TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG oo0oo TIỂU LUẬN THANH TOÁN QUỐC TẾ Đề tài NHỮNG RỦI RO THƯỜNG GẶP TRONG CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN NHỜ THU VÀ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ Giảng viên hướng[.]
CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHƯƠNG THỨC NHỜ THU VÀ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
Lý thuyết phương thức thanh toán nhờ thu
1.1.1.1 Khái niệm phương thức nhờ thu
Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ, tiến hành ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu tiền từ người nhập khẩu, dựa trên cơ sở hối phiếu và chứng từ do người xuất khẩu lập ra.
Theo URC 522, chứng từ nhờ thu là các chứng từ tài chính và/hoặc chứng từ thương mại.
Chứng từ tài chính – financial documents là hối phiếu, kỳ phiếu, séc hoặc các chứng từ tương tự nhằm mục đích chi trả.
Chứng từ thương mại – commercial documents là hoá đơn, vận tải đơn, các chứng từ về quyền sở hữu hoặc các chứng từ tương tự hoặc bất cứ chứng từ nào không phải là chứng từ tài chính.
Người nhờ thu/người bán/người xuất khẩu (principal/drawer): gửi hàng + Ủy thác ngân hàng nhờ thu + Chịu chi phí nhờ thu
Người trả tiền/người mua/người nhập khẩu (drawee): trả tiền ngay/chấp nhận thanh toán/chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác để đổi lấy bộ chứng từ từ ngân hàng thu hộ/ngân hàng xuất trình
Ngân hàng chuyển nhờ thu (remitting bank): ngân hàng tại đó người nhờ thu mở tài khoản/ủy nhiệm thu Tiếp nhận bộ chứng từ từ người nhờ thu và chuyển cho ngân hàng thu hộ để thu tiền theo chỉ thị nhờ thu.
Ngân hàng thu hộ/xuất trình (collecting bank/presenting bank): tiếp nhận bộ chứng từ, xuất trình chứng từ yêu cầu người trả tiền thanh toán/chấp nhận/chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác
1.1.1.2 Văn bản pháp lý điều chỉnh nhờ thu
URC 522 ICC 1995 có hiệu lực pháp lý từ 1/1/1996, là một tập quán quốc tế nên có tính chất pháp lý tùy ý áp dụng. eURC 1.0 ICC 2019 có hiệu lực từ tháng 07/2019, bổ sung cho URC điều chỉnh xuất trình điện tử hoặc kết hợp với xuất trình chứng từ bằng giấy
1.1.2.1 Theo thời hạn thanh toán
Nhờ thu trả ngay (D/P): Phương thức này quy định người mua/người nhập khẩu phải thanh toán tiền ngay khi nhận bộ chứng từ.
Nhờ thu trả chậm (D/A): Phương thức này cho phép người mua không phải thanh toán ngay nhưng phải ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu có kỳ hạn, được ký phát bởi người bán/người xuất khẩu.
Nhờ thu trơn: là phương thức thanh toán mà người bán sau khi giao hàng cho người mua sẽ tiến hành lập bộ chứng từ và chuyển toàn bộ chứng từ cho người mua nhận hàng Sau đó, người bán mới ký phát hối phiếu cho ngân hàng nhờ ngân hàng thu hộ tiền ở người mua (trả sau) Chứng từ nhờ thu qua ngân hàng chỉ bao gồm chứng từ tài chính (hối phiếu, kỳ phiếu, séc, giấy nhận nợ hoặc các loại chứng từ tương tự khác dùng để thu tiền)
Nhờ thu kèm chứng từ: là hình thức mà người bán sau khi giao hàng hóa cho người mua sẽ lập bộ chứng từ và ký phát B/E nhờ ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền ở người mua với điều kiện là người mua trả tiền hoặc chấp nhận B/E mới giao bộ chứng từ cho người mua nhận hàng nếu ko thì giữ lại bộ chứng từ cho người bán.
Các loại nhờ thu kèm chứng từ:
D/P: Nhờ thu thanh toán đổi lấy chứng từ
D/A: Nhờ thu chấp nhận đổi lấy chứng từ
D/OT: Nhờ thu đổi lấy chứng từ theo các điều kiện khác
Bước 1: Người nhập khẩu và người xuất khẩu thỏa thuận trên hợp đồng dùng phương thức nhờ thu trơn, người xuất khẩu giao hàng/cung ứng dịch vụ và gửi chứng từ cho người nhập khẩu.
Bước 2: Ký phát hối phiếu và viết chỉ thị nhờ thu gửi đến ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ tiền từ người nhập khẩu nước ngoài.
Bước 3: Ngân hàng chuyển hối phiếu và chỉ thị nhờ thu cho ngân hàng đại lý ở nước người nhập khẩu thu hộ.
Bước 4: Ngân hàng thu hộ xuất trình hối phiếu theo đúng chỉ thị nhờ thu cho người trả tiền.
Bước 5: Người trả tiền tiến hành trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu.
Bước 6: Ngân hàng thu hộ chuyển tiền hoặc hối phiếu đã được chấp nhận cho ngân hàng chuyển.
Bước 7: Ngân hàng chuyển trả tiền hoặc hối phiếu đã được chấp nhận cho người xuất khẩu.
1.1.3.2 Nhờ thu kèm chứng từ
Bước 1: Hợp đồng cơ sở: trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, người xuất khẩu và nhập khẩu thỏa thuận phương thức thanh toán là nhờ thu kèm chứng từ
Bước 2: Người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu.
Bước 3: Lập chứng từ thương mại có hoặc không kèm theo hối phiếu và viết chỉ thị nhờ thu gửi đến ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ tiền từ người nhập khẩu nước ngoài.
Bước 4: Ngân hàng chuyển bộ chứng từ và chỉ thị nhờ thu cho ngân hàng đại lý ở nước người nhập khẩu thu hộ.
Bước 5: Ngân hàng thu hộ xuất trình chứng từ theo đúng chỉ thị nhờ thu cho người nhập khẩu
Bước 6: Người nhập khẩu tiến hành trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu để nhận chứng từ đi nhận hàng.
Bước 7: Ngân hàng thu hộ chuyển tiền hoặc hối phiếu đã được chấp nhận cho ngân hàng chuyển (nếu được yêu cầu, ngân hàng thu hộ có thể giữ lại hối phiếu đã được chấp nhận, chờ khi đến hạn thanh toán sẽ thu tiền rồi chuyển trả tiền).
Bước 8: Ngân hàng chuyển trả tiền hoặc hối phiếu đã được chấp nhận cho người xuất khẩu
Lý thuyết về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C)
Tín dụng chứng từ là bất cứ một sự thỏa thuận nào, dù cho được mô tả hoặc đặt tên như thế nào, là không thể huỷ bỏ và theo đó là một sự cam kết rõ ràng của ngân hàng phát hành để thanh toán khi xuất trình phù hợp (Điều 2 – UCP 600)
- Là một sự thoả thuận
- Có nhiều cách gọi tên : Credit, L/C, DC, Documentary L/C
- Tín dụng chứng từ không thể huỷ bỏ
- Là một cam kết của ngân hàng sẽ thanh toán trả ngay sau khi xuất trình, néu tín dụng có giá trị trả ngay Là cam kết thanh toán về sau và trả tiền khi đến ngày đáo hạn, nếu tín dụng chứng từ có thanh toán trả chậm Là chấp nhận hối phiếu đòi nợ và trả tiền khi đến hạn néu tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận
- Có giá trị thanh toán khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ phù hợp theo L/C, UCP, ISBP,…
- Người yêu cầu mở L/C (applicant): là bên mà theo theo yêu cầu của bên đó, một thư tín dụng được phát hành – bên nhập khẩu
- Người hưởng lợi (beneficiary) – bên xuất khẩu hoặc ngân hàng của người bên xuất khẩu (advising bank)
- Ngân hàng phát hành (issuing bank) – ngân hàng của người nhập khẩu
- Ngân hàng thông báo (advising bank) – ngân hàng nước người xuất khẩu
- Ngân hàng xác nhận (confirming bank) - ngân hàng thêm sự xác nhận vào thư tín dụng theo yêu cầu của ngân hàng phát hành trong trường hợp ngân hàng phát hành không đủ uy tín.
- Ngân hàng chỉ định (Nominated bank) - ngân hàng mà tại đó thư tín dụng có giá trị thanh toán.
Có giá trị tuỳ ý áp dụng, không bắt buộc Các bên phải dẫn chiếu vào hợp đồng nếu muốn áp dụng Trong trường hợp như vậy thì tập quán quốc tế bắt buộc áp dụng Các bên có thể loại trừ một số điều khoản trong tập quán miễn là được thể hiện trong L/C Bản mới không thể thay thế cho bản cũ, vẫn có thể áp dụng bản cũ ngay sau cả khi bản mới có hiệu lực
Bộ tập quán quốc tế về tín dụng chứng từ:
UCP 600, ICC 2007: Uniform Customs and Practice for Documentary Credit
ISBP 745, ICC 2013: International Standard Banking Practice for the examination of documents under documentary credit No 745
e.UCP 2.0, ICC 2019: Supplement to UCP600 for Electronic Presentation version 2.0, ICC 2019
URR 725, ICC 2008: Uniform Rules for bank – to – bank reimbursement under Documentary credits No.725
ISP 590, ICC 1998: International Standby Practices, ICC 1998
Bộ luật thương mại thống nhất của Mỹ (Chương 5)
Quy định của toà án nhân dân tối cao Trung Quốc về một số vấn đề liên quan đến việc xét xử các tranh chấp L/C
1.2.3.1 Theo thời hạn thanh toán
L/C L/C xác nhận (Confirmed): Là loại L/C không huỷ ngang do một ngân hàng phát hành và được một ngân hàng khác xác nhận theo sự uỷ quyền của ngân hàng phát hành Ngân hàng xác nhận có nghĩa vụ như ngân hàng phát hành trong việc cam kết thanh toán cho người hưởng khi người người hưởng lợi xuất trình chứng từ giao hàng phù hợp.
L/C có thể chuyển nhượng (Transferable) : Là một L/C mà theo đó, người hưởng lợi đầu tiên có quyền chuyển nhượng toàn phần hoặc một phần L/C đó cho một hay nhiều người hưởng lợi thứ hai, nhưng người người hưởng lợi thứ hai không được phép tiếp tục chuyển nhượng.
L/C giáp lưng (Back to back) : Là loại L/C không thể huỷ ngang được mở trên cơ sở của một thư tín dụng khác Áp dụng khi mua bán qua trung gian.
L/C đối ứng (Reciprocal) : Là loại L/C chỉ có hiệu lực khi có một L/C khác đối ứng với nó đã được phát hành L/C này dùng trong giao dịch hàng đổi hàng và gia công hàng xuất khẩu Áp dụng khi cả hai bên đều là người mua và người bán của nhau.
L/C tuần hoàn (Revolving) : Là loại L/C mà sau khi sử dụng hết giá trị hoặc hết hạn hiệu lực lại có giá trị như cũ Có 3 cách tuần hoàn đó là tự động, bán tự đồng và hạn chế Có 2 loại tuần hoàn là tích lũy và không tích lũy.
L/C điều khoản đỏ (Red clause) : Là một loại L/C có điều kiện cho phép người hưởng lợi nhận một khoản tiền trước khi giao hàng Người thụ hưởng cần làm bảo lãnh hoặc tín dụng dự phòng hoàn trả tiền ứng trước cho ngân hàng.
Hợp đồng cơ sở : Quy định trong phương thức thanh toán là Tín dụng chứng từ
Căn cứ vào hợp đồng cơ sở thì người nhập khẩu sẽ viết đơn yêu cầu phát hành L/C tại ngân hàng của người nhập khẩu Bản chất của Đơn yêu cầu là một hợp đồng dịch vụ ký kết giữa ngân hàng phát hành và người yêu cầu nên cần dựa vào các văn bản pháp lý điều chỉnh Đồng thời, người nhập khẩu cũng phải ký quỹ tại ngân hàng phát hành để đảm bảo rủi ro thanh toán cho ngân hàng phát hành Tại Việt Nam, người nhập khẩu có thể yêu cầu phát hành L/C tại chi nhánh của ngân hàng phát hành.
Ngân hàng phát hành L/C cũng là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu sẽ phát hành và thông báo L/C qua ngân hàng đại lý của mình tại nước người thụ hưởng ( ngân hàng thông báo) Trong trường hợp ngân hàng thông báo không có quan hệ đại lý với ngân hàng phát hành thì phải qua một ngân hàng thứ 3 có quan hệ đại lý với cả 2 ngân hàng này.
L/C được phát hành bằng điện (SWIFT MT 700) L/C sau khi phát hành hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán và được coi là không thể huỷ ngang Thời điểm L/C được coi là đã phát hành khi L/C đó vượt ra khỏi tầm kiểm soát của ngân hàng phát hành.
Theo điều 9 UCP 600, ngân hàng thông báo kiểm tra tính chân thật bên ngoài của L/C Nếu không kiểm tra được tính chân thật bề ngoài của L/C, ngân hàng thông báo phải thông báo lại không chậm trễ cho ngân hàng phát hành, hoặc nếu vẫn quyết định thông báo L/C, thì phải thông báo rằng l/C không thoải mãn tính chân thật bề ngoài
Sau khi nhận được thông báo từ ngân hàng thông báo, người thụ hưởng kiểm tra nội dung trong L/C Nếu chấp nhận L/C thì sẽ giao hàng Còn không chấp nhận thì sẽ yêu cầu sửa đổi Thư tín dụng tuân theo điều 10 UCP 600 Người thụ hưởng nên kiểm tra uy tín của ngân hàng phát hành nếu không tin tưởng thì yêu cầu xác nhận L/C Cần kiểm tra nội dung của L/C có phù hợp với các điều khoản và điều kiện của hợp đồng cơ sở hay không? Hoặc các điều khoản của L/C có khiến người thụ hưởng khó hoàn thành nghĩa vụ của mình hay không?
MỘT SỐ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN NHỜ
Rủi ro khi sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu
2.1.1 Rủi ro trong phương thức Nhờ thu trơn:
Do việc trả tiền phương thức nhờ thu trơn không căn cứ vào bộ chứng từ hàng hóa, mà chỉ dựa vào hối phiếu do nhà xuất khẩu ký phát.
Rủi ro đối với nhà xuất khẩu Đối với phương thức nhờ thu trơn, đối tượng nhận rủi ro chủ yếu thuộc về nhà xuất khẩu Nếu nhà nhập khẩu vỡ nợ, thì nhà xuất khẩu chẳng bao giờ nhận được tiên thanh toán Nếu năng lực tài chính của nhà nhập khẩu kém, thì việc thanh toán sẽ dây dưa, chậm trễ và tốn kém.
Nếu nhà nhập khẩu chủ tâm lừa đảo, vẫn nhận hàng nhưng từ chối thanh toán hay từ chối ký chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn Đến hạn thanh toán hối phiếu kỳ hạn, mà nhà nhập khẩu không thể thanh toán hoặc không muốn thanh toán do tình hình tài chính, kinh doanh nhà nhập khẩu trở nên xấu đi, hay nhà nhập khẩu phát sinh chủ tâm lừa đảo thì nhà xuất khẩu có thể kiện ra tòa nhưng rất tốn kém và không phải lúc nào cũng nhận được tiền.
Rủi ro đối với nhà nhập khẩu:
Rủi ro có thể phát sinh khi hối phiếu đòi tiền đến trước và phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán, trong khi hàng hóa không được gửi đi, hoặc đã được gửi đi nhưng chưa tới, hoặc khi nhận hàng hố có thể không đảm bảo đúng chất lượng, chủng loại và số lượng như đã thỏa thuận trong hợp đồng ngoại thương.
2.1.2 Rủi ro trong phương thức Nhờ thu kèm chứng từ
Trong phương thức này nhà xuất khẩu mất quyền kiểm soát hàng hóa và chưa được thanh toán cũng như không có bảo lãnh thanh toán ngay từ lúc gửi hàng đi Rủi ro thanh toán hoàn toàn thuộc về nhà xuất khẩu khi nhà nhập khẩu không trả tiền khi đã nhận được hàng Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian đơn thuần, thu được hay không ngân hàng cũng thu thủ tục phí, ngân hàng không chịu trách nhiệm nếu bên nhập khẩu không thanh toán Nên nếu là tổ chức xuất khẩu ta chỉ sử dụng phương thức này khi có tín nhiệm hoàn toàn với nhà nhập khẩu, hoặc có giá trị xuất khẩu nhỏ, mang tính chất thăm dò thị trường hay hàng hóa bị ứ đọng khó tiêu thụ Phương thức nhờ thu kèm chứng từ thủ tục đơn giản, và chỉ phí rẻ, nhưng mức độ rủi ro đối với nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu cao hơn so với phương thức tín dụng chứng từ.
Rủi ro đối với nhà xuất khẩu
Tập trung chủ yếu việc thanh toán không được thực hiện sau khi hàng giao Nó bao gồm: Làm trái với lệnh nhờ thu, ngân hàng xuất trình đã trao bộ chứng từ hàng hóa cho nhà nhập khẩu trước khi người này thanh toán hay chấp nhận thanh toán Điều này có thể xảy ra ở một số quốc gia, khi mà ngân hàng ưu tiên đặt mối quan hệ doanh nghiệp trong nước lên trên trách nhiệm và nghĩa vụ của họ đối với doanh nghiệp bên ngoài lãnh thổ quốc gia.
Nhà xuất khẩu sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc khiếu nại đối với ngân hàng xuất trình Chữ ký chấp nhận thanh toán có tên bị giả mạo, hoặc người ký chấp nhận không đủ thẩm quyền hay chưa được đăng ký mẫu dấu, chữ ký Ngân hàng chuyển chứng từ NH nhà xuất khẩu luôn giữ lập trường rằng, nếu ngân hàng xuất trình có sai sót trong việc thực hiện lệnh nhờ thu, thì mọi hậu quả đều do nhà xuất khẩu phải tự gánh chịu, thậm chí ngay cả trong trường hợp nhà xuất khẩu không hề liên quan đến việc chỉ định ngân hàng xuất trình Theo URC522, điều 11b Toàn bộ hay một phân chứng từ bị thất lạc Số hàng hóa mà bộ chứng từ là đại diện chỉ có thể được chuyển cho hay theo lệnh của ngân hàng xuất trình với sự đồng ý của ngân hàng này từ trước.
Ngân hàng không chịu bất cứ trách nhiệm nào về việc lưu kho, mua bảo hiểm hàng hóa, giao hàng hay dỡ hàng hóa Khi ngân hàng hành động để bảo vệ hàng hóa như dàn xếp việc lưu kho, mua bảo hiểm hàng hóa thì ngân hàng không chịu bất cứ trách nhiệm nào về tổn thất hay hư hỏng, mất mát hàng hóa Nhà xuất khẩu thường phải gánh chịu mọi chi phí liên quan đến công việc bảo vệ hàng hóa của ngân hàng, cho dù ngân hàng không được yêu cầu làm các công việc này Nhà nhập khẩu đã thanh toán để nhận bộ chứng từ,nhưng ngân hàng xuất trình không chuyển cho ngân hàng chuyển, chứng từ để trả cho nhà xuất khẩu Điều này có thể xảy ra, ví dụ khi ngân hàng xuất trình không thể hoặc phải chậm thanh toán do các giải pháp kiểm soát ngoại hối cấm chuyển ngoại tệ ra ngồi lãnh thổ quốc gia Ngân hàng xuất trình chuyển tiền cho ngân hàng chuyển chứng từ, nhưng ngân hàng này lại chậm trễ hay bị mất khả năng thanh toán, do đó nhà xuất khẩu nhận được tiền chậm hoặc không nhận được tiên Nhà nhập khẩu khước từ thanh toán hay chấp nhận thanh toán, trong khi hàng hóa đã được gửi từ trước Dù nhà xuất khẩu có thể kiện nhà nhập khẩu theo hợp đồng đã ký, nhưng điều này mất nhiều thời gian, trong khi, hàng hóa có thể đã bốc dỡ và lưu kho hoặc nhà xuất khẩu đã ra lệnh chuyên chở hàng về nước.
Bất kỳ chi phí phát sinh nào liên quan đến nhờ thu hay chi phí lãi suất mà nhà nhập khẩu chịu như đã thỏa thuận mà nhà nhập khẩu từ chối thanh toán, ngân hàng xuất trình vẫn trao chứng từ cho nhà nhập khẩu theo lệnh nhờ thu để được thanh toán và khấu trừ chi phí phát sinh, số tiền còn lại trả cho ngân hàng chuyển chứng từ để thanh toán cho nhà xuất khẩu Theo URC522, điều 21a Điều này làm nhà xuất khẩu mất một khoản chi phí không muốn.
Rủi ro đối với nhà nhập khẩu
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ phần lớn rủi ro thuộc về nhà xuất khẩu, tuy nhiên nhà nhập khẩu vẫn đứng trước các rủi ro Cho dù nhà nhập khẩu có cơ hội kiểm chứng từ trước khi thanh toán hay chấp nhận thanh toán, nhưng hàng hóa thì có thể đã không được kiểm định, chưa được bảo hiểm đầy đủ, hay không tuân theo các tiêu chuẩn ghi trong hợp đồng thương mại Nhà nhập khẩu có thể đứng trước rủi ro khi nhà xuất khẩu lập thanh toán do các giải pháp kiểm soát ngoại hối cấm chuyển ngoại tệ ra ngoài lãnh thổ quốc gia.
Hàng hóa đã được bảo hiểm đầy đủ hay chưa? Và nhà xuất khẩu có thể khiếu nại tiền bồi thường nếu hàng hóa bị tổn thất hay hư hại không? Các ngân hàng không chịu trách nhiệm về bất kỳ sự chậm trễ hay thất lạc chứng từ nào theo URC522, điều 14a.
Rủi ro đối với ngân hàng chuyển chứng từ:
Nhìn chung, ngân hàng chuyển chứng từ chỉ chịu rủi ro khi đã thanh toán hay đã cho nhà nhập khẩu vay trước khi nhận được tiền chuyển đến ngân hàng xuất trình chiết khấu chứng từ nhờ thu Nếu không nhận được tiền chuyển đến, ngân hàng chuyển chứng từ chịu rủi ro tín dụng trong việc nhà xuất khẩu hoàn trả tiền vay.
Rủi ro đối với ngân hàng xuất trình:
Nếu ngân hàng xuất trình chuyển tiền cho ngân hàng chuyển chứng từ trước khi nhà nhập khẩu thanh tổn, thì phải chịu rủi ro nếu như nhà nhập khẩu không nhận chứng từ và không thanh toán hoặc không chấp nhận thanh toán Nếu ngân hàng xuất trình cho nhà nhập khẩu vay để thanh toán, thì có thể chịu rủi ro tín dụng từ phía nhà nhập khẩu Chịu trách nhiệm kiểm tra chứng từ nhận được xem có đủ và phù hợp với danh mục liệt kê chứng từ gửi tới, nếu chứng từ không đủ hoặc không phù hop thi phai thong báo cho ngân hàng chuyển chứng từ để xin chỉ thị tiếp Ngân hàng chuyển chứng từ có thể yêu câu rằng, nếu nhà nhập khẩu không thanh toán hoặc không chấp nhận thanh toán, thì ngân hàng xuất trình thu xếp để hàng hóa được lưu kho và được bảo hiểm cho đến khi bán được cho khách hàng mới hay chuyển hàng quay về nước Nếu điều này xảy ra, thì ngân hàng xuất trình phải được bù đắp chi phí đầy đủ.
2.1.3 Biện pháp hạn chế rủi ro khi sử dụng phương thức nhờ thu:
2.1.3.1 Đối với phương thức Nhờ thu trơn
Nhà xuất khẩu giao hàng và gửi trực tiếp chứng từ cho nhà nhập khẩu, thông thường hoạt động này diễn ra trước thời điểm thanh toán Đây có thể là một bất lợi cho nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu chưa phải thanh toán tiền hàng nhưng đã nắm giữ được chứng từ để nhận hàng từ nhà chuyên chở nhưng sau đó cố ý chiếm dụng vốn, thanh toán chậm, thiếu, từ chối thanh toán Ngân hàng chỉ là một tổ chức trung gian thu hộ và có thể bị nhà nhập khẩu từ chối.
Vì vậy, trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế cần hạn chế áp dụng phương thức này Nếu áp dụng phương thức thanh toán này, thì chỉ nên áp dụng khi cả hai bên là đối tác tin cậy của nhau, đồng thời trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần có các chế tài nghiêm ngặt để bảo đảm nhà nhập khẩu thanh toán Ví dụ: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do không thanh toán, chậm thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ; chịu lãi suất chậm trả, chịu phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
2.1.3.2 Đối với phương thức Nhờ thu kèm chứng từ
Rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Bản thân phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt nhưng cũng không phải là một phương thức tránh được hoàn toàn rủi ro cho các bên tham gia.
Rủi ro đối với nhà xuất khẩu
Khi nhận được L/C từ ngân hàng (NH) thông báo, nếu nhà xuất khẩu (XK) kiểm tra các điều kiện chứng từ không kĩ, chấp nhận cả những yêu cầu bất lợi mà nhà XK không thể đáp ứng được trong khâu lập chứng từ sau này Khi các yêu cầu đó không được thoả mãn, NH phát hành từ chối bộ chứng từ và không thanh toán Lúc đó, nhà nhập khẩu (NK) sẽ có lợi thế để thương lượng lại về giá cả nằm ngoài các điều khoản của L/C và nhà
XK sẽ gặp bất lợi.
Trong thanh toán tín dụng chứng từ (TDCT), ngân hàng mở L/C đứng ra cam kết thanh toán cho người XK khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C,
NH chỉ làm việc với các chứng từ quy định trong L/C Phương thức thanh toán TDCT đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán với nội dung quy định trong L/C. Chỉ cần một sơ suất nhỏ trong việc lập chứng từ thì nhà XK cũng có thể bị NH mở L/C và người mua bắt lỗi, từ chối thanh toán Do đó, việc lập bộ chứng từ thanh toán là một khâu quan trọng và rất dễ gặp rủi ro đối với nhà XK.
Nếu nhà XK xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản thanh toán hay chấp nhận có thể đều bị từ chối, và nhà XK phải tự xử lý hàng hoá như dỡ hàng, lưu kho cho đến khi vấn đề được giải quyết hoặc phải tìm người mua mới, bán đấu giá hay chở hàng về quay về nước Đồng thời, nhà XK phải chịu những chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho… trong khi đó không biết rõ lập trường của nhà NK là sẽ đồng ý hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ có sai sót.
Nếu NH phát hành mất khả năng thanh toán, thì cho dù bộ chứng từ xuất trình là hoàn hảo thì cũng không được thanh toán.
Rủi ro đối với nhà nhập khẩu
Trong thanh toán TDCT, việc thanh toán của NH cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ xuất trình mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hoá NH chỉ kiểm tra tính chân thật bề ngoài của chứng từ, mà không chịu trách nhiệm về tính chất bên trong của chứng từ, cũng như chất lượng và số lượng hàng hoá Như vậy sẽ không có sự đảm bảo nào cho nhà NK rằng hàng hoá sẽ đúng như đơn đặt hàng hay không Nhà NK có thể nhận được hàng kém chất lượng hoặc bị hư hại trong quá trình vận chuyển mà vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền thanh toán cho NH phát hành.
Khi nhà NK chấp nhận bộ chứng từ hàng hoá sẽ có nguy cơ gặp rủi ro Bộ chứng từ là cơ sở pháp lý đầu tiên về tính đúng đắn của hàng hoá Nếu nhà NK không chú ý kiểm tra kỹ bộ chứng từ (từ lỗi, câu chữ, số lượng các loại chứng từ, cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy chứng nhận…) mà chấp nhận bộ chứng từ có lỗi sẽ bị thiệt hại và gặp khó khăn trong việc khiếu nại sau này.
Một rủi ro mà nhà NK hay gặp là hàng đến trước bộ chứng từ, nhà NK chưa nhận được bộ chứng từ mà hàng đã cập cảng Bộ chứng từ bao gồm vận đơn, mà vận đơn lại là chứng từ sở hữu hàng hoá nên thiếu vận đơn thì hàng hoá không được giải toả Nếu nhà
NK cần gấp ngay hàng hoá thì phải thu xếp để NH phát hành phát hành một thư bảo lãnh gửi hãng tàu để nhận hàng Để được bảo lãnh nhận hàng, nhà NK phải trả thêm một khoản phí cho NH Hơn nữa, nếu nhà NK không nhận hàng theo quy định thì tiền bồi thường giữ tàu quá hạn sẽ phát sinh.
Rủi ro đối với ngân hàng phát hành
Trong nghiệp vụ mở L/C, nếu NH phát hành kiểm tra không kỹ đơn xin mở L/C sẽ dẫn đến việc chấp nhận cả những điều khoản hàm chứa rủi ro cho NH sau này.
Khi nhận được bộ chứng từ xuất trình, nếu NH phát hành trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, nhà NK không chấp nhận, thì NH không thể đòi tiền nhà NK.
Trong trường hợp hàng đến trước bộ chứng từ thì NH phát hành hay được yêu cầu chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng từ Nếu không có sự chấp nhận trước của người NK về việc hoàn trả, thì NH phát hành sẽ gặp rủi ro khi bộ chứng từ có sai sót, khi đó nhà NK không chấp nhận và NH sẽ không truy hoàn được tiền từ nhà NK.
Ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo qui định của L/C ngay cả trong trường hợp nhà NK mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản do kinh doanh thua lỗ.
Nếu trong L/C ngân hàng phát hành không quy định bộ vận đơn đầy đủ(full set off bills of lading) thì một người NK có thể lấy được hàng hoá khi chỉ cần xuất trình một phần của bộ vận đơn, trong khi đó người trả tiền hàng hoá lại là ngân hàng phát hành theo cam kết của L/C.
NH phát hành có thể gặp rủi ro do không hành động theo đúng UCP 600, đó là đưa ra quyết định từ chối bộ chứng từ vượt quá 5 ngày làm việc của ngân hàng Theo quy định là không quá 5 ngày.
Rủi ro đối với ngân hàng thông báo
TÌNH HUỐNG THỰC TẾ VỀ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC
Case Study về phương thức thanh toán nhờ thu của ngân hàng Agribank
3.1.1 Lịch sử hình thành và phạm vi hoạt động
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (tên giao dịch quốc tế là Vietnam Bank of Agriculture and Rural Development, viết tắt là AGRIBANK) được thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1988 theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn Lúc mới thành lập, ngân hàng mang tên Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam Cuối năm 1990 được đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam và đến cuối năm 1996, ngân hàng đổi tên thành tên gọi như hiện nay.
3.1.2 Vài nét về tình hình hoạt động và dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng
Theo thống kê của UNDP – chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc, Agribank là ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam cả về vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng Tính đến tháng 12/2009, vị thế dẫn đầu của Agribank vẫn được khẳng định với trên nhiều phương diện:
• Tổng nguồn vốn 434.331 tỷ đồng.
• Vốn tự có: 22.176 tỷ đồng.
• Tổng tài sản 470.000 tỷ đồng.
• Tổng dư nợ 354.112 tỷ đồng.
• Mạng lưới hoạt động: 2300 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc.
Agribank cũng là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam tiếp nhận và triển khai các dự án nước ngoài, đặc biệt là các dự án của Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Cơ quan phát triển Pháp (AFD), Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) Agribank hiện là Chủ tịch Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Nông thôn châu Á- Thái Bình Dương (APRACA)
Một trong những hoạt động được đánh giá cao và uy tín tại Agribank hiện nay là cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế.
Hiện Agribank đang cung cấp hầu hết các loại hình thanh toán bao gồm:
Chuyển tiền: bao gồm nhận tiền chuyển đến, nhận tiền chuyến đi
Nhờ thu: bao gồm nhờ thu chứng từ hàng xuất khẩu, nhờ thu nhập khẩu
Tín dụng chứng từ: bao gồm dịch vụ phát hành L/C, thanh toán L/C, thông báo, chuyển nhượng L/C, nhận bộ chứng từ để thanh toán L/C, dịch vụ Standby L/C
3.1.3 Phân tích một số tình huống xảy ra trong phương thức nhờ thu
3.1.3.1 Tình huống 1: Tình huống tranh chấp liên quan đến chứng từ
Người nhờ thu: Công ty xuất khẩu Prosimex tại Việt Nam
Người trả tiền: Công ty nhập khẩu HOOGLAND của Hà Lan
Ngân hàng chuyển nhờ thu: Ngân hàng Agribank
Ngân hàng thu: Ngân hàng RABOBANK
Ngân hàng Agribank tiến hành chuyển chứng từ theo yêu cầu của nhà xuất khẩu Việt Nam sang cho ngân hàng RABOBANK và nhờ thu tiền nhà nhập khẩu HOOGLAND. Trong quá trình thu hộ ở các ngân hàng diễn ra không theo hợp đồng xuất khẩu, và bị thất lạc chứng từ và nhà xuất khẩu phải chịu thiệt hại
1 Căn cứ vào hợp đồng thương mại đã ký, công ty Xuất khẩu Prosimex tiến hành giao hàng đến địa điểm thỏa thuận cho công ty Nhập khẩu HOOGLAND
2 Công ty xuất khẩu Prosimex lập bộ chứng từ đầy đủ và điền thông tin vào chỉ thị nhờ thu ủy thác cho ngân hàng Agribank thu hộ tiền và chuyển phát nhanh chỉ thị nhờ thu và bộ chứng từ cho ngân hàng RABOBANK ủy thác việc thu tiền cho ngân hàngRABOBANK
3 Ngân hàng RABOBANK nhận được chuyển phát nhanh sau đó kiểm tra bộ chứng từ gửi đến nhưng phát hiện thiếu mất chứng từ do đó người nhập khẩu không chấp nhận thanh toán
4 Công ty Prosimex khiếu nại Ngân hàng Agribank làm mất chứng từ của mình dẫn đến thiệt hại
Căn cứ vào Khoản a), điều 14 của Quy tắc thống nhất về nhờ thu - URC 522, quy định như sau: Điều 14: Sự miễn trách về việc chậm trễ, mất mát trong vận chuyển và dịch thuật a Các ngân hàng không có nghĩa vụ hoặc chịu trách nhiệm về các hậu quả phát sinh từ việc chậm trễ và/hoặc việc mất mát các thư từ trong việc vận chuyển bất cứ các điện tín, các thư từ, các chứng từ nào hoặc đối với việc chậm trễ, cắt xén hay các sai sót khác phát sinh trong quá trình chuyển bất cứ điện tín nào hoặc đối với các lỗi trong dịch thuật và/hoặc giải thích đối với các thuật ngữ Và Khoản a Điều 12, URC 522 do ICC ban hành 2017:
“Các ngân hàng phải xác định rằng các chứng từ nhận được đều được liệt kê trong bản chỉ thị nhờ thu và phải thông báo bằng đường viễn thông hoặc nếu không thể thì bằng các phương tiện hỏa tốc, không chậm trễ cho bên đã gửi chỉ thị nhờ thu về bất kỳ một chứng từ nào bị thiếu hay khác với bản liệt kê Về việc này các ngân hàng không có nghĩa vụ gì thêm.”
Bị đơn (Ngân hàng Agribank) không có nghĩa vụ hay phải chịu trách nhiệm do việc chứng từ bị mất trong quá trình vận chuyển Do vậy nguyên đơn sẽ là bên phải chịu đựng thiệt hại.
- Quy định chặt chẽ các điều khoản về thời hạn giao nhận chứng từ trong thư ủy thác và các chế tài khi đối tượng vi phạm.
- Thống nhất việc kiểm định chất lượng hàng hóa với HOOGLAND để không chịu rủi ro đối tác từ chối thanh toán do chất lượng sản phẩm
- Cần phải có những quy định chặt chẽ hơn trong lệnh nhờ thu về nghĩa vụ của ngân hàng RABOBANK đồng thời cũng cần quy định thêm những chế tài cần thiết để nếu rủi ro xảy ra, bên PROSIMEX có cơ sở và dễ dàng hơn trong quá trình khiếu nại.
- PROSIMEX không gia hạn hối phiếu giống như những trường hợp khác, nên gia hạn thời gian ngắn hơn để nếu rủi ro xảy ra, PROSIMEX sớm thực hiện những khiếu nại cần thiết để thu hồi vốn và tránh không bị chiếm dụng vốn quá lâu.
- PROSIMEX cần thương lượng rõ ràng với HOOGLAND về:
Trung gian giám định chất lượng sản phẩm.
Mức độ hao hụt hàng hóa có thể chấp nhận được.
Trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên tham gia trong quá trình vận chuyển để không chịu những rủi ro thanh toán xuất phát từ nguyên nhân này.
3.1.3.2 Tình huống 2: Tranh chấp do liên quan đến hàng hoá
Công ty Cholimex của Việt Nam ký 1 hợp đồng xuất khẩu tôm đông lạnh sang Mỹ theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ. Đối tượng tham gia:
Ngân hàng chuyển: Ngân hàng Vietcombank
Ngân hàng thu: Ngân Hàng CitiBank NewYork.
Phương thức thanh toán: Nhờ thu kèm chứng từ (D/P).
1 Căn cứ vào hợp đồng thương mại đã ký, công ty Cholimex tiến hành giao hàng sang Mỹ cho nhà nhập khẩu công ty Gabrovec
2 Công ty Cholimex ký phát và gửi chỉ thị nhờ thu kèm bộ chứng từ hàng hóa đến ngân hàng Vietcombank để nhờ thu hộ tiền từ công ty Gabrovec
3 Trong chỉ thị nhờ thu, công ty Cholimex đã đề nghị ngân hàng nhờ thu yêu cầu ngân hàng thu hộ Citibank thực hiện việc mua bảo hiểm cho hàng hóa.
4 Ngân hàng Vietcombank chuyển chỉ thị nhờ thu và bộ chứng từ sang ngân
Citibank để thông báo cho người nhập khẩu.
5 Ngân hàng Citibank lập thông báo gửi công ty Gabrovec
6 Sau khi hàng đã cập cảng và lưu kho, ngân hàng thu hộ Citibank chuyển bộ chứng từ cho công ty Gabrovec yêu cầu thanh toán Sau đó , trong quá trình hàng hóa vận chuyển trên biển, hàng hóa bị thất lạc do thời thiên tai nên nhà nhập khẩu từ chối nhận bộ chứng từ vì cho rằng hàng không đảm bảo đạt số lượng và chất lượng Ngoài ra, ngân hàng Citibank đã không thực hiện việc mua bảo hiểm cho hàng hóa như trong chỉ thị nhờ thu dẫn đến hàng hóa bị tổn thất do thiên tai, không được bồi thường Do đó, Cholimex yêu cầu ngân hàng Citibank phải bồi thường toàn bộ giá trị hàng hóa bị tổn thất
Các nguyên tắc thống nhất về nhờ thu URC 552 1995 ICC có đề cập trong điều 10: Các chứng từ đối với hàng hóa/ dịch vụ/ thực hiện: b) Các ngân hàng không chịu trách nhiệm phải có bất kì hành động nào đối với hàng hóa mà phương thức nhờ thu kèm chứng từ có liên quan kể cả việc lưu kho và bảo hiểm hàng hóa ngay cả khi Lệnh nhờ thu quy định cụ thể điều đó Các ngân hàng chỉ làm điều đó khi và ở chừng mực mà họ chấp nhận trong từng trường hợp Dù cho có quy định ở điều 1c, quy định này được áp dụng ngay cả khi Ngân hàng thu không có bất cứ thông báo cụ thể nào về vấn đề này c) Tuy nhiên trong trường hợp các Ngân hàng có hành động bảo vệ hàng hóa, dù có chỉ thị hay không, các ngân hàng cũng không chịu trách nhiệm về số phận và/ hoặc tình cảnh của hàng hóa và/ hoặc mọi hành động và/ hoặc có sai sót của bất kì bên thứ ba nào được ủy nhiệm lưu kho và bảo vệ hàng hóa Tuy nhiên, ngân hàng thu phải thông báo gay cho ngân hàng đã gửi lệnh nhờ thu về bất kì hành động nào thuộc loại này.