1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những yếu tố văn hoá xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển ở tây nguyên

224 701 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những yếu tố văn hoá xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển ở Tây Nguyên
Tác giả TS Dương Thị Hưởng, TS Đậu Tuấn Nam
Trường học Học viện Báo chí Và Tuyên Truyền
Chuyên ngành Văn hóa xã hội
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói, đây là những nghiên cứu tổng hợp, mang tính khái quát về đặc điểm văn hoá - xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, chưa thể đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể của yếu tố vă

Trang 1

Bộ khoa học và công nghệ

chương trình kh & cn trọng điểm cấp nhà nước kx.03

“Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam

trong tiến trình đổi mới và hội nhập”

Báo cáo tổng hợp

“Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX.03.01/06-10”

Những yếu tố văn hóa - xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển ở Tây Nguyên

Chủ nhiệm đề tài: TS DƯƠNG THỊ HƯỞNG

Thư ký đề tài: TS ĐẬU TUẤN NAM

Cơ quan chủ trỡ: HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYấN TRUYỀN

7990

hà nội-2010

Trang 2

DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI

1 TS Dương Thị Hưởng - Học viện Báo chí và Tuyên truyền

2 PGS, TS Hoàng Đình Cúc - Học viện Báo chí và Tuyên truyền

3 GS, TS Dương Xuân Ngọc - Học viện Báo chí và Tuyên truyền

4 TS Hoàng Anh - Học viện Báo chí và Tuyên truyền

5 TS Nguyễn Thị Hồng - Học viện Báo chí và Tuyên truyền

6 ThS Phạm Thị Nhung - Học viện Báo chí và Tuyên truyền

7 PGS, TS Lê Quý Đức - Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia HCM

8 PGS, TS Đỗ Đình Hãng - Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

9 TS Đoàn Minh Huấn - Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

10 TS Lê Phương Thảo - Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

11 TS Đậu Tuấn Nam - Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

12 ThS Nguyễn Thị Kim Liên - Học viện Chính trị - Hành chính khu vực II

13 TS Nguyễn Ngọc Hòa - Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III

14 TS Lê Văn Định - Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III

15 PGS, TS Trần Xuân Dung - Học viện An ninh nhân dân

16 PGS, TS Nguyễn Bình Ban - Học viện An ninh nhân dân

17 ThS Vũ Hải Vân - Học viện An ninh nhân dân

18 PGS, TS Lê Ngọc Thắng - Ủy ban Dân tộc

19 PGS, TS Khổng Diễn - Viện Phát triển bền vững vùng Trung Bộ

20 TS Mai Thanh Sơn - Viện Phát triển bền vững vùng Trung Bộ

21 TS Bùi Minh Đạo - Viện Phát triển bền vững vùng Tây Nguyên

22 TS Trần Hồng Hạnh - Viện Dân tộc học

23 ThS Trần Lê Minh Trang - Viện Nghiên cứu Đông Nam Á

24 TS Nguyễn Thị Kim Vân - Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai

25 ThS Tô Văn Tám - Trường Chính trị tỉnh Kon Tum

26 ThS Đỗ Hữu Đệ - Trường Chính trị tỉnh Đắk Nông

27 Linh Nga Niê Kdam - Hội Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk

28 Nguyễn Bạn - Phó Ban Chỉ đạo Tây Nguyên

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tây Nguyên vốn là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc tại chỗ, thuộc hai nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me và Malayo - Polinesien Tuy nhiên, bức tranh phân bố tộc người ở Tây Nguyên hiện đã và đang có nhiều thay đổi, bởi sự có mặt của nhiều dân tộc mới đến Trước hết, phải kể tới sự có mặt khá sớm ở Tây Nguyên một bộ phận người Kinh đến từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Ngoài ra, Tây Nguyên còn là địa bàn cư trú của nhiều tộc người thiểu số đến từ các tỉnh miền núi phía Bắc (như các dân tộc Thái, Tày, Nùng, Hmông, Dao…) trong những năm gần đây Như vậy, có thể nói, Tây Nguyên là một khu vực đa tộc người, với nhiều sắc thái văn hóa khác nhau, trong đó văn hóa của các tộc người tại chỗ khá đặc sắc, phong phú và đa dạng Song cần phải nói thêm rằng, văn hóa các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên đang đứng trước nguy xói mòn bản sắc và bị lợi dụng vào các mục tiêu chính trị phi văn hóa của các thế lực thù địch Do đó, vấn đề bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững sự ổn định chính trị, an ninh quốc phòng trở thành một nhiệm

vụ cấp bách

Tây Nguyên là vùng lãnh thổ đặc thù nằm ở phía Tây Nam nước ta, vốn được coi là mái nhà chung của ba nước Đông Dương, với những con đường nằm trong hệ thống giao thông huyết mạch xuống đồng bằng và kết nối với hai nước láng giềng Lào và Cămpuchia, với không gian môi trường sinh thái đầu nguồn phía Đông thượng nguồn của sông Mê - kông Do đó, Tây Nguyên là địa bàn có tầm quan trọng chiến lược đối với cả nước trên các phương diện địa - kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường sinh thái Nhận thức rõ tầm quan trọng đặc biệt của Tây Nguyên, từ sau năm

1975, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội

Trang 4

Từ những phân tích trên đây cho thấy, nghiên cứu “Những yếu tố văn

hoá - xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển ở Tây nguyên” là một yêu

cầu hết sức bức thiết, không chỉ có giá trị về lý luận mà còn có ý nghĩa về thực tiễn

Trang 5

2 Mục tiêu của đề tài

- Làm rõ các yếu tố văn hoá - xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển ở Tây Nguyên

- Phân tích nguyên nhân của những tác động đến sự ổn định và phát triển ở Tây Nguyên

- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp góp phần ổn định và phát triển ở Tây Nguyên

3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về Tây Nguyên

3.1 Những nghiên cứu của các học giả nước ngoài

Cùng với sự có mặt của chủ nghĩa thực dân tại, một số học giả Âu Châu, mà số đông là các nhà Nhân học/Dân tộc học người Pháp đã đến Việt Nam nghiên cứu về các dân tộc thiểu số nói chung và các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên nói riêng Trước hết, phải kể đến các nhà nghiên cứu có tên tuổi như

J Guilteminet, J Dournes, G Condominas, J Boutbet, C Robecquain, A.Maurice, H Maspéro Phần lớn các công trình nghiên cứu của họ đã được

công bố trên các Tập san của Trường Viễn Đông Bác cổ (BEFEO), Hội nghiên

cứu Đông Dương (BSEI), Những người bạn Huế cổ kính (BAVH), Pháp Á

(FA), Tạp chí Đông Dương (RI)

Ngay từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, ở Việt Nam đã xuất hiện một số chuyên khảo của các học giả nước ngoài nghiên cứu về các dân tộc thiểu số, trong đó các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên đã được học giả

quan tâm tìm hiểu Trong số đó, phải kể đến các tác giả như: P.W Schmidt

với “Les peuples Mon - Khmer, trait d’union entre les peuples de l’Asie

Centrale et de l’Austronésie” (“Các dân tộc Môn - Khmer, gạch nối giữa

các dân tộc của châu Á Trung tâm và châu Úc”) [1908]; H Maitre với

“Các xứ Thượng ở miền Nam Đông Dương, cao nguyên Đắc Lắk” [1912];

H Maspéro với “Etude sur la phonétique historique de la langue annammite,

Les initiales” (“Nghiên cứu về lịch sử ngữ âm học của tiếng Annam, sự khởi đầu”) [1912]

Trang 6

Sau năm 1945, nhiều học giả nước ngoài tiếp tục công bố một số

nghiên cứu về Tây Nguyên rất có giá trị như: P Guileminet với “Coutumier

de la tribu Bahnar, des Sedang et des Jrai de la province de Kontum” (“Tập quán của các tộc người Bana, Sêđăng và Giarai ở tỉnh Kontum”) [1952] và

“Les tribus Bahnars au Kontum” (“Các tộc người Bana ở Kontum”) [1952];

P.B Lafont, Tơ lơi Djuat với “Coutumier de la tribu Jrai” (“Tập quán của

dân tộc Giarai”) [1963]… Những nghiên cứu này đi sâu hơn tìm hiểu từng

mặt phong tục tập quán như luật tục, lễ hội, cách ăn, mặc, ở, sinh hoạt của

một số dân tộc tại chỗ Tây Nguyên

Sau năm 1975, các nghiên cứu của các học giả nước ngoài về Tây Nguyên tiếp tục được mở rộng, mà tiêu biểu là các học giả người Mỹ, Nhật,

Hà Lan Trong đó, đáng chú ý là Gerald Hickey (Mỹ) với một loạt các nghiên

cứu như: “Sons of the Mountains Ethnohistory of the Vietnamese Central

Higlands to 1954” (“Những đứa con của núi rừng Lịch sử tộc người ở Tây Nguyên Việt Nam cho đến năm 1954”) [1982]; “Free in the Forest Ethnohistory of the Vietnamese Central Highland 1954-1976” (“Tự do trong rừng Lịch sử tộc người ở Tây Nguyên Việt Nam 1954-1976”) [1982];

“Shatted World Adaptation and Survival among Vietnam’s Highland Peoples

during the Vietnam War” (“Một thế giới bị chia cắt Thích ứng và sinh tồn

của các tộc người cao nguyên trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam”) [1993] Hickey là chuyên gia đã từng nghiên cứu phục vụ cho các chính sách thực dân của Mỹ ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chính vì vậy, Ông có điều kiện hiểu rõ quá trình hoạch định chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với người Thượng ở vùng Tây Nguyên Loại trừ những quan điểm của một chuyên gia thực dân, các công trình của Hickey cũng phải thừa nhận rằng, mặc dù đến thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu cầm quyền, chính quyền Sài Gòn có điều chỉnh chính sách đối với người Thượng, nhưng chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vẫn có sức lôi kéo mạnh mẽ đồng

bào Tây Nguyên Sau Hickey phải kể đến Furuta Moto (Nhật Bản) với

Trang 7

“Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam” [1989]; Oscar Salemink

(Hà Lan) với “Beyond Conplicity and Naiveté: Contextualizing the

Ethenography of Vietnam’s Central Highlanders 1850-1990” (Trên cả thói a

tòng và sự ngây thơ: Bối cảnh hoá dân tộc học về người Thượng Việt Nam)

[1994]; Patricia Pelly (Mỹ) với “Barbarian” and “Younger Brother” The

Remaking of Race in Postcolonial Vietnam (“Các dân tộc lạc hậu” và “Những

người anh em” Sự tái hình thành chủng tộc ở Việt Nam thời hậu thực dân)

[1998] Các công trình nêu trên chủ yếu nghiên cứu từ góc nhìn Nhân

học/Dân tộc học, từ đó đề cập đến chính sách của Đảng và Nhà nước Việt

Nam đối với các dân tộc thiểu số nói chung và đối với khu vực Tây Nguyên sau năm 1975 nói riêng

Trong những năm gần đây, một số tổ chức phi chính phủ quốc tế trong

khi tham gia các chương trình, dự án phát triển, chống đói nghèo, bảo vệ môi

trường ở miền núi Việt Nam cũng đã tham gia nghiên cứu một số khía cạnh

về kinh tế - văn hoá - xã hội các tộc người thiểu số Việt Nam Trong đó, đáng

chú là Công ty ADUKI Pty Ltd với “Poverty in Vietnam” (Vấn đề nghèo đói ở

Việt Nam) [1995]; hoặc các báo cáo tư vấn của Ngân hàng thế giới, Ngân

hàng phát triển châu Á, các tổ chức phi chính phủ, như báo cáo của Neil Jamieson: “b Rethinking Approaches to Ethenic Minority Development, The

Case of Vietnam” [2000] (Nghĩ lại cách tiếp cận chương trình phát triển dân

tộc thiểu số, Trường hợp Việt Nam); của John Hlevan: “Phát triển kinh tế-xã

hội trong mối tương quan với văn hoá truyền thống văn hoá miền Trung”

[2001] Những nghiên cứu này đề cập một số khía cạnh phát triển dân tộc và

miền núi từ môi trường - sinh thái, vấn đề đất đai, xoá đói giảm nghèo, phát

triển nguồn nhân lực Điểm đáng ghi nhận trong các báo cáo này là đã chỉ ra

càng phát triển kinh tế thị trường thì các nhóm cư dân yếu thế càng thua thiệt,

kể cả thụ hưởng thành quả tăng trưởng kinh tế trên chính quê hương của chính

họ, dù nhà nước đã tìm nhiều biện pháp điều tiết sự phát triển, thực hiện các đảm bảo xã hội ở vùng dân tộc thiểu số

Trang 8

Tóm lại, các nghiên cứu của một số học giả nước ngoài về vấn đề dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung và ở Tây Nguyên nói riêng đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận Một số công trình có giá trị khoa học, trở thành

tài liệu tham khảo bổ ích, giúp chúng ta thấy rõ hơn cách tiếp cận của họ đối

với chính sách dân tộc của các thể chế chính trị Việt Nam và trong nghiên cứu các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên Tuy nhiên, do động cơ nghiên cứu khác nhau, thậm chí có cả những công trình bị ảnh hưởng bởi các quan điểm thực dân, trái ngược với đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, cần phải hết sức thận trọng khi tham khảo

3.2 Những nghiên cứu trong nước

Như chúng ta đã biết, Tây Nguyên là một vùng lãnh thổ đặc thù của Việt Nam, có tầm quan trọng đặc biệt trên nhiều phương diện Do đó, đây là khu vực được các nhà nghiên cứu trong nước đặc biệt quan tâm Có thể tổng hợp các công trình do các nhà khoa học trong nước nghiên cứu thành 4 nhóm vấn đề cơ bản sau:

Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về lịch sử - văn hoá các

dân tộc thiểu số ở Việt Nam, trong đó có văn hoá - xã hội các dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Trước năm 1945, do hạn chế bởi các điều kiện chủ quan, khách quan khác nhau, các học giả Việt Nam ít có cơ hội tìm hiểu về các dân tộc thiểu số nói chung và các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên nói riêng Một số công trình lịch

sử chỉ đề cập đến các dân tộc thiểu số Tây Nguyên với những nét sơ giản như

“Việt Nam sử lược” [1921] của Trần Trọng Kim, “Việt Nam văn hoá sử

cương” [1938] của Đào Duy Anh, “Sự tiến hoá và ý nghĩa xã hội của phong tục An Nam” [1939] của Nguyễn Văn Huyên và có tính chuyên khảo hơn là

cuốn “Mọi Kon Tum” của Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi

Sau năm 1945, cùng với sự ra đời và phát triển của nhiều ngành khoa

học với chuyên ngành hẹp, đã thúc đẩy sự hình thành những nghiên cứu

chuyên biệt về dân tộc - miền núi nói chung và Tây Nguyên nói riêng Tuy

Trang 9

vậy, vào thời kỳ 1954-1975, những nghiên cứu về văn hoá - xã hội các dân tộc thiểu số Tây Nguyên cũng còn rất hạn chế, chủ yếu đề cập một cách sơ giản

trong một số bộ lịch sử của Đào Duy Anh (“Lịch sử Việt Nam” [1950],

“Nguồn gốc dân tộc Việt Nam” [1957], “Đất nước Việt Nam qua các đời”

[1964]) của tập thể các nhà sử học khoa Lịch sử trường Đại học Tổng hợp Hà

Nội (“Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam”), của Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam (“Lịch sử Việt Nam” [1971]) Ở miền Bắc sau 1954 đã từng bước hình

thành chuyên ngành Dân tộc học với những nghiên cứu bước đầu về lịch sử - văn hoá các tộc người thiểu số Song do chiến tranh, đất nước bị chia cắt, không có điều kiện điền dã thực tế phía Nam, các nghiên cứu giai đoạn này

chủ yếu tập trung vào khu vực miền núi phía Bắc Ở miền Nam, Phan Khoang với “Việt sử xứ Đàng Trong (1558-1777)” [1957] trong khi trình bày

quá trình Nam tiến của các chúa Nguyễn cũng có chấm phá đôi nét đến địa

bàn Tây Nguyên Mặc dù có đề cập đến lễ hội, tiếng nói, luật tục, tập quán

của “người Thượng cao nguyên”, nhưng phần nhiều nghiên cứu của giới khoa học miền Nam từ 1954-1975 phục vụ cho mục đích “tâm lý chiến” của chính quyền Sài Gòn, nên còn không ít hạn chế cả về cách tiếp cận khoa học và quan điểm chính trị

Sau năm 1975, các học giả Việt Nam mới có điều kiện đi sâu nghiên cứu khu vực Tây Nguyên, cả những nghiên cứu tổng hợp và các nghiên cứu chuyên sâu từng khía cạnh văn hoá - xã hội các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên:

1) Những nghiên cứu tổng quan về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và

quá trình hình thành cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam Đáng chú ý

trong số này là những công trình như: “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các

tỉnh phía Nam)” [1984] của tập thể tác giả; “Về khái niệm “dân tộc” của Mác

và Ăngghen và sự hình thành dân tộc Việt Nam” [1980] của Hà Văn Tấn; “Quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam” [1982] của Phan Huy Lê;

“Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam” [2003] của Đặng Nghiêm Vạn Trong

các công trình này, vùng Tây Nguyên được đề cập ở những nét chung nhất về

Trang 10

quá trình tộc người, nhóm ngôn ngữ, cơ tầng văn hoá Cũng có những

nghiên cứu chuyên sâu về một địa phương hoặc một DTTD ở Tây Nguyên như

Bế Viết Đẳng và Chu Thái Sơn với “Đại cương về các dân tộc Ê đê và

Mnông ở Đắk Lắk” [1982]; Mạc Đường với “Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng”

[1983]; Đặng Nghiêm Vạn với “Các dân tộc tỉnh Gia Lai-Kon Tum” [1981]; Khổng Diễn với “Các dân tộc vùng Trường Sơn - Tây Nguyên” [1984] Có

thể nói, đây là những nghiên cứu tổng hợp, mang tính khái quát về đặc điểm văn hoá - xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, chưa thể đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể của yếu tố văn hoá - xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển trong đời sống đương đại

2) Những nghiên cứu về văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam nói

chung và văn hoá các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói riêng Tiêu biểu là

công trình của Ngô Đức Thịnh: “Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá Việt

Nam” [1993] đã xác định “không gian văn hoá Tây Nguyên” không đồng nhất

với “không gian lãnh thổ Tây Nguyên” Phan Hữu Dật cùng các cộng sự

nghiên cứu về “Sắc thái văn hoá địa phương và tộc người trong chiến lược

phát triển đất nước” [1999] đã khu biệt hoá đặc điểm văn hoá các dân tộc

vùng Trường Sơn - Tây Nguyên Có nghiên cứu đi sâu lý giải một khía cạnh

văn hoá - xã hội cổ truyền các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên như Ngô Đức Thịnh: “Luật tục M’nông” [2000]; Lưu Hùng: “Buôn làng cổ truyền xứ

Thượng” [1994]; Chu Thái Sơn: “Vai trò của các tầng lớp người già trong

các xã hội truyền thống ở Trường Sơn - Tây Nguyên” [1997] Đây là những

nghiên cứu bước đầu phân tích cấu trúc tổ chức buôn làng; vai trò của toà án

phong tục, của luật tục, của già làng ở Tây Nguyên với đặc trưng riêng biệt

không thể lầm lẫn với bất cứ vùng nào Có những công trình lại tập trung tìm

hiểu sử thi, chữ viết, tiếng nói, sinh hoạt văn hoá các dân tộc (ăn, mặc, ở, đi

lại, lễ hội),

3) Những nghiên cứu về chính sách dân tộc của các thể chế cầm quyền

Việt Nam từ xưa tới nay đối với khu vực Tây Nguyên Về chính sách sách dân

Trang 11

tộc dưới chế độ phong kiến, gắn liền với quá trình hình thành dân tộc và phát

triển của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam, có nghiên cứu của Phan Hữu Dật và Lâm Bá Nam: “Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà

nước phong kiến Việt Nam (X - XIX)” [2001] Về thời kỳ thực dân cũ và mới,

loại nghiên cứu này tuy không nhiều và thiếu hệ thống, nhưng rải rác trong một số công trình khác nhau đã cho thấy rõ quan điểm, biện pháp của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với dân tộc tại chỗ Tây Nguyên Về thời kỳ chế độ dân chủ cộng hoà từ 1945 đến nay, gắn liền với yêu cầu xây dựng, tổ chức lại cuộc sống của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, đã thu hút được đông đảo giới nghiên cứu quan tâm Đặc biệt, từ sau

1975, trong điều kiện đất nước thống nhất và nhu cầu khai thác, phát triển Tây Nguyên đặt ra cấp bách, các nghiên cứu về Tây Nguyên rất được quan tâm

Tiêu biểu là các công trình: “Những vấn đề lý luận và thực cấp bách liên quan

đến mối quan hệ dân tộc hiện nay” [2001] của Phan Hữu Dật; “Vấn đề dân

tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta” [1995] của nhiều tác giả

Những công trình này, từ góc nhìn về thể chế, chính sách đã dự báo một số

nguy cơ bất ổn ở khu vực Tây Nguyên, trong đó nổi lên là vấn đề tôn giáo, đói

nghèo, phai nhạt bản bản sắc văn hoá dân tộc, tật bệnh, quản lý đất đai ;

giúp hình dung rõ cách nhìn lịch đại về chính sách dân tộc đối với Tây Nguyên; so sánh những khác nhau về bản chất của các thể chế cầm quyền trong thực hiện chính sách dân tộc

Nhóm thứ hai: Các công trình tổng kết tình hình thực hiện chính sách

dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với Tây Nguyên trong những năm Đổi mới, trong đó các yếu tố văn hoá - xã hội được đặc biệt coi trọng và giải quyết trong mối quan hệ với các yếu tố kinh tế, chính trị, quốc phòng và

an ninh

1) Những nghiên cứu đề cập tổng quan về tình hình thực hiện chính

sách dân tộc ở Tây Nguyên, trong đó vấn đề văn hoá - xã hội thường được coi

trọng Đáng chú ý là các công trình: “Một số vấn đề kinh tế - xã hội Tây

Trang 12

Nguyên” [1989] của Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam; “Báo cáo kết quả

thực hiện dự án “Điều tra đánh giá tác động của quá trình phát triển kinh tế -

xã hội đến đời sống của các dân tộc bản địa Tây Nguyên trong những năm đổi

mới” [1998] của Nguyễn Văn Tiêm và cộng sự Ở đây, các yếu tố văn hoá -

xã hội không nghiên cứu riêng biệt, mà được đặt trong mối quan hệ tương hỗ với các yếu tố chính trị và kinh tế Nhiều nghiên cứu cho thấy, những chuyển biến to lớn của Tây Nguyên sau một quá trình thực hiện Nghị quyết 22 của Bộ

Chính trị, đặc biệt từ khi có Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây

Nguyên (1998) Bên cạnh đó, các tổng kết nói trên cũng đã chỉ rõ những di

tồn lịch sử, những tác động của điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán, trình

độ dân trí và trình độ kinh tế trên cơ sở đó có khuyến nghị điều chỉnh

chính sách cho phù hợp, tránh để yếu tố quan phương đối lập với yếu tố phi

quan phương

2) Những tổng kết bước đầu về đời sống văn hoá và xác định các yêu cầu bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào các dân

tộc Tây Nguyên Đáng kể là các nghiên cứu: “Giữ gìn và phát huy giá trị văn

hoá Tây Nguyên” [1996] do Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III tổ

chức thực hiện; “Xu hướng vận động của nền văn hoá các dân tộc ở khu vực

Tây Nguyên” [1995] của Nguyễn Hồng Sơn; “Văn hoá các dân tộc Tây Nguyên - Thực trạng và những vấn đề đặt ra” [2004] của Trần Văn Bính

(chủ biên) Qua tổng kết thực tiễn, các nghiên cứu này đã so sánh yếu tố

truyền thống với yếu tố biến đổi của đời sống văn hoá - xã hội, từ đó cho thấy

cả khuynh hướng tích cực và tiêu cực tác động trực tiếp đến Tây Nguyên Có tác giả đã cắt nghĩa nguyên nhân kinh tế của những biến đổi ấy Tuy vậy, loại công trình này thường nghiên cứu trên bình diện chung về đời sống văn hoá ở

Tây Nguyên, chưa có điều kiện sâu giải quyết từng yếu tố văn hoá - xã hội

vốn rất phức tạp Mặc dù vậy, những nghiên cứu đó đã cung cấp cách nhìn

tổng quan để đi sâu nghiên cứu chuyên biệt từng yếu tố văn hoá - xã hội Tây Nguyên đã và đang tác động đến sự ổn định và phát triển hiện nay

Trang 13

3) Những nghiên cứu chuyên biệt về tín ngưỡng - tôn giáo ở Tây

Nguyên Có thể nói, đây là vấn đề dành được mối quan tâm sâu sắc của giới

nghiên cứu, vì nó đe doạ trực tiếp đến yêu cầu bảo vệ văn hoá truyền thống các dân tộc cũng như củng cố an ninh quốc gia Đáng chú ý là nghiên cứu:

“Kitô giáo trước buôn làng” [2002] của Đỗ Quang Hưng; “Nhu cầu tín

ngưỡng, tôn giáo và thay đổi niềm tin tôn giáo của đồng bào các dân tộc thiểu

số Tây Nguyên hiện nay” [2003] của Trương Minh Dục; “Tình hình tôn giáo

trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ”

[2004] của Ban Tôn giáo Chính phủ Những nghiên cứu này bước đầu phân

biệt giữa nhu cầu khách quan về tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào với âm mưu lợi dụng nhu cầu đó để truyền đạo trái pháp luật, gây bất ổn về an ninh tôn giáo ở Tây Nguyên Một số tác giả đã cố gắng truy tìm nguyên nhân bên

trong của các hiện trạng đó (“Nguyên nhân tâm lý - xã hội của sự phục hồi và

phát triển đạo Tin lành tại tỉnh Kon Tum” [2001] của Đỗ Kim Oanh) Tuy

vậy, các nghiên cứu này chưa có điều kiện cắt nghĩa đầy đủ các cơ sở kinh tế, văn hoá - xã hội làm biến đổi nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo và thiếu những giải pháp đồng bộ để điều chỉnh

4) Những nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội Tây

Nguyên như phát triển giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo, lao động việc làm Trong đó, đáng chú ý là các nghiên cứu: “Xoá đói, giảm nghèo vùng đồng bào

dân tộc thiểu số ở Kon Tum hiện nay” [2002] của Lê Văn Định và Nguyễn

Thị Hải Yến; “Di dân với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ tài

nguyên môi trường ở nước ta hiện nay” [2000] của Trần Văn Chử; “Nâng

cao dân trí, động lực phát triển đời sống các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên”

[2004] của Mai Văn Mô…Bên cạnh khẳng định mặt thành công, các nghiên

cứu này cũng không né tránh mặt chưa thành công trong xây dựng văn hoá - xã

hội ở Tây Nguyên và các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng những khuyết điểm đó để chống phá, gây bất ổn Một số bất cập nảy sinh ở Tây Nguyên

cũng đã được chỉ ra là: dân trí thấp, chất lượng nguồn nhân lực không đồng

Trang 14

đều, đói nghèo ở vùng sâu, vùng xa; bản sắc văn hoá dân tộc bị xâm hại nghiêm trọng; di dân diễn biến phức tạp và khó quản lý; chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào chưa xứng tầm; ứng dụng khoa học - công nghệ còn hạn chế

Tuy vậy, phần lớn những nghiên cứu này là các viết trên tạp chí, mới đề cập một vài khía cạnh nhỏ, chưa có điều kiện đánh giá có hệ thống đời sống văn hoá - xã hội ở Tây Nguyên và những tác động của nó đối với sự ổn định và phát triển hiện nay

Nhóm thứ ba: Những công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế, xây

dựng hệ thống chính trị, phát huy dân chủ, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, tăng cường quốc phòng - an ninh được đặt trong quan hệ với phát triển văn hoá - xã hội

1) Trước hết, vấn đề đất đai ở Tây Nguyên là hướng nghiên cứu giành được sự quan tâm sâu sắc của nhiều tác giả Đáng kể như các công trình: “Sở

hữu và sử dụng đất đai ở các tỉnh Tây Nguyên” [2000] của Vũ Đình Lợi, Bùi

Minh Đạo, Vũ Thị Hồng; “Vấn đề đất đai ở các tỉnh Tây Nguyên” [2002] của Đặng Nghiêm Vạn; “Tái lập quản lý cộng đồng về đất đai ở các buôn làng

Tây Nguyên (trong bối cảnh thực hiện Luật đất đai 1993” [2002] của Vương

Xuân Tình Có thể nói, các công trình nghiên cứu kể trên bước đầu đã làm

rõ đặc trưng của chế độ sở hữu và quản lý đất đai ở Tây Nguyên - một xã hội đang chuyển từ công xã thị tộc sang công xã nông thôn-với việc đề cao vai trò của buôn làng trong quản lý Vì vậy, những áp đặt cách quản lý của người Kinh lên Tây Nguyên như giao rừng, khoán đất sẽ không phù hợp, đòi hỏi

phải phát huy vai trò của buôn làng trong quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội

Cũng có những tác giả đã mạnh dạn chỉ ra các dẫn chứng sinh động về sự thất bại của khoán đất, giao rừng ở Tây Nguyên

2) Trong thời gian gần dây, các vấn đề xây dựng hệ thống chính trị,

phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, dân chủ hoá đời sống xã hội cũng dành được sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu Đáng chú ý là

các nghiên cứu: “Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên đáp ứng

Trang 15

yêu cầu cách mạng trong giai đoạn hiện nay” [2002] của Lê Hữu Nghĩa;

“Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay - Thực

trạng và giải pháp” [2004] của Dương Thị Hưởng (chủ nhiệm) Loại nghiên

cứu này tuy không đề cập trực tiếp các yếu tố văn hoá - xã hội, song có đặt ra các mối liên hệ nội tại với sự tuỳ thuộc lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau giữa chính trị, kinh tế với văn hoá - xã hội Có nghiên cứu đã cắt nghĩa nguyên nhân yếu kém của hệ thống chính trị Tây Nguyên thời gian qua là không nắm vững đặc điểm văn hoá - xã hội của các dân tộc tại chỗ, áp đặt cách tổ chức xã hội của người Kinh cho các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên

Không ít tác giả đã gợi mở một số hướng nghiên cứu về kết hợp chặt chẽ giữa

yếu tố quan phương và phi quan phương, giữa truyền thống và hiện đại trong xây dựng hệ thống chính trị ở Tây Nguyên, đặc biệt là phát huy vai trò của các thiết chế xã hội truyền thống, của cách thức quản lý cộng đồng, của luật tục

3) Những nghiên cứu về đảm bảo an ninh dân tộc, tôn giáo ở Tây

Nguyên, mà ở đó các yếu tố văn hoá - xã hội được đề cập chủ yếu dưới góc độ

là cơ sở đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững Các nghiên cứu này dạng

này tiếp cận từ khía cạnh chính trị và an ninh như: “An ninh ở vùng dân tộc

thiểu số Tây Nguyên - Thực trạng và giải pháp” [2000] của Tạ Văn Trung;

“Phát triển kinh tế-xã hội gắn với bảo đảm an ninh, quốc phòng trên địa bàn

Tây Nguyên” [2003] của Nguyễn Phúc Thanh; “Hoạt động lợi dụng tôn giáo

của các thế lực thù địch ở Tây Nguyên hiện nay - Thực trạng và giải pháp

phòng ngừa, đấu tranh” [2002] của Trần Xuân Dung Các công trình này ở

chừng mực nhất định đã cho thấy thực trạng bất ổn ở Tây Nguyên trên tất cả

các mặt an ninh chính trị, an ninh tư tưởng - văn hoá, an ninh biên giới - lãnh

thổ, nhất là từ sau vụ bạo loạn chính trị các năm 2001 và 2004; từ đó, khuyến

nghị một số giải pháp an ninh để ổn định tình hình Tuy vậy, do xuất phát chủ yếu từ nghiệp vụ an ninh, nên những nghiên cứu trên chưa có điều kiện đi sâu cắt nghĩa chiều sâu văn hoá - xã hội của “vấn đề dân tộc” ở Tây Nguyên, giải pháp được khuyến nghị chủ yếu giải quyết những vấn đề mang tính tình thế

Trang 16

Cả 4 nhóm nghiên cứu nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá

trình thực hiện đề tài, bao gồm: cung cấp một số tư liệu và cách tiếp cận đối

tượng nghiên cứu Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu còn mang tính rời rạc

và chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt, mang tính hệ thống về các yếu

tố văn hoá - xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển ở Tây Nguyên Đặc

biệt là còn thiếu những nghiên cứu liên ngành để tìm ra luận cứ, giải pháp ổn định và phát triển Tây Nguyên - một vùng đất tuy đã “yên” nhưng chưa “ổn”

sau các vụ bạo loạn chính trị 2001 và 2004 Giải quyết “khoảng trống” nêu trên là trách nhiệm đặt ra đối với đề tài khoa học này

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã triển khai các phương pháp chủ yếu sau đây:

- Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích tài liệu được sử dụng để

thu thập và đánh giá các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài, bao gồm các Văn kiện của Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các công trình nghiên cứu về văn hoá - xã hội ở Tây Nguyên đã được công bố trong và ngoài nước

- Phương pháp điền dã dân tộc học được chúng tôi coi trọng trong

quá trình nghiên cứu trên thực địa, bao gồm các thao tác cơ bản như: quan sát tham dự, quan sát trực tiếp, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

+ Quan sát tham dự là sự tiếp cận người dân theo nguyên tắc: cùng ăn, cùng ở và cùng làm Với cách tiếp cận này, chúng tôi có thể vừa quan sát, vừa tham gia vào nhiều hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người dân; từ đó, có thể tạo mối quan hệ thân thiện, hiểu biết về họ và cuộc sống của họ, khiến họ cảm thấy thoải mái hơn với sự hiện diện của chúng tôi trong gia đình/cộng đồng của họ Cũng chính nhờ vậy, chúng tôi có thể thu thập các thông tin về cuộc sống của họ, trong đó có các thông tin về văn hóa - xã hội và những vấn

đề nhạy cảm có liên quan

+ Trong quá trình điền dã, chúng tôi cũng đã sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp để đánh giá sơ bộ các điều kiện tự nhiên, nơi cư trú, hệ

Trang 17

thống canh tác nông nghiệp, hoạt động sản xuất và các khía cạnh khác trong đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, đặc biệt là các dân tộc tại chỗ - đối tượng nghiên cứu chính của đề tài

+ Để tiến hành phỏng vấn sâu, chúng tôi đã lựa chọn các thông tín viên chủ chốt gồm chính những người dân tộc tại chỗ, những người tham gia công tác đảng và công tác chính quyền các cấp (tỉnh, huyện, xã, buôn làng); những người thực thi chính sách văn hóa và các già làng, trưởng buôn làng, người có uy tín trong cộng đồng Nội dung phỏng vấn được chuẩn bị trước với những câu hỏi được xây dựng theo nguyên tắc gợi ý để người trả lời có nhiều lựa chọn khi đưa ra quan điểm, ý kiến của mình về sự tác động của các yếu tố văn hóa - xã hội đến sự ổn định và phát triển ở địa phương Những vấn đề chính trong bảng phỏng vấn sâu đề cập tới là những vấn đề mà bảng hỏi định lượng không thể giải quyết được một cách triệt để hoặc sâu sắc

+ Các cuộc thảo luận nhóm cũng được tiến hành tại địa bàn nghiên cứu (dành cho đối tượng cung cấp thông tin là người dân) hay tại Uỷ ban nhân dân các cấp tỉnh, huyện, xã (dành cho đối tượng cung cấp thông tin là cán bộ địa phương) Đối với nhóm người dân, chúng tôi chia thành từng nhóm riêng, căn cứ vào giới tính (nam/nữ), lứa tuổi (người già/trung niên/thanh niên) và nghề nghiệp (thuần nông, trưởng các thôn buôn, già làng …) của các nhóm đối tượng Mỗi nhóm người dân thường gồm 7 - 9 người Đối với nhóm cán

bộ địa phương, chúng tôi cũng tổ chức thành các nhóm để thảo luận Mỗi nhóm gồm 5 - 7 cán bộ đang công tác tại các phòng chức năng Hướng thảo luận tập trung vào các vấn đề về tình hình đời sống kinh tế, văn hóa, giáo dục; mong muốn và kiến nghị của địa phương về bảo tồn văn hóa các tộc người, những giải pháp mà chính quyền địa phương các cấp đã và sẽ thực hiện nhằm hạn chế những tác động của các yếu tố văn hóa - xã hội đến sự ổn định và phát triển…

- Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện thông qua bảng

hỏi chuẩn bị sẵn Nguyên tắc chọn mẫu: theo phương pháp ngẫu nhiên Trong

Trang 18

cơ cấu mẫu có chú ý tới các nhóm đối tượng khảo sát: nhóm người dân tộc tại chỗ và nhóm người dân tộc mới đến Phương pháp trưng cầu ý kiến: dùng Bảng hỏi trực tiếp với những người được trưng cầu ý kiến, theo nguyên tắc số phiếu phát ra phải lớn hơn số phiếu dự kiến thu về ít nhất là 10% Kỹ thuật phân tích và xử lý số liệu: Các số liệu định lượng được xử lý bằng những công

cụ phần mềm hỗ trợ như: SPSS for Windows 15.0; Eview; DTM

- Phương pháp chuyên gia được thực hiện qua các cuộc trao đổi trực

tiếp với các chuyên gia có nhiều trải nghiệm khi nghiên cứu về văn hóa - xã hội Tây Nguyên, cũng như những đánh giá của họ về tác động của các yếu tố văn hoá - xã hội ở Tây Nguyên đến sự ổn định và phát triển Phương pháp này cũng nhằm thu thập ý kiến của lãnh đạo chính quyền các cấp, các ban, ngành trong việc thực thi chính sách từ trung ương xuống địa phương, làm cơ sở đối sánh với những phát hiện thu được trong quá trình khảo sát

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

5.1 Về nội dung

Nội dung nghiên cứu của đề tài là những yếu tố văn hóa - xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển của Tây Nguyên Tuy nhiên, đề tài chỉ lựa chọn những yếu tố cơ bản nhất phản ánh đặc trưng của Tây Nguyên đã, đang

và sẽ tác động đến ổn định và phát triển để khảo sát, nghiên cứu Đó là các yếu tố: (i) Thiết chế xã hội truyền thống; (ii) Vấn đề sở hữu đất đai; (iii) Di cư

và di cư tự do; (iv) Hệ thống tri thức địa phương; (v) Tín ngưỡng và tôn giáo; (vi) Quan hệ tộc người Mỗi yếu tố như thế đều được nhận diện cả chiều cạnh truyền thống và chiều cạnh biến đổi, những tương tác của chúng đối với ổn định và phát triển ở Tây Nguyên

Trang 19

5.3 Về không gian

Địa bàn Tây Nguyên được quan niệm theo “vùng văn hoá” rộng hơn rất nhiều so với quan niệm về “vùng lãnh thổ thể chế” Tuy nhiên, khu vực Tây Nguyên trong nghiên cứu này được giới hạn theo đơn vị hành chính gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng

6 Kết cấu của báo cáo tổng hợp

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Báo cáo tổng hợp của đề tài gồm 4 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận, phương pháp luận nghiên cứu các

yếu tố văn hóa - xã hội ở Tây Nguyên tác động đến sự ổn định và phát triển

Chương 2: Tổng quan về vùng thể chế Tây Nguyên và cấu trúc của các

yếu tố văn hóa - xã hội ở Tây Nguyên tác động đến sự ổn định và phát triển

Chương 3: Những yếu tố văn hóa - xã hội chủ yếu tác động đến sự ổn

định và phát triển ở Tây Nguyên

Chương 4: Xu hướng, quan điểm và giải pháp phát triển văn hóa - xã hội

Tây Nguyên vì sự ổn định và phát triển bền vững

Trang 20

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU

CÁC YẾU TỐ VĂN HÓA - XÃ HỘI Ở TÂY NGUYÊN

TÁC ĐỘNG ĐẾN ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN

1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 “Dân tộc” và “tộc người”

Trong nhiều công trình nghiên cứu, cũng như trên các phương tiện

truyền thông của Việt Nam hiện nay, việc hiểu và sử dụng khái niệm dân tộc

chưa có sự thống nhất Sự thiếu chuẩn xác trong sử dụng thuật ngữ “dân tộc”

ở Việt Nam là xuất phát từ việc tiếp cận khái niệm này theo nhiều cách hiểu khác nhau:

- Khái niệm dân tộc được hiểu là một cộng đồng cư dân sống trên một

lãnh thổ quốc gia xác định dưới sự điều hành của một nhà nước trung ương thống nhất Nếu theo quan điểm này thì các cư dân cùng sinh sống trên một

lãnh thổ có thể khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, thậm chí

là cả về nguồn gốc chủng tộc nhưng cùng có chung một nhiệm vụ chính trị (xây dựng và bảo vệ nhà nước) thì đều thuộc về một cộng đồng - quốc gia, nghĩa là họ đều thuộc về một quốc tịch Kiểu cộng đồng này rất phổ biến ở nhiều nước của các châu lục trên thế dưới mà điển hình là các quốc gia châu

Á, châu Phi; ở châu Á thì đó là trường hợp của Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanmar…

- Khái niệm dân tộc được dùng để chỉ các tộc người (ethnics) Ở Việt Nam, thuật ngữ các dân tộc thường được hiểu theo tinh thần này, thể hiện qua

Bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam được Nhà nước công bố vào

năm 1979 Theo Bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, thì ở nước

ta có 54 tộc người (được nhận biết chính thức), được xác định dựa vào 3 tiêu chí cơ bản đó là: có ngôn ngữ chung; có các đặc trưng chung về sinh hoạt-văn

Trang 21

hóa; và có ý thức tự giác tộc người, trong đó ý thức tự giác tộc người được coi

là quan trọng nhất

- Khái niệm dân tộc còn được dùng với nghĩa chỉ những người không

phải người Kinh, không thuộc thành phần đa số mà họ là thiểu số Khái niệm

này còn được dùng để đặt tên cho các cơ quan nhà nước có liên quan đến cộng

đồng thiểu số như Hội đồng dân tộc của Quốc hội, Ủy ban dân tộc của Chính phủ, Ban dân tộc các tỉnh Đấy là chưa nói đến việc sử dụng khái niệm dân tộc như là một danh từ riêng (người dân tộc - chỉ một người hay t nhóm người thiểu số cụ thể nào đó), hay là một thuật ngữ mang tính miệt thị (ngơ ngác như

mấy anh dân tộc thiểu số)… Khái niệm dân tộc được sử dụng trong trường hợp này là rất không chính xác và vô hình chung đã không thừa nhận cộng đồng đa số (người Kinh) thuộc phạm trù dân tộc

Trong nhiều trường hợp khái niệm dân tộc ít người được dùng với ý nghĩa chỉ các tộc người thiểu số không phải là người Kinh Cụm từ “ít người”

được coi là một từ thuần Việt, có nội hàm rõ ràng Do đó, trước đây nó được

dùng rất phổ thông mà điển hình là ở hai công trình nghiên cứu: Các dân tộc ít

người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc) [Hà Nội 1978] và Các dân tộc ít người

ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam) [Hà Nội 1984] Tuy nhiên, nhiều người vẫn

sử dụng khái niệm dân tộc thiểu số để biểu đạt cộng đồng cư dân trên (như cuốn Các dân tộc thiểu số Việt Nam) Vấn đề đặt ra ở đây là nên dùng khái

niệm các dân tộc thiểu số hay các dân tộc ít người? Thực ra, khái niệm thiểu

số (đối nghĩa với đa số) thường được dùng cho các phạm trù thiên về định lượng Do đó, xét dưới góc độ khoa học thì dùng thuật ngữ các dân tộc thiểu

số đảm bảo độ chuẩn xác cao hơn

Tóm lại, xuất phát từ những cách hiểu khác nhau dẫn đến sự thiếu chuẩn xác và không thống nhất trong việc sử dụng khái niệm dân tộc Do đó, cần phải có sự thống nhất cách gọi các cộng đồng này sao cho vừa đảm bảo tính chính xác, khoa học mà vẫn phù hợp với thói quen đã được xác lập Theo

tinh thần đó, chúng tôi cho rằng, dân tộc (nation) và tộc người (ethnic) là

Trang 22

những khái niệm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, tuy thống nhất mà không đồng nhất, giữa chúng có những điểm khác biệt thể hiện qua định nghĩa

về dân tộc và tộc người như sau:

Dân tộc hay quốc gia - dân tộc (nation) là một cộng đồng chính trị-xã

hội, được thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, được chỉ đạo bởi một nhà nước, cùng có chung một vận mệnh lịch sử, dùng chung một tiếng nói/ngôn ngữ hành chính (trừ trường hợp cá biệt), có chung một sinh hoạt kinh tế hay một thị trường và có chung một tính cách dân tộc thể hiện trong lối sống và những biểu tượng văn hóa chung, tạo nên một tính cách dân tộc

Tộc người (ethnic) hay dân tộc - theo thuật ngữ thường dùng - là một

cộng đồng người được hình thành trong lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, cùng có chung những đặc điểm tương đối bền vững về ngôn ngữ, văn hóa tạo thành một tính cách tộc người và đặc biệt là cùng có chung một ý thức tự giác tộc người Một tộc người có thể bao gồm nhiều nhóm địa phương nhưng không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, một cộng đồng sinh hoạt kinh tế;

vì vậy, một tộc người có thể ở nhiều quốc gia khác nhau Nhóm địa phương

(groupe local) là một bộ phận của một tộc người nhất định, cố kết với nhau

thành một nhóm riêng, có một tên gọi riêng

1.1.2 “Yếu tố văn hoá - xã hội”

1.1.2.1 “Yếu tố” là thành phần, bộ phận cấu thành của một sự vật, hiện

tượng nào đó của đời sống tự nhiên hoặc xã hội Trong nghiên cứu khoa học thường có hai cách tiếp cận bản chất sự vật, hiện tượng - tiếp cận “chủ toàn”

và “chủ biệt” Nếu chủ toàn xem xét cái tổng thể thì chủ biệt lại xem xét cái

chiều cạnh - cụ thể Đây là những cách thao tác tư duy rất có ý nghĩa về mặt

tri thức luận, vừa cho phép khám phá đời sống hiện thực ở các yếu tố đơn lẻ;

vừa hình dung được tổng thể các yếu tố trong chỉnh hợp Làm rõ các “yếu tố” với ý nghĩa khám phá các lát cắt - chiều cạnh đã thúc đẩy không chỉ khám phá ngoại giới, mà kể cả tìm hiểu sinh giới và đời sống xã hội con người Nhưng

dù một tỷ “yếu tố” vẫn chỉ là “yếu tố”, chưa phải là toàn thể Vì vậy, bên cạnh

Trang 23

nghiên cứu các yếu tố thì người ta cũng coi trọng xem xét các sự vật trong

chỉnh hợp mà "yếu tố" này thường dung nạp thuộc tính của "yếu tố" khác,

không chỉ cái riêng trong cái chung mà cái chung cũng nằm trong cái riêng Điều này rất có ý nghĩa về mặt phương pháp luận khi nghiên cứu Tây Nguyên, bởi Tây Nguyên là một cấu trúc phức hợp giữa hiện thực và hư ảo, tự nhiên và

xã hội, cá nhân và cộng đồng… Vì vậy, nghiên cứu các yếu tố văn hóa - xã hội Tây Nguyên với tư cách là một bộ phận cấu thành chỉnh hợp đời sống các

tộc người tại chỗ Tây Nguyên cần phải giới hạn ở những yếu tố cơ bản nhất

đã, đang và sẽ có tác động tới tính ổn định hoặc biến đổi căn tính tộc người

1.1.2.2 “Văn hóa” ở đây cần được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp, văn hóa được hiểu như một lĩnh vực của hoạt động và

sinh hoạt xã hội, bao gồm các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin đại

chúng (phát thanh, truyền hình, báo chí, bảo tồn và bảo tàng…) Theo nghĩa

rộng, văn hóa là tất cả những gì không phải tự nhiên, nghĩa là tất cả những gì

con người tạo ra, ở trong con người và liên quan trực tiếp nhất đến con người

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích

của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”(1) Như vậy, theo Hồ Chí Minh văn hóa gồm tất cả những gì con người sáng tạo ra nhằm duy trì cuộc

sống con người và xã hội Trong “Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa” năm 2001, UNESCO đã định nghĩa: văn hóa được hiểu là một tập hợp các

đặc điểm nổi bật về mặt tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội, ngoài văn chương và nghệ thuật thì văn hóa còn bao gồm lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị truyền thống và tín ngưỡng

1 Hồ Chí Minh (1995), “Mục đọc sách” Hồ Chí Minh Toàn tập tập 3, xuất bản lần thứ 2, Nxb

CTQG, Hà Nội, tr 431

Trang 24

Theo Luật Di sản văn hóa (công bố theo Lệnh số 09/2001/L-CTN, của

Chủ tịch nước ngày 12/7/2001), tại Điều 4, thì các di sản văn hóa được phân

chia thành hai nhóm: vật thể và phi vật thể Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm

vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết nghề thủ công truyền thống, tri thức bản địa về y học, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác

Theo nội hàm mà các định nghĩa vừa nêu ở trên, có thể nhận thấy, tuy

có nhiều cách quan niệm, định nghĩa về văn hóa, song về cơ bản đều thống nhất coi văn hóa là những gì mà con người hiểu, tích lũy và sáng tạo để hình thành nên các giá trị, chuẩn mực xã hội trong quá trình lao động, hoạt động thực tiễn Các giá trị và chuẩn mực đó tác động, chi phối, điều chỉnh đời sống tâm lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động trên mọi lĩnh vực có sự hiện diện của con người

Trong thực tế, tùy theo chuyên ngành và ở từng quốc gia mà văn hóa có thể được chia thành các nhóm khác nhau Trong ngành Dân tộc học/Nhân học,

các nhà nghiên cứu thường chia văn hóa các dân tộc thành: văn hóa vật chất,

văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần

Văn hóa vật chất (bao gồm văn hóa sản xuất) hay còn gọi là văn hóa

đảm bảo đời sống, thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, cách thích ứng với điều kiện tự nhiên để tiến hành sản xuất ra của cải nuôi sống con người, thõa mãn nhu cầu của con người trong môi trường tự nhiên và xã hội nhất định Trước hết, đó là những phương tiện kỹ thuật sản xuất, những sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống như ăn, ở, mặc, phương tiện đi lại… Quá trình

Trang 25

cải tạo tự nhiên ở những môi trường khác nhau đã tạo ra các nền văn hóa khác nhau Những hoạt động và sáng tạo của con người trong môi trường tự nhiên được vật chất hóa thành những sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu (ăn, mặc, ở, đi lại…) của con người, đồng thời sẽ tạo ra sắc thái văn hóa vùng, miền, khu vực Những hoạt động sáng tạo của con người được dấu hiệu hóa bởi một số

sự nhân hóa tự nhiên, tự nhiên theo hình ảnh khác nhau của con người mà tạo

ra vật phẩm, các biểu tượng văn hóa Do đó, khi khảo cứu văn hóa một dân tộc, một tộc người trước hết cần phải xem xét điều kiện tự nhiên cũng như xã hội của dân tộc đó

Văn hóa xã hội thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người trong

xã hội (vì suy cho cùng “con người là một tổng hòa các mối quan hệ xã hội”,

cũng như quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng ở một thời điểm nhất định Trước hết là gia đình, làng bản, đất nước Trong quá trình hoạt động, con người luôn hướng tới việc tạo ra những giá trị văn hóa - xã hội Đó là những chuẩn mực và trong thời điểm lịch sử nhất định con người tạo ra các khuôn mẫu ứng xử Chính chuẩn mực ứng xử đó đã điều chỉnh những giá trị được cộng đồng noi theo (thành tập quán) và được kết tinh lại thành truyền thống mang đặc trưng của cộng đồng người sáng tạo ra văn hóa Sản phẩm được vật thể hóa chính là luật tục thành văn và không thành văn, lối sống cá nhân và xã hội, mối quan hệ gia đình, cộng đồng…

Văn hóa tinh thần bao gồm mối quan hệ thẩm mỹ của con người với

thực tại (thiên nhiên, con người, cảnh vật) và quan hệ giữa con người của cõi sống và cõi chết Những hoạt động sáng tạo thể hiện mối quan hệ đó là tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh, cái thiêng, nghệ thuật, nghi lễ, lễ hội…

Ở đây, cũng cần phải lưu ý rằng, văn hóa là một dòng chảy liên tục, có biến đổi theo thời gian Vì vậy, việc phân chia văn hóa theo lát cát ngang chỉ

có tính tương đối và mang tính thao tác trong nghiên cứu khoa học nhằm để trình bày, miêu tả đối tượng một cách đầy đủ và chính xác, nhất là khi khảo cứu về văn hóa dân tộc - tộc người Trong thực tế, như chúng ta đều biết,

Trang 26

không có một sản phẩm (văn hóa vật chất) nào lại không mang những giá trị văn hóa tinh thần và ngược lại, không có giá trị văn hóa tinh thần nào mà lại không tồn tại dưới một dạng thức vật chất nhất định

1.1.2.3 “Xã hội” có hai nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, “xã hội”

được hiểu là một cấu trúc hệ thống - chỉnh thể, trong đó nghĩa rộng nhất, có tầm khái quát lớn nhất là xã hội loài người, là lịch sử thế giới nhân loại Mác gọi đó là một “tự nhiên thứ hai” được con người/loài người sáng tạo ra Ngay

ở tầm rộng lớn này, xã hội vẫn gắn liền với tự nhiên Tự nhiên ấy chính là thân thể vô cơ của con người, là môi trường hiện thực cho sự sống và hoạt động của con người Trước khi con người - chủ thể hoạt động có ý thức, có thể tự tách mình ra khỏi đời sống của thế giới động vật, loài vật thì con người

đã là và vẫn mãi là một bộ phận của giới tự nhiên Khi đã hình thành xã hội

với dấu ấn sáng tạo của con người Tự nhiên vốn có, tự nó, đã trở thành một tự nhiên - xã hội, là khách thể và đối tượng của chủ thể người, cá thể người cũng như cộng đồng người - tức là cả nhân loại Không có môi trường tự nhiên thì không thể có môi trường cho tồn tại và sống, bằng cả tồn tại sinh học và tồn tại xã hội của con người xã hội Con người hiện thực là một thực thể song trùng (cái sinh vật và cái xã hội) mà bản chất của nó - một cách hiện thực, trực tiếp, cảm tính chỉ có thể hiểu là tổng hòa các quan hệ xã hội Ngay các quan

hệ xã hội ấy, hiểu một cách biện chứng, chính là các quan hệ xã hội - tự nhiên

và các quan hệ tự nhiên- xã hội

Xã hội là đời sống xã hội của những con người hiện thực chỉ có thể

biểu hiện ra trên cái giá đỡ vật chất của nó, ấy là tự nhiên Bởi vậy, mọi nghiên cứu về xã hội, bất kể là ở cấp độ nào (rộng hay hẹp), dù khác biệt ở phạm vi, giới hạn nào cũng đều phải tính đến sự tác động của môi trường, coi môi trường tự nhiên - sinh thái là một vấn đề cấu thành nội dung nghiên cứu

về xã hội Dĩ nhiên, đây là nghiên cứu môi trường tự nhiên với tư cách là

nghiên cứu xã hội học chứ không phải tự nhiên học Hơn nữa, con người và xã

hội của nó không chỉ tồn tại trong môi trường tự nhiên - sinh thái mà còn

Trang 27

trong môi trường của chính nó, đó là môi trường xã hội - nhân văn Độ an toàn của môi trường là điều kiện cho sự phát triển con người và xã hội Sự suy thoái của môi trường, cả tự nhiên - sinh thái hay xã hội - nhân văn đều có thể cản trở, gây thương tổn cho sự phát triển của con người và đồng loại, thậm chí

có thể dẫn tới hậu quả “Phát triển xấu” hay là “Phản phát triển”

Nói tóm lại, xã hội xét theo nghĩa rộng, trong đó có nghĩa rộng nhất là

sự kết hợp của hai cấp độ: Xã hội - thế giới nhân loại và Xã hội - quốc gia dân

tộc Như vậy, xã hội theo nghĩa rộng bao gồm: (i) Đời sống xã hội với 4 mặt/bốn lĩnh vực hoạt động là kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội; (ii) Tổ

chức thiết chế quản lý mà trụ cốt là Nhà nước; (iii) Chế độ xã hội với vai trò

của ý thức hệ là lực lượng lãnh đạo xã hội (Đảng chính trị cầm quyền) Đây là những cấu phần hợp thành xã hội, chúng gắn bó mật thiết với nhau chứ không tách rời nhau, hợp thành một chỉnh thể toàn vẹn Xã hội xét theo nghĩa rộng như vậy phải được hình dung với những hàm nghĩa và những tư cách sau đây:

Xã hội như một cấu trúc vật chất - xã hội, đó là một xã hội, một đất nước, một cộng đồng dân tộc; xã hội như một quốc gia - dân tộc, với một hình thái nhà nước, một nước độc lập, có chủ quyền toàn vẹn, có địa vị pháp lý và quan hệ quốc tế; xã hội như một chế độ xã hội, chế độ chính trị và chế độ kinh tế với những thể chế xác định trong một nước độc lập, có chủ quyền, có chính phủ hợp hiến, hợp pháp được thừa nhận ở trong nước và có quan hệ bang giao quốc tế, theo đuổi những mục tiêu phát triển; xã hội như một thực thể, một bộ phận của thế giới nhân loại

Theo nghĩa hẹp, “xã hội” là phương diện xã hội của đời sống xã hội,

của hoạt động sống của con người trong một nước, một chế độ xã hội nhất

định Nó là mặt xã hội của đời sống, có tầm quan trọng và vị trí ngang bằng

với các mặt, các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, văn hóa Mặt xã hội là

một tập hợp lớn, một hệ thống các vấn đề xã hội trong phát triển, liên quan

trực tiếp tới đời sống của con người như lao động và việc làm, mức sống, tình trạng đói nghèo, dân số, sức khỏe và y tế cộng đồng, nhà ở, giáo dục, vệ sinh

Trang 28

môi trường, an ninh giao thông, văn hóa tinh thần nói tóm lại là tất cả những

vấn đề của đời sống cá nhân và cộng đồng, có tính chất và hệ quả xã hội mà

xã hội và Nhà nước phải giải quyết bằng chính sách Đó là hệ thống chính sách xã hội và hệ thống chính sách an sinh xã hội

Báo cáo của Chính phủ Việt Nam về phát triển xã hội tại Hội nghị Thượng đỉnh các quốc gia bàn về phát triển xã hội tại Côpenhagen (Đan Mạch, từ ngày 6 - 12/03/1995), đã đề cập tới 10 vấn đề xã hội trong phát triển

Cụ thể là giải quyết việc làm (đó là một vấn đề tổng hợp kinh tế - xã hội); xóa

đói giảm nghèo; hòa nhập xã hội (tạo cơ hội đảm bảo sự bình đẳng cho mọi người về các quyền chính trị, kinh tế, các dịch vụ xã hội: học tập, chữa bệnh, hưởng thụ văn hóa, bảo đảm tuổi già, hướng vào các nhóm xã hội quan trọng

bị thiệt thòi trong phát triển, dễ bị tổn thương) Có các nhóm đối tượng sau đây: Phụ nữ; trẻ em; thanh niên; dân tộc thiểu số; người tàn tật; người cao tuổi; đồng bào vùng khó khăn; phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh để hòa nhập cộng đồng; gia đình (tăng cường vai trò của gia đình); phát triển giáo dục; dân số, kế hoạch hóa gia đình; chăm sóc sức khỏe nhân dân (cộng đồng); bảo trợ xã hội (Bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội); môi trường; hạn chế và ngăn ngừa các hành vi phạm tội: ma túy, mại dâm, buôn lậu, tham nhũng, làm giàu bất chính Mười vấn đề đó đã thể hiện cách

nhìn toàn diện về lĩnh vực xã hội song chưa đủ bao quát hết những vấn đề xã

hội nảy sinh trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập

quốc tế Cần có sự bổ sung để tính đủ các đối tượng trong hoạch định chính

sách và thụ hưởng lợi ích từ chính sách(1)

1.1.2.4 Từ các khái niệm, thuật ngữ đã nêu ở trên, có thể đi đến xác lập nội hàm của khái “yếu tố văn hóa - xã hội” thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài là những thành phần, bộ phận cấu thành chỉnh hợp của đời sống xã hội tộc

người Tây Nguyên Gọi yếu tố văn hóa - xã hội được dùng để phân biệt với

(1) Hoàng Chí Bảo: Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới - Quan niệm và những vấn đề đặt ra Báo cáo đề dẫn Hội thảo đề tài khoa học KX.02.06/06-10

Trang 29

các yếu tố kinh tế - xã hội, chính trị - xã hội Thực chất ở đây xem xét các

yếu tố văn hóa trong đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, xã hội) và qua đời

sống xã hội mà chúng trở thành yếu tố văn hóa - xã hội Khi đã trở thành "yếu

tố văn hóa - xã hội" thì văn hóa tồn tại, vận hành trong đời sống xã hội và qua

đó tác động đến ổn định hay phát triển Tác động thuận hay nghịch của các yếu tố "văn hóa" đối với ổn định và phát triển “xã hội” tùy thuộc vào nhận thức và ứng xử của con người đối với các giá trị văn hóa Những yếu tố “văn hóa - xã hội” cơ bản sau đây đã, đang và sẽ còn tác động đến sự ổn định và phát triển ở Tây Nguyên được lựa chọn nghiên cứu trong đề tài: (i) Các thiết chế xã hội truyền thống; (ii) Vấn đề sở hữu đất đai; (iii) Di cư và di cư tự do; (iv) Tri thức địa phương của các tộc người tại chỗ Tây Nguyên; (v) Tín ngưỡng và tôn giáo; (vi) Quan hệ tộc người Các yếu tố đó bao hàm cả mặt

truyền thống và mặt biến đổi, cùng tương tác, tạo nên sự tác động trực tiếp

hoặc gián tiếp đối với ổn định và phát triển ở Tây Nguyên Tiếp cận theo hướng này có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt nhận thức luận lẫn thao tác luận, nhất là khắc phục quan niệm bấy lâu nay khi hoạch định các chính sách

vùng (Tây Nguyên) thường xem văn hóa như một yếu tố phái sinh của kinh

tế - xã hội mà chưa thấy chức năng điều tiết và tính hướng đích của văn hóa

trong các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội

1.1.3 “Ổn định và phát triển” ở Tây Nguyên do “tác động” của các yếu tố văn hóa - xã hội

1.1.3.1 “Tác động” là gây ra một sự biến đổi nào đó cho sự vật được hành động hướng tới Mức độ tác động chịu sự chi phối của thế và lực của chủ

thể tác động Nói tới “tác động” bao giờ cũng có chủ thể tác động và đối tượng chịu sự tác động, tức là phải trả lời câu hỏi “Ai” tác động và tác động đến “Cái gì” Sự tác động về phương diện xã hội bao giờ cũng diễn ra trong những không gian và thời gian cụ thể và điều đó quy định đến kết quả tác động Nhận diện tác động xã hội phức tạp hơn rất nhiều so với tác động vật lý thông thường nên đòi hỏi khả năng của từng chủ thể nghiên cứu Trong trường

Trang 30

Thứ nhất, về khuynh hướng tác động cùng chiều của các yếu tố văn

hóa - xã hội đến sự ổn định và phát triển ở Tây Nguyên diễn ra trên cơ sở bảo tồn, phát huy các đặc điểm, giá trị văn hóa - lịch sử các tộc người Nó diễn ra trên cơ sở các chức năng của văn hóa đã được thực hiện và thể hiện trong thực

tế xã hội Các chức năng đó là:

- Chức năng nhận thức, tức thông qua bảo tồn các giá trị văn hóa

truyền thống và dung nạp thêm những giá trị văn hóa mới có tác dụng nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo - quản lý và đồng bào các dân tộc Chẳng hạn, tri thức địa phương là cái truyền thống, tri thức khoa học - công nghệ là cái hiện đại, nếu được kết hợp với nhau sẽ hình thành được những giải pháp phát triển vừa thích ứng với điều kiện địa lý - tự nhiên, tập quán văn hóa

mà các dân tộc tại chỗ tích lũy bằng trải nghiệm lịch sử; vừa sử dụng được thành tựu khoa học - công nghệ để giải thích những chiều cạnh mà tri thức địa phương không thể thay thế được

- Chức năng giáo dục và điều tiết các quan hệ xã hội, góp phần vào

hình thành nhân cách, lối sống của con người, nhờ đó duy trì xã hội trong trật tự và kỷ cương, con người đoàn kết, khoan dung Điều đó chỉ được hình thành trên cơ sở phát huy giáo dục phi nghi thức truyền thống với giáo dục nghi thức học đường của nền giáo dục quốc dân, giáo dục dân gian với giáo dục chính thức…

- Chức năng giao tiếp trong ứng xử với tự nhiên, xã hội và bản thân,

được đảm bảo bằng các cách thức giao tiếp truyền thống với giao tiếp của xã hội hiện đại mà ở đó duy trì các tín ngưỡng dân gian đa thần giáo, lợi dụng

Trang 31

mặt tích cực của các tôn giáo mới du nhập, kết hợp với phổ biến tri thức khoa học phải được lồng ghép, đan xen hợp lý thì có tác dụng hình thành lối ứng xử thích ứng của con người với ngoại giới, sinh giới và với chính bản thân mình

- Chức năng thẩm mỹ được xác lập trên quan niệm của bản thân các

tộc người tại chỗ trên cơ sở giữ gìn cái truyền thống và biết tiếp thu cái mới hợp lý được biểu hiện ở quan niệm về cái đẹp thông qua nhiều loại hình văn hóa - nghệ thuật khác nhau mà ở đó không thể lấy tiêu chí của người Kinh để

áp đặt

- Chức năng giải trí với sự phù hợp với nếp nghĩ, nếp cảm của cư dân

tại chỗ Tây Nguyên, trong đó giải trí dân gian truyền thống kết hợp với giái trí hiện đại mới được du nhập vào

- Chức năng dự báo về sự ổn định, phát triển bền vững của vùng Tây

Nguyên trong thời gian tới, trên cơ sở xem xét điều kiện hiện thực giữ gìn, phát huy yếu tố truyền thống và mức độ du nhập cái mới, khả năng tiêu hóa cái mới của các dân tộc tại chỗ

Kết quả của việc thực hiện, thể hiện đầy đủ các chức năng đó của văn hóa là xác lập được một cách ổn định và phổ biến các khuôn mẫu ứng xử văn hóa trên cơ sở bảo tồn, phát huy các đặc trưng văn hóa - lịch sử của vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên

Thứ hai, khuynh hướng tác động ngược chiều của các yếu tố văn hóa - xã hội đến sự ổn định, phát triển ở Tây Nguyên có thể diễn ra khi không xác

định rõ mục tiêu và quan điểm ổn định, phát triển ở Tây Nguyên, đặc biệt không dựa vào việc bảo tồn, phát huy các đặc trưng văn hóa - xã hội vùng Tây Nguyên Những biểu hiện của khuynh hướng tác động ngược chiều là các chức năng cơ bản của văn hóa không được thực hiện đầy đủ, thậm chí

tạo ra phản chức năng; không tạo được mối liên kết giữa văn hóa và các lĩnh

vực khác của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường; phát sinh các vấn đề phức tạp về sự đoàn kết, bình đẳng, tương trợ tộc người; về không

Trang 32

gian kinh tế - văn hóa cho việc bảo tồn, phát huy đặc trưng văn hóa - xã hội vùng Tây Nguyên

Thứ ba, khuynh hướng tác động đan xen giữa thuận chiều và ngược

chiều của các yếu tố văn hóa - xã hội đến sự ổn định và phát triển ở Tây

Nguyên Khuynh hướng này thực chất là loạn chức năng của văn hóa

Khuynh hướng này thể hiện rõ nhất ở sự tăng trưởng kinh tế không gắn với phát triển văn hóa, đặc biệt là không gắn với việc bảo tồn, phát huy đặc điểm, đặc trưng văn hóa - lịch sử vùng Tây Nguyên Những biểu hiện của sự đan xen giữa tác động thuận chiều và tác động ngược chiều như: sự không đồng thuận giữa các khuôn mẫu ứng xử văn hóa trong các thể chế cơ bản của xã hội, đặc biệt trong thể chế gia đình các tộc người tại chỗ; hoặc sự mai một ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của các tộc người tại chỗ trong tiến trình đổi mới và hội nhập…

1.1.3.2 “Ổn định”, trong Từ điển tiếng Việt, do Hoàng Phê chủ biên được định nghĩa là: Ở vào hay làm cho ở vào trạng thái không còn có những

biến động, thay đổi đáng kể(1) Đây là khái niệm phổ dụng trong đời sống thường nhật như: ổn định thu nhập, ổn định đời sống, ổn định công ăn việc

làm Về mặt triết học, khái niệm ổn định chỉ trạng thái đứng im tương đối của

sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động, phát triển là tuyệt đối Ổn định tương đối biểu hiện của trạng thái vận động cân bằng tạm thời của sự vật trong quá trình biến đổi không ngừng Nhờ có trạng thái ổn định tương đối mà

sự vật có những biến đổi tiếp theo Không có ổn định tương đối thì không có phát triển và không có phát triển thì không có ổn định vững chắc Về mặt

chính trị - xã hội, khái niệm ổn định không hàm nghĩa đối lập với phát triển

mà đối lập với bất ổn định, hay rối loạn, khủng hoảng Quan niệm “ổn định”

trong đề tài này được hiểu trên chiều cạnh ổn định chính trị - xã hội Đó là quá trình vận động và phát triển hài hòa, không gây ra những đảo lộn dẫn tới rối

(1) Hoàng Phê (chủ biên) (1996), Từ điển tiếng Việt, in lần thứ tư, Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung

tâm Từ điển học, tr.730

Trang 33

loạn các cấu trúc và chức năng của hệ thống quản trị xã hội (cả chính thức và phi chính thức) cũng như môi trường sống đảm bảo sự tồn tại và cân bằng phát triển của hệ thống đó Hay nói cách khác, đó chính là một trạng thái của quá trình phát triển mà không có những bất ổn, rối loạn Cách hiểu như vậy không hàm nghĩa giữ vững ổn định là đứng im, không vận động, mà trên thực

tế cũng không bao giờ có hệ thống nào ổn định được theo cách đó Ổn định cũng không đồng nghĩa với không có xung đột, mà trên thực tế bao giờ cũng tiềm ẩn những xung đột, nhưng vấn đề đặt ra là không để xung đột nhỏ chuyển thành xung đột lớn, xung đột xã hội chuyển hóa thành xung đột chính trị - xã hội Quản trị xã hội hiện đại là cách thức phải biết nhận diện và điều khiển các xung đột xã hội Từ phân tích trên có thể đi đến xác lập quan niệm: ổn định chỉ

là một trạng thái tự nhiên, xã hội, tư duy trong quá trình vận động phát triển của

sự vật, hiện tượng nhất định Xét trên cả phương diện thực tế lẫn trong khái quát triết học thì ổn định mang tính tương đối, vì nó chính là sự vận động trong những mâu thuẫn, trong sự thống nhất giữa các mặt đối lập, không dẫn tới những mâu thuẫn đối kháng bộc lộ thành khủng hoảng, rối loạn, xung đột chính trị - xã hội Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (2004) đã chỉ rõ: “Coi ổn định là điều kiện quan trọng để phát triển, phát triển là cơ sở, là tiền đề để thúc đẩy ổn định

xã hội”(1)

1.1.3.3 “Phát triển” là sự biến đổi của sự vật, hiện tượng theo khuynh

hướng đi lên, từ biến đổi ít đến biến đổi nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp lên cao Khái niệm phát triển xuất hiện từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng trở thành một lý thuyết và chuyển sang thực hành rộng rãi trong đời sống thì phải sau năm 1945 Khái niệm “phát triển” càng được đề cao ở các nước Âu -Mỹ và trở nên phổ dụng thông qua kế hoạch Marhhall về viện trợ tái thiết và phát triển của Mỹ đối với Châu Âu sau Thế chiến thứ hai, cùng

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa IX,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.220

Trang 34

với nó là sự ra đời các các Ngân hàng Phát triển như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB)… Tuy vậy, nhận thức về khái niệm phát triển cần chú ý hai điểm:

Một là, vào những thập niên 40 - 60 của thế kỷ XX, người ta đồng nhất

phát triển với phát triển kinh tế, theo đó xuất hiện Kinh tế học Phát triển, mà

cụ thể hơn phát triển được quan niệm chỉ chạy theo tăng trưởng kinh tế Nhưng thực tiễn đã xác nhận rằng, không phải chỉ có các yếu tố kinh tế quyết định sự phát triển, mà các yếu tố văn hóa, xã hội, môi trường - sinh thái ngày càng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với phát triển Chạy đua theo tăng trưởng kinh tế đã dẫn tới hủy hoại môi trường, con người tha hóa nhân cách,

xã hội rối ren,… đến lượt nó đe dọa đến sự phát triển của nhiều thể chế kinh tế

và thể chế xã hội Từ đó dần xuất hiện quan niệm phát triển không chỉ trên phương diện kinh tế, mà còn ở phương diện văn hóa, xã hội và chính ở trên những phương diện này mới thực sự phản ánh đúng bản chất “phát triển” Vì

vậy, ngày càng trở nên phổ dụng các mệnh đề Văn hóa và Phát triển, Chính

trị và Phát triển, Dân tộc và Phát triển, Sinh thái và Phát triển… Khái niệm

“phát triển” giờ đây không còn phải đi kèm với một tính từ hoặc bổ ngữ nào

mà trở thành một mệnh đề quan hệ với các lĩnh vực liên quan đến sự phát triển Hay nói cách khác, trong mệnh đề này không nói rõ phát triển ai, phát triển cái gì, nhưng ngầm định đây chính là phát triển con người, phát triển văn hóa, phát triển xã hội - tính hướng đích của quá trình phát triển kinh tế

Hai là, khái niệm “phát triển” dần được mở rộng như một phương thức

mà các nước phương Bắc “ân huệ” cho các nước phương Nam, của nước giàu dành cho nước nghèo Khi các nước Âu - Mỹ nói đến khái niệm “phát triển” thì có nghĩa họ tự cho mình “đã phát triển”, còn các nước ngoài Âu - Mỹ là

“chưa phát triển”, “chậm phát triển”, “đang phát triển” - không nói trắng ra là

“lạc hậu” cần được “khai hóa” Vì vậy, tiêu chí để đánh giá “phát triển” hay

“đang phát triển” chính là lấy tiêu chí Âu - Mỹ, định hướng phát triển là theo

mô hình Âu - Mỹ Điều này không chỉ vạch thảo trên phương diện lý thuyết

Trang 35

mà còn biến thành các biện pháp kỹ thuật gắn với viện trợ của các nước phát triển đối với các nước đang phát triển, của các định chế tài chính quốc tế đối với các chương trình, dự án phát triển tại các nước thế giới thứ ba Điều này

vô hình hay cố ý buộc các nước thế giới thứ ba đi theo mô thức “phát triển” của Âu - Mỹ được đan gài trong các lý thuyết, tiêu chí kỹ thuật gắn với điều kiện viện trợ tài chính, chuyển giao công nghệ Thực ra, các tiêu chí kinh tế -

kỹ thuật được đánh giá là “phát triển” có thể mang tính đồng nhất giữa các quốc gia, còn nếu tiêu chí phát triển “văn hóa”, “xã hội” đồng nhất chỉ đưa đến hủy hoại tính đa dạng của văn hóa các nước đang phát triển cũng như bản sắc của từng cộng đồng tộc người trên thế giới Hậu quả của cách tiếp cận khái niệm “phát triển” như phân tích ở trên đã không đưa lại sự phát triển thật

sự cho các nước nhận viện trợ, mà chỉ tiếp tục tạo nên vách ngăn cách giàu nghèo, hủy hoại môi trường tự nhiên, tha hóa lao động, tạo sự ràng buộc ngày càng chặt chẽ của các nước đang phát triển vào các nước phát triển Nhưng

đặc biệt nguy hiểm hơn là đẩy tới quá trình đơn nhất hóa văn hóa Vì thế, từ

chỗ hồ hởi với khái niệm “phát triển”, giờ đây các nước đang phát triển thận trọng và cảnh giác hơn với khái niệm này được diễn giải và áp đặt theo cách

nhìn của các nước phương Tây Nó cũng gợi mở về cách tiếp cận đa dạng về

mô hình “phát triển” ở các nước chứ không thể áp đặt mô hình “phát triển”

của các nước phương Tây cho các nước thế giới thứ ba, đặc biệt là mô hình

“phát triển” văn hóa - xã hội

1.1.3.4 Khái niệm “phát triển bền vững” ra đời từ chính những bất cập

trong cách tiếp cận “phát triển” xuất phát từ các nước Âu - Mỹ vừa nói ở trên, nhất là khi ngày càng hứng chịu hậu quả tai biến môi trường, đơn nhất hóa về văn hóa, xung đột về xã hội… Theo “Tuyên bố thiên niên kỷ” của Liên hợp quốc năm 2000, một xã hội phát triển cần phải được thể hiện trên ba phương diện, đó là: tăng trưởng kinh tế bền vững; chất lượng cuộc sống của con người được đảm bảo và nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được bảo tồn, làm giàu và

Trang 36

phát huy”1 Có thể nói, đây là lần đầu tiên người ta đưa việc bảo tồn, làm giàu

và phát huy bản sắc văn hóa vào nội dung khái niệm phát triển xã hội Đây là

sự tiếp cận dần từ “phát triển” sang “phát triển bền vững”

Gần đây, phát triển bền vững trở thành một trong những vấn đề thời sự trong lý thuyết phát triển Tại Hội nghị Stochkhomlm năm1972 và Rio năm

1992 người ta đã khuyến nghị cần phải chú ý đến năm chiều cạnh của sự phát triển: Sự thích đáng xã hội và sự công bằng của các giải pháp đề nghị; Sự thận trọng sinh thái; Tính hiệu quả kinh tế; Sự chấp nhận về văn hóa; Sự cân bằng

về lãnh thổ Có thể chia ra các loại cách hiểu khác nhau của các lý thuyết về phát triển bền vững:

- Các lý thuyết “lấy sinh thái làm trung tâm”, mục tiêu là bảo vệ sự sống nói chung

- Các lý thuyết “lấy con người làm trung tâm”, lấy mục tiêu là phúc lợi của con người, trong loại này có ba cách tiếp cận khác nhau:

+ Cách tiếp cận “kinh tế” chủ trương bảo vệ từ nhiều thế hệ này đến thế

hệ khác, dự trữ vốn toàn cầu (tự nhiên và nhân tạo) cần cho phúc lợi của thế

hệ này đến thế hệ tương lai Hướng tiếp cận này cho rằng có thể thay thế giữa nguồn lợi tự nhiên và vốn nhân tạo

+ Tiếp cận “sinh thái” nhằm giữ vững dự trữ vốn bảo đảm bảo một sự

cố định hay tăng trưởng của phúc lợi, nhưng không thể thay thế giữa vốn tự nhiên và vốn nhân tạo

+ Tiếp cận “văn hóa - xã hội” đề cao các vấn đề khác nhau giữa tăng trưởng và phát triển, quy mô sinh thái của sự không công bằng Bắc Nam, các nguồn gốc chính trị - xã hội của sự chậm phát triển

Như vậy, các quan niệm “phát triển bền vững” nêu trên đều không chỉ

có vấn đề môi trường với tư cách là kho dự trữ vốn tự nhiên, mà còn có các vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội cần phải giải quyết Cách thức mà người ta

thường định nghĩa phổ dụng của phát triển bền vững là đảm bảo sự phát triển

1 Liên Hợp quốc (2000), Tuyên bố thiên niên kỷ

Trang 37

của ngày hôm nay nhưng không tổn hại đến tương lai Rõ ràng, văn hóa - xã

hội ngày càng có vai trò, vị trí quan trọng trong phát triển bền vững đối với mỗi quốc gia - dân tộc cũng như cộng đồng tộc người

1.2 Cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu

Từ các vấn đề quan niệm và lý luận nêu trên, để có được góc nhìn toàn diện và chiều cạnh về các vấn đề liên quan, cần xác định các quan điểm tiếp cận cơ bản sau:

- Tiếp cận dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc: Cách tiếp cận này coi dân tộc (nation và ethnic) là một phạm trù lịch sử, có phát sinh, phát triển; coi con người là “tổng

hoà các mối quan hệ xã hội” và “mọi người đều có quyền bình đẳng, quyền

sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn

độc lập] Các thực thể xã hội đều vận động, biến đổi theo các quy luật chung

nhất được chỉ ra trong các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Tiếp cận cấu trúc - hệ thống: Cách tiếp cận này coi mỗi xã hội, mỗi

nền văn hoá của các tộc người là một cấu trúc phức hợp bao gồm các thành tố

có quan hệ chi phối, tác động lẫn nhau và quan hệ đa chiều với tự nhiên và xã hội Mỗi sự thay đổi của môi trường (tự nhiên và xã hội) hay sự can thiệp từ bên ngoài vào đều có thể ảnh hưởng/phá vỡ các thành tố văn hoá và vì vậy cũng có thể ảnh hưởng/phá vỡ đến cấu trúc phức hợp của văn hóa, xã hội

- Tiếp cận sinh thái học văn hoá: Cách tiếp cận này chỉ ra mối quan hệ

gắn bó giữa môi trường tự nhiên và văn hóa, trong đó môi trường tự nhiên đặc thù là cơ sở cho việc hình thành các mô hình văn hóa khác nhau Kiểu văn hóa của mỗi tộc người được tạo ra là do nguồn tài nguyên và những giới hạn của môi trường xung quanh, kể cả những thay đổi của môi trường đó Tiếp cận sinh thái học văn hóa, giúp nhà nghiên cứu lý giải được những yếu tố văn hóa khác nhau giữa các vùng miền, từ đó đánh giá mức độ tác động của các yếu tố

đó tới hệ thống kinh tế - văn hoá - xã hội của cộng đồng dân cư tại mỗi vùng

Trang 38

sinh thái khác nhau Từ khái niệm cơ bản về “Văn hoá” (văn hóa là sản phẩm

do con người sáng tạo, là kết quả tác động của con người đối với tự nhiên) và

lý thuyết “Sinh thái học văn hoá”, nhà nghiên cứu có thể có căn cứ lý giải các hiện tượng được coi là “đồng quy văn hóa” (các dân tộc sinh sống trong cùng điều kiện tự nhiên thường có sự tương đồng về văn hóa) hay “Tiếp biến văn hóa” (các dân tộc khác nhau về nguồn gốc lịch sử, điều kiện sinh sống nhưng vẫn có thể có chung những đặc trưng văn hoá do thường xuyên tiếp xúc)

- Tiếp cận đa nguyên văn hóa: Mọi nền văn hóa đều có cơ chế mở,

không có nền văn hóa nào đóng kín Các dân tộc đều có mối quan hệ/giao lưu

từ rất sớm, vì thế, bên cạnh các yếu tố nội sinh, luôn có quá trình tiếp thu, tích hợp các yếu tố đến từ bên ngoài để làm giàu vốn văn hóa của tộc người Các tri thức địa phương của mỗi dân tộc ngày nay đều là kết quả của sự tổng - tích hợp giữa các yếu tố văn hóa nội sinh với yếu tố được du nhập từ bên ngoài

- Tiếp cận tương đối luận văn hoá: Tương đối luận văn hóa khẳng định

sự bình đẳng của tất cả các kiểu văn hóa, phủ nhận sự phân biệt các hệ thống giá trị văn hóa; hướng tới chống lại cách giải thích sự phát triển văn hóa lịch

sử, lấy châu Âu là trung tâm, nhấn mạnh tính độc đáo của các văn hóa địa phương Các nhà khoa học theo thuyết này cho rằng, thế giới chúng ta vốn tồn tại nhiều nền văn hoá khác nhau và mỗi nền văn hóa đều có tính độc đáo rất riêng của nó, vì vậy chỉ có sự khác biệt về văn hóa chứ không có sự phân biệt nền văn hóa này cao hơn nền văn hóa kia

- Tiếp cận nhân học văn hóa: Hiểu theo nghĩa rộng nhất, nhân học là

ngành khoa học nghiên cứu về bản chất con người, xã hội loài người quá khứ

và hiện tại Nhân học sử dụng những khám phá, những tri thức của các ngành khoa học khác kết hợp với những dữ liệu của Nhân học để làm rõ vai trò của từng yếu tố như sinh thái tự nhiên, kinh tế, dòng họ và gia đình, tín ngưỡng và tôn giáo… cũng như sự tương tác giữa các yếu tố đó như thế nào để tạo nên đời sống con người Nhân học là ngành khoa học toàn diện mang tính liên ngành và là một khoa học so sánh đối chiếu

Trang 39

Kể từ khi thành lập đến nay, các Văn kiện của Đảng đều đề cập đến các nhiệm

vụ cụ thể cho từng giai đoạn nhằm để giải quyết tốt vấn đề dân tộc và công tác dân tộc Đối với Tây Nguyên, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, việc thống nhất các dân tộc thành một khối đại đoàn kết là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Nhờ có chính sách đúng đắn nói trên, phần lớn đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã đoàn kết đi theo cách mạng, sát cánh chiến đấu cùng nhân dân cả nước giành dộc lập cho dân tộc Khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Đảng và Chính phủ luôn coi việc phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội Tây Nguyên là vấn

đề có tính chất chiến lược; vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, vừa là

cơ sở đảm bảo an ninh chính trị, sự ổn định xã hội và toàn vẹn lãnh thổ

Tuy nhiên, phải thừa nhận, trước Đổi mới (1986) việc hoạch định chính sách dân tộc luôn được làm theo hướng từ trên xuống Các chính sách này nằm trong hệ thống chính sách chung của một cơ chế thường gọi là “tập trung, quan liêu, bao cấp” Chỉ từ khi thực hiện đường lối Đổi mới, nhất là từ khi có Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI

(ngày 27/11/1989) Về chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội

miền núi, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, từng bước nâng cao đời

sống đồng bào các dân tộc miền núi, góp phần phát triển kinh tế-xã hội chung

của cả nước và Quyết định 72 của Thủ tướng Chính phủ (ngày 13/3/1990) “Về

một số chủ trương chính sách cụ thể phát triển kinh tế-xã hội miền núi”, công

tác hoạch định chính sách của Nhà nước mới có những chuyển biến nhất định

Sự nhất quán trong nhận thức, cũng như trong chính sách đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên luôn là bộ phận không thể thiếu trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước qua mọi thời kỳ Hiện nay, chính

sách của Đảng về phát triển văn hoá - xã hội vùng Tây Nguyên là một bộ phận

Trang 40

hợp thành của hệ chính sách phát triển toàn diện Vùng Nó được thể hiện ở

các hình thức thể chế lãnh đạo của Đảng và thể chế quản lý của Nhà nước

nhằm điều chỉnh các lĩnh vực văn hoá-xã hội ở Tây Nguyên, thông qua các nhiệm kỳ Đại hội VIII, IX và X

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996), trong khi quyết định

đưa đất nước chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đã chỉ rõ: “Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn Thực hiện ‘bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ( ) Từ nay đến năm 2000, bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được 3 mục tiêu chủ yếu: xoá được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện được đời sống, sức khoẻ của đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xoá được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh”(1) Trong phương hướng phát triển đất nước giai đoạn 1996-2000, vấn đề phát triển vùng Tây Nguyên được đề cập tập

trung ở “Chương trình phát triển các vùng lãnh thổ”, “Chương trình phát

triển kinh tế-xã hội vùng miền núi và đồng bào dân tộc” và “Chương trình về xoá đói, giảm nghèo” (1)

Thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đại hội VIII của Đảng, ngày

13/9/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 656/TTg ”Về

phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên thời kỳ 1996 và 2010”, trong đó xác

định mục tiêu chủ yếu và giải pháp cơ bản phát triển kinh tế - xã hội Tây

Nguyên Mục tiêu đặt ra đối với phát triển văn hoá - xã hội là:

- Phấn đấu đến năm 2010 cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, các em đến tuổi đi học đều được đến trường, mở rộng các trường nội trú và

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, tr.125-126

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, tr.209-224

Ngày đăng: 15/04/2014, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Dân vận Trung ương (2001), Thực trạng phát triển đạo Tin Lành vùng đồng bào dân tộc thiểu số - Những kiến nghị về chủ trương và giải pháp, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng phát triển đạo Tin Lành vùng đồng bào dân tộc thiểu số - Những kiến nghị về chủ trương và giải pháp
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương
Năm: 2001
2. Hoàng Chí Bảo (2008), “Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới - Quan niệm và những vấn đề đặt ra”, Báo cáo đề dẫn Hội thảo đề tài khoa học KX.02.06/06-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới - Quan niệm và những vấn đề đặt ra”
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2008
3. Hoàng Chí Bảo (2009), Đảm bảo bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta hiên nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta hiên nay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
5. Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường (2000), Tuyển tập các báo cáo toàn văn Hội nghị khoa học về đề tài "Xây dựng luận cứ khoa học về lịch sử, địa lý và pháp lý đường biên giới đất liền phía Tây Nam của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các báo cáo toàn văn Hội nghị khoa học về đề tài "Xây dựng luận cứ khoa học về lịch sử, địa lý và pháp lý đường biên giới đất liền phía Tây Nam của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2000
6. Trần Văn Bính & Cộng sự (2004), Văn hoá các dân tộc Tây Nguyên-Thực trạng và những vấn đề đặt ra (sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá các dân tộc Tây Nguyên-Thực trạng và những vấn đề đặt ra (sách tham khảo)
Tác giả: Trần Văn Bính & Cộng sự
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
7. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người. Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1996
9. Phan Hữu Dật, Ngô Đức Thịnh, Lê Ngọc Thắng (1999), Sắc thái văn hoá địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc thái văn hoá địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất nước
Tác giả: Phan Hữu Dật, Ngô Đức Thịnh, Lê Ngọc Thắng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
10. Phan Hữu Dật (2001): Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay (sách tham khảo), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay (sách tham khảo)
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
11. Phan Hữu Dật và Lâm Bá Nam (2001), Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nước phong kiến Việt Nam (X-XIX), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nước phong kiến Việt N
Tác giả: Phan Hữu Dật và Lâm Bá Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
12. Khổng Diễn (1984), “Các dân tộc vùng Trường Sơn-Tây Nguyên”, Dân tộc học, (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc vùng Trường Sơn-Tây Nguyên”, "Dân tộc học
Tác giả: Khổng Diễn
Năm: 1984
13. Khổng Diễn & Cộng sự (1995), Sử dụng, quản lý đất đai ở Tây Nguyên, Đề tài khoa học cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng, quản lý đất đai ở Tây Nguyên
Tác giả: Khổng Diễn & Cộng sự
Năm: 1995
14. Trương Minh Dục (2003), “Nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo và thay đổi niềm tin tôn giáo của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên hiện nay”, Lý luận chính trị, (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo và thay đổi niềm tin tôn giáo của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên hiện nay”, "Lý luận chính trị
Tác giả: Trương Minh Dục
Năm: 2003
15. Trần Xuân Dung (2002), Hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch ở Tây Nguyên hiện nay - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch ở Tây Nguyên hiện nay - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh
Tác giả: Trần Xuân Dung
Năm: 2002
16. Trần Xuân Dung (2007), Một số vấn đề về công tác an ninh đối với hoạt động tài trợ, đầu tư nước ngoài tại Tây Nguyên hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về công tác an ninh đối với hoạt động tài trợ, đầu tư nước ngoài tại Tây Nguyên hiện nay
Tác giả: Trần Xuân Dung
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2007
17. Nguyễn Tấn Đắc (2005), Văn hóa xã hội và con người Tây Nguyên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa xã hội và con người Tây Nguyên
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
18. D.G.E. Hall (1997), Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam Á
Tác giả: D.G.E. Hall
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 18/1/2002 của Bộ Chính trị: Về phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 18/1/2002 của Bộ Chính trị: Về phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khoá IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tộc danh, dân số và thành phần ngôn ngữ các dân tộc tại chỗ - Những yếu tố văn hoá xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển ở tây nguyên
Bảng 2.1. Tộc danh, dân số và thành phần ngôn ngữ các dân tộc tại chỗ (Trang 58)
Bảng 2.2: Số lượng các dân tộc mới đến Tây Nguyên tính đến 4/1999 - Những yếu tố văn hoá xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển ở tây nguyên
Bảng 2.2 Số lượng các dân tộc mới đến Tây Nguyên tính đến 4/1999 (Trang 61)
Bảng 2.3. Dân tộc tại chỗ và dân tộc mới đến ở các tỉnh đến 4/1999 - Những yếu tố văn hoá xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển ở tây nguyên
Bảng 2.3. Dân tộc tại chỗ và dân tộc mới đến ở các tỉnh đến 4/1999 (Trang 62)
Bảng 3.1: Ước tính số di dân thực tế giữa hai cuộc TĐTDS (1979-1989) - Những yếu tố văn hoá xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển ở tây nguyên
Bảng 3.1 Ước tính số di dân thực tế giữa hai cuộc TĐTDS (1979-1989) (Trang 114)
Bảng 3.2: Số người từ 5 tuổi trở lên di chuyển theo các vùng địa lý - Những yếu tố văn hoá xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển ở tây nguyên
Bảng 3.2 Số người từ 5 tuổi trở lên di chuyển theo các vùng địa lý (Trang 115)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm