1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta thực trạng và giải pháp

283 532 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta - Thực trạng và giải pháp
Tác giả Viện Xã Hội Học
Trường học Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 283
Dung lượng 2,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là các vấn đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội; xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ xã hội,

Trang 1

VIỆN XÃ HỘI HỌC

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

Ở CÁC VÙNG NÔNG THÔN NƯỚC TA - THỰC TRẠNG

VÀ GIẢI PHÁP

CNĐT : NGUYỄN CHÍ DŨNG

8177

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

MỤC LỤC

A Tổng quan quá trình nghiên cứu ………Tr 5

B Phân tích và tổng hợp các kết quả nghiên cứu ……… Tr.9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỰ PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở CÁC VÙNG NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY ………Tr.9

1 Cơ sở lý luận của Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn Việt Nam: ……….Tr.9 1.1 Khái niệm về Phát triển và phát triển xã hội:……… Tr.9 1.2.Quản lý và quản lý phát triển xã hội: ……….Tr.14 1.3 Nông thôn và quản lý PTXH nông thôn: ……… Tr16 1.4 Lý luận Mác xít và một số lý thuyết về PTXH Và QLPTXH:… Tr.21 1.5 T− t−ëng Hå ChÝ Minh, quan ®iÓm cña §¶ng Céng s¶n và Nhà n−íc ViÖt Nam vÒ ph¸t triÓn x· héi vµ qu¶n lý ph¸t triÓn x· héi n«ng th«n ……Tr.25

2 Cơ sở thực tiễn của Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nông thôn Việt Nam: ………Tr.35 2.1 Phát triển xã hội nông thôn Việt Nam trong Lịch sử ………… Tr.35 2.2 Một số vấn đề thực tiễn trong quản lý phát triển xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay ……… Tr.46

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI Ở CÁC VÙNG NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY ……… Tr.54

1 Xây dựng, phát triển và quản lý kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay ……….Tr 54

2 Thực hiện chương trình dân số phát triển, nâng cao chất lượng dân số, giải quyết việc làm ở các vùng nông thôn nước ta hiện nay ……… Tr.79

3 Điều chỉnh phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo – vấn đề quan trọng của quản lý phát triển xã hội nông thôn hiện nay ……….Tr.110

4 Đảm bảo an sinh xã hội – yếu tố quan trọng để PTXH bền vững ở các vùng nông thôn hiện nay……… Tr.126

Trang 3

5 Giảm thiểu ô nhiễm môi trường tự nhiên, quản lý tốt môi trường

xã hội – xây dựng cộng đồng văn hoá an toàn ………Tr.150 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI BỀN VỮNG Ở CÁC VÙNG NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẾN NĂM 2020 ………Tr.183

1 CNH - HĐH và những tác động của nó với phát triển xã hội và quản

lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn Việt Nam ………Tr.183

2 Một số quan điểm cần quán triệt trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn Việt Nam Tr.188

3 Một số giải pháp nhằm phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội bền vững ở các vùng nông thôn Việt Nam Tr.191

4 Một số khuyến nghị nhằm phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội bền vững ở các vùng nông thôn Việt Nam đến năm 2020 Tr.206

Tài liệu tham khảo ………Tr.215

Trang 4

Các chữ viết tắt

- ASXH: An sinh xã hội

- BHXH: Bảo hiểm xã hội

- Bộ LĐTB&XH: Bộ Lao động thương binh và xã hội

- CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- CNXH: Chủ nghĩa xã hội

- CSSKSS: Chăm sóc sức khỏe sinh sản

- DS-KHHGĐ: Dân số – kế hoạch hóa gia đình

Trang 5

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀTÀI:

“PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở CÁC VÙNG NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY –

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”

Mã Số: KX 02.08/06-10

A Tổng quan quá trình nghiên cứu:

Đề tài cấp nhà nước: “ Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta hiện nay- Thực trạng và giải pháp” (mã số KX02-08/06-10) là một trong những đề tài thuộc chương trình nghiên cứu khoa học

xã hội cấp nhà nước – mã số KX02 Đây là chương trình nghiên cứu tổng hợp,

có hệ thống về vấn đề phát triển xã hội (PTXH) và quản lý phát triển xã hội (QLPTXH) ở các vùng, các lĩnh vực, các hoạt động khác nhau của xã hội Việt Nam

Đề tài KX02-08/06-10: “Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp” là đề tài tập trung nghiên cứu về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thông Việt Nam hiện nay Đây là lĩnh vực mà Việt Nam đã quan tâm, nghiên cứu và ứng dụng từ lâu, nhưng kết quả chưa nhiều

Hiện tại, tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đi sâu tìm hiểu về những vấn đề khác nhau của nông nghiệp nông thôn và nông dân Đặc biệt gần đây, nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ 7 khoá X đã khẳng định lại những quan điểm, nguyên tắc cơ bản, chính yếu trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, giải quyết vấn đề này Tuy nhiên, triển khai mới bước đầu Phát triển kinh tế nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH – HĐH), giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình này đang là những nhiệm vụ xã hội cấp thiết của Đảng và Nhà nước đối với giai cấp nông dân và nông thôn nước ta

CNH, HĐH, ĐTH (đô thị hoá) đang làm thay đổi nhiều vùng nông thôn Việt Nam.Song song với những ảnh hưởng tích cực, tiến bộ, không ít vấn đề tiêu cực trong phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội đang đặt ra Giải quyết những vấn đề này không dễ dàng Do vậy, nghiên cứu, tìm hiểu để góp phần định hướng giải quyết những vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình phát

Trang 6

triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân đang là vấn đề xã hội cấp thiết

Đáp ứng yêu cầu này, đề tài nghiên cứu cấp nhà nước: “phát triển xã hội

và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta hiện nay - thực trạng

và giải pháp” đã được triển khai thực hiện

Mục tiêu của đề tài là:

1 Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn Việt Nam hiện nay

2 Đánh giá chính xác thực trạng, xu hướng phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nông thôn Việt Nam dưới tác động của kinh tế thị trường, công nhiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá

3 Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nông thôn Việt Nam trong thập kỷ tới

Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài hướng đến việc làm rõ những nội dung, nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu về phát triển xã

hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn Việt Nam

Thứ hai: Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ xã

hội, đảm bảo phát triển xã hội bền vững ở các vùng nông thôn Việt Nam

Thứ ba: Điều chỉnh phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo, thực hiện

công bằng xã hội

Thứ tư: Thực hiện chương trình dân số phát triển (DS-PT) giải quyết việc

làm, nâng cao chất lượng dân số

Thứ năm: Điều chỉnh mâu thuẫn, xung đột xã hội, phòng chống các tệ

nạn xã hội (TNXH), xây dựng cộng đồng văn hoá an toàn

Thứ sáu: Đảm bảo an sinh xã hội (ASXH), thực hiện các chính sách xã

hội (CSXH), phát triển xã hội bền vững(PTXHBV)

Thứ bảy: Giảm thiểu ô nhiễm môi trường tự nhiên, quản lý tốt môi

trường xã hội, phát triển xã hội bền vững

Để góp phần bổ sung, sửa đổi, hoàn chỉnh các CSXH giải quyết các vấn

đề xã hội nảy sinh, đề tài đã phân tích, tổng hợp và đưa ra một số kết luận, giải pháp và khuyến nghị giúp quản lý phát triển xã hội nông thôn một cách khoa học, hợp lý

Trang 7

Thực hiện tốt những nhiệm vụ mà đề tài đã xác định ở trên, Ban chủ nhiệm đề tài đã đề ra và thực hiện các hoạt động sau:

Một là, thu thập, xử lý, phân tích và tổng hợp các tư liệu, sách, công trình

nghiên cứu, bài báo, tạp chí và những thông tin, thống kê…đã có về phát triển

xã hội và quản lý phát triển xã hội nông thôn

Hai là, đặt viết và tổng hợp 34 chuyên đề độc lập về phát triển xã hội và

quản lý phát triển xã hội nông thôn - lịch sử và hiện tại 34 chuyên đề này phản ánh những vấn đề lý thuyết, thực tiễn và kinh nghiệm quản lý phát triển xã hội nông thôn ở Việt Nam cũng như ở các nước phương Đông và phương Tây (xem kỷ yếu Hội thảo)

Ba là, giao và thực hiện 7 đề tài nhánh ứng với 7 vấn đề cấp thiết của

PTXH & QLPTXH ở các vùng nông thôn Việt Nam Đó là các vấn đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu về phát triển xã hội và quản lý phát triển

xã hội; xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ xã hội, đảm bảo phát triển xã hội bền vững ở các vùng nông thôn Việt Nam; điều chỉnh phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo, thực hiện công bằng xã hội; thực hiện chương trình dân số phát triển (DS-PT) giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng dân số; điều chỉnh mâu thuẫn, xung đột xã hội, phòng chống các tệ nạn

xã hội (TNXH), xây dựng cộng đồng văn hoá an toàn; đảm bảo an sinh xã hội (ASXH), thực hiện các chính sách xã hội (CSXH), giảm thiểu ô nhiễm môi trường tự nhiên, quản lý tốt môi trường xã hội, phát triển xã hội bền vững (PTXHBV)

Bốn là, điều tra xã hội học về PTXH & QLPTXH ở 8 tỉnh đại diện cho 8

vùng sinh thái của Việt Nam Cụ thể đã điều tra ở:

- Tỉnh Sơn La - đại diện cho khu vực Tây Bắc

- Tỉnh Thái Nguyên - đại diện cho khu vực Đông Bắc

- Tỉnh Hưng Yên - đại diện cho khu vực Đồng bằng Bắc Bộ

- Tỉnh Hà Tĩnh - đại diện cho khu vực Bắc miền Trung

- Tỉnh Bình Định - đại diện cho khu vực Ven biển miền Trung

- Tỉnh Kon Tum - đại diện cho khu vực Tây Nguyên

- Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu - đại diện cho khu vực Đông Nam Bộ

- Tỉnh An Giang - đại diện cho khu vực Tay Nam Bộ

Trang 8

Ở 8 tỉnh này, nhóm nghiên cứu đã phát và thu về : 694 phiếu dành cho cán bộ lãnh đạo, quản lý và 798 phiếu dành cho cộng đồng Phiếu được phát theo cách lấy mẫu hệ thống, khởi đầu ngẫu nhiên có tính tới đặc trưng sinh thái vùng

Ngoài ra, cuộc điều tra còn được tiến hành với 80 Phỏng vấn sâu ( PVS)

và 56 thảo luận nhóm tập trung để làm rõ những lĩnh vực phát triển xã hội và quản lý PTXH mà Việt Nam đang quan tâm giải quyết Bên cạnh đó, các nhóm điều tra còn phát và thu ở mỗi địa bàn nghiên cứu 5 biểu thống kê về tình hình phát triển kinh tế xã hội và về những lĩnh vực PTXH & QLPTXH Những bảng thống kê này đã được tập hợp, phân tích, tổng hợp để góp phần đưa ra những kết luận chính xác về PTXH & QLPTXH ở các vùng nông thôn Việt Nam

Trang 9

B Phân tích và tổng hợp các kết quả nghiên cứu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở CÁC VÙNG NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY

1.Cơ sở lý luận của Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn Việt Nam

1.1 Khái niệm về Phát triển và phát triển xã hội

1.1.1.Khái niệm về Phát triển

“Phát triển” là phạm trù được không ít khoa học nghiên cứu Dưới góc độ triết học, “Phát triển” là kết quả tất yếu của quá trình vận động, biến đổi không ngừng của các sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan “Phát triển” xuất hiện khi sự vật và hiện tượng vận động, tương tác với nhau làm nảy sinh những

sự vật và hiện tượng mới, đặc biệt khi mà trạng thái cân bằng động giữa các mặt đối lập mất đi, mâu thuẫn được giải quyết Sự tăng lên về lượng đạt đến độ giới hạn của nó, sự vật, hiện tượng mới xuất hiện với chất cao hơn Đây chính

là quá trình phát triển Như vậy, “phát triển” là một thuộc tính của vật chất, là kết quả của quá trình vận động, biến đổi không ngừng của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan

Dưới góc độ các khoa học kinh tế , “phát triển” được xem xét dưới nhiều cấp độ khác nhau Dưới cấp độ sơ đẳng nhất, “phát triển” được hiểu như sự tăng trưởng đơn thuần về lượng Ở đây, sự mở rộng của các ngành, các lĩnh vực kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ…được coi như sự phát triển Tuy nhiên, đấy mới chỉ là sự phát triển về lượng Trong kinh tế, phát triển còn được xem xét dưới góc độ chất Trong đó, không chỉ có sự tăng trưởng, mở rộng của các ngành mà còn là sự tăng lên về chất của các ngành, các lĩnh vực kinh tế Ở đây, sự thay đổi về kỹ thuật sản xuất từ lạc hậu lên tiên tiến, sự nâng cao về năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc và sự phát triển

về kỹ năng, tay nghề, trình độ tổ chức quản lý của người lao động… là những chỉ báo đánh giá sự phát triển về chất trong kinh tế Các Mác và nhiều nhà kinh điển Mác xít đã từng tổng kết sự phát triển về kinh tế là sự phát triển, tiến bộ trong cả lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất Trong đó, sự tăng trưởng của lực lượng sản xuất đến một độ nào đó đòi hỏi một kiểu tổ chức sản xuất mới

Trang 10

với một quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn Phương thức sản xuất mới ra đời Đấy chính là sự phát triển tiến bộ cả về kinh tế lẫn xã hội

Dưới góc nhìn về xã hội học, phát triển được hiểu như sự vận động, biến đổi theo chiều hướng tiến bộ của một hệ thống xã hội Trong đó, mỗi nhóm người, mỗi tầng lớp xã hội, mỗi cộng đồng xã hội, mỗi chủ thể xã hội tự hoàn thiện mình để đóng được những vai trò xã hội ứng với những vị thế xã hội mà chúng đang chiếm giữ Phát triển như thế vừa là sự vận động biến đổi của hệ thống xã hội theo những quy luật khách quan, vừa là sự điều chỉnh vị thế, vai trò của các chủ thể cho phù hợp với xu hướng vận động, biến đổi cho tiến bộ xã hội Phát triển theo hướng này chính là quá trình thích ứng để hoàn thiện của từng cá nhân, từng nhóm, từng chủ thể theo những chuẩn mực xã hội đang biến đổi Ở cấp độ vĩ mô, phát triển xã hội chính là phát triển cộng đồng Trong đó phát triển làm cho cộng đồng thống nhất hơn, ổn định hơn, có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho việc nâng cao chất lượng sống của mỗi con người và của toàn

bộ hệ thống xã hội

Như vậy, dù hiểu theo nghĩa nào, “phát triển” chính là sự vận động, biến đổi theo chiều hướng đi lên của một sự vật và hiện tượng Đấy là một quá trình phát triển diễn ra từ từ, từng bước thường được gọi là sự tiến hoá Còn phát triển như một sự đột biến, nhảy vọt, chuyển đổi hẳn về chất là “cách mạng”

1.1.2 Quan niệm về “xã hội”

“Xã hội” là khái niệm chỉ một thực tại khách quan liên quan đến con

người và mối quan hệ giữa con người với con người Hiện tại “xã hội” đang

được hiểu theo hai nghĩa “rộng”, “hẹp” khác nhau Theo nghĩa rộng, “xã hội”

là tất cả những gì thuộc con người và mối quan hệ của con người nhằm phân

biệt nó với cái “tự nhiên”, “xã hội” theo nghĩa này bao gồm toàn bộ những cá

nhân con người liên kết nhau thành một hệ thống xác định Trong đó, con người liên hệ nhau thông qua cả mạng lưới các quan hệ kinh tế (quan hệ trong sản xuất), quan hệ chính trị (quan hệ quyền lực); quan hệ văn hoá (quan hệ dựa trên nền tảng hệ giá trị và chuẩn mực của một nền văn hoá được định hình trong lịch sử) và quan hệ tư tưởng, tinh thần (tư tưởng giai cấp, tư tưởng dân

tộc và tư tưởng tôn giáo) “Xã hội” theo nghĩa rông này là tổng thể những

người, những nhóm người, những tầng lớp người và những cộng đồng người

gắn bó nhau cả về kinh tế, chính trị, văn hoá và tư tưởng “Xã hội” theo nghĩa

Trang 11

rộng không được dùng trong các khái niệm như: Chính sách xã hội, đạo đức xã hội, phát triển xã hội …

“Xã hội” dùng trong các khái niệm trên là “cái” “Xã hội” theo nghĩa hẹp

Ở đây, “xã hội” được hiểu như con người cụ thể với những mối quan hệ của họ tồn tại như mục đích, mục tiêu, cái cần phải đạt tới của các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng Ở một góc độ nào đó, “xã hội” theo nghĩa hẹp chính là con người với tất cả ý nghĩa nhân văn, nhân đạo của nó Nghĩa là, con người tồn tại như tâm điểm, như mục đích tối cao của tất cả các hoạt động kinh

tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng hướng vào, làm cho cuộc sống của mỗi người, mỗi nhóm người và cả cộng đồng người ngày một nhân văn hơn, tiến bộ hơn, tốt đẹp hơn

Xét dưới góc độ triết học, “xã hội” theo nghĩa hẹp chính là cái chung nằm

trong những cái riêng Nghĩa là khía cạnh con người, quan hệ con người với con người - chủ nghĩa nhân văn, nhân bản, nhân đạo ở trong mỗi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá và tư tưởng Ở đây, xã hội theo nghĩa hẹp là con người tồn tại như tâm điểm, mục tiêu mà các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng của cả hệ thống xã hội phải hướng vào

Với ý nghĩa này, vấn đề xã hội là những vấn đề nảy sinh giữa con người với con người trong quá trình phát triển sản xuất, sắp xếp hệ thống quyền lực, xác định vị thế, vai trò của từng chủ thể xã hội, của mỗi con người trong quá trình tổ chức, điều hành hệ thống xã hội Vấn đề xã hội là những vấn đề liên quan chặt chẽ đến chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn, nhân bản của con người Giải quyết vấn đề xã hội sẽ làm cho hệ thống xã hội ổn định, phát triển, tiến bộ Xã hội phồn vinh, hạnh phúc Mỗi chủ thể - người có điều kiện và khả năng phát huy hết tài năng và thế mạnh của mình

1.1.3 Phát triển xã hội

Nếu “xã hội” đang được hiểu theo hai nghĩa rộng, hẹp như trên thì “Phát

triển xã hội” cũng cần được hiểu theo hai nghĩa này.Trước hết, theo nghĩa rộng,

“phát triển xã hội” là sự tăng trưởng, mở rộng về cả bề rộng lẫn chiều sâu của

hệ thống xã hội Trong đó, sự tăng trưởng về kinh tế bao gồm sự mở rộng các lĩnh vực, các ngành sản xuất, cả công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ… Chỉ số hiệu quả cuối cùng chính là tốc độ tăng GDP bình quân đầu người

Về chính trị, hệ thông quyền lực xã hội được thiết lập, củng cố và vận hành

Trang 12

theo đúng những quy luật vốn có của nó Trong đó, hệ thống luật pháp được hoàn thiện; hệ thống quyền lực xã hội được tổ chức và vận hành đúng theo những chuẩn mực mà luật pháp quy định Vì thế, vai trò của các nhóm, các tầng lớp xã hội được xác lập theo đúng thực lực mà chúng hiện có và theo đúng

sự chi phối của những quy luật khách quan mà xã hội đang vận động, biến đổi, tuân theo

Về mặt xã hội, nhân tố con người được phát huy Những giá trị nhân đạo, nhân văn được bảo vệ Nhiều vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng được phân tích và giải quyết Phát triển xã hội là làm cho xã hội vừa mở rộng về quy mô, vừa tăng cường chất lượng của toàn hệ thống, của cộng đồng,

Theo nghĩa hẹp, phát triển xã hội là phát triển con người, là nâng cao chất lượng sống của mỗi người và của từng nhóm xã hội Như vậy, muốn phát triển

xã hội phải đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề con người, những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển kinh, trong giải quyết các vấn đề chính trị, văn hoá, tư tưởng Nghĩa là giải quyết vấn đề con người, vấn đề nhân văn, nhân đạo trong quá trình phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, sắp xếp hệ thống quyền lực xã hội, thực hiện các hoạt động nhằm xây dựng và phát triển về văn hoá, ổn định về tư tưởng, định hướng tiến bộ, văn minh cho mỗi con người và cho cả

xã hội Phát triển xã hội, theo nghĩa này là phát triển toàn diện con người, tạo môi trường thuận lợi cho mối quan hệ của con người với con người được công bằng, bình đẳng… phát triển xã hội thường được đo bằng những chỉ báo trên những lĩnh vực sau đây:

Thứ nhất: Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội nhằm đảm bảo điều kiện

lao động sản xuất và điều kiện sống cho cộng đồng dân cư Ở đây, hệ thống cấp điện, cấp nước, cung cấp thông tin, cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ giáo dục, dịch vụ thương mại, dịch vụ đi lại và dịch vụ nghỉ ngơi vui chơi, giải trí… là quan trọng nhất Đây là những dịch vụ vừa phục vụ cho sự phát triển kinh tế, vừa nâng cao chất lượng sống cho mọi người dân và cho cả cộng đồng

Trong thời đại kinh tế tri thức,dịch vụ thông tin và giáo dục phải được coi trọng hang đầu PTXH phải đặc biệt chú ý phát triển những hệ thống dịch vụ này

Trang 13

Thứ hai: Phát triển xã hội là phải quan tâm giải quyết vấn đề dân số, vấn

đề lao động và việc làm Đây là một trong những lĩnh vực quan trọng của đời sống mỗi người, mỗi gia đình và cả xã hội Để đảm bảo sự phát triển xã hội bền vững phải đặc biệt quan tâm vấn đề này Bởi lẽ quy mô dân số, cơ cấu dân số

và phân bổ dân số sẽ ảnh hưởng quyết định vấn đề lao động, việc làm Xã hội

sẽ phát triển, ổn định thế nào phụ thuộc không ít vào những yếu tố này

Thứ ba: Phát triển xã hội liên quan đến thực hiện sự công bằng và bình

đẳng xã hội Vấn đề này chịu tác động không nhỏ của tình trạng phân tầng xã hội và phân hoá giàu nghèo Do vậy, phân tầng và phân hoá giàu nghèo càng cao, bất bình đẳng xã hội càng nhiều, phân cực xã hội càng gay gắt và nguy cơ bùng nổ xã hội càng lớn Sự phát triển xã hội càng thiếu bền vững

Thứ tư: Phát triển xã hội còn là việc đảm bảo an sinh xã hội() cho mỗi

người và cho cả cộng đồng Ở đây, việc quan tâm giải quyết những vấn đề về y

tế, giáo dục, về trợ giúp những nhóm người yếu thế, bị thiên tai, địch hoạ, già

cả, cô đơn, tàn tật, nghèo đói, dịch bệnh, mồ côi… là hết sức cần thiết Ngoài ra phải hết sức chú ý quan điểm về giới, thực hiện bình đẳng giới, tạo điều kiện để

xã hội phát triển ổn định, bền vững với tất cả tính nhân đạo, nhân văn của nó

Thứ năm: Con người sống ngoài yếu tố cá nhân còn phải liên kết cộng

đồng Phát triển xã hội là làm cho cộng đồng giảm mâu thuẫn, xung đột Những yếu tố làm bất ổn định trong cộng đồng như sự khác biệt về tôn giáo, tín ngưỡng, sắc tộc, văn hoá vùng…cần được quan tâm giải quyết Phát triển xã hội là làm cho cộng đồng sống có văn hoá và an toàn Trong đó sự đa dạng về văn hoá cần được tôn trọng Những yếu tố tiến bộ, đặc sắc về văn hoá cần được giữ gìn và phát huy Những tệ nạn xã hội được đẩy lùi Tai nạn, thương tích phải được giảm bớt

Thứ sáu: phát triển xã hội, nhất là phát triển bền vững cần quan tâm giải

quyết vấn đề môi trường Phát triển hiện nay cần đảm bảo tương lai cho con cháu ngày mai Ở đây phải làm sao phát triển không làm mất cân bằng hệ sinh thái, phải chống ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất và môi trường không khí; phải làm sao thảm thực vật và các loài động vật được bảo tồn Biến đổi khí hậu do hoạt động của con người cần được ngăn chặn và giảm thiểu tác động

Trang 14

Đây là sáu nội dung quan trọng mà phát triển xã hội, nhất là phát triển bền vững phải quan tâm giải quyết

1.2.Quản lý và quản lý phát triển xã hội:

1.2.1.Khái niệm quản lý:

Như mọi người đều biết “Quản lý” là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đẫ được xác định trước Như vậy, trong quản lý bao giờ cũng có hai yếu tố – chủ thể và khách thể trong mối quan hệ, tác động lẫn nhau Các thành

tố của chủ thể và khách thể thế nào? đặc trưng của chúng ra sao? Chúng tồn tại trong môi trường tự nhiên và xã hội nào? Quan hệ của chúng dựa trên cơ sở nào? Cách thức liên hệ của chúng thế nào? Theo những nguyên tắc nào và nhất

là bị chi phối bởi những quy luật và tính quy luật nào? Tât cả sẽ quy định kiểu loại, mô hình, cách thức quản lý trong từng hệ thống tổ chức

Thông thường, người ta phân chia quản lý thành hai loại: Quản lý các vật thể, vật chất tự nhiên, nhân tạo và quản lý xã hội Nhưng dù cho quản lý ở loại hình nào thì đây cũng chính là quá trình tác động bằng những cách thức khác nhau của chủ thể quản lý vào khách thể quản lý nhằm đạt tới những mục tiêu

đã được xác định trước Vì vậy, quản lý chính là quá trình xác định của chủ thể quản lý về các mục tiêu, chỉ tiêu, biện pháp tác động, mô hình tổ chức, thực hiện và kiểm tra giám sát Ở đây, người ta có thể căn cứ vào chủ thể quản lý, khách thể quản lý, phương thức tác động hoặc mô hình tổ chức, thực hiện sự quản lý mà phân chia các loại hình quản lý như: quản lý xã hội, quản lý hành chính nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý nhân sự, quản lý vật tư, kỹ thuật, quản

và sự kiện xã hội khác Quản lý xã hội, suy cho cùng là việc các chủ thể quản

lý - một người, một nhóm người, một tầng lớp xã hội - thông qua những

Trang 15

phương thức hoạt động khác nhau mà tác động vào quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, quan hệ văn hoá, tư tưởng, tinh thần, tình cảm của những người khác, những chủ thể khác nhằm hướng hoạt động của họ đến những mục tiêu đã được xác định trước.Để làm được điều này, cần phải làm rõ từng thành tố của quá trình quản lý Những thành tố này bao gồm:

- Các chủ thể quản lý, khách thể quản lý, trong đó phải đặc biệt chú ý tới

mô hình tổ chức và đặc điểm các mối quan hệ của các chủ thể và khách thể quản lý

- Các vai trò và kỹ năng quản lý

- Các mắt khâu của quá trình quản lý, trong đó đặc biệt là thông tin và cách thức truyền thông trong hệ thống quản lý

- Hệ thống điều hành, kiểm tra, giám sát với tất cả những đặc trưng của

hệ thống này

Xã hội con người lại vận động và biến hoá không ngừng Do vậy, quản lý

xã hội là quá trình quản lý sự vận động và phát triển của xã hội ở đây, để xã hội vận động và phát triển theo đúng những quy luật và yêu cầu của nó, phải chú ý tới những nhu cầu của mỗi chủ thể Trong đó, chủ thể lớn là những nhóm, những tập đoàn xã hội, những cộng đồng xã hội( Nhóm thứ cấp) và cả chủ thể nhỏ là mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi nhóm xã hội nhỏ (nhóm sơ cấp) Quản lý sự phát triển của xã hội là quản lý những yếu tố, những mối liên

hệ, những điều kiện vật chất và tinh thần làm cho xã hội phát triển theo hướng ngày càng ổn định, tiến bộ và văn minh hơn Để làm được điều này, kinh nghiệm lịch sử cho thấy, cần phải tăng cường quản lý những lĩnh vực sau đây:

Thứ nhất: Quản lý việc xây dựng và phát triển trên cơ sơ hạ tầng kinh tế-

xã hội gồm hệ thống những cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc nâng cao đời sống, chất lượng sống của con ngươơì như: hệ thống giao thông, hệ thống điện, hệ thống cấp nước, hệ thống trường học, hệ thống y tế, hệ thống thông tin, truyền thông và hệ thống các dịch vụ xã hội khác

Thứ hai: Kiểm soát các quá trình dân số, chăm sóc sức khoẻ sinh sản,

nâng cao chất lượng dân số, giải quyết việc làm, chống thất nghiệp, đảm bảo việc làm phù hợp với khả năng của mỗi người, mỗi nhóm xã hội

Thứ ba: Điều chỉnh sự phân tầng xã hội, phân hoá giầu nghèo, thực hiện

công bằng xã hội

Trang 16

Thứ tư: Tăng cường dịch vụ giáo dục, y tế, nâng cao dân trí, chăm sóc

sức khỏe nhân dân, phòng chống có hiệu quả các loại bệnh tật Thực hiện tốt các chính sách đảm bảo xã hội, ưu đãi xã hội, quan tâm tới nhóm người bị thiệt thòi, yếu thế; thực hiện tốt an sinh xã hội

Thứ năm: Phòng chống các tệ nạn xã hội, tội phạm, xây dựng cộng đồng

văn hoá an toàn

Thứ sáu: Bảo vệ tốt môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, tạo điều

kiện để phát triển xã hội bền vững

1.3 Nông thôn và quản lý PTXH nông thôn:

1.3.1.Nông thôn:

Nông thôn là khái niệm chỉ hệ thống cộng đồng xã hội lãnh thổ được hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội mà ở đó mật độ dân cư tương đối thấp; lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, mối quan hệ cộng đồng chặt chẽ; do vậy, lối sống, phương thức sống của cộng đồng dân cư nông thôn khác biệt cộng đồng dân cư thành thị Đặc trưng cơ bản của cộng đồng dân cư nông thôn khác thành thị ở những điểm sau:

Thứ nhất: Dân cư là nông dân với hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng

trọt, chăn nuôi) chiếm tỷ trọng lớn

Thứ hai: Mật độ dân cư thấp, sống gắn bó chặt chẽ với môi trường tự

nhiên

Thứ ba: Tính cố kết cộng đồng cao Ngoài sự gắn bó thông qua quan hệ

làng xã, cư dân nông thôn còn gắn bó nhau thông qua quan hệ thân tộc (dòng họ)

Thứ tư: So với cộng đồng dân cư thành thị, cộng đồng dân cư nông thôn

tiếp cận với thông tin ít hơn, chậm hơn; tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế, vắn hoá, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí thấp hơn, phong tục tập quán lạc hâu hơn

Thứ năm: Ở nông thôn, quan hệ ứng xử xã hội của các thành viên trong

cộng đồng nặng về tục lệ truyền thống hơn là pháp lý được quy định bởi nhà nước (phép vua thua lệ làng)

Thứ sáu: So với thành thị, cộng đồng dân cư nông thôn thường mang

tính thuần nhất hơn; hướng dịch chuyển xã hội cũng khác hơn Những người có học vấn cao, chuyên môn giỏi thường di động dọc và ra các thành phố Số còn lại di động ngang giữa các vùng và giữa các ngành, nghề

Trang 17

Thứ bảy: về văn hoá, ở nông thôn văn hoá của cộng đồng dân cư mang

đậm nét dân gian Đây là cái nôi nuôi dưỡng và lưu truyền những tập tục, tín ngưỡng, văn hoá truyền thống

Nông thôn Việt Nam, ngoài những đặc trưng trên còn những điều khác biệt:

Một là, dân cư nông thôn Việt Nam chủ yếu là nông dân trồng lua nước

Bình quân ruộng đất thấp Sản xuất trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt Giai cấp nông dân và dân cư nông thôn luôn phải đấu tranh khắc phục những hậu quả thiên tai như gió bão, lụt lội, hạn hán, sâu bệnh, mất mùa…hoàn cảnh này, hun đúc những người nông dân Việt Nam đức tính cần cù, chịu khó, bền

bỉ, dẻo dai

Hai là, Việt Nam là một nước phải đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh

xâm lược kéo dài, tàn khốc Chính xã hội nông thôn với cộng đồng làng xã đã tạo thành những pháo đài kháng chiến bất khả xâm phạm, bảo tồn cả những giá trị văn hoá truyền thống của xã hội Việt Nam Anh hùng, dũng cảm đấy là truyền thống quý báu của cả dân tộc Việt Nam, trước hết là của cộng đồng dân

cư nông thôn Việt Nam

Ba là, cộng đồng dân tộc Việt Nam bao gồm cả cộng đồng dân cư nông

thôn là cộng đồng đa sắc tộc và đa tôn giáo Song đây là cộng đồng dân cư có truyền thống đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau Sức sống trường tồn của dân tộc Việt Nam một phần lớn phụ thuộc sức sống trường tồn của các làng, xã Việt Nam đã tồn tại qua hàng ngàn năm lịch sử Ở đây, tình yêu thương, đùm bọc, gắn bó: “tắt lửa tối đèn có nhau”đã trở thành truyền thống quý báu của cộng đồng dân tộc Việt Nam, nhất là cộng đồng dân cư ở trong các làng, xã Việt Nam

Bốn là, xã hội truyên thống ở nông thôn Việt Nam là xã hội của những

người tiểu nông, sản xuất nhỏ, ruộng đất ít, tư liệu sản xuất thủ công, lạc hậu, năng suất thấp Do vậy, tư tưởng ít nhiều bảo thủ, tầm nhìn hạn chế; Lối sống của người tiểu nông với không ít phong tục tập quán lạc hậu, bảo thủ còn tồn tại và tác động không nhỏ tới sự phát triển cộng đồng

Từ sau cách mạng tháng tám, nhất là từ sau khi chuyển sang kinh tế thị trường, mở cửa, đổi mới Nông thôn Việt Nam đã biến đổi Tuy nhiên, do thời gian chưa nhiều, ảnh hưởng của những nhân tố mới chưa thể tạo ra nhiều thay

Trang 18

đổi có tính quyết định nên trình độ phát triển của xã hội nông thôn Việt Nam chưa cao; mức sống của cộng đồng còn thấp; tàn dư những tập tục lạc hậu còn nặng; tình trạng này cần đặc biệt chú ý ở những vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn

Năm là, xã hội nông thôn Việt Nam đang được phân chia thành những

khu vực có đặc điểm phát triển kinh tế xã hội khá khác nhau: (Bắc, Trung, Nam; Miền núi, Trung du, đồng bằng, ven biển; đồng bằng Bắc bộ, đồng bằng Nam bộ…) Ở mỗi vùng này, trình độ phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội đang khá khác nhau, do vậy, quản lý sự phát triển xã hội phải chú ý những đặc điểm này

Như vậy là, cũng như nông thôn của nhiều nước khác, nông thôn Việt Nam có những đặc trưng chung về phát triển Trong đó, trình độ phát triển kinh

tế xã hội chưa cao, nghề nghiệp của cư dân chủ yếu là trông trọt, chăn nuôi Kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu, năng suất lao động thấp, lối sống người sản xuất nhỏ còn chiếm ưu thế Tuy nhiên, ở nông thôn Việt Nam, tính cố kết cộng đồng cao Thiết chế làng xã tồn tại cùng thiết chế gia đình, dòng tộc tạo sự gắn kết khá chặt chẽ giữa các thành viên của cộng đồng tạo nên sắc thái đặc thù của xã hội nông thôn Đây là điểm cần đặc biệt chú ý trong nghiên cứu về phát triển xã

hội và quản lý PTXH ở nông thôn Việt Nam

1.3.2 Quản lý phát triển xã hội ở Nông thôn Việt Nam:

Đặc trưng của một loại hình quản lý nào đó, nhất là quản lý xã hội phụ thuộc vào đặc điểm, hoàn cảnh, cách thức tư duy, quan điểm chính trị, hệ giá trị chuẩn mực của cả chủ thể quản lý và khách thể quản lý Xét đặc trưng của quản

lý sự phát triển xã hội ở Việt Nam hiện nay cần phải tính đầy đủ đến những yếu

tố này

- Trước hết, cần phải thấy rằng, việc quản lý sự phát triển xã hội ở nông thôn Việt Nam diễn ra trên nền tảng một nền sản xuất đang trong quá trình chuyển đổi từ sản xuất nhỏ, kỹ thuật thủ công, sản phẩm hàng hoá ít, năng xuất lao động thấp, sang nền sản xuất lớn, kỹ thuật hiện đại, sản phẩm hàng hoá ngày một tăng Dù cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH,HĐH) đang được đẩy mạnh, đầu tư từ nội bộ nền kinh tế và đầu tư từ nước ngoài ngày một tăng cường, song quá trình này mới bắt đầu Điều kiện vật chất để đầu tư cho sự phát triển xã hội đang còn ít Phân tầng xã hội và phân hoá giầu nghèo lại có xu

Trang 19

hướng tăng cao Bất bình đẳng và bất công xã hội còn lớn Quản lý sự phát triển xã hội trong điều kiện này phải giải quyết mâu thuẫn giữa mong muốn và nhu cầu nâng cao chất lượng sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là dân cư các vùng nông thôn với những khả năng còn rất hạn chế trong huy động các nguồn lực Chính sự bất cập giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội là đặc trưng quan trọng đầu tiên của việc quản lý sự phát triển xã hội bền vững ở nông thôn nước ta hiện nay Điều này khiến cho việc quản lý sự phất triển xã hội, thực hiện chính sách xã hội phải xuất phát từ chính trình trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Mỗi hoạt động của nhà quản lý, nếu không xuất phát từ sự phát triển của nền sản xuất đều đưa đến những thái quá làm thiệt hại cho chính sự ổn định và phát triển xã hội

- Nước ta đang trong quá trình mở cửa, đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường, Cơ chế quản lý hành chính, quan liêu, bao cấp đang được xoá bỏ song những di chứng và ảnh hưởng của nó đang còn khá nặng nề trong cách nghĩ, cách làm, cách tổ chức và chỉ đạo của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý Biểu hiện cụ thể là: Còn hiện tượng cửa quyền, quan liêu, sách nhiễu và đặc biệt là tệ nạn tham nhũng đang còn rất trầm trọng trong nhiều mắt khâu của quá trình quản lý kinh tế và quản lý xã hội Cơ chế quản lý cũ – hành chính, quan liêu, bao cấp chưa mất hẳn Cơ chế quản lý mới dựa trên những quy luật và nguyên tắc của thị trường chưa được xác lập hoàn toàn Một số khâu trong quản lý nhà nước vẫn còn hiện tượng xin – cho Cơ chế quản lý hành chính, bao cấp chưa bị xoá bỏ triệt để, cơ chế quản lý mới, thị trường theo định hướng

xã hội chủ nghĩa chưa được xác lập đầy đủ Đây là đặc điểm quan trọng chi phối quá trình quản lý kinh tế và quản lý xã hội ở Việt Nam hiện nay Chính điều này làm cho việc quản lý, nhất là quản lý xã hội ở các vùng nông thôn còn một số mắt khâu thiếu cơ sở pháp lý, thiếu tính rõ ràng, minh bạch

- Chủ trương kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa là một chủ trương đúng, phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội Việt nam Chủ trương này giúp Việt nam vừa tận dụng được những ưu thế của kinh tế thị trường trong việc phát triển sản xuất, kích thích tính tích cực của người lao động, tăng năng xuất lao động xã hội, vừa tìm kiếm những giải pháp thích hợp nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế thị trường đến cộng đồng xã hội, đảm bảo sự phát triển xã hội bền vững Quản lý sự phát triển của xã hội nông thôn

Trang 20

trong điều kiện đặc thù này, yêu cầu vừa phải tăng cường sự quản lý tập trung của nhà nước song lại phải chú ý phát huy cao độ vai trò làm chủ của nông dân

và các tầng lớp dân cư nông thôn Ở đây, sự kết hợp giữa những hình thức tổ chức, quản lý kinh tế và quản lý xã hội quá độ của những xã hội trước còn chưa lỗi thời với những hình thức tổ chức kinh tế, xã hội tiên tiến mà quá trình CNH – HĐH và xây dựng nền kinh tế tri thức đã tạo ra Đây chính là một yếu tố quan trọng quy định tính đặc thù của quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn Việt nam hiện nay Trong đó quản lý sự phát triển xã hội mang cả phương thức quản lý truyền thống lẫn phương thức quản lý hiện đại về cả cách thức tổ chức, chỉ đạo và những phương thức tác động

- Cho đến nay, Việt Nam vẫn là một nước hệ thống chính trị được xây dựng trên cơ sở quan điểm nhất nguyên Đảng cộng sản là đảng duy nhất nắm chính quyền Đảng là hạt nhân của toàn bộ hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo hệ thống này bằng chủ trương, đường lối và hệ từ tưởng của mình Nhà nước đề ra luật pháp, chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, đồng thời duy trì trật tự xã hội thông qua chức năng quản lý nhà nước các quá trình xã hội Còn nhân dân, về nguyên tắc, tham gia quản lý nhà nước thông qua việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan dân cử, cũng như các cơ quan chấp hành (UBND) Ngoài ra, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc phát huy vai trò của các tổ chức chính trị xã hội như Mặt Trận Tổ Quốc, Hội Cựu Chiến Binh, Hội Phụ Nữ, Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh Mô hình tổ chức quyền lực và cơ chế hoạt động của các chủ thể trong hệ thống chính trị một mặt, làm cho việc quản lý kinh tế, quản lý xã hội được tập trung, các nguồn lực được tập hợp và phân bổ có kế hoạch thống nhất Tuy nhiên, mô hình tổ chức này thường tạo ra sự quan liêu và hành chính hóa trên nhiều lĩnh vực Quyền làm chủ của nhân dân, nhiều khi, không được phát huy đầy đủ Sự năng động xã hội hướng đến những thay đổi trong tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và quản lý thường chậm chạm Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển

xã hội và tạo nên những đặc trưng cần chú ý trong quản lý các quá trình kinh

tế, xã hội và chính trị trong cả nước cũng như ở nông thôn trong giai đoạn hiện nay

- Việt Nam là một nước Phương Đông, dù cho đổi mới, mở cửa, hội nhập

có tạo ra nhiều thay đổi, song mô hình và phương thức quản lý vẫn mang đậm

Trang 21

dấu ấn của một xã hội Phương Đông Trong đó tư duy vẫn mang nặng “yếu tố duy tình”, “Yếu tố duy lý” đang trong quá trình phát triển Còn quản lý vẫn nặng về “Đức trị” “Pháp trị” đang được tặng cường trong quá trình hội nhập Những yếu tố này đang chi phối và tạo nên sắc thái đặc thù của mẫu hình quản

lý PTXH ở các vùng nông thôn Việt Nam

Ngoài ra, ở Việt nam, sự cố kết khá chặt chẽ của cộng đồng trong các làng xã cùng sự tồn tại chế độ ruộng công làm cho tính tự quản cộng đồng được duy trì và phát huy trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước Ngày nay, dù kinh tế thị trường và toàn cầu hóa có làm thay đổi nhiều quan hệ kinh

tế xã hội của con người trong cộng đồng dân cư nông thôn Việt nam, thì tính cố kết cộng đồng và tính tự quản vẫn là những yếu tố đặc trưng chi phối hoạt động quản lý và hành vi quản lý của con người Việt nam hiện nay Ở một góc độ nào

đó, những yếu tố này cộng với tác phong của người sản xuất nhỏ còn chưa được khắc phục triệt để trong mỗi con người làm cho ở đâu đó phép tắc của nhà nước vẫn còn thua luật lệ ở các làng xã Tính tự do thiếu kỷ luật còn nặng trong một số bộ phận dân cư Điều này còn ảnh hưởng không ít đến tính đặc thù trong hành vi quản lý xã hội nhất là quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn Việt nam hiện nay

Như vậy là, ở Việt nam hiện tại, tuy quá trình đổi, mới mở cửa, hội nhập, chuyển sang kinh tế thị trường đã tiến được một chặng đường dài, song sự thay đổi mới bước đầu Do đó, cái cũ lỗi thời chưa được xóa bỏ triệt để, cái mới tiến

bộ phù hợp đang được hình thành, còn đang non yếu Do vậy, quản lý xã hội nhất là quản lý sự phát triển xã hội nông thôn cũng đang trong quá trình thay đổi Điều này tạo nên những nét đặc thù trong quản lý sự phát triển xã hội giai đoạn hiện nay - Giai đoạn quá độ để Việt Nam hội nhập hoàn toàn vào dòng chảy của sự phát thời đại

1.4 Lý luận Mác xít và một số lý thuyết về PTXH Và QLPTXH

1.4.1 Lý luận Mác xít về mâu thuẫn, xung đột và phát triển

Từ lâu, trước loài người, câu hỏi: xã hội loài người đã ra đời và phát triển thế nào? Yếu tố nào làm cho nó phát triển? Điều này đã được cắt nghĩa dưới nhiều quan điểm khác nhau Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác xít, sở dĩ xã hội loài người tồn tại và phát triển là do sự tồn tại và đấu tranh của những mặt đối lập hiện hữu trong nó Tồn tại và đấu tranh

Trang 22

của những mặt đối lập này thể hiện thành mâu thuẫn hiện tồn trong từng hình thái kinh tế xã hội Trong đó mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mẫu thuẫn chính yếu nhất chi phối quá trình vận động và phát triển của mỗi xã hội Mẫu thuẫn này quy định đấu tranh và thống nhất giữa những lực lượng xã hội, nhóm phái, tầng lớp, giai cấp xã hội khác nhau Trong những xã hội có giai cấp, những nhóm phái, tầng lớp xã hội này tập hợp thành những phe phái lớn đối lập nhau, đấu tranh quyết liệt với nhau Họ thường tập hợp trong phái tả, phái hữu và phái trung gian Ở đây, những lợi ích nhóm xã hội giai cấp thường chi phối quan điểm, cách tiếp cận, giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội lớn Nhờ vậy mà nó tập hợp và cấu kết thành phe phái của những lực lượng xã hội có lợi ích chung, quan điểm chung, lập trường chung đấu tranh với những lực lượng xã hội đối lập khác Đây chính là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển của xã hội trong suốt mấy ngàn năm lịch sử vừa qua Đây là yếu tố làm cho xã hội vận động qua năm hình thái kinh tế xã hội

Xã hội, từ chế độ công xã nguyên thủy đến chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa mà loài người đang định hướng đến Mâu thuẫn trong những xã hội có giai cấp đối kháng bao giờ cũng thể hiện thành đấu tranh giai cấp mà cách mạng là cái nút cuối cùng quyết định thắng lợi của giai cấp tiến bộ Còn giai cấp tiến bộ nhờ đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến cho năng suất lao động cao hơn hẳn năng suất lao động của xã hội cũ, đồng thời, nó cũng đưa ra được những cách thức tổ chức hệ thống chính trị và tổ chức xã hội hợp lý nhất mà điều kiện lúc đó cho phép Sự phát triển xã hội nhờ vậy mà được khẳng định Đây là tinh thần cơ bản nhất của lý luận Mác xít về mẫu thuẫn, xung đột và phát triển xã hội

Như vậy, quản lý sự phát triển xã hội theo quan điểm của các nhà lý luận Mác xít chính là đề ra những biện pháp thích hợp nhằm tác động vào con người, vào xã hội với tất cả những mối quan hệ, kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng của nó để xã hội phát triển theo đúng những quy luật vốn có, hướng xã hội đến công bằng, bình đẳng trên tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người Quản lý sự phát triển xã hội chính là quản lý con người và những mối quan hệ của con người trong mỗi nhóm xã hội hay trong từng cộng đồng xã hội hướng con người đến cái chân, cái thiện, cái mỹ; làm cho đời sống mỗi con

Trang 23

người và của cả cộng đồng xã hội được đảm bảo nhất Quản lý phát triển xã hội tuy là hoạt động chủ quan nhưng phải tuân theo những quy luật khách quan, phải thông qua việc điều chỉnh một cách hợp quy luật những mối quan hệ kinh

tế, chính trị, xã hội của con người, hướng xã hội đến văn minh, tiến bộ Đây chính là cơ sở lý luận quan trọng đặt nền tảng cho việc nghiên cứu về phát triển

xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn Việt Nam

1.4.2.Lý thuyết về phát triển tuần tự, nhảy vọt, cực tăng trưởng

Bên cạnh lý luận Mác xít về phát triển còn không ít những lý thuyết phát triển khác nhưng với phát triển xã hội nông thôn cần vận dụng lý thuyết về phát triển tuần tự, nhảy vọt, cực tăng trưởng Đây là một hệ thống các quan điểm phát triển của nhiều nhà khoa học tập hợp thành một trường phái Nó phân tích xã hội như là một hệ thống gồm nhiều yếu tố cấu thành có quan hệ, liên hệ hữu cơ với nhau Sự vận động và phát triển của một yếu tố này đòi hỏi

sự vận động phát triển biến đổi của những yếu tố khác Phát triển chính là sự vận động, biến đổi của cả hệ thống Tuy nhiên, sự biến đổi, phát triển diễn ra thế nào? Dưới những hình thức nào? Bước đi nào? Phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng hệ thống xã hội cũng như tác động chủ quan của những chủ thể xã hội tham gia quản lý

Trên thế giới, đã có nhiều mô hình tổ chức, quản lý sự phát triển Trong

đó người ta thường chú ý hai mô hình: Mô hình phát triển tuần tự và mô hình phát triển nhảy vọt – cực tăng trưởng

Với mô hình phát triển tuần tự, dựa vào quy luật phát triển tự nhiên của xã hội trong một giai đoạn nào đó, người ta tổ chức quản lý sự vận động, phát triển của xã hội theo những bước tuần tự Ví dụ, khi phát triển nền sản xuất lớn phải có quá trình tích tụ và tâp trung tư bản Quy luật chung của sự tích tụ và tập trung này phải bắt đầu từ nông nghiệp và những ngành công nghiệp nhẹ, đầu tư vốn ít lãi nhanh Từ đây mà có vốn tích lũy, có kinh nghiệm để phát triển những ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp nặng Chủ nghĩa tư bản phát triển đầu tiên ở Châu Âu, Châu Mỹ đã bắt đầu như vậy Đấy chính là sự phát triển tuần tự theo đúng quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn trong bất

kỳ hình thái kinh tế, xã hội nào

Ngày nay, mô hình phát triển tuần tự này đã có không ít nước phát triển theo nó Ở Châu Á, có thể kể tới quá trình phát triển của Thái Lan, Indonesia,

Trang 24

Malaixia, giai đoạn đầu của Hàn Quốc và Trung Quốc… Đầu tiên, để phát triển, nếu không có nguồn vốn tích lũy (hỗ trợ) quyết định từ bên ngoài thì phải bắt đầu từ nông nghiệp, nông thôn và nông dân và công nghiệp nhẹ Sau đó mới phát triển công nghiệp, kết hợp giữa công nghiệp và nông nghiệp để trở thành một nước công nghiệp mới Đây chính là quá trình phát triển tuần tự Quá trình này ngắn hay dài, phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và cách thực tổ chức giải quyết của từng nước

Ở Châu Phi, hiện nay, một số nước cũng đang phát triển theo cả hai mô hình: tuần tự và nhảy vọt Mô hình phát triển xã hội tuần tự đang diễn ra với các nước Angola, Dambia Ở những nước này, các nhà lãnh đạo quản lý dựa vào tiềm năng lao động và tiềm năng tài nguyên đất, nước, khí hậu và khoáng sản… để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và những ngành trong nước

có thế mạnh, lấy đó làm cơ sở để mở rộng sự phát triển sang các khu vực công nghiệp, dịch vụ, thương mại Từ đó, chuyển dần sang công nghiệp hóa và mở rộng quan hệ quốc tế Một số nước khác (như Ai Cập và Nam Phi) dựa vào tài nguyên, dựa vào thế mạnh về sự phát triển sẵn có của mình để đầu tư phát triển những ngành công nghiệp, dịch vụ mũi nhọn, đẩy nền kinh tế phát triển cao Trên cơ sở này mà trở lại đầu tư phát triển cho khu vực nông thôn và những khu vực khác Đây là mô hình phát triển không tuần tự - cực tăng trưởng Như vậy, mô hình phát triển cực tăng trưởng là mô hình phát triển nhảy vọt dựa trên chính những ưu thế về phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia, khu vực để tập trung phát triển những ngành, lĩnh vực có thế mạnh Trên

cơ sở này đẩy nhanh tốc độ phát triển, tạo ưu thế, tích lũy nguồn lực Từ đó mà trở lại đầu tư, phát triển những lĩnh vực , những khu vực đang kém phát triển hoặc có nhiều khó khăn, giải quyết những vấn đề kinh tế-xã hội đặt ra, tạo đà cho sự phát triển xã hội bền vững

Đôi khi, có những nước kết hợp được sự phát triển theo cả hai mô hình (Trường hợp điển hình là Hàn Quốc) Giai đoạn đầu phát triển theo mô hình tuần tự Sau đó, nhờ tranh thủ những yếu tố hỗ trợ từ bên ngoài, (thập kỷ 70/TK XX), Hàn Quốc đã chuyển sang phát triển theo mô hình cực tăng trưởng Nhờ vậy mà những thập kỷ tiếp theo, dù xã hội không còn ít những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột Nhưng sự phát triển kinh tế đã đem lại những điều kiện thuận lợi to lớn cho sự phát triển xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội Nhờ vậy mà

Trang 25

xó hội Hàn Quốc hiện nay phỏt triển khỏ hài hũa theo hướng bền vững Cụng nghiệp, đặc biệt cụng nghiệp kỹ nghệ cao và dịch vụ đó phỏt triển mạnh mẽ trong nhiều thập niờn cuối thế kỷ thứ XX đó tạo đà cho Hàn Quốc trở thành một nước cụng nghiệp phỏt triển Nhờ vậy, Hàn Quốc đó trở lại đầu tư phỏt triển nụng nghiệp và cỏc nghành ớt cú thế mạnh khỏc và thực hiện hàng loạt chớnh sỏch xó hội tiến bộ, phỏt triển xó hội theo hướng ngày càng bền vững

1.5 Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội nông thôn

1.5.1 Vị trí và vai trò của nông dân, nông nghiệp, nông thôn trong cách mạng Việt Nam trước đổi mới

Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm đại bộ phận trong dân cư Nông dân Việt nam có truyền thống yêu nước Vì vậy, trong cách mạng dân tộc dân chủ cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng vai trò của nông dân, nông nghiệp và nông thôn Đây là ba yếu tố không thể tách rời trong quá trình cách mạng Trong đó, nông dân là chủ thể, là đồng minh chiến lược của giai cấp công nhân

Trong báo cáo tại Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (khoá II) và trong Báo cáo tại Quốc hội (khoá I) họp kỳ thứ 3 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân vì nông dân là tối đại đa số trong dân tộc Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng là nông dân, vì nông dân

là lực lượng đông đảo nhất chống đế quốc và phong kiến"

Mục tiêu của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu trong quản lý phát triển xã hội nông thôn là đưa nông dân tiến lên CNXH, xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, nông thôn mới do nông dân làm chủ, xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu,đảm bảo đời sống vật chất đầy đủ và đời sống tinh thần phong phú, giàu bản sắc dân tộc

Để đạt mục tiêu đó, trước hết Đảng phải tổ chức lãnh đạo nông dân

cùng giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ, thủ tiêu chế độ thực dân - phong kiến, giành độc lập dân tộc và đem ruộng

đất về cho nông dân

Trang 26

Sau khi hòa bình lập lại ở miền bắc, Ban chấp hành Trung ương Đảng (KII) họp lần thứ 14 mở rộng (tháng 11-1958) chủ trương: đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp là khâu chính, nhằm giải quyết vấn đề lương thực Ra sức cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp và công nghiệp tư bản tư doanh theo CNXH, khâu chính là đẩy mạnh hợp tác hoá nông nghiệp, đồng thời tích cực phát triển và củng cố thành phần kinh tế quốc doanh, trên cơ sở phát triển sản xuất, nâng cao thêm một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, nhất là nhân dân lao động và tăng cường củng cố quốc phòng

Tháng 4-1959, Hội nghị Trung ương Đảng (khoá II) lần thứ 16 xác định: Hợp tác hoá nông nghiệp là phải phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nông dân, củng cố khối công nông liên minh trên cơ sở mới Hội nghị phân tích kỹ ba nguyên tắc: tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ Hội nghị coi hợp tác hoá nông nghiệp là một nhiệm vụ cách mạng trung tâm của Đảng và nhân dân ta ở nông thôn miền Bắc Đến đõy, PTXH nụng thụn tập trung chủ yếu ở nhiệm vụ xõy dựng cỏc hợp tỏc xó nụng nghiệp, tiểu thủ cụng nghiệp và hợp tỏc xó mua bỏn Quản lý phỏt triển xó hội nụng thụn chủ yếu là quản lý phỏt triển cỏc hợp tỏc xó, thực hiện việc xõy dựng đời sống văn húa, xó hội tiến bộ cho cộng đồng dan cư nụng thụn

Để chỉ đạo công cuộc xay dựng hợp tác hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: mục đích của hợp tác hoá nông nghiệp là để cải thiện đời sống nông dân, làm cho nông dân được ấm no, mạnh khoẻ, được học tập, làm cho dân giàu nước mạnh Muốn vậy, theo Người, xây dựng hợp tác xã phải làm từ nhỏ đến lớn, phải theo nguyên tắc tự nguyện, tự giác, không gò ép, phải tổ chức quản lý hợp tác xã cho tốt Phải làm thế nào cho xã viên hợp tác xã thu nhập nhiều hơn nông dân trong tổ đổi công và tổ viên trong tổ đổi công thu nhập nhiều hơn thu nhập của nông dân còn làm ăn riêng lẻ; phải chú ý phân phối cho công bằng; cán bộ phải chí công vô tư, phải dân chủ, tránh quan liêu mệnh lệnh Người còn lưu ý rằng, cần chú trọng đến chất lượng, không nên chạy theo số lượng; phải ra sức cần kiệm xây dựng hợp tác xã

Tại Đại hội lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960), sau khi xác định rõ vị trí cách mạng của miền Bắc và miền Nam, Báo cáo chính trị chỉ rõ hai đặc điểm của cách mạng XHCN ở miền Bắclà: miền Bắc tiến lên CNXH trên cơ sở một

Trang 27

kinh tế của chủ nghĩa xã hội hết sức non kém Do vậy, phải ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện trên cơ sở hợp tác hoá và cải tiến kỹ thuật Phát triển nông nghiệp đi đôi với phát triển công nghiệp, kết hợp chặt chẽ nông nghiệp với công nghiệp

Sau đó, Hội nghị Trung ương V (khoá III) tháng 7-1961 đã xác định rõ: nông nghiệp là trọng tâm, cải tạo nông nghiệp là khâu chính để giải quyết tốt nhiều vấn đề nhằm đẩy mạnh hợp tác hoá nông nghiệp, đặt đúng mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp Để hoàn thành thắng lợi kế hoạch

5 năm lần thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đề ra 3 cuộc vận động lớn: cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác x∙, cải tiến kỹ thuật trong nông nghiệp; cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế - tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, l∙ng phí, quan liêu (gọi tắt là cuộc vận động 3 xây, 3 chống); cuộc vận động đồng bào miền

xuôi lên tham gia phát triển kinh tế và văn hoá miền núi Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Để củng cố và phát triển tốt hợp tác xã, điều rất quan trọng là cán

bộ phải chí công vô tư Lãnh đạo phải dân chủ Quản lý phải chặt chẽ và toàn diện Phân phối phải công bằng Một điều cần thiết nữa là các hợp tác xã phải giúp đỡ và học tập lẫn nhau

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở cả hai miền Nam - Bắc

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã phát động, nhân dân vừa sản xuất, vừa chiến đấu, quan tâm đến sản xuất nông nghiệp trong thời chiến Người nói, dù khó khăn mấy, vấn đề lương thực cũng phải giải quyết cho được Nếu không làm được lúa phải chuyển nhanh, thiếu cơm có khoai, thiếu khoai có sắn Người kịp thời gửi thư khen các hợp tác xã thâm canh lúa giỏi Người nói, các hợp tác xã là đội quân hậu cần của quân đội chiến đấu ngoài mặt trận Các xã viên hợp tác xã là chiến sĩ sản xuất cần phải cố gắng như chiến sĩ ngoài mặt

trận Quản lý sự PTXH là quản lý xã hội nông thôn trong chiến tranh, trong đó quản lý thông qua HTX là cách thức quản lý chính yếu nhất của giai đoạn này

1.5.2 Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong thời kỳ đổi mới Sau khi nước nhà độc lập và thống nhất, Đảng chủ trương đưa cả nước

quá độ đi lên CNXH Việt Nam bước vào thời kỳ mới theo các kế hoạch 5 năm với mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH theo chủ trương "ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời phát triển nông

Trang 28

nghiệp và công nghiệp nhẹ" Tuy nhiên do tư tưởng chủ quan, nóng vội, với chủ trương mở rộng phong trào hợp tác hoá nông nghiệp trên phạm vi cả nước, đưa hợp tác xã sản xuất nông nghiệp lên bậc cao với quy mô toàn xã với cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, làm cho sản xuất nông nghiệp sa sút Tất cả các chỉ tiêu kế hoạch đề ra đều không đạt, trong đó sản lượng lương thực chỉ đạt 69%,

đàn lợn đạt 60%, cá biển đạt 38%, trồng rừng đạt 48% kế hoạch

Sang kế hoạch 5 năm 1981-1985, Đảng và Nhà nước đã có bước đầu

điều chỉnh cơ chế, chính sách nông nghiệp, trong đó có Chỉ thị 100/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về cơ chế khoán đến nhóm và người lao động, đưa

đến kết quả đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng Sản lượng lương thực từ 14,4 triệu tấn năm 1980 lên 18,2 triệu tấn năm 1985 Lương thực bình quân đầu người năm 1985 đạt 304 kg, tăng 13,8% so với năm 1980

Đại hội VI của Đảng khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện Về nông nghiệp Đại hội nêu rõ: "yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm, về nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng, về hàng xuất khẩu quyết định vị trí hàng đầu của nông nghiệp Phải đưa nông nghiệp tiến một bước theo hướng sản xuất lớn nhằm yêu cầu chủ yếu là tăng nhanh khối lượng và tỷ suất hàng hoá nông sản Nông nghiệp phải được ưu tiên đáp ứng những nhu cầu về đầu tư xây dựng cơ

sở vật chất, kỹ thuật Những nguồn đầu tư ấy phải được sử dụng có hiệu quả"

Đại hội đề ra phương châm" Phát triển nông nghiệp là kết hợp chuyên môn hoá với phát triển toàn diện, cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi, lúa và màu, cây lương thực và cây công nghiệp Phát triển nông nghiệp phải lấy thâm canh tăng

vụ là chính, đồng thời mở rộng diện tích một cách vững chắc và có hiệu quả

Sửa đổi, bổ sung các chính sách về đất ruộng và các hoạt động khác để quản

lý, sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên" (Văn kiện đại hội VI Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb ST HN, năm 1986)

Sau Đại hội VI, Bộ Chính trị có Nghị quyết 10 (5-4-1988) về Đổi mới quản lý nông nghiệp để thực hiện nghị quyết của Đại hội Đại hội VII của Đảng

(6-1991) đề ra đường lối và chiến lược phát triển kinh tế, trong đó nông nghiệp

và kinh tế nông thôn được xác định là mặt trận hàng đầu Cụ thể hoá nghị

quyết của Đại hội, hội nghị Trung ương 5 (khoá VII) 10-6-1993 chủ trương tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn theo hướng CNH, HĐH với mục tiêu là: trên cơ sở phát triển nhanh và vững chắc nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn, nâng cao chất lượng sản phẩm và

Trang 29

hiệu quả kinh doanh, thu hút được phần lớn lao động thừa, tăng năng suất lao

động xã hội, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nông dân Phải chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng phát triển mạnh và vững chắc, có hiệu quả Tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn trong cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn, đa dạng hoá ngành nghề và dịch vụ phi nông nghiệp Phấn

đấu đến năm 2000 đạt cơ cấu 50% nông nghiệp, 25% công nghiệp và 25% dịch

vụ Nhà nước cần có phần đầu tư thoả đáng, có chính sách và hình thức huy

động các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn Lấy thuế sử dụng đất thay thuế nông nghiệp và dành toàn bộ nguồn thu từ thuế sử dụng đất đầu tư trở lại cho nông nghiệp và kết cấu hạ tầng nông thôn Quốc hội

đã phê chuẩn Luật Đất đai sửa đổi tại kỳ họp lần thứ 3, khoá IX (7-1993), trong

đó có điều quy định Nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ gia đình

và cá nhân sử dụng với 5 quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế

và thế chấp Thuế suất sử dụng đất nông nghiệp thấp hơn thuế nông nghiệp

Đại hội VIII của Đảng tháng 12-1996 đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, phát triển toàn diện gắn với công nghiệp chế biến các loại nông, lâm, thủy sản; phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, xuất khẩu, các dịch vụ cho sản xuất và đời sống của nông dân Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - x∙ hội nông thôn, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh, hiện đại

Thực hiện các chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều luật và các chính sách thúc đẩy nông nghiệp và nông thôn phát triển theo hướng CNH, HĐH Quốc hội ban hành Luật hợp tác xã, chuyển đổi các hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ sang hợp tác xã kiểu mới với chức năng dịch vụ cho kinh tế hộ gia đình là những đơn vị kinh tế tự chủ Luật có hiệu lực từ ngày 1-7-1997 Chính phủ cũng ra nhiều chính sách mới, nhất là chính sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn theo hướng tăng 50% vốn ngân sách trong năm 1999 Bằng nhiều nguồn vốn (vốn ngân sách, vốn vay, vốn viện trợ quốc tế), Chính phủ đã đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn nhiều chương trình như: Chương trình 135 xoá đói giảm nghèo, ưu tiên cho các vùng sâu, vùng xa, vùng các dân tộc thiểu số; Chương trình 327 phủ xanh đất trống, đồi trọc, trồng mới 5 triệu héc ta rừng; chương trình nước sạch cho nông thôn; Chương trình kiên cố hoá

Trang 30

kênh mương tưới tiêu cho đồng ruộng; chương trình khuyến khích xuất khẩu nông sản; chương trình đánh cá xa bờ

Tháng 11-1998, Nghị quyết số 6 của Bộ Chính trị về một số vấn đề nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nói

chung và những thập kỷ đầu thế kỷ XXI Trong đó, lần đầu tiên kinh tế trang trại được thừa nhận Nghị quyết mở ra cơ chế, chính sách thông thoáng hơn

nhằm giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, nhất là tiềm lực đất đai, rừng, biển và lao động nông thôn Trên cơ sở nghị quyết, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách mới, trong đó có nghị quyết 03 về kinh tế trang trại (2-2000) nhằm giúp kinh tế trang trại phát triển, đúng hướng, có hiệu quả

Nhà nước có những chủ trương, chính sách kinh tế - tài chính trợ giúp cho sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn trong lúc thị trường và giá cả không ổn định Đặc biệt Chính phủ có Nghị quyết 06/NQ-CP (15-6-2000) về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, tạo cơ sở pháp lý

để phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ

Như vậy, đại hội VI, Đại hội VII và Đại hội VIII đó xỏc định rừ hơn đường lối phỏt triển kinh tế xó hội nụng thụn trong điều kiện phỏt triển kinh tế thị trường, định hướng XHCN PTXH và QLPTXH gắn với xõy dựng và phỏt triển kết cấu hạ tầng kinh tờ, xó hội và giải quyết những vấn đề xó hội cú liờn quan, đảm bảo an sinh xó hội và phỏt triển xó hội bền vững

Đại hội IX của Đảng, Đại hội đầu tiên của thế kỷ XXI (04-2001) về

định hướng phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn, Đại hội chủ trương: Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn Đại hội đề ra nhiều chủ trương,

biện pháp, đặc biệt là chủ trương đưa nhanh tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đạt mức tiên tiến trong khu vực về trình độ công nghệ và

về thu nhập trên một đơn vị diện tích; tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm; mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong và ngoài nước, tăng đáng kể thị phần của các nông sản chủ lực trên thị trường thế giới Đại hội chủ trương, trên cơ sở chuyển một bộ phận lao động

Trang 31

mỗi lao động nông nghiệp, mở rộng quy mô sản xuất, tăng việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn Giá trị gia tăng nông nghiệp (kể cả thủy sản, lâm nghiệp) tăng bình quân hàng năm 4,0 - 4,5% Đến năm 2010, tổng sản lượng lương thực

có hạt đạt khoảng 40 triệu tấn

Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội IX, Hội nghị Trung ương 5 (khoá IX) tháng 2-2002, đã đề cập nhiều vấn đề, trong đó có 2 vấn đề quan trọng là Nghị quyết về kinh tế tập thể và Nghị quyết CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Nghị quyết về kinh tế tập thể, khẳng định vai trò to lớn hết sức quan trọng của kinh tế tập thể, làm sáng tỏ những thành tựu và yếu kém của kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã kiểu mới Chỉ ra nguyên nhân của những yếu kém của kinh tế tập thể chủ yếu là do những thiếu sót, khuyết điểm của các cấp

uỷ và chính quyền từ Trung ương đến địa phương trong tổ chức, quản lý cả kinh

tế - xã hội Từ đó, Nghị quyết nêu lên những nhiệm vụ cụ thể, trong đó nhấn mạnh cần thống nhất về nhận thức trong Đảng, trong nhân dân về sự cần thiết phát triển kinh tế tập thể; tạo lập môi trường thể chế và tâm lý xã hội thuận lợi; sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách; nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; phát huy vai trò của Liên minh hợp tác xã Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân

Về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Nghị quyết khẳng định CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn phải được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Mục tiêu tổng quát và lâu dài của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là xây dựng một nền sản xuất hàng hoá quy mô lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông thôn ngày càng giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng hiện đại Nghị quyết đề ra các chủ trương và hệ

thống các giải pháp để tổ chức chỉ đạo thực hiện

Tiếp theo tinh thần của Đại hội Đảng lần thứ IX, Đại hội X của Đảng

(tháng 4-2006) xác định: Đẩy mạnh hơn nữa CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân Phải phát triển toàn diện nông nghiệp, chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao gắn với công

Trang 32

nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thủy lợi hoá,

đưa nhanh tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương Khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông thôn và thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, xây dựng các làng, xã, thôn, ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường lành mạnh; hình thành các khu dân cư

đô thị hoá với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ Phát huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn hoá, nâng cao trình độ dân trí; chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn giảm nhanh tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng làm dịch vụ và công nghiệp

Sau Đại hội X, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khoá X) tháng 7-2008 đã ra Nghị quyết 26 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Nghị quyết khẳng định những thành tựu đạt được và chỉ ra những mặt yếu kém, những vấn đề tồn tại cần giải quyết để đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn để nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển bền vững, xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại Nghị quyết đề ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp

Về quan điểm:

- Sau khi khẳng định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững Hội nghị đã chỉ rõ:

- Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết

đồng bộ gắn với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Đây

là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Trong đó nông dân là chủ thể của quá trình phát triển; xây dựng nông thôn mới gắn với kế hoạch phát triển công nghiệp, dịch vụ, phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản, phát triển toàn diện hiện đại hoá nông nghiệp là then chốt

- Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ sở cơ chế thị trường định hướng XHCN phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; Phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân

- Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trước hết phải khơi dậy tinh thần yêu nước,

Trang 33

tự chủ, tự lực, tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng nông thôn ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao

đời sống nông dân

Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát, mục tiêu đến năm 2020 và mục tiêu đến năm 2010 Về mục tiêu đến năm 2010 là: Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, nhất là ở các vùng còn nhiều khó khăn Tăng cường nghiên cứu và chuyển giao khoa học - công nghệ tiên tiến, tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực Tăng cường công tác xoá đói giảm nghèo, đặc biệt ở các huyện còn trên 50% hộ nghèo Tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, giữ vững ổn định chính trị, xã hội ở nông thôn, triển khai một bước chương trình xây dựng nông thôn mới Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thủy sản phải 3-3,5% năm Tốc độ tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn không thấp hơn mức bình quân của cả nước Lao động nông nghiệp còn dưới 50% lao động xã hội Giảm tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn mới, cơ bản không còn hộ dân ở nhà tạm; tăng tỷ lệ che phủ rừng và tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch

Nghị quyết đề ra 8 nhiệm vụ và giải pháp và những nhiệm vụ cấp bách cần thực hiện đến năm 2010 Để phát triển kinh tế - xã hội, quản lý sự phát triển xã hội ở nông thông, những nhiệm vụ cấp bách đó là:

- Hoàn thành cơ bản việc rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch đất đai, quy hoạch phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, khu công nghiệp và quy hoạch chuyển ngành theo vùng triển khai nhanh công tác quy hoạch xây dựng nông thôn gắn với quy hoạch phát triển đô thị

- Hoàn thành sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2003, Luật ngân sách nhà nước và các Luật khác có liên quan Bổ sung hoàn thiện các chính sách về tăng cường nguồn lực cho nông nghiệp, nông thôn Mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài vào sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn

- Bảo đảm tiến độ các công trình xây dựng cơ bản phục vụ sản xuất nông nghiệp, phòng chống thiên tai; thực hiện một bước các biện pháp thích ứng và

đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, nhất là nước biển dâng Khống chế, dập tắt kịp thời các dịch bệnh nguy hiểm đối với gia súc, gia cầm, thủy sản và cây

Trang 34

trồng Tăng cường công tác nghiên cứu, chuyển giao khoa học, kỹ thuật, đào tạo nhân lực ở nông thôn

- Tiếp tục triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia trên

địa bàn nông thôn, nhất là xoá đói giảm nghèo ở các huyện, xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% Khắc phục nhanh chóng những vấn đề bức xúc ở nông thôn, trước hết là những tồn tại liên quan tới vấn đề thu hồi đất Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, trong đó thực hiện kết cấu hạ tầng đi trước một bước

- Tổ chức tốt việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khoá X)

về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trên địa bàn nông thôn; củng cố bộ máy quản

lý nhà nước về nông nghiệp

Đây là một Nghị quyết thể hiện sự nhận thức của Đảng ngày càng sâu sắc, toàn diện về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quản lý phát triển xã hội nông thôn theo định hướng XHCN Vấn đề cần phải khắc phục khâu yếu hiện nay là việc tổ chức chỉ đạo thực hiện của các cấp uỷ đảng và chính quyền

để đưa Nghị quyết vào cuộc sống sinh động đạt được hiệu quả mong muốn

Như vậy là, đến nay, chủ trương của Đảng, chính sách kế hoạch và hệ thống pháp luật của Nhà nước về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nông thôn đã khá rõ ràng Nếu trước đổi mới Đảng và Nhà nước mới chỉ khẳng

định giai cấp nông dân là lực lượng to lớn, quan trọng của cách mạng cần tập hợp, tổ chức trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến, làm cách mạng dân tộc, dân chủ Phát triển xã hội nông thôn là làm cho nông dân thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, có đời sống tinh thần văn minh, tiến bộ Còn quản lý phát triển xã hội nông thôn là sự kết hợp giữa quản lý nhà nước với phát huy tính tự quản cộng đồng Hợp tác xã là mô hình tổ chức cả kinh tế - xã hội để thực hiện những mục đích cao đẹp này Nhưng hợp tác hóa quá nhanh không đi kèm với các các tiến bộ kỹ thuật nên kinh tế không phát triển Nhiều tiến bộ xã hội như mong ước đã không có điều kiện thực hiện Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn Việt Nam đã được thực hiện chưa hiệu quả

Sau đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đổi mới cách tiếp cận với giai cấp nông dân, nông nghiệp và nông thôn Còn nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Giai cấp nông dân là căn bản trong sự nghiệp cách mạng ở nông thôn Khoán

Trang 35

sản phẩm trong nông nghiệp được thực hiện Sức sản xuất được giải phóng Đời sống vật chất và tinh thần của nông dân được cải thiện, nâng cao Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội được chú ý thông qua việc hoàn thiện hệ thống luật pháp và tổ chức kinh tế xã hội Các chỉ thị 100-CT/TW, Nghị quyết 10-NQ/TW khóa VI, NQ 7 - NQ/TW khóa X là hệ thống các văn bản của Đảng liên quan đến ruộng đất, dịch vụ kinh tế - xã hội, đến hợp tác xã và đến chăm lo

đời sống cho nông dân, nhất là nông dân ở những nhóm xã hội yếu thế ở nông thôn Đây là bước phát triển quan trọng về cả lý luận lẫn thực tiễn của Đảng và Nhà nước Việt Nam với vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn (tam nông)

2 Cơ sở thực tiễn của Phỏt triển xó hội và quản lý phỏt triển xó hội

ở nụng thụn Việt Nam

2.1 Phỏt triển xó hội nụng thụn Việt Nam trong lịch sử

2.1.1 Một số vấn đề trong phỏt triển kinh tế - xó hội của xó hội nụng thụn truyền thống

- Vấn đề phỏt triển kinh tế trong xó hội nụng thụn truyền thống

Cú 3 điểm cần lưu ý khi nghiờn cứu về kinh tế làng - xó của người dõn nụng thụn Việt Nam trong lịch sử, đú là: Tớnh chất sản xuất nhỏ, tiểu nụng; kinh tế làng Việt truyền thống coi nụng nghiệp là quan trọng nhất, nhưng khụng phải là duy nhất; ngoài nụng nghiệp cũn làm thờm nghề phụ, mở rộng tiểu thủ cụng nghiệp, thương nghiệp và cỏc loại dịch vụ khỏc; Tư tưởng kinh tế truyền thống của người dõn nụng thụn cú năm điểm nổi trội Đú là trọng ruộng đất, trọng nụng nghiệp; Trọng nụng ức thương; Quý nghĩa khinh lợi; Bỡnh quõn chủ nghĩa; Đề cao sự tằn tiện, tiết kiệm (Phan Đại Doón, 2008)

Kinh tế nụng thụn Việt Nam cổ truyền thực chất là một nền kinh tế sinh tồn, dựa trờn cơ sở tự cấp, tự tỳc; lấy hộ gia đỡnh tiểu nụng làm đơn vị tổ chức sản xuất cơ bản trờn những mảnh ruộng manh mỳn, nhỏ lẻ trong làng - xó Do

đú muốn mưu sinh bền vững thỡ khụng cú cỏch nào khỏc ngoài việc phải mở mang nghề phụ ngoài nụng nghiệp; từ đú dẫn đến sự hỡnh thành và tồn tại lõu bền của kết cấu kinh tế hỗn hợp Tớnh chất hỗn hợp này thể hiện rừ nột qua sự lựa chọn nghề nghiệp đa dạng của cỏc cỏ nhõn và hộ gia đỡnh, đỳc kết thành một mụ hỡnh kinh tế hỗn hợp trọng nụng phổ biến ở hầu khắp cỏc cộng đồng

Trang 36

nông thôn Việt Nam; đặc biệt là ở Đồng Bằng Sông Hồng - cái nôi của nền văn hóa lúa nước ở Việt Nam

Các mô hình kinh tế nông thôn truyền thống khá đa dạng, tuy nhiên có thể quy về một số khung mẫu chính Bản chất hỗn hợp của nền kinh tế nông thôn truyền thống thể hiện qua các khung mẫu, đó là khung mẫu hỗn hợp trọng nông, khung mẫu hỗn hợp trọng phi nông, khung mẫu kinh tế thuần nông và khung mẫu kinh tế phi nông hoàn toàn Do bản tính cộng đồng bền chặt của xã hội nông nghiệp - nông thôn, cho nên phổ biến nhất vẫn là mô hình kinh tế hỗn hợp trọng nông; thứ đến là mô hình kinh tế hỗn hợp trọng phi nông Quản lý sự PTXH chính là quản lý sự phát triển của các khung mẫu phát triển kinh tế xã hội này

- Hệ thống thống chính trị ở xã hội nông thôn truyền thống:

Hệ thống chính trị ở nông thôn Việt Nam là sự hỗn dung giữa 2 yếu tố

tự quản trị và bị quản trị Tùy từng thời kỳ và quan điểm lãnh đạo của nhà cầm quyền mà 2 yếu tố này diễn ra khác nhau Năng lực tự quản của cộng đồng nông thôn Việt Nam đã hình thành từ rất lâu trong lịch sử Làng – xã được Nhà nước tôn trọng như một cộng đồng tự quản, chính thức bắt đầu từ triều nhà Lý (1009) với mô hình chính trị “tập quyền thân dân” Đây là mô hình xây dựng một chính quyền dân sự với chính sách “ngụ binh ư nông” và tư tưởng “lấy dân làm gốc” Chính quyền trung ương dựa vào làng – xã và tôn trọng tính tự trị của làng – xã Đặc điểm biểu hiện tính tự trị của một cộng đồng thôn, làng ở nông thôn Việt Nam truyền thống là: Làng có một bộ máy cai trị; Làng có tài sản riêng và có quyền sử dụng tài sản đó; Làng có một “pháp đình” riêng để xét

xử những vụ kiện tụng của dân; Làng có một cơ quan tuần phòng riêng làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh; Làng có đền thờ thành hoàng riêng và làng có phong tục tập quán riêng1 Quản lý PTXH nông thôn là quản lý sự vận động phát triển của các mô hình tổ chức quyền lực tự quản và bị quản trị này

1 Về năng lực tự quản cộng đồng làng – xã nông thôn Việt Nam truyền thống có thể xem thêm trong Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, 2000 Phát triển cộng đồng -

Lý thuyết và vận dụng Nxb Văn hóa Thông tin Trang 90 – 100; Nguyễn Từ Chi,

1996 Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người Nxb Văn hóa Thông tin Trang 273

Trang 37

- Văn hóa ở xã hội nông thôn truyền thống:

Đặc trưng nổi bật nhất của văn hóa Việt Nam là luôn có chữ “tình” trong quan hệ giữa con người với con người, với tự nhiên và với xã hội.“Nổi trội lên tất cả là tính chất duy tình, duy cảm, duy nghĩa của con người Việt Nam trong mối quan hệ con người với con người, con người với tự nhiên, con người với

xã hội và con người với thần linh” (Trần Quốc Vượng, 1997) Một số nhà nghiên cứu khác, khi phân tích đặc trưng văn hoá của xã hội nông thôn truyền thống đã tổng hợp các đặc trưng cơ bản sau:

+ Xã hội nông thôn truyền thống lấy nông nghiệp làm gốc, trọng nông

ức thương, coi trọng tước vị và kinh nghiệm;

+ Đề cao tinh thần cộng đồng, không đề cao sự khác biệt, đa dạng; cá nhân chịu sự khống chế và giám sát của cộng đồng;

+ Tư tưởng cào bằng, không chấp nhận sự nổi trội về mức sống và lối sống;

+ Những giá trị chung được xã hội khuyến khích là gìn giữ tình làng nghĩa xóm, trọng cội nguồn, tổ tiên, lòng biết ơn công lao của các bậc tiền nhân, phát huy tinh thần tương thân tương ái (Tô Duy Hợp, đã dẫn, chủ biên, 2000: 114 – 115)

Như vậy, có thể tổng kết một số đặc điểm của nông thôn Việt Nam như sau: Trọng nông, trọng kinh nghiệm dân gian, trọng lão, trọng tình, trọng nghĩa, trọng cộng đồng, trọng lệ làng, trọng cội nguồn, trọng giản dị Đây là những đặc điểm chính trong bản sắc văn hóa cư dân nông thôn Việt Nam truyền thống Tuy vậy, nông thôn Việt Nam truyền thống chấp nhận cả những mô hình đối trọng (như trọng phi nông, trọng lý , trọng tự do )để hướng tới lý tưởng toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ.Quản lý PTXH về mặt văn hóa là quản lý sự

phát triển của những giá trị đã được định hình trên

- Phát triển văn hóa xã hội trong xã hội nông thôn truyền thống:

Văn hóa Việt Nam truyền thống có bản chất là một nền văn hóa nông nghiệp; cho nên mỗi cá nhân không thể một mình đối phó với thiên tai, dịch bệnh mà phải liên kết, hỗ trợ nhau làm mùa vụ Chính vì thế, vai trò của gia đình, họ hàng và cộng đồng xóm làng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống người dân nông thôn Những quan hệ này được xây dựng và gìn giữ qua các thế hệ bằng nhiều hình thức (hôn nhân, tín ngưỡng, đoàn kết xã hội ) Nó

Trang 38

gắn bó các thành viên qua các sinh hoạt làng - xã và “tạo nên một thứ keo gắn

bó các thành viên trong làng - xã với nhau để cùng vượt qua những khó khăn

trong cuộc sống thường ngày hay trước những biến cố lớn về giặc giã hay thiên

tai Trong truyền thống, những quy tắc ứng xử trong dòng họ, cộng đồng được

quy định rõ ràng trong tộc ước hay hương ước.: “Trong làng - xã Việt Nam

truyền thống tồn tại nhiều mối dây liên hệ gắn chặt các cá nhân trong cộng

đồng với nhau Trong dòng họ có tổ chức Giáp là hạt nhân Ngoài dòng họ có

tổ chức Phường – là một tổ chức nghề nghiệp của những người dân làm nghề

thủ công, buôn bán; có nhiều tổ chức Hội như hội Tư văn của các Nho sinh và

Nho gia, hội Tư võ, hội Làng Binh tập trung những người đi lính và các quan

võ đã về ở làng; hội Chư bà, hội Mục đồng, hội Lão, hội Đồng niên, Những

tổ chức này đặc trưng cho xã hội nông thôn Việt Nam khác hẳn với nông thôn

phương Tây

Nông thôn Việt Nam dày đặc những mối quan hệ chặt chẽ về nghề

nghiệp, dân cư, tổ chức, quan hệ xã hội; người dân nông thôn Việt Nam luôn

chịu sự chi phối mạnh của ít nhất một tổ chức nào đó trong suốt cuộc đời mình,

họ có vô vàn mối liên kết không thể và không dám gỡ bỏ: phải phục tùng lệ

làng, lệ họ, lệ phường, lệ hội, Xét về ý nghĩa xã hội thì những ràng buộc chặt

chẽ của cộng đồng là chỗ dựa cho cá nhân khi có sự cố, nó cũng tạo nên sức

kiềm chế có hiệu quả đối với hành vi sai lệch của cá nhân, song các liên kết này

cũng tạo nên tính thụ động, ỷ lại ăn sâu bám rễ trong tính cách người dân nông

thôn truyền thống.Quản lý PTXH chính là quản lý các quá trình này, làm cho

cộng đồng xã hội phát triển ngày càng bền vững

2.1.2 Một số vấn đề xã hội của xã hội nông thôn Việt Nam trong đổi mới

Các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới càng

ngày càng làm rõ sự lựa chọn Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu mới Đó được coi

như đặc trưng cốt lõi của xã hội hiện đại mà Đảng CSVN sẽ lãnh đạo Nhà nước

và nhân dân Việt Nam thực hiện trong các chiến lược và dự án phát triển kinh

tế – xã hội Trong đó,đặc điểm chung, cơ bản của công cuộc đổi mới kinh tế -

xã hội nông thôn thời kỳ đổi mới là:

- Đổi mới hệ thống kinh tế theo hướng xóa bỏ cơ chế tập trung, quan

liêu, bao cấp của nền kinh tế dựa trên 2 cột trụ doanh nghiệp nhà nước và hợp

Trang 39

tác xã; chuyển sang cơ chế thị trường và xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa;

- Đổi mới hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu chuyển đổi cơ cấu và

cơ chế kinh tế; tập trung vào quá trình mở rộng tự do kinh tế, dân chủ hóa đời sống chính trị - xã hội, cải cách hành chính quốc gia, tăng cường tự chủ địa phương và tự quản cộng đồng;

- Đổi mới lĩnh vực văn hóa theo hướng đa dạng hóa các hình thức sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu thiết yếu và cả nhu cầu cao cấp của các tầng lớp nhân dân;

- Đổi mới lĩnh vực xã hội đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế thị trường, đẩy nhanh các quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; nổi bật lên là công cuộc đổi mới hệ thống giáo dục, đào tạo con người, nói chung, nguồn nhân lực mới nói riêng và hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân Ngoài ra, hệ thống an sinh xã hội đã được quan tâm và đang được đặc biệt chú trọng, xây dựng theo hướng hiện đại nhằm khắc phục những thiếu hụt hoặc hậu quả tiêu cực của các quá trình thị trường hóa, đô thị hóa, công nghiệp hóa với tốc độ nhanh, quy mô lớn

- Mở rộng và tăng cường hội nhập quốc tế, qua nhiều kênh và đa dạng hình thức như xuất - nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, tham gia vào chính trị quốc tế qua các tổ chức và diễn đàn quốc tế, mở rộng giao lưu và hợp tác văn hóa vì mục tiêu phát triển bền vững

Như vậy là, Đảng cộng sản Việt Nam đã có sự quan tâm đặc biệt tới đổi mới tư duy về nông nghiệp, nông dân và nông thôn (gọi tắt là Tam Nông).Trong đó, có thể thấy những thay đổi trong tư duy của Đảng qua các thời kỳ: Bắt đầu từ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng đến coi sản xuất nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, rồi phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới; tiếp đến CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, giải quyêt đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân Quan điểm giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và quan điểm phát triển tam nông toàn diện, hài hòa, bền vững là tư tưởng chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội đối với khu vực tam nông mà Nghị quyết TW lần thứ VII (khóa X) vừa qua

đã đưa ra

Trang 40

2.1.3 Những mô hình Quản lý PTXH nông thôn ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra

a- Mô hình PTXH nông thôn trước Cách mạng Tháng Tám:

Trong tâm thức người Việt, “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn

Đó là một môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt Làng – xã là một cộng đồng địa vực, cộng đồng cư trú có ranh giới lãnh thổ tự nhiên và hành chính xác định Làng là một đơn vị tự cấp, tự túc về kinh tế, có ruộng, có nghề, có chợ…tạo thành một không gian khép kín thống nhất Làng – xã là một cộng đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán, văn hoá, là một đơn vị tự trị về chính trị Trong lịch sử, làng – xã là đơn vị hành chính cơ sở Tuy nhiên làng – xã cũng có những biến đổi ít nhiều qua các thời kỳ, nhưng nhìn chung cho đến trước năm 1945, qua các biến động, làng vẫn giữ được những cấu trúc truyền thống cơ bản Nông thôn được xác định là tổng hợp của các làng Như vậy, làng Việt là đơn vị cơ bản của nông thôn Việt Nam, là yếu tố quan trọng của quản lý phát triển xã hội Làng – xã đã từng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển đất nước, là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá, nuôi dưỡng nguyên khí của dân tộc trước các nguy cơ đồng hoá, nô dịch Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ trước đến nay, làng là nơi cung cấp sức người, sức của, là pháo đài chống giặc Những giá trị nói trên của làng luôn luôn cần thiết cho phát triển đất nước, cần và sẽ được tiếp tục trong mô hình nông thôn mới Nhưng tính khép kín, tính tự cung tự cấp của mô hình làng truyền thống, rõ ràng, không đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước hiện nay

b- Mô hình PTXH nông thôn giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1959 - Mô hình giao ruộng đất cho hộ nông dân, thực hiện “người cày có ruộng”

Mô hình phát triển nông thôn nổi bật giai đoạn này là giao ruộng đất về tay người nông dân, với mục tiêu người cày có ruộng Nhà nước thực hiện chính sách cải cách ruộng đất và triển khai công tác khuyến nông Tuy trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn lạc hậu, nhưng nhờ các yếu tố chính trị xã hội mới đã thúc đẩy hàng triệu nông dân hăng hái sản xuất Nông nghiệp, sau 3 năm khôi phục kinh tế đã đạt được mức tăng trưởng khá cao Có thể xem đây là thời kỳ phát triển khá đúng hướng của nông nghiệp

Việt Nam kể từ sau năm 1939

Trong mô hình nông thôn giai đoạn này, đơn vị cơ bản vẫn là làng, xã truyền thống, các quan hệ sản xuất chuyển từ các quan hệ nửa phong kiến, thuộc địa sang quan hệ sản

Ngày đăng: 15/04/2014, 14:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Thực trang cấp và sử dụng điện ở các vùng nông thôn Việt Nam - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng 2. Thực trang cấp và sử dụng điện ở các vùng nông thôn Việt Nam (Trang 59)
Bảng 3. Thực trạng hệ thống trường học ở nông thôn hiện nay - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng 3. Thực trạng hệ thống trường học ở nông thôn hiện nay (Trang 62)
Bảng 4. Tỷ lệ xã có lớp mẫu giáo và nhà trẻ - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng 4. Tỷ lệ xã có lớp mẫu giáo và nhà trẻ (Trang 64)
Bảng 5. Dịch vụ thông tin, bưu điện, văn hóa ở các vùng nông thôn - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng 5. Dịch vụ thông tin, bưu điện, văn hóa ở các vùng nông thôn (Trang 67)
Bảng 6. Tốc độ tăng trưởng của số thuê bao điện thoại trong giai đoạn  năm 2000 đến 2008 - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng 6. Tốc độ tăng trưởng của số thuê bao điện thoại trong giai đoạn năm 2000 đến 2008 (Trang 70)
Bảng 11. Tỷ  lệ lao động thiếu việc làm và chưa  được  đào tạo  ở các - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng 11. Tỷ lệ lao động thiếu việc làm và chưa được đào tạo ở các (Trang 89)
Bảng 13. Đánh giá của cán bộ đối với các hoạt động quản lý nhà nước - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng 13. Đánh giá của cán bộ đối với các hoạt động quản lý nhà nước (Trang 96)
Bảng 14. Đánh giá của người dân về vai trò của các tổ chức trong giải - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng 14. Đánh giá của người dân về vai trò của các tổ chức trong giải (Trang 98)
Bảng 16. Ý kiến cán bộ về hoạt động kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng 16. Ý kiến cán bộ về hoạt động kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm (Trang 100)
Bảng 20: Đánh giá của người được hỏi về sự thay đổi mức sống của - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng 20 Đánh giá của người được hỏi về sự thay đổi mức sống của (Trang 116)
Bảng 25. Những giải pháp đã làm để giảm nghèo, khuyến khích làm - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng 25. Những giải pháp đã làm để giảm nghèo, khuyến khích làm (Trang 120)
Bảng số liệu trên cho thấy, Xây dựng gia đình văn hoá và Làng xã văn  hoá đã tác động rất tích cực đến nhiều mặt của phát triển xã hội - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng s ố liệu trên cho thấy, Xây dựng gia đình văn hoá và Làng xã văn hoá đã tác động rất tích cực đến nhiều mặt của phát triển xã hội (Trang 168)
Bảng 35. Tình hình TNXH trong 5 năm qua ở nông thôn Việt Nam - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng 35. Tình hình TNXH trong 5 năm qua ở nông thôn Việt Nam (Trang 170)
Bảng 36. Vai trò các chủ thể trong các hoạt động Phòng chống TNXH - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng 36. Vai trò các chủ thể trong các hoạt động Phòng chống TNXH (Trang 172)
Bảng 37. Mức độ tai nạn thương tích theo đánh giá của người dân và  cán bộ được hỏi - Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta   thực trạng và giải pháp
Bảng 37. Mức độ tai nạn thương tích theo đánh giá của người dân và cán bộ được hỏi (Trang 180)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w