Một nội dung đặc biệt quan trọng của sự nghiệp tiếp tục xây dựng CNXH trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI là, trên cơ sở những thành tựu đã đạt được, chúng ta phải khẳng định những
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
GIAI ĐOẠN 2008 - 2010
GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN
VÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
CƠ QUAN CHỦ TRÌ : HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI : GS.TS NGUYỄN VĂN HUYÊN
PHÓ CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS VƯƠNG CƯỜNG
THƯ KÝ KHOA HỌC : ThS PHẠM THẾ LỰC
8547
HÀ NỘI 2010
Trang 2HDI Chỉ số phát triển con người
KH&CN Khoa học và công nghệ
GDP Tổng thu nhập quốc dân
UNDP Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc TFP Năng xuất các yếu tố tổng hợp
Trang 3BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
1 GS TS Nguyễn Văn Huyên Học viện CT – HC QG Hồ Chí Minh
Chủ nhiệm đề tài
Học viện CT – HC QG Hồ Chí Minh Phó chủ nhiệm đề tài
3 ThS Phạm Thế Lực Viện Chính trị học,
Học viện CT – HC QG Hồ Chí Minh Thư ký khoa học đề tài
DANH SÁCH CÁC CỘNG TÁC VIÊN CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
1 GS.TS Trần Ngọc Hiên Liên hiệp các hội Khoa học – Kỹ thuật Việt Nam
3 GS.TS Nguyễn Ngọc Long Viện Triết học,
Học viện CT – HC QG Hồ Chí Minh
4 GS.TS Phạm Tất Dong Hội Khoa học Tâm lý
6 GS.TS Phạm Ngọc Quang Học viện CT – HC QG Hồ Chí Minh
7 PGS.TS Phạm Văn Đức Viện Triết học, Viện KHXH Việt Nam
8 PGS.TS Ngô Quang Minh Viện Kinh tế, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
9 PGS.TS Phạm Duy Đức Viện Văn hóa và phát triển,
Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
10 PGS.TSKH Lương Đình Hải Viện Triết học, Viện KHXH Việt Nam
11 GS.TSKH Phan Xuân Sơn Viện Chính trị học,
Học viện CT – HC QG Hồ Chí Minh
Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
13 TS Lê Thanh ThậP Viện Triết học, Viện KHXH Việt Nam
14 ThS Mai Hoài Anh Viện Quan hệ quốc tế,
Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
Trang 41.1 BẢN CHẤT, NỘI DUNG CỦA CÁC VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI,
PHÁT TRIỂN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÚNG
12
1.1.1.Bản chất, nội dung của các vấn đề giải phóng, đổi mới, phát triển 12
1.1.2.Mối quan hệ biện chứng giữa các vấn đề giải phóng, đổi mới, phát
triển
22
1.2.1 Một số nguyên tắc có tính phương pháp luận của việc xác định,
xem xét, đánh giá tiêu chí
28
1.2.2.Tiêu chí phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, con người ở một số
nước trên thế giới
34
1.2.3.Tham khảo và vận dụng các tiêu chí phát triển kinh tế, văn hoá, xã
hội, con người ở các nước cho sự phát triển ở Việt Nam
41
1.3 MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ
NHỮNG KINH NGHIỆM CHO GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN Ở
VIỆT NAM
47
1.3.1.Mô hình phát triển của một số nước Bắc Âu 47
1.3.2.Cải tổ ở Liên Xô và kinh nghiệm đối với quá trình giải phóng, đổi
mới, phát triển vì CNXH ở Việt Nam
66
1.3.3.Kinh nghiệm cải cách, đổi mới, phát triển ở Mỹ và Anh 75
1.3.4.Kinh nghiệm cải cách, đổi mới ở Trung Quốc 88
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA QUÁ TRÌNH GIẢI PHÓNG, ĐỔI
MỚI, PHÁT TRIỂN VÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
109
Trang 52.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI,
PHÁT TRIỂN VÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
109
2.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN
VÌ CNXH THỜI GIAN QUA
115
2.2.1.Thực trạng giải phóng, đổi mới, phát triển trong lĩnh vực tư tưởng 116
2.2.2.Thực trạng giải phóng, đổi mới, phát triển trong lĩnh vực kinh tế 123
2.2.3 Thực trạng giải phóng, đổi mới, phát triển trong lĩnh vực chính trị 139
2.2.4 Giải phóng, đổi mới, phát triển trong lĩnh vực xã hội – con người 155
2.3 NHỮNG CẢN TRỞ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI, PHÁT
TRIỂN VÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
168
2.3.1 Những cản trở chủ yếu trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội 168
2.3.2.Những cản trở chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế 173
2.3.3.Những cản trở chủ yếu trong lĩnh vực chính trị 177
2.3.4.Những cản trở chủ yếu trong lĩnh vực xã hội 183
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC GIẢI
PHÓNG, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN VÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
189
3.1.1.Giải phóng, đổi mới, phát triển đảm bảo đúng hướng và đúng
bản chất của chủ nghĩa xã hội
189
3.1.2.Giải phóng, đổi mới, phát triển vì một xã hội hài hòa 192
3.1.3.Giải phóng, đổi mới, phát triển phải đảm bảo phát triển bền vững 196
3.2 CÁC GIẢI PHÁP TIẾP TỤC GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN VÌ
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
201
3.2.1.Giải pháp giải phóng, đổi mới, phát triển trong lĩnh vực tư tưởng 201
3.2.2.Giải pháp giải phóng, đổi mới, phát triển trong lĩnh vực kinh tế 220
3.2.3.Giải pháp giải phóng, đổi mới, phát triển trong lĩnh vực chính trị 237
3.2.4 Giải phóng, đổi mới, phát triển nguồn lực xã hội - con người 257
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XX đã diễn ra với biết bao biến động, thăng trầm, với những bước ngoặt to lớn của chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện thực: từ sự ra đời, phát triển đến sự khủng hoảng và đổ vỡ CNXH – một tượng đài xã hội tốt đẹp nhất khắc sâu vào thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI như niềm kiêu hãnh của loài người tiến bộ Tuy nhiên, sự sụp đổ và thoái trào của CNXH hiện thực là một tổn thất
to lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Trong quá trình khủng hoảng, đổ vỡ và thoái trào đó, nhiều nước XHCN đã nỗ lực tiến hành cải tổ, đổi mới, nhưng do nhiều nguyên nhân đã đi đến thất bại và kéo theo đó là sự sụp đổ của nhiều nước khác Một số nước XHCN khác kiên định lập trường chủ nghĩa Mác – Lênin đã dũng cảm, sáng tạo, tìm cho mình con đường riêng, vượt qua được khủng hoảng và đạt được những kết quả to lớn, được thế giới thừa nhận, tạo niềm tin và triển vọng cho quá trình phát triển theo hướng XHCN của nhiều nước trên thế giới Việt Nam là một trong số những nước như vậy
Kiên trì mục tiêu XHCN, ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, con đường đi lên CNXH ngày càng được xác định rõ hơn Quan niệm về CNXH đã được bổ sung, phát triển cùng với sự phát triển của thực tiễn đất nước, của CNXH thế giới và của thời đại Trong quá trình đó, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt: kinh tế tăng trưởng liên tục với mức khá cao, an ninh chính trị ổn định, đời sống vật chất của nhân dân được cải thiện đáng kể, đời sống văn hóa tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Từ sự đổi mới này, nhiều bài học kinh nghiệm đã được tổng kết để phục vụ cho những giai đoạn tiếp theo của quá trình đổi mới Chính điều này đã khẳng định sự đúng đắn của đường lối đổi mới, tạo ra động lực lớn
Trang 7để tiếp tục đổi mới và phát triển, đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng CNXH của Đảng và nhân dân ta
Mặc dù đã giành được nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng CNXH thời gian qua, song ở đó cũng còn không ít những hạn chế cả về lý luận lẫn thực tiễn; chúng đang tạo ra sức cản đối với sự phát triển của CNXH; thậm chí còn tạo ra những nguy cơ, thách thức trực tiếp đối với sự tồn vong của chế
độ Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải tiếp tục lý giải một cách khoa học để tạo cơ sở và động lực cho sự phát triển tiếp theo Bao trùm lên tất cả những vấn đề đó là các vấn đề về mối quan hệ giữa tăng trưởng tốc độ cao với
sự phát triển bền vững, liên tục của nền kinh tế; giữa phát triển kinh tế với tiến
bộ xã hội, giữ vững tính chất XHCN của nền kinh tế thị trường; giữa nắm bắt thời cơ và ứng phó với thách thức trong hội nhập kinh tế thế giới; giữa phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền trong hệ thống chính trị với việc phát huy năng lực quản lý, điều hành của Nhà nước pháp quyền XHCN, v.v
Bên cạnh đó, đời sống muôn màu của thế giới hiện đại đang hình thành những nhân tố mới tác động mạnh mẽ đến tất cả các nước, trong đó có cả các nước XHCN như Việt Nam (dư âm sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Liên Xô
và Đông Âu, sự phát triển vũ bão của khoa học – công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và sự hội nhập quốc tế, sự phát triển kinh tế tri thức) Thời cơ, thuận lợi cho việc phát triển là rất lớn, nhưng khó khăn, thách thức và những nguy cơ tiềm ẩn cũng nhiều Làm thế nào để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức; làm
gì để khắc phục những hạn chế, sai lầm và phát huy tối đa những thành quả đã đạt được nhằm tỏ rõ bản chất ưu việt và sức sống của CNXH là vấn đề hết sức khó khăn, đặc biệt khi CNTB vẫn đang còn sức hấp dẫn của nó
Việc nghiên cứu một cách hệ thống và sâu sắc về CNXH, tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn, từ đó rút ra những bài học có ý nghĩa phương pháp luận cho việc tiếp tục công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam
Trang 8trong những thập niên tới một cách đúng đắn, hiệu quả là việc làm quan trọng
và cần thiết Nó sẽ giúp chúng ta xác định được xu thế phát triển của đất nước trong giai đoạn mới và khẳng định mãnh mẽ hơn nữa con đường đi lên CNXH
ở Việt Nam từ vấn đề về mô hình và định hướng chung cho đến nội dung, những nhiệm vụ và các giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực hoạt động
Một nội dung đặc biệt quan trọng của sự nghiệp tiếp tục xây dựng CNXH trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI là, trên cơ sở những thành tựu đã đạt được, chúng ta phải khẳng định những đặc điểm của CNXH Việt
Nam, dự báo triển vọng của CNXH Việt Nam, từ đó xác định phương hướng
và các giải pháp để giải phóng tối đa mọi nguồn lực đất nước, nguồn lực con người và dân tộc, tiếp tục đổi mới các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đẩy nhanh và vững chắc sự phát triển đất nước, thực hiện mục tiêu XHCN – dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
2 Tình hình nghiên cứu
Với hơn 90 năm tồn tại và phát triển, cùng với những thăng trầm, thành công và thất bại, CNXH hiện thực là một đối tượng nghiên cứu trọng tâm của khoa học xã hội và nhân văn Ngày nay, những nghiên cứu về CNXH hiện thực ngày càng nhiều với sự phong phú và đa dạng cả về nội dung cũng như cách tiếp cận Có những công trình nghiên cứu về CNXH để khẳng định rằng đó là quá trình tất yếu, khách quan, khẳng định tính ưu việt của CNXH so với CNTB Nhưng cũng có công trình nghiên cứu về CNXH như để phê phán, xuyên tạc hoặc chống đối và phủ nhận chế độ XHCN
Trên thế giới, có không ít công trình nghiên cứu về quá trình hình thành,
phát triển cũng như những khó khăn, thách thức của CNXH hiện thực Nhiều công trình đề cập đến những thất bại trong công cuộc cải tổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, phân tích những sai lầm và nguyên nhân dẫn để sự sụp đổ chế
độ XHCN ở các quốc gia này như để đưa ra những cảnh báo, khuyến cáo có ý
Trang 9nghĩa tham khảo cho các nước XHCN còn lại trong quá trình cải cách, đổi mới,
như: CNXH chuyển đổi mô hình từ “truyền thống” sang “hiện đại” của Chengeng; Hệ thống xã hội chủ nghĩa của Kornai János, Nxb Văn hóa Thông tin, 2002; Các nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế
thị trường của Marie Lavigne, Nxb CTQG, 2002; Chủ nghĩa cộng sản: một dự
án mới của Robert Hue Cũng có không ít các công trình nghiên cứu về những
thành công trong cải cách, đổi mới và phát triển trên con đường xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc, nhằm góp phần tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn đã và đang đặt ra ở Trung Quốc, từ đó góp
phần gợi mở những suy nghĩ về công cuộc đổi mới ở Việt Nam (Lịch sử, hiện
trạng, tương lai CNXH của Trương Khắc Lôi, Tự Lập Bình (Sách đã được dịch
sang Tiếng Việt), Nxb CTQG, H, 1997; Hai chủ nghĩa - một trăm năm của Tiêu Phong, Nxb CTQG,H, 2004; Trung Quốc 25 năm cải cách-mở cửa của Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Nxb KHXH, 2004; Chủ nghĩa xã hội là gì, Xây dựng
chủ nghĩa xã hội như thế nào? (Bản chất của CNXH và con đường phát triển) của
Chu Thượng Văn, Chu Cẩm Úy, Trần Tích Hỷ, Nxb CTQG, 1999; Những thay đổi
của CNTB đương đại và ảnh hưởng tới Trung Quốc của Chân Bính Hỷ, Trần Đức
Chiêu, Ngụy Dân (được đăng trên Thông tấn xã VN, số 6/2003); Cải cách thể chế
chính trị ở Trung Quốc (1978 – 2003) của Đỗ Tiến Sâm (Chủ biên), Nxb KHXH,
2003; Trung Quốc cải cách, mở cửa – Những bài học kinh nghiệm của Nguyễn Văn
Hồng, Nxb Thế giới, 2003;…)
Ở Việt Nam trước đây, các nghiên cứu về CNXH nói chung và quá trình
xây dựng CNXH ở Việt Nam nói riêng chủ yếu được nghiên cứu ở tầm lý luận, nguyên lý, phương pháp luận tập trung chủ yếu dưới góc độ triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học, kinh tế chính trị học Sau đó, vấn đề này còn được mở rộng nghiên cứu cả ở góc độ chính trị học, luật học, hành chính học, văn hóa học,…thậm chí còn mang tính liên ngành
Trang 10Bám sát quá trình xây dựng CNXH, đặc biệt là trong những giai đoạn khó khăn, thách thức, giới lý luận nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về CNXH và sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam, góp phần cung cấp những
cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là cho việc nhận thức về CNXH, về những điều chỉnh đổi mới trong các lĩnh vực căn bản của quá trình chuyển đổi về kinh tế,
xã hội theo mô hình mới
Nghiên cứu về quá trình đổi mới ở Việt Nam, hầu hết các công trình nhấn mạnh rằng đổi mới tư duy chính là khởi đầu cho sự nghiệp đổi mới Nếu không
có đổi mới về mặt tư duy lý luận, mà trước hết là tư duy kinh tế, thì sẽ không thể
có thành công như hiện nay Đây là kinh nghiệm mà Việt Nam cần tiếp tục vận dụng và phát huy trong giai đoạn mới của công cuộc xây dựng CNXH
Bên cạnh đó, nhiều công trình cũng chỉ rõ, nhiều vấn đề về mặt tư tưởng, lý luận chúng ta còn lúng túng, chưa nhận thức rõ, dẫn đến kìm hãm quá trình đổi mới và phát triển đất nước như: hiểu vấn đề bóc lột như thế nào cho đúng; bản chất, nội dung của kinh tế thị trường định hướng XHCN là gì; vấn đề sở hữu và các thành phần kinh tế, vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là gì? những yêu cầu, nội dung của nền kinh tế độc lập, tự chủ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là thế nào; giải quyết như thế nào cho hợp lý giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, giải quyết như thế nào về mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản
lý,…Các công trình tiêu biểu đề cập đến vấn đề này là: Xây dựng CNXH ở Việt
Nam: Vấn đề nguồn gốc và động lực của Lê Hữu Tầng, Nxb KHXH, 1991; Góp phần vào việc đổi mới nhận thức về CNXH của Phạm Như Cương, Lê Cao
Đoàn, Nxb KHXH, 1992; Những vấn đề lý luận về CNXH và con đường đi lên
CNXH ở Việt Nam do Nguyễn Duy Quý (chủ biên), Nxb CTQG, H, 1998; Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam của
Trang 11Nhị Lê, Nxb CTQG, 2001, Đổi mới để phát triển, Nxb CTQG, 2002; Tư duy lý
luận với sự nghiệp đổi mới của Trần Nhâm, Nxb CTQG, 2004; , …
Một số công trình đã tiến hành tổng kết thực tiễn quá trình đổi mới theo định hướng XHCN ở Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đánh giá những thành công cũng như những hạn chế trong thời kỳ đổi mới từ
1986 đến nay Nhiều công trình thẳng thắn chỉ ra rằng, bên cạnh những thành tựu, tiến bộ đã đạt được sau gần 25 năm đổi mới, nước ta vẫn còn nhiều yếu kém, khuyết điểm làm cho quá trình phát triển bị chậm lại Đó là nền kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp Nhiều nguồn lực và tiềm năng trong nước để phát triển kinh tế chưa được huy động và sử dụng tốt Thất thoát, lãng phí trong quản lý kinh tế còn rất nghiêm trọng Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cải cách hành chính trong hệ thống chính quyền chưa đạt yêu cầu đề ra, tình trạng quan liêu, tham nhũng chưa có dấu hiệu suy giảm, gây ra nhiều điểm nóng chính trị-xã hội Nhiều nơi quyền tự do, dân chủ của nhân dân còn bị vi phạm, việc thực hiện luật pháp, kỷ cương không nghiêm Nhiều vấn đề xã hội bức xúc chậm hoặc chưa được giải quyết tốt,…Từ việc phân tích những khuyết điểm, hạn chế, các công trình này đã rút ra ra những bài học kinh nghiệm cũng như nêu lên những gợi ý cho việc hoàn thiện hơn nữa đường lối, chủ trương, chính sách và cách thức triển khai trong tổ chức thực tiễn, nhằm góp phần đẩy mạnh sự phát triển của đất nước Các công trình đề cập đến vấn đề
này có thể kể đến: Những vấn đề lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở
Việt Nam của Nguyễn Duy Quý, Nxb CTQG, 1998; Đổi mới bước phát triển tất yếu đi lên CNXH ở Việt Nam của Nguyễn Khánh, Nxb CTQG, 1999; Về CNXH
và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam của Nguyễn Đức Bình (chủ biên), Nxb
CTQG, 2003; Chủ nghĩa xã hội: Từ lý luận đến thực tiễn Những bài học kinh
nghiệm chủ yếu do Lê Hữu Tầng (Chủ biên), Nxb CTQG, H, 2003; Việt Nam 20 năm đổi mới của Nxb Chính trị Quốc gia, 2007;…
Trang 12Một số công trình đề cập đến những nhân tố đang tác động đến công cuộc đổi mới ở nước ta và đang tạo ra những thời cơ cũng như thách thức to lớn đối với sự phát triển của đất nước như: sự phát triển của kinh tế tri thức; cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, quá trình toàn cầu hóa, quá trình hội nhập khu vực và thế giới, sự khủng hoảng kinh tế ở khu vực và một số nước trên thế giới,…Từ đó, các công trình chỉ ra những mâu thuẫn trong quá trình phát triển cũng như đưa ra những dự báo về xu hướng vận động của CNXH ở
Việt Nam Chẳng hạn như cuốn: Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và
cách giải quyết trên con đường phát triển đất nước theo định hướng XHCN của
Phạm Ngọc Quang, Nxb CTQG, H, 2001; Tác động nhiều mặt của toàn cầu hóa
đến công cuộc phát triển của nước ta, Hội đồng lý luận Trung ương, H, 2002; Động lực phát triển kinh tế - xã hội – văn hóa của Việt Nam (Việt Nam có thể trở thành con rồng của châu Á) của Hà Chuyên, Nxb Thống Kê, 2002; Quy luật
xã hội với sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay của Hồ Văn Thông, Hồ
Ngọc Minh, Nxb CTQG, 2003; Kinh tế tri thức, thời cơ và thách thức đối với sự
phát triển của Việt Nam do Đặng Hữu (Chủ biên), Nxb CTQG, H, 2004; Về triển vọng của CNXH trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI của Nguyễn An Ninh,
Nxb CTQG, 2006; CNCS ngày nay, những nét mới từ thực tiễn Mỹ, Tây Âu,
Nhật Bản của Đỗ Lộc Diệp, Nxb KHXH, 2002;…
Trong khuôn khổ hợp tác giữa hai nước, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo lý luận, trong đó
có sự trao đổi những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH ở hai nước,
từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm tham khảo cho cho mỗi nước trong quá
trình xây dựng CNXH, như Hội thảo “CNXH và kinh tế thị trường – Kinh
nghiệm của Trung Quốc, kinh nghiệm của Việt Nam”; "Xây dựng Đảng cầm quyền - kinh nghiệm của Việt Nam - kinh nghiệm của Trung Quốc"; "Phát triển
Trang 13khoa học, hài hòa giữa kinh tế - xã hội trong xây dựng chủ nghĩa xã hội - Lý luận và thực tiễn",…
Ngoài các công trình lớn như đã nêu, các nội dung trên còn được đề cập ở những khía cạnh khác nhau trên các tạp chí khoa học như: Nguyễn Đức Bình,
Tiếp tục một cách kiên định và sáng tạo con đường XHCN, T/c Lý luận chính
trị, số 1/2007; Trần Hữu Tiến, Giữ vững định hướng XHCN trong công cuộc đổi
mới, T/c Cộng sản, số 8 (4/2006); Tiếp tục phát triển con đường XHCN ở Việt Nam, T/c Cộng sản, số 6 (3/2006); Nguyễn Đức Bình, Về nhận thức, bổ sung, phát triển các luận điểm trong CNXH khoa học, T/c Lý luận chính trị, số
3/2007; Hoàng Chí Bảo, Một số luận đề về định hướng XHCN và đổi mới hệ
thống chính trị ở Việt Nam, T/c Lý luận chính trị, số 5/2006; Nguyễn Văn Sáu, Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, T/c Lý luận chính
trị, số 5/2006; Phạm Ngọc Quang, Công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay:
Nhìn từ giác độ của mâu thuẫn trong quá trình phát triển, T/c Triết học; Năm bài học lớn từ thực tiễn đổi mới, Tô Huy Rứa, báo Nhân dân ngày 22/6/2006; Lê
Hữu Nghĩa, Đại hội X của Đảng với nhận thức về con đường đi lên CNXH ở
nước ta, báo Nhân dân ngày 29/6/2006; Nguyễn Trọng Phúc, Một số kinh nghiệm xây dựng CNXH trong những năm đổi mới, T/c Lịch sử Đảng, số
12/2006; Hoàng Chí Bảo, Những đặc điểm của con đường đi lên CNXH ở Việt
Nam, T/c Lý luận chính trị, số 1/2002 và CNXH đổi mới để phát triển trong bối cảnh thế giới đương đại ở hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI, T/c Khoa học Chính trị,
số 6/2005; v.v
Các công trình trên từ các khía cạnh riêng đã góp phần hình thành nên một
hệ thống các quan điểm lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, chỉ ra được những thành tựu về kinh tế - xã hội qua gần 25 năm đổi mới và những vấn đề đặt ra, đồng thời cũng đã làm rõ được những hạn chế, thách thức
mà Việt Nam đang gặp phải và cần tiếp tục hoàn thiện để vững bước tiến lên
Trang 14Nhiều công trình đã nêu được vấn đề, chỉ ra được những hạn chế mà nước ta gặp phải trong quá trình đổi mới, nhưng chưa chỉ rõ các giải pháp cần tiến hành để khắc phục những hạn chế đó Nhiều công trình luận giải về CNXH thường đưa ra những dự báo về tương lai CNXH ở Việt Nam, nhưng còn chung chung hoặc mang tính kinh viện, giáo điều với những lý lẽ thiếu thuyết phục Các nghiên cứu cũng chưa trình bày có hệ thống những giá trị đặc thù của CNXH Việt Nam, đặc biệt là những mâu thuẫn mà Việt Nam cần giải quyết để thúc đẩy xã hội phát triển Những vấn đề cốt tử cho phát triển như: Động lực phát triển xã hội? Các nguồn lực phát triển xã hội? Những gì cản trở các nguồn lực và động lực? Những tác nhân nào kìm hãm sự vận động và phát triển? Giải phóng và đổi mới cái gì? Đổi mới và giải phóng ra sao để phát triển? Cách làm như thế nào để có hiệu quả cao?, v.v Đây là những vấn đề mà sự nghiên cứu của chúng ta chưa thấy hết tầm quan trọng, chưa đặt trọng tâm đúng mức, nhiều lúc còn được trình bày lầm lẫn dẫn đến những cách hiểu không thống nhất trong nhận thức, dẫn đến lúng túng trong hành động
Hơn lúc nào hết, khi mà sự nghiệp xây dựng CNXH Việt Nam với tinh thần đổi mới đang giành được những thành tựu to lớn, triển vọng phát triển đất
nước đang được mở ra, việc tiếp tục nghiên cứu đúng đắn và sâu sắc những vấn
đề về động lực, nguồn lực, tiềm năng sức sống đất nước, dân tộc, từ đó tìm cách giải phóng các nguồn lực, đổi mới cách phát huy nguồn lực, tạo ra thế và lực tối
đa cho sự phát triển đất nước là nhiệm vụ quan trọng và hết sức có ý nghĩa hiện nay ở nước ta
3 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng phương hướng và giải pháp để giải phóng mọi nguồn lực của đất nước, đổi mới đồng bộ kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội, phát triển đất nước theo định hướng XHCN
4 Cơ sở lý luận, phương pháp luận và cách tiếp cận đề tài
Trang 15- Với tính chất, đặc điểm và mục đích nêu trên, đề tài được thực hiện trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về CNXH và xây dựng CNXH
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp luận tiếp cận xuyên suốt quá trình triển khai đề tài
- Đề tài tiếp cận từ phương pháp hệ thống và liên ngành với nhân lõi là
lý thuyết phát triển hiện đại
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp lịch sử- logic, phân tích - tổng hợp, khái quát hóa và dự
báo cho phép đi sâu phân tích các hiện tượng, các quá trình, cấu trúc của các
bộ phận khác nhau của CNXH, từ đó rút ra những vấn đề mang tính bản chất nhất và dự báo xu hướng vận động của CNXH Việt Nam đầu thế kỷ XXI
- Phương pháp so sánh làm rõ các tính chất, quy mô, cơ cấu, mô hình
CNXH khác nhau…, từ đó rút ra những đặc điểm chung, phổ biến và đặc thù, tìm kiếm những giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu vấn đề xây dựng CNXH
ở Việt Nam
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp một cách tương đối hệ thống những vấn đề cơ bản nhất về CNXH, làm sáng tỏ hơn cơ sở lý luận và điều kiện thực tiễn cho sự phát triển CNXH Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI; đưa ra những nội dung cốt yếu về nội lực và động lực phát triển xã hội, khai thác, sử dụng, huy động và phát huy các nguồn lực con người và xã hội cho sự phát triển CNXH; những vấn đề về tiếp tục đổi mới để phát triển CNXH trong những thập niên đầu thế kỷ XXI
Từ những kết quả nghiên cứu, đề tài mạnh dạn đề xuất những kiến nghị
có giá trị tham khảo cho Đảng và Nhà nước trong quá trình hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách xây dựng CNXH Việt Nam hiện nay
Trang 16Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu, giảng dạy các môn lý luận chính trị Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
6 Nội dung nghiên cứu
Đề tài được kết cầu thành 3 Chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về giải phóng, đổi mới, phát triển
Chương 2 Thực trạng của quá trình giải phóng, đổi mới, phát triển vì chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam
Chương 3 Phương hướng và giải pháp tiếp tục giải phóng, đổi mới, phát triển
vì chủ nghĩa xã hội
Trang 17CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI,
PHÁT TRIỂN
1.1 BẢN CHẤT, NỘI DUNG CỦA CÁC VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÚNG
Giải phóng, đổi mới, phát triển là những vấn đề có tính quy luật trong quá
trình tồn tại và vận động tự nhiên của tất cả các sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy con người Mặc dù đây là ba vấn đề khác nhau nhưng giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, thậm chí còn
có rất nhiều điểm tương đồng Chính vì vậy, nhiều khi việc giải thích về thuật ngữ này cần phải dựa vào nội hàm của thuật ngữ kia Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, vấn đề giải phóng, đổi mới, phát triển chỉ được đề cập đến như là bản chất vốn có của mọi sự vận động và phát triển trong lĩnh vực xã hội
1.1.1 Bản chất, nội dung của các vấn đề giải phóng, đổi mới, phát triển
1.1.1.1 Phạm trù giải phóng
Từ nguyên giải phóng (liberation) bản thân nó mang gốc nghĩa “Tự do” –
nghĩa là cái chỉ sự vật, hiện tượng trong trạng thái tự do, không bị một sự ràng
buộc, đè nén, kìm chế nào Với tư cách là hành động, giải phóng là việc làm
cho trạng thái mất tự do, sự tù túng, ràng buộc, đè nén, bị kiềm chế được giải thoát Đây là hiện tượng, hành động diễn ra một cách phổ biến trong tự nhiên,
xã hội và tư duy con người
Theo mục tiêu của đề tài này, khái niệm giải phóng chỉ được lý giải làm
rõ và vận dụng để giải quyết các vấn đề trong lĩnh vực xã hội Trong phạm vi của lĩnh vực xã hội, khái niệm giải phóng thường được hiểu với những nội dung chủ yếu sau:
Trang 18- Giải phóng xã hội với tư cách là một đối tượng duy nhất, là làm cho xã hội thoát khỏi ách áp bức và bóc lột, con người được tự do; thí dụ: giải phóng đất nước; giải phóng giai cấp, giải phóng con người, v.v
- Làm cho thoát khỏi những ràng buộc, những sự cản trở đối với một sự vật, một quá trình, thí dụ: thoát khỏi những quy định, phong tục, tập quán phong kiến, lạc hậu, kìm nén ý chí vươn lên, làm thui chột tài năng sáng tạo, v.v
- Giải phóng các cơ chế không phù hợp để hoạt động sản xuất, hoạt động chính trị-xã hội thuận lợi hơn, có hiệu quả hơn, v.v
Trong các khía cạnh cụ thể của đời sống xã hội, giải phóng còn có các nghĩa như: giải thoát (affranchissement), tháo gỡ một tình trạng khó khăn (emancipation), hoặc phóng thích (delivrance) Thí dụ, trong đời sống chính trị
- xã hội, chúng ta luôn bắt gặp những thuật ngữ trong phạm trù giải phóng như: phóng thích tù nhân, giải thoát con tin; trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ta bắt gặp tư tưởng về hành vi phóng sinh cho con vật, , v.v Sự giải thoát tinh thần là một mục đích cao đẹp trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong các tôn giáo, trong các lý thuyết phát triển con người
Khái niệm giải phóng trong lĩnh vực xã hội mang nhiều ý nghĩa khác nhau Trước hết, ta hiểu đây là động thái, hành vi làm cho một chủ thể, một chế độ xã hội được vượt ra khỏi một trạng thái cũ để phát triển trong một trạng thái mới Chúng ta thường nói đến giải phóng dân tộc, tức là làm cho một dân tộc nào đó thoát khỏi một chế độ xã hội bị kìm kẹp để người dân trở nên tự do; giải phóng lực lượng sản xuất tức là phá bỏ những rào cản về quan hệ sản xuất, về cơ cấu,
tổ chức, v.v để mọi tiềm năng, mọi nguồn lực kinh tế được bung ra, lực lượng sản xuất được phát triển Nói đến giải phóng xã hội, điều quan trọng với nghĩa tiến bộ, có thể nói đến giải phóng năng lượng con người, tức là làm cho những năng lượng tiềm tàng trong con người được phát huy một cách mạnh mẽ; v.v
Trang 19Trong phạm vi và mục đích nghiên cứu của đề tài này, phạm trù giải phóng được hiểu một cách toàn diện cả bề rộng và chiều sâu của nó, nó không chỉ được hiểu đó là giải phóng xã hội và con người khỏi áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, của chế độ xã hội cũ; nó cũng không chỉ với nghĩa là
“làm cho thoát khỏi những ràng buộc bất hợp lý” và “phá hết mọi cản trở để
thực hiện mục đích” của chủ thể xã hội; mà điều quan trọng hơn, hiểu giải
phóng là việc tìm ra những cách thức để gợi mở, tìm ra những điều kiện để phát huy một cách tích cực nhất, hiệu quả nhất những nguồn lực, những tiềm năng vốn có trong xã hội và trong con người, nhằm thúc đẩy xã hội không ngừng tiến lên
Nói một cách cô đọng và trực tiếp nhất, giải phóng trong lĩnh vực xã hội
là việc phá bỏ những rào cản, những khó khăn, những cản trở, những điều kiện bất lợi cho sự phát triển của một chủ thể hay một tổ chức, một cơ chế, một thiết chế chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, để mở đường, tạo động lực cho sự phát triển mọi tiềm năng vốn có bên trong, kể cả cộng lực bên ngoài của các chủ thể, tổ chức, cơ chế, thiết chế đó
1.1.1.2 Phạm trù đổi mới
Đổi mới (innovation) cũng có nhiều nghĩa và nhiều cấp độ khác nhau
Theo nghĩa thông thường, đổi mới là thay đổi hoặc làm cho thay đổi sự vật, hiện tượng, quá trình theo hướng tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước; là thay đổi cho khác hẳn với trước, tiến bộ hơn, khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển1 Thực chất của đổi mới là tạo ra sự thay đổi căn bản cho phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh mới, làm cho thích nghi với những điều kiện, hoàn cảnh mới để tiếp tục tồn tại và phát triển Trong đời sống, “đổi mới” là thay cách nghĩ, cách làm cũ lạc hậu, lỗi thời, không đáp ứng
1
Hoàng Phê (Chủ biên): Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển, 2002, tr 337
Trang 20được nhu cầu phát triển, bằng cách nghĩ, cách làm khác, tiến bộ hơn, hợp với quy luật của sự phát triển
Trong thực tế, không nên hiểu đơn giản, đổi mới là nghĩ khác, làm khác
cái cũ Trong một cái cũ có những yếu tố đã lạc hậu, song cũng còn những yếu
tố đáp ứng cái mới Sự phủ định hoàn toàn cái cũ và chạy theo cái hoàn toàn mới sẽ rơi vào máy móc, cực đoan, siêu hình Cũng không nên nghĩ đơn giản
theo một hướng khác rằng đổi mới là nghĩ ngược lại, làm ngược lại cái đã và
đang diễn ra Cái đã và đang diễn ra bao giờ cũng chứa đựng trong nó yếu tố
cũ và mới, chúng cần được hoàn thiện hơn nữa chứ không phải tất cả đều đã
sai, đã trở thành vô nghĩa Quan niệm cho rằng đổi mới là làm ngược hẳn, là
quay 180 độ đối với cái cũ, với quá khứ và hiện tại đều thuộc loại tư duy cực đoan Bởi trong cái cũ, quá khứ bao giờ cũng bao chứa cái tích cực cần được
kế thừa, nhiều cái của hiện tại cần được tiếp tục kế thừa, phát huy để làm giàu, làm mạnh cho cái đương đại
Đổi mới cũng là hướng và vươn đến cái mới Cái mới mà ta cần quan niệm
đúng, cần vươn tới, là cái thích hợp với yêu cầu của cuộc sống, của thời đại, phù hợp với thành quả của khoa học, kỹ thuật hiện đại Cái mới mà ta mong muốn thường khác với cái cũ, thậm chí đi ngược với cái cũ, và biểu hiện rõ nhất là tiến
bộ hơn cái cũ, giúp ta khắc phục được mọi sự cản trở của cái cũ trên con đường phát triển
Đổi mới cũng gần gũi với cải tiến – làm cho cái cũ hòa nhập được với thời
đại Cái mới vẫn kết bạn thân thiết với cái cũ tích cực giàu chất khoa học và nhân văn Về mặt khoa học, cái mới là sự phủ định cái cũ, nhưng suy cho cùng, cái mới cũng là con đẻ của cái cũ, nó lớn lên trong lòng cái cũ Do đó, cái mới có tính ưu việt đặc biệt nhưng không phải không còn sự dằn vặt, trăn trở; cái mới cũng có một dòng đời phức tạp khi nó đang chung sống cùng với thế giới cái cũ
Trang 21Cái mới ra đời không hẳn sẽ mãi mãi mới Theo quy luật, cái mới vừa xuất hiện rồi sẽ lại trở thành cũ khi nó bị thực tiễn vượt qua hoặc bị những sáng tạo trong tương lai phủ định Đó là lẽ thường tình, là quy luật của sự phát triển và cũng là kết quả tất yếu, tự nhiên của sự tự vận động trong bản thân cái mới2
Đổi mới tuy không phải là cách mạng xã hội, nhưng là quá trình mang
tính cách mạng, có ý nghĩa cách mạng, nhằm tạo ra những bước nhảy vọt trong
sự phát triển Trong thực tiễn vận động của đời sống xã hội, nhiều khi người ta
thường đưa cái mới vào để cái cũ có những thay đổi mà ta gọi là canh tân
(innovation) Canh tân là thuật ngữ hay được dùng trong các chương trình giáo dục và nghệ thuật Việc canh tân nếu mang ý nghĩa như một việc cần làm lại và
tính chất thay cái cũ có phần triệt để hơn thì được dùng bằng thuật ngữ cách
tân (renovation) Làm lại một phương pháp, làm lại một mốt quần áo, nhiều
khi được coi là một cách tân Nếu như thay cái cũ hoàn toàn để xây dựng cái mới, triệt để hơn công việc cách tân, người ta gọi là cải cách (reform) như cải cách giáo dục, cải cách tôn giáo, cải cách ruộng đất, cải cách hành chính Nói đến cải cách là nói đến việc thay đổi cơ bản một trạng thái, một đối tượng, làm cho chúng có sự biến đổi phù hợp với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển, làm cho nó tốt hơn theo nhu cầu của con người Với ý nghĩa đó, khái niệm đổi mới không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm cải cách Tuy cải cách cũng tạo nên sự thay đổi về chất nhất định trong đời sống xã hội, nhưng chỉ tạo nên những biến đổi riêng lẻ, bộ phận Còn đổi mới, bản thân nó đã hàm chứa những nội dung của cải cách Thí dụ cải cách hành chính là một trong những nội dung của quá trình đổi mới ở nước ta Nhưng đổi mới không phải là sự thay đổi riêng lẻ, bộ phận như cải cách mà là sự thay đổi có tính toàn diện, dẫn đến sự thay đổi mô hình phát triển
2
Xem thêm: http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Hanh-Dong/The_nao_la_doi_moi/
Trang 22Về căn bản, cho đến nay có hai cách thức chính thường được cân nhắc đến trong cải cách, đó là: cải cách theo kiểu đột ngột (big-bang reform) hoặc cải cách theo kiểu từ từ (piecemal reform) Trong thực tế, các cuộc cải cách thường nằm đâu đó giữa hai cực này Đối với các cải cách có phạm vi rộng lớn và các tương tác phức tạp, cải cách từ từ thường được đánh giá cao vì nhiều lí do trong
đó có lý do cơ bản là chúng ta không thể lường hết các kênh tác động và hệ quả dài hạn của cải cách do sự hữu hạn của thông tin và lý tính, và từ đó, cần đảm bảo khả năng điều chỉnh kịp thời khi cải cách từ từ Trong những điều kiện nhất định, tuy nhiên, kiểu cải cách từ từ lại dễ bị bóp chết bởi các nhóm hưởng lợi từ
cơ chế cũ, hoặc do các sức ép chính trị khác, tức cải cách từ từ không nắm bắt được thời cơ, và có thể không vượt qua được những cản trở căn bản nhất Theo nghĩa nào đó, Việt Nam đã áp dụng cải cách kiểu đột ngột trong một số lĩnh vực
và cải cách từ từ trong một số lĩnh vực khác, đặc biệt là trong các cải cách có tính chính trị và xã hội
Qua sự phân tích trên, có thể thấy, canh tân, cách tân và cải cách đều là những nội dung quan trọng của đổi mới khi hiểu đổi mới theo nghĩa rộng, nghĩa
là mang tính tổng thể và trên một quy mô lớn Canh tân, cách tân, cải cách
thường đề cập đến đổi mới các lĩnh vực cụ thể và trong một phạm vi hẹp hơn Trước đây ở Liên Xô, người ta tháo dỡ toàn bộ thể chế cơ cấu chính trị và kinh tế của CNXH đang có những khuyết tật nhất định nhằm đạt tới một cái gì đó mới hơn Cách tháo ra làm lại từ đầu đó là sự cải tổ (Perestroika – xây dựng lại)
Ở Việt Nam, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), vấn đề đổi mới
đã được đặt ra một cách chính thức Thuật ngữ này không hoàn toàn trùng khít lên các thuật ngữ kể trên nên chúng ta thường không dịch ra tiếng nước ngoài với một từ gần giống mà vẫn giữ nguyên tiếng Việt của nó là DOI MOI Trong đổi mới, sự bảo tồn cái cũ hợp lý, bổ sung cái mới có chọn lọc, trình tự, bước
Trang 23đi có sự tính toán Đổi mới là nguyên tắc sống còn để phát triển, nhưng đổi mới phải thận trọng, khéo léo, có chiến lược chiến thuật tiến hành
Tính toàn diện của đổi mới ở Việt Nam thể hiện ở chỗ, từ đổi mới kinh tế
là chủ yếu làm tiền đề cho những đổi mới chính trị, văn hóa, xã hội; từ đổi mới đường lối đến chính sách; từ chính sách đối nội đến chính sách đối ngoại; từ đổi mới tư duy, nhận thức, tư tưởng đến đổi mới hoạt động thực tiễn Trong tiến trình đổi mới, phải đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội Tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước
1.1.1.3 Phạm trù phát triển
Phát triển (Development) là khái niệm có nhiều hàm nghĩa gần gũi với
các khái niệm giải phóng và đổi mới Phát triển có nội dung rất phong phú:
Đó là trạng thái vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên, là sự thay đổi của sự vật, hiện tượng từ bậc thấp lên bậc cao Phát triển có nghĩa trái ngược với trạng thái không mang lại một chất lượng mới hay một kết quả mới tốt hơn
Phát triển cũng được hiểu là kết quả của quá trình giải phóng hay đổi mới; còn giải phóng, đổi mới được hiểu là phương thức hành động, là công cụ, phương tiện để đạt kết quả do phát triển mang lại Phát triển ở đây được hiểu với nghĩa là mục tiêu của sự giải phóng hay đổi mới
Cũng có khi nói đến phát triển là nói đến sự thoát khỏi cái cũ, vượt ra khỏi khuôn khổ nào đó để tiến triển tốt hơn Ở đây, khái niệm phát triển đồng nghĩa với khái niệm giải phóng và nó cũng là một trong những nội dung của đổi mới
Trang 24Từ phương diện hành động, phát triển cũng có nghĩa là làm cho một sự vật, một hiện tượng nào đó hoàn thiện hơn, đúng đắn hơn so với cơ sở hình thành ban đầu của nó Nhận thức của con người không ngừng được bổ sung, phát triển để phản ánh đúng thế giới khách quan, phù hợp với hoạt động thực tiễn và đáp ứng nhu cầu cải tạo xã hội của con người Để lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin ngày càng tràn đầy sức sống, những người cộng sản phải không ngừng bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp xây dựng CNXH Sự nghiệp xây dựng CNXH cũng là một quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, làm cho xã hội ngày một tiến bộ, văn minh, giàu có, con người phát triển toàn diện
Từ phân tích trên ta thấy, phát triển vừa được hiểu là công cụ, phương
tiện, vừa được hiểu là mục đích của quá trình đổi mới hiểu theo nghĩa rộng
Khi xác định phát triển là công cụ, phương tiện thì người ta thường nhấn mạnh vào các lĩnh vực hay vấn đề cụ thể; còn khi phát triển được xác định là mục
đích thì nó đòi hỏi tính toàn diện chứ không phải tập trung vào những vấn đề hay lĩnh vực cụ thể nào
Phát triển trong đề tài này không chỉ có nghĩa là công cụ, phương tiện,
cũng không chỉ là mục đích, mà điều quan trong hơn là hành động Các chủ thể xây dựng, phát triển xã hội phải chủ động, sáng tạo, tạo điều kiện cho các nhân
tố của xã hội, con người, kinh tế, văn hóa được phát huy cao độ, tạo ra tổng lực thúc đẩy xã hội tiến lên
Từ chiến tranh thế giới thứ hai, vấn đề phát triển được nhiều người quan tâm, hơn nữa, nó dần dần trở thành công cụ hoạch định và quản lý rất nhiều lĩnh vực trong xã hội, trở thành mục tiêu của sự tiến triển xã hội
Tổng kết những bước gập gềnh, quanh co mà loài người vừa trải qua trong thế kỷ XX, có thể rút ra một số kết luận cực kỳ quan trọng là không thể
Trang 25chỉ dừng lại ở mô hình tăng trưởng mà phải chuyển sang mô hình phát triển, khắc phục dần những quan niệm về tăng trưởng kinh tế đơn thuần, chuyển sang tăng tiến toàn diện trong toàn bộ hệ thống quan hệ xã hội và cấu trúc xã hội trực tiếp phục vụ con người
Tăng trưởng kinh tế là tăng GDP và sản phẩm bình quân trên đầu người
từ năm này qua năm khác Còn phát triển là một khái niệm rộng hơn dùng để chỉ sự tiến triển của xã hội, bao gồm cả việc gia tăng về sản lượng kinh tế, cơ cấu kinh tế lẫn việc nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn hóa, phát triển con người, làm cho xã hội chuyển lên những trình độ cao mới
Có quan điểm cho rằng những yếu tố văn hóa: những di sản văn hóa truyền thống, lối sống, đạo đức, văn học, nghệ thuật v.v không trực tiếp đóng góp vào
sự phát triển Do vậy, những thiết chế và chính sách xã hội-văn hóa làm nền tảng cho tăng trưởng kinh tế bị bỏ qua Hậu quả là một số nước đã có sự giảm sút nghiêm trọng về đạo đức, lối sống, nhân phẩm, tình người, dẫn đến nguy cơ làm đảo lộn về mặt đời sống tinh thần cộng đồng Thiếu sót của quan điểm nói trên là coi tăng trưởng kinh tế tự nó sẽ giải quyết tất cả các vấn đề văn hóa, xã hội và môi trường Chính vì vậy mà xuất hiện các mô hình sau đây3:
1 Tăng trưởng thất nghiệp: Tăng trưởng nhưng không làm cho tổng việc
làm của xã hội tăng lên, thậm chí làm tăng thất nghiệp, nghĩa là nguồn lực con người không được sử dụng hợp lý;
2 Tăng trưởng tàn nhẫn (hoặc tăng trưởng thô bạo): tăng trưởng kinh tế
nhưng phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc;
3 Tăng trưởng câm: tăng trưởng kinh tế nhưng đời sống xã hội không
được cải thiện, không có tiến bộ, đa số dân chúng không có quyền làm chủ;
4 Tăng trưởng mất gốc: kinh tế tăng trưởng nhưng suy thoái về văn hóa
đạo đức, các giá trị văn hóa truyền thống bị phá vỡ;
Trang 26
5 Tăng trưởng bất chấp tương lai: tăng trưởng kinh tế bất chấp môi sinh
và lợi ích của các thế hệ tương lai (môi trường ô nhiễm, tài nguyên cạn kiệt) Như vậy, một vấn đề cơ bản và rất phức tạp đặt ra khi đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế thì liền đó có những chính sách xã hội, văn hóa để đảm bảo tiến
bộ xã hội và hạnh phúc con người Tăng trưởng kinh tế là điều kiện thiết yếu để nâng cao mức sống con người, nhưng tăng trưởng kinh tế phải nhằm phục vụ mục tiêu phát triển con người, bảo vệ môi trường Mục tiêu của phát triển là phải nâng cao chất lượng cuộc sống với đảm bảo sao cho hài hòa đời sống vật chất, đời sống tinh thần; giữa mức sống cao với lối sống và nếp sống đẹp; không chỉ cho một số ít người mà cho mọi người, cho toàn xã hội; không chỉ cho hôm nay mà cho cả mai sau
Ngày nay, khi bàn về phát triển với tư cách là một mô hình, người ta không nói tăng trưởng, phát triển một cách chung chung mà bàn nhiều đến khái
niệm phát triển bền vững Khái niệm này chủ yếu xuất phát từ mối quan tâm lo
ngại do sự khai thác quá mức các nguồn tài nguyên và môi trường Khái niệm này liên quan với một số nguy cơ hiện thực do chính quá trình phát triển tạo ra,
đó là: (1) Khả năng hy sinh nền tảng tự nhiên cơ bản và đời sống xã hội để đổi lấy tốc độ tăng trưởng kinh tế; (2) Khuynh hướng chạy theo các giá trị vật chất mang tính kinh tế thuần túy và đánh mất các giá trị nhân văn; (3) Mức độ rủi ro phát triển toàn cầu Sự phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm bảo chất lượng tăng trưởng và phát triển gắn liền với nền tảng cơ bản của sự phát triển quốc gia vì con người, của con người và do con người, phải bảo tồn các giá trị văn hóa, giữ gìn môi trường thiên nhiên, khắc phục bất bình đẳng và củng cố cơ sở
xã hội của phát triển kinh tế Định nghĩa về phát triển bền vững được chấp nhận nhiều nhất đó là định nghĩa của bà Gro Harlem Brundtland (Chủ tịch của WCED), theo đó: “Phát triển bền vững là sự phát triển thỏa mãn những nhu
Trang 27cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế
hệ tương lai”4 Các nội dung cơ bản của phát triển bền vững được chỉ ra ở đây chính là sự phát triển liên tục về mọi mặt kinh tế, xã hội, môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người cả trong hiện tại và tương lai Và như vậy, phát triển bền vững chính là “vùng giao thoa” giữa ba mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội – môi trường Điều này có thể khái quát thành ba bộ phận cấu thành chủ yếu của phát triển bền vững, đó là: tăng trưởng kinh tế ổn định – thực hiện dân chủ và tiến bộ xã hội – môi trường được bảo vệ và giữ gìn trong sạch, lành mạnh Thông qua đó, mục đích cuối cùng cần hướng tới là chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao Đó cũng là mục tiêu
mà chúng ta đang hướng tới trên con đường xây dựng CNXH ở Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XXI
1.1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa các vấn đề giải phóng, đổi mới, phát triển
Qua nội dung, bản chất của các vấn đề giải phóng, đổi mới, phát triển đã
được trình bày ở phần trên, có thể thấy vấn đề giải phóng, đổi mới và phát triển
có quan hệ chặt chẽ với nhau Quan hệ giữa ba nội dung đó có thể nhìn từ nhiều góc độ:
Xét từ góc độ động lực với mục tiêu thì giải phóng, đổi mới là động lực, còn
phát triển được coi là mục tiêu, trong đó mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn có quan hệ khẳng khít với nhau Nếu mục tiêu ngắn hạn không thể hiện được bước tiến của mục tiêu lâu dài thì đó là tình trạng không tưởng (như một số nước XHCN trước đây) Trái lại, nếu mục tiêu dài hạn mang tính chất giáo điều hoặc không tưởng thì mục tiêu ngắn hạn sẽ gây ra nhiều hậu quả về sự tụt hậu hoặc chệch hướng (như trong cải tạo và xây dựng CNXH ở Việt Nam trước đây)
triển kinh tế bền vững,số 2/2007, tr 12
Trang 28Khi mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn phản ánh đúng con đường và phù hợp với lịch sử - tự nhiên thì mục tiêu sẽ tạo ra sức sống mới cho động lực phát triển, nhờ đó có khả năng tăng tốc giải phóng, đổi mới sẽ đưa đến chất lượng cao hơn của phát triển
Xét về mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng thì giải phóng, đổi mới
sẽ chủ yếu tạo ra số lượng và tăng trưởng Còn phát triển phản ánh chất lượng
Trong mối quan hệ này nên chú ý rằng: sự tăng trưởng về số lượng phải đến quy mô nhất định thì lượng mới chuyển thành chất Tuy vậy, số lượng tăng lên này phải là kết quả của lao động sáng tạo thì mới chuyển thành chất lượng của
sự phát triển; còn số lượng tăng không phải là kết quả của lao động sáng tạo thì đưa đến suy thoái, dù ở phạm vi toàn quốc hay địa phương
Xét trong mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong thời kỳ hội nhập thì
vấn đề giải phóng, đổi mới, phát triển có đưa đến CNXH hay không là một vấn
đề có ý nghĩa quyết định Phân tích bài học thành công cũng như thất bại của một số nước trong gần 25 năm qua, chúng ta thấy, ngoài những nguyên nhân bên trong căn bản, còn có nhiều nguyên nhân từ đặc điểm địa kinh tế và địa chính trị Nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng thì thành công hay thất bại lại là ở văn hóa, đặc biệt là trong văn hóa chính trị của bộ máy cầm quyền Ở các nước thành công, văn hóa chính trị thể hiện ở đường lối đối nội
và đối ngoại phù hợp đã biết kết hợp nội lực với ngoại lực nhằm xây dựng và hiện đại hóa nội lực, tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc Ở các nước thất bại, chính sự lỗi thời của văn hóa chính trị là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng xã hội, tàn phá môi trường, lệ thuộc nước ngoài
Xét trong tiến trình vận động của lịch sử xã hội, ở một phạm vi nhất định,
chúng còn thể hiện là các cấp độ khác nhau của một quá trình vận động: giải phóng (cấp độ thứ nhất) – đổi mới (cấp độ thứ hai) – phát triển (cấp độ thứ ba);
Trang 29hoặc cũng có thể coi giải phóng, đổi mới cũng bao hàm trong nó sự phát triển,
là động lực của phát triển
Xét trong mối quan hệ nhân quả, và trong những phạm vi, trong những
mối quan hệ nhất định thì giải phóng là tiền đề để đổi mới, nếu không có sự giải
phóng thì cũng không thể tiến hành đổi mới được Mặt khác, giữa giải phóng và
đổi mới cũng có những chỗ giao thoa với nhau, bởi trong đổi mới, ở một mức
độ nào đó, đã có ý nghĩa về việc tháo bỏ những cái cũ đã quy định, đã trói buộc
và kìm hãm con người, công việc, tư duy và phương thức thực hiện công việc, làm cho sự việc trở nên trì trệ, đình đốn, thậm chí suy thoái Tuy nhiên, ở khía
cạnh này, đổi mới mang ý nghĩa của tự giải phóng, không cần đến sự viện trợ,
mà chủ thể chính trị lại có điều kiện để tiếp tục thực hiện quá trình giải phóng mọi nguồn lực và tiềm năng xã hội, tiếp tục quá trình đổi mới vì sự phát triển Phát triển là biểu hiện của sự giải phóng và đổi mới ngày càng có hiệu quả Liên quan và gắn bó chặt chẽ với những nội dung cơ bản và bản chất của vấn đề giải phóng, đổi mới, phát triển cũng như mối quan hệ giữa chúng, chúng ta cần nghiên cứu nó trong mối quan hệ với phạm trù “ổn định xã hội” Quan niệm thứ nhất cho rằng “Ổn định xã hội” có thể được hiểu là duy trì trạng thái hiện có của xã hội, chỉ thực hiện những biến đổi không căn bản,…
Trang 30Sự ổn định như vậy là đối lập với đổi mới, là lực cản của đổi mới, nó duy trì trạng thái trì trệ của xã hội
Quan niệm thứ hai cho rằng “Ổn định xã hội” lại có thể được hiểu là sự
ổn định của thể chế chính trị - xã hội trong quá trình không ngừng phát triển và hoàn thiện xã hội, làm cho bản chất của thể chế đó được xác lập ngày càng vững chắc và được bộc lộ rõ nét hơn, đầy đủ hơn Điều đó chỉ có được khi đổi mới đúng đắn, loại bỏ những gì cũ kỹ, tiêu cực, cản trở sự phát triển; cái mới phù hợp với quy luật của sự phát triển sẽ ra đời và tiếp tục đòi hỏi đẩy mạnh đổi mới ở cấp độ cao hơn
Chính từ đây lại xuất hiện các quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa
giải phóng, đổi mới, ổn định và phát triển
- “Đổi mới” và “phát triển” là hai khái niệm đối lập với “ổn định” Cách hiểu đó chỉ đúng, khi hiểu “ổn định” theo quan niệm thứ nhất Còn khi hiểu
“ổn định” theo quan niệm thứ hai, thì chúng lại nương tựa vào nhau, làm điều kiện cho nhau Đổi mới mà chúng ta đang thực hiện là để giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, để làm cho CNXH được nhận thức đúng đắn và được xây dựng có hiệu quả cao hơn Đổi mới không phải là xa rời chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà là làm cho lý luận và tư tưởng đó được nhận thức và vận dụng, phát triển sáng tạo hơn, mang lại kết quả thiết thực hơn Đổi mới không phải là phủ định sạch trơn nhận thức và cách làm trước đây cùng những thành tựu đã được tạo ra, mà là khẳng định những gì đã nghĩ đúng, làm đúng, giữ lại những giá trị tích cực của quá khứ; đồng thời loại bỏ những gì hiểu sai, làm sai, những hậu quả do những sai sót đó tạo ra Cho nên, đổi mới để giữ vững định hướng XHCN trong quá trình phát triển đất nước, làm cho CNXH được thiết định vững chắc trên đất nước ta Ở đây, đổi mới đúng đắn là tiền đề cho ổn định xã hội, để có phát triển xã hội
Trang 31Rõ ràng đổi mới, ổn định, phát triển quan hệ chặt chẽ với nhau Ổn định
là tiền đề cho đổi mới và phát triển Nhưng chỉ có kiên trì đổi mới, đẩy nhanh
phát triển mới có thể tạo ra cơ sở cho môi trường xã hội ổn định Ổn định là
tiền đề, là điều kiện, giải phóng và đổi mới là động lực, phát triển là mục tiêu
Thế giới ngày nay đang vận động xoay quanh quá trình giải phóng, đổi mới
và phát triển Đối với nước ta, giải phóng, đổi mới, phát triển là yêu cầu bức thiết có tính sống còn của quá trình xây dựng CNXH, là con đường vươn lên để
tự khẳng định mình trước thế giới hiện đại Yêu cầu đó vừa là đòi hỏi bên trong của nước ta, vừa phù hợp với xu thế giải phóng, đổi mới, phát triển của thời đại
Các nội dung của giải phóng, đổi mới, phát triển là việc tháo gỡ, loại bỏ những
rào cản, lực cản để mở rộng không gian và tạo điều kiện cho sự tiến triển tích cực hơn của xã hội, phát huy những thành quả to lớn của gần 25 năm đổi mới vừa qua, sửa chữa những khuyết điểm, sai lầm, khắc phục những hạn chế trong tầm nhìn, tầm tư duy, trong tổ chức và cơ chế vận hành của nền kinh tế, đưa vào
cơ chế vận hành của xã hội một hệ thống đồng bộ các yếu tố vật chất và tinh thần, tạo động lực và sức mạnh cho sự phát triển vượt bậc, là sớm phát hiện và
xử lý tốt những vấn đề mới phát sinh, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, giữ vững độc lập chủ quyền, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, từng bước vững chắc đi lên CNXH
Logic của các quá trình giải phóng, đổi mới, phát triển ở Việt Nam hiện nay là nhằm tạo ra một trạng thái mới cho quá trình xây dựng CNXH, thoát khỏi những khuôn khổ cứng nhắc và những nhận thức hạn hẹp về cách thức đi lên CNXH ở Việt Nam Giải phóng, đổi mới, phát triển ở Việt Nam là con đường tất yếu, khách quan và hợp quy luật Ý nghĩa và tầm vóc lịch sử của quá trình giải phóng, đổi mới, phát triển ở Việt Nam chính là mang lại những cải biến cách mạng sâu sắc và triệt để từ quan niệm, tư duy đến hoạt động thực
Trang 32tiễn, làm thay đổi căn bản phương thức lãnh đạo và năng lực quản lý xã hội Triết lý sâu sắc trong tư duy cách mạng ở Việt Nam hiện nay là không ngừng giải phóng, không ngừng đổi mới, phát huy cao độ mọi tiềm năng phát triển - giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng tinh thần và trí tuệ, phát huy tự do tư tưởng, thực hiện dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội
Giải phóng, đổi mới, phát triển làm bộc lộ và nhân lên sức mạnh của các tiềm năng xã hội Lý tưởng nhân đạo sâu xa của giải phóng, đổi mới, phát triển
là vì con người, nghĩa là đặt con người vào trung tâm của sự giải phóng, đổi mới và phát triển, xem việc giải phóng vấn đề con người là thước đo của tất cả Giải phóng, đổi mới, phát triển theo ý nghĩa đó là sự phản ánh đúng đắn những đặc điểm lịch sử và điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam, nó thuận với trào lưu và xu hướng phát triển của thời đại Tuy nhiên, giải phóng, đổi mới, phát triển là quá trình đón nhận thời cơ, đồng thời là chấp nhận thách thức
để phát triển Hoặc tiến kịp trình độ chung của thế giới để trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại nếu đổi mới kịp thời, đổi mới đúng và sáng tạo; hoặc sẽ lạc hậu, suy thoái và lệ thuộc nếu bỏ lỡ cơ may lịch sử của đổi mới; cũng như đổi mới một cách phiêu lưu, mạo hiểm, cực đoan, mất phương hướng chính trị Quá trình này diễn ra không giản đơn Bản thân nó bao hàm nhiều vấn đề phức tạp, phải chấp nhận và biết cách xử lý đúng Con đường giải quyết là đứng vững trên lập trương chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục đẩy mạnh quá trình giải phóng, đổi mới, phát triển với những phương thức và bước
đi phù hợp, được lựa chọn một cách khoa học, sáng tạo
Giải phóng, đổi mới, phát triển là quá trình hết sức khó khăn, phức tạp Trong quá trình này thường xuyên diễn ra cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa những quan điểm, cách nghĩ, cách làm mới với những quan điểm cũ
kỹ, lỗi thời, giữa tính năng động của yêu cầu đổi mới và tư tưởng bảo thủ, trì trệ, sức ỳ của những thói quen; giữa sự thay đổi có tính chất cách mạng với sự
Trang 33thay đổi mang tính cục bộ; giữa sự vận động, phát triển của thực tiễn với những hệ thống lý luận lạc hậu, giáo điều,… Nó thể hiện sự vật lộn vô cùng khó khăn với việc làm cho ngày càng sáng tỏ con đường và cách thức đưa đất nước đi lên CNXH
1.2 CÁC TIÊU CHÍ VỀ PHÁT TRIỂN 5
1.2.1 Một số nguyên tắc có tính phương pháp luận của việc xác định,
xem xét, đánh giá tiêu chí
Tiêu chí là tiêu chuẩn đưa ra dùng để kiểm định hay đánh giá một đối tượng, trong đó bao gồm các yêu cầu về chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng tuân thủ các quy tắc và quy định, kết quả cuối cùng và tính bền vững của các kết quả đó Mục đích xác định tiêu chí cho sự phát triển kinh tế, văn hoá,
xã hội và con người là nhằm xác định hệ thống các dấu hiệu tạo thành chỉnh thể phản ánh xu thế, trạng thái và đích đến của một đất nước để làm căn cứ nhận biết và xếp loại chúng Trên cơ sở các tiêu chí đã được xác định, các chủ thể tham gia quá trình quản lý sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và con người đưa ra các quyết định quản lý một cách đúng đắn, kịp thời Các tiêu chí cũng là cơ sở để kiểm tra, đối chiếu đánh giá và điều chỉnh hoạt động – nhân tố bảo đảm cho sự phát triển Thêm vào đó, các tiêu chí còn là cơ sở để xây dựng
ý chí thống nhất, tạo sự đồng thuận và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh giữa các quan điểm, các giải pháp khác nhau về sự phát triển
Vì vậy, khi xác định tiêu chí cho sự phát triển trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội và con người phải chỉ ra được trạng thái của mỗi hệ thống tại một thời điểm cụ thể; xu hướng phát triển của hệ thống đó trong tương lai; sự tương tác lẫn nhau giữa các hệ thống tiêu chí và mối tương quan so sánh với sự phát triển của các nước khác trong khu vực cũng như trên thế giới Đồng thời,
bộ xã hội
Trang 34các tiêu chí phải nêu được những mục đích, yêu cầu nhằm tập hợp sự nỗ lực của toàn xã hội để giải quyết các vấn đề thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hoá,
xã hội và con người Nói đến các tiêu chí phát triển (hay hệ tiêu chí) thì giữa các tiêu chí thành phần của từng lĩnh vực cũng như trong tổng thể của chúng phải cân đối, phù hợp và là điều kiện cần và đủ của nhau Hơn nữa, các tiêu chí nêu lên phải là một hệ thống mở, thể hiện xu hướng vận động đi lên, có tính khả thi và có thể lượng hoá bằng những con số cụ thể ứng với mỗi giai đoạn
Khi đề cập đến tiêu chí phát triển kinh tế phải thấy rõ sự tăng trưởng về
kinh tế, đó là quá trình lớn lên, sự tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế; đồng thời phản ánh sự hoàn chỉnh về cơ cấu, thể chế của nền kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống Vì thế, các tiêu chí phát triển kinh tế của các nước đều tập trung vào các nội dung:
Một là, phải có sự tăng trưởng kinh tế, được xác định bằng sự gia tăng về
quy mô, sản lượng của nền kinh tế diễn ra trong một thời gian tương đối dài và
ổn định Đó là, tiêu chí về tổng sản phẩm quốc nội (viết tắt tiếng Anh là GDP)
là tổng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia, không phân biệt do người trong nước hay người nước ngoài làm ra, ở một thời điểm nhất định, thường là một năm; tiêu chí tốc
độ tăng GDP/năm; tiêu chí GDP bình quân đầu người/năm; tiêu chí tốc độ tăng GDP đầu người/năm; tiêu chí tổng thu nhập quốc gia (viết tắt tiếng Anh là GNI) bao gồm GDP cộng chênh lệch giữa thu nhập nhân tố sản xuất từ nước ngoài với thu nhập nhân tố sản xuất cho nước ngoài, trong một thời kỳ nhất định thường là một năm
Hai là, phải có sự biến đổi về cơ cấu kinh tế giữa các vùng, miền, ngành
và các thành phần kinh tế, trong đó tỷ trọng giá trị kinh tế vùng nông thôn giảm so với thành thị, nông nghiệp giảm so với công nghiệp và dịch vụ, công
Trang 35nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng Trong việc xác định sự biến đổi về cơ cấu kinh tế, hầu hết các nước đều xác định các tiêu chí về cơ cấu ngành trong GDP gồm: tỷ trọng giá trị nông nghiệp trong GDP, tỷ trọng giá trị công nghiệp trong GDP, tỷ trọng giá trị dịch vụ trong GDP
Ba là, phát triển kinh tế là quá trình tiến hoá theo thời gian và do những
yếu tố bên trong quy định đến toàn bộ quá trình phát triển Để làm rõ quá trình phát triển nội tại và đánh giá mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của một đất nước, các chuyên gia kinh tế thường phân tích, so sánh các tiêu chí: Tỷ lệ giá trị xuất khẩu hàng chế tác trong xuất khẩu hàng hoá; Tỷ trọng giá trị xuất khẩu hàng công nghệ cao trong tổng xuất khẩu hàng chế tác; Giá trị xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ; Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ; Mức nợ nước ngoài
và tỷ trọng so với GNI
Ngoài ra, tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế còn căn cứ vào môi trường được bảo đảm, mức sống của đại bộ phận nhân dân ngày càng được nâng cao, điều kiện chăm lo sức khoẻ, giáo dục và đời sống văn hoá tinh thần của người dân ngày càng tốt hơn Như vậy, phát triển kinh tế không thể tách rời sự phát triển văn hoá, xã hội và con người; mỗi bước phát triển kinh tế phải là sự kết hợp hiệu quả giữa sản xuất và các mục tiêu xã hội, ở đó con người không chỉ là phương tiện mà là mục tiêu của sự phát triển
Trong nền văn minh hiện đại, đề cập đến phát triển không thể chỉ phát triển về mặt kinh tế mà còn cả cái phi kinh tế, vì thế nhiều nước ngày càng ý thức rõ hơn về các giá trị văn hoá là nguồn cổ vũ, sự tự khẳng định những phẩm chất riêng biệt và khả năng sáng tạo của mình Đó cũng là lý do nghiên cứu các tiêu chí phát triển văn hoá là yêu cầu nghiên cứu đồng bộ sự phát triển giữa các mặt trong hệ thống để thấy rõ các tiêu chí vừa là tiền đề, vừa là kết quả và bổ sung cho nhau
Quan điểm xây dựng tiêu chí văn hoá nhằm kết hợp kinh tế và văn hoá cùng phát triển, cân bằng giữa văn minh vật chất và văn minh tinh thần; quan
Trang 36tâm đến việc nâng cao trình độ, nâng cao đời sống, phát triển nhân cách, phát huy nguồn lực con người bảo đảm cho sự phát triển bền vững Nhà xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu (1930 – 2002) cho rằng, nếu hiểu văn hoá như một nhân tố trong đời sống kinh tế, và nhất là muốn đánh giá vai trò của nó trong tiến trình phát triển thì nên nhìn nó như một loại vốn, trong đó có thể phân biệt hai dạng là vốn văn hoá vật thể và vốn văn hoá phi vật thể Vốn văn hoá vật thể bao gồm những công trình kiến trúc, đền đài cung miếu, những di tích lịch
sử và những địa điểm có tính chất văn hoá… Chúng cung cấp một luồng dịch
vụ có thể hưởng thụ ngay hoặc là yếu tố “đầu vào” cho việc sản xuất những sản phẩm và dịch vụ về văn hoá Còn vốn văn hoá phi vật thể là những tập quán, phong tục, tín ngưỡng, những làn điệu dân ca, văn chương, âm nhạc,…ngoài cung cấp một luồng dịch vụ có thể hưởng thụ ngay, nó còn là thứ keo để gắn kết cộng đồng Vì vậy trong tiêu chí phát triển văn hoá phải bao gồm không chỉ việc bảo tồn những cái hay, cái đẹp của các di sản văn hoá mà còn phải biết kế thừa cho sự phát triển Bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn hoá là sự tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng dân tộc
Đồng thời, văn hoá là sự hiểu biết, để nâng cao sự hiểu biết của nhân dân phải chú trọng tới các tiêu chí về giáo dục – đào tạo như tỷ lệ biết chữ của người lớn, số năm đi học bình quân đầu người, tỷ lệ phổ cập trung học cơ sở đối với trẻ em trong độ tuổi; về trình độ dân trí ở vùng sâu, vùng xa và đầu tư
hạ tầng văn hoá - xã hội; về giáo dục công dân như bồi dưỡng kiến thức pháp luật, thực thi dân chủ Với văn hoá là những giá trị xã hội, để đánh giá sự phát triển phải có các tiêu chí về hệ giá trị và phẩm chất con người như đạo đức, nhân cách, lối sống, vì vậy rất cần những chỉ số về tính công khai, sự trong sạch trong hệ thống chính trị, môi trường và thể chế chính trị
Phát triển xã hội có thể hiểu là sự tăng trưởng xã hội, trong đó cấu trúc các yếu tố xã hội đã được điều chỉnh theo hướng nâng cao chất lượng nhằm làm cho
Trang 37các đặc trưng xã hội đã định hướng xây dựng ngày càng được khẳng định và hoàn thiện hơn Vấn đề cốt lõi của sự phát triển xã hội là không ngừng phát triển kinh tế, giải quyết tốt vấn đề dân sinh; củng cố, bảo vệ và phát triển các đặc trưng của chế độ xã hội; hướng tới phát triển con người, giải phóng con người khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, thoả mãn một cách hợp lý những nhu cầu chính đáng của các tầng lớp, các nhóm xã hội và các cá nhân Tất cả đều xuất phát từ khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định cho phép và tiêu chí xã hội phải dựa trên cơ sở xử lý tốt các mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, xoá bỏ mọi hình thức đặc quyền, đặc lợi Thêm vào đó, tiêu chí phát triển xã hội nhằm bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và ban hành các chính sách nhằm điều tiết các nguồn thu nhập, bảo đảm sự công bằng trong phân phối các sản phẩm xã hội, lương bổng và các phúc lợi xã hội; xây dựng những cơ chế tạo điều kiện cho mỗi thành viên trong xã hội, mỗi người lao động có quyền giám sát, kiểm tra mọi hoạt động kinh tế, xã hội, phân phối sản phẩm và phúc lợi xã hội
Khi con người được hưởng tự do mà nền dân chủ mang lại, con người mới phát huy hết tài năng và sức sáng tạo của mình Nếu như tất cả các thành viên trong xã hội đều có điều kiện được phát triển, không bị ràng buộc, không bị cấm đoán một cách vô lý, không bị làm thui chột tài năng sẽ là hạnh phúc lớn cho cả
cá nhân, gia đình họ lẫn cộng đồng xã hội Vì vậy, tự do cá nhân được nền dân chủ mang lại là cội nguồn sinh ra những sáng kiến, sự sáng tạo và điều đó cũng
có nghĩa là sản sinh ra sự giàu có, làm tăng thêm của cải cho xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội Những yếu tố nội tại của sự phát triển xã hội là gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hoá, con người; phát triển không chỉ đáp ứng nhu cầu của ngày hôm nay mà còn không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Xã hội phát triển bền vững
là xã hội mà con người có cuộc sống chất lượng cao trên nền tảng sinh thái vững
Trang 38chắc Bởi vì, giữa trình độ phát triển của xã hội và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên luôn luôn có sự phụ thuộc và chế định lẫn nhau
Phát triển xã hội bền vững, yếu tố chính trị cũng là tiêu chí được xem xét trong tổng thể của nó, đó là xã hội phải ổn định - không có chiến tranh, không xảy ra đảo chính, không xảy ra khủng bố; các tệ nạn xã hội giảm, tình trạng tham nhũng không có điều kiện để phát triển, hoặc khi có các vụ việc tham nhũng đều được phát hiện và ngăn chặn có hiệu quả; sinh mạng và thành quả lao động của người dân và xã hội được bảo vệ; các giá trị văn hoá, nhân văn được tôn trọng Thêm vào đó, xã hội phát triển là mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực lựa chọn cho tất cả mọi người; mọi người cùng tham gia vào quá trình phát triển và cùng được hưởng lợi từ quá trình phát triển xã hội Phát triển không chỉ nâng cao mức sống mà còn nâng cao chất lượng cuộc cuộc sống con người
Tiêu chí phát triển xã hội bền vững là xã hội hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ, hướng tới sự phát triển hợp lý là mục tiêu tối thượng, bất biến của mọi
hệ thống xã hội Do đó, tiêu chí xem xét sự phát triển xã hội không chỉ dựa trên bình diện thuần tuý vật chất mà còn phải xem xét trên cả bình diện cấu trúc vật chất hợp lý lẫn mặt văn hoá tinh thần của xã hội mà con người đã sáng tạo ra và được hưởng thụ
Vì vậy, khi đề cập đến sự phát triển xã hội, các quốc gia thường quan tâm đến tiêu chí về dân số gồm: tổng dân số, tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm, tuổi thọ kỳ vọng, tỷ lệ dân đô thị, tỷ lệ lao động/dân số; tiêu chí về việc làm gồm tỷ
lệ thất nghiệp, tỷ lệ phụ nữ có việc làm, tỷ lệ lao động qua đào tạo; tiêu chí về mức sống, y tế, bảo hiểm xã hội, giáo dục…Ngoài ra, căn cứ vào tình hình thực tế và nhu cầu phát triển của mỗi nước, người ta còn đề ra các tiêu chí thể hiện tính đặc thù, không lặp lại tiêu chí của các nước khác
Trang 39Về Phát triển con người (HDI) đã được Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) công bố: “Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó Và mục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dài, khoẻ mạnh và sáng tạo Chân lý giản đơn nhưng đầy sức mạnh này rất hay bị người ta quên mất trong lúc theo đuổi của cải vật chất và tài chính”6 Theo quan điểm của UNDP thì phát triển con người không phải là phương tiện mà là mục tiêu của sự phát triển, họ coi con người là vị trí trung tâm của sự phát triển Khi con người được coi là trung tâm, là chủ thể và là mục tiêu của sự phát triển thì tất cả những nhân tố khác cũng chỉ là phương tiện cho sự phát triển Suy đến cùng, phát triển xã hội
là phát triển con người
1.2.2.Tiêu chí phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, con người ở một số nước trên thế giới
Nghiên cứu, phân tích các tiêu chí phát triển của các nước trên thế giới là một việc làm cần thiết nhằm làm rõ cơ sở khách quan, sự tương thích của chúng với điều kiện cụ thể của mỗi nước, trên cơ sở đó vận dụng, đề xuất các tiêu chí phát triền vì CNXH ở Việt Nam Do không có điều kiện khảo sát và nghiên cứu bộ tiêu chí của tất cả các nước trên thế giới, nên chúng tôi chỉ khái quát một số nước, đặc biệt là những nước trong khu vực có hoàn cảnh gần gũi với Việt Nam như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore,…
Trung Quốc là quốc gia diện tích 9.597.000 km2 vào năm 2005 có khoảng hơn 1,3 tỷ người và thu nhập bình quân đầu người khoảng hơn 1000USD/ năm; từ năm 1978 đến 1997 tốc độ tăng trưởng GDP là 9,4%/ năm
và những năm gần đây là trên 10%, đó là tốc độ tăng trưởng ở mức cao, đáng kinh ngạc; GDP tăng gấp đôi trong vòng 9 năm mà trước đây vào thời đại phát triển cổ điển thế hệ thứ nhất phải mất 50 – 100 năm mới thực hiện được
Trang 40
Tiêu chí phát triển kinh tế của Trung Quốc đưa ra gồm 4 nhóm là hiệu quả, cơ cấu, mức sống và năng lực của nền kinh tế Tiêu chí về hiệu quả được xác định bằng: năng xuất lao động; tiêu hao vật tư cho GDP/ đầu người; dự trữ quốc gia/ GDP; lạm phát (CPI); chỉ số tổng hợp của công nghiệp Tiêu chí về
cơ cấu gồm: công nghệ chế biến cấp cao/ GDP; chi phí gia tăng trong chế tạo/ GDP; công nghệ cao/ GDP; mức chênh lệch giữa các vùng miền ở Trung Quốc Tiêu chí về mức sống: thu nhập GDP đầu người/ năm; sản xuất lương thực đầu người/ năm Tiêu chí về năng lực của nền kinh tế: uy tín trong thương mại quốc tế; đầu tư tài sản cố định theo đầu người; tổng đầu tư/ đầu tư tài sản
cố định các ngành công nghiệp cơ bản; tổng đầu tư/ đầu tư tài sản cố định cho
cơ sở hạ tầng; chiều dài đường giao thông/ người
Qua các tiêu chí phát triển kinh tế của Trung Quốc ta thấy, đầu tư của Trung Quốc là đầu tư theo chiều sâu nhằm tăng sức sản xuất của nền kinh tế xã hội nhờ chuyển mạnh vào cách mạng khoa học – công nghệ để tăng khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế khác, trong đó đặc biệt quan tâm đến đầu tư cơ
sở hạ tầng Để có sự tăng trưởng cao của nền kinh tế, ngoài mức tăng trưởng cao về đầu tư, ta thấy yếu tố chính Trung Quốc quan tâm là tăng năng xuất các yếu tố tổng hợp (TFP) Đây là nét mới của sự phát triển trong xã hội hiện đại
do cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã làm thay đổi cơ bản lực lượng sản xuất, chuyển sang nền kinh tế tri thức và thay đổi phương thức của sự phát triển kinh tế Đồng thời, tiêu chí đưa ra nhằm làm thay đổi cơ cấu kinh tế, làm cho nền kinh tế chuyển dịch giữa các khu vực và các ngành; sự thay đổi cơ cấu được coi như một phương thức trong quá trình tăng sức sản xuất xã hội của nền kinh tế, do đó tăng hiệu quả kinh tế Chẳng hạn, từ 1985 đến 1995 tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp là 4,2%, công nghiệp là 13,1% và dịch vụ là 9,8% Điều đó chứng tỏ rằng sau một thời gian đổi mới, công nghiệp và dịch vụ là yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và cơ cấu kinh tế