Tính cấp thiết của đề tài Vai trò của nhà nước Việt Nam trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế như tên của đề tài, nế
Trang 1Bộ Khoa học và Công nghệ
Chương trình kh&CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2006-2010:
Những vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020
Mã số: KX.01/06-10
-
đề tài:
Vai trò của nhà nước Việt Nam trong
quá trình chuyển sang kinh tế thị trường
định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế
Mã số: KX.01.12/06-10
Chủ nhiệm đề tài : GS.TSKH Lương Xuân Quỳ
Phó chủ nhiệm đề tài : GS.TS Đỗ Đức Bình
Cơ quan chủ trì đề tài : Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Bộ Giáo dục và Đào tạo
8016
Hà Nội, năm 2010
Trang 2Bộ Khoa học và Công nghệ
Chương trình kh&CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2006-2010:
Những vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020
Mã số: KX.01/06-10 -
đề tài:
Vai trò của nhà nước Việt Nam trong
quá trình chuyển sang kinh tế thị trường
định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế
Mã số: KX.01.12/06-10
Chủ nhiệm đề tài : GS.TSKH Lương Xuân Quỳ
Phó chủ nhiệm đề tài : GS.TS Đỗ Đức Bình
Cơ quan chủ trì đề tài : Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Thành viờn tham gia đề tài:
1 PGS.TS Lê Xuân Bá Viện NC quản lý kinh tế TW Thành viờn
2 TS Bùi Quốc Bảo Văn phòng Chính phủ Thành viờn
3 TS Nguyễn Thành Công Viện NC Phát triển kinh tế xã hội HN Thành viờn
4 PGS.TS Nguyễn Văn Công Trường ĐH KTQD Thành viờn
5 PGS.TS Hoàng Văn Hoa Trường ĐH KTQD Thành viờn
6 GS.TS Nguyễn Đình Hương Hội Khoa học kinh tế Hà Nội Thành viờn
7 PGS.TS Nguyễn Viết Lâm Trường ĐH KTQD Thành viờn
8 PGS.TS Nguyễn Thị Mùi Học Viện Tài chính Thành viờn
9 PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới Thành viờn
10 TS Lê Anh Tuấn Hội Khoa học kinh tế Hà Nội Thành viờn
11 TS Hồ Thị Hải Yến Trường ĐH KTQD Thành viờn
12 ThS NCS Nguyễn Anh Tuấn Trường ĐH KTQD Thư ký
13 HVCH Nguyễn Đình Hưng Trường ĐH KTQD Thành viờn
14 ThS NCS Trịnh Mai Vân Trường ĐH KTQD Thành viờn
15 ThS.NCS Ngô Thu Hà Trường ĐH KTQD Thành viờn
Hà Nội, năm 2010
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI 13
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI 13
1.1.1 Nền kinh tế thị trường 13
1.1.2 Vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại 19
1.2 THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI 31
1.2.1 Khái niệm về thể chế 31
1.2.2 Thể chế kinh tế .33
1.2.3 Thể chế kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại 36
1.3 KINH NGHIỆM XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC Ở MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM .41
1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia .41
1.3.1.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia có nền kinh tế thị trường hiện đại 41
1.3.1.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia đang chuyển đổi 55
1.3.2 Bài học rút ra cho Việt Nam 70
1.3.2.1 Xây dựng và cải cách thể chế thị trường thích ứng với các xu hướng phát triển kinh tế mới 70
1.3.2.2 Tăng cường vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường thông qua tính xác thực và khoa học của thể chế kinh tế của nhà nước 73
1.3.2.3 Nhà nước cần đặc biệt quan tâm đến thị trường tài chính và thị trường bất động sản là các thị trường chứa đựng nhiều khả năng dẫn đến các cuộc khủng hoảng 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 78
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ KINH TẾ VÀ THỂ CHẾ KINH
TẾ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀ HỘI
NHẬP QUỐC TẾ 81
2.1 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM .81
2.1.1 Những đặc điểm và biểu hiện cơ bản về sự đổi mới vai trò kinh tế của Nhà nước Việt Nam .81
2.1.2 Đánh giá ảnh hưởng của sự đổi mới vai trò kinh tế của Nhà nước Việt Nam đối với phát triển kinh tế - xã hội 91
2.1.3 Nguyên nhân của những mặt hạn chế về sự phát triển kinh tế - xã hội dưới ảnh hưởng của sự đổi mới vai trò kinh tế của Nhà nước .101
2.2 THỰC TRẠNG THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 108
2.2.1 Khuôn khổ thể chế phát triển các loại thị trường 108
2.2.1.1 Diễn biến về quá trình hình thành khuôn khổ thể chế phát triển các loại thị trường 108
2.2.1.2 Đánh giá về khuôn khổ thể chế phát triển các loại thị trường 115
2.2.2 Khuôn khổ thể chế tạo môi trường cho đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 124
2.2.2.1 Diễn biến về quá trình hình thành khuôn khổ thể chế tạo lập môi trường đầu tư và kinh doanh 124
2.2.2.2 Đánh giá khuôn khổ thể chế tạo môi trường đầu tư và kinh doanh 127
2.2.3 Khuôn khổ thể chế thúc đẩy cạnh tranh chống độc quyền 135
2.2.3.1 Diễn biến quá trình hình thành khuôn khổ thể chế thúc đẩy cạnh tranh chống độc quyền 135
2.2.3.2 Đánh giá về khuôn khổ thể chế thúc đẩy cạnh tranh, chống độc quyền 137
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG 140
2.3.1 Những mặt tích cực ưu điểm chủ yếu 140
2.3.2 Những mặt bất cập, yếu kém 148
2.3.3 Nguyên nhân của những mặt bất cập, yếu kém 159
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 169
Trang 5CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC PHÙ HỢP VỚI ĐẶC THÙ CỦA NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 174 3.1 BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM .174
3.1.1 Bối cảnh quốc tế 174 3.1.2 Bối cảnh trong nước: 179
3.2 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN THỂ CHẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, MỞ CỬA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 184
3.2.1 Hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước với tư cách là một động lực quan trọng đảm bảo quá trình tăng trưởng nhanh và bền vững của Việt Nam trong điêu kiện hội nhập quốc tế 184 3.2.2 Hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước phải đảm bảo tính định hướng đối với các chủ thể tham gia nền kinh tế, đặc biệt là định hướng
về chính trị –kinh tế- xã hội của nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa 187 3.2.3 Thể chế kinh tế của nhà nước được hoàn thiện trong mối quan hệ hài hòa với các thiết chế kinh tế phi nhà nước, trong đó vai trò của cộng đồng doanh nghiệp và người dân được đặc biệt quan tâm .188 3.2.4 Hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước trong mối quan hệ ràng buộc với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết .189
3.3 NỘI DUNG HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC PHÙ HỢP VỚI ĐẶC THÙ CỦA NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI
VÀ HỘI NHẬP 191
3.3.1 Hoàn thiện nội dung và quy trình xây dựng luật pháp, chính sách kinh tế .191 3.3.2 Hoàn thiện cơ chế vận hành nền kinh tế của Nhà nước .198 3.3.3 Đổi mới bộ máy quản lý Nhà nước phù hợp với yêu cầu hội nhập 203 3.3.4 Xác lập cơ chế tham gia của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội dân
sự, các tổ chức quốc tế trong quá trình hoàn thiện thực thi và điều chỉnh thể chế kinh tế của Nhà nước .209
Trang 63.4 CÁC GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM PHÙ HỢP VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN
VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ .221
3.4.1 Tiếp tục đổi mới về tư duy, nhận thức và quan điểm: 221
3.4.2 Hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách kinh tế theo hướng đảm bảo tính đầy đủ, đồng bộ, nhất quán và minh bạch tương thích với luật pháp và thông lệ quốc tế, đồng thời nâng cao hiệu lực và hiệu quả tác động của hệ thống này tới nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam .226
3.4.2.1 Đối với hệ thống luật pháp: 227
3.4.2.2 Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện các chính sách kinh tế: 233
3.4.3 Hoàn thiện thể chế phát triển hệ thống thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế 250
3.4.3.1 Hoàn thiện môi trường thể chế, tôn trọng tự do cạnh tranh và kiểm soát độc quyền 250
3.4.3.2 Tăng cường đầu tư, quản lý và khai thác có hiệu quả kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật cho các loại thị trường phát triển theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế 254
3.4.3.3 Tiếp tục đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá sở hữu, phát triển kinh tế với nhiều loại hình sản xuất kinh doanh, tạo ra sức cung, cầu cho các loại thị trường 258
3.4.3.4 Tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc tạo lập các điều kiện để phát triển hệ thống thị trường đầy đủ và đồng bộ, hiệu quả 258
3.4.4 Tiếp tục cải cách và hoàn thiện thể chế hành chính 259
3.4.5 Hoàn thiện thể chế kinh tế của Nhà nước đối với các chủ thể kinh tế theo hướng vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động, vừa nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường 267
3.4.5.1 Từng bước đổi mới và hoàn thiện tổ chức, phương thức hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cơ quan này 268
3.4.5.2 Hoàn thiện thể chế kinh tế của Nhà nước đối với doanh nghiệp 270
3.4.5.3 Thể chế hoá sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự vào việc xây dựng và thực thi thể chế kinh tế thị trường 275
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 277
KẾT LUẬN CHUNG 283
TÀI LIỆU THAM KHẢO 285
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hộp 1.1: Các tiêu chí xác định tư cách "kinh tế thị trường" 17
Hộp 2.1 Quan điểm của Đảng về vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 82
Hộp 2.2 Diễn biến đổi mới tư duy của Đảng về vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 86
Hình 1.2: Nhà nước, thể chế và c/ơ chế vận hành 45
Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP thời kỳ 2000 - 2008 95
Biểu đồ 2.2 Đóng góp nhân tố vào tăng trưởng GDP Việt Nam 95
Bảng 2.1 Thu nhập bình quân đầu người một tháng của 5 nhóm dân cư Việt Nam 100
Bảng 2.2 Xếp hạng các chỉ số về thể chế của Việt nam năm 2006 159
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vai trò của nhà nước Việt Nam trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế như tên của đề tài, nếu xét một cách toàn diện sẽ có phạm vi rất rộng lớn, bao gồm cả
về vai trò trong lĩnh vực kinh tế; trong lĩnh vực xã hội, văn hoá; trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, đối ngoại… Tuy nhiên, đây là đề tài nghiên cứu thuộc chương trình khoa học trọng điểm cấp nhà nước mang mã số KX01/06-
10: "Những vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế Việt Nam tới năm 2020"
nên khi tiếp cận đề tài này, chúng tôi cho rằng đề tài chỉ đề cập đến vai trò kinh tế của nhà nước
Vai trò kinh tế của nhà nước có nội dung rất phong phú Tuy nhiên, theo đơn đặt hàng và thông báo của Bộ Khoa học và Công nghệ và Ban chủ nhiệm chương trình KX.01/06-10 (tại Báo khoa học và phát triển số 24 ra ngày 20-24/6/2007) thì nhiệm vụ của đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu thể chế kinh
tế của nhà nước Việt Nam để thực hiện tốt vai trò của nhà nước trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh
tế quốc tế
Trong nhiều năm qua, đặc biệt là trong những năm đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta, thể chế kinh tế của Nhà nước luôn được quan tâm xây dựng và phát triển Hệ thống thể chế kinh tế của Nhà nước ngày càng đầy
đủ hơn và hoàn thiện hơn Trên một chừng mực nhất định, hệ thống thể chế này đã có những góp tích cực, đã tạo nên một hành lang pháp lý, một sân chơi bình đẳng hơn đảm bảo cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế được tự
do phát triển Thể chế kinh tế của Nhà nước đã góp phần khơi dậy sức sáng tạo; góp phần làm sống dậy các tiềm năng, các nguồn lực của xã hội và do đó, góp phần tạo nên những thành quả đáng ghi nhận về sự phát triển kinh tế và
sự tiến bộ xã hội của đất nước ta Tuy nhiên, hệ thống thể chế kinh tế của Nhà nước hay nói cách khác là từng bộ phận thể chế kinh tế của Nhà nước vẫn
Trang 9đang còn tồi tại nhiều khiếm khuyết:
Thứ nhất, hệ thống luật pháp về kinh tế vẫn còn chưa đồng bộ, thiếu nhất quán, bất cập so với thực tiễn chẳng hạn như: nhiều đạo luật quan trọng chưa được hình thành hoặc chưa phù hợp với nền kinh tế thị trường, thiếu nhất quán trong phạm vi một văn bản pháp luật, thiếu nhất quán thậm chí có mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật
Thứ hai, công tác định hướng phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều thiếu sót, cụ thể là: chiến lược và các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội còn ôm đồm quá nhiều mục tiêu, vị trí chính trị pháp luật của các quy hoạch còn thấp
so với kế hoạch, vai trò điều tiết kinh tế của nhà nước chưa phù hợp với kinh
tế thị trường hiện đại
Thứ ba, trong hệ thống chính sách kinh tế đã xuất hiện những yếu tố làm chậm tiến trình của công cuộc cải cách theo định hướng thị trường
Thứ tư, các chính sách, quy định còn lúng túng trong giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội; nhiều vấn đề xã hội nảy sinh trong cơ chế thị trường chưa được chú trọng giải quyết kịp thời, có hiệu quả
Thứ năm, bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế tuy được sắp xếp lại nhiều đợt, giảm được một số đầu mối, nhưng vẫn lạc hậu so với những tiến triển của nền kinh tế theo hướng thị trường Năng lực tạo ra và vận hành thể chế của bộ máy nhà nước còn những hạn chế Vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và thể chế kinh tế của nhà nước ở nước ta, tuy đã được quan tâm nghiên cứu nhưng vẫn chưa giải đáp rõ được những vấn đề cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế của Nhà nước phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế Đặc biệt là tính thích ứng của hệ thống này trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO hay trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam vẫn đang còn mờ nhạt
Hệ thống thể chế kinh tế của Nhà nước được nhận thức là có vai trò hết
Trang 10nước ta trong thời kỳ đổi mới vừa qua vẫn đang còn tồn tại nhiều thiếu sót, song những công trình nghiên cứu có tầm cỡ, hướng trực tiếp đến việc giải quyết một cách căn bản, chuyên sâu những mặt còn tồn tại của hệ thống thể chế kinh tế hiện hành của Nhà nước hầu như vẫn chưa được tiến hành Nói cách khác, thực tiễn đang đặt ra một câu hỏi lớn liên quan đến thể chế kinh tế của Nhà nước nhưng vẫn chưa có câu trả lời đầy đủ Câu hỏi đó là: cần phải xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế của Nhà nước ta như thế nào và làm thế nào để có được thể chế kinh tế ấy để hướng tới xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế
Thực tiễn này cho thấy rằng, việc lựa chọn đề tài "Vai trò của nhà
nước Việt Nam trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế" mà nội dung trọng tâm là đề xuất các
giải pháp cụ thể, đồng bộ để hoàn thiện thể chế kinh tế của Nhà nước là rất cần thiết và cấp bách Chắc chắn đây sẽ là một trong những nội dung cơ bản
về lý luận và thực tiễn của sự nghiệp phát triển kinh tế Việt Nam không chỉ đến năm 2020 mà cả trong thời kỳ tương lai lâu dài
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu
2.1 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu nước ngoài
Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại được thực hiện trong mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và doanh nghiệp và được thể hiện chính bằng thể chế kinh tế của Nhà nước
Thể chế kinh tế là sản phẩm quan trọng nhất của Nhà nước Thể chế kinh tế trước hết đảm bảo Nhà nước thực hiện được vai trò của mình trong nền kinh tế và quyết định tính hiệu quả và hiệu lực của quản lý nền kinh tế quốc gia Chính vì vậy, chủ đề này thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà kinh tế
Nếu như Adam Smith đề cao vai trò của “bàn tay vô hình” thì các nhà kinh tế học sau này như Paul Samuelson lại nêu rất rõ vai trò của “bàn tay hữu hình“ trong nền kinh tế thị trường hiện đại Như vậy, thể chế kinh tế chính là
Trang 11cái tạo nên “bàn tay hữu hình” trong nền kinh tế Định nghĩa đầu tiên về thể chế do Thorstein Veblen đưa ra năm 1914 với quan niệm “thể chế là tính quy chuẩn của hành vi hoặc các quy tắc xác định hành vi trong những tình huống
cụ thể, được các thành viên của một nhóm xã hội chấp nhận và tuân thủ” Sau
đó, khái niệm về thể chế đã được bổ sung và mở rộng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau
Do việc có nhiều khía cạnh khác nhau của thể chế được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu nên đã hình thành bộ môn kinh tế học thể chế với 2 trường phái chủ yếu Kinh tế học thể chế cũ tập trung nghiên cứu vai trò của luật pháp, của quyền sở hữu, sự hình thành và tác động của Nhà nước tới các giao dịch kinh tế và phân phối thu nhập Kinh tế học thể chế mới đề cập nhiều đến các quy định, luật lệ và cách mà nhà nước thực thi nó
Khái niệm gần đây nhất về thể chế được Sokolof đưa ra năm 2001 Ông định nghĩa thể chế là khung khổ chính trị và pháp lý tạo ra những nguyên tắc
và luật lệ cơ bản cho sự hoạt động của các cá nhân và công ty; những tổ chức mang tính tự nguyện hoặc hợp tác giữa các chủ thể có tác động đến bản chất
và tổ chức của sự trao đổi; các giá trị văn hoá và niềm tin có ảnh hưởng tới hành vi kinh tế thông qua tác động của chúng đối với sự sẵn lòng tham gia và tuân thủ các nguyên tắc của thị trường và đối với nội dung của hàng hoá, dịch
vụ Như vậy, nội hàm của khái niệm thể chế không chỉ bao gồm khung pháp
lý mà còn là các quy tắc xã hội được thừa nhận; không chỉ của nhà nước mà còn của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân; không chỉ trong lĩnh vực kinh tế
mà còn trong các lĩnh vực xã hội, văn hoá
Mặc dù nghiên cứu rất nhiều về thể chế, nhưng các học giả nước ngoài lại
ít đề cập đến thể chế kinh tế của nhà nước Đa phần các nghiên cứu về thể chế kinh tế đều đề cập đến thể chế thị trường và xem Nhà nước là một chủ thể tham gia thị trường Cách tiếp cận này phù hợp với những nền kinh tế thị trường phát triển cao, nơi các nguyên tắc và quy tắc của thị trường được thừa nhận và tuân thủ như pháp luật Bản thân các quy định pháp lý tại các nền
Trang 12kinh tế này cũng bám rất sát thị trường và được xây dựng trên các nguyên lý hoạt động của thị trường Tuy nhiên, nếu so sánh và áp dụng các nghiên cứu này cho các nền kinh tế đang phát triển, đang trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường thì sẽ có những khập khiễng nhất định
Xem xét các nghiên cứu từ Trung Quốc, quốc gia cũng đang thực hiện quá trình chuyển đổi và hội nhập kinh tế quốc tế như Việt Nam, thể chế kinh
tế thị trường mang màu sắc Trung Quốc là thuật ngữ được nhắc đến tương đối nhiều Tác giả Lưu Dư Huyệt (Trung Quốc) đã nêu ra khái niệm về thể chế kinh tế như sau: “Thể chế kinh tế là hình thức tổ chức cụ thể và chế độ quản
lý kinh tế của một chế độ kinh tế – xã hội hoặc một quan hệ sản xuất”1 Ông cũng cho rằng thể chế kinh tế là sản phẩm của một chế độ kinh tế – xã hội hay nói cách khác chính là sản phẩm của Nhà nước Các nghiên cứu khác ở Trung Quốc đề cập nhiều đến vai trò thiết lập khung pháp lý và ban hành chính sách kinh tế của nhà nước, mối quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp chưa được đề cập một cách thoả đáng
Tóm lại, số lượng các nghiên cứu về thể chế nói chung, thể chế kinh tế
và thể chế kinh tế của nhà nước nói riêng là tương đối đồ sộ Nhiều khía cạnh khác nhau của thể chế kinh tế đã được phân tích, nhiều học thuyết, trường phái nghiên cứu về thể chế kinh tế đã được hình thành Tuy nhiên, các nghiên cứu này do được thực hiện ở các quốc gia có bối cảnh kinh tế – xã hội khác nhau nên chưa đề cập một cách thoả đáng thể chế kinh tế của một nhà nước
mà nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi và hội nhập Các mối quan hệ
và cơ chế tương tác giữa nhà nước, doanh nghiệp với thị trường chưa được phân tích đầy đủ Mặc dù vậy, đây vẫn là những tư liệu tham khảo hết sức bổ ích cho quá trình nghiên cứu về thể chế kinh tế của Nhà nước ở Việt Nam, công cụ để nhà nước Việt Nam hoàn thành vai trò của mình trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
1 Dẫn theo bài viết “Bàn về phương pháp luận nghiên cứu thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của GS Chu Văn Cấp
Trang 132.2 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nước
Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới, khái niệm thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa bắt đầu được quan tâm ở nước ta Tuy nhiên vai
trò của Nhà nước trong nền kinh tế thì đã được quan tâm từ rất sớm Ngay từ những năm 1990, các đề tài thuộc Chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước KX.03, giai đoạn 1991-1995, đã đề cập nhiều đến cơ chế thị trường và vai trò
của Nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam Đề tài cấp nhà nước KX.03.04: Cơ
chế thị trường và vai trò của Nhà nước trong quản lý nền kinh tế nước ta hiện nay, một đề tài thuộc Chương trình KX.03 do GS.TSKH Lương Xuân Quỳ
chủ nhiệm, trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước Tây Âu, Đông
Âu, Nga và các nước trong khu vực đã chỉ rõ vai trò của Nhà nước và những việc Nhà nước cần làm, nên làm trong điều kiện Việt Nam chuyển từ nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường Đây có thể xem như một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về vai trò của Nhà nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam Tuy nhiên, công trình mới dừng ở việc nghiên cứu nhà nước đóng vai trò gì khi chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường
Các vấn đề về quản lý nhà nước đối với nền kinh tế tiếp tục được nghiên cứu và giới thiệu trong các tài liệu như: Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Phân cấp quản lý nhà nước…vv Đề tài KX.01.09: “Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” thuộc Chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước giai đoạn 2001-2005 (KX.01) do GS.TSKH Lương Xuân Quỳ làm chủ nhiệm đã nhấn mạnh đến yêu cầu cải cách thể chế như là một trong những điều kiện tiên quyết đảm bảo hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Cũng trong giai đoạn 2001-2006, nhiều công trình nghiên cứu về quản
lý nhà nước và đổi mới bộ máy nhà nước được thực hiện, tiêu biểu như Đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của cơ quan hành
Trang 14chính nhà nước các cấp của tác giả Nguyễn Khánh (2003); Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam (2004); Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Ngọc Hiến (2001); Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam của tác giả Nguyễn Phước Thọ (2001); Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của quốc hội và chính phủ trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do dân và
vì dân của tác giả Trần Ngọc Đường (2004)vv Những công trình này đã nghiên cứu bản chất, vai trò, chức năng của nhà nước, phương thức quản lý và điều hành của nhà nước trong nền kinh tế thị trường và có thể coi là những tiền đề cho việc nghiên cứu về thể chế kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, nghiên cứu về thể chế kinh tế bắt đầu được quan tâm thực hiện ở nhiều cấp, với nhiều hình thức và mức độ khác nhau
Tại hội thảo khoa học tổ chức tháng 10/2004 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh với chủ đề “Xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, nhiều tham luận của các nhà khoa học đã đề cập đến nội dung của thể chế kinh tế gồm các quy tắc, các chủ thể và các cơ chế thực thi quy tắc Những việc cần làm để xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng được đặt ra
Cuối năm 2006, trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài KX.01.06, PGS.TS Hà Huy Thành đã xuất bản cuốn sách với tựa đề “Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” với nội dung chủ yếu là những quan điểm và giải pháp vĩ mô nhằm hoàn thiện và phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như: đổi mới tư duy, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước; tăng cường tính công khai minh bạch
Trang 15Cũng trong năm 2006, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương đã xuất bản cuốn sách “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” với nhiều số liệu, tư liệu cập nhật và bình luận sâu sắc Cuốn sách đã đi sâu đánh giá thực trạng quá trình xây dựng và vận hành thể chế kinh tế thị trường trong những năm qua ở nước ta và đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế này trong thời gian tới Trước đó, năm 2002, tác giả Đinh Văn Ân và các cộng sự
đã xuất bản công trình nghiên cứu “Thể chế, cải cách thể chế và phát triển –
lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt Nam” Cuốn sách đã đi sâu giới thiệu kinh nghiệm cải cách thể chế của một số quốc gia trên thế giới tiêu biểu cho các nước phát triển, các nước đang phát triển, các nền kinh tế chuyển đổi, đặc biệt là kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường
Đầu năm 2007, nằm trong khuôn khổ dự án “Chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam ” do Viện Khoa học và Xã hội Việt Nam chủ trì, GS.TS Nguyễn Văn Thường và các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu “Tiếp tục điều chính chức năng quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN” Công trình đã phân tích một cách tương đối đầy đủ về thực trạng các chức năng của nhà nước Việt Nam, những chức năng còn chồng chéo, thiếu hiệu quả cũng được đề cập một cách thắng thắn Tuy nhiên, công trình này chỉ đi sâu nghiên cứu phương thức tổ chức bộ máy và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước Các vấn đề về chính sách, pháp luật kinh tế chưa được đề cập một cách thoả đáng
Có thể nói, những công trình nêu ở trên là những công trình đầu tiên nghiên cứu về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Tuy nhiên, nhiều vấn đề về thể chế kinh tế của nhà nước với tư cách là một sản phẩm của nhà nước Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc
tế thì còn tồn tại những vấn đề sau:
Trang 16Một là, chưa gắn thể chế kinh tế với vai trò quản lý nhà nước về kinh tế của bộ máy Nhà nước Với những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, thể chế kinh tế chủ yếu được hình thành trực tiếp trên cơ sở các nguyên lý vận hành của thị trường Thể chế kinh tế của nhà nước là một bộ phận quan trọng nhưng không phải là bộ phận quyết định của thể chế kinh tế do các nguyên tắc thị trường đã xuất hiện và được thừa nhận trong một thời gian rất dài Tuy nhiên, đối với nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam, các nguyên lý thị trường chưa được thừa nhận rộng rãi, thể chế kinh tế của Nhà nước là công cụ hết sức trọng yếu để định hướng cho nền kinh tế thị trường hình thành, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và đặc thù của đất nước Các nghiên cứu trước đây về nhà nước hoặc về thể chế được thực hiện trong bối cảnh chúng ta mới bắt đầu những bước đi đầu tiên của quá trình đổi mới, mô hình phát triển chưa được định hình một cách cụ thể nên chưa chú ý nhiều đến vai trò của Nhà nước trong quá trình hình thành thể chế kinh tế thị trường và thể chế kinh tế của Nhà nước Các nghiên cứu hoặc bàn quá nhiều về bản chất, vai trò, chức năng của nhà nước hoặc đi sâu phân tích thể chế kinh tế nói chung, chưa đề cập thoả đáng đến thể chế kinh tế của nhà nước Chính vì vậy, các kết luận rút ra chưa thực sự làm rõ những đặc thù của thể chế kinh tế nói chung, thể chế kinh tế của nhà nước nói riêng trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế
Hai là, các nghiên cứu tuy đã tìm hiểu kỹ kinh nghiệm của rất nhiều quốc gia trong quá trình xây dựng và cải cách thể chế nhưng chưa có sự đối chiếu,
so sánh giữa thể chế kinh tế đang tồn tại ở Việt Nam với thể chế kinh tế của một nền kinh tế thị trường hiện đại Trong khi đó, Đại hội IX đã nêu rõ và Đại hội X tiếp tục khẳng định phát triển nền kinh tế Việt Nam trở thành nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là một nền kinh tế hiện đại Trong bối cảnh thiếu định hình về mục tiêu hướng tới, các luận giải và kiến nghị sẽ không tạo được sự đồng bộ, hiệu quả Tính khả thi cũng vì thế mà giảm sút đáng kể
Trang 17Ba là, trong quá trình phân tích hiện trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế, các công trình đã có ở trong nước chưa đề cập hoặc đề cập một cách mờ nhạt đến những yêu cầu đăng đặt ra hết sức cấp bách của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế về luật pháp, về khả năng thực thi luật pháp, về các chủ thể tham gia nền kinh tế Nếu như những năm trước đây, chúng ta chuẩn
bị tham gia vào quá trình hội nhập, yêu cầu xây dựng và cải cách thể chế kinh
tế của nhà nước hướng đến mục tiêu phù hợp với những quy chuẩn mà các quốc gia và các tổ chức quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc có quan hệ Tuy nhiên, giữa việc được chấp nhận với việc chứng tỏ được vị thế, năng lực và phát triển bền vững được trong bối cảnh mới là một khoảng cách khá dài Với việc trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới, yêu cầu cải cách thể chế đang đặt ra những vấn đề rất mới, khác hẳn về bản chất Những nghiên cứu đã đề cập đều được thực hiện trước thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, chính vì thế cách nhìn nhận và tiếp cận đối với nhân tố này còn chưa thực sự đầy đủ
Nói tóm lại, các nghiên cứu trước đây về nhà nước, quản lý nhà nước đối với nền kinh tế và thể chế kinh tế đã có những đóng góp hết sức quan trọng về lý luận và thực tiễn cho quá trình đổi mới, tạo ra những tiền đề để tiếp tục nghiên cứu về thể chế kinh tế Tuy vậy, do thực hiện trong bối cảnh đất nước đang trong quá trình chuyển đổi và chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế nền nhiều nghiên cứu chưa đề cập hết những tác động của các nhân tố mới, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội X và việc Việt Nam gia nhập WTO Chính vì vậy, việc đánh giá lại hiện trạng thể chế kinh tế với tư cách vừa là một sản phẩm, vừa là công cụ sắc bén để Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện hiệu quả vai trò của mình trong quá trình chuyển nền kinh tế đất nước sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu thể chế kinh tế của nhà nước Việt Nam để thực hiện hiệu quả vai trò của nhà nước trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 18Trên cơ sở đó, đề tài xác định mục tiêu tổng quát của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng thể chế kinh tế của nhà nước Việt Nam, chỉ ra được những khiếm khuyết, yếu kém của thể chế kinh tế của nhà nước hiện đang tồn tại ở nước ta, từ đó đề xuất các vấn đề cần đổi mới, các giải pháp và điều kiện để hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế
Để đạt được mục tiêu đó, đề tài cần giải quyết được các mục tiêu cụ thể sau:
- Làm rõ thêm những đặc trưng cơ bản của thể chế kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại; yêu cầu và nội dung của thể chế kinh tế của nước ta trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập kinh tế quốc tế
- Đánh giá đúng thực trạng thể chế kinh tế của nhà nước Việt Nam hiện nay Chỉ ra được những điểm phù hợp tích cực, ưu điểm và chưa phù hợp bất cập, yếu kém của thể chế kinh tế hiện tại với yêu cầu của nền kinh tế chuyển đổi và hội nhập và các nguyên nhân dẫn đến việc tồn tại những điểm chưa phù hợp
- Đề xuất được các vấn đề cần đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế của Nhà nước để phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế Phân tích các điều kiện cần thiết đảm bảo thực hiện
có hiệu quả quá trình đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế của Nhà nước Việt Nam đến năm 2020
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thể chế kinh tế cảu nhà nướ trong nèn kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
+ Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
* Thực trạng thể chế kinh tế của Nhà nướ trong những năm đổi mới (từ
1986 đến nay)
* Đề xuất những quan điểm, nội dung và giải pháp hòan thiện thể chế kinh tế của nhà nước trong trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh
tế quốc tế đến năm 2020
Trang 195 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Xét về bản chất, thể chế kinh tế của nhà nước là sản phẩm đặc biệt của nhà nước Đây chính là công cụ để nhà nước thực hiện vai trò và chức năng quản lý kinh tế của mình trong từng giai đoạn phát triển Mặt khác, sản phẩm
ấy được tạo ra cũng phải xuất phát từ nội hàm về vai trò và chức năng quản lý kinh tế của nhà nước trong những điều kiện cụ thể Chính vì vậy khi yêu cầu
về thể chế kinh tế của nhà nước, trước hết cần đặt nó trong mối quan hệ cơ bản giữa nó với vai trò và chức năng quản lý kinh tế của nhà nước
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: phương pháp nghiên cứu so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích so sánh Bên cạnh đó, đề tài đã sử dụng các phương pháp và công cụ nghiên cứu hiện đại như:
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp: phương pháp này được thực hiện trên cơ sở phân tích, đánh giá, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến thể chế kinh tế của nhà nước và thể chế kinh tế thị trường
+ Phương pháp khảo sát thực tiễn và xin ý kiến chuyên gia: đề tài tổ chức khảo sát tại Trung Quốc và một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam, tổ chức hội thảo (lớn và nhỏ) đã thảo luận, thu thập ý kiến của các chuyên gia về đánh giá thực trạng vai trò kinh tế của nhà nước và thể chế kinh tế của Nhà nước
và các điểm, giải pháp hòan thiện
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phục lục,
đề tài gồm 3 chương chính sau:
Chương 1: Lý luận về vai trò kinh tế và thể chế kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại
Chương 2: Thực trạng vai trò kinh tế và thể chế kinh tế của nhà nước Việt Nam trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
Chương 3: Quan điểm, nội dung và các giải pháp hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước phù hợp với đặc thù của nền kinh tế chuyển đổi và hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 20CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI
1.1.1 Nền kinh tế thị trường
Ngày nay người ta không còn phải bàn đến việc Nhà nước có hay không
có vai trò quản lý nền kinh tế Người ta coi vai trò của Nhà nước trong việc quản lý nèn kinh tế như một thực tế hiển nhiên Hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều phát triển theo mô hình kinh tế hỗn hợp, trong đó cả Nhà nước
và thị trường cùng điều tiết các hoạt động kinh tế Không ai có thể phủ nhận tính ưu việt của bàn tay vô hình của thị trường trong việc phân bổ các nguồn lực khan hiếm, cũng như vai trò to lớn của Nhà nước trong việc bổ sung, hỗ trợ và dẫn dắt thị trường Tuy nhiên, cả bàn tay vô hình của thị trường và bàn tay hữu hình của Nhà nước còn đều không hoàn hảo Do đó, vấn đề đặt ra đối với mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ là cần lựa chọn sự phối hợp tối ưu giữa thị trường và Nhà nước, giữa cơ chế tự điều chỉnh của bàn tay vô hình với cơ chế quản lý của Nhà nước nhằm khai thác được triệt để những lợi thế, đồng thời tránh hoặc giảm thiểu được những thất bại của cả Nhà nước lẫn thị trường
* Nền kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường đã có quá trình hình thành và phát triển lâu dài Ngày nay, kinh tế thị trường không chỉ là hình thức tổ chức sản xuất phổ biến ở các nước phát triển, mà còn lan dần sang các nước đang phát triển, có ảnh hưởng to lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của thế giới nói chung, của từng quốc gia nói riêng
Từ điển "Kinh tế học hiện đại" đã định nghĩa kinh tế thị trường là "một kiểu tổ chức kinh tế, trong đó các quyết định về việc phân bổ các nguồn lực sản xuất và phân phối sản phẩm được đưa ra trên cơ sở "thoả thuận tình nguyện về giá cả giữa nhà sản xuất và khách hàng; người lao động và người
sử dụng lao động"2
2 Từ điển Kinh tế học hiện đại, NXB Macmillan năm 1992
Trang 21Trong khi đó, "Đại từ điển kinh tế thị trường" cũng đưa ra một khái niệm về kinh tế thị trường "là phương thức vận hành kinh tế lấy thị trường hình thành do trao đổi và lưu thông hàng hoá làm người phân phối tài nguyên chủ yếu, lấy lợi ích vật chất, cung – cầu thị trường và mua bán giữa hai bên làm cơ chế khuyến khích hoạt động kinh tế và phương thức vận hành kinh tế" Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân được tự do ra quyết định kinh
tế Họ không bị buộc phải làm điều mà họ thấy bất lợi Họ được tự do tự lựa chọn việc làm và quyết định ông chủ của mình; được tự do quyết định chi bao nhiêu và chi như thế nào: mua hàng hoá và dịch vụ nào với số lượng bao nhiêu; dành bao nhiêu thu nhập kiếm được để tích luỹ cho tương lai và đầu tư vào các loại tài sản cụ thể nào Các doanh nghiệp được tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh, qui mô và công nghệ sản xuất, thuê các yếu tố đầu vào; được tự do quyết định giá bán, lựa chọn địa điểm và phương thức phân phối sản phẩm tạo ra Hầu hết quyết định của các cá nhân không xuất phát từ
động cơ đóng góp cho phúc lợi chung của toàn xã hội mà xuất phát từ lợi ích
riêng Giá cả đóng vai trò là công cụ phát tín hiệu để liên kết những quyết
định phân tán đó và làm cho cả hệ thống ăn khớp với nhau
Cạnh tranh là nguyên tắc có tính nền tảng trong nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp phải thường xuyên nâng cao hiệu quả mới có thể đứng vững trong cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà cung ứng để tối đa hoá lợi nhuận Cạnh tranh chính là động lực cho phép các nguồn lực được phân bổ một cách
có hiệu quả nhất Những doanh nghiệp nào yếu kém, thua lỗ sẽ bị phá sản, các nguồn lực sẽ được chuyển sang các doanh nghiệp hoạt động tốt hơn Cạnh tranh và phá sản cũng giới hạn những sai lầm trong kinh doanh Các doanh nghiệp sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm thiết thực từ các vụ phá sản
để kinh doanh tốt hơn Phá sản là sự sàng lọc cần thiết để đào thải những doanh nghiệp yếu kém, làm trong sạch và lành mạnh môi trường kinh doanh Do áp lực cạnh tranh, các doanh nghiệp thuộc bất kỳ hình thức sở hữu nào cũng sẽ sản xuất và kinh doanh có hiệu quả hơn so với trong điều kiện được bảo hộ, che chắn, không có sức ép chia sẽ thị phần từ phía các nhà cung ứng khác
Trang 22Giống như một bàn tay vô hình (thuật ngữ nổi tiếng của Adam Smith),
hệ thống giá cả liên kết hành động của các cá nhân ra quyết định riêng rẽ chỉ tìm kiếm lợi ích riêng cho bản thân họ Nhưng trong khi theo đuổi lợi ích
riêng một cách vị kỷ, thì chính bàn tay vô hình của thị trường sẽ dẫn dắt họ
tạo nên một kết quả nằm ngoài dự kiến là đem lại lợi ích cho xã hội tốt hơn ngay cả khi họ chủ động định làm như vậy vì trong một thị trường cạnh tranh sản phẩm sẽ được cung ứng bởi các doanh nghiệp hiệu quả nhất, có chi phí thấp nhất và phân phối cho những người cần nhất, sẵn sàng trả giá cao nhất Chính vì vậy, hệ thống thị trường tỏ ra ưu việt hơn hẳn hệ thống kế hoạch hoá tập trung: nó phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả theo nghĩa cho phép tối đa hoá phúc lợi của toàn xã hội
Trên thực tế, các nền kinh tế thị trường được thực hiện dưới rất nhiều dạng thức khác nhau, tuy nhiên những dạng thức này đều có những đặc trưng
cơ bản sau:
* Thị trường là cơ sở cho việc phân bổ nguồn lực Các lực lượng cung cầu thị trường cung quyết định giá cả và đến lượt nó giá cả lại là tín hiệu để phân bổ các nguồn lực kinh tế
* Các thực thể kinh tế như các doanh nghiệp các cá nhân được tự do ra quyết định
* Cạnh tranh là nguyên tắc có tính nền tảng trong nền kinh tế thị trường, đảm bảo cho hàng hóa được cung ứng bởi các nhà sản xuất ưu việt nhất và cung ứng cho những người cần nhất
* Trong nền kinh tế thị trường, hàng hoá được tự do lưu thông trên thị trường
* Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng các công cụ luật pháp và chính sách
Ở Việt Nam, câu trả lời cho vấn đề về "thế nào là nền kinh tế thị trường" và "Việt Nam đã có kinh tế thị trường hay chưa?" vẫn còn rất khác nhau Vì thế, cách diễn giải của các bên tham gia các hoạt động thị trường ở Việt Nam về khái niệm này cũng còn rất không đồng nhất
Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam (2001) đã chỉ rõ Việt Nam hiện nay đang đi theo con đường xây dựng "nền kinh tế thị trường" Tuy
Trang 23nhiên, điều khác biệt của kinh tế thị trường ở Việt Nam, so với các nền kinh tế thị trường khác là ở chỗ nó mang tính "định hướng XHCN" Cũng tại Đại hội
này, bản chất của kinh tế thị trường ở Việt Nam đã được diễn giải là: "Một
kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo quy định của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của
"phát triển lực lượng sản xuất, phát triển nền kinh tế, để xây dựng cơ sở vật
chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân"; còn tính
định hướng XHCN của nền kinh tế đó "được thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu,
tổ chức quản lý và phân phối" nhằm mục đích cuối cùng là đạt được "dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội do nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hoá, có kỷ cương, xoá bỏ áp bức và bất công, tạo điều kiện
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, được xác định là nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước nhằm đạt tới mục tiêu đưa đất nước trở thành một quốc gia dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
Trong khi đó, nhiều nước tư bản phương Tây và nhiều nhà kinh tế vẫn cho rằng ở Việt Nam, các điều kiện để phát triển nền kinh tế thị trường vẫn chưa được đảm bảo đầy đủ Ví dụ, theo văn bản chính thức của Uỷ ban Châu
Âu gửi chính phủ Việt Nam nói về "tư cách nền kinh tế thị trường", thì Việt Nam chưa được coi là nước có nền kinh tế thị trường Cũng theo Uỷ ban Châu
Âu, để được công nhận là nước có nền kinh tế thị trường, Việt Nam cần đáp
ứng 5 tiêu chí khác nhau (xem Hộp 1.1)
3 Văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001, tr.86-80
4 Đảng Cộng sản Việt Nam - Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 NXB "Sự thật",
Trang 24Hộp 1.1: Các tiêu chí xác định tư cách "kinh tế thị trường"
(1) Mức độ ảnh hưởng (thấp) của chính phủ đối với việc phân bổ các nguồn lực và các quyết định của doanh nghiệp, bất kể là trực tiếp hay gián tiếp, chẳng hạn: thông qua việc nhà nước quy định giá cả trên thị trường, áp dụng chính sách phân biệt đối xử trong thuế, thương mại hoặc tiền tệ;
(2) Không có hiện tượng nhà nước can thiệp, bóp méo hoạt động của doanh nghiệp ("tàn dư" từ hệ thống cũ) liên quan đến quá trình tư nhân hoá; Không sử dụng hệ thống thương mại phi thị trường (ví dụ: hàng đổi hàng) và không áp dụng các chế độ bao cấp;
(3) Ban hành và thực thi luật doanh nghiệp bảo đảm tính minh bạch, không phân biệt đối xử, tạo điều kiện phù hợp cho quản lý doanh nghiệp (áp dụng các tiêu chuẩn kế toán quốc tế, bảo vệ cổ đông, đảm bảo tính sẵn có và chính xác của thông tin doanh nghiệp);
(4) Ban hành và áp dụng một hệ thống luật thống nhất, hiệu quả và minh bạch đảm bảo tôn trọng quyền sở hữu tài sản và đảm bảo sự vận hành của cơ chế phá sản doanh nghiệp;
(5) Tồn tại một khu vực tài chính đích thực, hoạt động độc lập với nhà nước, về mặt luật pháp cũng như trên thực tế, chịu sự điều chỉnh của các quy định bảo lãnh đầy đủ, chịu sự giám sát một cách thoả đáng
(3) Mức độ cho phép cho các liên doanh hoặc các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài tại quốc gia này
(4) Mức độ nhà nước sở hữu và kiểm soát các phương tiện sản xuất (5) Mức độ chính phủ kiểm soát đối với việc phân bổ nguồn lực và các quyết định về sản lượng và mức giá của doanh nghiệp
(6) Các nhân tố khác như mức độ thực thi quyền lực của nhà nước được giới hạn ở mức độ hợp lý
5 Dẫn từ văn bản "Ý kiến của chính phủ Việt Nam về tư cách nền kinh tế thị trường trong các cuộc điều tra
chống bán phá giá đối với Việt Nam" Bộ Thương mại, dự thảo ngày 27 6-2005
6 Nguồn: Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội
Trang 25Những mâu thuẫn về quan điểm nói trên là điều dễ hiểu, vì Việt Nam hiện đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, nhiều yếu tố thị trường đang trong giai đoạn hình thành, còn rất sơ khai Hơn thế nữa, cho đến nay, trên thế giới, mô hình "kinh
tế thị trường định hướng XHCN" chưa hề có tiền lệ cả về phương diện lý luận
và trên thực tiễn
* Nền kinh tế thị trường hiện đại
Như chúng ta đã biết kinh tế thị trường đã trở thành mô hình kinh tế phổ biến trên toàn thế giới hiện nay Tuy nhiên, trình độ phát triển của các nền kinh tế thị trường rất khác nhau giữa các nước Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu nền kinh tế thị trường ở các nước công nghiệp phát triển hiện nay
là hình ảnh của một nền kinh tế thị trường hiện đại Các đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế thị trường hiện đại bao gồm:
* Thế giới có tư duy mới về phát triển: Tư duy này bắt nguồn từ việc đặt ra các mục tiêu khác nhau cho tăng trưởng kinh tế: tăng trưởng bền vững; tăng trưởng xanh; tăng trưởng lệch;… Điều này đưa đến các mâu thuẫn, thậm chí xung đột trong việc lựa chọn chính sách, xây dựng thể chế kinh tế của Nhà nước
* Quan hệ thị trường đã phát triển rộng rãi và sâu sắc đến mọi yếu tỗ và lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội Không chỉ dừng lại trong lĩnh vực kinh
tế, quan hệ thị trường còn mở rộng sang các lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học và giáo dục
* Lĩnh vực tài chính tiền tệ phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò càng càng quan trọng và mang tính quyết định đến sự phát của nhiều quốc gia và cả hệ thống kinh tế toàn cầu Các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á năm 1987-1988 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đã gây ra các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu sau đó
* Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế là các đặc điểm nổi bật của các nền kinh tế thị trường hiện đại Những tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỹ thuật cùng với vai trò ngày càng tăng của các công ty đa quốc gia đã thúc đẩy mạnh
Trang 26mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm cho lực lượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ Tất cả các nước trên thế giới đều điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa: giảm dần và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan
và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, luân chuyển các yếu tố sản xuất như vốn, lao động và kỹ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn Các công ty đa quốc gia nắm những nguồn lực to lớn về tài chính, khoa học công nghệ, nhân lực cao cấp, chi phối các ngành quan trọng của thế giới
1.1.2 Vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại
Câu hỏi đặt ra là nếu thị trường tự do cho phép phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả thì tại sao Nhà nước lại cần can thiệp vào các hoạt động kinh tế Tại sao các nước không thực hiện một chính sách hoàn toàn tự do (laisser-fair) để thị trường quyết định tất cả? Các nhà kinh tế đã khẳng định rằng mặc dù không thể thay thế thị trường, nhưng Nhà nước có thể làm cho thị trường vận hành tốt hơn
Ngay trong học thuyết bàn tay vô hình của mình, Adam Smith không hề
phủ nhận vai trò của Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường Trong tác
phẩm Của cải của các dân tộc, ông đã giới hạn vai trò của Nhà nước trong ba
chức năng:
- Bảo vệ tổ quốc, chống lại các lực lượng thù địch từ bên trong và bên ngoài
- Thực hiện vai trò của người trọng tài, đem lại quyền tự do, bình đẳng
cho mọi cá nhân Vai trò này gắn với hai nhiệu vụ cụ thể: Thứ nhất, bằng hệ
thống pháp luật của mình, Nhà nước phải đảm bảo các quyền căn bản cho mọi công dân mà trước hết quyền sở hữu cá nhân cũng như những điều kiện có tính nền tảng khác như: tự do kinh tế, ngôn luận, tín ngưỡng, chính trị, tự do
ký kết hợp đồng, tự do cư trú ; Thứ hai, Nhà nước phải thông qua hệ thống
pháp luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội, hạn chế và khắc phục những thủ đoạn gian lận, cạnh tranh không lành mạnh
- Cung cấp hàng hoá công cộng
Ngoài ba chức năng cơ bản đó, theo A Smith, tất cả các vấn đề còn lại
Trang 27đều có thể được giải quyết một cách ổn thoả và nhịp nhàng thông qua bàn tay
vô hình của thị trường
Tuy nhiên, chỉ kể từ khi xuất bản tác phẩm Lý thuyết tổng quát về việc
làm, tiền tệ và lãi suất của J M Keynes (1936), quan điểm ủng hộ Nhà nước
có vai trò can thiệp vào các hoạt động kinh tế mới được chấp nhận một cách rộng rãi Lịch sử cũng đã chứng minh các nền kinh tế thị trường thành công đều không phát triển một cách tự phát mà không có sự can thiệp và hỗ trợ của Chính phủ Một lý do là bàn tay vô hình cần được Chính phủ bảo vệ bởi vì thị trường chỉ vận hành tốt nếu như quyền sở hữu được tôn trọng Doanh nghiệp
sẽ không sản xuất nếu như chủ doanh nghiệp tin rằng sản phẩm tạo ra sẽ bị người khác chiếm đoạt, nhà hàng sẽ không phục vụ nếu họ không được bảo đảm rằng khách hàng sẽ trả tiền sau khi ăn Tất cả chúng ta đều dựa vào công
an và tòa án do chính phủ cung cấp để thực thi quyền của chúng ta đối với những thứ do chúng ta tạo ra
Một lý do khác cần đến Chính phủ là mặc dù thị trường thường là một phương thức tốt để tổ chức hoạt động kinh tế, nhưng quy tắc chung này cũng
có những ngoại lệ quan trọng Trong một số trường hợp, bản thân thị trường không thể mang lại những kết quả đáng mong muốn cho toàn xã hội Khi điều
này xảy ra, các nhà kinh tế nói rằng thị trường đã thất bại Các lý thuyết ủng
hộ sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế thường đều tìm cách giải thích
các nhân tố gây ra thất bại thị trường
Thuật ngữ thất bại được đề cập ở trên có thể dễ gây hiểu nhầm Thất bại
thị trường không có nghĩa là không có điều gì tốt đẹp được thực hiện, mà nó chỉ hàm ý rằng những kết quả tốt nhất lẽ ra có thể đạt được lại không được thực hiện
Thuật ngữ "thất bại thị trường" thường được sử dụng trong hai tình
huống Thứ nhất, thất bại thị trường xuất hiện do thị trường không thể phân
bổ các nguồn lực của xã hội một cách hiệu quả Thứ hai, thất bại thị trường
được thể hiện ở những hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu xã hội bên
Trang 28cạnh mục tiêu hiệu quả kinh tế
Thất bại trong việc phân bổ các nguồn lực có hiệu quả
Có năm nguyên nhân chính làm cho thị trường vận hành không hiệu quả,
đó là:
(a) Cạnh tranh không hoàn hảo: Lý thuyết bàn tay vô hình của Adam
Smith về việc phân bổ có hiệu quả các nguồn lực xã hội dựa trên giả thiết về thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nghĩa là một thị trường trong đó:
- Không có người bán và người mua khống chế được giá cả;
- Sự tham gia vào hay rút lui khỏi thị trường là tự do, với chi phí thấp;
- Người mua và người bán có thể tiếp cận đầy đủ thông tin thích hợp cho các quyết định kinh doanh và tiêu dùng của mình
Trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường sẽ đạt được hiệu quả
Pareto (các nguồn lực sẵn có được phân bổ tối ưu, có lợi nhất cho cả xã hội
theo nghĩa: không còn cách phân bổ nào khác cho phép tăng thêm lợi ích cho
ai đó trong xã hội mà không làm tổn hại đến một người nào khác)
Trong thực tế quá trình tích tụ và tập trung tư bản có thể dẫn đến độc quyền hoặc các hình thái kiểm soát thị trường ở những mức độ khác nhau Trong trường hợp độc quyền, doanh nghiệp có thể tăng giá cao và thu được lợi nhuận siêu ngạch Họ ít có động cơ cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến tổ chức, quản lý nhằm hạ giá thành, tăng chất lượng sản phẩm và nâng cao chất lượng phục vụ Trái lại, họ luôn có xu hướng dành một nguồn lực đáng kể để che chắn, bảo vệ vị thế độc quyền của mình trên thị trường thông qua việc vận động hành lang các quan chức Chính phủ hoặc tìm cách tiêu diệt các đối thủ cạnh tranh muốn gia nhập thị trường Để hạn chế độc quyền và khuyến khích cạnh tranh, hầu hết các nền kinh tế thị trường đều thông qua đạo luật chống độc quyền
(b) Hàng hoá công cộng: Hàng hóa công cộng có hai đặc tính: tính
Trang 29không cạnh tranh trong tiêu dùng7 (nonrivalness) và tính không loại trừ8(nonexcludability) Do vấn đề người sử dụng miễn phí, nên khu vực tư nhân
không có động cơ cung ứng hàng hoá công cộng
Quốc phòng là một ví dụ chứng tỏ vai trò tối quan trọng của Nhà nước
Sử dụng hàng hoá này mọi người không trả tiền cho mỗi đơn vị sử dụng mà mua nó trong tổng thể hoặc trong khuôn khổ chung của cả nền an ninh quốc gia Ở đây bảo vệ cho một cá nhân không có nghĩa là giảm khả năng bảo vệ cho những người khác bởi vì tất cả mọi người sử dụng các dịch vụ quốc phòng một cách đồng thời Loại hàng hóa công cộng kiểu quốc phòng của toàn dân như vậy không một doanh nghiệp tư nhân nào có thể bán cho các công dân riêng lẻ và coi đó là nghề kinh doanh thu lãi Đó là nguyên nhân chính giải thích vì sao quốc phòng phải do Nhà nước điều hành, và chi phí cho quốc phòng được lấy từ thuế
Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, hàng hoá công được thể hiện rõ nhất ở hệ thống cơ sở hạ tầng Do tính không thể phân chia của hàng hóa công cộng mà khu vực tư nhân thấy rằng đầu tư vào đây không có lợi, ít nhất trong ngắn hạn Vì thế ở hầu hết các nước, Nhà nước thường bỏ vốn vào xây dựng và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng
(c) Ngoại ứng: Ngoại ứng phát sinh khi hành động của một cá nhân có
ảnh hưởng đến phúc lợi của người ngoài cuộc, nhưng lại không phải trả hoặc được nhận bất kỳ khoản bồi thường nào cho ảnh hưởng này Ngoại ứng có thể
là tiêu cực hoặc tích cực Ngoại ứng tiêu cực điển hình nhất của tăng trưởng
kinh tế là tình trạng ô nhiễm môi trường, tình trạng khai thác quá mức, làm
cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên Các ngoại ứng tích cực bao gồm
các hoạt động tạo ra lợi ích cho những người không tham gia thị trường như hoạt động giáo dục, đào tạo, các hoạt động nghiên cứu và triển khai Trong
7 Việc sử dụng của một người không làm giảm khả năng sử dụng của những người khác.
Trang 30các trường hợp đó, lợi ích và chi phí đối với cá nhân không trùng với lợi ích
và chi phí đối với toàn xã hội Do người mua và người bán bỏ qua ngoại ứng khi quyết định mua và bán, nên trạng thái cân bằng thị trường là không hiệu quả khi có ngoại ứng Điều đó có nghĩa là trạng thái cân bằng đó không cho phép tối đa hoá tổng lợi ích của toàn xã hội Nếu Nhà nước không có biện pháp điều tiết thích hợp, các hoạt động thị trường có ngoại ứng tiêu cực sẽ
‘bùng phát’ quá mức, còn các hoạt động có ngoại ứng tích cực sẽ được cung ứng quá ít
(d) Thông tin không cân xứng: Nhiều khi trong cuộc sống, một số người
có được thông tin nhiều hơn những người khác, và sự khác biệt về thông tin
có thể ảnh hưởng tới sự lựa chọn mà mọi người đưa ra cũng như cách thức tương tác giữa họ với những người xung quanh Sự khác biệt trong việc tiếp
cận kiến thức phù hợp được gọi là sự không cân xứng về thông tin Nghiên
cứu về thông tin không cân xứng cho thấy thêm một lý do nữa mà chúng ta cần phải cẩn trọng với thị trường và có thể đòi hỏi sự tham gia của Chính phủ Khi một số người biết được nhiều thông tin hơn những người khác, thị trường
sẽ thất bại trong việc phân bổ nguồn lực tới những nơi sử dụng có hiệu quả nhất Những người có xe đã sử dụng, nhưng chất lượng còn tốt sẽ khó bán chúng bởi vì người mua ngại sẽ gặp phải hàng xấu Những người ít có vấn đề
về sức khỏe sẽ khó mua bảo hiểm y tế với giá rẻ bởi vì các công ty bảo hiểm xếp họ vào cùng nhóm với những người có nhiều vấn đề về sức khỏe (nhưng
đã được che giấu)
(e) Chu kỳ kinh doanh: Luận điểm trung tâm của học thuyết Keynes là
các nền kinh tế thị trường không thể tự điều chỉnh một cách trôi chảy; tức là chúng không thể đảm bảo mức thất nghiệp thấp và sản lượng cao một cách thường xuyên Trái lại, Keynes cho rằng các nền kinh tế có những biến động lớn là do làn sóng lạc quan hay bi quan thái quá của các doanh nghiệp ảnh hưởng đến tổng đầu tư Sự bi quan trong cộng đồng doanh nghiệp làm giảm mạnh đầu tư, điều này đến lượt nó có thể đẩy nền kinh tế rơi vào một cuộc
Trang 31suy thoái với mức sản lượng thấp và thất nghiệp cao
Một khi kinh tế suy giảm sâu sắc như cuộc Đại Khủng hoảng9, Keynes lập luận, nó không thể bị thủ tiêu nhanh chóng chỉ bởi các lực lượng thị trường Điều này một phần vì các giá cả quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt
là mức lương trung bình không linh hoạt và không thay đổi đủ nhanh khi những cú sốc bất lợi tấn công nền kinh tế Keynes đề cao vai trò quan trọng của các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là sự thay đổi trong chi tiêu Chính phủ và thuế khoá (chính sách tài khoá), và mức cung tiền cũng như các biện pháp kiểm soát lãi suất (chính sách tiền tệ) là cần thiết để ổn định kinh tế vĩ
mô Lập luận của Keynes rằng Chính phủ có thể sử dụng các chính sách ổn định để ngăn chặn suy giảm kinh tế đã được chấp nhận rộng rãi và tư tưởng của ông được coi là một cuộc cách mạng trong kinh tế vĩ mô
Các mục tiêu xã hội khác
Ưu điểm nổi bật của hệ thống thị trường tự do là cho phép phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả Thị trường có thể làm tốt điều đó vì thông tin cần thiết để thị trường vận hành trôi chảy được tiếp nhận từ những cá nhân luôn tìm cách tối đa hoá lợi ích riêng Tuy nhiên, thị trường không thể hoạt động trôi chảy khi thực hiện các mục tiêu xã hội bao quát hơn Một số mục tiêu phần nào mang tính kinh tế, chẳng hạn như phân phối thu nhập một cách công bằng Một số mục tiêu khác hoàn toàn phi kinh tế, đặc biệt là các giá trị mà mọi người cần chia sẻ, chẳng hạn như lòng yêu nước hoặc niềm tin vào tự do Trong mỗi trường hợp nêu trên, thị trường không phải là cách có hiệu quả vì mục tiêu được đưa ra không phải là những thứ có thể trao đổi giữa các cá nhân
Ở những nước đang phát triển, các luận cứ ủng hộ sự can thiệp rộng khắp của Nhà nước còn nhấn mạnh vào các cấu trúc kinh tế đặc thù của các
xã hội lạc hậu, nơi thị trường chưa phát triển và thiếu vắng các nhà quản lý giỏi Trong bối cảnh đó, các nước này không thể bắt đầu quá trình phát triển bền vững nếu không có sự can thiệp và điều phối của Nhà nước
9 Ở Mỹ tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 3,2% năm 1929 lên 25,2% năm 1933 Thất nghiệp duy trì trên 10% suốt cả thập kỷ GNP thực tế giảm 30% giữa năm 1929 và 1933 và cho đến năm 1939 vẫn chưa đạt được mức của
Trang 32Trên cơ sở nhận thức những thất bại của thị trường nêu ra ở trên, Nhà nước thường được khuyến nghị nên thực hiện các chức năng chủ yếu sau đây: (1) Xác lập những điều kiện cần thiết về thể chế và pháp lý cho việc sản xuất và trao đổi hàng hoá và dịch vụ, bao gồm cả khuôn khổ pháp luật để bảo
vệ quyền sở hữu và trách nhiệm thực hiện hợp đồng
(2) Hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài khoá, tiền tệ, thu nhập và tỷ giá hối đoái
(3) Cung cấp cơ sở hạ tầng vật chất, bao gồm đường bộ, đường sắt, và cung ứng các dịch vụ công cộng như giáo dục và y tế
(4) Kiểm soát hoạt động của các công ty tư nhân
(5) Nhà nước tham gia trực tiếp vào sản xuất hàng hoá và dịch vụ
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành một trong những xu thế phát triển chủ yếu của các quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại Những tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỹ thuật cùng với vai trò ngày càng tăng của các công ty đa quốc gia đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm cho lực lượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ Tất cả các nước trên thế giới đều điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa: giảm dần và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, luân chuyển các yếu tố sản xuất như vốn, lao động và kỹ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn Trong
cuốn "Toàn cầu hoá", Roland Blum đã đề cập tới "sự bất lực của Nhà nước
theo khái niệm quốc gia" và cho rằng "Nhà nước ngày càng bị những nhân tố mới của toàn cầu hoá cạnh tranh Đó là các hãng toàn cầu, các tổ chức quốc tế chính phủ hay phi chính phủ cũng như các tổ chức khu vực"10
Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn cho rằng ngay cả trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hoá và của công nghệ thông tin, vai trò của Nhà nước vẫn không giảm, tuy cách thức điều hành có khác trước Nhà nước vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong quản lý đất nước, trong việc hoạch định
10 Roland Blum: Toàn cầu hoá, 2000, tr 33-34
Trang 33và thực thi các chính sách và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mình, dù rằng Nhà nước không còn có khả năng kiểm soát và chi phối
trực tiếp hầu hết các nguồn lực như trước nữa Theo giáo sư Pitman Potter11
“vai trò của Nhà nước trong việc điều hành các quan hệ kinh tế ngày càng bị thách thức mạnh mẽ hơn” Tuy nhiên, ông vẫn khẳng định Nhà nước tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa Theo ông, “Nhà nước vẫn là một công cụ hữu hiệu trong việc điều hoà sự đa dạng của các lợi ích gồm những vấn đề từ quy chế thị trường và tài chính đến sự an toàn của việc làm, chất lượng môi trường, mạng lưới an sinh xã hội, và đảm bảo rằng việc giải quyết những vấn đề trên đây sẽ tăng cường sự thịnh vượng công.”
Như vậy, trong xu thế toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, Nhà nước vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng Nhà nước là người quyết định mức độ tham gia vào toàn cầu hóa, là người đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển công nghệ thông tin Tuy nhiên, cái mới trong bối cảnh toàn cầu hóa và trong sự bùng nổ của công nghệ thông tin là ở chỗ dù Nhà nước vẫn đóng một vai trò to lớn, nhưng Nhà nước đồng thời cũng có rất nhiều hạn chế Nhà nước không thể quyết định mọi thứ, nhất là những thứ nằm trong tay người khác như thông tin, vốn, công nghệ, thị trường Để có được những thứ
đó, Nhà nước không thể không tự mình hiện đại hoá, không thể không mở cửa nền kinh tế với thế giới bên ngoài, tham gia hội nhập quốc tế và khu vực, và mặc dù đóng vai trò quan trọng, Nhà nước cũng không thể không giành một mức độ tự do hoá cao cho các lực lượng thị trường ở ngay bên trong đất nước mình và không thể không tăng cường tính dân chủ, minh bạch để đáp ứng những nhu cầu đa dạng của các nhóm lợi ích đa dạng trong xã hội Đi ngược lại những xu thế đó của thời đại thì cả Nhà nước, nền kinh tế quốc gia và xã hội với tư cách là tổng thể sẽ bị suy yếu, trì trệ, không phát triển được Lúc đó không những không giữ được độc lập dân tộc như trước, mà ngược lại, còn dễ
11 Potter, Pitman, 2000, "Globalization and the State: New Opportunities for APEC in Promoting Economic
Trang 34bị tổn thương và bị phụ thuộc hơn trước
Một thực tế cho thấy là việc quản lý nền kinh tế của một quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa không thể được quyết định một cách độc lập, chỉ tính đến các điều kiện bên trong vì nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô mang tính toàn cầu, nhanh chóng lan truyền giữa các quốc gia thông qua các kênh thương mại, sản xuất, đầu tư và tài chính Trong nhiều trường hợp để đảm bảo cho sự thành công của chính sách, các nước cần phải phối hợp đưa ra một gói các giải pháp đồng bộ và hành động thống nhất trong phạm vi toàn cầu
Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế Trong quá trình này Nhà nước cần đóng vai trò to lớn vì ba lý do Thứ nhất, ngay cả ở các nền kinh tế thị trường đã phát triển, sự can thiệp của Nhà nước là không thể thiếu được để khắc phục các thất bại của kinh tế thị trường và hỗ trợ cho các thị trường vận hành tốt Tuy nhiên, trong trường hợp một nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường như Việt Nam, thị trường có thể hoạt động không hiệu quả bởi các rào cản do chính sách của Nhà nước tạo ra Khi đó, trước hết Nhà nước cần loại bỏ những méo mó của thị trường và xây dựng nền tảng thể chế và pháp lý cho các thị trường ra đời và vận hành tốt nhất Thứ hai, Nhà nước cần chủ động sử dụng kinh tế thị trường để phục vụ
cho mục tiêu của CNXH: phát triển kinh tế bền vững đi đôi với thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội cho mọi người dân Thứ ba, với tư cách là một nước
đi sau có xuất phát điểm thấp về kinh tế, chủ động hội nhập vào khu vực và nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức mà chúng không thể tự giải quyết thông qua bàn tay vô hình của thị trường
Tuy nhiên, vai trò của Nhà nước quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế cần phải xác định lại theo ba định hướng sau Một là, phạm vi can thiệp của Nhà nước cần thu hẹp Vai trò của Nhà nước sẽ phải vừa mang tính chiến lược hơn, định hướng dài hạn hơn, vừa cần loại hẳn tính bao cấp, tập trung vào đúng chức năng vai trò,
Trang 35tạo điều kiện chung, đòn bẩy và động lực Nhà nước cần giảm mạnh nhiệm vụ sản xuất và phân phối hàng hoá và dịch vụ Sự can thiệp của Nhà nước chỉ hợp lý ở những lĩnh vực mà thị trường không cung cấp hoặc cung cấp không hiệu quả Nhà nước cần hạn chế sự kiểm soát trực tiếp các hoạt động kinh doanh của khu vực tư nhân; thay vào đó Nhà nước nên tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô và tạo dựng một môi trường thể chế
và pháp lý, khuyến khích cạnh tranh và tạo sân chơi bình đẳng cho mọi doanh nghiệp và cá nhân tham gia vào các hoạt động kinh tế; và đảm bảo cho mọi người cùng được hưởng lợi từ thành quả phát triển chung của nền kinh tế Hai
là, các công cụ chính sách cần thay đổi Thay vì dựa vào các mệnh lệnh hành chính, chính phủ cần tác động đến các hoạt động kinh tế một cách gián tiếp thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô Ba là, với tư cách là thành viên của WTO, sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế không được trái ngược với quy định của WTO Điều này sẽ giới hạn phạm vi và mức độ can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế Cụ thể, với Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng mà Việt Nam đã cam kết thì đa số các biện pháp trước đây mà Chính phủ Việt Nam áp dụng thì nay thuộc trợ cấp đỏ (trợ cấp bị cấm) Ví dụ: trợ cấp xuất khẩu; trợ cấp để dùng hàng trong nước thay thế cho hàng nhập khẩu; cung cấp nguyên liệu đã được hưởng trợ cấp để sản xuất hàng xuất khẩu; cho vay tín dụng xuất khẩu với lãi suất thấp hơn chi phí, v.v… Trái lại, những biện pháp mà Chính phủ có thể làm (trợ cấp xanh) đó là
sự trợ cấp cho nghiên cứu và triển khai, trợ cấp để đáp ứng tiêu chuẩn môi trường; trợ cấp cho khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ và trợ cấp để phát triển sản xuất kinh doanh ở những vùng lạc hậu Với tư cách là nước đi sau, mới tham gia vào thị trường quốc tế, nhiều doanh nghiệp có thể đứng trước nguy
cơ phá sản nếu như không có một sự bảo hộ cần thiết trước sự cạnh tranh khốc liệt trên cả thị trường trong nước và quốc tế Trong khi chính sách tài khóa chịu nhiều ràng buộc từ các cam kết quốc tế, Chính phủ phải dựa nhiều hơn vào chính sách tiền tệ và tỉ giá hối đoái để hỗ trợ cho các doanh nghiệp
Trang 36trong nước Một vấn đề mang tính nguyên tắc trong việc điều hành chính sách tiền tệ là luôn phải đảm bảo lãi suất thực dương Tuy nhiên, lãi suất không nên quá cao vì lãi suất cao sẽ là gánh nặng đối với các doanh nghiệp và các nhà đầu tư, gây tổn hại cho tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, một chính sách giảm giá nhẹ đồng Việt Nam dường như sẽ có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, sử dụng tốt hơn các nguồn lực hiện có, làm tăng việc làm, sản lượng và thu nhập của nền kinh tế, trong khi không gây sức ép làm tăng lạm phát
Trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam, giống như ở các nền kinh tế thị trường hiện đại Nhà nước cũng có 5 chức năng kinh tế đã nêu ở trên Tuy nhiên, chúng ta cần có thêm những nhận thức mới cụ thể như sau:
- Trong những năm qua Nhà nước ta đã có những cố gắng không mệt mỏi khắc phục sự lạc hậu và yếu kém của hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội Song so với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường, thì hệ thống cơ sở
hạ tầng hiện tại còn thiếu và yếu Theo kinh nghiệm quốc tế Nhà nước có thể khai thông tiềm năng của khu vực tư nhân, không phải với tư cách là một nguồn thay thế, mà là một nguồn bổ sung cho Nhà nước trong việc cung ứng kết cấu hạ tầng và các dịch vụ xã hội Khu vực tư nhân có thể đóng góp theo
hai cách Thứ nhất, tư nhân có thể tham gia trực tiếp vào cung ứng dịch vụ kết cấu hạ tầng để Nhà nước tập trung vào những hoạt động có lợi thế hơn Thứ
hai, khu vực tư nhân có thể đóng góp gián tiếp vào việc cung ứng kết cấu hạ
tầng thông qua việc đóng thuế và Chính phủ sẽ phải dành một tỷ lệ lớn hơn trong ngân sách để đầu tư vào kết cấu hạ tầng và cung ứng các dịch vụ xã hội Nếu không có một khu vực tư nhân lớn hơn, năng động hơn và có khả năng đóng thuế thì các nguồn thu của Chính phủ sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng về các dịch vụ kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội
- Bài học được nhắc đến nhiều nhất từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua là trách nhiệm của Nhà nước trong việc điều tiết và giám sát thị
Trang 37trường Khủng hoảng tài chính chẳng qua là trạng thái phát triển quá nóng, trở nên hỗn loạn của thị trường tự do và vượt khỏi tầm kiềm soát của Nhà nước Nhà nước cần có các biện pháp kiểm tra và giám sát thị trường thường xuyên để có những can thiệp kịp thời và thích ứng, đảm bảo cho thị trường phát triển lành mạnh và ổn định Bên cạnh đó, cũng cần bổ sung và nhấn mạnh sự giám sát của các tổ chức xã hội dân sự để thực hiện quyền của mỗi công dân giám sát mọi động thái, hành vi của ngay bộ máy công quyền mà mình đã lựa chọn, ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực, tham ô, nhũng nhiễu, , đồng thời cũng là sự tiếp sức cho bộ máy công quyền làm chức năng giám sát của mình thêm nhanh, nhạy và hiệu quả hơn
- Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội để đảm bảo cho cả cộng đồng đều được lợi từ thành tựu phát triển chung của nền kinh tế, nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân cùng tham gia phát triển kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Bên cạnh mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững, Nhà nước còn phải đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đảm bảo cho mọi người chứ không phải chỉ một số người được hưởng lợi
từ thành quả tăng trưởng kinh tế chung của đất nước Đây là vấn đề cốt lõi của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một tiêu chí quan trọng bậc nhất để phân định chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội chúng ta cần coi trọng mấy vấn đề sau: + Đảm bảo công bằng về cơ hội làm việc, bình đẳng trong việc sử dụng các nguồn lực phát triển, và được đối xử bình đẳng trong các hoạt động làm
ăn kinh doanh theo pháp luật
+ Đảm bảo công bằng về nghĩa vụ và sự đóng góp cho Nhà nước và cho
xã hội theo pháp luật
+ Đảm bảo công bằng về hưởng thụ các thành quả phát triển chung của đất nước thông qua các chế độ phúc lợi công cộng, các dịch vụ công kết hợp với các chính sách
xã hội dành ưu tiên cho các đối tượng có công, đối tượng bị hụt hẫng trong xã hội
Trang 38- Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên, môi trường và cân bằng sinh thái, đảm bảo sự phát triển bền vững Để thực hiện tăng trưởng bền vững, Nhà nước có vai trò không thể thay thế trong việc bảo vệ môi trường Lý thuyết kinh tế hiện đại đã khẳng định thất bại của thị trường trong việc bảo vệ môi trường bắt nguồn từ thực tế là sản xuất tư nhân gây ra tác động tiêu cực đối với môi trường, và chi phí xã hội không được phản ánh đầy đủ vào chi phí sản xuất nếu chỉ thông qua các lực lượng thị trường Do đó, lượng ô nhiễm luôn có khuynh hướng vượt quá mức “tối ưu” hoặc các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể bị khai thác quá mức, làm giảm tiềm năng tăng trưởng trong tương lai Như vậy, tăng trưởng cao hiện tại chưa hẳn là đáng mong muốn bởi vì chất lượng cuộc sống thực ra có thể không được cải thiện nếu như phúc lợi vật chất có được từ tăng trưởng cao hơn không đủ bù đắp cho tổn hại do môi trường sinh thái bị huỷ hoại; hoặc là mức sống cao hơn của các thế hệ hiện tại được đánh đổi bằng phúc lợi thấp hơn của các thế hệ tương lai Khi đó chúng ta không thể nói đến tăng trưởng bền vững được, và càng không thể nói đến phát triển bền vững được
1.2 THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI
1.2.1 Khái niệm về thể chế
Có nhiều khái niệm về thể chế Người đầu tiên đưa khái niệm về thể chế
là Thorstein Veblen (1914) Theo ông thể chế là "Tính quy chuẩn của hành vi hoặc quy tắc xác định hành vi trong những tình huống cụ thể, được các thành viên trong xã hội chấp nhận và tuân thủ
Sau này A.Schimid (1972) cho rằng thể chế là sự quy định của mối quan
hệ giữa mọi người Trong các mối quan hệ này quyền và trách nhiệm của một người tương quan với quyền và trách nhiệm của nhiều người khác được xác định Tới năm 1990, Douglass C.North, lại cho rằng thể chế là quy tắc của trò chơi xã hội, là những giới hạn được vạch ra để hình thành nên mối quan hệ ràng buộc giữa con người với con người Thể chế bao gồm những ràng buộc chính thức (hiến pháp, luật hoặc các quy định khác…) và cả những ràng buộc phi chính thức (theo phong tục, tập quán, tôn giáo, dân tộc…)
Năm 1995 theo các ông Lin và Nugent thì thể chế là một hệ thống các
Trang 39quy tác hành xử mà con người đặt ra để quản lý và tình hình các quan hệ tương tác giữa con người với nhau và nhờ đó giúp họ hình thành những kỳ vọng về những điều người khác sẽ làm 12
Năm 2003, Ngân hàng thế giới, trong báo cáo của mình về phát triển bền vững trong thế giới năng động đã đưa ra khái niệm về thể chế là "những quy tắc và tổ chức, gồm cả các chuẩn mực không chính tức, phối hợp hành vi con người"13 Hệ thống chuẩn mực chính thức bao gồm: luật pháp, các văn bản quy phạm dưới luật, các thể chế chịu trách nhiệm xây dựng, sửa đổi, thi hành…; còn hệ thống chuẩn mực không chính thức bao gồm cả lòng tin và các giá trị xã hội (trong đó có cả những chuẩn mực lâu đời chi phối hành vi xã hội) đến các cơ chế và mạng lưới phối hợp không chính thức
ở nước ta từ thể chế cũng được sử dụng từ lâu Mang tính phổ cập là khái niệm thể chế được đưa vào cuốn từ điển Việt Nam do Hoàng Phê chủ biên, xuất bản năm 1992 Theo đó, thể chế được cho là "Những quy định, luật lệ của một chế
độ xã hội buộc mọi người tuân theo" Mở rộng ra, tại hội thảo với chủ đề "xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" Do học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 10/2004" 14 cũng xuất hiện cách nói khác nhau về thể chế PGS.TSKH Trần Nguyễn Tuyên cho rằng:"thể chế bao gồm các quy định, quy tắc, pháp luật, điều lệ, chế tài xử lý vi phạm; bộ máy nhà nước từ Trung ương tới địa phương, các yếu tố văn hoá tâm lý, thói quen, trình độ tri thức" Còn GS.TS Đỗ Thế Tùng lại cho rằng thể chế bao gồm những đạo luật, luật lệ, điều lệ, quy tắc, thủ tục, tập quán được thừa nhận chung mà mọi người phải tuân theo; các tổ chức kinh tế và chính trị cùng những định chế của nó và các yếu tố văn hoá hình thành từ thực tiễn" Chú ý tới căn cứ, mục tiêu và nội dung của thể chế, thì PGS.TS Lê Ngọc Tùng cho rằng "nói đến thể chế là nói đến các luật lệ, quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội, các tổ chức vận hành xã hội nói chung, nền kinh tế
12 Dẫn theo “Cải cách chính sách ngoại thương là cải cách thể chế” http://www.phusa.net/kinhte/KT6304-cải cách ngoại thương… htm
13 Báo cáo Ngân hàng Thế giới năm 2003 về phát triển bền vững trong thế giới năng động – Sách tham khảo, NXB Chính trị quốc gia 2003
14 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, kỷ yếu Hội thảo khoa học “Xây dựng thể chế kinh tế thị trường
Trang 40nói riêng và coi học thuyết phát triển, đường lối chính trị và đường lối kinh tế là nội dung quan trọng của thể chế" và TS Nguyễn Khắc Thanh lại định nghĩa "thể chế là con đường là cách thức để đi tới mục tiêu"15
Tới đây, chúng ta thấy rằng ở trong nước cũng như ở phạm vi ngoài nước có nhiều khái niệm về thể chế, song chúng đều hàm chứa những vấn đề mang tính chung nhất dưới đây:
- Thể chế là sản phẩm chủ quan của con người (có thể con người ấy đại diện cho tổ chức, cộng đồng, quốc gia, khu vực hay quốc tế)
-Thể chế được ban hành nhằm vào những mục tiêu cụ thể, nhưng chung nhất là mục tiêu bảo đảm thực hiện ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự, chuẩn mực giá trị của sự phát triển; nếu thể chế tốt sẽ cho phép các thành viên (các chủ thể tham gia) cùng hợp tác làm việc hiệu quả, tránh được nguy cơ bất ổn định, trì trệ, lệch lạc trong phát triển
- Thể chế có 2 loại: chính thức và phi chính thức trong mỗi quốc gia Thể chế chính thức là sản phẩm của nhà nước; phi chính thức của các tổ chức phi nhà nước
- Thể chế gắn chặt với điều kiện cụ thể mà từng thời kỳ phát triển và đặc điểm và yêu cầu phát triển của từng quốc gia, từng cộng đồng
- Mỗi lĩnh vực phát triển của xã hội đều có loại thể chế riêng: thể chế chính trị, thể chế văn hoá, thể chế kinh tế…
- Nội dung của thể chế gồm các yếu tố sau:
a Pháp luật, các quy tắc, tập quán (các luật chơi giành cho các chủ thể tham gia cuộc chơi!)
b Các chủ thể: các tổ chức, cá nhân - cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội, chính trị, các cộng đồng, các doanh nghiệp… và các cá thể khác…
c Cơ chế thực hiện "luật chơi" bao gồm cách thực thi và chế tài
1.2.2 Thể chế kinh tế
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về thể chế kinh tế trên nền của bản chất của chế thế Chúng ta có thê dẫn ra đây 2 cách diễn đạt điển hình và thể chế kinh tế
15 Xem sách đã dẫn trang 14