1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015

383 857 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Tác giả Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Người hướng dẫn GS.TS. Mai Ngọc Cường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Chính sách xã hội
Thể loại báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 383
Dung lượng 3,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm vấn đề thứ ba: Đặt vấn đề phát triển hệ thống chính sách ASXH trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Toàn cầu hoá làm cho các quốc gia phải đối mặt với vấn đề cầ

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC KX02/06-10

“QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM”

Trang 2

Thành viên tham gia đề tài KX 02.02/06-10

1 GS.TS Mai Ngọc Cường Trường ĐH Kinh tế quốc dân Chủ nhiệm

2 TS Hồ Thị Hải Yến Trường ĐH Kinh tế quốc dân Thư ký

3 GS.TS Đỗ Đức Bình Trường ĐH Kinh tế quốc dân Thành viên

4 CVCC Lương Phan Cừ UB các vấn đề xã hội Quốc hội Thành viên

5 PGS TS Hoàng Văn Hoa Trường ĐH Kinh tế quốc dân Thành viên

6 PGS.TS Nguyễn Văn Định Trường ĐH Kinh tế quốc dân Thành viên

7 PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm Trường ĐH Kinh tế Đà Nẵng Thành viên

8 PGS.TS Đào Thị Phương Liên Trường ĐH Kinh tế quốc dân Thành viên

9 PGS.TS Nguyễn Tiệp Trường ĐH Lao động xã hội Thành viên

10 TS Nguyễn Hữu Dũng Bộ LĐ, TB & XH Thành viên

11 TS Nguyễn Hải Hữu Bộ LĐ, TB & XH Thành viên

12 TS Bùi Văn Hồng TT NCKHBHXH- BHXHVN Thành viên

13 TS Đào Thanh Hương Tổng cục dạy nghề Thành viên

14 BS.Tống Thị Song Hương Bộ Y tế Thành viên

15 PGS.TS Nguyễn Thanh Hà Trường ĐH Kinh tế quốc dân Thành viên

16 PGS.TS Phạm Ngọc Linh Trường ĐH Kinh tế quốc dân Thành viên

17 TS Trần Việt Tiến Trường ĐH Kinh tế quốc dân Thành viên

18 TS Bùi Đức Triệu Trường ĐH Kinh tế quốc dân Thành viên

19 TS Mai Ngọc Anh Trường ĐH Kinh tế quốc dân Thành viên

20 Ths Nguyễn Hữu Đoàn Trường ĐH Kinh tế quốc dân Thành viên

21 Ths Lê Thị Quế TT NCKHBHXH- BHXHVN Thành viên

22 Ths.NCS Trịnh Mai Vân Trường ĐH Kinh tế quốc dân Thành viên

24 HVCH Nguyễn Đình Hưng Trường ĐH Kinh tế quốc dân Thành viên

25 Ths Phạm Việt Hùng Đại học Sôgang, Hàn Quốc Thành viên

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH ix

DANH MỤC BIỂU ĐỒ x

DANH MỤC SƠ ĐỒ xi

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 6

1.1 AN SINH XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG: ĐẶC ĐIỂM , CẤU TRÚC VÀ VAI TRÒ .6

1.1.1 ASXH: khái niệm và đặc điểm 6

1.1.2 Cấu trúc của hệ thống ASXH 19

1.1.3 Nội dung cơ bản của các hợp phần trong hệ thống ASXH 25

1.1.4 Hệ thống ASXH: scần thiết và tầm quan trọng 46

1.2 HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI: PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 54

1.2.1 Phương pháp đánh giá hệ thống ASXH 54

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH 59

1.3 CÁC HỆ THỐNG ASXH TRÊN THẾ GIỚI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 67

1.3.1 Kinh nghiệm xây dựng hệ thống chính sách ASXH của một số nước trên thế giới 67

1.3.2 Bài học kinh nghiệm chung 86

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 88

2.1 KHÁI QUÁT HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIỂN .88

2.1.1.Các chính sách ASXH giai đoạn 1945 - 1954 88

2.1.2 Các chính sách ASXH giai đoạn 1954 –1975 89

Trang 4

2.1.3 Chính sách ASXH giai đoạn 1975 – 1986 91

2.1.4 Tổng quan hệ thống chính sách ASXH giai đoạn từ 1986 đến nay 92

2.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH ASXH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .94

2.2.1 Chính sách bảo hiểm xã hội 94

2.2.2 Về chính sách bảo hiểm y tế 97

2.2.3 Về chính sách Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 107

2.2.4 Về chính sách cứu trợ xã hội 109

2.2.5 Về chính sách ưu đãi người có công 113

2.3 ĐÁNH GIÁ NHỮNG KẾT QUẢ CHỦ YẾU TRONG VIỆC THỰC HIỆN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở NƯỚC TA THỜI KỲ ĐỔI MỚI 115

2.3.1 Kết quả thực hiện chính sách BHXH 115

2.3.2 Kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm y tế ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay 133

2.3.3 Kết quả thực hiện chính sách trợ giúp xã hội ở nước ta 138

2.3.4 Kết quả thực hiện chính sách ưu đãi xã hội 155

2.3.5 Nhận xét chung về thành tựu chủ yếu của hệ thống ASXH và chính sách ASXH 158

2.4 NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ CHỦ YẾU VÀ NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI NƯỚC TA HIỆN NAY 159

2.4.1 Những tồn tại, hạn chế chủ yếu của hệ thống chính sách ASXH 159

2.4.2 Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế 172

CHƯƠNG III: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở NƯỚC TA TỚI NĂM 2015 206

3.1 QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI 206

3.1.1 Những yêu cầu của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt am những năm tới 206

3.1.2 Các quan điểm cơ bản trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở nước ta những năm tới 225

Trang 5

3.2 PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH AN

SINH XÃ HỘI Ở NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2006-2015 230

3.2.1 Phương hướng xây dựng và hoàn thiện mô hình tổng thể của hệ thống chính sách ASXH ở nước ta giai đoạn 2006-2015 230

3.2.2 Phương hướng mở rộng đối tượng tham gia vào hệ thống ASXH đến năm 2015 242

3.2.3 Phương hướng nâng cao mức độ tác động của hệ thống chính sách ASXH đối với các đối tượng tham gia 248

3.2.4 Phương hướng hoàn thiện cơ chế tài chính và cơ chế huy động nguồn lực nhằm nâng cao mức độ bền vững về tài chính cho các chương trình an sinh xã hội.249 3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI .250

3.3.1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về ASXH 250

3.3.2 Hoàn thiện cơ chế tài chính cho ASXH 258

3.3.3 Hoàn thiện tổ chức, quản lý của hệ thống ASXH 263

3.3.4 Nâng cao nhận thức xã hội về ASXH 272

3.3.5 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực thi chính sách ASXH 273

3.3.6 Phối hợp xây dựng, hoàn thiện và thực hiện chính sách ASXH với xây dựng, hoàn thiện và thực hiện các chính sách kinh tế xã hội khác 274

3.3.7 Tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH 278

3.4 LỰA CHỌN CÁC CHƯƠNG TRÌNH ƯU TIÊN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN MÔ HÌNH TỔNG THỂ ASXH Ở NƯỚC TA TỚI NĂM 2015 279

KẾT LUẬN 281

TÀI LIỆU THAM KHẢO 283

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Kí hiệu

ASXH An sinh xã hội

BHNNg Bảo hiểm nghề nghiệp

BHTNa Bảo hiểm tai nạn

BHTNg Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH Bảo hiểm xã hội

BHXHBB Bảo hiểm xã hội bắt buộc

BHXHTN bảo hiểm xã hội tự nguyện

BHYT Bảo hiểm Y tế

BHYTTNCĐ Bảo hiểm Y tế cộng đồng

IBRD Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế

IDA Hiệp hội phát triển quốc tế

IFC Công ty Tài chính quốc tế

KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư

KHKT Khoa học kỹ thuật

NSNN Ngân sách nhà nước

TCXH Trợ cấp xã hội

TGXH Trợ giúp xã hội

TGXHTX Trợ giúp xã hội thường xuyên

ƯĐXH Ưu đãi xã hội

WB Ngân hàng thế giới

XĐGN Xóa đói giảm nghèo

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân biệt Chính sách ASXH và CSXH 16

Bảng 1.2 Sự khác nhau giữa chính sách ASXH và chính sách XĐGN 17

Bảng 2.1: Mức đóng BHYTTN 105

Bảng 2.2 Số đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH thực tế theo loại hình kinh tế 115

Bảng 2 3 Số lao động tham gia BHXH thực tế phân theo loại hình kinh tế 116

Bảng 2.4: Đối tượng hưởng các chế độ BHXH 2001- 2007 117

Bảng 2.5 Số người hưởng và kinh phí chi trả chế độ hưu trí hàng tháng 120

Bảng 2.6 Tình hình đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH Đơn vị : Tỷ đồng 122

Bảng 2.7 Thực trạng cân đối quỹ BHXH 122

Bảng 2.8 Tốc độ tăng (giảm) thu, chi BHXH bắt buộc 123

Bảng 2.9 Tổng hợp các nguồn thu đến tháng 8 năm 2008: 128

Bảng 2.10: Quy mô thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đến năm 2007 129

Bảng 2.11: Đóng góp của thị trường BHNT Việt Nam 131

Bảng 2.12 Tình hình trả tiền bảo hiểm 2006-2007 tỷ đồng 131

Bảng 2.13: Số người tham gia và diện bao phủ BHYT 134

Bảng 2.14 Phân bố người tàn tật theo vùng lãnh thổ : 143

Bảng 2.15 Số lượng đối tượng được hưởng trợ cấp các năm 149

Bảng 2.16 Mức độ bao phủ BHXH khu vực chính thức 160

Bảng 2.17 Mức độ bao phủ chung về BHXH 161

Bảng 2.18: Tỷ lệ bao phủ của BHXH đối với đối tượng hết tuổi lao động 161

Bảng 2.19 Tỷ lệ lao động nữ được hưởng trợ cấp thai sản 162

Bảng 2.20: Tỷ lệ tham gia các loại hình BHXH của khu vực phi chính thức 163

Bảng 2.21: Độ bao phủ hiện tại của BH nhân thọ đối với hộ gia đình khu vực phi chính thức (2002) 164

Bảng 2.22 Mức độ bao phủ BHYT đến năm 2006 165

Bảng 2.23 Mức độ tác động của BHXH bắt buộc 166

Bảng 2.24 Mức đóng BHYT bình quân theo các nhóm đối tượng (đồng) 170

Bảng 2.25 Thu, chi hàng năm của quỹ BHYT (tỷ đồng) 171

Trang 8

Bảng 2.26: Lý do chưa tham gia BHXH và BHYT 172 Bảng 2.27: Quá trình điều chỉnh lương hưu theo tăng lương tối thiểu 173 Bảng 2.28: Quan hệ giữa biến đổi thu nhập với số người tham gia BHYT TN 179 Biểu đồ 2.16: Tỷ lệ thất nghiệp của lao động thành thị và sử dụng thời gian lao

động khu vực nông thôn 2001-2006 182 Bảng 2.29 Kết quả của chính sách hỗ trợ việc làm 183 Bảng 2.30: Mức độ công việc đầy đủ thời gian và công việc bán thời gian theo số

lượng tuần làm việc trong năm 185 Bảng 2.31: Tần suất được nhận thu nhập theo loại hình công việc Đơn vị: % 186 Bảng 2.32: Một số chỉ tiêu về tiết kiệm tích lũy của chủ hộ trong khu vực PCT 187 Bảng 2.33: Số huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% 190 Bảng 2.34 Tình hình khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT tự nguyện 194 Bảng 3.1 Dự báo một số chỉ tiêu kinh tế xã hội đến năm 2015 213 Bảng 3.2 Tỷ lệ ý kiến đề xuất theo các mức hỗ trợ của NSNN về các chế độ

ASXH khu vực PCT 236 Bảng 3.3 Số tiền hỗ trợ của nhà nước theo các hình thức tham gia BHXHTN 237 Bảng 3.4: Dự báo tỷ lệ bao phủ và số người tham gia BHYT theo nhóm đối

tượng 244 Bảng 3.5: Dự báo tỷ lệ bao phủ và số người tham gia BHXH đến 2015 245 Bảng 3.6: Dự báo số lượng lao động tham gia BHTNg và lao động thất nghiệp

giai đoạn 2010-2015 246 Bảng 3.7: Tổng hợp dự báo mức độ bao phủ của hệ thống tổng thể ASXH đến

2015248

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Vòng đời và những rủi ro trong cuộc sống của con người 47 Hình 1.2: Sự phát triển của xã hội và vấn đề ASXH qua các giai đoạn .50 Hình 1.3: Sử dụng nguồn vốn để đối phó với những đột biến về sức khỏe của con người 51

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy hệ thống bhxh việt nam hiện nay 124

Biểu đồ 2.1 Phí bảo hiểm và STBH có hiệu lực theo sản phẩm bảo hiểm tính đến hết năm 20007 130

Biểu đồ 2.2 Tình hình thiệt hại do bão lụt hạn hán từ 2000-2007 139

Biểu đồ 2.3 Số người cao tuổi và tỷ lệ người cao tuổi 141

Biểu đồ 2.4 Cơ cấu độ tuổi của người tàn tật 144

Biểu đồ 2.5 Các dạng tật của người tàn tật ĐV: % 144

Biểu đồ 2.6 Nguyên nhân dẫn đến tàn tật (đơn vị: %) 145

Biểu đồ 2.7 Số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 146

Biểu đồ 2.8 Số lượng đối được trợ cấp xã hội cộng đồng giai đoạn 2001- 2007 149

Biểu đồ 2.9 Tỷ lệ đối tượng được trợ cấp xã hội so đối tượng thuộc diện trợ cấp giai đoạn 2000 – 2007 150

Biều đồ 2.10 Tốc độ tăng đối tượng thụ hưởng và tăng kinh phí hàng năm 151

Biểu đồ 2.11 Hậu quả chiến tranh 155

Biểu đồ 2.12 Quá trình giải quyết bất hợp lý về lương hưu 175

Biểu đồ 2.13 Điều chỉnh lương hưu theo cải cách tiền lương 177

Biểu đồ 2.14: Lý do chưa tham gia BHXH của lao động ngoài khu vực chính thức 178

Biểu đồ 2.15 Thu nhập bình quân 1 nhân khẩu năm 2007 179

Biểu đồ 2.16: Tỷ lệ thất nghiệp của lao động thành thị và sử dụng thời gian lao động khu vực nông thôn 2001-2006 Biểu đồ 2.17: Sự lựa chọn cách sống khi về già của người lao động (%) 193

Biểu đồ 3.1 Số người cao tuổi và tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam giai đoạn 1998 – 2007 và dự báo đến 2024 216

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1: Mô hình hệ thống ASXH của ESCAP 232

Sơ đồ 3.2: Mô hình tổng thể ASXH Quốc gia ở Việt Nam đến năm 2015 240

Sơ đồ 3.3: Mô hình tổng thể ASXH Quốc gia ở Việt Nam sau năm 2015 242

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tình cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Đất nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Sự phát triển kinh tế thị trường đã mang lại cho đất nước những biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến

bộ, thu nhập bình quân của người lao động ngày càng cao, đời sống kinh tế và xã hội của nhân dân có sự cải thiện rõ rệt

Song cũng do tác động của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều vấn đề xã hội mới nảy sinh và ngày càng phức tạp Tình trạng phân hoá giàu nghèo có

xu hướng gia tăng đe doạ đời sống của hàng chục triệu người, sự bất bình đẳng trong thu nhập ngày càng rõ ràng tạo ra khoảng cách thu nhập, mầm mống cho những xung đột xã hội Hơn 70% dân số sống trong khu vực nông thôn vẫn còn trong tình trạng kém phát triển, thu nhập thấp, đời sống khó khăn Tác động của quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế dẫn đền hàng triệu lao động di chuyển từ nông thôn ra thành thị tìm kiếm việc làm phải chấp nhận rủi ro xã hội về điều kiện sống Đói nghèo được thu hẹp nhưng tái nghèo vẫn đang là nguy cơ đối với hàng chục triệu người Một bộ phận người lao động đang đứng trước tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, đời sống gặp khó khăn, bị đe doạ trước tình trạng mất an toàn, bệnh tật, ốm đau Tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng; sự mất ổn định trong cuộc sống gia đình, phong tục, tập quán, những truyền thống, bản sắc văn hoá có nguy cơ bị phá vỡ trong bối cảnh kinh tế xã hội mới Hậu quả của tình trạng xã hội trên đây đang làm cản trở sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ngăn trở mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương giải quyết vấn đề

xã hội nói chung, vấn đề ASXH (ASXH) nói riêng Nhiều chính sách về bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) cứu trợ xã hội (CTXH), ưu đãi xã hội (ƯĐXH) đã được nhà nước sửa đổi, bổ sung trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi Tuy nhiên, hệ thống chính sách ASXH cũng đang trong quá trình hình thành, nhiều vấn đề đòi hỏi phải được nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện Xuất phát từ đó, nghiên cứu cơ sở khoa học của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở nước ta những năm tới là có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận lẫn thực tiễn

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

Thuật ngữ ASXH có nguồn gốc từ các nước La tin, được dịch và sử dụng bởi nhiều ngôn ngữ khác nhau, như tiếng Anh gọi là “Social security”, tiếng Pháp gọi là

“Securité”, Trung Quốc gọi là “xã hội bảo chướng” ở nước ta, trong những năm trước đây gọi là bảo đảm xã hội, an toàn xã hội, an ninh xã hội, ASXH

Trang 13

Vấn đề ASXH đã được nhiều nhà kinh tế học ở các nước trên thế giới nghiên cứu một cách cơ bản Trong các viện nghiên cứu, các trường đại học ở các nước, vấn

đề ASXH đã được xuất bản thành nhiều giáo trình, nhiều sách chuyên khảo, nhiều bài báo công bố trên các tạp chí chuyên ngành Ở nhiều nước trên thế giới đã xây dựng những tổ chức nhằm thực hiện chính sách ASXH, hoạt động với các mô hình, chương trình và nguyên tắc khác nhau

Mặc dù không phải là vấn đề mới đối với các nước, nhất là các nước phát triển Nhưng đến nay, vấn đề ASXH vẫn đang thu hút sự tranh luận của các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý ở các nước và các tổ chức quốc tế Có thể nêu khái quát các công trình nghiên cứu gần đây có liên quan đến vấn đề này trên các nhóm vấn đề sau đây:

Nhóm vấn đề thứ nhất: Các nghiên cứu trên thế giới không ngừng bổ sung, hoàn thiện phạm trù ASXH và chính sách ASXH Sự bổ sung và hoàn thiện này

được thể hiện trên các khía cạnh như, tiếp tục làm rõ nội hàm phạm trù ASXH; tổ chức

thực hiện và thiết kế các mô hình, nguyên tắc hoạt động của ASXH, trao đổi về cơ chế

tài chính cho ASXH trong bối cảnh mới; đặt chính sách ASXH trong tổng thể phát triển của nền kinh- xã hội, trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng dân

số, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, giới tính, gia đình, tệ nạn xã hội,

Nhóm vấn đề thứ hai: Đổi mới chính sách ASXH theo hướng đẩy mạnh tư nhân hoá Xuất phát từ chỗ, trong hệ thống hiện tại của ASXH, sự hoàn trả được duy

trì nhờ vào sự tăng lên của tiền lương và số người lao động Khoản thu lại mà những người nghỉ hưu trong tương lai nhận được từ ASXH thường thấp hơn cái mà họ có thể kiếm được từ đóng góp của lương hưu Chính vì vậy, nhiều công trình nghiên cứu hiện nay chủ trương cần đổi mới hệ thống và chính sách ASXH theo hướng đẩy mạnh tư nhân hoá hệ thống này, đảm bảo cho hệ thống ASXH được tồn tại và tăng trưởng bền vững Điều này được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đề xuất

Nhóm vấn đề thứ ba: Đặt vấn đề phát triển hệ thống chính sách ASXH trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

Toàn cầu hoá làm cho các quốc gia phải đối mặt với vấn đề cần giảm thuế và di chuyển lao động Thuế là nguồn thu chính của chính phủ để chi trả cho các hoạt động của mình Việc giảm thuế trong điều kiện hội nhập đang đặt ra những thách thức cho nguồn thu chính phủ để chi trả ASXH Sự di chuyển lao động không những đặt ra cho các chính phủ những vấn đề cho đảm bảo cuộc sống của người lao động nhập cư trong tương lai, đồng thời phải tìm nguồn đảm bảo ASXH cho những người lao động nhập

cư chưa có được việc làm Xuất phát từ đó, nhiều nghiên cứu về chính sách ASXH hiện nay đang tập trung hướng vào giải quyết vấn đề ASXH trong điều kiện hội nhập kinh tế và toàn cầu hoá như: nhập cư lao động quốc tề và ASXH phân tích ỡ những nước chuyển đổi, tính khả thi về tài chính cho ASXH trong điều kiện toàn cầu hóa,…

Trang 14

Ở nước ta, những năm đầu của quá trình đổi mới, có một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề chính sách ASXH, trong đó có đề tài cấp nhà nước: “Luận cứ khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện các chính sách bảo đảm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, mã số KX04.05, do viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội, thuộc Bộ Lao động-TBXH chủ trì Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đề cập đến một cách khá hệ thống vấn đề bảo đảm xã hội, và thực chất, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu vấn đề chính sách ASXH ở nước ta

Trong những năm gần đây, nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về những vấn

đề có liên quan đến chính sách ASXH Có thể khái quát thành một số hướng sau đây:

Trước hết là những vấn đề chung về ASXH và chính sách ASXH Liên quan đến

vấn đề này là những công trình, bài viết về vấn đề bình đẳng xã hội, vấn đề xoá đói đói nghèo, vấn đề tiền lương, thu nhập đảm bảo đời sống của con người

Thứ hai, các công trình nghiên cứu có liên quan đến chính sách ASXH như vấn

đề BHXH, BHYT, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội,

Thứ ba, một số vấn đề ASXH mới được đặt ra trong bối cảnh chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế được đề cập đến như: Khuôn khổ xây dựng tổng thể quốc gia về ASXH ở Việt Nam của Patricia Justino Vấn đề giới và ASXH như Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ CNH, HĐH ,…

Các nghiên cứu trên tuy đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng

hệ thống chính sách ASXH ở nước ta những năm qua, nhưng vẫn mới là những nghiên cứu bước đầu; nhiều vấn đề về quan niệm, thực chất, nội dung còn chưa có sự thống nhất; tính hệ thống chưa cao; đặc biệt chưa cập nhật được những xu hướng phát triển mới của hệ thống chính sách ASXH trong bối cảnh đất nước chuyển mạnh sang nền kinh

tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

3 Mục đích nghiên cứu

- Trên cơ sở tổng quan về những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và trong nước, đặc biệt là những kết quả nghiên cứu mới, cập nhật; Đồng thời xuất phát từ nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và khu vực trong việc xây dựng hệ thống chính sách ASXH, đề tài làm rõ những vấn đề cơ bản về ASXH và hệ thống chính sách ASXH trong nền kinh tế thị trường

- Đánh giá thực trạng của hệ thống ASXH và việc thực hiện chính sách ASXH

ở Việt Nam trong thời gian qua, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, những mặt mạnh, mặt yếu, những thuận lợi và khó khăn, những thách thức đặt ra và những nguyên nhân của tồn tại và yếu kém của hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam hiện nay

Trang 15

- Phân tích xu hướng đổi mới hệ thống ASXH và hệ thống chính sách ASXH của thế giới và những chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về việc xây dựng hệ thống ASXH và chính sách ASXH trong những năm tới để làm rõ các yêu cầu đặt ra đối với các vấn đề ASXH Việt Nam và đề xuất các giải pháp xây dựng hệ thống tổng thể quốc gia về ASXH ở Việt Nam trong giai đoạn 2006-2015

- Đề xuất với các cơ quan quản lý nhà nước lựa chọn các mục tiêu ưu tiên về chương trình ASXH ứng dụng vào trong công tác đổi mới hệ thống ASXH và hoạch định, thực thi hệ thống chính sách ASXH ở nước ta

4 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng

Là đề tài thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, đề tài áp dụng các phương pháp truyền thống, như sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, công cụ trừu tượng hoá trong nghiên cứu, kết hợp lý luận với thực tiễn, logic với lịch sử để làm sáng tỏ vấn đề

Kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình, tài liệu đã có, chọn lọc kết quả các công trình đã công bố trong nước có liên quan đến chủ đề nghiên cứu Đồng thời, đề tài tổ chức dịch các tài liệu từ các nước Anh, Cộng hoà liên bang Đức, Trung quốc, Hàn Quốc để nghiên cứu hệ thống ASXH và chính sách ASXH ở các nước trên thế giới, từ đó phân tích, so sánh, rút ra những kinh nghiệm về tổ chức quản lý thực hiện hệ thống ASXH và chính sách ASXH khuyến nghị cho Việt Nam

Để có cơ sở khoa học cho việc đánh giá thực tiễn hệ thống ASXH và chính sách ASXH ở Việt Nam, đề tài đã tổ chức điều tra xã hội học và phỏng vấn những vấn

đề có liên quan tại các Tỉnh, Thành phố Hà Nội, Hoà Bình, Quảng Ninh, Nghệ An, Đà Nẵng, Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh và Sóc Trăng Đề tài đã điều tra xã hội học 858 người thuộc 8 nhóm đối tượng là chuyên viên, công nhân (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài), cán bộ xã phường, cán bộ hợp tác xã, nông dân, người dân nông thôn di cư ra thành phố, lao động phi nông nghiệp và người dân tộc thiểu số; phỏng vấn sâu 264 cán bộ trong ngành BHXH và BHYT tại 6 tỉnh là thành phố Hồ Chí Minh, Sóc Trăng, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Thành phố Hà Nội và Hòa Bình Kết quả điều tra, phỏng vấn đã được xử lý làm cơ sở cho đánh giá và khuyến nghị của đề tài (Có báo cáo kết quả điều tra phỏng vấn đã xử lý)

Đồng thời, đề tài đã tổ chức một đoàn khảo sát tại Hàn Quốc nghiên cứu kinh nghiệm về tổ chức hệ thống ASXH và các chính sách ASXH ở nước này Những kinh nghiệm của Hàn quốc được đề tài tổng kết nhằm gợi ý cho việc nghiên cứu hoàn thiện chính sách ASXH ở nước ta

Đề tài tổ chức một cuộc hội thảo khoa học về chủ đề ASXH ở Việt Nam

2006-2015: thực trạng và khuyến nghị với sự tham gia của các cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản

Trang 16

lý, các nhà doanh nghiệp, các nhà luật pháp và người lao động và thụ hưởng chính sách ASXH để trao đổi những vấn đề thực tiễn Việt Nam, kinh nghiệm các nước và khuyến nghị về xây dựng hệ thống ASXH và chính sách ASXH ở nước ta Kết quả hội thảo được biên tập thành Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đồng thời, đề tài đã công bố kết quả nghiên cứu trên số đặc san tháng 10 năm 2008 của Tạp chí Kinh tế và phát triển với 15 bài viết và một

số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học khác

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH với ý nghĩa như là một chủ trương chính sách chung của Đảng và Nhà nước về phát triển hệ thống chính sách ASXH ở nước ta

Về phạm vi nghiên cứu: đề tài tiếp cận phạm trù ASXH theo cách cách hiểu phổ biến của quốc tế hiện nay, chủ yếu theo cách tiếp cận của Tổ chức lao động thế giới (ILO), nhìn nhận ASXH như là một hệ thống phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro đối với con người

Về lý thuyết, đề tài chú ý đến tất cả các bộ phận cấu thành lên hệ thống ASXH, nhưng trong phân tích đánh giá thực trạng và khuyến nghị hệ thống ASXH ở Việt Nam, đề tài chủ yếu nghiên cứu những bộ phận về BHXH, BHYT, hỗ trợ tích cực, TGXH và ƯĐXH

Về hệ thống chính sách, đề tài đặc biệt chú ý tới hệ thống luật pháp, chính sách tài chính, năng lực thể chế quản lý thực hiện chương trình và vai trò của nhà nước trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH

hiện nay Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống

chính sách ASXH ở nước ta tới năm 2015

Trang 17

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHÍNH SÁCH AN SINH

XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 AN SINH XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TRONG NỀN

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG: ĐẶC ĐIỂM , CẤU TRÚC VÀ VAI TRÒ

1.1.1 ASXH: khái niệm và đặc điểm

1.1.1.1 Khái niệm về an sinh xã hội

ASXH được coi là vấn đề cốt lõi của sự phát triển xã hội Tuy nhiên, mỗi quốc gia, trong từng giai doạn lịch sử cụ thể có sự lựa chọn khác nhau đối với sự phát triển

hệ thống ASXH Có thể khái quát một số cách tiếp cận phạm trù và mô hình chủ yếu

về ASXH trên thế giới như sau:

- Theo Otto Von Bismark (1815 - 1898), ASXH được thực hiện dựa trên trụ cột

là BHXH gắn với yếu tố lao động Chế độ BHXH được áp dụng bắt buộc với một mức lương cụ thể, mức đóng góp và mức trả BHXH được tính căn cứ vào tiền lương và được quản lý bởi các đối tác xã hội

- Theo L Berevidge, nhà kinh tế và xã hội học Anh (1879-1963) thì ASXH là sự đảm bảo về việc làm khi người ta còn sức làm việc và đảm bảo một lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa Những người theo trường phái này quan niệm, hệ thống ASXH hoạt động dựa trên ba nguyên tắc: Bao phủ toàn diện (mọi người lần đầu được hưởng ASXH); mức chi trả tương đương và quản lý tập trung, thống nhất

- Trong Đạo luật về ASXH của Mỹ, ASXH được hiểu là sự đảm bảo của xã hội, nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị của cá nhân, đồng thời tạo lập cho con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tột độ

- Trong Hiến chương Đại Tây Dương, ASXH được hiểu là sự đảm bảo thực hiện quyền con người trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát triển chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, làm việc và nghỉ ngơi, có nhà ở; được chăm sóc y tế và đảm bảo thu nhập để có thể thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, thai sản, tuổi già,

Trang 18

- Theo Ngân hàng thế giới (WB): ASXH được xây dựng dựa trên mô hình quản

lý rủi ro xã hội Triết lý của mô hình này là mỗi cá nhân, mọi gia đình, mọi cộng đồng đều phải chịu những rủi ro nhất định do thiên tai hay những biến động trong đời sống kinh tế, xã hội gây ra Chính những rủi ro này là nguyên nhân gây ra nghèo khổ Người nghèo là những người chịu nhiều rủi ro nhất so với các thành phần xã hội khác

và ít có điều kiện tiếp cận các công cụ và phương tiện cho phép họ đối mặt với rủi ro

Vì vậy, cần xây dựng cơ chế ASXH dành cho người nghèo để hạn chế tình trạng bấp bênh của họ, tạo cho họ các phương tiện để thoát nghèo Theo quan điểm mới dựa trên khái niệm quản lý rủi ro, hệ thống ASXH được hiểu là “toàn bộ các chính sách Nhà nước nhằm giúp đỡ các cá nhân, các gia đình và các nhóm xã hội quản lý các rủi ro của mình và cung cấp hỗ trợ cho những người nghèo khổ nhất”

Theo WB, có ba chiến lược quản lý rủi ro, đó là: Phòng ngừa rủi ro; giảm nhẹ rủi ro và khắc phục rủi ro Từ quan điểm này, WB cho rằng ASXH gồm hai vấn đề chính đó là mạng lưới BHXH và vấn đề tư nhân hóa WB ủng hộ việc xây dựng mô hình bảo đảm xã hội được tư nhân hóa dựa trên vai trò của Quỹ hưu trí Ưu điểm của

mô hình này là mang tính tổng thể và toàn diện, chính sách ASXH được xây dựng trong mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế, giáo dục, y tế mang tính vĩ mô Tuy nhiên, do gắn với chức năng chính của WB là xoá đói giảm nghèo, cho nên mô hình này mới chỉ tập trung vào việc giải quyết nạn nghèo đói mà chưa chú trọng đến vai trò thúc đẩy sự thịnh vượng, sự liên hệ của ASXH với các yếu tố kinh tế - xã hội khác

- ILO đã đưa ra một trong những khái niệm được sử dụng khá rộng rãi về ASXH Khái niệm này là kết quả của một giai đoạn lịch sử lâu dài và dựa trên cơ sở

của một số công ước của ILO từ năm 1946 “ASXH là một sự bảo vệ mà xã hội cung

cấp cho các thanh viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi

để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng hoặc tử vong ASXH cung cấp chăm sóc y tế và trợ giúp cho các gia đình có nạn nhân là trẻ em” (ILO1984)

Theo ILO, ASXH bao gồm các cấu phần: (i) chăm sóc y tế, (ii) bù đắp việc giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, mất sức lao động, tử tuất, thất nghiệp (tức bao gồm những chế độ thuộc hệ thống BHXH), và (iii) một số chế độ được quy định trong một số công ước của ILO liên quan tới chăm sóc

Trang 19

trẻ em (liên quan tới lao động) Như vậy, theo ILO thì ASXH là phạm trù rộng hơn BHXH (bao gồm BHXH, chứ không phải chỉ có BHXH)

- Ở các nước châu Âu có ba mô hình ASXH:

+ Mô hình tự do của các nước Anglo-sacxon: Theo mô hình này, mức chi trả được thực hiện kèm theo các điều kiện gắn với thu nhập do vậy thường không cao Mô hình này có ưu điểm là kích thích người lao động tham gia thị trường lao động và tham gia các loại hình bảo hiểm tư nhân khác (do mức chi trả thấp nên muốn có nhiều thu nhập khi về hưu thì người lao động phải tham gia lao động hoặc tham gia loại bảo hiểm khác) Tuy nhiên, theo mô hình này do sự vận hành của ASXH dựa trên vai trò thị trường, cho nên tỷ

lệ nghèo đói của các nước này khá cao và mức độ đảm bảo trước các biến động của thị trường lao động thấp

+ Mô hình dân chủ - xã hội của các nước Bắc Âu: Theo mô hình này tất cả mọi người dân đều được hưởng ASXH nhằm mục tiêu công bằng xã hội, nâng cao mức sống, tránh phân hóa giàu nghèo Mô hình dân chủ - xã hội chủ yếu dựa vào vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp ASXH với hai hình thức chính là BHXH và trợ cấp gia đình

Mô hình này có ưu điểm là phạm vi rộng, thể hiện được tính chất công bằng của ASXH Tuy nhiên, mô hình này không kích thích nhu cầu tham gia quan hệ lao động, mặt khác do quá đề cao vai trò của Nhà nước cho nên nguồn ngân sách của Nhà nước đảm bảo cho ASXH là rất lớn

+ Mô hình phường hội (CHLB Đức): Theo mô hình này, hệ thống ASXH được chia theo từng ngành, từng lĩnh vực Ưu điểm của mô hình này là rất nhạy cảm đối với mọi sự biến động về việc làm của toàn bộ nền kinh tế nói chúng và từng ngành nói riêng Nhưng mô hình này lại có điểm hạn chế là không tạo ra được sự công bằng giữa những người lao động khác nhau, trong ngành nghề khác nhau

- Phần lớn các quốc gia ở khu vực châu Á và đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, hiện vẫn chưa xác định rõ nét mô hình ASXH cho quốc gia mình Tất cả các nước trong khu vực này hiện đang dành ưu tiên cho việc phát triển kinh tế, chưa chú ý đày

đủ đến các vấn đề CSXH CSXH chỉ được giới hạn ở lĩnh vực giáo dục, y tế, cơ chế ASXH chỉ dừng lại ở mức độ tối thiểu

Cùng với cách tiếp cận về ASXH như trên, chúng ta còn thường gặp trên sách báo trong và ngoài nước các cách tiếp cận khác về phạm trù có liên quan Có thể nêu lên một

số cách tiếp cận sau đây:

Trang 20

Thứ nhất,“Trợ giúp xã hội” – Social Assistance. Nhật bản, trợ giúp xã hội (TGXH) được dùng gần với phạm trù ASXH Sự khác nhau cơ bản giữa ASXH và TGXH

là TGXH sử dụng phần lớn nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước Trong hoàn cảnh của Việt Nam, thuật ngữ TGXH được dùng để chỉ những trợ giúp xã hội từ nguồn ngân sách nhưng không bao gồm các đối tượng của bảo trợ xã hội và cứu trợ xã hội

Theo định nghĩa của ILO thì TGXH là những chế độ do NSNN bảo đảm để duy trì thu nhập của những người không có nguồn thu nhập từ quỹ bảo hiểm cũng như nâng mức thu nhập của những người đã có thu nhập từ quỹ bảo hiểm nhưng tổng thu nhập cá nhân vẫn chưa đạt mức tối thiểu đảm bảo nhu cầu cơ bản của con người Hiện nay, chế độ này chưa được áp dụng ở Việt Nam một cách rộng rãi cho toàn thể các thành viên của xã hội mà chỉ áp dụng đối với một số đối tượng đặc biệt của xã hội như những đối tượng chính sách người có công, và một số đối tượng hay nhóm xã hội khác Như vậy, đối tượng của chính sách sẽ là những đối tượng trong và ngoài độ tuổi lao động, có những thiệt thòi hoặc mất mát cần được xã hội bù đắp hoặc

trợ giúp

Tóm lại, Trợ giúp xã hội là những chính sách hỗ trợ cho những nhóm đặc biệt

trong xã hội từ nguồn ngân sách để đảm bảo mức sống tối thiểu cho họ Tuy nhiên, do mục đích và đối tượng của các chính sách là hoàn toàn khác nhau cho nên ở Việt Nam vẫn nên giữ nguyên hịên trạng như hịên nay, tức là thành 2 hay 3 chính sách khác nhau cho 3 đối tượng: người có công; các đối tượng yếu thế; đối tượng tệ nạn xã hội

Thứ hai, khái niệm “Phúc lợi xã hội” - Social welfare. Phúc lợi xã hội (PLXH) trong một số trường hợp là khái niệm để chỉ những chính sách mang tính xã hội dùng tiền từ NSNN để phục vụ miễn phí cho các thành viên trong cộng đồng, xã hội Ví dụ các khoản chi từ NSNN trực tiếp cho người dân về giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao,… Tại một số nước, PLXH lại để chỉ khoản trợ cấp xã hội thường xuyên cho những người thất nghiệp, người già, tàn tật không có khả năng tự kiếm sống Chính sách này phổ biến ở một số nước Bắc Âu (nên những nước này còn được gọi là Quốc gia Phúc lợi – welfare state) Trước kia, ở Hoa kỳ, Anh và một số nước phát triển cũng

áp dụng chính sách này Nhưng sau đó người ta thấy việc duy trì chính sách này không hiệu quả: nhà nước sẽ phải chi những khoản tiền rất lớn, còn người dân thì lại trở nên

“lười” hơn, không có động lực tự kiếm sống Chính vì vậy mà từ cuối những năm 80,

Trang 21

đầu 90 của thế kỷ trước, các nước này đã chuyển sang chính sách “welfare to work” nghĩa là Nhà nước chỉ trợ cấp hoàn toàn trong một thời gian ngắn, thường là dưới 6 tháng Trong thời gian đó, người được trợ cấp buộc phải đi học một nghề gì đó Nhà nước sẽ hỗ trợ việc học nghề này và giúp tìm việc Sau đó, người này bắt buộc phải đi làm công việc mà Nhà nước giới thiệu, nếu không đi thì cũng không còn được hưởng trợ cấp nữa Vì thế, đối với một nền kinh tế còn nghèo như Việt Nam, không nên áp dụng chính sách PLXH một cách rộng rãi

Thứ ba, khái niệm “Cứu trợ xã hội” – Social Relief Đối tượng của cứu trợ xã

hội là những người gặp rủi ro vì những nguyên nhân khách quan như thiên tai, dịch bệnh Về khái niệm này, định nghĩa và phạm vi, đối tượng áp dụng ở Việt Nam tương đối thống nhất với quốc tế

Thứ tư, khái niệm “Lưới an toàn xã hội” - Social Safety Nets Khái niệm này

để chỉ các chính sách mang tính an toàn – ngắn hạn, áp dụng trong những hoàn cảnh

và thời điểm nhất định chứ không mang tính an sinh – dài hạn, nghĩa là không áp dụng thường xuyên và lâu dài Để dễ hiểu, người ta thường hay ví lưới ASXH như tấm lưới bảo hiểm sử dụng trong tiết mục nhào lộn và đu bay tại các rạp xiếc Người biểu diễn khi đu bay thì đã có dây bảo hiểm buộc vào người nhưng khi nếu sự cố xảy ra thì dù

có rơi xuống thì vẫn có tấm lưới bảo hiểm bên dưới Tấm lưới này giúp cho người biểu diễn không rơi xuống đất, nhưng cũng không cho phép người bị rơi vào lưới bám mãi vào lưới mà phải bật lên trở lại Đây chính là ý tưởng thiết kế của lưới an toàn xã hội,

nó chỉ đóng vai trò bảo vệ cuối cùng, đảm bảo cho thành viên trong xã hội không bị rơi xuống dưới mức mà xã hội đó cho là đã không an toàn, nhưng chỉ mang tính chất tạm thời chứ không thể bám vào lưới lâu dài Người được bảo vệ phải được trả trở lại với những chế độ mang tính dài hạn và ổn định

Lưới an toàn xã hội ở một số nước ASEAN áp dụng gồm 4 cấu phần cơ bản sau: (i) đảm bảo an ninh lương thực tránh để xảy ra đói, (ii) đảm bảo giáo dục không bị ngắt quãng do ảnh hưởng về tài chính của khủng hoảng, (iii) đảm bảo những yêu cầu tối thiểu về chăm sóc y tế, (iv) chính sách tạo việc làm và thu nhập thay thế tạm thời cho những người bị mất việc do khủng hoảng Lưới an toàn xã hội chỉ là giải pháp tình thế, áp dụng trong thời kỳ xảy ra khủng hoảng, chủ yếu dựa vào nguồn NSNN và mang tính chất thụ động, đối phó

Trang 22

Việt Nam đã từng có những chính sách mang tính chất của Lưới an toàn xã hội, ví

dụ như chính sách hỗ trợ giảm biên chế theo quyết định 176/HĐBT và gấn đây nhất là theo Nghị định 41/CP và 110/CP đối với những lao động ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước bị dôi dư khi doanh nghiệp đóng cửa, tổ chức lại hay chuyển đổi hình thức sở hữu

Thứ năm, khái niệm “Bảo vệ xã hội” - Social protection Theo ILO thì bảo vệ

xã hội (BVXH) là khái niệm rộng, bao gồm hệ thống BHXH, những nhu cầu cơ bản của ASXH về giáo dục tiểu học, chỗ ăn ở (tối thiểu), nước sinh hoạt, dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe ban đầu Hiện nay, theo ILO, khái niệm về BVXH còn bao gồm cả nội dung về an toàn lao động

Theo ADB thì BVXH là một hệ thống chính sách và chương trình nhằm tạo lập

một hệ thống thị trường lao động có kết quả và có hiệu quả, bảo vệ các cá nhân chống lại các rủi ro trong thu nhập, và cung cấp sự bảo vệ ở mức sàn cho những cá nhân trước những rủi ro của thị trường

Theo ADB thì BVXH bao gồm 5 thành phần: (i) các chính sách về thị trường lao động, (ii) bảo hiểm xã hội (bảo hiểm thất nghiệp, hưu trí, tai nạn nghề nghiệp, ), (iii) bảo hiểm nông nghiệp và trợ giá, (iv) các chương trình trợ giúp và phúc lợi xã hội (social assistance and social welfare) bao gồm các trợ giúp đối với các nhóm yếm thế trong xã hội như trẻ em mồ côi, trẻ em lang thang, người già cô đơn, người tàn tật, cứu trợ thường xuyên và cứu trợ đột xuất (những đối tượng của chính sách bảo trợ xã hội hiện nay của Việt Nam), (v) các quỹ xã hội và các chương trình tạo việc làm và thu nhập tạm thời cho các đối tượng xã hội yếu thế trong xã hội

Điều đáng chú ý là trong định nghĩa của ILO, của ADB và của một số quốc gia thì thành phần đầu tiên của BVXH liên quan tới chính sách thị trường lao động còn bao gồm cả tiêu chuẩn lao động như tiền lương, giờ làm việc và một số tiêu chuẩn lao động cơ bản khác Riêng đối với ADB, trong BVXH có một cấu phần quan trọng là bảo hiểm mùa màng và trợ giá Đây chính là cấu phần nhằm bảo hiểm thu nhập cho nông dân và doanh nghiệp vừa và nhỏ, một bộ phận rất lớn của dân số tại các nước

đang phát triển Như vậy, BVXH là một hệ thống CSXH nhằm bảo vệ mọi thành viên

trong xã hội trước những biến động, rủi ro ảnh hưởng tới thu nhập thường xuyên của người lao động (tức BHXH), bảo vệ người lao động trong quan hệ lao động (tiêu chuẩn lao động cơ bản), bảo vệ các nhóm yếu thế trong xã hội (tức bảo trợ xã hội), bảo

Trang 23

vệ các đối tượng xã hội chịu tác động đột biến về mặt xã hội (tức cứu trợ xã hội), bảo vệ các đối tượng của xã hội trước nguy cơ rơi vào tình trạng dưới mức nghèo khổ (lưới an toàn xã hội) và những trợ giúp đối với những nhóm đặc biệt trong xã hội (trợ giúp xã hội) Như vậy, đối tượng của BVXH bao gồm toàn bộ dân số nên có thể nói “Bảo vệ xã hội” chính là tổng hợp hoàn chỉnh nhất của các chính sách và chương trình xã hội

Ở nước ta phạm trù ASXH còn khá mới mẻ và cũng có nhiều cách hiểu khác

nhau Khái niệm này lần đầu tiên được đề cập đến trong Văn kiện đại hội lần thứ IX, Đảng cộng sản Việt Nam Khi nói về giải quyết những vấn đề xã hội, Văn kiện đề cập:

“Khẩn trương mở rộng hệ thống BHXH và ASXH Sớm xây dựng và thực hiện chính

sách bảo hiểm đối với người lao động thất nghiệp” (100, tr 651) Đại hội Đảng lần thứ

X lại tiếp tục làm rõ ”Xây dựng hệ thống ASXH đa dạng; phát triển mạnh hệ thống BHXH, BHTNg, BHYT, bảo hộ lao động” (101 tr.33)

Như vậy, ASXH và BHXH trong các văn kiện Đại hội Đảng như là những phạm trù khác nhau Chính vì thế, việc có những ý kiến khác nhau về vấn đề này cũng

là dễ hiểu

Một số tác giả đặt vấn đề ASXH theo một ý nghĩa rộng rãi hơn quan niệm của ILO Chẳng hạn, trong cuốn người cao tuổi và ASXH, tác giả Bùi Thế Cường viết:

„Hệ thống ASXH mở rộng và phát triển theo tiến trình lịch sử, nó phụ thuộc vào động

thái các nhu cầu xã hội thiết yếu của con người và vào biến đổi của cơ cấu xã hội Ngày nay, người ta thường kể ra một số những vấn đề chủ chốt của hệ thống ASXH như dân số

và gia đình, đào tạo nghề nghiệp và công ăn việc làm, thu nhập và các cơ cấu bảo đảm tiêu dùng của dân cư, giáo dục và chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm và trợ giúp xã hội, môi trường“ (19 Tr.122)

Tại Hội thảo của đề tài KX02.02/06-10, tác giả Hoàng Chí Bảo viết „

ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền

đề và động lực cho sự phát triển con người và xã hội ASXH là những đảm bảo

xã hội cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách

ASXH bao hàm trong nó cả những đảm bảo về an ninh để con người sống, làm việc, thực hiện được nhu cầu, lợi ích chính đáng, hợp lý của mình

Trang 24

trong quá trình phát triển; con người nhận được từ xã hội những bảo đảm về cuộc sống, những bảo vệ trước những rủi ro, bất trắc, những tình huống bất thường đe doạ hoặc phá huỷ trạng thái bình yên, quyền sống và sự thụ hưởng lợi ích của họ“ Với cách hiểu như thế, tác giả cho rằng, các vấn đề của ASXH

có thể được hình dung với 4 phương diện hợp thành trong cơ cấu nội dung của

nó là: Xoá đói giảm nghèo; Bảo hiểm xã hội; Trợ cấp xã hội, ưu đãi xã hội; và phúc lợi xã hội (24)

Bên cạnh đó trong một số các bài viết khác, mặc dù chưa đưa ra khái niệm cụ thể, nhưng có xu hướng thiên về thừa nhận định nghĩa ASXH của ILO để phân tích ASXH ở Việt Nam.Trong bài bàn thêm về thuật ngữ ASXH, tác giả Mạc Văn Tiến

viết „Theo tiếng Anh, ASXH thường được gọi là Social Securty và khi dịch ra tiếng

Việt, ngoài ASXH thì thuật ngữ này còn được dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội,

an ninh xã hội, an toàn xã hội, với những ý nghĩa không hoàn toàn tương đồng nhau Theo nghĩa chung nhất Social Securty là sự đảm bảo thực hiện các quyền con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ pháp luật; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già Theo nghĩa này thì tầm bao của Social Securty rất lớn và vì vậy khi dịch ra tiếng Việt có nhiều nghĩa như trên cũng là điều dễ hiểu Theo nghĩa hẹp Social Securty là sự đảm bảo thu nhập và một số những điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, người nghèo đói và những người bị thiên tai địch họa“ ( 92- tr.25, 26)

Từ đó tác giả cho rằng, “về cấu trúc, trên giác độ khái quát nhất, ASXH gồm

những bộ phận cơ bản là: BHXH, CTXH, Trợ cấp gia đình; các chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội khác bằng nguồn vốn công cộng…”( 92- tr.26)

Như vậy, cách tiếp cận về ASXH của tác giả Mạc Văn Tiến phù hợp với cách tiếp cận của ILO Cách tiếp cận này cũng được một số tác giả khác ở nước ta ủng hộ như Nguyễn Hải Hữu (52), Phạm Trọng Nghĩa (63), Kim Văn Chính (24)

Tổng hợp các ý kiến trên về ASXH, chúng tôi cho rằng, ASXH là khái niệm mở,

có thể tiếp cận phạm trù này dưới hai giác độ là theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp

Trang 25

Theo nghĩa rộng, ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người

được an bình, an ninh, an toàn và an khang trong xã hội Điều đó có nghĩa là họ được sống trong hòa bình; được bảo vệ về thân thể và nhân cách; được bình đẳng trước pháp luật; được hòa nhập vào cộng đồng; được có công ăn, việc làm, có nơi

cư trú, có quyền đi lại, học tập để cho họ phát triển đầy đủ nhân cách và tài năng của một con người trong xã hội, được hưởng phúc lợi do xã hội mang lại; được đảm bảo thu nhập để thỏa mãn nhu cầu sinh sống thiết yếu khi mất sức lao động,

bị già yếu hoặc bị rủi ro, tai nạn trước sự biến động do kinh tế, tự nhiên, xã hội mang lại, hoặc cho những người nghèo, người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em

mồ côi, những người yếu thế

Theo nghĩa hẹp, ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu

khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già, cô đơn, trẻ

em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch họa,…Cách tiếp cận theo nghĩa hẹp này phù hợp với cách tiếp cận của ILO

Trong nghiên cứu này chúng tôi ủng hộ cách tiếp cận ASXH theo nghĩa hẹp Theo

đó, ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia

đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa…

1.1.1.2 Phân biệt chính sách ASXH với CSXH và chính sách xóa đói giảm nghèo

Để làm rõ đặc điểm của chính sách ASXH, cần phân biệt chính sách ASXH với một

số chính sách trong lĩnh vực xã hội khác, mà trước hết là CSXH và chính sách XĐGN

Thứ nhất, phân biệt chính sách ASXH với CSXH Mặc dù chính sách ASXH

có mối quan hệ với CSXH, nhưng chúng không phải là một CSXH là một loại chính

sách được thể chế hoá bằng pháp luật của Nhà nước hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyết những vấn đề xã hội đặt ra trong một thời gian và không gian nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liên quan đến đời sống của con người theo nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nước (22) Mục tiêu của CSXH theo công bố Copenhagen là

Trang 26

hướng vào xóa đói giảm nghèo, mở rộng việc làm và hòa nhập xã hội nhóm yếu thế Đối tượng của CSXH là người nghèo thành thị và nông thôn, phụ nữ, trẻ em, thanh niên, người tàn tật, người dân tộc thiểu số Các CSXH cơ bản như chính sách dân số, chính sách gia đình, chính sách chăm sóc sức khỏe, chính sách giáo dục, chính sách việc làm và thu nhập, chính sách nhà ở, chính sách môi trường, chính sách giải quyết hậu quả thiên tai, chính sách ASXH,…(6; 22)

Khác với CSXH, chính sách ASXH là ASXH là hệ thống quan điểm, chủ trương,

phương hướng và biện pháp đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho

cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc

tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa Đây là hệ thống các

chính sách nhằm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro thông qua các hoạt động BHXH, CTXH và TGXH Từ đó, có thể làm rõ sự khác nhau giữa CSXH với chính

sách ASXH trên những khía cạnh sau:

- Về mục tiêu, ASXH là một cơ cấu đảm bảo thu nhập và một số những điều kiện thiết yếu khác cho các thành viên trong xã hội nhằm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro, nhất là khi họ bị tổn thương, bị suy giảm thu nhập, suy giảm mức sống Như vậy, mục tiêu của chính sách ASXH chỉ là một phần của mục tiêu CSXH

Mục tiêu CSXH là hướng vào xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm và đảm bảo nhóm đối tượng chính sách được hòa nhập vào đời sống cộng đồng, không bị tách biệt khỏi đời sống cộng đồng về kinh tế, về chính trị, về văn hóa và xã hội Còn mục tiêu của chính sách ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho mọi thành viên trong xã hội

Về đối tượng của CSXH và chính sách ASXH cũng có sự khác nhau Đối tượng

của CSXH là người nghèo thành thị và nông thôn, phụ nữ, trẻ em, thanh niên, người tàn tật và người dân tộc thiểu số Trong khi đó, đối tượng của chính sách ASXH là rộng hơn nhiều, vì nó hướng vào đảm bảo an toàn thu nhập cho mọi thành viên trong

xã hội để đảm bảo cuộc sống bình thường cho họ khi bị rủi ro Vì thế, đối tượng của chính sách ASXH là mọi người dân, kể cả người trong độ tuổi lao động, người chưa đến tuổi lao động và người hết tuổi lao động, trong đó bao gồm các đối tượng của

Trang 27

CSXH là người nghèo thành thị và nông thôn, phụ nữ, trẻ em, thanh niên, người tàn tật

và người dân tộc thiểu số

Về các bộ phận cấu thành chính sách ASXH và CSXH cũng có sự khác nhau Vì

mục tiêu của CSXH là xóa đói giảm nghèo, việc làm và hòa nhập xã hội nhóm yếu thế nên các bộ phận cấu thành hệ thống CSXH bao gồm các chính sách cơ bản như

dân số, gia đình, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, việc làm, nhà ở, môi trường, thiên tai, bảo đảm xã hội Trong khi đó, mục tiêu chủ yếu của chính sách ASXH là cơ cấu đảm bảo thu nhập nên các chính sách ASXH chủ yếu là BHXH, CTXH và TGXH

Bảng 1.1 Phân biệt Chính sách ASXH và CSXH

Xóa đói giảm nghèo Mở rộng việc làm Hòa nhập xã hội

Đối tượng

chính sách

Mọi thành viên trong xã hội Người nghèo thành thị và nông thôn;

phụ nữ; trẻ em; thanh niên; người tàn tật; người dân tộc thiểu số

Thứ hai, phân biệt chính sách ASXH với chính sách xóa đói giảm nghèo

Chính sách xóa đói giảm nghèo là hệ thống các các quan điểm, mục tiêu, phương hướng và biện pháp của nhà nước giúp cho cá nhân và hộ gia đình (thành thị và nông thôn) thoát khỏi ngưỡng nghèo

Để thực hiện được mục tiêu đó, Nhà nước sử dụng một loạt các chính sách như tiếp cận với đất đai,chính sách tạo việc làm trực tiếp, chính sách vay vốn, chính sách trợ giá, trợ cước, chính sách hỗ trợ lương thực đối với người nghèo

Hiện nay, ở một số nước đang phát triển nhiều luận giải coi chính sách XĐGN

là một bộ phận cấu thành của chính sách ASXH Do cách tiếp cận về ASXH ở các nước đang phát triển tương đối rộng nên dẫn đến các chính sách ASXH ở các nước đang phát triển chủ yếu được đưa ra phân tích trong nhóm chính sách chống nghèo đói toàn cầu ví dụ như chính sách đảm bảo tiếp cận tốt hơn đối với đất đai tài sản (IRDP ở Ấn

Trang 28

Độ), các chính sách tạo việc làm trực tiếp (cơ chế đảm bảo việc làm ở Maharashtra, Ấn Độ) và các chương trình việc làm và lương thực (ở Bangladesh) Kết quả là những chính sách này trong một chừng mực nào đó đã vượt quá những chức năng của ASXH, làm giảm vai trò của nó, và trở thành là “lưới ASXH” và như vậy là không thích hợp

Nhìn chung, chính sách ASXH và chính sách XĐGN là hai hệ thống chính sách trong hệ thống các CSXH Nó có sự khác nhau về mục tiêu, đối tượng và các công cụ thực hiện chính sách Sự khác nhau này có thể được khái quát qua bảng sau (Bảng 1.2)

Bảng 1.2 Sự khác nhau giữa chính sách ASXH và chính sách XĐGN

Giúp cho cá nhân và các hộ gia đình thoát nghèo

Đối tượng

chính sách

Mọi thành viên trong xã hội Người nghèo thành thị và nông

thôn Các chính

và cũng có thể trở thành một phần của chiến lược lớn về giảm nghèo kết hợp với các

cơ chế tạo việc làm, đầu tư công cho phát triển công trình cơ sở hạ tầng, các chính sách giáo dục quốc gia XĐGN thành công, tạo cơ hội cho người lao động có cơ hội tham gia vào các chương trình ASXH

Tuy nhiên, vai trò cốt lõi của ASXH không chỉ là giúp cho các cá nhân và hộ gia đình thoát khỏi ngưỡng nghèo mà vai trò của nó là bảo vệ họ khỏi những rủi ro về kinh tế Thoát nghèo cũng có thể là một kết quả do được tiếp cận tốt hơn với phúc lợi

xã hội, nhưng nó không phải là vai trò chính của chính sách bảo trợ xã hội Trên thực

tế, nhiều chế độ trong các chương trình ASXH của các nước đang phát triển không chỉ hướng đến đối tượng là người rất nghèo.(45)

Trang 29

1.1.1.3 Đặc điểm đối tượng tham gia chương trình ASXH

Nhìn chung ở tất cả các nước đều có hai loại đối tượng tham gia vào các chương trình ASXH

Thứ nhất là các đối tượng tham gia vào các chính sách ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng Đối tượng này là người lao động gặp rủi ro và khó khăn do những

nguyên nhân là ốm đau, thai sản, mất sức lao động, tuổi già phải đối mặt với những khó khăn do bị “mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập” Những người lao động này phải đóng góp một khoản tiền cho quỹ Bảo hiểm trong suốt thời gian làm việc với một tỷ lệ thu nhập nhất định Việc tham gia BHXH đảm bảo cho họ duy trì mức sống trong trường hợp gặp những vấn đề nêu trên

Đối tượng tham gia vào các chương trình ASXH theo nguyên tắc đóng hưởng ở các nước đang phát triển có sự khác biệt với các nước phát triển Do trình độ phát triển cao hơn nên hầu hết lao động ở các nước phát triển làm việc trong khu vực chính thức, thường là khu vực làm công ăn lương, cũng vì thế mà hầu hết người lao động trong các nước này tham gia vào các chương trình ASXH theo nguyên tắc đóng hưởng Trong khi đó, đối với các nước đang phát triển phần lớn dân cư lao động tự do và làm việc trong nông nghiệp phân tán, nhỏ lẻ, trong các khu kinh tế phi kết cấu không tính đếm được, hay gọi chung là lao động làm việc ngoài khu vực chính thức Thông thường đối với khu vực này, người lao động có mức thu nhập, tiền công thấp, làm cho việc tham gia của họ vào các chương trình ASXH theo nguyên tắc đóng hưởng khó khăn hơn.Vì thế, trọng tâm của các chính sách ASXH không chỉ hạn chế trong đối tượng người lao động trong khu vực chính thức mà phải hướng vào lao động ngoài khu vực chính thức Mức độ người lao động ngoài khu vực chính thức tham gia vào các chương trình ASXH thể hiện sự thành công của chính sách ASXH

Ngoài ra, do người lao động khu vực này làm việc phân tán, không có hợp đồng lao động, việc tổ chức quản lý để người lao động ngoài khu vực chính thức ở các nước đang phát triển tham gia vào các chương trình ASXH cũng phức tạp hơn

Điều này đòi hỏi chính sách ASXH ở các nước đang phát triển cũng phải có nét đặc thù so với các nước phát triển, phải có các chương trình phù hợp với khả năng thu nhập để thu hút được người lao động ngoài khu vực chính thức tham gia vào các chương trình ASXH

Trang 30

Thứ hai là, những đối tượng tham gia vào chương trình ASXH theo nguyên tắc trợ giúp Theo ILO, tại các nước phát triển, ASXH cung cấp chăm sóc y tế và trợ giúp cho

các gia đình có nạn nhân là trẻ em Đối với các nước đang phát triển đối tượng trợ giúp rộng rãi hơn Các nhóm này bao gồm người di cư ở thành thị, nhóm dân tộc thiểu số, những người dân nghèo đói liên miên, đối tượng rất dễ bị tổn thương (người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi), những người bị thiệt hại trước những biến đổi đột xuất của tự nhiên và xã hội Trong những nhóm này, người nghèo nhất thường là đối tượng của các chương trình XĐGN Nhưng những chương trình XĐGN mới chỉ hướng đến các đối tượng là người sống dưới ngưỡng nghèo về lương thực, thực phẩm Nhiều gia đình và cá nhân thuộc nhóm dễ bị tổn thương chưa được tham gia những chương trình XĐGN, cũng như bất kỳ hình thức ASXH chính thức nào vì nhìn chung họ đều không có hợp đồng lao động Việc mở rộng sự tiếp cận của họ với hệ thống ASXH sẽ nảy sinh vấn đề phân phối nguồn lực

Đối với những nước vừa trải qua chiến tranh như Việt Nam, chính sách ASXH còn bao gồm cả những đối tượng người có công với cách mạng, những gia đình liệt sỹ, thương binh và thân nhân của họ đã hy sinh xương máu cho sự tồn vinh của đất nước

Về thực chất đây là hình thức trợ giúp xã hội cho các đối tượng nạn nhân chiến tranh, nhưng đó là đối tượng đặc biệt, nên tên gọi có thể khác nhau như “chính sách đối với người có công”, “chính sách đền ơn đáp nghĩa”, “chính sách ưu đãi xã hội”

1.1.2 Cấu trúc của hệ thống ASXH

Có nhiều cách tiếp cận để phân tích cấu trúc của hệ thống ASXH, tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, phương pháp tiếp cận nghiên cứu, nội dung, yêu cầu nghiên cứu Mặt khác, việc phân tích cấu trúc hệ thống ASXH cũng chỉ mang tính tương đối, vì các hợp phần của hệ thống ASXH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau, thậm chí đan xen lẫn nhau Tuy vậy, người ta vẫn có thể phân chia hệ thống ASXH theo các dạng cấu trúc khác nhau như sau:

Thứ nhất, cấu trúc hệ thống ASXH theo chức năng cơ bản Một hệ thống

ASXH hiện đại phải thực hiện được chức năng cơ bản là quản lý rủi ro (risk management) Chức năng này thể hiện cụ thể trên ba nhiệm vụ chủ yếu là phòng ngừa rủi ro, hạn chế rủi ro và khắc phục rủi ro

Trang 31

Từ đó có thể chia hệ thống ASXH thành ba hợp phần cơ bản, mỗi hợp phần đảm nhận một phần chức năng hoặc một nhiệm vụ cơ bản; tuy nhiên sự phân chia này cũng chỉ là tương đối, vì trong hợp phần có sự đan xen chức năng và nhiệm vụ của hệ thống ASXH, song căn cứ vào tính chất nổi trội của từng hợp phần mà đặt tên cho phù hợp Theo cách lập luận như vậy hệ thống ASXH sẽ có các hợp phần chính sau đây:

- Các chính sách, chương trình mang tính chất phòng ngừa rủi ro Đây được

coi là tầng trên của hệ thống ASXH, vai trò của tầng này là hướng tới can thiệp và bảo

vệ toàn bộ dân cư, giúp cho dân cư có được việc làm, thu nhập để có được năng lực vật chất cần thiết nhằm đối phó một cách tốt nhất rủi ro, hạn chế rủi ro và tự bảo vệ mình trước rủi ro Nội dung quan trọng của hợp phần này là các chính sách, chương trình ở tầm vĩ mô và trung mô cho cả nền kinh tế và cho cả toàn xã hội như chính sách

và chương trình thị trường lao động; chương trình phòng ngừa tai nạn thương tích; phòng chống HIV/AIDS, phòng ngừa thảm hoạ thiên tai đối với con người Để phòng ngừa tốt cần có các nghiên cứu dự báo, thông tin dự báo và kế hoạch đối phó dài hạn

- Các chính sách, chương trình mang tính chất giảm thiểu rủi ro Đây được coi

là tầng thứ hai của hệ thống ASXH Tầng này có vị trí đặc biệt quan trọng khi rủi ro xảy ra sẽ hướng tới bao phủ toàn bộ dân cư vì trong cuộc đời không ai biết trước được rủi ro khi nào và ai sẽ không gặp rủi ro Trên thực tế mức độ bao phủ của nó hẹp hơn tầng thứ nhất và hướng trực tiếp vào những thành viên xã hội gặp rủi ro và gián tiếp chịu hậu quả của rủi ro như người thất nghiệp, người thiếu việc làm người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người nghèo… Các chính sách và giải pháp của Nhà nước mang tính chất trợ cấp, trợ giúp “vô điều kiện” nhiều hơn là “có điều kiện” và tính phúc lợi nhiều hơn tính thương mại Bên cạnh hệ thống chính sách chương trình ở tầm vĩ mô, Nhà nước cũng tạo môi trường khuyến khích các hoạt động

ở tầm trung và vi mô Tầng này còn giữ vai trò tạo sức bật cho các đối tượng tái hoà nhập cộng đồng thông qua các chương trình và chính sách cụ thể

- Các chính sách, chương trình mang tính chất khắc phục rủi ro Đây được coi

là tầng cuối cùng của hệ thống ASXH nhằm bảo vệ an toàn cho các thành viên xã hội khi họ gặp phải rủi ro mà bản thân họ không tự khắc phục được, để họ không phải rơi vào cảnh bần cùng Tuy vậy, tầng này được coi là “phao cứu sinh” tạm thời, nó có chức năng tạo “sức bật” cho các đối tượng tham gia vào các tầng trên và hoà nhập vào

Trang 32

cộng đồng cho một bộ phận đối tượng xã hội không còn cách nào khác sẽ phải dựa vào

“phao cứu sinh” ấy để tồn tại Thông thường các chính sách và chương trình của tầng này ở tầm vĩ mô mang tính chất ngắn hạn hơn là dài hạn Hệ thống này có tác động rất tốt đến cộng đồng dân cư trong những trường hợp gặp phải tình huống biến động xấu của nền kinh tế- xã hội, thiên tai trên diện rộng

Sự phân loại theo ba tầng chỉ là tương đối theo tính chất nổi trội của các chính sách, chương trình ASXH Trong thực tế, các chính sách, chương trình ASXH hiện nay đã mang tính chất tổng hợp, đan xen cả việc phòng ngừa rủi ro, hạn chế rủi ro và khắc phục hậu quả rủi ro

Thứ hai, cấu trúc của hệ thống ASXH theo sự phát triển của hệ thống chính sách và đối tượng khách hàng của chính sách Cấu trúc của hệ thống ASXH được

hình thành và phát triển dựa trên nhu cầu thực tế của từng quốc gia nhằm giải quyết các mâu thuẫn xã hội, bất bình đẳng xã hội và đảm bảo quyền sống còn, phát triển, tham gia và phẩm giá của mọi thành viên trong xã hội khi có các biến cố rủi ro xảy ra Tuỳ theo mức độ mâu thuẫn xã hội, tính chất mức độ rủi ro mà các chính sách, chương trình được hình thành sớm hay muộn Ngoài ra, điều này còn phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế- xã hội, phong tục tập quán của từng quốc gia trong những bối cảnh lịch sử nhất định

Cấu trúc của hệ thống ASXH còn phụ thuộc vào nhu cầu xã hội, chính là nhu cầu của các thành viên trong xã hội (nhu cầu của khách hàng), nhu cầu này rất đa dạng

và tùy thuộc vào số lượng khách hàng lớn hay nhỏ Vì vậy, dựa vào việc phân nhóm đối tượng tham gia của các chính sách, chương trình cụ thể mà phân chia ra các trụ cột (hợp phần) của hệ thống ASXH và phát triển hệ thống chính sách cho phù hợp Theo lập luận này, các hợp phần của hệ thống ASXH gồm có:1) Chính sách, chương trình thị trường lao động; 2)BHXH bao gồm chế độ bảo hiểm dài hạn (hưu trí) và các chế

độ bảo hiểm ngắn hạn; 3) BHYT; 4).Trợ giúp đặc biệt (chính sách người có công); 5) TCXH và 6) Trợ giúp người nghèo…

Thứ ba, cấu trúc của hệ thống ASXH theo hình thức cung cấp dịch vụ Nếu

phân chia cấu trúc của hệ thống ASXH theo hình thức, tính chất cung cấp dịch vụ xã hội thì hệ thống ASXH có hai hợp phần chính, đó là:

Trang 33

1) Dịch vụ xã hội do Nhà nước cung cấp (hay còn gọi là dịch vụ Nhà nước), hình thức dịch vụ này thường là dịch vụ công và dịch vụ mang tính chất phi lợi nhuận, nhân đạo từ thiện

2) Dịch vụ mang tính chất thương mại ví dụ như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm thân thể, bảo hiểm học sinh (mang tính chất dịch vụ thương mại)

Chẳng hạn ở Việt Nam có Trung tâm chăm sóc người già, cơ sở BTXH chăm sóc trẻ em tàn tật, trẻ em mồ côi của khu vực tư nhân hầu hết mang tính chất phi lợi nhuận Nhưng ở một số nước có Trung tâm chăm sóc trẻ em ban ngày, chăm sóc người già mang tính chất thương mại lớn hơn tính chất phi lợi nhuận Việc duy trì và phát triển cả hai loại hình cung cấp dịch vụ này của hệ thống ASXH sẽ giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa vai trò quản lý điều tiết của Nhà nước với vai trò tự điều tiết của kinh tế thị trường, và cũng thoả mãn tốt hơn nhu cầu của “khách hàng” là các thành viên xã hội cần các dịch vụ đó Sự phát triển theo hướng thương mại hoá một số dịch

vụ sẽ tạo điều kiện để nâng cao chất lượng dịch vụ, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu khách hàng có điều kiện Nhà nước chỉ tập trung vào nhóm đối tượng xã hội khó khăn không có điều kiện tham gia vào các dịch vụ có tính chất thương mại, như vậy sẽ giảm gánh nặng của NSNN và phù hợp với xã hội hóa đối với các CSXH

Thứ tư, cấu trúc hệ thống ASXH theo thời gian và không gian

Theo thời gian thì có thể phân chia ASXH thành các chính sách chương trình

dài hạn, trung hạn và ngắn hạn

+ Các chính sách chương trình dài hạn phải đáp ứng được các yêu cầu về phòng ngừa rủi ro và khắc phục rủi ro, như chính sách BHXH, BHYT, BHTNg…Tuy nhiên không phải chính sách, chương trình nào cũng làm được điều đó Điều này còn phụ thuộc vào thể chế và năng lực của từng quốc gia

+ Các chính sách, chương trình trung hạn thường hướng vào vấn đề giải quyết trước mặt do vậy nó tập trung vào giải quyết vấn đề giảm thiểu rủi ro, giảm tính dễ bị tổn thương Ví dụ ở nước ta, các chính sách hỗ trợ phát triển các vùng Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh đặc biệt khó khăn vùng núi phía Bắc; các chương trình giảm nghèo là các chính sách, chương trình trung hạn

Trang 34

+ Các chính sách, chương trình ngắn hạn thường tập trung vào khắc phục hậu quả mang tính chất cấp bách, mang tính tình thế và thường diễn ra trong giai đoạn ngắn, ví dụ ở nước ta, đó là các chính sách, chương trình giải quyết vấn đề dôi dư lao động trong quá trình sắp xếp lại Doanh nghiệp Nhà nước và các cơ quan hành chính sự nghiệp của những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20; giải quyết hậu quả thiếu đói do lũ lụt, thiên tai, dịch bệnh

Theo không gian có vấn đề mang tính chất toàn cầu (đại dịch HIV/AIDS

nghèo đói; thất nghiệp; người già; người tàn tật,…); vấn đề mang tính chất khu vực hoặc vùng của từng quốc gia (thu nhập thấp, chăm sóc sức khỏe, giáo dục của miền núi và đồng bào dân tộc; thảm hoạ của hạn hán, lũ lụt; vấn đề dân nhập cư đô thị, nghèo đói ở các vùng đặc biệt khó khăn…) Tuỳ theo tính chất của vấn đề diễn ra trong phạm vi nào và khả năng của từng quốc gia để thiết lập hệ thống chính sách, chương trình ứng phó cho phù hợp

Thứ năm, cấu trúc ASXH theo hệ thống quản lý Việc thiết lập hệ thống

ASXH thường gắn với thể chế quản lý của từng quốc gia Xuất phát từ thực tiễn quản

lý hệ thống CSXH nói chung, chính sách ASXH nói riêng, có thể chia hệ thống ASXH theo hệ thống quản lý Nguyên tắc chia càng nhỏ thì quản lý càng tốt Tuy nhiên, mức nhỏ đến đâu tuỳ thuộc vào cơ sở lý luận và thực tiễn để hình thành hợp phần đó, bảo đảm tính độc lập tương đối về mặt lý luận nhận thức; về đối tượng bao phủ, về cơ chế tài chính; về thể tổ chức Tuy vậy, cũng có những vấn đề đan xen về mặt thể chế tổ chức, phối hợp quản lý và tổ chức thực hiện Theo cách phân chia này, mỗi một hợp phần của hệ thống ASXH do một đơn vị Nhà nước đảm nhận, các đơn vị Nhà nước chịu trách nhiệm chính có thể từ cấp vụ, tổng cục, bộ Như vậy, một bộ có thể quản lý

về mặt Nhà nước một hợp phần hoặc vài hợp phần, tuỳ theo chức năng nhiệm vụ được Chính phủ giao Cũng có thể một hợp phần có cơ quan chịu trách nhiệm chính về mặt quản lý Nhà nước, nhưng chỉ đạo thực hiện có nhiều bộ ngành tham gia theo chức năng nhiệm vụ được Chính phủ giao Xu hướng chung của sự phát triển trong lĩnh vực phân công lao động xã hội theo tính chất chuyên ngành thì phân công chuyên ngành càng sâu, tính chất phối hợp quản lý tổ chức thực hiện càng cao Do vậy việc phối hợp quản lý tổ chức thực hiện từng hợp phần của hệ thống ASXH là một xu hướng tất yếu Vấn đề là cần làm rõ trách nhiệm của cơ quan chịu trách nhiệm chính về mặt quản lý

Trang 35

Nhà nước giúp chính phủ điều phối các hoạt động và các cơ quan phối hợp chỉ đạo thực hiện Ví dụ như hợp phần TGXH nó liên quan đến rất nhiều cơ quan của chính phủ (Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo và một số

bộ ngành liên quan khác)

Thứ sáu, cấu trúc hệ thống ASXH theo hệ thống pháp luật Đây là dạng cấu

trúc theo tính chất và cấp độ của pháp luật, chính sách, trong đó cấu trúc theo luật là quan trọng nhất Mỗi một luật, hoặc vài luật hoặc một phần bộ luật được xếp thành một hợp phần của hệ thống ASXH Các luật này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về thể chế tài chính, thể chế tổ chức Ở nước ta, Luật BHXH thành hợp phần BHXH, trong đó có thể bao gồm cả BHTNg Luật BHYT hình thành hợp phần BHYT Một phần của bộ Luật lao động có thể hình thành hợp phần thị trường lao động Luật người

có công hình thành hợp phần trợ giúp đặc biệt Pháp lệnh người cao tuổi, Pháp lệnh về người tàn tật và các chính sách, chương trình khác liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đối tượng bị rủi ro do thiên tai hình thành hợp phần TGXH Trong trường hợp chưa hình thành luật thì một hệ thống chính sách, chương trình cũng có thể hình thành một hợp phần riêng như các chính sách chương trình giảm nghèo, BHYT và chăm sóc sức khỏe cộng đồng (trước đây) Với cách phân chia như thế, mỗi hợp phần của hệ thống ASXH cần hình thành một luật cơ bản, phần còn lại chưa đủ điều kiện để hình thành được văn bản luật thì dưới dạng các chính sách và các chương trình Điều hành

hệ thống ASXH theo luật là một xu hướng tất yếu phù hợp với quá trình cải cách hành chính và cải cách thể chế của đất nước, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế, phù hợp với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta

Thứ bảy, cấu trúc theo cơ chế đảm bảo tài chính Theo cơ chế tài chính, hệ

thống ASXH được cấu thành từ hai bộ phận

Bộ phận chính sách ASXH được hình thành theo nguyên tắc Đóng- Hưởng

Theo nguyên tắc này, ASXH bao gồm các chương trình bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm hưu trí (BHHT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTNg), bảo hiểm nghề nghiệp (BHNNg), bảo hiểm tai nạn (BHTNa), bảo hiểm thân thể (BHTT)

Bộ phận chính sách ASXH được hình thành theo nguyên tắc trợ giúp như cứu

trợ đột xuất, trợ giúp thường xuyên cho người già cô đơn, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người tàn tật, người bị bệnh tâm thần mãn tính, sống độc thân không nơi nương tự hoặc gia đình thuộc loại đói nghèo; người có công với đất nước

Trang 36

1.1.3 Nội dung cơ bản của các hợp phần trong hệ thống ASXH

Trên cơ sở phân tích các quan điểm khác nhau trong cấu trúc hệ thống ASXH như trên, trong đề tài này, chúng tôi tiếp cận hệ thống ASXH là hệ thống gồm có 1) BHXH; 2) BHYT; 3) BHTNg và 4) TGXH

1.1.3.1 Bảo hiểm xã hội

BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi do làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người lao động và người lao động từ hoạt động nghề nghiệp của họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động Vì vậy, thông qua BHXH nhà nước và xã hội có các giải pháp để bù đắp hoặc thay thế khoản thu nhập cho người lao động

BHXH ra đời, tồn tại và phát triển là một tất yếu khách quan cùng với sự phát triển của xã hội loài người, bởi vậy nó mang trong mình bản chất kinh tế và bản chất xã hội

Thứ nhất, bản chất của BHXH Bản chất của BHXH thể hiện ở chỗ những

người tham gia cùng đóng góp một khoản tiền trích trong thu nhập (khoản đóng góp này không ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất- kinh doanh ,, đây là khoản tiền trích trong thu nhập của người lao động sau khi đã chi tiêu cho các nhu cầu tối thiểu và các nhu cầu cần thiết để lập một quỹ dự trữ

BHXH được đặc trưng bằng sự huy động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH nhằm góp phần ổn định cuộc sống của người tham gia và gia đình họ khi gặp rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng thu nhập từ lao động Mục đích của việc hình thành quỹ này để trợ cấp cho những người khi gặp rủi ro tránh được những hụt hẫng về thu nhập Bản chất kinh tế được thể hiện ở chỗ, người lao động chỉ đóng góp một phần nhỏ trong thu nhập của mình, nhưng do nhiều nguồn hình thành khác ( sự đóng góp của người sử dụng lao động, sự hỗ trợ của Nhà nước ), nên quỹ BHXH có khoản tiền lớn đảm bảo đủ tài chính chi trả cho họ khi phát sinh nhu cầu thanh toán Quỹ hoạt động theo nguyên tắc có một phần chia sẻ rủi ro “lấy số đông

bù số ít người rủi ro”, khoản tiền tạm thời nhàn rỗi được sử dụng cho hoạt động đầu tư sinh lời Giữa thời gian và khoản đóng góp của người tham gia BHXH và thời gian, khoản chi trả trợ cấp BHXH cho người hưởng chế độ là không đồng nhất, nhờ đó đã tạo cho quỹ BHXH có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi

Trang 37

Thứ hai, mục tiêu của BHXH BHXH là một hoạt động không vì mục đích lợi

nhuận Mục tiêu của bất kỳ hệ thống BHXH nào cũng là mục tiêu xã hội Điều này được thể hiện thông qua việc chi trả chế độ BHXH Người tham gia BHXH sẽ được hưởng khoản trợ cấp khi họ bị mất khả năng hoặc giảm khả năng thu nhập từ lao động Các khoản trợ cấp đó được xây dựng từ sự đóng góp của chính người lao động đó và người lao động Tuy nhiên, đóng góp của người lao động có thể không đủ chi trả các chế

độ nên Nhà nước phải trợ giúp Chính khoản trợ cấp đó giúp cho họ vượt qua khó khăn,

ổn định cuộc sống và có thể tiếp tục tham gia lao động sản xuất Trên góc độ vĩ mô, BHXH góp phần ổn định an ninh chính trị, an toàn xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo

Nhìn chung, hoạt động BHXH không vì mục tiêu lợi nhuận mà hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp phần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội Điều này giải thích tại sao BHXH được coi là một chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia

Thứ ba, nội dung BHXH: Trong công ước 102 (năm 1952) về quy phạm tối thiểu

về an toàn xã hội, hội nghị toàn thể của Tổ chức lao động quốc tế quy định 9 chế độ BHXH Các chế độ đó là: 1) Chăm sóc y tế; 2) Phụ cấp ốm đau; 3) Trợ cấp thất nghiệp; 4) Trợ cấp tuổi già; 5) Trợ cấp tai nạn lao động; 6) Trợ cấp gia đình; 7) Trợ cấp thai sản; 8) Trợ cấp tàn phế; và 9) Trợ cấp mất người nuôi dưỡng Tuy nhiên không bắt buộc các quốc gia phải thực hiện cả 9 chế độ đó mà chỉ khuyến khích các nước thành viên thực hiện ít nhất 3 chế độ (đặc biệt lưu ý chế độ 1,3, 4, 5, 8, 9)

Cơ sở để xác định thực thi mỗi chế độ BHXH là căn cứ vào trình độ phát triển kinh

tế xã hội của mỗi quốc gia Điều đó cần phải được xem xét trên các nội dung sau đây:

- Đối tượng tham gia: Về nguyên tắc mọi người lao động có nhu cầu đều được

tham gia BHXH Tuy nhiên, hầu hết ở các nước đều thực hiện cách tiếp cận từ từ để

mở rộng đối tượng trong một hệ thống BHXH và ban đầu rất nhiều người không thuộc đối tượng Khi xác định đối tượng của BHXH, cần thiết xác định phạm vi và đối tượng tham gia và những đối tượng bị loại trừ khỏi hệ thống Việc xác định này phải dựa trên

cơ sở điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước, trình độ quản lý của cơ quan BHXH và các điều kiện khác như truyền thống, đất đai, những hệ thống sở hữu đất đai, mùa vụ, thiên tai, giá cả, hỗ trợ khuyến mãi, cải thiện dịch vụ y tế… Do đó đối với lao động trong nông nghiệp và nông thôn, trên thế giới không có mô hình thống nhất,

có phạm vi quốc tế rộng khắp Ngay cả khi chúng ta nghiên cứu chính sách BHXH đối

Trang 38

với người lao động trong khu vực nông, ngư và tiểu thủ công nghiệp cũng cần thiết xác định nhóm người lao động nào được tham gia, nhóm người lao động nào phải loại trừ khỏi hệ thống BHXH

- Về mức đóng: tham gia BHXH bao gồm nhiều loại hình lao động có các hình thức

thu nhập khác nhau, nên phải xác định mức đóng BHXH sao cho nhiều đối tượng có thể tham gia, đảm bảo cho việc hạch toán cân đối thu chi BHXH được thống nhất, dễ dàng

- Về chế độ: đối với mỗi loại hình BHXH, nên chọn chế độ nào thực hiện để

mức đóng góp thoả mãn chi các chế độ và nhu cầu của số người lao động

- Xác định mối quan hệ giữa mức đóng và mức hưởng: đây là một vấn đề rất

quan trọng đảm bảo việc thực hiện BHXH đạt kết quả tốt

- Quỹ BHXH phải được đầu tư tăng trưởng Đây là nội dung rất quan trọng để quỹ

BHXH được bảo toàn tăng trưởng, hoạt động đầu tư của quỹ BHXH không phải chịu thuế

Thứ tư, nguyên tắc hoạt động Nguyên tắc hoạt động của BHXH là những quy

định nhằm đảm bảo cho các hoạt động BHXH diễn ra bình thường, đạt được mục tiêu mong muốn của nó Đó là những quan điểm, những định hướng và những quy định về BHXH để đề ra các phương thức hoạt động của cả hệ thống BHXH nhằm đạt được mục tiêu Nói cách khác, nguyên tắc BHXH là những quy tắc của các hoạt động BHXH, từ việc hoạch định chính sách đến xây dựng các chế độ BHXH phải hướng tới

để đạt được những mục tiêu đã đề ra BHXH phải được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc sau

1 Nguyên tắc đóng- hưởng BHXH được xây dựng trên cơ sở người lao động

với tư cách là người tham gia đóng và hưởng BHXH Đây là nguyên tắc cơ bản nhất, phân biệt BHXH với các chính sách ASXH khác Nó áp dụng với mọi đối tượng, kể cả đối với khu vực chính thức và ngoài khu vực chính thức

Về mức đóng Do tham gia BHXH bao gồm nhiều loại hình lao động có các hình

thức thu nhập khác nhau, nên việc quy định mức đóng BHXH cũng có sự khác nhau

Đối với BHXH bắt buộc, mức đóng bảo hiểm thường được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động

Đối với đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, việc quy định mức đóng cần có sự cân nhắc Đối với đối tượng này, do đặc điểm của chủ thể tham gia BHXH vừa là chủ tư liệu sản xuất (chủ yếu là ruộng đất, công cụ lao động, nhà xưởng gắn liền với nơi ở,

Trang 39

vốn tự có là chính và một phần quan hệ tín dụng…), vừa là chủ sức lao động (là người vừa tham gia quản lý, vừa tham gia lao động) Họ không tham gia trực tiếp vào thị trường sức lao động (nếu họ không di chuyển nghề), nhưng sản phẩm hàng hoá làm ra lại tham gia vào thị trường và chấp nhận cạnh tranh quyết liệt Họ tự hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh, đồng thời tự quyết định phân phối, quyết định đầu tư và chi tiêu ngân sách trong thu chi gia đình Bởi vậy, quan hệ của họ với BHXH là quan hệ

“lỏng” hoặc quan hệ “mềm”, không mang tính bắt buộc như quan hệ lao động trong

Bộ luật Lao động điều chỉnh Bởi vậy, họ tham gia BHXH mang tính “tự nguyện”, trên

cơ sở suy nghĩ về “tính lợi ích” khi tham gia BHXH Do đó, mọi chính sách BHXH có tính áp đặt, cưỡng chế và bất lợi (cả trước mắt và lâu dài) đều dẫn đến khả năng thực thi thấp hoặc thất bại

Về mức hưởng BHXH Do không bao hàm chính sách trợ cấp ưu đãi nên mức

hưởng BHXH phải được xây dựng trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có sự chia sẻ giữa những người tham gia BHXH Nguyên tắc này đảm bảo quyền bình đẳng cho người tham gia BHXH, đồng thời cũng là nguyên tắc đảm bảo quỹ BHXH an toàn, khuyến khích người lao động tham gia BHXH

2 Mọi người đều có quyền tham gia BHXH và có quyền hưởng BHXH khi có

các nhu cầu về bảo hiểm Quyền được BHXH của người lao động là một trong những

biểu hiện cụ thể của quyền con người Nhưng BHXH không phải là cái có sẵn, nên trước hết phải tạo ra nó Ở mỗi nước khi muốn xây dựng hệ thống BHXH thì đầu tiên, Nhà nước phải tạo ra điều kiện và môi trường về kinh tế- xã hội, về chính sách và luật pháp, về tổ chức và cơ chế quản lý cần thiết Đồng thời người lao động phải thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính của mình Không có sự đóng góp này thì chính sách BHXH có hay đến mấy cũng không bao giờ có BHXH trong thực tiễn Vì vậy, thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính BHXH là điều kiện cơ bản nhất để người lao động được hưởng quyền BHXH

Biểu hiện cụ thể quyền được BHXH của người lao động là việc họ được hưởng trợ cấp BHXH theo chế độ xác định Các chế độ này gắn với các trường hợp người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm do đó bị giảm hoặc mất nguồn sinh sống Trong nền kinh tế thị trường các trường hợp đó có thể xảy ra rất nhiều và xảy ra một cách ngẫu nhiên Về nguyên lý thì mọi trường hợp như thế, người

Trang 40

lao động đều phải được hưởng BHXH Nhưng giữa nguyên lý và thực tiễn luôn có một khoảng cách rất xa Khoảng cách đó do các điều kiện kinh tế- xã hội quy định Bởi vậy trên giác độ điều hành vĩ mô, cần căn cứ vào các điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn phát triển để tổ chức và hoàn thiện dần chế độ BHXH đối với các trường hợp làm giảm hoặc mất thu nhập của người lao động nói trên

3 Nguyên tắc Nhà nước phải có trách nhiệm BHXH(bảo hộ) đối với quỹ BHXH

của người lao động, người lao động cũng có trách nhiệm phải tự bảo hiểm cho mình

Nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô mọi hoạt động kinh tế- xã hội trên phạm vi cả nước Với vai trò này, Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình Cũng với sự tăng trưởng, sự phát triển của kinh tế- xã hội, cũng có những kết quả bất lợi không mong muốn Những kết quả bất lợi này trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ dẫn đến những rủi ro cho người lao động Khi xảy ra tình trạng như vậy, nếu không có BHXH thì Nhà nước vẫn phải chi ngân sách để giúp đỡ người lao động dưới một dạng khác Sự giúp đỡ đó chẳng những làm cho đời sống người lao động ổn định mà còn làm cho sản xuất, kinh tế- xã hội của đất nước ổn định Vì vậy, BHXH là một dạng bảo đảm đời sống tiến bộ hơn đối với người lao động so với các dạng giúp đỡ truyền thống Trong khung khổ

đó, Nhà nước có điều kiện và có trách nhiệm tổ chức và tham gia vào loại hình BHXH

Bên cạnh đó, cũng cần phải nhìn nhận trách nhiệm của Nhà nước thông qua cơ quan BHXH- cơ quan Nhà nước quản lý quỹ BHXH Trong quá trình quản lý quỹ BHXH

từ sự đóng góp của người lao động, cơ quan BHXH phải thực hiện các biện pháp đầu tư tăng trưởng quỹ nhằm bảo toàn quỹ, đảm bảo tài chính để chi trả các chế độ BHXH Trách nhiệm này rất quan trọng, bởi suy cho đến cùng những đóng góp của người lao động trong quá trình dài sẽ được tích tụ lại để chi trả chế độ cho người lao động đó, song với những đóng góp của người lao động sẽ không đảm bảo chi trả cho bản thân họ bởi ảnh hưởng của nhiều nhân tố về kinh tế xã hội, do đó cơ quan BHXH phải có trách nhiệm thực hiện các biện pháp đầu tư để bù đắp phần thiếu hụt Ngoài ra NSNN cũng phải có trách nhiệm hỗ trợ trong việc bù đắp thiếu hụt.Tuy nhiên, tài chính để chi trả các chế độ BHXH chủ yếu phải từ đóng góp của người tham gia BHXH

Đối với người lao động, muốn được nhiều người khác hỗ trợ cho mình, muốn chia sẻ rủi ro không mong muốn và không hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người

Ngày đăng: 15/04/2014, 15:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Mai Ngọc Anh: Nghiên cứu hệ thống CSXH nông thôn Cộng hòa Liên Bang Đức và kiến nghị đối với việc xây dựng hệ thống ASXH cho nông dân Việt Nam; tạp chí Kinh tế và phát triển số tháng 10 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ thống CSXH nông thôn Cộng hòa Liên Bang Đức và kiến nghị đối với việc xây dựng hệ thống ASXH cho nông dân Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Anh
Nhà XB: tạp chí Kinh tế và phát triển
Năm: 2006
2.Mai Ngọc Anh: Phát triển hệ thống ASXH đối với nông dân Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 364, tháng 9 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hệ thống ASXH đối với nông dân Việt Nam hiện nay
3. Nguyễn Huy Ban Chiến lược phát triển bảo hiểm xã hội phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020. Đề tài khoa học cấp Bộ năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển bảo hiểm xã hội phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020
4. Nguyễn Huy Ban. Nghiên cứu những nội dung cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp hiện đại. Vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học. BHXHVN năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu những nội dung cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp hiện đại. Vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam
5. Nguyễn Kim Bảo. Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc. NXB KHXH. Hà Nội, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Kim Bảo. Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc
Nhà XB: NXB KHXH. Hà Nội
6. Báo cáo quốc gia của chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam về phát triển xã hội tại hội nghị thưởng đỉnh thế giới về phát triển xã hội Copenhagen 6 -12 tháng 3 năm 1995. Hà Nội tháng 2 năm 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia của chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam về phát triển xã hội tại hội nghị thưởng đỉnh thế giới về phát triển xã hội Copenhagen 6 -12 tháng 3 năm 1995
7. Báo cáo tổng kết công tác bảo trợ xã hội. Vụ Bảo trợ xã hội MOLISA năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác bảo trợ xã hội
8. Bảo trợ xã hội. Báo cáo phát triển Việt nam 2008. Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt nam. Hà Nội 6-7 tháng 12 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo trợ xã hội
9. Bộ Tài Chính. Vụ Quan hệ quốc tế. Hệ thống lương hưu và chính sách ở các nước APEC. Tài liệu diễn đàn khu vực về quỹ lương hưu Cancun-Mexico. Tháng 2/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống lương hưu và chính sách ở các nước APEC. Tài liệu diễn đàn khu vực về quỹ lương hưu Cancun-Mexico
10. CSXH và quá trình toàn cầu hóa. (Diễn đàn tài chính- kinh tế Việt - Pháp), Bruno Palier Louis, NXB Chính trị quốc gia, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CSXH và quá trình toàn cầu hóa
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
12. Trần Thị Trung Chiến. Báo cáo Y tế Việt nam 2006 Công bằng, hiệu quả, phát triển trong tình hình mới. Bộ Y tế. NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Y tế Việt nam 2006 Công bằng, hiệu quả, phát triển trong tình hình mới
Nhà XB: NXB Y học
13. Chương trình Quốc gia xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1997-2000. Cơ quan thường trực Bộ LĐTB XH. 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Quốc gia xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1997-2000
14. Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006-2010. Hà Nội tháng 5 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006-2010
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
17. Lương Phan Cừ. Chính sách và luật về người cao tuổi. Báo người đại biểu nhân dân. năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và luật về người cao tuổi
18. Lương Phan Cừ. Hoàn thiện chính sách và pháp luật bảo hiểm xã hội. Đề tài cấp Bộ Năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách và pháp luật bảo hiểm xã hội
19. Bùi Thế Cường. Người cao tuổi và ASXH. Đề tài được sự tài trợ của quỹ TOYOTA. NXB KHXH. Hà Nội năm 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cao tuổi và ASXH. Đề tài được sự tài trợ của quỹ TOYOTA
Nhà XB: NXB KHXH. Hà Nội năm 1994
20.Mai Ngọc Cường: Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng CSXH nông thôn: Kinh nghiệm Cộng hoà Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam. Đề tài độc lập cấp Nhà nước năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng CSXH nông thôn: Kinh nghiệm Cộng hoà Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
21. Mai Ngọc Cường. Bình đẳng xã hội- vấn đề chủ yếu của tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng xã hội- vấn đề chủ yếu của tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội
22. Mai Ngọc Cường. Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng CSXH nông thôn của Cộng hòa liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam. Nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng CSXH nông thôn của Cộng hòa liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
23. Mai Ngọc Cường. Yếu tố xã hội trong nền kinh tế thị trường xã hội. Lịch sử các học thuyết kinh tế. Cấu trúc hệ thống, bổ sung, phân tích và nhận định mới. NXB Lý luận chính trị 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố xã hội trong nền kinh tế thị trường xã hội
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Sự phát triển của xã hội và vấn đề  ASXH qua các giai đoạn. - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Hình 1.2 Sự phát triển của xã hội và vấn đề ASXH qua các giai đoạn (Trang 61)
Hình 1.3: Sử dụng nguồn vốn để đối phó với những đột biến v ề sức khỏe của con người 2 - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Hình 1.3 Sử dụng nguồn vốn để đối phó với những đột biến v ề sức khỏe của con người 2 (Trang 62)
Bảng 2.2. Số đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH thực tế theo loại hình kinh tế - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Bảng 2.2. Số đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH thực tế theo loại hình kinh tế (Trang 126)
Bảng 2.4: Đối tượng hưởng các chế độ BHXH 2001- 2007ĐV: 1.000 người - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Bảng 2.4 Đối tượng hưởng các chế độ BHXH 2001- 2007ĐV: 1.000 người (Trang 128)
Bảng 2.7. Thực trạng cân đối quỹ BHXH - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Bảng 2.7. Thực trạng cân đối quỹ BHXH (Trang 133)
Bảng 2.6. Tình hình đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH Đơn vị : Tỷ đồng - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Bảng 2.6. Tình hình đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH Đơn vị : Tỷ đồng (Trang 133)
Bảng 2.13: Số người tham gia và diện bao phủ BHYT. - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Bảng 2.13 Số người tham gia và diện bao phủ BHYT (Trang 145)
Bảng 2.15. Số lượng đối tượng được hưởng trợ cấp các năm - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Bảng 2.15. Số lượng đối tượng được hưởng trợ cấp các năm (Trang 160)
Bảng 2.24. Mức đóng BHYT bình quân theo các nhóm đối tượng (đồng)  Năm Chung  Bắt buộc Người nghèo  Tự nguyện - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Bảng 2.24. Mức đóng BHYT bình quân theo các nhóm đối tượng (đồng) Năm Chung Bắt buộc Người nghèo Tự nguyện (Trang 181)
Bảng 2.28: Quan hệ giữa biến đổi thu nhập với số người tham gia BHYT TN - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Bảng 2.28 Quan hệ giữa biến đổi thu nhập với số người tham gia BHYT TN (Trang 190)
Bảng 2.32:  Một số chỉ tiêu về tiết kiệm tích lũy của chủ hộ trong khu vực PCT - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Bảng 2.32 Một số chỉ tiêu về tiết kiệm tích lũy của chủ hộ trong khu vực PCT (Trang 198)
Bảng 3.4:  Dự báo tỷ lệ bao phủ và số người tham gia BHYT theo nhóm đối tượng - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Bảng 3.4 Dự báo tỷ lệ bao phủ và số người tham gia BHYT theo nhóm đối tượng (Trang 255)
Bảng 2. 2. Số lao động tham gia BHXH thực tế phân theo loại hình kinh tế - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Bảng 2. 2. Số lao động tham gia BHXH thực tế phân theo loại hình kinh tế (Trang 351)
Bảng 2.3: Đối tượng hưởng các chế độ BHXH 2001- 2007     ĐV: 1.000 người - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Bảng 2.3 Đối tượng hưởng các chế độ BHXH 2001- 2007 ĐV: 1.000 người (Trang 352)
Bảng 2.4: Số người tham gia và diện bao phủ BHYT.    Đvị tính: 1000 người - Cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Bảng 2.4 Số người tham gia và diện bao phủ BHYT. Đvị tính: 1000 người (Trang 355)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm