Tính cấp thiết của đề tài Thực tiễn thành công của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta lãnh đạo khẳng định chỉ có kiên định đường lối đổi mới, chủ động tích cực đổi mới các chính sách
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
KX.02/06-10
“QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM”
BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI
“QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI TRONG CHIẾN LƯỢC KINH TẾ - XÃ HỘI
GIAI ĐOẠN 2011-2020
MÃ SỐ: KX.02.15/06-10
Chủ nhiệm đề tài: TS Lê Duy Đồng
Cơ quan chủ trì : Trường Đại học Lao động-Xã hội
8211
Hà Nội 2010
Trang 2CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
KX.02/06-10
“QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI TRONG TIẾN TRÌNH
ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM”
ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC
“QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI TRONG CHIẾN
LƯỢC KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2011 - 2020
Mã số: KX.02.15/06-10 (15)
Thành viên tham gia đề tài: KX.02.15/06-10 (15)
3 TS Bùi Sỹ Lợi P Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn
đề xã hội - Quốc hội
Thành viên
5 TS Trần Hữu Hân Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Viện
QLKTTW
Thành viên
8 GS TS Nguyễn Thành Độ Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Thành viên
Trang 310 TS Phạm Đỗ Nhật Tân Bộ LĐTBXH Thành viên
Trang 4Danh mục các từ viết tắt
Kí hiệu
BH Bảo hiểm
BHHT Bảo hiểm hưu trí
BHTNg Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH Bảo hiểm xã hội
BTXH Bảo trợ xã hội
BHXHBB Bảo hiểm xã hội bắt buộc
BHXHTN Bảo hiểm xã hội tự nguyện
BHYT Bảo hiểm y tế
BHYTTN Bảo hiểm y tế tự nguyện
CHLB Cộng hoà liên Bang
Trang 5FAO Tổ chức lương thực thế giới
GDP Tổng sản phẩm nội địa
HDI Chỉ số phát triển con người
IDA Hiệp hội phát triển quốc tế
ILO Tổ chức lao động thế giới
KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư
TCXH Trợ cấp xã hội
TCBHXH Trợ cấp bảo hiểm xã hội
TCNCC Trợ cấp người có công
Trang 6TGXH Trợ giúp xã hội
TGXHTX Trợ giúp xã hội thường xuyên
TTLĐ Thị trường lao động
UBTVQH Uỷ ban thường vụ quốc hội
UNICEF Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên hợp quốc
UNFPA Quỹ dân số Liên hợp quốc
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn thành công của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta lãnh đạo khẳng định chỉ có kiên định đường lối đổi mới, chủ động tích cực đổi mới các chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội có nguyên tắc, có lộ trình, và có bước đi thích hợp, phù hợp với các chính sách phát triển kinh tế, tạo điều kiện cho tăng trưởng cao, bền vững mới, ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, giải quyết tốt các vấn
đề An sinh xã hội, phúc lợi xã hội, góp phần giữ vững, ổn định chính trị xã hội của đất nước trong một thế giới đầy biến động và phức tạp hiện nay
Tuy nhiên, trên thực tế, việc đổi mới các chính sách phát triển xã hội
và quản lý phát triển xã hội vẫn còn mang tính thụ động, chưa gắn và đi cùng với đổi mới các chính sách phát triển kinh tế Chính sách xã hội chưa thực sự là tiền đề, là động lực của thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chỉ chú trọng tăng trưởng kinh tế coi là yếu tố quyết định sự thay đổi, phát triển của các chính sách xã hội Mặt khác, trong chừng mực nhất định, tư tưởng bao cấp, ỷ lại và trông chờ Nhà nước, đã làm chậm sự đổi mới các chính sách phát triển
xã hội, không phát huy cao độ tiềm năng của các lực lượng xã hội; làm hạn chế sự tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống xã hội, cơ chế chính sách xã hội chậm đổi mới, nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt
Xuất phát từ đó, Nghiên cứu “Quan điểm và định hướng về chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong chiến lược kinh
tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020.” có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và
số phát triển, các tiêu chí đánh giá, các giải pháp quản lý và dự báo về xu huớng phát triển và khả năng giải quyết
Dưới đây là khái lược về tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:
Trang 8Thứ nhất, có nhiều nghiên cứu về các lĩnh vực phát triển xã hội trong
quan hệ với phát triển nói chung và sự tác động của kinh tế thị trường toàn cầu hoá và hội nhập, như các công trình nghiên cứu của giới khoa học Nga
về tình trạng tách biệt xã hội và bần cùng hoá đối với một bộ phận của dân
cư trước “ liệu pháp sốc” chuyển sang kinh tế thị trường; các giới khoa học Trung Quốc về các vấn đề xã hội ở nông thôn, vấn đề an sinh xã hội, vấn đề phòng chống các rủi ro vv
Thứ hai, nghiên cứu về hỗ trợ phát triển và cứu trợ xã hội đối với các
đối tượng yếu thế, thua thiệt trong xã hội, như các công trình nghiên cứu về người về hưu, về cựu chiến binh, phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, vv
Thứ ba, nghiên cứu chính sách tiền lương, chính sách giáo dục, y tế,
phát triển cộng đồng, dân số, tuổi thọ, gia đình và thế hệ như: các chính sách tạo động lực phát triển qua bài học kinh nghiệm của Singapore dưới thời Lý Quang Diệu làm Thủ tướng; khuynh hướng dân chủ và nhân đạo trong chính sách xã hội những thập kỉ 70, 80 thế kỉ 20 của Thuỵ Điển; của Tô Mát May
E ở Liên Bang Đức
Thứ tư, các nghiên cứu của nhiều nước còn chú ý tới các vấn đề con
người với môi sinh và môi trường, mở rộng sự quan tâm thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước( dịch vụ công) để phục vụ công dân
Thứ năm, nghiên cứu dự báo và chủ động đề ra các giải pháp xử lý
các tình huống phức tạp trong phát triển xã hội, như: tệ nạn xã hội, đói nghèo, bệnh tật, thiên tai, mất cân bằng giới tính, như hội thảo về phát triển khoa học hài hoà trong xây dựng chủ nghĩa xã hội của hai Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Việt Nam; của các nước trong khối ASEAN,
EU và nhiều nước khác
b) Trong nước
Thứ nhất, nghiên cứu những đặc điểm của bước quá độ lên CNXH bỏ
qua chế độ TBCN ở Việt Nam, như: Công trình nghiên cứu của GS.TS Hoàng Chí Bảo, GS.TS Dương Phú Hiệp, GS.TS Nguyễn Duy Quý
Thứ hai, nghiên cứu sự chuyển đổi nền kinh tế và mô hình quản lý
kinh tế ở Việt Nam, từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, phát triển kinh tế thị trường, chuyển đổi cơ chế chính sách, như: Công trình nghiên cứu “ Đổi mới vào phát triển” của Nguyễn Phú Trọng chủ
Trang 9biên”; “ Quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận” của Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo chủ biên; “ Quá trình hình thành và phát triển quan điểm của Đảng ta về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Trần Hậu chủ biên; vv…
Thứ ba, nghiên cứu về đổi mới chính sách kinh tế và chính sách xã
hội, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, kinh tế và xã hội trong phát triển Chủ thể hoạch định chính sách và quyền thụ hưởng, trách nhiệm và nghĩa
vụ, như; công trình nghiên cứu về “ Chính sách quản lý kinh tế” của Ban kinh tế Trung Ương; “ chính sách xã hội và triết lý phát triển xã hội” của GS Phạm Xuân Nam chủ biên
Thứ tư, nghiên cứu về biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp, dân tộc, các
nhóm xã hội và phân tầng xã hội, các chính sách đầu tư phát triển và điều tiết sự phân hoá trong nền kinh tế thị trường như: Các công trình nghiên cứu của Hoàng Chí Bảo, Đức Uy, Nguyễn Thanh Tuấn, Đỗ Nguyên Phương vv
Thứ năm, nghiên cứu về dân chủ hoá ở Việt Nam, đổi mới hệ thống
chính trị xây dựng Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách hành chính và hoàn thiện thể chế luật pháp, như: Công trình nghiên cứu KX.03 về Đảng cầm quyền do GS Đặng Xuân Kỳ làm chủ nhiệm; chương trình KX.04 về Nhà nước pháp quyền do GS Nguyễn Duy Quý làm chủ nhiệm
Thứ sáu, nghiên cứu về văn hoá, văn hoá Đảng, văn hoá chính trị, văn
hoá xã hội, vai trò của văn hoá trong phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá Hồ Chí Minh, về đạo đức xã hội, một bộ phận cốt lõi của văn hoá, như: Công trình nghiên cứu của Hoàng Trinh, Phạm Xuân Nam, Hoàng Chí Bảo, Vũ Khiêu, Đặng Xuân Kỳ, vv
Tuy nhiên, vẫn còn không ít vấn đề đòi hỏi phải tiếp tục được nghiên cứu và xử lý trong thực tiễn cuộc sống, như các vấn đề sau đây:
+ Quan niệm và nhận thức về phạm trù xã hội cần được làm sáng tỏ theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp; bản chất xã hội trong mối quan hệ tự nhiên
- xã hội - con người trong phát triển xã hội và quản lí phát triển xã hội
+ Cần xây dựng quan điểm và định hướng về phát triển xã hội: Nội dung của sự phát triển này và sự liên kết kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; quan hệ giữa quốc gia và dân tộc với các nước trong khu vực và thế giới; giữa truyền thống và hiện đại; giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội
Trang 10+ Cần làm rõ phát triển bền vững đối với xã hội không những là chỉ báo về hiệu quả và triển vọng mà còn đòi hỏi phải gia tăng tính chất và trình
độ nhân văn trong sự phát triển, hướng vào mục tiêu phát triển con người Quản lý phát triển xã hội hiện đại đòi hỏi và khẳng định vai trò, tầm quan trọng của văn hoá quản lý, coi tư duy chiến lược trong năng lực của nhà lãnh đạo quản lý hiện đại như một yếu tố khách quan
+ Xác định rõ vai trò lãnh đạo và quản lý phát triển xã hội, Nhà nước phải đề ra hệ thống quan điểm, định hướng về các chính sách phát triển xã hội, trên cơ sở đó thể chế hoá, pháp luật hoá như là điều kiện tiên quyết tạo động lực cho phát triển xã hội, bảo đảm hài hoà cho sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như của cộng đồng, nhất là trong cộng đồng đa dân tộc, đa tôn giáo
+ Vấn đề phát huy vai trò của nhân dân, của các tổ chức xã hội trong
xã hội dân sự tham gia vào phát triển xã hội, đánh giá chính sách phát triển
xã hội Phương pháp đồng chủ thể, đồng tham gia đánh giá là phương pháp
có hiệu quả thực tế cao, phản ánh một xu thế của phát triển dân chủ và tự quản
+ VÊn đề phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong những tình huống, điều kiện không bình thường về tự nhiên và xã hội là một vấn đề chưa được coi trọng đúng mức và còn bộc lộ nhiều lúng túng, kẽ hở trong quản lý cần được khắc phục
+ Nghiên cứu các điều kiện đảm bảo cho các chương trình, dự án, giải pháp phát triển xã hội nhằm biến khả năng phát triển thành sự phát triển hiện thực, đặc biệt là đối với các vùng chậm phát triển, có nhiều khó khăn
Những vấn đề trên chưa được làm rõ trong những công trình đã được nghiên cứu Vì vậy, để đáp ứng thực tiễn đất nước ta hiện nay, phát triển xã hội trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần thiết phải nghiên cứu thực trạng về phát triển xã hội và quản lý xã hội qua hơn 20 năm đổi mới đất nước, trên cơ sở đó đưa ra các quan điểm và định hướng về các chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
10 năm tới Việc nghiên cứu được tiến hành theo mục đích, nhiệm vụ sau:
3 Mục đích nghiên cøu
- Phân tích cơ sở lý luận về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội và sự vận dụng trong quan điểm, nhận thức, chủ trương, đường lối chính
Trang 11sách về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta qua các thời
2011-xã hội giai đoạn 2011-2020; những đóng góp vào việc bổ sung hoàn thiện cương lĩnh 1991
4 Phương pháp tiếp cận và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Việc nghiên cứu các chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội được thực hiện bằng phương pháp tiếp cận hệ thống đa ngành và liên ngành, tiếp cận vĩ mô (quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước), tiếp cận vi mô (từ nhu cầu của cộng đồng, các giai tầng xã hội, các nhóm xã hội, các hoạt động thực tiễn của cộng đồng và công dân)
- Đề tài tập trung vào những chính sách xã hội liên quan đến lợi ích, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của nhiều đối tượng nhất, cũng như những đối tượng yếu thế cần được bảo trợ và giúp đỡ của Nhà nước và nhân dân Đây
là những chính sách tác động trực tiếp đến kinh tế-chính trị-xã hội, đến sự phát triển của đất nước
- Thông qua khảo sát và tham vấn của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý, thu thập thông tin số liệu từ nhiều nguồn, đề tài sử dụng phương pháp vừa định tính vừa định lượng để xác định các vấn đề trọng tâm trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
Trên cơ sở đó, hệ thống các quan đểm, định hướng các chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Rút ra những bài học kinh nghiệm và những khuyến nghị
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 phần:
Trang 12Phần I: Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội - Cơ sở lý luận và
thực tiễn để xây dựng quan điểm và định hướng về chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta
Phần II: Tác động của các chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội đến đời sống xã hội trong quá trình đổi mới
Phần III: Quan điểm và định hướng về chính sách phát triển xã hội và quản
lý phát triển xã hội trong Chiến lược kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020
Trang 13
PHẦN I PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ XÂY DỰNG QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN
LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
CHƯƠNG I PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ XÃ HỘI
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
I Quan niệm chung về phát triển xã hội
Xã hội theo nghĩa rộng là một cộng đồng người chung sống trên một lãnh thổ có chủ quyền đã hình thành trong lịch sử bao gồm toàn bộ các lực lượng được tổ chức lại theo hệ thống nhất định mà Mác gọi là “tự nhiên thứ hai “ được con người tạo ra Xã hội theo “nghĩa hẹp” là những phương diện
xã hội của đời sống, là hoạt động của một cộng đồng người nhất định, đó là những mặt xã hội liên quan đến sự tồn tại và phát triển của con người, như: việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi trường, gia đình, an sinh xã hội, hòa nhập cộng đồng, tội phạm xã hội, và nhiều vấn đề khác
Như vậy, xã hội phản ảnh những mối quan hệ có tính cộng đồng giữa người và người trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, v.v Qua các hoạt động đó có thể phân tích một cách khoa học sự phát triển xã hội và tính quy luật của nó
Phát triển xã hội là khái niệm về sự phát triển của một cộng đồng người nhất định và theo quy luật phát triển khách quan của xã hội Phát triển
xã hội là phát triển những mặt xã hội, thể hiện qua các chính sách và giải pháp thực hiện các chính sách xã hội Quản lý phát triển xã hội, là những hoạt động đảm bảo cho xã hội phát triển theo đúng quy định pháp luật Sự quản lý đó được thể hiện trên 2 mặt: Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật và các tổ chức xã hội thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thông qua việc giám sát thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội phải bảo đảm các nguyên tắc tiến bộ xã hội, bình đẳng xã hội và công bằng xã hội
Trang 14- Tiến bộ xã hội, phải bảo đảm trên cả 3 mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, trong đó phải kể đến các chính sách xã hội, các chương trình, dự án tác động tới toàn bộ cuộc sống của con người, các hoạt động dịch vụ xã hội đảm bảo theo, mọi người đều được hưởng thụ, các điều kiện sống được nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và kéo dài tuổi thọ
- Bình đẳng xã hội, bảo đảm cho sự hài hòa trong đời sống trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội không phân biệt thành phần và địa vị
xã hội Khi trong xã hội còn sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo, còn đặc quyền đặc lợi thì sự bình đẳng trước pháp luật về quyền lợi và nghĩa vụ là sự bảo đảm cần thiết cho bình đẳng xã hội
- Công bằng xã hội là sự tương xứng giữa người và người trong quyền lợi và nghĩa vụ, bảo đảm vai trò của cá nhân, gắn với địa vị xã hội của họ, Công bằng xã hội chỉ mang tính tương đối, nó phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước Trong xã hội XHCN, công bằng xã hội thể hiện ở nguyên tắc phân phối theo lao động, tiêu chuẩn chủ yếu quyết định địa vị xã hội và quyền được hưởng thụ của con người
Theo ý nghĩa phổ quát, sự phát triển xã hội là sự thay thế một trình độ kinh tế xã hội này bằng một trình độ kinh tế xã hội khác và đấy là kết quả của những thay đổi trong lĩnh vực kinh tế Sự thay đổi đó cũng có thể là sự thay đổi từ hình thái kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác có trình độ phát triển cao hơn như chuyển tiếp từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến, tư bản chủ nghĩa, rồi xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, khi xác định sự phát triển xã hội không chỉ dựa vào các chính sách phát triển trong lĩnh vực kinh tế mà phải đặt trong mối liên hệ những lĩnh vực khác của đời sống con người, đó là các các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội
Trong lĩnh vực xã hội, bằng việc thông qua các chính sách phát triển
xã hội, các quyền và lợi ích căn bản của con người, nhân phẩm và phẩm giá của con người, quyền bình đẳng nam nữ được bảo đảm có ý nghĩa quyết định thúc đẩy sự tiến bộ xã hội cũng như cải thiện điều kiện sống của con người ngày tốt đẹp hơn
Ở nước ta, quá trình hình thành và hoàn thiện các chính sách phát triển xã hội đã và đang làm cho sự phát triển xã hội trở thành định hướng căn bản trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và đã được thể hiện:
1 Chính sách phát triển xã hội thể hiện tính ưu việt của CNXH, là cụ thể hoá mô hình đi lên CNXH với định hướng xây dựng đất nước:” Dân
Trang 15giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, tiến bộ, văn minh” Những khái niệm “ dân chủ”,”công bằng”, “tiến bộ”,” văn minh” nói lên được quan niệm về một xã hội không còn áp bức, bất công, nhân dân làm chủ Một xã hội văn minh không chỉ về vật chất, kĩ thuật mà còn là một nền văn minh nhân bản, toàn diện Nước mạnh thể hiện sự thống nhất giữa CNXH và dân tộc, tăng cường thế và lực của dân tộc, “Dân giàu”, “nước mạnh” là mối quan hệ gắn bó mật thiết, là điều kiện và tiền để, cơ sở cho nhau Sự giàu có của cá nhân đóng góp vào sự phồn vinh của xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân khác vươn lên bằng chính công sức, trí tuệ của mình
2 Chính sách phát triển xã hội là sự cụ thể hoá đường lối, chính sách của Đảng và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong cuộc sống Do các chính sách xã hội giải quyết những vấn đề trực tiếp đời sống con người như: bảo đảm việc làm; bảo đảm an sinh xã hội khi thất nghiệp; đau ốm, bệnh tật, tàn phế, già lão hoặc các rủi ro nằm ngoài khả năng tự giải quyết của mình; bảo đảm được chăm sóc y tế và các dịch vụ cần thiết; bảo đảm quyền học tập miễn phí, chí ít là ở bậc tiểu học và cơ sở Qua đó tạo ra sự công bằng xã hội, tiến bộ xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo
3 Thông qua thực hiện các chính sách phát triển xã hội, nó kiểm định chất lượng của chiến lược phát triển kinh tế xã hội, trước hết là trong các lĩnh vực xã hội thể hiện trong việc gắn kết các chính sách xã hội với việc hình thành cơ cấu xã hội mới; trong việc từng bước xác lập sự vững chắc những nền tảng của một mô hình xã hội hiện đại phù hợp với bản sắc Việt Nam, tạo thành chỗ dựa vững chắc trong quá trình phát triển đất nước theo định hướng XHCN; trong việc giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích cơ bản
xã hội, phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, tăng cường sức mạnh liên kết giữa các giai tầng xã hội để tạo ra những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội và chủ động hội nhập quốc tế
4, Thông qua thực hiện các chính sách phát triển xã hội, giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển thực hiện tiến bộ xã hội, công bằng xã hội, phát triển con người trong từng bước phát triển Các cơ hội phát triển được mở rộng cho mọi tầng lớp dân cư, mọi thành phần kinh tế Giải quyết những hậu quả do những tiêu cực của kinh tế thị trường gây ra như nạn thất nghiệp ở thành thị, thiếu việc làm ở nông thôn, các tệ nạn xã hội, tham nhũng, buôn lậu, phân hoá giàu nghèo vv…
Trang 165 Qua việc đề ra và thực hiện tốt các chính sách phát triển xã hội thể hiện sự trưởng thành và hoàn thiện của hệ thống chính trị Trước hết, đó là nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước về công tác tổ chức, quản lý bộ máy, về đội ngũ cán bộ, công chức để phát huy chức năng của nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong quản lý các mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật; phát huy vai trò đại diện của Mặt Trận Tổ Quốc và các đoàn thể chính trị xã hội trên cơ
sở đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, làm cho dân chủ XHCN ngày càng được mở rộng hơn, sự đồng thuận xã hội được tăng cường Hai là nâng cao tinh thần và ý thức trách nhiệm của người dân, coi mình là chủ thể của xã hội, tự giác và có nghĩa vụ đóng góp vào việc thực hiện các chính sách xã hội, không trông chờ, không ỉ lại vào Nhà nước, vào xã hội, cùng với Nhà nước, cộng đồng chủ động giải quyết những vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế thị trường
Với sự hoàn thiện đó làm cho mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, với Nhà nước ngày càng được cải thiện và củng cố trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, lòng tin của nhân dân với Đảng ngày càng được tăng cường
Trong thời đại ngày nay, các quốc gia tuy có sự lựa chọn những con đường phát triển khác nhau, nhưng xu hướng chung là phát triển xã hội theo chiều hướng tiến bộ bao gồm phát triển xã hội dân sự, phát triển kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền
II Xã hội dân sự với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
1 Xã hội dân sự và vai trò của nó đối với phát triển xã hội và quản
lý phát triển xã hội
1.1 Vài nét về xã hội dân sự
Xã hội dân sự đã hiện diện từ rất sớm, khi con người ý thức được sức mạnh của một tập thể, và đã hợp tác với nhau thành cộng đồng xã hội
Cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người, xã hội dân sự cũng phát triển nhanh chóng với các hình thức tổ chức phong phú
Tuy nhiên, khái niệm xã hội dân sự mới chính thức xuất hiện ở thế kỷ XVI, khi giới học thức ưu tú trong xã hội độc lập với bộ máy quân chủ chuyên chế, nó được phát triển cùng với sự xuất hiện của quá trình đại công nghiệp, mở rộng giao lưu thương mại và sự hình thành kinh tế hàng hoá đã làm thay đổi quan hệ xã hội phong kiến
Trang 17Phương thức sản xuất mới tư bản chủ nghĩa năng suất lao động cao đã tạo ra những khối tài sản lớn của cá nhân, và xuất hiện nhu cầu bảo vệ tài sản của cá nhân và của giai cấp tư sản Giai cấp tư sản hình thành và ngày càng lớn mạnh phá vỡ quyền lực của giai cấp phong kiến và các giáo hội ở châu Âu nhằm bảo vệ các quyền lợi của mình
Các học giả thời kỳ này (1767) đã cho rằng xã hội dân sự là định chế
“đối trọng” với bộ máy cầm quyền phong kiến, nó bao gồm mọi hoạt động của mọi tổ chức vượt lên trên hoạt động của cá nhân hoặc gia đình và nằm ngoài hệ thống chính quyền Như vậy xã hội dân sự được xác định bởi “tính
tổ chức” của các hoạt động đồng thời được tách ra khỏi ít nhất 3 thực thể xã hội khác là chính quyền (Nhà nước), gia đình và cá nhân
Gần đây, theo Liên minh thế giới vì sự tham gia của công dân thì xã hội dân sự là diễn đàn giữa gia đình, Nhà nước và thị trường, nơi các lực lượng xã hội dân sự phối hợp với nhau để thúc đẩy quyền lợi chung Khái niệm về xã hội dân sự đang dần dần hoàn chỉnh, khẳng định sự có mặt của các nhóm xã hội không chính thống, hoạt động không chính thức bên cạnh các tổ chức chính trị xã hội chính thống Xã hội dân sự với tư cách là một diễn đàn nghĩa là một môi trường xã hội phức hợp với những giá trị đa dạng
và các quyền lợi tương hỗ, bao gồm cả những lực lượng tích cực lẫn tiêu cực Vì vậy, có thể thấy Nhà nước, gia đình, và thị trường còn tồn tại đan xen và tương tác nhau giữa nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
Cũng giống như Nhà nước và các định chế xã hội khác, xã hội dân sự được biểu hiện với các hình thức tổ chức khác nhau và được gọi chung là các tổ chức xã hội dân sự
Các Tổ chức xã hội dân sự là các tập hợp tình nguyện của công dân có cùng nghề nghiệp hoặc cùng sở thích hay giới tính… hoạt động vì mục đích bảo vệ quyền lợi của mỗi người Do tính chất phong phú và đa dạng, nên tôn chỉ hoạt động, phương thức hoạt động hình thức tổ chức và tên gọi của các
tổ chức xã hội dân sự cũng rất đa dạng
Ở nước ta khái niệm xã hội dân sự mới được đề cập trong phạm vi nghiên cứu khoa học, cho đến nay chưa có một định nghĩa đầy đủ, chưa có một tên gọi thống nhất; ngoài tên gọi là xã hội dân sự còn có tên gọi xã hội công dân hoặc xã hội dân gian… Tuy còn ý kiến khác nhau nhưng đều khẳng định xã hội dân sự là một thực thể tồn tại khách quan bên ngoài nhà nước và có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Trang 18- Là hệ thống thể chế “phi nhà nước” bao gồm các quan hệ và tổ chức không mang dấu hiệu quyền lực công
- Là các tổ chức dân sự hoạt động không nhằm mục tiêu lợi nhuận (tức là các tổ chức phi sản xuất kinh doanh) ;
- Tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, dân chủ, công khai, minh bạch và đề cao sự đồng thuận, chia sẻ về lợi ích nhằm đạt đến sự cân bằng, hài hoà các lợi ích
- Đa dạng về cách thức và hình thức tổ chức, phong phú về nhu cầu và lợi ích, mục tiêu, quan hệ với các cơ quan, tổ chức khác theo chiều ngang không mang tính hệ thống theo chiều dọc…
Với các đặc trưng nêu trên, xã hội dân sự không chỉ bao gồm các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp mà còn bao gồm cả các
tổ chức, đoàn nhóm khác của cộng đồng và người dân kể cả các đoàn nhóm phi chính thức
1.2 Vai trò của xã hội dân sự
Từ quan niệm trên cho thấy xã hội dân sự có một số vai trò chủ yếu sau:
a) Tham gia vào việc hoạch định và thực thi các chính sách
Vai trò của các tổ chức xã hội dân sự thể hiện trước hết là sự tham gia vào việc hoạch định và thực thi các chính sách phát triển kinh tế xã hội, qua
đó, các tổ chức xã hội dân sự khẳng định được vị trí của nó
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước được coi là chủ thể có vai trò quan trọng, dẫn dắt và đảm bảo cho sự ổn định của phát triển kinh tế Các chức năng cơ bản của Nhà nước gồm:
- Xây dựng thể chế
- Cung cấp các hàng hoá công cộng, khắc phục thất bại của thị trường
- Phối hợp các hoạt động tư nhân và thực hiện việc phân phối lại phúc lợi xã hội…
Tuy nhiên Nhà nước có thể không làm tốt chức năng của mình trong điều tiết kinh tế thị trường với những lý do sau đây:
- Trong các hoạt động “trợ cấp”, “điều tiết” hoặc cung ứng thường bị
lệ thuộc vào lợi ích cục bộ của Nhà nước hoặc của một công chức, một
Trang 19nhóm công chức nhà nước Do đó dẫn đến làm sai lệch khả năng phân bổ nguồn lực xã hội, bóp méo thị trường và làm giảm hiệu quả kinh tế
- Do xung đột lợi ích giữa mục tiêu phát triển chung với quyền lợi của các nhóm xã hội, kể cả các nhà hoạch định chính sách, cho nên khi lựa chọn các mục tiêu giữa ổn định kinh tế vĩ mô và hiệu quả kinh tế, cũng như các mục tiêu xã hội, Nhà nước cũng có thể phạm sai lầm
Thị trường cũng là một chủ thể quan trọng của xã hội bao gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau Hoạt động của các doanh nghiệp tốt sẽ làm cho nền kinh tế vận hành hiệu quả hơn Tuy nhiên, thị trường cũng có những hạn chế điểm yếu hay thất bại, nếu không hướng dẫn tốt, thị trường có thể dẫn tới cạnh tranh, độc quyền, huỷ hoại môi trường, làm phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư và mất công bằng xã hội Để khắc phục những hạn chế nêu trên của cơ chế thị trường cần có sự tác động của Nhà nước cũng như của các tổ chức xã hội dân sự
Xã hội dân sự là phạm trù thứ ba đứng giữa Nhà nước và thị trường,
có khả năng bù đắp những “khoảng thiếu hụt” của cả hai chủ thể nói trên Xã hội dân sự có thể hỗ trợ Nhà nước trong việc làm giảm thiểu hoặc khắc phục các mặt hạn chế không chỉ của Nhà nước mà cả của thị trường
Hoạch định khung khổ pháp luật, thể chế và chính sách là một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước Các chính sách phát triển kinh
tế xã hội là sự tổng hợp các chính sách, biện pháp can thiệp của Nhà nước vào quá trình phát triển xã hội Đánh giá đầy đủ những đóng góp của các tổ chức xã hội dân sự vào biện pháp chính sách là một vấn đề lớn và khó khăn
Việc tham gia, đóng góp công sức hoặc ý kiến của các tổ chức xã hội dân sự vào các chính sách chính là thực hiện chức năng theo dõi và giám sát, phản biện chính sách của dân đối với các cơ quan công quyền, là một kênh quan trọng để thực hiện dân chủ trực tiếp trong phát triển kinh tế xã hội, là một hướng đi tốt để buộc chính quyền phải có trách nhiệm đối với việc quyết định các chính sách và cung cấp dịch vụ công
b) Làm cầu nối giữa Nhà nước với thị trường
Trong quan hệ giữa Nhà nước với thị trường, các tổ chức xã hội dân
sự còn được coi là có khả năng giữ vai trò trung gian, cầu nối và tạo điều kiện để Nhà nước và thị trường gắn bó với nhau hiệu quả hơn Chức năng cầu nối của các tổ chức xã hội dân sự thể hiện ở việc làm trung gian giữa
Trang 20nhà sản xuất và người tiêu dùng dịch vụ xã hội, không chỉ giúp làm giảm chi phí giao dịch mà còn cải thiện được khả năng phục vụ, nâng cao chất lượng của một số dịch vụ xã hội khác
Do tính chất độc lập, tự chủ cao trước pháp luật, xã hội dân sự có thể đóng vai trò điều hoà mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường ngay chính trong quá trình hoạch định và thực hiện các chính sách phát triển xã hội, giúp thiết lập và điều hoà các mối quan hệ giữa các nhóm lợi ích
Thông qua các tổ chức xã hội dân sự, có thể giảm bớt bệnh chủ quan, duy ý chí trong quá trình hoạch định và thực thi các chính sách, bảo vệ được lợi ích cộng đồng
c) Cung cấp một số dịch vụ công
Khi nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng phong phú và đa dạng, Nhà nước khó có khả năng đáp ứng tốt và đầy đủ mọi dịch vụ công Bằng việc đáp ứng nhu cầu của các nhóm dân cư nhỏ, nhất là nhóm người yếu thế, các tổ chức xã hội dân sự có thể hỗ trợ khắc phục sự hạn chế này của Nhà nước, nhiều loại hình dịch vụ công sẽ có thể được cung cấp tốt hơn thay vì chỉ dựa vào các cơ quan cung ứng dịch vụ công của Nhà nước (như các lĩnh vực giáo dục hoặc y tế)
Trong điều kiện hiện nay, khi Nhà nước không thể đủ sức để dảm đương tất cả các dịch vụ công, việc tạo lập các mối quan hệ đối tác với các
tổ chức xã hội dân sự kể cả với khu vực tư nhân là điều cấp bách Đã đến lúc các tổ chức xã hội dân sự không chỉ có vai trò to lớn trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách theo phương thức “xã hội hoá”… do Nhà nước khởi xướng, mà còn có vai trò to lớn hơn trong việc tham gia cung cấp các dịch vụ y tế, nhất là các dịch vụ thuộc lĩnh vực y tế cộng đồng, y tế dự phòng và y tế phục vụ người nghèo
Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, nhiều loại hình dịch vụ giáo dục – đào tạo như: đào tạo nghề nghiệp, bồi dưỡng tay nghề, thực hiện các chương trình xúc tiến việc làm, chương trình tư vấn hỗ trợ khởi nghiệp phát triển kinh tế xã hội, được giao cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp thực hiện đã mang lại hiệu quả hơn…
Việc tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong việc tham gia cung cấp một số dịch vụ công cộng cần phải được phát huy để có thể
Trang 21nhanh chóng lấp đi nhiều khoảng trống về năng lực của Nhà nước và thị trường
Như vậy có thể thấy vai trò rất cần thiết của các tổ chức xã hội dân sự đối với Nhà nước và thị trường Hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự là phương tiện để tạo dựng và phát triển xã hội, một nhân tố đồng thuận của sự phát triển nền dân chủ, góp phần cải thiện hiệu quả và tạo sự ổn định của Nhà nước
Tuy nhiên, các tổ chức xã hội dân sự cũng có những hạn chế Với tính chất là những mối quan hệ và liên kết mềm, tự nguyện, tự quản, không thuần nhất nên dễ xảy ra tình trạng các tổ chức này chỉ chăm lo đến lợi ích cục bộ
mà không quan tâm tới lợi ích toàn xã hội, tạo ra cái “lệ” riêng không phù hợp với pháp luật, chính sách của Nhà nước Do đó, để phát huy tiềm năng của các tổ chức xã hội dân sự, Nhà nước cần giúp đỡ và hỗ trợ tích cực đối với các tổ chức này
2 Các vấn đề đặt ra đối với việc tăng cường vai trò xã hội dân sự ở Việt Nam
2.1 Thực trạng xã hội dân sự ở Việt Nam
Các tổ chức xã hội dân sự đã có từ rất sớm ở Việt Nam Hoạt động của các làng xã với hương ước và các lệ tục nghiêm ngặt là một dạng khác phổ biến của hình thức xã hội dân sự của Việt Nam từ cổ xưa Cho đến nay, cùng với quá trình đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò của các tổ chức xã hội dân sự đã có những thay đổi đáng kể theo hướng cởi mở và minh bạch hơn Nhờ đó, một xã hội dân sự rộng lớn hơn đã xuất hiện với sự nở rộ ngày càng nhiều các tổ chức dưới các hình thức và nội dung hoạt động khác nhau
Mặc dù vẫn chưa có luật riêng về các tổ chức xã hội dân sự, song trên thực tế nhiều loại hình hoạt động của các tổ chức này đã được qui định tại các luật và văn bản qui phạm pháp luật khác như Hiến pháp, Bộ Luật Dân
sự, Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn, Thanh niên, Bình đẳng giới…
Nghị định về dân chủ cơ sở được ban hành đảm bảo quyền cho người dân tham gia vào các quyết định quan trọng liên quan đến đời sống của họ tại các địa phương Tương tự, một số qui chế về hoạt động của các tổ chức nghề nghiệp đã được các cơ quan hữu quan của Nhà nước phê chuẩn như: Nghị định 177/1999/CP của Chính phủ về qui chế cho các quĩ xã hội và từ thiện, Luật khoa học và công nghệ năm 2000 đã cho phép các tổ chức phi
Trang 22chính phủ (NGO) của Việt Nam được đăng ký là các tổ chức khoa học và công nghệ trong khuôn khổ liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA)
Theo hướng đó, tại Nghị định số 88/2003/NĐ-CP của Chính phủ về việc qui định tổ chức, hoạt động và quản lý các Hội Lần đầu tiên, các tổ chức xã hội nghề nghiệp đã được công nhận về mặt pháp lý và theo đó Bộ Nội vụ bằng việc hướng dẫn thực hiện Nghị định này đã bước vào chuẩn bị thử nghiệm cho việc dự thảo Luật về Hội
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu và quản lý xã hội căn cứ vào chức năng và hoạt động chủ yếu đã phân chia các tổ chức xã hội dân sự ở nước ta thành các nhóm: các tổ chức đoàn thể nhân dân (hay là các tổ chức chính trị
xã hội); Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp toàn quốc; các hiệp hội nghề địa phương và các tổ chức phi chính thức đoàn nhóm (các tổ chức tự quản)…
- Các tổ chức đoàn thể quần chúng (tổ chức chính trị- xã hội)
Các tổ chức đoàn thể quần chúng là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bao gồm: Tổng liên đoàn lao động Việt nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam Các tổ chức này có hệ thống từ Trung ương tới cơ sở, hoạt động theo Điều lệ của tổ chức mình và được Nhà nước công nhận và bảo trợ về kinh phí hoạt động (trong đó có lương cho cán bộ, nhân viên)
- Tổ chức xã hội- nghề nghiệp toàn quốc (các hội)
Là loại hình tổ chức xã hội dân sự do Nhà nước đề xuất thành lập theo qui định của Nhà nước Các tổ chức này thường hoạt động theo phương thức
tự quản, không mang tính quyền lực nhà nước
- Các hội nghề nghiệp địa phương (Các Hội ở địa phương)
Là các tổ chức xã hội- nghề nghiệp hoặc các tổ chức xã hội đăng ký với chính quyền địa phương và chỉ hoạt động trong phạm vi một địa phương nhất định Với những tên gọi rất khác nhau, hầu hết các tổ chức này hoạt động thuộc lĩnh vực phát triển với các hình thức đa dạng, phong phú
Các hội nghề nghiệp địa phương có số lượng nhiều nhất so với các tổ chức xã hội dân sự khác và đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng Khác với các tổ chức xã hội nghề nghiệp ở Trung ương, các hội nghề nghiệp ở địa phương thường được thành lập từ dưới lên với qui mô thường là nhỏ
Trang 23- Các tổ chức tự quản: là các tổ chức do dân thành lập
Các tổ chức này hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản trong khuôn khổ pháp luật, Nhà nước không trực tiếp quản lý Đây là hình thức được coi là thích hợp với người dân ở cộng đồng, nhất là trong việc giải quyết những vi phạm pháp luật và những tranh chấp nhỏ trong dân (như là các tổ tự quản, tổ hòa giải…) Các nhóm tín dụng nhỏ, phi chính thức cũng được coi thuộc nhóm này
- Các tổ chức phi chính phủ (NGO) :
Các tổ chức phi chính phủ là các tổ chức phát triển hoạt động theo Nghị định số 35/HĐBT ngày 28-1-1992 của Hội đồng Bộ trưởng Với tư cách là Tổ chức phát triển, việc thành lập các tổ chức này không vì mục đích lợi nhuận
- Các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng:
Các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng phát triển ở cả cấp Trung ương, nhưng chủ yếu ở cấp địa phương (đạo Phật, Thiên chúa, Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành…)
Mặc dù đang còn trong giai đoạn phát triển, nhưng các tổ chức xã hội dân sự ở nước ta đã từng bước khẳng định vai trò của mình trong quá trình phát triển xã hội Vai trò đó được thể hiện ngày càng rõ trong quá trình tham gia của các tổ chức xã hội dân sự vào việc hoạch định và thực thi các chính sách phát triển kinh tế xã hội, lập và thực hiện Luật ngân sách nhà nước cũng như tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ công Thực hiện chủ trương xã hội hóa, với việc triển khai các Nghị định có liên quan của Chính phủ, các tổ chức xã hội dân sự đã tích cực, tham gia cung cấp một số dịch vụ công cơ bản như y tế, giáo dục đào tạo, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh… Đặc biệt trong lĩnh vực y tế, bên cạnh việc Nhà nước mở rộng hệ thống cung cấp dịch vụ y tế, mở rộng khu vực y tế tư nhân, một số tổ chức Hiệp hội cùng tham gia vào quá trình này như Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo… kể cả các tổ chức xã hội dân sự khác như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên…
2.2 Các vấn đề đặt ra đối với tăng cường vai trò xã hội dân sự ở Việt Nam
Từ các kết quả hoạt động nêu trên, các tổ chức xã hội dân sự ở nước ta
đã chứng minh và khẳng định là một lực lượng xã hội to lớn với số lượng
Trang 24hội viên đông đảo, hoạt động dưới các hình thức tổ chức rất đa dạng ở tất cả các cấp từ thôn, bản, làng, xã đến tỉnh, thành và trên phạm vi cả nước Tuy nhiên so với tiềm lực sẵn có của nó, những kết quả này còn khá khiêm tốn, ngay cả ở những nơi mà hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự được coi là tích cực và có ảnh hưởng trực tiếp nhưng trên thực tế vẫn còn là các hoạt động mang tính hình thức hoặc hành chính, chưa thật sự có hiệu quả
Những khó khăn, hạn chế, trong hoạt động của các tổ chức xã hội dân
sự ở nước ta hiện nay là:
- Hạn chế về khung luật pháp: Mặc dù Hiến pháp đã đặt cơ sở pháp lý đảm bảo cho sự ra đời và hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một văn bản luật chính thức đối với các tổ chức này Dự thảo luật về Hội sau nhiều năm chuẩn bị vẫn chưa được thông qua Khung luật pháp hiện nay mới chỉ cho phép một bộ phận là các tổ chức chính trị - xã hội được hưởng quyền tham gia đầy đủ nhất vào việc hoạch định và thực thi chính sách Các tổ chức khác kể cả các hội nghề nghiệp ở cấp Trung ương có rất ít cơ hội để thực thi vai trò này Thậm chí chỉ cho phép các thành viên tổ chức xã hội dân sự tham gia vào việc thực thi các chính sách đã được Nhà nước ban hành, mà không được quyền có tiếng nói trong quá trình hoạch định các chính sách Vì vậy đã tạo khe hở lớn cho
sự tùy tiện của các cấp chính quyền khi triển khai các chính sách
Chính sự thiếu vắng một văn bản luật về Hội đã gây khó khăn cho công tác quản lý các tổ chức xã hội dân sự, một chức năng và cũng là một điều kiện để các tổ chức xã hội dân sự phát huy vai trò của minh trong xã hội, nhất là tham gia đánh giá, phản biện các chính sách Tham gia đánh giá, phản biện các chính sách của Nhà nước là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng, thể hiện vai trò đích thực của các tổ chức xã hội dân sự trong phát triển xã hội, nhưng hiện nay vai trò của các tổ chức xã hội dân sự còn rất hạn chế và
mờ nhạt Điều này một phần do hạn chế về năng lực của các tổ chức xã hội dân sự, nhưng quan trọng hơn là do thiếu vắng cơ sở pháp lý Đó chính là rào cản lớn nhất hạn chế sự tham gia trực tiếp của các tổ chức xã hội dân sự trong việc giám sát và phản biện chính sách, pháp luật
- Khả năng độc lập của nhiều tổ chức xã hội dân sự chưa cao
Mặc dù các tổ chức xã hội dân sự hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, nhưng trên thực tế do nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách quan mà khả năng độc lập của nhiều tổ chức xã hội dân sự chưa cao,
Trang 25còn phụ thuộc quá nhiều vào chính quyền, chỉ có một số tổ chức chính trị-
xã hội được thành lập sớm và nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ Nhà nước mới có được tiếng nói trong xã hội, các tổ chức xã hội dân sự khác vai trò còn mờ nhạt
Chính sự phụ thuộc quá mức vào Nhà nước khiến các tổ chức xã hội dân sự mất đi khả năng độc lập, không làm tốt được chức năng của mình là đại diện và bảo vệ quyền lợi cho các thành viên Nhiều trường hợp các tổ chức này còn bị “hành chính hóa”, không có được tiếng nói độc lập, không thể hiện được vai trò của mình
- Sự phối hợp giữa các tổ chức xã hội dân sự còn hạn chế
Với tính chất là những tổ chức có quan hệ liên kết mềm, mang tính tự nguyện, tự quản không thuần nhất nên dễ xảy ra tình trạng các tổ chức xã hội dân sự chỉ chăm lo đến lợi ích cục bộ mà không quan tâm đến lợi ích toàn xã hội nên đã làm giảm khả năng phối hợp giữa các tổ chức xã hội dân sự Các tổ chức xã hội dân sự thường chỉ tồn tại riêng rẽ, hoạt động theo kiểu mạnh ai nấy làm, nên chưa phát huy được hết tiềm năng to lớn của tổ chức
3 Các yêu cầu đối với tăng cường vai trò của xã hội dân sự đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
Để nâng cao vai trò và phát huy tiềm năng của các tổ chức xã hội dân
sự với tư cách là một chủ thể xã hội tích cực, còn rất nhiều việc phải làm kể
cả từ phía bản thân các tổ chức xã hội dân sự, từ phía các cơ quan nhà nước
và từ phía mỗi người dân Trong số đó, trước hết và chủ yếu là:
* Đổi mới tư duy và nhận thức về bản chất và vai trò của các tổ chức
xã hội dân sự trong điều kiện mới
Mặc dù cho đến nay các tổ chức xã hội dân sự đã hình thành và đóng góp đáng kể vào sự phát triển xã hội nhưng về tên gọi “xã hội dân sự” vẫn chưa được khẳng định, các nhà xây dựng luật pháp, các nhà chức trách vẫn còn coi đây là vấn đề nhạy cảm Vì nhiều lý do khác nhau nên hiện vẫn đang tồn tại các ý kiến rất khác nhau về xã hội dân sự
Đã đến lúc phải khẳng định chắc chắn rằng cũng như kinh tế thị trường, xã hội dân sự là thành tựu phát triển của văn minh nhân loại, mang tính phổ biến Sự phát triển của xã hội dân sự là một xu thế khách quan gắn liền với việc xây dựng nhà nước pháp quyền, hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo điều kiện để người dân được làm những việc mà pháp luật không cấm
Trang 26nhằm thỏa mãn nhu cầu và lợi ích ngày càng phong phú của họ Xã hội dân
sự phát triển làm cho quan hệ xã hội của người dân được tự do, cởi mở hơn, các nhu cầu giao tiếp, liên hệ giữa các cá nhân có điều kiện được thỏa mãn, tính tích cực xã hội của người dân, của đoàn thể và các tổ chức ngoài nhà nước được phát huy mạnh mẽ
Đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi Việt Nam đã là thành viên của
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đang phấn đấu nhanh chóng đáp ứng yêu cầu đầy đủ của một nền kinh tế thị trường theo yêu cầu của hội nhập quốc tế thì sự phát triển của xã hội dân sự càng cần được nhận thức rõ và phát triển mạnh mẽ
* Hoàn thiện môi trường pháp lý tạo điều kiện để tăng cường vai trò của xã hội dân sự trong quá trình xây dựng và thực thi các chính sách phát triển kinh tế- xã hội
Một trong những hạn chế lớn nhất đối với sự hình thành và phát huy tốt vai trò của các tổ chức xã hội dân sự chính là những hạn chế về khung luật pháp và chính sách, trước hết là trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế xã hội, thực hiện luật ngân sách, cung cấp dịch
vụ công cũng như tổ chức quản lý của Nhà nước đối với các tổ chức xã hội dân sự
Đối với một số tổ chức xã hội dân sự được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Nhà nước kể cả về mặt luật pháp, tổ chức và kinh phí thì cần có không gian
“gần với Nhà nước” để thể hiện vai trò của mình trong xã hội Các tổ chức
xã hội dân sự khác tự thân vận động thì không gian phạm vi hoạt động rất hạn hẹp, nhiều tổ chức xã hội dân sự không có diễn đàn để đề xuất ý kiến và nguyện vọng của họ Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng thường thiên về việc tuyên truyền, quảng bá các chính sách của Nhà nước, hơn là chuyển tải các thông tin phản hồi của xã hội dân sự, hoặc để họ trao đổi ý tưởng với nhau, với Nhà nước hoặc với chủ thể khác Trong xã hội cần có cơ chế phản hồi ở tất cả các cơ quan làm chính sách cũng như cung cấp các dịch vụ công của Nhà nước, nhằm phát huy vai trò của các tô chức xã hội dân sự trong việc phát triển xã hội nói chung
* Tạo điều kiện để các tổ chức xã hội dân sự tham gia vào việc cung cấp một số dịch vụ công
Trong khi Nhà nước không thể đủ sức đảm đương tất cả các dạng dịch
vụ công, việc tạo lập các mối quan hệ đối tác với khu vực xã hội dân sự kể
Trang 27cả với khu vực tư nhân là điều không chỉ cần thiết mà còn là rất cấp bách Cần thu hút mạnh hơn các tổ chức xã hội dân sự vào việc thực hiện các chính sách xã hội do Nhà nước khởi xướng, tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ y tế, nhất là dịch vụ y tế cộng đồng, y tế dự phòng và y tế phục vụ người nghèo Đồng thời tham gia vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo,v.v… Việc chuyển giao nhiệm vụ cung cấp một số loại dịch vụ công từ Nhà nước sang các tổ chức xã hội dân sự, các tổ chức phi chính phủ cần được tăng cường để có thể góp phần khỏa lấp đi nhiều “khoảng” trống trong hoạt động của Nhà nước về cung cấp dịch vụ công
III Nhà nước pháp quyền (NNPQ) với phát triển xã hội và quản
lý phát triển xã hội
1 Một số khái niệm cơ bản về NNPQ
Nhà nước thường được dùng để chỉ bộ máy công quyền của một quốc gia, là cơ cấu quyền lực công cộng với các cấu thành cơ bản của nó, như: lập pháp, hành pháp và tư pháp, cùng với các thiết chế và các tổ chức sức mạnh cưỡng chế đi kèm Trong quá trình phát triển của lịch sử đã tồn tại khá nhiều
mô hình nhà nước khác nhau NNPQ là nhà nước có những đặc trưng sau đây:
1.1 Quyền thống trị cao nhất của pháp luật trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đó là biểu hiện quyền lực của nhân dân và tính dân chủ thực sự Luật pháp phải trở thành những quy tắc có tính tối cao và giữ địa vị thống trị trong toàn bộ đời sống xã hội Nó không thể bị huỷ bỏ, sửa đổi hoặc bị tạm ngừng thi hành bởi các văn bản của các cơ quan hành chính, các nghị quyết của Đảng, đoàn thể chính trị xã hội, dù đó là nghị quyết của bất
cứ cấp nào Tất cả các tổ chức Đảng và Đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Nếu có sự khác nhau giữa các văn bản hành chính, các văn bản của Đảng với các đạo luật thì phải thi hành, áp dụng theo đạo luật Nhà nước Đó là điều kiện để đảm bảo tính tối cao của pháp luật; 1.2 Chỉ có nhân dân và người được nhân dân uỷ quyền là có quyền quyết định Hiến pháp và luật Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, những người có chức quyền và mọi công dân đều bị ràng buộc bởi pháp luật Nhà nước thay mặt dân và được sự ủy quyền của nhân dân ban hành luật nhưng không có quyền vi phạm luật, không cho phép có sự lộng quyền, tuỳ tiện, chuyên quyền, ban phát, hàm ơn Một số cơ quan và cá nhân lãnh đạo chính quyền và Đảng còn có lúc coi thường pháp luật là hành vi cần phải lên
Trang 28án và trừng phạt, và đó là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tệ quan liêu, tham nhũng khá phố biến trong bộ máy của Đảng và Nhà nước hiện nay
1.3 Tự do của cá nhân, nhân quyền và lợi ích, danh dự và phẩm cách cá nhân được pháp luật công nhận, là những điều phải được bảo vệ và bảo đảm, không thể xâm phạm Việc đảm bảo và bảo vệ các quyền tự do của cá nhân bằng luật là chức năng quan trọng đặc biệt của NNPQ Nhà nước pháp quyền cần phải đảm bảo nhất quán trong xã hội một nguyên tắc: " Người dân được làm tất cả những gì Nhà nước không cấm", Nhà nước pháp quyền phải tạo ra được một cơ chế pháp lý để ngăn chặn và loại bỏ được mọi vi phạm các quyền công dân đã ghi trong Hiến pháp Một trong những điều kiện đảm bảo các quyền công dân là mở rộng thẩm quyền của công dân trong việc khởi kiện trước toà án đối với tất cả các vi phạm quyền công dân của các cơ quan nhà nước và cơ quan Đảng
1.4 Trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và cá nhân Nó quy định những quy tắc đạo đức trong quan hệ Nhà nước với tính cách là người mang quyền lực chính trị, và công dân với tư cánh là người tham gia thực hiện quyền lực
ấy Nhà nước pháp quyền không những cần phải xây dựng cho các tổ chức của mình những hành lang, những khuôn khổ pháp lý để hoạt động, và chỉ được hoạt động trong khuôn khố pháp lý ấy, nghĩa là đối với chính quyền lại phải áp dụng nguyên tắc: " Chỉ được làm những gì mà luật pháp cho phép", đồng thời chịu trách nhiệm tinh thần, chính trị và pháp lý trước nhân dân do không hoàn thành các nghĩa vụ được giao Trách nhiệm của Nhà nước trước công dân mới chỉ là một mặt của pháp luật, mặt khác cũng cần có quy định
rõ trách nhiệm của công dân phải tôn trọng các quyền lực chính đáng được pháp luật ghi nhận dành cho NNPQ
1.5 Nhà nước pháp quyền phải có những hình thức hữu hiệu thực hiện chức năng tư pháp: kiểm tra và kiểm soát việc thực hiện các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp lý khác Đó là Công an, Toà án, Viện kiểm sát
1.6 Nhà nước pháp quyền phải đảm bảo nguyên tắc hoạt động có đối quyền và đối tác bình đẳng giữa các lực lượng khác nhau trong xã hội
2 Quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” trong các văn bản quốc tế thể hiện bằng tiếng Anh ghi là State of rule of law, do các chuyên gia về Hiến pháp
và luật người Đức và người Áo sử dụng lần đầu tiên vào đầu thế kỷ XIX Từ
Trang 29đó, thuật ngữ này được áp dụng tại nhiều nước với hàm nghĩa là một chế độ của Nhà nước Khi nói đến Nhà nước là nói đến một tổ chức chính trị – xã hội , cơ quan chuyên chính của một giai cấp nắm quyền thống trị về kinh tế Khi nói đến quyền là nói đến hệ thống pháp luật tiêu biểu cho quyền lực của một Nhà nước, cho bản chất của một chế độ
Tại Việt Nam, thuật ngữ “Xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” xuất hiện lần đầu trong văn kiện hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII Đây là điểm mốc quan trọng, đánh dấu sự phát triển trong tư duy và nhận thức lý luận của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đại hội VIII của Đảng tiếp tục đặt vấn đề xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao đạo đức”
Nghị quyết các Hội nghị Trung ương 3, Trung ương 7, Trung ương 8 khoá VIII đã cụ thể hoá những quan điểm trên về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân (thuật ngữ này được nhắc lại nhiều tại các nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng thời kỳ đổi mới) liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng cộng sản lãnh đạo; thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích quốc gia và lợi ích của nhân dân
Đại hội IX của Đảng đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng
Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự khẳng định và thừa nhận nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử Nó không chỉ là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản, mà là tinh hoa, sản phẩm trí tuệ của xã hội loài người, của nền văn minh nhân loại
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định bởi những tiền đề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiền đề chính trị – xã hội là cơ sở lý luận Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 30Nhà nước ta đã có kinh nghiệm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa qua vận hành được hơn 10 năm (từ năm 1994) thực tế cho thấy, các lý thuyết về nhà nước pháp quyền tuy còn nhiều điểm cụ thể khác nhau, song hạt nhân của nó là đảm bảo tính tối cao của pháp luật, nó được định hình từ mối quan hệ giữa pháp luật và quyền lực để hình thành cách thức tổ chức quyền lực, thực thi quyền lực, hạn chế sự lộng hành và tình trạng tuỳ tiện trong quyền lực
Qua nghiên cứu và vận dụng vào thực tế, nhiều ý kiến cho rằng, Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là một hình thức phân công và tổ chức quyền lực nhà nước Trong xã hội đương đại có mô hình Nhà nước pháp quyền tư sản và mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Dù được tổ chức theo mô hình nào thì Nhà nước pháp quyền phải đáp ứng được những yêu cầu cơ bản là: luật pháp phải giữ vị trí tối thượng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội; Nhà nước phải quản lý xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật; nội dung của luật pháp tuỳ thuộc vào bản chất của Nhà nước, của chế độ chính trị Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nội dung của luật pháp phải mang tính nhân văn sâu sắc, phải vì con người, vì sự tiến
bộ của xã hội, phản ánh và phù hợp với các quy luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và con người
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta theo nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công rành mạch và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp,
tư pháp; bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp và pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội; Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; thực hiện chế độ dân chủ nhất nguyên và tăng cường kỷ cương, kỷ luật; Nhà nước tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc gia nhập; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước, sự giám sát của nhân dân và sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận
Chức năng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đối nội và đối ngoại; quản lý việc phát triển kinh
tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ, xây dựng xã hội giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 31Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng ta lãnh đạo
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân đấu tranh chống quan liêu, cửa quyền, chống tham ô, lãng phí, đặc quyền đặc lợi bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, thể chế hoá đường lối của Đảng thành luật pháp, pháp lệnh, chính sách trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Công cuộc đổi mới đã chứng minh Nhà nước ta là trụ cột của hệ thống chính trị, là công cụ thực hiện quyền lực của nhân dân; xác định quyền lực của Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước Sự thống nhất này được xác định trong mối liên hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền dịa phương, trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước
Tổng kết công cuộc đổi mới cho thấy, Nhà nước đã trải qua quá trình phát triển liên tục cả bề rộng lẫn chiều sâu Các vấn đề lý luận về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước đã được vạch ra ngay từ những ngày đầu của công cuộc đổi mới, mang tính định hướng lâu dài cho sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhà nước ta đã từng bước được kiện toàn, từ cơ cấu tổ chức đến cơ chế hoạt động trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp Quản lý nhà nước bằng pháp luật được tăng cường Dân chủ xã hội chủ nghĩa có những bước tiến trên nhiều lĩnh vực, trước hết là về kinh tế, ổn định chính trị xã hội được giữ vững
3 Chức năng, nhiệm vụ của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
Ở nhiều nước cũng như ở nước ta, các cuộc cải cách hành chính, cải cách chính phủ được tiến hành theo hướng dân chủ hóa và hiện đại hóa đều chủ trương điều chỉnh chức năng quản lý của Chính phủ Nhà nước không can thiệp vào hoạt động cụ thể của các cơ sở kinh tế, các doanh nghiệp, dành công sức nhiều hơn cho quản lý xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội
Trang 32Phát triển kinh tế là để đi đến dân giàu, nước mạnh Dân không thể giàu, nước không thể mạnh nếu không xóa được đói nghèo và bất công xã hội, nếu đại đa số nhân dân không được hưởng đúng mức thành quả của sự phát triển, đặc biệt là trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, an sinh xã hội Không thể coi là dân giầu nước mạnh khi nhân dân có mức thu nhập cao hoặc khá cao mà cuộc sống không yên bình, gặp nhiều rủi ro, không có trật tự, kỷ cương xã hội
Ổn định xã hội là một điều kiện cơ bản của ổn định chính trị Ổn định
xã hội thể hiện rõ nét ở sự đồng thuận xã hội và đại đoàn kết toàn dân, nó chỉ được tạo ra và giữ vững trên cơ sở dân chủ và công bằng xã hội, trong một
xã hội được tổ chức và quản lý tốt có đạo đức có sự tin yêu nhau và có kỷ luật, kỷ cương
Quản lý phát triển xã hội hiện nay đòi hỏi phải giải quyết đúng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo đảm chất lượng của sự tăng trưởng, đảm bảo sự phát triển bền vững Trách nhiệm và năng lực quản lý xã hội là
dự báo và chủ động chuẩn bị các chính sách, giải pháp để hạn chế được và vượt qua được những thách thức trên các mặt an ninh, văn hóa, xã hội và môi trường nảy sinh từ phát triển kinh tế thị trường, từ tốc độ cao của tăng trưởng kinh tế, từ những tác động và áp lực của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Sự quản lý của Nhà nước phải nhanh chóng khắc phục sự không hài hòa và thiếu cân đối giữa phát triển kinh tế và xã hội Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường bằng chính sách, cơ chế tạo thành một hệ thống điều tiết
xã hội để bảo vệ người lao động, bảo vệ những người yếu thế và bị thua thiệt trong hoạt động thị trường, xóa bỏ dần sự tồn tại một tỷ lệ cao người nghèo
và cận nghèo trong dân cư, ngăn chặn sự hình thành lớp người nghèo mới trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá Nhà nước, trước hết là Quốc hội và Chính phủ, phải nâng cao năng lực xây dựng và thi hành pháp luật để bảo đảm chắc chắn sự an toàn cho cuộc sống của người lao động, của các tầng lớp dân cư, chống gian lận, lừa đảo và móc ngoặc giữa những kẻ làm ăn phi pháp với quan chức tham nhũng
Quan niệm đúng về quản lý phát triển xã hội là Nhà nước phải lấy việc chăm lo đời sống của người dân làm mục đích tối cao của mình, là lẽ tồn tại của một Nhà nước vấn đề xã hội là vấn đề con người Con người là mục tiêu, là động lực phát triển xã hội Phát triển kinh tế, văn hóa xét đến cùng là
Trang 33vì cuộc sống của người dân Với quan niệm đúng về phát triển xã hội, người lãnh đạo, quản lý xã hội và phát triển xã hội cần xác định đúng vị trí của phát triển xã hội bên cạnh phát triển kinh tế và phát triển chính trị, dành công sức và trí tuệ vào việc xây dựng lý luận phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và đổi mới tư duy, phương pháp và phong cách quản lý phát triển xã hội Xoá bỏ quan niệm coi các vấn đề xã hội là thứ yếu, so với kinh
tế, chỉ chăm lo nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, còn các vấn đề xã hội thì làm dần, có sức đến đâu thì làm đến đấy
Quan niệm đúng về phát triển xã hội không chỉ thể hiện ở nhận thức tư tưởng, mà phải thể hiện rõ ở nội dung các chính sách, cơ chế, giải pháp quản
lý kinh tế - xã hội, ở việc phân phối các phúc lợi xã hội, bố trí thu và chi ngân sách nhà nước, ở cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước để bảo đảm kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát triển xã hội Hiện nay ở nước
ta sự bố trí chi ngân sách nhà nước còn chưa hợp lý giữa các yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế và phát triển xã hội Bộ máy Chính phủ và chính quyền địa phương để quản lý xã hội và phát triển xã hội không đủ mạnh
Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong việc phân phối các phúc lợi
xã hội, nhưng sự công bằng ấy không có ý nghĩa khi các phúc lợi xã hội ngày càng giảm đi, không có những điều kiện thực tế để bảo đảm phúc lợi cần thiết cho nhân dân Vì thế phải kết hợp hài hoà kinh tế và xã hội, phải tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế nhanh và bền vững và sử dụng có hiệu quả và đúng mức các thành quả phát triển để nâng cao phúc lợi xã hội Một nhà chính trị nổi tiếng đã nói đúng: phải xoá bỏ văn minh của nghèo đói, tức là công bằng trong nghèo đói
Nhà nước phải giành phần ngân sách đích đáng bảo đảm thoả mãn được các yêu cầu chính đáng về phúc lợi xã hội đang tăng lên nhanh chóng cùng với tốc độ phát triển kinh tế, trong khi vẫn tồn tại một bộ phận dân cư là những người nghèo, người gặp khó khăn trong cuộc sống
Chính phủ ta chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao là xu hướng tất yếu nhằm mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng, khả năng vật chất và trí tuệ của toàn xã hội để tạo điều kiện nâng cao mức hưởng thụ của nhân dân về phúc lợi xã hội, cũng là
mở rộng các cơ hội cho các tầng lớp nhân dân tham gia bình đẳng vào các dịch vụ công cộng ấy
Trang 34Nhưng xã hội hoá không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước, giảm bớt phần ngân sách nhà nước chi cho các sự nghiệp ấy, trái lại Nhà nước tiếp tục tăng ngân sách cho giáo dục, y tế, bảo đảm tỷ lệ cần thiết của nguồn chi từ ngân sách nhà nước so với tổng chi phí của toàn xã hội, nguồn tài chính công giữ được vai trò chủ lực trong tổng chi phí của xã hội cho các lĩnh vực ấy Trong khi khuyến khích, tạo điều kiện cho việc thành lập và hoạt động của các cơ sở giáo dục, khám chữa bệnh tư nhân, phải nâng cao ý thức phục vụ, năng lực và hiệu quả phục vụ của các dịch vụ công như bệnh viện công, cơ sở y tế công ở các cấp, coi đó là công cụ thực tiễn của Nhà nước để người nghèo, người có thu nhập thấp được hưởng phúc lợi xã hội từ Nhà nước
Trong khi phát triển nền kinh tế thị trường, Nhà nước định rõ trong các lĩnh vực phát triển xã hội, đặc biệt là giáo dục, y tế, an sinh xã hội, những hoạt động nào phải theo nguyên tắc phi lợi nhuận, không áp dụng cơ chế thị trường, không thực hiện cạnh tranh như doanh nghiệp trong thị trường
Nhà nước chăm lo phúc lợi cho nhân dân, cho những người yếu thế, gặp hoàn cảnh khó khăn nhưng quan trọng nhất là thực hiện các giải pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro có thể xảy ra, tạo ra những cơ hội, điều kiện cho người dân phòng tránh và khắc phục rủi ro, phấn đấu vượt qua khó khăn chứ không chăm lo theo cách ban phát, cho không, thụ động cứu trợ, cứu tế khi các rủi ro đã xảy ra
4 Bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
Để thực hiện chức năng phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam cần thiết phải nghiên cứu, làm
rõ những nét đặc thù của Việt Nam, vì đây là một cơ sở đặc biệt quan trọng
để xây dựng Nhà nước pháp quyền đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội có hiệu quả
Trang 35- Đảng và Nhà nước ta phải nghiên cứu, tìm tòi để xác định động lực cho sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Làm thế nào để dung nạp yếu tố xã hội chủ nghĩa vào kinh tế thị trường, nói cách khác, phải hướng lái nền kinh tế thị trường vào quỹ đạo xã hội chủ nghĩa Đây là một vấn đề rất khó chưa có tiền lệ trong lịch sử đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng cơ chế hữu hiệu để thực hiện dân chủ trong Đảng, trong cơ quan Nhà nước, trong xã hội trong điều kiện do Đảng Cộng sản - Đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đây cũng là vấn đề khó cần phải tiếp tục giải quyết cả về lý luận và thực tiễn
- Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta phải thường xuyên đối mặt với những khó khăn, thách thức trong việc giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; phải thường xuyên đấu tranh với
âm mưu và hoạt động chống phá nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Các thế lực thù địch đang ráo riết lợi dụng đường lối mở cửa, lợi dụng sơ hở, yếu kém của ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để gia tăng hoạt động chống phá nước ta Chúng dùng chiêu bài "tự do tôn giáo" "dân chủ', "nhân quyền" và vấn đề dân tộc thiểu số để can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của nước ta, để ép buộc ta phải chấp nhận những điều kiện chính trị (như từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, đòi cho hình thành các tổ chức chính trị, đảng phái đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xoá
bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội)
4.2 Về kinh tế
So với các nước trong khu vực (như Thái Lan, Malaysia, Philippin), Việt Nam có một số vấn đề nổi lên cần tính đến trong quá trình hoạch định
và thực thi đường lối, chủ trương, chính sách phát triển, đó là:
- Nền kinh tế Việt Nam ở trình độ phát triển thấp hơn một số nước trong khu vực
Khoảng cách tụt hậu của Việt Nam so với nhiều nước trong khu vực là rất lớn Nếu so sánh theo chỉ số ngang giá sức mua (PPP), thì Việt Nam cần
10 năm phát triển liên tục với tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 7.2 - 7,5%/năm mới có thể đạt trình độ của Trung Quốc hiện nay, khoảng 15 năm đối với Thái Lan, 20 năm đối với Malaysia, 30 năm so với Hàn Quốc, 40 năm so với Singapore và 50 năm so với Nhật Bản hiện nay
Trang 36Công nghệ kỹ thuật lạc hậu, năng suất thấp, chất lượng hàng hoá, dịch
vụ thấp, năng lực quản lý nền kinh tế (cả ở tầm vĩ mô và vi mô) yếu kém - những yếu tố đó làm cho sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung, của hàng hoá, dịch vụ của Việt Nam trên thị trường khu vực, thị trường thế giới rất thấp Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng cần tính đến khi xây dựng chiến lược phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
Trong khi các nước Thái Lan, Malaysia, Philippin đã trải qua 30 - 40 năm phát triển kinh tế thị trường, đến nay họ đã qua giai đoạn sơ khai, các yếu tố cơ bản của kinh tế thị trường đã hình thành, từng bước hoàn chỉnh, thì Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn đầu - giai đoạn kinh tế thị trường sơ khai, vừa làm vừa điều chỉnh Cho đến nay, Việt Nam chưa có nền kinh tế thị trường đúng với ý nghĩa của nó, vì các yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường chưa hình thành đầy đủ
Nếu xét kỹ, thì từ năm 1986 đến nay và còn tiếp tục trong 10 - 15 năm tới, ở Việt Nam đồng thời diễn ra 3 quá trình lớn: 1 -Chuyển từ cơ chế quản
lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; 2- Chuyển từ sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu lên sản xuất lớn (đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá); 3- Quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới Ba quá trình này đồng thời tồn tại và có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động vào nhau, tạo ra một trạng thái phức hợp về kinh tế, xã hội, đối ngoại và an ninh, quốc phòng Trong trạng thái xã hội phức hợp đó, cùng một lúc chúng ta phải giải quyết bài toán hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều
ấn số mang tính bất định, khó lường mà việc xây dựng chiến lược phát triển
xã hội và quản lý phát triển không thể không tính đến như một cơ sở, một tham số quan trọng
4.3.Về vấn đề văn hoá, xã hội
Việt Nam có 54 dân tộc và 6 tôn giáo lớn Có 2 vấn đề cần tính đến trong quá trình hoạch định và thực thi chiến lược phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội: 1- Mức độ chênh lệch về phát triển giữa các dân tộc rất lớn, hầu hết các dân tộc thiểu số sống rải rác tại các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới có điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu, giao thông ) hết sức khó khăn, số hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao Phân cực giàu nghèo có xu hướng gia tăng; 2- Một số tôn giáo lớn có quan hệ với các thế lực chống cộng ở nước ngoài, và đã từng câu kết với nước ngoài để chống lại chế độ XHCN, chống lại độc lập dân tộc trong quá trình lịch sử Do đó, sự phát triển đất nước theo
Trang 37định hướng xã hội chủ nghĩa chưa thực sự đạt được sự đồng thuận cao trong toàn xã hội An ninh trong vùng tôn giáo, vùng dân tộc thiểu số luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, nếu xử lý không khéo, không kịp thời có thể bùng phát tạo ra mất ổn định chính trị - xã hội
4.4 Vấn đề hậu quả sau chiến tranh
Không giống các nước khác trên thế giới, xã hội Việt Nam vừa trải qua hơn 30 năm chiến tranh ác liệt, để lại những hậu quả xã hội hết sức nặng nề, đòi hỏi phải qua nhiều thế hệ mới khắc phục nổi
Chiến tranh theo kiểu thực dân mới, dùng người Việt đánh người Việt,
đã tạo nên trong lòng xã hội Việt Nam những yếu tố rạn nứt trong quan hệ gia đình, dòng tộc, làng xóm, vùng miền, trong tâm lý và ý thức hệ Những hậu quả chiến tranh về thân thể (thương tật, chất độc hóa học, ), về sinh mạng, những hy sinh mất mát, về tài năng, trí tuệ, tuổi xuân là những tổn thất hữu hình và vô hình mà khi hoạch định chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội không thể không tính đến
Vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh, do khuyết điểm chủ quan, sai lầm, duy ý chí, đất nước rơi ngay vào tình trạng khủng hoảng nặng nề kéo dài tới
10 năm mà những hậu quả của nó phải nhiều thập kỷ mới khắc phục nổi Ngày nay, khi hoạch định chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội, chúng ta vẫn còn chịu ảnh hưởng của những lối tư duy cũ tồn tại trong 10 năm khủng hoảng đó Khắc phục những tàn dư, đó là một cuộc đấu tranh bền bỉ, lâu dài và không kém phần gay go, gian khổ
4.5 Về bối cảnh quốc tế
Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu đang diễn ra với tất cả những thuận lợi
và khó khăn cho nước ta Là một nước nghèo có trình độ phát triển thấp, Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức to lớn trong cạnh tranh kinh tế với các nước có trình độ phát triển cao hơn Đồng thời với cuộc cạnh tranh không cân sức về kinh tế, Việt Nam còn thường xuyên phải đối phó với âm mưu và hoạt động chèn ép, phá hoại, kìm hãm sự phát triển của một số cường quốc Do đó, nhận thức về đối tác, đối thủ cạnh tranh và đối tượng đấu tranh để bảo vệ an ninh quốc gia là một vấn đề cực kỳ khó khăn, phức tạp và rất nhạy cảm Việt Nam cần duy trì và xây dựng quan hệ láng giềng ổn định với Trung Quốc để phát triển Nhưng Trung Quốc thường xuyên thực hiện chính sách hai mặt với Việt Nam (vừa muốn giữ Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc, vừa kìm hãm sự phát triển của Việt Nam và
Trang 38thường xuyên có hoạt động lấn lướt, đe doạ xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam) Việt Nam cần thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ và các nước tư bản phát triển (G7), nhưng lại luôn có những bất đồng về vấn đề dân chủ, nhân quyền
Các nét đặc thù nêu trên cần phải được tính đến như là những nhân tố
có ý nghĩa chi phối quá trình nghiên cứu hoạch định và chỉ đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Nhà nước ta hiện nay và mai sau
IV Kinh tế thị trường với phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội
1 Khái quát một số đặc trưng của phát triển kinh tế thị trường
Xu thế chung hiện nay là ứng dụng mô hình phát triển kinh tế thị trường hiện đại gắn liền với nền văn minh trí tuệ và kỹ thuật, vi điện tử, tin học và nhiều công nghệ, kỹ thuật mới và có đặc trưng là: Nhà nước can thiệp vào hoạt động KTTT để xây dựng các hình thức sở hữu nhà nước, mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài, sử dụng các công cụ kinh tế để điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô nhằm đảm bảo cho lực lượng sản xuất phát triển trên cơ
sở đó tạo cho nền kinh tế có mức tăng trưởng cao và hiệu quả; đồng thời Nhà nước phải có các chính sách và giải pháp về mặt xã hội để trợ giúp, hỗ trợ, nhằm phòng ngừa, khắc phục những hậu quả đối với các tầng lớp yếu thế trong xã hội Đặc trưng và đặc điểm của nền kinh tế thị trường hiện đại này là:
- Hình thành và phát triển cao độ các loại thị trường bao gồm: thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường công nghệ thị trường thông tin, thị trường bất động sản nền kinh tế vận động theo những quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh; chủ thể kinh tế có tính độc lập, tự chủ ra những quyết định phi tập trung hóa; Thị trường có vai trò quyết định trong phân phối các nguồn lực kinh tế, quyết định giá cả; Nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô để giảm bớt những tiêu cực của thị trường
- Nền kinh tế dựa trên cơ sở đa dạng về hình thức sở hữu, trong đó có
sở hữu của Nhà nước, cho nên nền kinh tế bao gồm nhiều thành phần kinh
tế, cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, là nền kinh tế mở và hội nhập
Trang 39Với các đặc trưng trên của kinh tế thị trường cho thấy tính 2 mặt của
nó Xét về mặt tích cực, với tự do hóa kinh tế, đa dạng hóa sở hữu, vai trò con người được phát huy cao độ về năng lực sáng tạo, tài năng và trách nhiệm tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế cao, năng suất lao động cao, thu nhập cao Đây là điều kiện để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Những mặt trái của
nó, khi nền kinh tế phát triển không lành mạnh, các nguồn tài nguyên xã hội không được phân phối đúng, sẽ dẫn đến phân hóa giàu nghèo; khuyến khích lối sống thực dụng, vị kỷ, chạy theo đồng tiền, hạ thấp giá trị đạo đức.v.v , đặc biệt khi suy thoái kinh tế, nạn thất nghiệp gia tăng, các đối tượng yếu thế của xã hội sẽ rơi vào tình trạng nguy cấp Điều này dẫn đến khủng hoảng xã hội Vì vậy, tính tích cực và tiêu cực của KTTT tác động rất mạnh đến sự ổn định và phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Ở đây vai trò của Nhà nước có vị trí rất quan trọng, bằng việc đưa ra thực thi các chính sách như thuế, tiền trợ cấp.v.v phân phối lại thu nhập quốc dân làm cho cho phân phối thu nhập đồng đều hơn; thông qua can thiệp của Nhà nước kích thích đầu tư và tiêu dùng để đảm bảo có đầy đủ công ăn việc làm; phát triển các công trình phúc lợi xã hội, các chính sách BHXH, trợ cấp thất nghiệp, bảo đảm mức sống thống nhất cho nhân dân sẽ là lưới đỡ, bảo đảm cho kinh tế thị trường phát triển, cũng là bảo đảm cho phát triển xã hội
2 Phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
Ở Việt Nam, trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta chủ trương chuyển nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, dựa trên chế độ công hữu dưới hai hình thức quốc doanh và tập thể là chủ yếu, sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (nói gọn là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa)
Theo chủ trương này, chúng ta sử dụng cơ chế thị trường với tư cách
là thành quả của nền văn minh nhân loại làm phương tiện để năng động hoá
và đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế Nhưng chúng ta không chủ trương rập khuôn theo mô hình kinh tế thị trường tự do – dù là theo lý thuyết của chủ nghĩa tự do cổ điển hay chủ nghĩa tự do mới - để mặc cho các quy luật khắc nghiệt của thị trường điều tiết sự phát triển xã hội Chúng ta chú ý tham khảo và tiếp thu có lựa chọn những kinh nghiệm cụ thể của mô hình xã hội dân chủ trong việc thực hiện một số chính sách phúc lợi công cộng, nhưng
Trang 40không sao chép mô hình đó Từ đó, xác định kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của thị trường vừa dựa trên những nguyên tắc, bản chất của chủ nghĩa xã hội Nó là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội, trong đó quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng gắn với thị trường và thông qua thị trường dưới sự quản lý, điều tiết của Nhà nước Điều này cho thấy Đảng ta đề cao vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường nhằm: “Kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ
xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân Coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế”
Trải qua thể nghiệm trong thực tiễn đổi mới đã hình thành những định hướng về phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như sau:
Thứ nhất, phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng đòi hỏi phải có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững
Bởi lẽ chỉ có một nền kinh tế như thế thì mới có khả năng huy động các nguồn lực vật chất cho việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Không thể có một xã hội tiến bộ và công bằng trên cơ sở một nền kinh tế trì trệ, suy thoái, chỉ đủ cung cấp cho dân chúng một cuộc sống “giật gấu vá vai”, “khéo làm thì no, khéo co thì ấm” Ngược lại, cũng không thể có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững trong một xã hội với đa số dân chúng thấp kém về trí tuệ, ốm yếu về thể chất, suy thoái về đạo đức và một
bộ phận đáng kể lao động lâm vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói, bị đẩy ra ngoài lề xã hội
Thứ hai, phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng phải được tiến hành ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển kinh
tế Không chờ đợi đến khi đất nước đạt tới trình độ phát triển kinh tế cao rồi
mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần vì lợi ích của một thiểu số Muốn vậy, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách phát triển xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, dù trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hoặc lâu dài