đó, Đề tài cấp cơ sở: “Thực trạng và giải pháp thực

hành tiết kiệm và chống lãng phí trong hoạt động của Kiểm toán Nhà nước”

vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

2 Mục tiêu của đề tài

- Làm rõ cơ sở lý luận thực hành tiết kiệm và chống lãng phí trong hoạt động của KTNN;

- Đánh giá thực trạng thực hành tiết kiệm và chống lãng phí trong hoạt động của KTNN;

- Đưa ra một số giải pháp cơ bản để thực hành tiết kiệm và chống lãng phí

Trang 8

trong hoạt động của Kiểm toán Nhà nước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là việc thực hành tiết kiệm và chống lãng phí trong hoạt động của KTNN; đặc biệt tập trung nghiên cứu một số nội dung chính sau: việc quản lý và sử dụng NSNN; quản lý và sử dụng tài sản công; đào tạo, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động; tuyên truyền, phổ biến; rà soát các văn bản về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thường xuyên kiểm tra về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng tài sản công và đặc biệt đẩy mạnh công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thông qua hoạt động kiểm toán của KTNN

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng một số phương pháp sau: Tổng hợp, phân tích, đối chiếu, so sánh, thống kê và khái quát hoá

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương:

- Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thực hành tiết kiệm, chống lãng

phí trong hoạt động của Kiểm toán Nhà nước

- Chương 2: Thực trạng thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt

động của Kiểm toán Nhà nước

- Chương 3: Một số giải pháp cơ bản thực hành tiết kiệm và chống lãng

phí trong hoạt động của Kiểm toán Nhà nước

Trang 9

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM,

CHỐNG LÃNG PHÍ TRONG HOẠT ĐỘNG

CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí một cách hiệu quả, KTNN cần tuân thủ đúng quan điểm, chủ trương về tiết kiệm, chống lãng phí của Đảng và Nhà nước; các quy định của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí do Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành Do đó, các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãnh phí được coi là những vấn đề cơ bản về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động của KTNN

1.1 Khái niệm về tiết kiệm và lãng phí

1.1.1 Tiết kiệm là việc giảm bớt hao phí trong sử dụng tiền, tài sản, lao

động, thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên nhưng vẫn đạt được mục tiêu

đã định Đối với việc quản lý, sử dụng NSNN, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên ở những lĩnh vực đã có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thì tiết kiệm là việc sử dụng ở mức thấp hơn định mức, tiêu chuẩn, chế

độ nhưng vẫn đạt được mục tiêu đã định hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng đạt cao hơn mục tiêu đã định

1.1.2 Lãng phí là việc quản lý, sử dụng tiền, tài sản, lao động, thời gian

lao động và tài nguyên thiên nhiên không hiệu quả Đối với lĩnh vực đã có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thì lãng phí là việc quản lý, sử dụng NSNN, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc không đạt mục tiêu đã định

(Theo Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã được Quốc hội nước

Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005)

Trang 10

1.2 Quan điểm, chủ trương về tiết kiệm, chống lãng phí của Đảng và Nhà nước

Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X đã ra Nghị

quyết số 04-NQ-T.W "Về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác

phòng, chống tham nhũng, lãng phí" đưa ra đánh giá: trong những năm qua,

nhất là từ sau Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Ðảng và Nhà nước ta đã tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội Nhiều cán bộ, đảng viên giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, đi đầu trong cuộc đấu tranh này Nhiều vụ án tham nhũng, trong đó có những vụ án lớn, phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng đã được phát hiện, xử lý Tuy nhiên, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, hiệu quả thấp Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Ðảng và Nhà nước ta

Nguyên nhân chủ yếu của những thiếu sót, khuyết điểm trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí: Cơ chế, chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở, nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nói chung, của bộ máy nhà nước nói riêng còn nhiều khuyết điểm, chất lượng và hiệu quả chưa cao; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của một số cơ quan, tổ chức chưa được xác định rõ ràng, cụ thể, còn trùng lặp hoặc bị phân tán Nhiều tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tính nghiêm trọng, sự nguy hại của tệ tham nhũng, lãng phí, nên lãnh đạo không chặt chẽ, thiếu kiểm tra, đôn đốc, thậm chí còn nể nang, né tránh, dung túng, bao che cho tham nhũng, lãng phí; chưa thực sự dựa vào dân và chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị Công tác cán bộ nói chung và việc quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức nói riêng còn nhiều yếu kém Một bộ

Trang 11

phận không nhỏ đảng viên, cán bộ, công chức suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống Không ít cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả cán bộ lãnh đạo cao cấp còn thiếu gương mẫu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức; chưa đi đầu trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta Do vậy, trong những năm tới, phải đẩy mạnh toàn diện và kiên quyết cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Một số nội dung chính của Nghị quyết số 04-NQ-T.W "Về tăng cường sự

lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí" trong

Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X:

1.2.1 Mục tiêu, quan điểm phòng, chống tham nhũng, lãng phí

1.2.1.1 Mục tiêu phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhằm ngăn chặn,

từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững

ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Ðảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ

cương, liêm chính

1.2.1.2 Quan điểm phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Ðảng lãnh đạo chặt chẽ công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự Phòng, chống tham nhũng, lãng phí phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế -

xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, củng cố hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Ðảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh Vừa tích cực, chủ động phòng ngừa vừa kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, trong đó phòng ngừa là chính Gắn phòng, chống tham nhũng, lãng phí với xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, phát huy dân chủ, thực hành tiết kiệm, chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan liêu Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục

Trang 12

với những bước đi vững chắc, tích cực và có trọng tâm, trọng điểm Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chú trọng tổng kết thực tiễn và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài

1.2.2 Chủ trương, giải pháp về phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Chủ trương và giải pháp về phòng, chống tham nhũng, lãng phí bao gồm các nội dung sau:

- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức và nhân dân về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí;

- Nâng cao tính tiên phong, gương mẫu của tổ chức đảng và đảng viên, tăng cường vai trò của chi bộ trong quản lý, giáo dục đảng viên;

- Tiếp tục hoàn thiện công tác cán bộ phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí;

- Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị;

- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế, xã hội;

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng;

- Thực hiện tốt công tác truyền thông về phòng, chống tham nhũng, lãng phí;

- Xây dựng các cơ quan, đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng;

- Tăng cường giám sát của nhân dân và cơ quan dân cử;

Trang 13

dụng Luật là cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng NSNN, tiền, tài sản nhà nước, lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên Công dân và

tổ chức không thuộc đối tượng trên

Nội dung chính của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là những quy định cụ thể về một số lĩnh vực cần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí như: quản lý sử dụng kinh phí NSNN; đầu tư xây dựng dự án sử dụng NSNN, tiền, tài sản nhà nước; quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ của cơ quan, tổ chức sử dụng kinh phí NSNN và công trình phúc lợi công cộng; quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; đào tạo, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước; quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp; sản xuất và tiêu dùng của cá nhân

1.3.2 Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm chống lãng phí - Giải pháp tổng thể triển khai thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đưa ra giải pháp tổng thể triển khai công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên các mặt sau:

1.3.2.1 Tổ chức học tập, nghiên cứu, quán triệt Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Theo Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, trước tiên các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với các đoàn thể, tổ chức quần chúng có trách nhiệm tổ chức học tập, quán triệt Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Chương trình hành động của Chính phủ, Chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của cấp mình, ngành mình, đơn vị mình đến từng cán bộ, công chức, viên chức, hội viên thuộc phạm vi quản lý nhằm tăng cường hiểu biết pháp luật, nâng cao nhận thức, có những hành động, việc làm cụ thể tạo chuyển biến thực sự trong lề lối làm việc, cải cách hành chính và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Trang 14

Các cơ quan thông tấn báo chí đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về pháp luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên các phương tiện thông tin đại chúng với các hình thức thích hợp và có hiệu quả; nêu gương người tốt, việc tốt trong việc thực thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kịp thời phê phán, lên án các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm, gây lãng phí

1.3.2.2 Hoàn thiện hệ thống định mức, tiêu chuẩn, chế độ làm cơ sở thực hành tiết kiệm chống lãng phí

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổng rà soát các định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong các lĩnh vực, đặc biệt tập trung vào lĩnh vực quản lý, sử dụng NSNN; đầu

tư xây dựng cơ bản; quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ, công trình phúc lợi công cộng và tài sản công khác; khai thác, quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; lập danh mục các định mức, tiêu chuẩn, chế độ, định mức kinh tế -

kỹ thuật còn thiếu hoặc không còn phù hợp trong các lĩnh vực chuyên ngành để

có kế hoạch sửa đổi, bổ sung, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành Việc sửa đổi, bổ sung định mức, tiêu chuẩn, chế độ, định mức kinh tế - kỹ thuật trong các lĩnh vực phải bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực

tế, tiến bộ khoa học, công nghệ và khả năng của NSNN trong từng thời kỳ

1.3.2.3 Thực hiện công khai tạo điều kiện kiểm tra, giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị thuộc phạm vi quản lý thực hiện các quy định về công khai để tạo điều kiện cho việc kiểm tra, thanh tra, giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; đồng thời, tăng cường kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về công khai, đưa công tác công khai về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thành nề nếp trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước

Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước phải thực hiện công khai theo đúng quy định của pháp luật, trước hết tập trung thực hiện công khai việc sử dụng NSNN và các nguồn tài chính được giao (nếu có); công khai mua

Trang 15

sắm, sử dụng trang thiết bị làm việc, phương tiện đi lại; công khai quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ, công trình phúc lợi công cộng và các tài sản khác trong cơ quan, đơn vị, tổ chức

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm báo cáo tình hình thực hiện công khai trong các đơn vị thuộc phạm vi quản lý và kết quả giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, định kỳ hàng năm báo cáo Chính phủ

1.3.2.4 Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Kiểm tra, thanh tra thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là một nội dung của kế hoạch thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và của Chính phủ; là biện pháp để phát hiện, ngăn ngừa các hành vi

vi phạm pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Một số lĩnh vực cần tập trung kiểm tra, thanh tra bao gồm: quản lý, sử dụng đất đai; các dự án đầu tư

sử dụng NSNN hoặc có nguồn gốc từ NSNN; quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ, công trình phúc lợi công cộng; các Chương trình Quốc gia; quản

lý, sử dụng các nguồn viện trợ, tài trợ của nước ngoài; mua sắm, trang bị, quản

lý, sử dụng phương tiện đi lại; mua sắm, trang bị, quản lý, sử dụng trang thiết bị làm việc

1.3.2.5 Tổ chức thực hiện có hiệu quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực: quản lý, sử dụng NSNN; quản lý đầu tư xây dựng; quản lý,

sử dụng đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ; quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; đào tạo, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực Nhà nước; quản lý, sử dụng vốn và tài sản tại công ty nhà nước và

đặc biệt đối với sản xuất và tiêu dùng của nhân dân Cụ thể:

Trong quản lý, sử dụng NSNN, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc

Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phả thực hiện nghiêm các quy định của Luật NSNN trong tất cả các khâu: lập, thẩm định, phê

Trang 16

duyệt, phân bổ dự toán, quản lý, sử dụng, kiểm soát chi và quyết toán kinh phí NSNN Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng NSNN chịu trách nhiệm giải trình việc quản lý, sử dụng NSNN được giao theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đẩy mạnh thực hiện các cơ chế quản lý tài chính mới để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đặc biệt là thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính trong các cơ quan hành chính nhà nước Các đơn vị sự nghiệp công lập phải chuyển sang thực hiện cơ chế

tự chủ tài chính gắn với tự chịu trách nhiệm theo quy định của Chính phủ; đồng thời, mở rộng và đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá đối với các lĩnh vực sự nghiệp Rà soát các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tập trung bố trí NSNN cho những nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm cần ưu tiên đã được cấp có thẩm quyền tuyển chọn và phê duyệt (trừ những nhiệm vụ khoa học và công nghệ phải giao trực tiếp); không bố trí kinh phí cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ chưa đủ thủ tục

Thực hiện cơ chế đấu thầu tuyển chọn cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Riêng đối với các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí thì thực hiện theo cơ chế khoán kinh phí đối với phần kinh phí do NSNN cấp Rà soát, bảo đảm các điều kiện để thực hiện các chương trình mục tiêu theo đúng tiến độ quy định và có hiệu quả; tổ chức lồng ghép các chương trình có cùng tính chất, thực hiện trên cùng một địa bàn; giảm chi phí quản lý chương trình, chi phí trung gian, tập trung kinh phí chương trình cho đối tượng được thụ hưởng theo quy định

Trong quản lý đầu tư xây dựng, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc

Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các chủ đầu tư phải tiến hành chống lãng phí một cách nghiêm túc và có hiệu quả Các cơ quan, đơn

vị quản lý, phê duyệt, triển khai dự án đầu tư phải thực hiện đúng quy trình, quy chế quản lý đầu tư hiện hành của Nhà nước, thực hiện đầu tư có tập trung, không dàn trải để bảo đảm yêu cầu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; xác định rõ trách nhiệm của mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân gây lãng phí trong tất cả

Trang 17

các khâu của quá trình đầu tư Người đứng đầu cơ quan quản lý đầu tư, cơ quan phê duyệt dự án đầu tư, đơn vị thực hiện dự án đầu tư sử dụng NSNN phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ, trước pháp luật về tình trạng lãng phí xảy ra đối với công trình, dự án đầu tư do mình quản lý, phê duyệt và thực hiện

Đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ giao cho các cơ quan, đơn vị, tổ

chức phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và bảo đảm thực hành tiết kiệm Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi quản lý của mình thực hiện việc kiểm tra, rà soát diện tích đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ đang quản lý để bổ trí sử dụng hợp lý, đúng chế độ, tiêu chuẩn quy định để bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; k hông cấp thêm đất, không bố trí xây dựng trụ sở làm việc khi chưa hoàn thành việc sắp xếp sử dụng theo đúng tiêu chuẩn, diện tích đã có Năm 2007, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế quản lý nhà công vụ để áp dụng thống nhất trong cả nước Các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước thực hiện rà soát diện tích sử dụng đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất để xác định giá trị quyền sử dụng đất tính vào giá trị tài sản của đơn vị Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức có trách nhiệm bảo toàn quỹ đất được giao, bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích và chịu trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật

Các Bộ, ngành được giao quản lý các lĩnh vực liên quan đến tài nguyên

thiên nhiên có trách nhiệm soát xét lại quy hoạch, kế hoạch quản lý, khai thác,

sử dụng từng loại tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các tài nguyên: đất, nước, rừng, khoáng sản để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; rà soát, ban hành các quy chế, quy định về tái tạo, bảo vệ phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ Đề án về chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân thực hiện tái chế, tái sử dụng tài nguyên và các nguồn năng lượng có thể tái tạo được để thực hành tiết kiệm, bảo vệ môi trường sinh thái

Về đào tạo, quản lý, sử dụng lao động, thời gian lao động trong khu vực

nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ

Trang 18

Nội vụ phải soát xét lại các quy định để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện; không để xảy ra tình trạng mất cân đối giữa đào tạo với sử dụng; tuyển dụng không phù hợp với nhu cầu sử dụng; sử dụng cán bộ, công chức, viên chức không đúng với chuyên môn, ngành nghề được đào tạo, không phát huy hết năng lực, sở trường; lãng phí thời gian, nguồn lực lao động

Trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản tại công ty nhà nước, các Tổng

công ty, công ty nhà nước căn cứ Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các quy định của Nhà nước xây dựng, ban hành các cơ chế, quy chế, các định mức, tiêu chuẩn, chế độ để quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực được Nhà nước giao; thực hiện kiểm toán bắt buộc và công khai tài chính trong các Tổng công ty, công ty nhà nước; phát hiện kịp thời, xử lý theo đúng quy định của pháp luật đối với các hành vi gây lãng phí vốn, tài sản, lao động, tài nguyên thiên nhiên Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ được giao tăng cường giám sát đối với Tổng công ty, công ty nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các nguồn lực được Nhà nước giao; giám sát việc thực hiện trách nhiệm của đại diện Chủ sở hữu tại Tổng công ty, công ty nhà nước trong việc quyết định đầu tư, bảo lãnh vay, phê duyệt chủ trương mua, bán, vay, cho vay, thuê và cho thuê theo thẩm quyền đã được quy định tại Nghị định số 132/2005/NĐ-CP

về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước; giám sát việc ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế ký kết trong đầu tư xây dựng, sản xuất - kinh doanh và về chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty nhà nước

Đối với sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, các Bộ, cơ quan ngang Bộ,

cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, cán

bộ, công chức, viên chức về ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng, dành nguồn lực đầu tư vào sản xuất, kinh doanh Khuyến khích nhân dân tích cực tham gia các cuộc vận động mua công trái xây dựng Tổ quốc, trái phiếu xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội; các phong trào

Trang 19

đền ơn đáp nghĩa Triển khai cuộc vận động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các đoàn thể, tổ chức quần chúng; các thôn, xóm, ấp, bản, làng, cụm dân cư; tập trung vào việc xây dựng nếp sống mới, xoá bỏ các hủ tục lạc hậu, gây lãng phí Phê phán các biểu hiện xa hoa lãng phí trong xã hội; đưa kết quả thực hành tiết kiệm chống lãng phí thành nội dung xem xét đánh giá cán bộ, công chức, viên chức và thành viên của mỗi tổ chức

1.4 Sự cần thiết phải thực hành tiết kiệm và chống lãng phí trong hoạt động của Kiểm toán Nhà nước

KTNN ra đời trên cơ sở Nghị định số 70/CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ nhằm thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính công trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi Sự hình thành và phát triển của KTNN là một tất yếu khách quan góp phần đảm bảo phân bổ, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản công một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả, ngăn ngừa các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí NSNN và tài sản công

Theo Nghị định số 70/CP, KTNN có chức năng giúp Chính phủ thực hiện kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế Nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do NSNN cấp KTNN có nhiệm vụ xây dựng chương trình, kế hoạch hàng năm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch đó; định kỳ báo cáo thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm toán lên Thủ tướng Chính phủ KTNN có con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do NSNN cấp KTNN được tổ chức và quản lý tập trung thống nhất

Sau khi được thành lập, theo Quyết định số 61/TTg ngày 24/01/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của KTNN

và Nghị định số 93/2003/NĐ-CP ngày 13/8/2003 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của KTNN thay thế cho Nghị định số 70/CP Theo Nghị định 93/2003/NĐ-CP, vị trí và chức năng của KTNN đã được thể hiện rõ ràng hơn:

“KTNN là Cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng kiểm toán, xác nhận

tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán NSNN các cấp, báo cáo tổng

Trang 20

quyết toán NSNN; báo cáo quyết toán, báo cáo tài chính của các cơ quan, đơn

vị tổ chức có sử dụng NSNN; kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế trong việc quản lý, sử dụng NSNN và tài sản công theo kế hoạch kiểm toán hàng năm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và các nhiệm vụ kiểm toán đột xuất

do Thủ tướng Chính phủ giao hoặc do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền yêu cầu…” Với sự ra đời của Nghị định 93/2003/NĐ-CP, KTNN đã xây dựng được

một hệ thống tổ chức bộ máy tương đối hoàn chỉnh từ Trung ương đến các khu vực và từng bước được củng cố hoàn thiện để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao

Mặc dù có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định sự ra đời và phát triển của KTNN nhưng những quy định trong các văn bản dưới luật trên đã hạn chế về địa vị pháp lý, tổ chức và hoạt động của KTNN và đặt ra yêu cầu cấp bách phải ban hành một Đạo luật về KTNN Ngày 14/6/2005, Quốc Hội đã thông qua Luật KTNN và Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006 Đây là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất hiện nay quy định về tổ chức và hoạt động của KTNN, tạo cơ sở cho một giai đoạn phát triển mới của KTNN

Theo Luật KTNN, địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và hệ thống tổ chức của Cơ quan KTNN được xác định như sau:

Về địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ của KTNN, KTNN là cơ quan

chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật KTNN có chức năng kiểm toán BCTC, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động với mỗi cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền, tài sản Nhà nước

KTNN có các nhiệm vụ sau: quyết định kế hoạch kiểm toán hàng năm và

báo cáo với Quốc hội, Chính phủ trước khi thực hiện; tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán hàng năm và thực hiện nhiệm vụ kiểm toán theo yêu cầu của Quốc hội,

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; xem xét, quyết định việc kiểm toán khi thường trực HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có yêu cầu; trình ý kiến của KTNN để Quốc hội xem xét, quyết định

dự toán NSNN, quyết định phân bổ NSTW, quyết định dự án, công trình quan

Trang 21

hội (nay là Uỷ ban Tài chính - Ngân sách và Uỷ ban Kinh tế) khi có yêu cầu trong

hoạt động giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về lĩnh vực tài chính - ngân sách, giám sát việc thực hiện NSNN và chính sách tài chính; tham gia với các cơ quan của Chính phủ, của Quốc hội khi có yêu cầu trong việc xây dựng và thẩm tra các dự án luật,

pháp lệnh; báo cáo kết quả kiểm toán năm và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị

kiểm toán với Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; gửi báo cáo kiểm toán cho Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; cung cấp kết quả kiểm toán cho Bộ Tài chính, Hội đồng nhân dân nơi kiểm toán và các cơ quan khác theo quy định

của pháp luật; tổ chức công bố công khai báo cáo kiểm toán theo quy định của Luật KTNN và các quy định khác của pháp luật; chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều

tra và các cơ quan khác của Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, xử lý những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân đã được phát hiện thông

qua hoạt động kiểm toán; quản lý hồ sơ kiểm toán; giữ bí mật tài liệu, số liệu kế

toán và thông tin về hoạt động của đơn vị được kiểm toán theo quy định của pháp

luật; thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kiểm toán nhà nước; tổ chức và

quản lý công tác nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực của

KTNN; tổ chức thi và cấp chứng chỉ Kiểm toán viên nhà nước; chỉ đạo và hướng

dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán nội bộ; sử dụng kết quả kiểm toán nội

bộ của cơ quan, tổ chức được quy định tại Luật KTNN; thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

Về hệ thống tổ chức của KTNN, KTNN được tổ chức theo mô hình tập

trung thống nhất, trực tuyến Theo Nghị quyết số 916/2005/NQ-UBTVQH11 và

Trang 22

Nghị quyết số 1123/NQ-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ cấu tổ chức của KTNN gồm 25 đơn vị trực thuộc (06 đơn vị tham mưu thuộc bộ máy

điều hành; 07 KTNN chuyên ngành; 09 KTNN khu vực và 03 đơn vị sự nghiệp)

Như vậy, tổ chức và hoạt động của KTNN được xác lập bằng văn bản có giá trị pháp lý cao hơn; đồng thời, vị trí và tính độc lập của KTNN cũng được xác định cao hơn trước khi có Luật KTNN, tạo cơ sở cho sự phát triển và phát huy vai trò của KTNN trong giai đoạn mới

Thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong hoạt động của KTNN là yêu cầu cần thiết bởi các lý do sau:

Thứ nhất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là một chủ trương của Đảng

và đã được Chính phủ cụ thể hóa qua các văn bản Pháp luật như Nghị định 43/2005/NĐ CP; Nghị định 130/2005/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn Trong bối cảnh ngân sách hạn hẹp, mức phân bổ ngân sách cho các cơ quan nhà nước nói chung và KTNN nói riêng được định mức hóa ở tổng mức sử dụng, đồng thời Nhà nước cho phép các đơn vị tự chủ trong việc quản lý, sử dụng phần ngân sách được cấp để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, theo số lượng, chất lượng và thời gian quy định Việc sử dụng tiết kiệm và chống lãng phí trong hoạt động của KTNN là yếu tố quan trọng để KTNN hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình Bên cạnh đó, khi điều kiện đời sống của cán bộ, viên chức của KTNN còn gặp nhiều khó khăn thì tiết kiệm và chống lãng phí là điều kiện quan trọng để bảo đảm và nâng cao đời sống của cán bộ, viên chức KTNN Do đó, đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động của KTNN sẽ ngăn chặn và đẩy lùi hiện tượng lãng phí trong các lĩnh vực hoạt động của KTNN; nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn tài chính, tài sản, thời gian làm việc và nguồn nhân lực của từng đơn vị

Thứ hai, trong hoạt động của KTNN, việc thực hành tiết kiệm và chống

lãng phí không đồng nghĩa với việc giảm chi tiêu hoặc ngừng chi tiêu cho các hoạt động của KTNN, vì điều này khiến các hoạt động kém hiệu quả hoặc có hiệu quả thấp Chính vì vậy, tiết kiệm và chống lãng phí trong hoạt động của KTNN chính là nhằm hoàn thiện các cơ chế hoạt động, đặc biệt là hoạt động

Trang 23

kiểm toán tại các đơn vị thuộc phạm vi của KTNN Việc xác định đúng trọng tâm, trọng điểm các cuộc kiểm toán là điểm then chốt nhất đối với thực hành tiết kiệm và chống lãng phí trong hoạt động của KTNN Vấn đề tiếp theo là cụ thể hoá các nhiệm vụ, giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn ngành KTNN để thực hiện ngay, tạo chuyển biến mạnh mẽ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong những năm tới

Thứ ba, nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức và

người lao động trong toàn ngành về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, đảm bảo

sử dụng hiệu quả các nguồn lực Nhà nước giao cho KTNN và thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm toán góp phần tích cực phát hiện và đề nghị các cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý kịp thời các đơn vị, cá nhân có hành vi vi phạm, gây lãng phí, thất thoát NSNN, tiền, tài sản nhà nước và các nguồn lực khác của Nhà nước

Thứ tư, từ cuối năm 2007 và đầu năm 2008, trước những yếu tố biến động

phức tạp, khó lường, đe doạ các cân đối vĩ mô của nền kinh tế, vấn đề kiềm chế lạm phát đã được xác định là nhiệm vụ cần ưu tiên hàng đầu trong mục tiêu chung về ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững Trong bối cảnh đó, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đặc biệt là trong các lĩnh vực sử dụng tiền và tài sản nhà nước đã trở thành một biện pháp quan trọng nhằm thắt chặt chi tiêu công để cùng với chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát

Thứ năm, Điều 78 Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (Điều 78)

quy định trách nhiệm của cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước trong việc thực hiện chức năng kiểm toán nếu phát hiện hành vi gây lãng phí thì phải kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật; kết quả kiểm toán có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải được công khai

Trang 24

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

2.1 Một số kết quả đạt được trong hoạt động của Kiểm toán Nhà nước

Với sự ra đời không có tổ chức tiền thân, kể từ khi được thành lập, KTNN vừa xây dựng tổ chức vừa triển khai hoạt động kiểm toán và đã dành được những kết quả rất đáng khích lệ KTNN đã khẳng định được vị trí của mình trong cơ cấu bộ máy nhà nước pháp quyền XHCN, góp phần đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Có thể điểm qua một số kết quả đạt được trong thời gian qua như sau:

2.1.1 Công tác tổ chức, cán bộ

Sau khi được thành lập, việc xây dựng, tổ chức bộ máy, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của KTNN Được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, sự hợp tác giúp đỡ của các Bộ, ngành liên quan, đến nay KTNN đã xây dựng được một hệ thống tổ chức bộ máy tương đối hoàn chỉnh từ Trung ương đến các khu vực và từng bước được củng cố hoàn thiện để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao Từ chỗ ban đầu chỉ có 4 KTNN chuyên ngành và Văn phòng KTNN, đến nay, KTNN đã có gồm 25 đơn vị trực

thuộc bao gồm: 06 đơn vị tham mưu thuộc bộ máy điều hành (Văn phòng KTNN,

Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Tổng hợp, Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán,

Vụ Pháp chế, Vụ Quan hệ quốc tế); 07 KTNN chuyên ngành; 09 KTNN khu vực

và 03 đơn vị sự nghiệp (Tạp chí Kiểm toán, Trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng

cán bộ, Trung tâm tin học) Việc hình thành và phát triển hệ thống tổ chức của

KTNN không chỉ đơn thuần là sự tăng lên về số lượng đầu mối các đơn vị mà phản ánh sự lớn mạnh trưởng thành của KTNN để đáp ứng nhu cầu đỏi hỏi khách quan trong công cuộc đổi mới của đất nước

2.1.2 Công tác kiểm toán

Trong điều kiện vừa xây dựng đội ngũ vừa thực hiện nhiệm vụ được giao, KTNN đã chủ động đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kế hoạch kiểm

Trang 25

toán hàng năm phù hợp với năng lực hiện có Từ khi chính thức đi vào hoạt động đến nay, KTNN đã tiến hành hàng nghìn cuộc kiểm toán với quy mô lớn, nhỏ khác nhau tại các đơn vị sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước trên tất cả các lĩnh vực Kết quả kiểm toán đã phát hiện nhiều hành vi vi phạm chính sách, chế độ quản lý kinh tế, tài chính; đã kiến nghị tăng thu, giảm chi, ghi thu - ghi chi quản lý qua NSNN, xử lý các khoản tạm thu, tạm giữ và các khoản khác Kết quả kiểm toán được ghi nhận không chỉ là con số tăng thu, tiết kiệm chi cho NSNN,

mà thông qua hoạt động kiểm toán, KTNN còn giúp các cơ quan nhà nước chấn chỉnh công tác quản lý tài chính ngân sách; giúp các đơn vị được kiểm toán nhìn nhận và đánh giá đúng đắn thực trạng tình hình tài chính để khắc phục những yếu kém, sơ hở trong quản lý kinh tế và sản xuất, kinh doanh, ngăn ngừa những tiêu cực, lãng phí, thất thoát tiền, tài sản và từng bước hoàn thiện hơn công tác quản

lý, bảo đảm sử dụng nguồn lực tài chính quốc gia hiệu quả hơn KTNN đã cung cấp những thông tin xác thực về tình hình quản lý và điều hành ngân sách cùng nhiều kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chế độ tài chính góp phần tăng cường hiệu lực quản lý, minh bạch và lành mạnh nền tài chính quốc gia

2.1.3 Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Điều quan trọng trong hoạt động KTNN là phải có hệ thống văn bản quy pháp luật phù hợp, đồng bộ, là điều kiện pháp lý cho các hoạt động kiểm toán Ngày từ khi bước vào hoạt động, lãnh đạo KTNN đã tập trung chỉ đạo việc soạn thảo, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của cơ quan KTNN đã chú trọng nghiên cứu, xây dựng, ban hành và trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành các quy định liên quan đến hoạt động KTNN như: hệ thống các chuẩn mực kiểm toán, các quy trình kiểm toán, quy chế làm việc của KTNN và quy chế hoạt động Đoàn kiểm toán và đặc biệt là hệ thống các văn bản hướng dẫn Luật KTNN trên cơ sở phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với thực tiễn Việt Nam Đến nay, KTNN đã và đang lần lượt xây dựng, ban hành các quy trình kiểm toán cho các hoạt động đặc thù, ban hành được hệ thống hồ sơ, mẫu biểu kiểm toán áp dụng

Trang 26

cho từng cuộc kiểm toán cụ thể làm cơ sở cho quản lý hoạt động kiểm toán và kiểm tra soát xét chất lượng kiểm toán Những văn bản này đã đặt nền móng cho

tổ chức và hoạt động của KTNN từng bước đi vào chính quy, hiện đại

2.1.4 Công tác nghiên cứu khoa học

Nhận thức được vai trò của các hoạt động khoa học đối với các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của KTNN, từ 1994 khi mới được thành lập, Lãnh đạo KTNN đã thành lập Hội đồng Khoa học KTNN để tư vấn cho Lãnh đạo KTNN

về các hoạt động Khoa học công nghệ và ban hành "Quy chế tổ chức và hoạt

động của Hội đồng Khoa học" Từ khi được thành lập, qua các nhiệm kỳ hoạt

động, Hội đồng Khoa học KTNN đã thường xuyên duy trì hoạt động theo đúng Quy chế, hoàn thành tốt chức năng tư vấn cho Lãnh đạo KTNN về xây dựng chiến lược phát triển khoa học công nghệ trong từng giai đoạn phát triển của KTNN, xây dựng kế hoạch khoa học công nghệ hàng năm; về các hoạt động triển khai nghiên cứu khoa học và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào hoạt động thực tiễn và về các hoạt động khoa học khác của KTNN phục vụ chiến lược phát triển KTNN

2.1.5 Công tác quan hệ hợp tác quốc tế

Theo xu thế hội nhập và phát triển chung, KTNN đã không ngừng mở rộng và thiết lập quan hệ hữu nghị hợp tác với các tổ chức quốc tế và các cơ quan kiểm toán tối cao của các nước Trong mối quan hệ hợp tác đó phải kể đến

sự hợp tác chặt chẽ giữa KTNN Việt nam với KTNN Cộng hòa Liên Bang Đức, KTNN Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, KTNN Vương quốc Thái Lan… KTNN Việt Nam đã ký thoả thuận hợp tác với KTNN Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Liên bang Nga, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào nhằm trao đổi thông tin kinh nghiệm kiểm toán, trợ giúp đào tạo, chuyên gia và cung cấp tài liệu nghiên cứu tham khảo

2.2 Thực trạng về thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong hoạt động của KTNN

Trong những năm qua, KTNN đã thường xuyên quán triệt, phổ biến việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí về sử dụng kinh phí, tài sản cơ quan, chi tiêu

Trang 27

công quỹ cũng như tiêu dùng cá nhân đến toàn thể cán bộ công chức, viên chức

và người lao động trong cơ quan KTNN đã thực hiện nhiều giải pháp đẩy mạnh công tác thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng NSNN, sử dụng nguồn nhân lực cũng như thông qua nhiệm vụ kiểm toán để góp phần phát hiện

và ngăn chặn kịp thời những hành vi lãng phí, thất thoát trong việc quản lý sử dụng NSNN, tiền và tài sản nhà nước Cụ thể trên những mặt sau:

2.2.1 Xây dựng, hoàn thiện, bổ sung các văn bản quy định của Nhà nước làm cơ sở cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong KTNN và triển khai thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

KTNN thường xuyên rà soát, triển khai sửa đổi, bổ sung các văn bản có liên quan đến công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và tạo nên sự đồng

bộ trong hệ thống văn bản của KTNN

Năm 2007, KTNN đã tập trung rà soát các văn bản trong toàn ngành về thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban thuộc các đơn vị trực thuộc; về thực hiện quy chế hoạt động và làm việc của các đơn vị; quy định về quản lý và

sử dụng tài sản công; quy định về công tác tổ chức, quản lý cán bộ; công tác đào tạo, quản lý lao động và thời gian lao động Trên cơ sở đó hoàn thiện và ban hành một số quy chế như: Quy chế làm việc của các đơn vị trực thuộc KTNN; hướng dẫn công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ; hướng dẫn đánh giá công tác cán bộ, công chức; huớng dẫn thực hiện quy định về chế độ nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức; quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm các ngạch kiểm toán viên nhà nước; quy định về bồi thường kinh phí đào tạo khi chuyển ra khỏi ngành và đặc biệt là hoàn thành xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn Nghị định của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức KTNN

Thực hiện Nghị quyết 1123/NQ-UBTVQH11 ngày 28/5/2007 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho phép thành lập thêm 4 đơn vị KTNN khu vực trong năm 2007 và Nghị quyết số 1124/NQ-UBTVQH11 ngày 28/5/2007 về giao chỉ tiêu biên chế tăng thêm 300 biên chế năm 2007-2008 cho KTNN, KTNN đã triển khai kịp thời và xác định tiết kiệm, chống lãng phí phải thực hiện từ chủ

Trang 28

dự toán trực thuộc đã quy định mức khoán sử dụng điện thoại theo từng chức năng Qua đó, KTNN đã xây dựng, triển khai và ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết, hoàn thiện hệ thống định mức, tiêu chuẩn và cụ thể hoá các văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý tài chính, tài sản, đầu tư xây dựng cơ bản áp dụng trong toàn ngành làm cơ sở thực hiện tốt thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, như: Quy chế chi tiêu nội bộ của các đơn vị sự nghiệp; Quy chế quản lý, sử dụng tài sản công của KTNN; Quyết định của Tổng KTNN về quyền giao tự chủ

về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp; quy định về định mức tiêu hao nhiên liệu gắn với hiện trạng xe ôtô hiện có

Bên cạnh đó, để đảm bảo triển khai có hiệu quả các văn bản này, Tổng KTNN đã giao cho Vụ Pháp chế thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện lồng ghép với kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm để kịp thời tham mưu cho Tổng KTNN ra quyết định bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới những quy định thiếu chặt chẽ, gây sơ hở, lợi dụng gây lãng phí nguồn lực, tiền, tài sản của Nhà nước

2.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, học tập, nghiên cứu và quán triệt việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Công tác tuyên truyền, học tập, nghiên cứu, quán triệt thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của KTNN đã tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức và nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của từng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong toàn ngành đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Trang 29

Ngoài ra, KTNN còn tuyên truyền về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên Website KTNN; đăng tải các chương trình hành động, nhân rộng các gương tốt trong toàn thể cán bộ, công chức và người lao động và thông tin về những biểu hiện lãng phí trong ngành và những phát hiện qua công tác kiểm toán; thực hiện lồng ghép nội dung trong các khoá đào tạo gắn với nội dung Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Lãnh đạo đơn vị trực thuộc KTNN thường xuyên phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ đảng, đoàn thể tổ chức quán triệt thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được xác định là một nội dung cần kiểm điểm thường xuyên trong các cuộc họp giao ban của chính quyền và các đoàn thể quần chúng tại các đơn vị; là một trong các tiêu chí cơ bản trong công tác đánh giá cán bộ và đề nghị khen thưởng của tập thể và cá nhân

2.2.3 Thực hiện công khai tạo điều kiện kiểm tra, giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên mọi lĩnh vực

Năm 2007, KTNN đã tổ chức thực hiện nghiêm túc việc công khai tài chính; mua sắm tài sản, đầu tư và xây dựng; công khai các chế độ, tiêu chuẩn, trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ, công chức và người lao động theo quy định thông qua các hình thức niêm yết trên bảng tin, thông báo nội bộ

Công tác thi tuyển cán bộ, công chức, viên chức từ lập kế hoạch, xây dựng đề án, thi tuyển, tuyển dụng của KTNN đều được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng Việc bổ sung quy hoạch lãnh đạo các cấp, nâng lương trước thời hạn đều có sự thảo luận, tham gia ý kiến rộng rãi của các đơn vị trực tiếp sử dụng cán bộ, các tổ chức đoàn thể, đảm bảo tính công khai, minh bạch và hiệu quả trong công tác cán bộ

Các chế độ, chính sách liên quan đến quyền lợi của cán bộ, công chức và người lao động như: các quy định về chi tiêu nội bộ, quy chế về sử dụng nguồn kinh phí 2% từ kết quả kiểm toán đã tạo điều kiện cũng được công khai cho mọi đối tượng có thể tiếp cận, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng công việc, động viên toàn bộ cán bộ, công chức có ý thức tiết kiệm, chống lãng phí

2.2.4 Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Trang 30

KTNN đã tăng cường công tác tự kiểm tra, kiểm tra nội bộ và xử lý vi phạm để nâng cao trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị trực thuộc và trách nhiệm của từng cán bộ, công chức trong việc thực hiện công vụ đã tạo cơ sở vững chắc cho việc thực hiện tốt các giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn ngành Năm 2007, Tổng KTNN đã chỉ đạo Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc KTNN thường xuyên tổ chức kiểm tra, tự kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ theo chức năng được giao và phải chịu trách nhiệm triển khai, giám sát, kiểm tra việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại đơn vị; nâng cao vai trò

và trách nhiệm cá nhân của thủ trưởng các đơn vị, trưởng đoàn kiểm toán, tổ trưởng tổ kiểm toán và từng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong khi thực hiện công vụ và nhiệm vụ được giao, đảm bảo thực hiện tốt việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Tổng KTNN đã ban hành Quyết định số 547/QĐ-KTNN ngày 13/4/2007 về kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2007 của KTNN, chú trọng việc thực hiện Quy chế làm việc và Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn KTNN

Văn phòng KTNN (Phòng Tài vụ Kế toán) thường xuyên kiểm tra các

đơn vị dự toán, các đơn vị sự nghiệp trong toàn ngành trong đó tập trung kiểm tra việc thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ của các đơn vị; việc trích lập, sử dụng các quỹ và phương án chi trả thu nhập từ nguồn tiết kiệm chi; việc tổ chức thực hiện quy chế quản lý và sử dụng tài sản công tại đơn vị Đến thời điểm hiện nay, KTNN đã hoàn thành công tác kiểm toán nội bộ báo cáo quyết toán NSNN năm

2006 của ngành, qua đó đề ra các giải pháp cụ thể để sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn kinh phí trong toàn ngành

2.2.5 Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong một số lĩnh vực cụ thể của Kiểm toán Nhà nước

2.2.5.1 Quản lý và sử dụng NSNN

a Quản lý chi thường xuyên và nguồn kinh phí 2%

Trong năm 2007, KTNN đã tiết kiệm được 14.386 triệu đồng chiếm 20,26% tổng chi của toàn ngành, khẳng định được sự nỗ lực thực hành, tiết kiệm chống lãng phí của KTNN KTNN đã đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

Trang 31

để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong tất cả các lĩnh vực công tác của KTNN; thực hiện công khai tài chính, công khai các chế độ, tiêu chuẩn, trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ, công chức và người lao động theo quy định Việc lập và phân bổ dự toán ngân sách toàn ngành đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định, KTNN đã tổ chức hội nghị thảo luận công khai với các đơn vị dự toán và đơn vị

sự nghiệp trước khi trình Tổng KTNN quyết định Năm 2007, KTNN đã tiết kiệm được 14.386 triệu đồng chiếm 20,26% tổng chi của toàn ngành, ngày 13/5/2008 KTNN đã ban hành Công văn số 30/KTNN-VP về việc triển khai thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên năm 2008 góp phần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và kìm chế lạm phát theo giải pháp của Chính phủ, khẳng định được sự nỗ lực thực hành, tiết kiệm chống lãng phí của KTNN Cụ thể:

- KTNN đã đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ tài chính để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong tất cả các lĩnh vực công tác của KTNN, thực hiện lập

và phân bổ dự toán ngân sách toàn ngành đảm bảo chặt chẽ, tổ chức hội nghị thảo luận công khai với các đơn vị dự toán và đơn vị sự nghiệp trước khi trình Tổng KTNN quyết định

- KTNN đã thực hiện tốt việc tiết kiệm chi phí trong đi lại, ăn ở, nghỉ góp phần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Các đoàn kiểm toán đã tổ chức triển khai thuê nơi nghỉ, ăn ở đi lại đúng chế độ quy định của Nhà nước, thực hiện sắp xếp số lượng kiểm toán viên tại các Tổ kiểm toán phù hợp với nhiệm vụ kiểm toán; thực hiện sắp xếp Tổ kiểm toán thực hiện kiểm toán tại các đơn vị được kiểm toán trên địa phương gần nhau, đảm bảo di chuyển thuận lợi, cung đường

di chuyển hợp lý; các tổ kiểm toán trên cùng một địa phương hoặc các địa phương có cùng một tuyến đường giao thông được bố trí thời gian khai mạc kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết luận kiểm toán phù hợp đảm bảo có thể sử dụng cùng 01 xe ôtô cơ quan Trong quá trình thực hiện, các đoàn kiểm toán luôn cố gắng tăng năng suất làm việc thông qua việc làm thêm giờ và làm thêm vào các ngày nghỉ nhằm rút ngắn thời gian kiểm toán so với kế hoạch góp phần giảm tiền chi phí thuê chỗ nghỉ, tiền công tác phí cho cơ quan Khi thực hiện việc kiểm tra kết luận, kiến nghị kiểm toán, KTNN chú trọng việc xây dựng kế

Trang 32

hoạch kiểm tra phù hợp với kế hoạch kiểm toán để bố trí kiểm toán viên thuộc

Tổ kiểm toán đang thực hiện kiểm toán trên địa bàn nhận nhiệm vụ kiểm tra kết luận, kiến nghị của KTNN trong hoặc ngay sau khi kết thúc kiểm toán trên địa

bàn Đặc biệt có một số Đoàn kiểm toán về đầu tư xây dựng cơ bản (KTNN

chuyên ngành V ) đã thực hiện tiến hành kiểm toán tại cơ quan KTNN trên cơ

sở hồ sơ, tài liệu đơn vị kiểm toán cung cấp và phấn đấu giảm thời gian tổng thể

cho một cuộc kiểm toán góp phần tiết kiệm thời gian, kinh phí

- KTNN đã thực hiện nghiêm chế độ chi tiếp khách, chi khen thưởng, phúc lợi, gắn khen thưởng với kết quả công việc đã đạt được, sử dụng hiệu quả kinh phí 2% để khen thưởng cho các tập thể và cá nhân có thành tích đóng góp vào kết quả kiểm toán, qua đó động viên kịp thời và khuyến khích cán bộ, công chức cố gắng phấn đấu nâng cao chất lượng công tác chuyên môn; thực hiện tổ chức kỷ niệm các ngày lễ không lợi dụng để liên hoan, tiếp khách lãng phí, tham quan, du lịch, lễ hội; không sử dụng kinh phí, tài sản của cơ quan để mua quà tặng, thưởng, biếu cho các cơ quan, đơn vị cá nhân dưới mọi hình thức không đúng chế độ quy định của Nhà nước

- KTNN tiếp tục thực hiện giao khoán sử dụng văn phòng phẩm cho các đơn vị; sử dụng cả 2 mặt giấy để sao chụp, nhân bản tài liệu; tận dụng giấy đã sử dụng một mặt để phô tô tài liệu, in ấn bản thảo phục vụ cho chuẩn bị các cuộc họp triển khai công tác, thẩm định các kế hoạch kiểm toán, các dự thảo báo cáo kiểm toán và chỉ in các báo cáo chính thức; gửi tài liệu trên mạng dùng chung, hộp thư điện tử của KTNN, như: kết luận giao ban hàng tháng, lịch công tác tuần, một số tài liệu liên quan đến công tác kiểm toán đã góp phần tiết kiệm được chi phí xuất bản, văn phòng phẩm, thời gian và tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, kiểm toán viên trong toàn ngành tiếp cận kịp thời các thông tin của ngành

- Việc sử dụng điện, nước, quy định giữ gìn vệ sinh cơ quan được tổ chức thực hiện và giám sát một cách hiệu quả, đặc biệt là: giám sát thời gian cắt điện hàng ngày ngoài giờ làm việc; thời gian cấp điện ánh sáng để bảo vệ cơ quan ban đêm; sử dụng hệ thống điều hoà trung tâm, thang máy

Trang 33

- KTNN đã thực hiện tiết kiệm tốt trong việc tổ chức đoàn ra, khảo sát học tập ở nước ngoài; phối hợp tổ chức các chuyến đi có nội dung thiết thực, không trùng lặp, đúng thành phần, không kết hợp giải quyết chính sách với tham quan

du lịch; chương trình nội dung của đoàn ra luôn được lãnh đạo KTNN phê duyệt

và có sự kiểm tra đánh giá kết quả khảo sát sau khi đoàn về nước

b Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản

KTNN đã triển khai xây dựng đề án tổng thể dài hạn về nhu cầu đầu tư phù hợp với định hướng phát triển của ngành đến 2010, đảm bảo tập trung, có chọn lọc, phù hợp với việc thành lập thành lập thêm 04 đơn vị KTNN khu vực; thực hiện rà soát toàn bộ các dự án đầu tư trong toàn ngành, đôn đốc triển khai đẩy nhanh tiến

độ và tập trung tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư; nguồn vốn đầu tư được sử dụng tập trung, có chọn lọc; tại các đơn vị thường xuyên thực hiện công tác tự kiểm tra nhằm đánh giá tính tuân thủ và hiệu quả trong quá trình đầu tư xây dựng, đảm bảo thực hiện việc quản lý, sử dụng vốn đầu tư tiết kiệm và hiệu quả 6 tháng đầu năm 2008, thực hiện Quyết định số 390/QĐ- TTg ngày 17/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ, KTNN thực hiện hoãn 02 dự án với tổng dự toán: 4,45 tỷ đồng; thực hiện tốt công tác thẩm định dự toán, giảm 46 triệu đồng so với đề nghị dự toán Dự án trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ KTNN

(hạng mục khảo sát địa chất), Dự án cải tạo sửa chữa trụ sở KTNN khu vực IX;

thanh quyết toán dự án hoàn thành, giảm 352 triệu so với đề nghị quyết toán: dự án lắp đặt vách ngăn cabin phòng làm việc trụ sở KTNN; dự án hoàn thành sửa chữa, cải tạo trụ sở KTNN khu vực IV, khu vực V; đẩy nhanh các thủ tục giới thiệu địa điểm cho 04 KTNN khu vực mới được thành lập Công tác đầu tư XDCB được thực hiện theo đúng trình tự và quy định của Luật Xây dựng và các văn bản quản lý

về đầu tư và xây dựng có liên quan Ngoài ra, KTNN còn thành lập các tổ kiểm toán nội bộ để kiểm toán việc thực hiện đầu tư XDCB, đảm bảo tính hiệu quả, công khai, dân chủ trong công tác đầu tư XDCB

2.2.5.2 Quản lý và sử dụng tài sản công

Năm 2007, KTNN đã xây dựng các giải pháp cụ thể thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong lĩnh vực quản lý tài sản công Năm 2008, Tổng KTNN đã

Trang 34

ký quyết định ban hành quy chế phân cấp quản lý tài sản nhà nước tại KTNN và các đơn vị trực thuộc Cụ thể: KTNN đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng Quy chế quản lý và sử dụng tài sản công; thực hiện nghiêm các quy định về sử dụng

xe công; sử dụng tài sản đúng tiêu chuẩn, định mức quy định, không sử dụng tài sản vào việc riêng, giao và gắn trách nhiệm quản lý tài sản trang bị cho từng

cá nhân cụ thể đảm bảo sử dụng và bảo quản tốt các tài sản; thực hiện bảo dưỡng, bảo trì tài sản định kỳ đảm bảo sử dụng tài sản lâu dài; tiến hành rà soát, sắp xếp lại diện tích làm việc, bố trí vách ngăn phòng làm việc góp phần nâng cao hiệu quả trong sử dụng diện tích, thời gian và hiệu suất công việc

Các đơn vị đã triển khai nghiêm túc các biện pháp thực hành tiết kiệm điện theo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, tắt đèn, cắt hẳn nguồn điện khi không sử dụng các thiết bị dùng điện; hạn chế sử dụng điều hoà nhiệt độ, chỉ sử dụng điều hoà nhiệt độ khi thật sự cần thiết và khi sử dụng để nhiệt độ từ 250 trở

lên Không có tình trạng sử dụng các thiết bị sử dụng điện của cá nhân (không

thuộc tài sản trang bị của cơ quan) trong cơ quan và sử dụng điện cơ quan vào

việc riêng như đun nấu, là sấy

Việc mua sắm, trang bị tài sản đều theo kế hoạch phê duyệt và công khai, đáp ứng thiết thực nhu cầu của các đơn vị trực thuộc, ưu tiên trang bị phương tiện làm việc như máy tính xách tay đáp ứng nhu cầu của các đoàn kiểm toán; thực hiện trang bị máy in khi cần thiết, thực hiện nối mạng nội bộ đảm bảo nhiều máy tính trong cùng một phòng sử dụng 01 máy in Tổng KTNN đã chỉ đạo các đơn vị dự toán, các đơn vị sự nghiệp trực thuộc KTNN xây dựng kế hoạch mua sắm, trang bị tài sản giai đoạn 2006-2010 tạo sự thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, tiết kiệm trong toàn ngành

2.2.5.3 Công tác đào tạo, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động

a Công tác đào tạo

KTNN xác định đây là khâu quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải pháp tốt đối với việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Ngay từ đầu năm 2007, KTNN thực hiện công khai kế hoạch, lịch trình đào tạo, bồi dưỡng tạo điều kiện để các đơn vị chủ động bố trí sắp xếp thời gian cử cán

Trang 35

bộ tham gia một cách đầy đủ và hiệu quả Năm 2008, KTNN đã tổ chức thành công việc hướng dẫn, tập huấn toàn ngành để chuẩn bị tốt cho cuộc kiểm toán chuyên đề về mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản của các ban quản lý dự án tại một số bộ, ngành và địa phương; chuyên đề về sử dụng nguồn thu từ xổ số kiến thiết; cuộc kiểm toán Tập đoàn Điện lực.Các lớp đào tạo được tổ chức đúng đối tượng, được bố trí đan xen trước khi triển khai thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, trong thời gian không đi kiểm toán đảm bảo không ảnh hưởng đến nhiệm vụ chuyên môn của các đơn vị trực thuộc, nội dung phù hợp về kiến thức chuyên môn, về đạo đức nghề nghiệp và những kiến thức chung cần thiết khác Các lớp học thường xuyên được giám sát, đánh giá và có những biện pháp kiên quyết nhằm đảm bảo chất lượng công tác đào tạo đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực và tiết kiệm thời gian Đặc biệt, KTNN còn gửi các kiểm toán viên tham dự các khoá đào tạo ngắn hạn về kiểm toán tại nước ngoài và định hướng mở rộng hình thức đào tạo này bằng việc tranh thủ hỗ trợ của các dự án nước ngoài và nguồn kinh phí 2%

KTNN đã tiến hành khảo sát, điều tra chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt

là đội ngũ kiểm toán viên và những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ kiểm toán viên để xây dựng các bài giảng theo các chuyên đề hoặc các bài tập tình huống kiểm toán đối với từng lĩnh vực cụ thể

b Quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động

KTNN đã hoàn thành công tác rà soát, đối chiếu số lượng cán bộ, công chức và người lao động hiện có với các nhiệm vụ đang đảm nhiệm tại đơn vị để

bố trí sắp xếp lại cho phù hợp Đến nay, KTNN đã hoàn thành đề án tuyển dụng công chức, viên chức năm 2007 theo đúng quy định và hoàn thành công tác đánh giá cán bộ, bổ sung quy hoạch nguồn cán bộ lãnh đạo đảm bảo dân chủ, công bằng, công khai và minh bạch Việc bố trí cán bộ mới tuyển dụng vào các đơn vị trực thuộc đã được thực hiện theo những tiêu thức rõ ràng, căn cứ vào năng lực, kinh nghiệm chuyên môn, chuyên ngành đào tạo và đạt được sự đồng thuận cao

Đầu năm 2008, KTNN đã tập trung triển khai thực hiện tốt việc thi tuyển cán bộ công chức theo chỉ tiêu biên chế đã được phê duyệt tại tỉnh Quảng Ninh,

Trang 36

Yên Bái, Khánh Hòa và Tiền Giang Công tác tiếp nhận cán bộ, thi tuyển công chức, viên chức của KTNN đã đảm bảo tính dân chủ, công khai, minh bạch và hiệu quả trong công tác cán bộ và thu hút được người có năng lực Điểm mới so với các năm trước, KTNN lần đầu tiên tổ chức thành công kỳ thi Kiểm toán viên nhà nước, đã lựa chọn được các kiểm toán viên có phẩm chất đạo đức, có năng lực Đây là tiền đề tốt đẹp cho sự thành công trong hoạt động của KTNN

KTNN thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 05/2008/CT-TTg ngày 31/01/2008

của Thủ tướng Chính phủ “về việc nâng cao hiệu quả sử dụng thời giờ làm việc

của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước” và Chỉ thị số 603/CT- KTNN ngày

20/6/2008 của Tổng KTNN về việc nâng cao hiệu quả thời giờ làm việc của cán

bộ, công chức, viên chức trong các đơn vị trực thuộc KTNN để nâng cao hiệu quả sử dụng thời giờ làm việc, trong đó thủ trưởng các đơn vị trực thuộc KTNN phải tổ chức quán triệt, triển khai và thường xuyên gương mẫu và đôn đốc các cán bộ, công chức, viên chức trong các đơn vị thực hiện Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc đã tăng cường giám sát việc thực hiện thời gian và kỷ luật lao động tại đơn vị; bố trí sắp xếp kiểm toán viên vào các tổ, đoàn kiểm toán theo nguyên tắc đúng người, đúng việc, chú trọng cả việc đào tạo kiểm toán viên dự bị; việc

bố trí cán bộ phải công tâm, khách quan, phù hợp với yêu cầu thực tế của đơn vị; phải công khai, dân chủ trong bố trí sử dụng cán bộ để đảm bảo sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực của KTNN

Đặc biệt năm 2007, chế độ hội họp, xét duyệt báo cáo được thực hiện một cách hiệu quả, cải cách thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian Việc lồng ghép nội dung các cuộc họp và đẩy mạnh công tác chuẩn bị nội dung đã góp phần thực hiện tốt các hoạt động tổng kết tránh hình thức Đầu mối báo cáo theo quy trình xét duyệt báo cáo kiểm toán đã được giảm xuống, cụ thể như: tại Đoàn kiểm toán Công an 12 tỉnh với việc chỉ lập biên bản kiểm toán tại công an các tỉnh, thành phố và gộp thành một đầu mối kiểm toán để lập báo cáo tổng hợp chung KTNN đã tiếp tục thực hiện thí điểm việc xét duyệt kế hoạch kiểm toán, báo cáo kiểm toán trên cơ sở văn bản thẩm định của các Vụ chức năng được gửi cho các đoàn kiểm toán, lãnh đạo KTNN trước khi họp xét duyệt, tạo điều kiện

Trang 37

thuận lợi cho việc trao đổi ý kiến, góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán và giảm thời gian họp xét duyệt báo cáo kiểm toán và định hướng tiến tới chỉ tổ chức họp xét duyệt kế hoạch, báo cáo kiểm toán trong trường hợp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, tiết kiệm thời gian

Hiện nay, KTNN đang tiếp tục nghiên cứu để giảm bớt các thủ tục hành chính để đảm bảo tiến độ công việc và tiết kiệm thời gian của tất cả các bộ phận chức năng Các đơn vị đều phải đánh giá công tác cải cách hành chính và đề xuất những vướng mắc về thủ tục hành chính trong báo cáo giao ban hàng tháng theo chỉ đạo của Tổng KTNN

2.3 KTNN tăng cường phát hiện và ngăn chặn lãng phí thông qua hoạt động kiểm toán và nâng cao chất lượng kiểm toán

Trong hoạt động kiểm toán, Tổng KTNN đã chỉ đạo và yêu cầu các đoàn kiểm toán, kiểm toán viên cần tích cực và chú trọng phát hiện những hành vi, biểu hiện tham nhũng, thất thoát, lãng phí NSNN, tiền và tài sản nhà nước; tăng cường kiểm toán tuân thủ và xác định rõ địa chỉ, nguyên nhân và mức độ sai phạm, đồng thời kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý sai phạm của các tổ chức và

cá nhân có liên quan Qua quá trình kiểm toán, KTNN đã chỉ rõ một số biểu hiện lãng phí ở một số đơn vị được kiểm toán, kiến nghị các cơ quan chức năng xử lý theo thẩm quyền Ngoài việc phát hành báo cáo kiểm toán, theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật KTNN, Tổng KTNN còn gửi công văn đến Bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan ở trung ương, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đề nghị thực hiện và chỉ đạo các đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN

Năm 2007, KTNN đã thực hiện 107 cuộc kiểm toán, gồm: báo cáo quyết toán năm 2006 của 29 tỉnh, thành phố, 17 bộ, cơ quan Trung ương; 18 dự án đầu tư xây dựng, chương trình MTQG; báo cáo tài chính của 26 Tổng Công ty nhà nước,

tổ chức tài chính - ngân hàng, 15 đơn vị thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng; chuyên đề quản lý và sử dụng phí, lệ phí đường bộ 02 năm (2005 - 2006) và Báo cáo quyết toán NSNN năm 2006 tại Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trang 38

Trong 6 tháng đầu năm 2008, KTNN đã tích cực triển khai việc thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Phòng, chống tham nhũng; Chương trình hành động của Chính phủ và Chương trình hành động cụ thể trong toàn ngành Các giải pháp đặt ra về cơ bản đều đang được triển khai và có tác dụng lớn trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng trong hoạt động của ngành, cũng như trong hoạt động kiểm toán Công tác phối hợp rà soát kết quả kiểm toán, theo dõi thực hiện kết luận, kiến nghị giữa KTNN với các cơ quan chủ quản đối tượng kiểm toán, Bộ Tài chính ngày càng có chất lượng hơn Bộ Tài chính đã có văn bản đôn đốc, đề nghị đơn vị được kiểm toán, báo cáo một số kết quả thực hiện, xử lý kết luận và kiến nghị của KTNN với các cuộc kiểm toán trọng điểm, chủ động phối hợp với KTNN kiểm tra tại một số đơn vị, Kho bạc Nhà nước về việc theo dõi tình hình thực hiện kết luận và kiến nghị của KTNN KTNN xác định rõ tầm quan trọng của công tác phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan, nhằm góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả kiểm toán của KTNN, đã tích cực và chủ động phối hợp với các cơ quan kiểm tra, giám sát, thanh tra, các địa phương trong việc cung cấp thông tin về kết quả kiểm toán… Tính đến 30/6/2008, KTNN đã triển khai 83 cuộc kiểm toán, trong đó có 45 cuộc kiểm toán đã kết thúc làm việc tại đơn vị, đã tổ chức xét duyệt 28 dự thảo báo cáo kiểm toán, phát hành 6 báo cáo kiểm toán

Kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của các Bộ, ngành và địa phương, thông qua kết quả mà KTNN đã thực hiện trong năm 2007 và 6 tháng đầu năm 2008, cụ thể như sau:

2.3.1 Công tác tổ chức, triển khai, chỉ đạo thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của các Bộ, ngành, địa phương đã thực hiện kiểm toán

Để triển khai, thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các đơn vị hành chính, sự nghiệp và các doanh nghiệp nhà nước… đã căn cứ vào các quy định của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Chương trình hành động của chính phủ,

Trang 39

chủ động, tích cực trong việc xây dựng Chương trình hành động cụ thể của đơn

vị mình Chương trình hành động của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi đơn vị, bên cạnh việc triển khai thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ, của địa phương, đã xác định cụ thể một số nhiệm vụ thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý để tập trung chỉ đạo; quy định cụ thể thời hạn thực hiện và hoàn thành; phân công người chịu trách nhiệm từng khâu công việc Công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục trong các đơn vị từng bước được thực hiện theo quy định và hướng dẫn của Chính phủ; nhiều văn bản của Chính phủ, Bộ, ngành, các địa phương triển khai thực hiện Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã được ban hành Công tác ra soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến các quy định của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã từng bước được tiến hành và có kế hoạch bổ sung, sửa đổi, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp

có thẩm quyền ban hành; loại bỏ các quy định không phù hợp với yêu cầu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, các quy định không chặt chẽ, gây lãng phí NSNN, tiền, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên

Tuy nhiên, qua kết quả kiểm toán cho thấy, việc triển khai thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí còn gặp nhiều vướng mắc, tồn tại Công tác kiểm tra, đôn đốc thực hiện Chương trình hành động cụ thể tiến hành không thường xuyên, hiệu quả còn thấp và mang tính hình thức Tại nhiều đơn vị, việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ còn mang tính hình thức, sơ sài, chưa xây dựng phương án sử dụng số tiền tiết kiệm; nhiều đơn vị chưa được các cơ quan chuyên môn kiểm tra, hướng dẫn trong quá trình tổ chức thực hiện, nên hiệu quả thực hiện còn thấp…

2.3.2 Tình hình thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

2.3.2.1 Quản lý, sử dụng NSNN

Việc quản lý, sử dụng kinh phí hoạt động của các cơ quan, đơn vị đã gắn kết hơn với các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; các quy định của Luật NSNN, từ khâu lập dự toán đến chấp hành và quyết toán NSNN đã được thực hiện khá nghiêm túc

Trang 40

Tính đến cuối tháng 6 năm 2008, theo số liệu Báo cáo của Ủy ban tài chính ngân sách, hầu hết các Bộ, cơ quan trung ương đã phân bổ, giao chỉ tiêu tiết kiệm 10% chi thường xuyên cho các đơn vị trực thuộc với số tiền 700 tỷ đồng Đối với các địa phương, theo báo cáo của các địa phương, UBND cấp tỉnh đã ra quyết định giao tiết kiệm 10% chi thường xuyên cho các đơn vị trực thuộc và ngân sách cấp dưới với số tiền hơn 1.984 tỷ đồng Như vậy, tổng số tiền tiết kiệm 10% chi thường xuyên theo chỉ tiêu giao cho những tháng còn lại của năm 2008 của cả nước dự kiến đạt khoảng 2.700 tỷ đồng, bằng khoảng 25% tổng dự phòng NSNN năm 2008 Việc thực hiện chỉ tiêu tiết kiệm chi thường xuyên đã được kiểm soát chi một cách chặt chẽ Trong bối cảnh giá cả xăng dầu, vật tư… lạm phát tăng cao, không thực hiện tăng chi ngân sách và phải tiết kiệm thêm chi 10% thể hiện quyết tâm cao của Đảng và hệ thống chính trị trong thực hiện mục tiêu chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đòi hỏi các Bộ, ngành, địa phương phải sắp xếp chi tiêu hợp lý để hoàn thành nhiệm vụ Khoản kinh phí tiết kiệm được dành để bổ sung nguồn lực thực hiện chính sách an sinh xã hội, phòng chống thiên tai, thực hiện các nhiệm vụ đột xuất, cấp bách

Bên cạnh kết quả quan trọng bước đầu đã đạt được, trong quản lý kinh phí, vẫn còn tình trạng thực hiện không đúng các quy định mặc dù công tác kiểm soát chi luôn được quan tâm đẩy mạnh

2.3.2.2 Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản

Mặc dù kết quả tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản đã toàn diện hơn, nhưng nhìn chung tình trạng lãng phí trong lĩnh vực này vẫn còn tương đối phổ biến ở tất cả các khâu như: chất lượng quy hoạch, kế hoạch thực hiện các dự án đầu tư còn hạn chế; bố trí vốn đầu tư còn dàn trải, manh mún dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian thực hiện dự án theo quy định và bố trí vốn vượt quá khả năng cân đối; trong thực hiện các dự án, tình trạng thất thoát vốn đầu tư chưa được ngăn chặn hiệu quả, trách nhiệm của chủ đầu tư, tư vấn thiết kế, giám sát, nhà thầu chưa được phát huy đầy đủ nên vẫn còn tình trạng lãng phí ngay trong khâu thiết kế, cố ý làm sai lệch khối lượng thực tế thi công so với khối lượng nghiệm thu thanh toán; việc giải ngân vốn đầu tư tuy đã được cải thiện do

Ngày đăng: 15/04/2014, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w