1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở việt nam

444 2K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam
Tác giả PGS.TS. Trần Đức Cường, PGS.TS. Mai Quỳnh Nam, GS.TS. Phạm Xuân Nam, GS.TS. Hoàng Chí Bảo, GS.TS. Đỗ Quang Hưng, GS.TS. Ngô Đức Thịnh, PGS.TS. Lê Thị Quý, PGS.TS. Phạm Văn Đức, TS. Lê Thanh Thập, TS. Phạm Văn Vang, TS. Nguyễn Xuân Dũng, PGS.TS. Bùi Xuân Đính, PGS.TS. Khổng Diễn, TS. Trịnh Thị Quang, TS. Đỗ Thị Nguyệt Quang, Ths. Đỗ Thị Thu Hà, CN. Ngô Vũ Hải Hằng
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Đức Cường
Trường học Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Chuyên ngành Khoa học xã hội
Thể loại Báo cáo tổng hợp đề tài
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 444
Dung lượng 4,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi hướng sự quan tâm vào các vấn đề cơ bản sau đây, coi đây là những yếu tố tác động chủ yếu đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hộ

Trang 1

BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI:

NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

Trang 2

NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:

PGS.TS Trần Đức Cường (Chủ nhiệm) PGS.TS Mai Quỳnh Nam

GS.TS Phạm Xuân Nam GS.TS Hoàng Chí Bảo GS.TS Đỗ Quang Hưng GS.TS Ngô Đức Thịnh PGS.TS Lê Thị Quý PGS.TS Phạm Văn Đức

TS Lê Thanh Thập

TS Phạm Văn Vang

TS Nguyễn Xuân Dũng PGS.TS Bùi Xuân Đính PGS.TS Khổng Diễn

TS Trịnh Thị Quang

TS Đỗ Thị Nguyệt Quang Ths Đỗ Thị Thu Hà

CN Ngô Vũ Hải Hằng

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu ……… 8

Chương I: Khái niệm, định dạng các yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam…… 22

I.1 Một số khái niệm cơ bản ……… 22

I.1.1 Xã hội ……… 22

I.1.2 Phát triển xã hội ……… 26

I.1.3 Quản lý phát triển xã hội ……… 29

I.1.4 Yếu tố ngoại sinh……… 33

I.1.5 Yếu tố nội sinh……… 34

I.2 Định dạng các yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ……… 36

I.2.1 Quan niệm và triết lý về phát triển bền vững, phát triển hiện đại hóa … 36

I.2.2 Tương tác giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội tới lĩnh vực xã hội của phát triển ……… 38

I.2.3 Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ……… 41

I.2.4 Những biến đổi của tình hình thế giới và khu vực tác động tới phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Việt Nam ……… 49

I.2.5 Tác động của thể chế chính trị, chính sách và quản lý vì sự ổn định xã hội, phát triển bền vững ……… 54 I.2.6 Tác động của kinh tế thị trường và tình trạng phát triển không đều về

Trang 4

kinh tế……… 58

I.2.7 Yếu tố văn hoá trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội…… 69

I.2.8 Yếu tố con người và nguồn nhân lực trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội……….……… 77

I.2.9 Tác động của hoạt động truyền thông 82 Chương II: Tìm hiểu một số yếu tố cơ bản tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam 84 II.1 Các yếu tố về địa lý và điều kiện tự nhiên ……… 84

II.1.1 Vị trí địa lý ……… 86

II.1.2 Tài nguyên thiên nhiên ……… 87

II.1.3 Đất đai ……… 91

II.1.4 Đa dạng sinh học……… 92

II.1.5 Khoáng sản ……… 95

II.1.6 Hình thái lãnh thổ ……… 96

II.2 Tác động của thể chế chính trị, chính sách và quản lý vì sự ổn định xã hội, phát triển bền vững……… 106

II.3 Tác động của kinh tế thị trường và tình trạng phát triển không đều về kinh tế ……… 127

II.3.1 Kinh tế thị trường: động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.………… 128

II.3.2 Tác động của kinh tế thị trường: Những biểu hiện cụ thể…… ……… 134

II.3.3 Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – mô hình và con đường vừa phát triển kinh tế, vừa thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội ở Việt Nam ……… 142

II.3.4 Tác động của tình trạng phát triển không đều về kinh tế đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội……… 148

Trang 5

II.3.4.1 Khái quát tình trạng phát triển không đều về kinh tế tác động đến

phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam 149II.3.4.2 Một số giải pháp hạn chế sự phát triển không đều về kinh tế trong

tiến trình đổi mới ở Việt Nam ………

157

II.4 Yếu tố văn hóa trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội… 161

II.4.1 Hiện đại hóa, tính hiện đại và tính hiện đại trong đa dạng ……… 164II.4.2 Tác động của các yếu tố truyền thống, thiết chế làng xã, di sản và

phong tục, tập quán, tâm lý, lối sống đến quản lý xã hội và phát triển

II.4.2.1 Một số đặc điểm của thiết chế làng xã Việt Nam ……… 168II.4.2.2 Một số nhân tố ảnh hưởng đến phát triển xã hội và quản lý phát triển

xã hội ……… 176II.4.3 Tiến tới quan niệm “văn hóa điều tiết sự phát triển” ……… 184

II.5 Yếu tố con người và nguồn nhân lực trong phát triển xã hội và quản lý

phát triển xã hội……… 186

II.5.1 Con người Việt Nam truyền thống 187II.5.2 Con người Việt Nam đương đại 190II.5.3 Đào tạo nguồn nhân lực 191

II.6 Tác động của hoạt động truyền thông đối với sự phát triển xã hội và

quản lý phát triển xã hội ……… 198

II.6.1 Mấy vấn đề về truyền thông ……… 198II.6.2 Quan hệ giữa truyền thông và phát triển ……… 202II.6.3 Truyền thông và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam hiện nay ……… 203II.6.4 Quá trình truyền thông và các tác động xã hội trong quản lý phát triển

Trang 6

Chương III: Khả năng thích ứng của hệ thống quản lý và của xã hội

trước những tác động của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh ……… 216

III.1 Khả năng thích ứng của đội ngũ cán bộ quản lý xã hội đối với các yêu cầu phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ……… 216

III.1.1 Một số vấn đề lý luận của việc nghiên cứu đội ngũ cán bộ quản lý xã hội 216 III.1.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý xã hội hiện nay ……… 217

III.1.3 Tác động của hệ thống thể chế đối với sự phát triển của đội ngũ cán bộ quản lý xã hội hiện nay ……… 222

III.1.4 Những vấn đề về khả năng thích ứng của đội ngũ cán bộ quản lý trước yêu cầu phát triển xã hội ……… 227

III.1.5 Một số vấn đề đặt ra ……… 231

III.1.5.1 Về xây dựng môi trường văn hóa cho sự hình thành đội ngũ cán bộ quản lý xã hội đáp ứng nhu cầu xã hội hiện đại ……… 231

III.1.5.2 Kinh tế thị trường ……… 231

III.1.5.3 Xã hội dân sự ……… 232

III.1.5.4 Đổi mới chức năng xã hội của nhà nước ……… 233

III.1.5.5 Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý xã hội như là nguồn nhân lực quan trọng của xã hội ……… 235

III.1.5.6 Các giải pháp cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý xã hội …… 236

III.1.5.7 Công tác quy hoạch cán bộ quản lý xã hội ……… 238

III.1.5.8 Xây dựng và ban hành chuẩn mực của cán bộ quản lý xã hội ……… 240

III.2 Khả năng thích ứng của các dân tộc đa số và thiểu số trước tác động của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam 242 III.2.1 Thực trạng ……… 242

III.2.1.1 Địa bàn cư trú của các dân tộc ……… 242

III.2.1.2 Những thay đổi về địa bàn cư trú ……… 244

Trang 7

III.2.1.3 Nguyên nhân của những thay đổi địa bàn cư trú ……… 246

III.2.2 Xu hướng ……… 264

III.3 Những ảnh hưởng và khả năng thích ứng đối với yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng của hệ thống quản lý và hệ thống xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới ……… 269

III.3.1 Đặc trưng của sự chuyển biến đời sống tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay và “tính vấn đề” của nó ……… 269

III.3.1.1 Sự biến đổi của “hệ thống tôn giáo”……… 269

III.3.1.2 Sự biến đổi trong sinh hoạt tôn giáo: xu hướng hiện đại hóa ……… 273

III.3.1.3 “Tính vấn đề” của đời sống tôn giáo, tín ngưỡng ……… 275

III.3.1.4 Đời sống tín ngưỡng, tâm linh ……… 280

III.3.2 Về tác động của yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng đến sự phát triển xã hội hiện nay – những thành tựu và giải pháp ……… 281

III.3.2.1 Áp lực của xu thế đa nguyên về tôn giáo (Pluralism) ……… 281

III.3.2.2 Sức ép của vấn đề “toàn cầu hóa tôn giáo” ……… 286

III.3.2.3 Sức ép về sự ổn định chính trị - xã hội ……… 288

III.3.3 Một số kiến nghị và giải pháp ……… 288

III.4 Quá trình thiết lập xã hội dân sự và vai trò của nó trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ……… 291

III.4.1 Cơ sở lý luận, phương pháp luận về xã hội dân sự ……… 291

III.4.1.1 Ý kiến của một số nhà triết học trước Mác ……… 291

III.4.1.2 Lý luận của chủ nghĩa Mác ……… 294

III.4.2 Những tư tưởng của Hồ Chí Minh về chế độ dân chủ và nhà nước dân chủ kiểu mới gắn với mọi công việc của người dân trong xã hội …… 299

III.4.3 Những nhân tố tác động đến xu hướng phát triển của xã hội dân sự ở nước ta trong thời kỳ đổi mới ………

305

Trang 8

III.4.4 Quan niệm đương đại về xã hội dân sự và vai trò của nó trong phát

triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay ………… 311III.4.4.1 Quan niệm đương đại về xã hội dân sự ……… 311III.4.4.2 Vai trò của xã hội dân sự trong phát triển xã hội và quản lý phát triển

xã hội ở nước ta hiện nay và triển vọng đến năm 2020 ……… 313

Kết luận ……… 324 Tài liệu tham khảo ……… 334

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Phát triển xã hội là một quá trình mà trong đó, toàn thể loài người áp dụng những công cụ hiện đại của khoa học và công nghệ vào những mục tiêu của mình, qua những thời kỳ khác nhau và có tính không thể đảo ngược của quá trình đó Quản lý xã hội thể hiện như là tổng thể các cơ cấu tổ chức và các mối liên hệ giữa các cơ cấu ấy để qua đó cho phép thực hiện sự tương tác bằng quản lý giữa các

cá nhân, các nhóm và các cộng đồng xã hội, các thiết chế chính trị, kinh tế… của xã hội Quản lý xã hội bao trùm mọi khách thể và quá trình xã hội mà trạng thái có ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của hệ thống xã hội, đối với hoạt động sống của con người

Như vậy, phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội có mối liên hệ biện chứng Quản lý xã hội là để phát triển xã hội theo những mục tiêu được hoạch định

Sự phát triển xã hội đề xuất những tình huống và yêu cầu để hoạt động quản lý phát triển xã hội, phù hợp với xu hướng và mục tiêu của phát triển Nhận thức mối quan

hệ này đang trở thành sự quan tâm phổ biến, và đang là vấn đề cấp bách đối với những người hoạch định chính sách và giới nghiên cứu khoa học

Bước sang thế kỷ XXI, việc chú ý đến phát triển xã hội và quản lý phát triển

xã hội đã trở thành sự quan tâm của các quốc gia, trong đó có Việt Nam Quyết định

số 153/2004/QĐ-TTg về định hướng chiến lược phát triển ở Việt Nam của Chính phủ đã đề ra chủ trương, biện pháp thực hiện tuyên bố thiên niên kỷ Tháng 9/2005, Chính phủ đã có Quyết định thành lập Hội đồng Quốc gia về phát triển bền vững Như vậy, mục tiêu phát triển đã đặt ra yêu cầu quản lý phát triển xã hội

Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam đề xuất và lãnh đạo nhằm hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, chúng ta đang phấn đấu đến năm 2020 sẽ bước vào hàng ngũ các quốc gia phát triển Thực tiễn của công cuộc đổi mới ở Việt Nam cho thấy, việc tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội Văn hoá đang trở thành một động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững Bài học và kinh nghiệm của các quốc gia phát triển cho thấy nếu tăng trưởng kinh tế mà không giải quyết tốt các vấn đề xã hội thì sẽ dẫn đến sự mất cân đối trong đời sống xã hội, thậm chí dẫn đến khủng hoảng Thực tế ở Việt Nam cho thấy, về mặt đánh giá người ta dễ dàng nhất trí với nhau ở việc quan sát các chỉ tiêu kinh tế, các chỉ số định lượng về phát triển kinh tế

Trang 10

Song, về mặt xã hội cũng không phải đã có được một sự đánh giá chung thống nhất

về các chuyển biến tích cực, thậm chí nhiều người còn tỏ ra lo ngại khi nhìn thấy các lệch lạc xã hội, văn hóa nảy sinh trong bối cảnh của sự biến đổi xã hội hiện nay Tình hình đó đăt ra yêu cầu nhận thức một cách sâu sắc những yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam Công cuộc đổi mới ở Việt Nam là một sự biến cải xã hội toàn diện trong các quan

hệ kinh tế, trong cơ cấu xã hội, trong hệ thống giá trị Quá trình này tạo nên sự vượt trội về chất ở các chỉ tiêu kinh tế, xã hội Đây là một cuộc cách mạng diễn ra sâu rộng từ các yếu tố vi mô của xã hội và ảnh hưởng của nó lan rộng đến các tầng bậc của xã hội vĩ mô

Cần phải nhấn mạnh rằng, đổi mới ở Việt Nam đang diễn ra trong bối cảnh đời sống quốc tế có nhiều biến đổi mạnh mẽ Quá trình toàn cầu hoá, những thách thức trong hội nhập và phát triển đòi hỏi hoạt động quản lý xã hội ở Việt Nam phải phù hợp với xu thế chung của thời đại, của các quan hệ pháp lý kinh tế quốc tế Các quan sát vĩ mô cho biết vai trò của những tác nhân chủ thể chủ yếu như thị trường quốc tế, đoàn thể toàn cầu, các tổ chức và chế độ quốc tế, những liên đoàn siêu quốc gia, các phong trào tập thể, những cộng đồng xã hội ở các mức độ khác nhau đều có những ảnh hưởng đến các yếu tố nhỏ trong các khu vực Các tương tác không chỉ diễn ra một cách nhỏ lẻ ở các khu vực riêng biệt xét về phạm vi địa lý và các lĩnh vực cụ thể xét trong phạm vi xã hội của từng quốc gia mà nó luôn có những quan hệ trong những chiều kích khác nhau của sự phát triển Các chiều kích này có thể, như người ta mong muốn, phù hợp với các chính sách đã được chế định, nhưng nó cũng

có thể diễn ra không như người ta mong muốn và bất chấp các chế định Tình hình này đòi hỏi tập trung phân tích sâu những yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội Yêu cầu này đang trở nên hết sức cấp thiết đối với các thể chế hành chính chính trị cũng như đối với các tổ chức khoa học Yêu cầu này đặt ra các nhiệm vụ cho hoạt động nhận thức cả trên bình diện lý luận và thực tiễn, nhất là về mặt thực tiễn Nhấn mạnh vấn đề này là để chỉ rõ ý nghĩa thực tiễn của các nghiên cứu liên quan đến chủ đề nói trên Ở đây, hoạt động nghiên cứu phải xuất phát từ thực tiễn sinh động của đời sống xã hội, nó không chỉ dừng lại ở sự ghi nhận các sự kiện, các tương tác phức tạp trong sự phát triển và quản lý xã hội, nó đòi hỏi phải đạt đến sự khái quát có tính chất nguyên lý về mục tiêu phát triển và cơ chế quản lý sự phát triển xã hội Mục đích này bao trùm một phạm vi rộng lớn trong các bộ phận tạo thành cơ cấu xã hội tổng thể, có nghĩa là trong bộ khung với những yếu tố cơ bản nhất của hệ thống xã hội

Bằng những lẽ trên, đề tài “Những yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam” có ý nghĩa khoa

học và thực tiễn rõ rệt

Trang 11

2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

Có hàng loạt các yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi hướng sự quan tâm vào các vấn đề cơ bản sau đây, coi đây là những yếu

tố tác động chủ yếu đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam hiện nay:

1 Các yếu tố về địa lý và điều kiện tự nhiên

2 Tác động của thể chế chính trị, chính sách và quản lý vì sự ổn định xã hội, phát triển bền vững

3 Tác động của kinh tế thị trường và tình trạng phát triển không đều về kinh tế

4 Yếu tố văn hoá trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

5 Yếu tố con người và nguồn nhân lực trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

6 Tác động của hoạt động truyền thông đối với sự phát triển xã hội và quản

lý phát triển xã hội

Cách đặt vấn đề của chúng tôi như vậy cũng có nghĩa là chúng tôi muốn hướng sự quan tâm của mình vào những yếu tố cơ bản, chứ không phải là tất cả các yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam Chúng tôi muốn nhìn nhận sự quan tâm của mình trong chiều sâu của lịch sử vì logic của sự phát triển, của hoạt động quản lý không thể tách rời các tương tác từ lịch sử Mặt khác, những yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản

lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam đang diễn ra trong quá trình toàn cầu hoá Quá trình này đưa Việt Nam hoà nhập sâu hơn và chủ động hơn vào đời sống quốc tế, mặt khác, những biến động kinh tế và chính trị trong phạm vi toàn cầu, với những mức độ khác nhau đang ngày càng có những ảnh hưởng sâu sắc và toàn diện đến Việt Nam, đặc biệt là từ khi Việt Nam tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Hai vấn đề trên đây được coi là bối cảnh chi phối sâu sắc đến

sự biến đổi xã hội trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay Tiếp theo đó, chúng tôi hướng sự quan tâm của mình vào việc phân tích vai trò cơ bản của chủ thể quản lý sự phát triển là Nhà nước, trong đó, vấn đề bản chất Nhà nước và hệ thống công cụ pháp luật có vai trò quan trọng như một nhân tố hàng đầu đối với phát triển

Trang 12

nó là biểu hiện của nền dân chủ, nó gắn với kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền Vì vậy, xã hội dân sự cần được xem xét như một yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

Các dự báo khoa học về thế giới trong thế kỷ XXI đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của văn hoá đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Thực tế cho thấy, văn hoá không phải là sự “phản ánh” thụ động, là sản phẩm

tự nhiên của kinh tế Vì vậy, UNESCO đã nhấn mạnh “khi các mục tiêu tăng trưởng kinh tế được đặt ra mà tách rời môi trường văn hoá thì kết quả thu được rất khập khiễng, mất cân đối cả về mặt kinh tế lẫn văn hoá, đồng thời, tiềm năng sáng tạo của mỗi dân tộc sẽ bị suy yếu đi rất nhiều” Mục tiêu của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam cũng chỉ rõ dân giàu, nước mạnh phải gắn liền với công bằng, dân chủ, văn minh Điều này có nghĩa là, nhân tố văn hoá trong phát triển có ý nghĩa rất quan trọng, nhân tố này không chỉ là mục tiêu của phát triển, mà nó còn là điều kiện và phương tiện của hoạt động quản lý phát triển xã hội

Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin, đây cũng là điều kiện để xuất hiện khái niệm xã hội thông tin Thông tin xã hội có vai trò hết sức quan trọng,

nó trở thành một yếu tố cơ bản tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển

xã hội Các phân tích lý luận và thực nghiệm cho biết có sự thống nhất giữa thông tin với phát triển, giữa thông tin với hệ thống quản lý Thông tin xã hội được coi là công cụ để điều hoà xã hội, để ra các quyết định về phát triển và quản lý xã hội Sự phát triển của khoa học - công nghệ, đặc biệt là của công nghệ điện tử và hệ thống tri thức của khoa học thông tin, là những yếu tố cơ bản tạo nên nền kinh tế tri thức Cùng với nền kinh tế tri thức, các biến đổi xã hội và văn hoá cũng được hình thành bởi sự tương tác giữa quá trình truyền thông, năng lực xử lý thông tin và mục tiêu của hành động Nguyên lý này chỉ rõ rằng, thông tin xã hội là một trong các yếu tố

cơ bản tác động lên phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay Chúng tôi đánh giá cao yếu tố này, vì trước hết xuất phát

từ vai trò của yếu tố thông tin xã hội đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển

xã hội và mặt khác, chủ đề này ở Việt Nam còn ít được nghiên cứu

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Phân tích hệ thống các yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam

Thực hiện mục tiêu này, đề tài sẽ tiến hành định dạng, phân loại các loại yếu

tố đã, đang và sẽ tác động đến sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở

nước ta trong tiến trình đổi mới, bao gồm cả yếu tố tự nhiên và con người, dân tộc

Trang 13

và thời đại, quá khứ và hiện tại, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội trong đó nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố dân chủ, kinh tế, văn hoá và xã hội, vai trò của các tổ chức phi chính phủ - NGO, một yếu tố ngày càng có sự ảnh hưởng rõ nét trong sự phát triển xã hội hiện nay Mục tiêu của đề tài cũng sẽ lưu ý đến đặc điểm Việt

Nam chưa qua tư bản chủ nghĩa Đặc điểm này có tác động trên cả hai chiều thuận lợi và khó khăn trong việc xem xét các nhân tố của sự phát triển xã hội và quản lý

sự phát triển xã hội Cũng cần phải nhận thấy rằng, hậu quả của chế độ bao cấp nặng nề diễn ra trước thời gian đổi mới cũng để lại những hệ luỵ đối với sự phát

triển và quản lý xã hội Trên cơ sở đó luận giải cơ sở của sự phân loại ấy và vai trò

của nó trong nghiên cứu Trên cơ sở định dạng và loại hình hoá, đề tài sẽ lựa chọn trọng điểm nghiên cứu ở những yếu tố cơ bản, có sức chi phối lớn đối với sự phát

triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thới kỳ Đổi mới (như rào cản của phong tục tập quán, tính đa dạng của văn hoá tộc người và vùng miền, toàn cầu hoá, xu hướng phát triển xã hội dân sự, vấn đề nhân quyền trong thế giới hiện đại, thiết chế quản lý xã hội quan phương và phi quan phương, kết cấu xã hội, di động xã hội…)

3.2 Đánh giá thực trạng, xu hướng tác động của các yếu tố đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra

Thực hiện mục tiêu lớn này, đề tài đặt ra yêu cầu làm rõ những tác động của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh đối với sự phát triển xã hội và quản lý phát triển

xã hội, gồm cả tác động “đơn” và tác động “kép”, tác động tập trung và tác động phân tán, tác động trực tiếp và tác động gián tiếp, tác động qua thể chế và tác động phi thể chế, tác động “điểm” và tác động “diện”… Tóm lại đó là cơ chế, phương thức, con đường, cường độ, phạm vi tác động của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh

đối với sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Đánh giá nhận thức, khả

năng dung nạp (với các yếu tố tích cực) và ứng phó (với những yếu tố tiêu cực) của

hệ thống quản lý và hệ thống xã hội trước những tác động đó – qua đó phát hiện những khiếm khuyết của hệ thống và tìm phương thức khắc phục trong quá trình

phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Ngoài ra, đề tài còn dự báo những xu hướng chính sẽ chi phối, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển xã hội và quản lý phát

triển xã hội và theo đó các chính sách quản lý và phát triển xã hội cần điều chỉnh một cách thích ứng, đặc biệt là những xu hướng mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài (toàn cầu hoá, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự…)

Trang 14

3.3 Đề xuất những quan điểm và giải pháp để phát huy yếu tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam

Thực hiện mục tiêu này, đề tài sẽ xác lập hệ quan điểm mang tính định hướng

và đề xuất hệ giải pháp phát huy mặt tích cực, hoá giải mặt tiêu cực đối với sự phát

triển xã hội và quản lý phát triển xã hội do tác động của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh Hệ quan điểm và giải pháp đó vừa mang tính toàn diện, vừa đột phá vào những trọng điểm; vừa đề ra những hướng giải quyết các vấn đề chung, vừa đề cập đến từng lĩnh vực \ từng ngành \ từng vùng \ từng đối tượng cụ thể trong phát triển

xã hội và quản lý phát triển xã hội Để các giải pháp mang tính khả thi, đề tài còn phải xác định lộ trình, bước đi, nguồn lực, biện pháp cho việc thực hiện các giải

pháp đề xuất

Từ sự luận giải trên đây, chúng tôi hy vọng đề tài có thể đạt được những đóng góp sau đây:

Về lý luận, chỉ ra được những yếu tố cơ bản tác động đến phát triển xã hội và

quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam Những yếu tố này được căn cứ vào triết lý phát triển của Việt Nam phản ánh các tương tác từ chiều sâu lịch sử đến những biểu hiện phong phú và sinh động trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay Sự đóng góp cơ bản về mặt lý luận là ở chỗ, các yếu tố cơ bản vừa có tính phổ quát trong nguyên lý chung của sự phát triển và trong hoạt động quản lý, vừa xuất phát từ các điều kiện hiện thực của Việt Nam

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu nhằm chỉ rõ vai trò của từng yếu tố được lựa

chọn và tương tác của các yếu tố này với các yếu tố khác dẫn đến hiệu quả chung tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Các nghiên cứu thực chứng được đề tài tiến hành sẽ cho thấy các mức độ từ sự đo lường thực tế, ý nghĩa của các yếu tố đang ở vị trí nào, nó cần phải được thúc dẩy ở chiều cạnh nào, để từng yếu tố phát huy được giá trị của mình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài tiếp cận từ góc độ nghiên cứu xã hội và phát triển xã hội trong đó chú trọng phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành trong đó các khía cạnh sử học,

xã hội học, văn hóa học, dân tộc học, chính trị học, tâm lý học… nhằm làm rõ các yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong thời kỳ Đổi mới xây dựng đất nước ở Việt Nam hiện nay

Phương pháp luận chung để nghiên cứu là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng

Trang 15

Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, nêu lên và phân tích, đánh giá về các yếu tố chủ yếu tác động đến các quá trình ấy

Các phương pháp cụ thể để nghiên cứu và trình bày báo cáo tổng quan là các phương pháp phân tích và tổng hợp, định tính và định lượng, phương pháp so sánh, phương pháp lôgích và lịch sử, phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn chuyên gia, tọa đàm khoa học

5 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

Các nhà khoa học tiền bối: A.Comte, F.Spencer đã quan tâm nghiên cứu về phát triển Khi đó người ta thường nhấn mạnh tới yếu tố tiến hóa và đồng thời cũng

ý thức được việc cần phải xây dựng các thuyết về các giai đoạn phát triển Những

nỗ lực của A.Comte trong thuyết ba giai đoạn, hay cách nhìn xã hội theo kiểu sinh học của F.Spencer cho thấy điều này

Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội là một vấn đề được quan tâm rất sớm trong lịch sử tư tưởng, trong sự phân tích vai trò của Nhà nước Người ta đã nhận thức được rằng, bản chất của Nhà nước là để thực hiện chức năng tổ chức và quản lý xã hội Mục đích của chức năng này là nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển

và vận hành theo những định hướng nhất định, phục vụ cho các lợi ích của những tập đoàn người, trong đó căn bản nhất là lợi ích giai cấp Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra rằng, con người tập hợp với nhau theo một kiểu nào đó

để trở thành xã hội Sự biến cải của trạng thái lao động đã cải thiện tình trạng sống của con người, của các tập đoàn người Sự cải thiện này là mầm mống của quá trình phát triển Quản lý chính là hoạt động nhằm định hướng phát triển Nó được nhận thức như cái tất yếu và hành động như cái tất yếu Điều đó cũng có nghĩa là hoạt động quản lý xã hội “luôn xuất phát từ những tiền đề hiện thực” (xem Hệ tư tưởng Đức – 1846) Tư tưởng này của Mác đến nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự của nó trong bối cảnh phát triển phức tạp của xã hội hiện đại với các biến thái khác nhau trong các quốc gia, các khu vực

Kể từ khi Ph.U.Taylo đặt nền móng cho khoa học quản lý Ông đưa ra một học thuyết được giới kinh doanh và các nhà nghiên cứu rất quan tâm, đó là “thuyết con người kinh tế” Theo thuyết này, hiệu quả làm việc của người công nhân phụ thuộc chủ yếu vào sự khuyến khích vật chất Việc tăng lương, tăng tiền cho vay, giảm tỷ lệ phần trăm tiền đặt trước để xây dựng nhà ở, mở rộng việc bán chịu một

số mặt hàng tiêu dùng… là những động lực chính thúc đẩy người công nhân làm việc tận tuỵ Khi học thuyết này ra đời, nó không chỉ nhận được sự ủng hộ của

Trang 16

nhiều nhà kinh doanh và các nhà khoa học mà nó còn bị nhiều nhà khoa học chỉ trích, phê phán Họ cho rằng, học thuyết của Taylo đánh giá thấp khía cạnh nhân văn, đánh giá thấp nhiệt tình lao động của công nhân…

Để khắc phục các khiếm khuyết của thuyết “con người kinh tế”, một học thuyết khác ra đời – thuyết “con người xã hội” Người sáng lập ra thuyết này là Elton Mayo và các cộng sự của ông Học thuyết ra đời dựa trên kết quả nghiên cứu của các thí nghiệm Hawthorne do Mayo lãnh đạo Những người theo thuyết này không phủ nhận ý nghĩa của khuyến khích vật chất, của các biện pháp kiểm tra và trừng phạt Nhưng họ đề cao hơn yếu tố tự giác và sáng tạo của người lao động Theo thuyết này, “con người xã hội” chịu ảnh hưởng rất nhiều của các mối quan hệ nhân cách trong tập thể và con người sẽ tự giác làm việc nếu làm cho họ thích thú

Về động cơ của người lao động với vai trò là đối tượng của quản lý còn một thuyết nữa đáng chú ý là thuyết động cơ của Maslow

Năm 1943, A.H.Maslow đã cho ra cuốn sách A theory of human motivation

(thuyết về động cơ con người) Theo thuyết của Maslow, nhu cầu là yếu tố tạo nên động cơ người lao động Nhu cầu của con người được phân ra theo 5 mức độ từ

thấp lên cao: 1- Các nhu cầu sinh lý cơ bản (ăn, ở, hít thở…), 2- Nhu cầu an toàn

(nhu cầu tâm lý), 3- Nhu cầu tình yêu và tính tích cực xã hội (nhu cầu giao tiếp và muốn có vị trí trong nhóm), 4- Các nhu cầu về kính trọng và tự kính trọng, 5- Các nhu cầu về sự tự thực hiện Theo ông, đối với các cá nhân khi các nhu cầu ở mức độ thấp được thực hiên, thì lại mong muốn thoả mãn các nhu cầu ở mức độ cao hơn Đóng góp cơ bản của Maslow ở công trình này là dựa trên các nhân tố về tâm lý con người, ông đã chỉ ra các nguyên tắc của hành động để thoả mãn nhu cầu và xem đây như là các quá trình tâm lý mà hoạt động quản lý phải hướng tới

Sự ra đời của Lý thuyết hệ thống do nhà triết học người Áo L.Phôn Béctalanphi đề xuất trong những năm 40 của thế kỷ XX, Lý thuyết thông tin do nhà toán học người Mỹ Sênôn đề xướng và môn Điều khiển học (cybernetics) do N.Vine (Wiener) sáng lập năm 1949 đã tạo nên nền móng khoa học vững chắc, không những cho khoa học quản lý mà còn tạo cơ sở cho công nghệ thông tin và công nghệ điều khiển, thúc đẩy phát triển những hệ thống điều khiển và quản lý tự động hoá với những phương tiện kỹ thuật hiện đại

Với tư cách là một khái niệm cơ bản không chỉ trong xã hội học phát triển, bản thân khái niệm phát triển đã mở rộng hơn phạm vi ảnh hưởng trong đời sống xã hội Khái niệm này cho phép nghiên cứu sự thay đổi, khả năng thay đổi từ hoàn cảnh xuất phát cũng như phạm vi tác động của nó, qua đó có thể giải thích về các nguyên

Trang 17

tế, thậm chí đóng khung sự phát triển xã hội vào sự tăng trưởng đó Hiện nay, trong một số giới nghiên cứu về phát triển và kém phát triển người ta tạm lấy nội dung do Liên hiệp quốc đưa ra làm căn cứ, theo đó phát triển được hiểu là một quá trình trong đó toàn thể loài người áp dụng những công cụ hiện đại của khoa học và công nghệ vào những mục tiêu của mình qua những thời kỳ khác nhau với tính hoàn toàn không đảo ngược của quá trình đó

Một tài liệu khác của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới cho rằng:

“Phát triển bao hàm một sự biến đổi kinh tế và xã hội không ngừng ngay cả khái niệm hẹp về sự bền vững vật chất cũng hàm chứa mối quan tâm với bình đẳng xã hội, giữa các thế hệ, mối quan tâm cần được mở rộng một cách hợp lý tới sự bình đẳng trong các thế hệ”

Giáo sư Jun Oba, trong công trình Cơ sở hạ tầng và hoàn cảnh in trong công trình World Social Science Report (published by the United Nations Educational,

Scientific and Cultural Organization (UNESCO) and Éditons scientifiques of médicales Elsevier.Paris 1999), đã xác định những vấn đề ưu tiên sau đây trong mối quan tâm của khoa học xã hội: Thành tựu kinh tế và phát triển; Môi trường và phát triển bền vững; Toàn cầu hoá, vùng và thị trường mới nổi trội; Điều hành các doanh nghiệp, quy chế hoá và minh bạch; Công nghệ và công chúng; Đổi mới; Tri thức, truyền thông và giáo dục; Tuổi thọ, cách sống và sức khoẻ; Bao hàm và ngoại trừ xã hội

Những ưu tiên trên đây cho thấy rõ, phát triển có một vị trí hết sức quan trọng,

nó được xếp ở những vị trí đầu trong sự quan tâm

Trong diễn văn mang tên Thị trường, Nhà nước, cộng đồng và quản lý toàn cầu đọc tại phiên họp khai mạc Đại hội Xã hội học thế giới lần thứ XV (từ 7 đến 13

tháng 7 năm 2002, tại Brisbane, Australia), giáo sư Alberto Martinelli đã chỉ ra rằng

“Nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của toàn cầu hoá cung cấp cho chúng ta thêm nhiều yếu tố lý thuyết cũng như thực nghiệm để xem xét toàn thế giới hiện

Trang 18

nay như một hệ thống đơn nhất không chỉ trong lĩnh vực kinh tế Những nguyên tắc

cơ bản của hội nhập xã hội và điều tiết xã hội - tức là những cách thức mà những hoạt động được phối hợp với nhau, các nguồn lực được phân bổ và các mâu thuẫn được giải quyết – chính là quyền lực hay kiểm soát thứ bậc, trao đổi hay phân phối dưới dạng tác động qua lại, và đoàn kết hay hội nhập theo quy chuẩn Các nguyên tắc này đều đã được các học giả cổ điển trình bày trong các công trình của Hobbes

và Weber, Adam Smith và Polanyi, Durkheim và Toennies Một luận đề xuyên suốt

mà các học giả này quan tâm tới đó là sự nhận thức về phát triển và quan hệ giữa phát triển theo các “quy chuẩn”, tức là theo các khuôn mẫu của quản lý” Điều này cho thấy mối liên hệ biện chứng giữa phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội cũng như các tương tác xã hội cơ bản giữa các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển xã hội trong các chế định của hoạt động quản lý

Trong công trình La mondialisation - Francois Houtart (Editon Fidelite,

No.54, 15 Mars 2003), nhà xã hội học nổi tiếng người Bỉ đã phân tích sự tương quan giữa các nhân tố văn hoá trong các quan hệ xã hội đối với quá trình phát triển Ông chỉ rõ rằng: “Không thể tách rời văn hóa ra khỏi các mối quan hệ xã hội Văn hoá tạo thành bộ phận gắn kết của hiện thực ấy và ngay cả khi phương diện vật chất

và văn hoá có thể phân biệt được thì chúng cũng không thể tách rời nhau” Điều này thật dễ hiểu Con người là những thực thể biết tư duy và ở mức độ hiện thực thứ hai,

họ luôn sản sinh ra các biểu tượng Đó là đặc trưng điều kiện nhân văn để thể hiện mối quan hệ với tự nhiên và mối quan hệ xã hội, từ đó rút ra bài học, sắp xếp các tri thức và truyền đi những nhận định có giá trị Không một mối quan hệ xã hội nào được dựng lên bên ngoài những tư tưởng, đồng thời mọi tư tưởng đều cần cắm rễ,

ăn sâu trong các biểu hiện thực tế Luận điểm của Francois Houtart, một mặt dựa trên các quan hệ xã hội cơ bản, trong đó quan hệ kinh tế là nền tảng Song, ông cũng nhấn mạnh rằng, nhân tố văn hóa được biểu hiện ở các giá trị tư tưởng và hệ thống biểu tượng đều cắm rễ, ăn sâu trong các biểu hiện thực tế và vì vậy, chúng trở thành các nhân tố phi kinh tế trong phát triển

Công trình Quản lý trong thế kỷ XXI của Subir Chowdhury và Lê Minh Hồng

(Nhà xuất bản Giao thông vận tải, 2006), đã đưa ra các xu hướng cơ bản của hoạt động quản lý các quá trình kinh tế- xã hội trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường trên phạm vi toàn cầu, chỉ rõ vai trò của quản lý trong xã hội thông tin và sự phân công lao động xã hội đang diễn ra cả ở hai trạng thái phân mảnh và kết hợp Các vấn đề về xã hội quản lý và lý thuyết quản lý được đề xuất dựa trên các vai trò quan trọng: vị thế người lãnh đạo, quá trình quản lý, tổ chức quản lý và các biến động xã hội có thể diễn ra trong thế kỷ XXI trên phạm vi thế giới

Trang 19

Các nghiên cứu về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đang thu hút

sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trong công trình Welfare State Futures/ Stephan Leibfried ed.-United Kingdom, Cambridge University Press.2001, đã phân tích các mô hình xã hội ở Bắc Âu và Tây Âu và chỉ ra những hệ luỵ xã hội giữa phát triển kinh tế với vấn đề phúc lợi xã hội và bảo trợ xã hội Vấn đề nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực cũng đang trở thành mối quan tâm của các nhà

nghiên cứu ở khu vực Mỹ Latinh, Brazil, Arhentina Trong công trình Managing Human Resources in Latin America / Marta Elvira ed.-USA, Routledge.2005, các

vấn đề đầu tư cho giáo dục, dạy nghề, trả lương và phúc lợi xã hội đã được phân tích trong các loại hình lao động và nguồn nhân lực được xem xét như một nhân tố

cơ bản tạo nên cơ cấu xã hội tổng thể

Ở Việt Nam, phương thức phát triển được xác định là thực hiện có hiệu quả các mục tiêu kinh tế - xã hội Chúng ta không đối lập giữa tăng trưởng kinh tế và sự thực hiện các mục tiêu xã hội Sự đối lập này được coi là mâu thuẫn cố hữu của sự phát triển theo phương thức tư bản cổ điển

Mục tiêu xã hội phải đưa lên hàng đầu trong sự phát triển kinh tế, vì nếu con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển thì không thể hy sinh con người cho sự phát triển Chúng ta chọn phương thức phát triển mà trong đó, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội sẽ hài hòa với nhau Sự phát triển khác với sự tăng trưởng Tăng trưởng mang tính số lượng, còn phát triển mang tính chất lượng Tăng trưởng

là sự tiến bộ cục bộ về kinh tế Phát triển là sự tiến bộ toàn diện về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, môi sinh…

Quan điểm phát triển toàn diện như vậy được dựa trên phép biện chứng Mác xít Phép biện chứng Mác xít chỉ ra rằng: bản chất của phát triển là sự vận động theo hướng đi lên của bản thân sự vật, hiện tượng và giới tự nhiên, con người và xã hội Theo quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thì xã hội được cấu thành bởi các quan hệ xã hội chặt chẽ và phức hợp: quan hệ con người - con người, con người - xã hội, con người - tự nhiên Sự phát triển của một xã hội diễn ra bởi các mâu thuẫn cơ bản trước hết là mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa nhu cầu, lợi ích và khả năng đáp ứng các nhu cầu, lợi ích Do vậy, sự thúc đẩy xã hội đi lên là do các yếu tố, lợi ích con người, hoạt động xã hội, cải tạo xã hội, khắc phục các bất bình đẳng xã hội, tạo nên các quan hệ tích cực trong cơ cấu xã hội, trong hành vi xã hội

Nền tảng của phát triển trước hết là sản xuất vật chất, sự tiến bộ của khoa học

kỹ thuật, nền đại công nghiệp, trình độ quản lý khoa học, quản lý kinh tế, xã hội là

Trang 20

những nguồn lực và động lực của sự phát triển

Bên cạnh việc xem yếu tố kinh tế là chỉ số có tính quyết định sự phát triển xã hội, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin không xem nhẹ các yếu tố tinh thần, văn hóa, chính trị, pháp quyền trong phát triển

Ở nước ta, ngay dưới thời phong kiến đã có những bậc vĩ nhân đưa ra những

tư tưởng quản lý rất có giá trị, thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân hết sức nhân văn Những câu nói nổi tiếng của các bậc tiền nhân vẫn còn giá trị đối với

việc quản lý xã hội ngày nay, Lý Thường Kiệt: “Đạo làm chủ dân cốt ở yên dân”, Trần Hưng Đạo nói: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách để giữ nước”, Nguyễn Trãi nói: “Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân… Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” Trong thời đại mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh

vừa là nhà tư tưởng quản lý, vừa là nhà thực tiễn quản lý xuất sắc, kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam thể hiện qua tư

tưởng phục vụ con người, phục vụ nhân dân: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân… Trong xã hội, không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”

Trong nhiều thập kỷ qua, trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc của chủ nghĩa Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học của nước ta cũng đã cố gắng nghiên cứu, tìm tòi và bước đầu xây dựng cơ sở khoa học của môn khoa học quản

Mác-lý mang bản sắc Việt Nam

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học Việt Nam rất coi trọng nghiên cứu về phát triển cũng như các yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý xã

hội Công trình Một số vấn đề về hình thái kinh tế, xã hội, văn hoá và phát triển của

Giáo sư Nguyễn Hồng Phong (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2000), đã dựa trên các cơ sở triết học, sử học, văn hóa học, tâm lý học, kinh tế học phát triển và tựu chung là nghiên cứu bản thân sự phát triển để bàn đến các vấn đề cơ bản: con đường phát triển nào làm cho các nước thế giới thứ ba tránh khỏi thất bại, vai trò của phát triển nội sinh, văn hóa trở thành nền tảng của sự phát triển kinh tế, mối quan hệ giữa nhà nước và phát triển, tâm lý dân tộc với phát triển và cuối cùng căn bản nhất, tác giả đã đề xuất triết lý phát triển của Việt Nam

Công trình Phương pháp luận về vai trò của văn hoá trong phát triển do các

giáo sư Vũ Khiêu, Phạm Xuân Nam, Hoàng Trinh chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học

xã hội, 1993, đã xác định vị trí, vai trò của văn hoá trong phát triển và đặt ra đòi hỏi cần vượt lên trên cách tiếp cận kinh tế học thuần tuý và tìm ra các phương thức có thể được để cho tính công nghiệp và tính sáng tạo gắn bó, móc nối với nhau và để

Trang 21

kinh tế có thể bắt rễ trong văn hoá Ở công trình này, văn hoá được xem xét như là giải pháp của sự phát triển, văn hoá được xem xét trong mối quan hệ với thị trường, với chất lượng sống, với sức mạnh đoàn kết

Trong công trình Những vấn đề xã hội học trong công cuộc đổi mới do Mai

Quỳnh Nam chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2006), vấn đề phát triển và quản lý xã hội được coi là hai nội dung cơ bản, gồm các nghiên cứu: môi trường, tài nguyên và phát triển bền vững, cam kết của Việt Nam (Phạm Khôi Nguyên); bối cảnh của việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực (Phạm Tất Dong); những yếu tố

xã hội của sự phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam (Trịnh Duy Luân); sự hình thành và phát triển của làng ở đồng bằng sông Hồng nhìn từ kinh tế hộ gia đình (Nguyễn Đức Truyến); truyền thông và phát triển nông thôn (Mai Quỳnh Nam); về mối quan hệ giữa xã và thôn, quản lý và tự quản (Hoàng Chí Bảo); công khai để thực hiện quyền làm chủ của người dân (Mai Quỳnh Nam) Các nghiên cứu này có vai trò như những yếu tố tác động trong hệ thống tri thức của thực tiễn phát triển và quản lý phát triển xã hội

Công trình Kinh tế - xã hội Việt Nam hướng tới chất lượng tăng trưởng hội nhập – phát triển bền vững của Nguyễn Mạnh Hùng (Nhà xuất bản Thống kê,

2004), đã bàn đến mối quan hệ giữa tăng trưởng và chất lượng phát triển Tại đây, các chỉ tiêu kinh tế – xã hội được xem xét trong mối liên hệ với khái niệm phát triển bền vững Tác giả đã chỉ ra những vấn đề cần được quan tâm trong mối liên hệ này

ở vào điều kiện kinh tế thị trường nước ta hiện nay Cùng với chủ đề này còn có

công trình Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội tốc độ nhanh, bền vững, chất lượng cao ở Việt Nam của Đinh Văn Ân (Nhà xuất bản Thống kê, 2005),

không chỉ dừng lại ở việc nhận diện tình hình kinh tế, xã hội ở Việt Nam trong những năm qua, tác giả còn đi đến sự khái quát quan điểm phát triển và chiến lược phát triển ở nước ta trong thời gian tới

Công trình Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn do Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã

hội.2004, đã đặt vấn đề quản lý nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam trong bối cảnh biến đổi xã hội và các yêu cầu, mục đích của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Các quan sát trên đây hy vọng để thấy được tình hình nghiên cứu về phát triển

xã hội và quản lý xã hội trong mối quan tâm của những người hoạt động khoa học

xã hội nhân văn ở một số quốc gia và ở Việt Nam hiện nay Đây chỉ mới là những nhận diện ban đầu, song nó cũng cho thấy một quá trình và đặc biệt là cho thấy vai

Trang 22

trò của khoa học xã hội nhân văn và đóng góp của các nhà nghiên cứu ở chủ đề này Vấn đề các yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội là rất rộng lớn, cái chính là cần chỉ ra được những yếu tố cơ bản liên quan đến đề tài của chúng tôi Sự lựa chọn trong các phân tích trên đây xuất phát từ xu hướng này Gần đây nhất, GS.TS Phạm Xuân Nam (chủ biên) với sự tham gia của GS Vũ Khiêu, PGS.TS Nguyễn Văn Huyên, PGS.TS Hồ Sĩ Quý, PGS.TS Nguyễn Văn

Trung, TS Lê Cao Đoàn đã cho xuất bản công trình Triết lý phát triển xã hội ở Việt Nam – Mấy vấn đề cốt yếu, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, in lần thứ ba, năm

2008 Qua nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, công trình đã nêu lên những cảnh báo về sự đối mặt của loài người với những mô hình “phát triển xấu” mà thực chất là “nghịch lý của sự phát triển” bao gồm sự tăng trưởng kinh tế nhưng không

có tiến bộ và công bằng xã hội; tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa nhưng lại dẫn đến sự tàn lụi của nông nghiệp, nông thôn; tăng trưởng kinh tế nhưng quần chúng lao động không có quyền làm chủ; tăng trưởng kinh tế nhưng văn hóa, đạo đức suy đồi; tăng trưởng kinh tế nhưng môi trường suy thoái, sự cần bằng sinh thái bị phá vỡ… Từ những cảnh báo đó, công trình đã phân tích một số

nội dung và nêu lên một số luận điểm nhằm thực hiện phương châm: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”1

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 Nxb

Sự thật, Hà Nội 1991.

Trang 23

Chương I KHÁI NIỆM, ĐỊNH DẠNG CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

I.1.1 Xã hội

Theo nghĩa rộng, khái niệm "xã hội" dùng để chỉ một chế độ xã hội nhất định với toàn bộ các yếu tố cấu thành chỉnh thể của nó Với nghĩa này, "xã hội" trùng hợp với quan niệm của C Mác về hình thái kinh tế - xã hội Theo quan niệm đó, mỗi hình thái kinh tế - xã hội bao gồm ba bộ phận cơ bản có mối quan hệ tác động qua lại mật thiết với nhau:

i) Cơ sở kinh tế, tức phương thức sản xuất với tư cách là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất;

ii) Cơ cấu xã hội, mà cốt lõi là cơ cấu các giai tầng xã hội (trong các xã hội

có giai cấp);

iii) Kiến trúc thượng tầng về pháp lý, chính trị và những hình thái ý thức xã hội tương ứng

Trình bày học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội do C Mác đề xướng bằng

một công thức ngắn gọn, Ph Ăngghen viết: "Trong mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại "1

Trong một dịp khác, ông cũng viết: “Xã hội phải gồm các cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối với nhau”2

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 21 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr 523.

2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 46 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998, tr 355.

Trang 24

Là người kế thừa và phát triển xuất sắc chủ nghĩa Mác nói chung và học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội của C Mác nói riêng, V I Lênin lại thường chỉ

sử dụng thuật ngữ hình thái xã hội để nói về một chế độ xã hội nào đó Đánh giá về

bộ Tư bản của C Mác, V I Lênin viết: " Tuy rằng Mác chỉ dùng độc có những

quan hệ sản xuất để giải thích cơ cấu và sự phát triển của một hình thái xã hội nhất định, song ở mọi nơi và mọi lúc, ông đều phân tích những kiến trúc thượng tầng tương ứng với những quan hệ sản xuất ấy, và đã thêm thịt thêm da cho cái sườn đó

Bộ Tư bản sở dĩ được hoan nghênh nhiệt liệt chính là vì cuốn sách đó của "nhà kinh

tế học Đức" đã vạch ra cho độc giả thấy rằng toàn bộ hình thái xã hội tư bản chủ nghĩa là một cái gì sinh động - với những khía cạnh của đời sống hàng ngày, với

những biểu hiện xã hội cụ thể của sự đối kháng giai cấp vốn có của những quan hệ sản xuất, với cái kiến trúc thượng tầng chính trị tư sản đang bảo vệ sự thống trị của giai cấp tư bản, với những ý niệm tư sản về tự do, bình đẳng, v.v , với những quan

hệ gia đình tư sản"1

Qua một số luận điểm của các nhà kinh điển mác-xít vừa dẫn ở trên, ta thấy bản thân khái niệm xã hội theo nghĩa rộng đã bao chứa trong nó một số điểm quan trọng của nội hàm khái niệm "xã hội" theo nghĩa hẹp, mà dưới đây cần được nhận biết đầy đủ hơn

Khái niệm "xã hội" theo nghĩa hẹp dùng để chỉ lĩnh vực xã hội trong tương quan với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa của xã hội tổng thể Cũng có thể gọi đó là cái xã hội trong mối quan hệ tương tác với cái kinh tế, cái chính trị, cái

văn hóa của một hình thái xã hội nhất định Cái xã hội có nội dung biểu hiện trực

tiếp của nó là các vấn đề có liên quan đến sự phát triển của con người và xã hội như: dân số và nguồn nhân lực, lao động và việc làm, thu nhập và mức sống, giáo dục và y tế, đạo đức và văn hóa, những đảm bảo về an ninh và an toàn xã hội của đời sống cá nhân và của cộng đồng2

Lĩnh vực xã hội có nhiều nội dung, nhưng chủ yếu bao gồm: cơ cấu xã hội, các thiết chế xã hội, các nhu cầu của đời sống con người trong xã hội, và các quan

hệ xã hội của con người

thể xem cơ cấu xã hội là cái cốt vật chất của xã hội theo nghĩa hẹp

Không tìm hiểu cái cốt ấy thì không thể hình dung phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trước hết phải nhằm đến đối tượng nào

1 V I Lênin: Toàn tập, tập 1 Nxb Tiến bộ, Matxcơva 1974, tr 164-165.

2 Xem thêm: GS.TS, Phạm Xuân Nam (Chủ biên) – Triết lý phát triển ở Việt Nam – Mấy vấn đề

cốt yếu In lần thứ ba, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008

Trang 25

Gắn bó mật thiết với cơ cấu xã hội là hệ thống các thiết chế xã hội Trình độ

phát triển xã hội càng cao, nhu cầu của đời sống con người trong xã hội càng đa dạng, thì các thiết chế xã hội cũng càng phong phú Bởi mọi nhu cầu của đời sống con người trong sự sinh thành và trưởng thành của nó không thông qua những thiết chế xã hội (như gia đình, trường học, tập thể, hội đoàn và nhiều hình thức tổ chức khác hợp thành xã hội dân sự) thì không thể thực hiện được

Trong suốt nhiều thế kỷ, ba trụ cột chính trong hệ thống thiết chế xã hội ở

nước ta là nhà - làng - nước Nhà, tức gia đình, vừa là thiết chế xã hội nhỏ nhất vừa

là đơn vị kinh tế cơ sở Làng là sự tập hợp của nhiều nhà lại thành công xã nông

thôn, chủ yếu dựa trên các quan hệ láng giềng, có bảo lưu lâu dài các quan hệ huyết

thống, dòng tộc Nước là sự hợp nhất nhiều làng xã, dòng tộc thành cộng đồng lớn

để chung sức trị thủy tai, làm thủy lợi, bảo đảm an sinh xã hội, qua đó mà cố kết cộng đồng, sẵn sàng đương đầu với mọi thế lực ngoại xâm Xét trong sự so sánh với các nhà nước phương Tây thời cổ trung đại, thì đây chính là nét đặc thù của nhà nước phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng Ở đây, nhà nước không chỉ là

bộ máy chính trị làm nhiệm vụ cai trị dân, mà còn là cơ quan đảm nhiệm các chức năng quản lý sự phát triển xã hội dựa trên những định hướng giá trị văn hóa cơ bản

Dễ hiểu vì sao nhà chiến lược quân sự đại tài Trần Hưng Đạo đã di chúc cho vua

Trần Anh Tông phải “khoan thư sức dân” trong thời bình để khi đất nước hữu sự thì

“vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà chung sức”… Còn Nguyễn Trãi thì nói với Lê Lợi: "Kính mong bệ hạ chăm lo muôn dân để cho trong mọi thôn cùng xóm vắng không còn tiếng hờn giận oán sầu" Là nhà chỉ huy quân sự bách chiến

bách thắng, nhưng khi đã trở thành người lãnh đạo quốc gia, Quang Trung cũng nêu lên một tư tưởng cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển xã hội và quản lý phát triển

xã hội: "Xây dựng đất nước phải lấy việc dạy học làm đầu; tìm lẽ trị bình phải lấy việc tuyển nhân tài làm gốc"

Đến khi Việt Nam bị chủ nghĩa tư bản thực dân phương Tây xâm lược và thống trị, thì cùng với sự biến đổi trong cơ cấu xã hội truyền thống, các thiết chế xã hội ở nước ta, nhất là ở các đô thị, cũng có phần chuyển biến theo

Trang 26

Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình cũ ở miền Bắc sau năm 1954 và trong cả nước sau năm 1975 đã từng một thời đơn giản hóa và đồng nhất hóa chức năng của các thiết chế xã hội, kể cả thiết chế gia đình, với chức năng của các tổ chức chính trị - xã hội

Ngày nay, cùng với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, thì việc hình thành một xã hội dân sự với những thiết chế hết sức đa dạng và phong phú của nó đang trở thành đòi hỏi bức thiết

Một nội dung khác của lĩnh vực xã hội là các nhu cầu của đời sống con người trong xã hội Đó là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của

con người và xã hội như: dân số và nguồn nhân lực, lao động và việc làm, thu nhập

và mức sống, giáo dục và y tế, những bảo đảm về an sinh, an toàn xã hội và những điều kiện cần thiết về môi trường sinh thái cho sự tồn tại của con người với tư cách vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của xã hội

Những nhu cầu của con người không chỉ được nhận biết ở nhu cầu cá nhân

mà còn là nhu cầu cộng đồng Vì thế, đứng về chức năng quản lý sự phát triển xã hội mà xét, thì chủ thể quản lý và tự quản lý phải có những biện pháp như thế nào

để làm cho cá nhân và cộng đồng đạt tới sự phát triển thuận chiều, tránh được những mâu thuẫn và xung đột xã hội không đáng có

Sự xuất hiện nhu cầu và sự thực hiện nhu cầu – cả những nhu cầu vật chất và tinh thần - của con người trong xã hội bao giờ cũng gắn liền với sự hình thành và

phát triển những mối quan hệ xã hội của con người C Mác từng chỉ ra rằng: "Xã hội – cho dù nó có hình thức gì đi nữa - là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người"1 Ông còn nhấn mạnh: sự phong phú về bản chất của mỗi con người cá thể đều tùy thuộc vào sự phong phú của những mối quan hệ xã hội giữa nó với những người khác

Những quan hệ xã hội của con người có cơ sở của chúng là các quan hệ sản xuất Bởi hàng loạt nhu cầu cơ bản của đời sống con người trong xã hội như ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, phòng - chữa bệnh chỉ có thể được đáp ứng thông qua các hoạt động lao động sản xuất Vì thế, cái kinh tế và cái xã hội luôn gắn bó mật thiết với nhau

Từ đó có thể suy ra, một xã hội văn minh, hiện đại thì đương nhiên phải là một xã hội giàu có về kinh tế, dồi dào về của cải vật chất để có thể đem lại cho con

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 27 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, tr 657.

Trang 27

người một cuộc sống ngày càng sung túc hơn Đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế

có vai trò nền tảng đối với sự phát triển xã hội Song xét đến cùng, kinh tế chỉ là phương tiện, là điều kiện chứ không phải là cứu cánh, là mục đích tự thân của xã hội C Mác viết: "Sản xuất chỉ là sự phát triển lực lượng sản xuất của loài người,

tức là phát triển sự phong phú của bản chất con người, coi như một mục đích tự thân"1

I.1.2 Phát triển xã hội

Trong tự nhiên cũng như trong xã hội, sự vận động, biến đổi, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng đều đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra như một quy luật tất yếu khách quan Tuy nhiên để nhận thức được điều đó thì loài người đã phải trải qua một quá trình tiến hóa trong nhiều thế kỷ Mặc dù ngay từ thời cổ đại đã từng xuất hiện cả ở phương Đông và phương Tây một số nhà triết học có trực giác thiên tài về

sự vận động, phát sinh, phát triển và tiêu vong của các hiện tượng trong giới tự nhiên và trong lịch sử Nhưng, theo Ph Ăngghen, "cách nhìn ấy, dù cho nó có nắm đúng tính chất chung của toàn bộ bức tranh về các hiện tượng, vẫn không đủ để giải thích những chi tiết hợp thành bức tranh toàn bộ"2 Vì thế, khi đi vào chi tiết của các

lĩnh vực hợp thành, nhất là lĩnh vực xã hội, thì thời bấy giờ – kể cả những bộ óc lớn

nhất - vẫn chưa thể có ý niệm rõ ràng về phát triển

Sau nhiều bước thăng trầm của lịch sử suốt thời cổ - trung đại, mãi đến thời

kỳ Phục hưng, rồi thế kỷ Ánh sáng, khi sản xuất hàng hóa ngày càng mở rộng, đẳng cấp thứ ba, mà nòng cốt là giai cấp tư sản công thương nghiệp, ngày càng lớn lên trong lòng xã hội phong kiến, nhưng lại bị giai cấp địa chủ quý tộc và giới tăng lữ chèn ép gắt gao, thì mới nảy sinh yêu cầu và điều kiện cho sự xuất hiện một thứ quan niệm về phát triển xã hội (mặc dầu lúc đó người ta chưa dùng thuật ngữ này)

Quan niệm ấy nêu cao khẩu hiệu "Tự do, Bình đẳng, Bác ái", đòi xóa bỏ mọi sự tàn

bạo và ngu tối của các thế lực phong kiến thống trị, đòi giải phóng cho đẳng cấp thứ

ba, chuẩn bị tiền đề tư tưởng cho sự bùng nổ của các cuộc cách mạng tư sản

Nhưng sau khi hàng loạt cuộc cách mạng tư sản đã thắng lợi và chủ nghĩa tư bản đến lượt nó dần dần lộ rõ là một xã hội tiếp tục duy trì chế độ người bóc lột người, thì những nhà tư tưởng hàng đầu của giai cấp tư sản lại tìm cách chứng minh những quan hệ sản xuất, những quan hệ xã hội dưới chủ nghĩa tư bản, lẽ ra cũng chỉ

là những quan hệ nhất thời trong quá trình tiến hóa của lịch sử nhân loại, thành những quy luật vĩnh cửu của lý trí

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 26, phần II Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr 168.

2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 20I Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994, tr 35.

Trang 28

Điều đáng ngạc nhiên hơn cả là ngay Hêghen – nhà triết học duy tâm biện chứng vĩ đại – trong khi nêu lên tư tưởng cơ bản cho rằng sự phát triển biện chứng biểu hiện trong giới tự nhiên và trong lịch sử xã hội chỉ là sự sao chép sự tự vận động không ngừng của ý niệm, lại đi đến kết luận phi biện chứng rằng: Nhà nước

quân chủ lập hiến ở Phổ đầu thế kỷ XIX chính là biểu hiện của "ý niệm tuyệt đối",

tức là điểm tột cùng của sự phát triển xã hội

Trên cơ sở kế thừa và phát triển sáng tạo những tinh hoa tư tưởng mà loài người đã sáng tạo ra trong nhiều thế kỷ, đặc biệt là trong thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác nói chung và học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội của Mác nói riêng đã ra

đời, đánh dấu một bước tiến mới trong nhận thức của nhân loại về phát triển xã hội

theo nghĩa rộng

Nhưng sẽ là không cần thiết nếu nhắc lại ở đây những nội dung cơ bản của học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội do Mác đề xướng và được Ph Ăngghen tóm tắt thành một công thức hết sức cô đúc, như ở trên đã trình bày

Chỉ có điều cần lưu ý thêm rằng, theo quan niệm của C Mác, chính do sự tác động qua lại biện chứng giữa cơ sở kinh tế, cơ cấu xã hội và kiến trúc thượng tầng chính trị mà sự vận động thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội từng

tồn tại ở các nước khác nhau trên thế giới trở thành "một quá trình lịch sử - tự nhiên"1 Tuy vậy, quá trình đó không phải ở đâu và bao giờ cũng đều diễn ra theo một con đường thẳng và tuần tự như tiến Trái lại, nó thường quanh co, khúc khuỷu

và lâu dài, vừa có những cơ hội "rút ngắn", bỏ qua một hoặc một vài hình thái nào

đó, vừa có những lúc phải trải qua những bước thụt lùi lớn, nhưng cuối cùng hình thái xã hội tiến bộ hơn nhất định sẽ vượt lên chiếm địa vị ưu thắng

Trở lên trên, chúng ta đã bàn đến phát triển xã hội theo nghĩa rộng Còn phát triển xã hội theo nghĩa hẹp thì cần được hiểu như thế nào?

Đây chính là điều mà một số tổ chức quốc tế như Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ Nhi đồng của Liên hợp quốc (UNICEF) và bản thân Liên hợp quốc thường đặt ra trong các kế hoạch hành động của họ

thể xem Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển xã hội (World

Summit on Social Development) họp ở Copenhagen, Đan Mạch (tháng 3-1995) do UNDP tổ chức là một ví dụ điển hình Hội nghị này đã đưa ra những nhận định

quan trọng như: Trên thế giới ngày nay, nhiều cuộc khủng hoảng mang nặng tính

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 23 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1993, tr 21.

Trang 29

chất xã hội hơn là tính chất kinh tế Tại nhiều nước - kể cả những nước phát triển

và đang phát triển – có khi kinh tế vẫn tăng trưởng nhưng tình trạng thất nghiệp, sự nghèo đói và sự loại trừ xã hội đối với những người yếu thế không những không giảm mà còn có chiều hướng tăng lên Vì thế, tất cả các nước phải xem xét lại chiến

lược phát triển của mình, trong đó, cùng với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế phải đặc biệt chú ý đến việc giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển

Hội nghị nhất trí thông qua Tuyên bố chung và Chương trình hành động, theo đó từ

năm 1995 đến năm 2000 và triển vọng đến năm 2010, các quốc gia trên thế giới cần

ưu tiên giải quyết ba vấn đề vừa cơ bản vừa bức xúc của phát triển xã hội là mở rộng việc làm, giảm nghèo và hội nhập xã hội đối với các nhóm yếu thế

Tham gia Hội nghị nói trên, Báo cáo quốc gia của Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam về phát triển xã hội đã đề cập đến 10 vấn đề quan trọng Đó

là: giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, hòa nhập xã hội, tăng cường vai trò của gia đình, phát triển giáo dục, dân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo trợ xã hội, môi trường, hạn chế và ngăn ngừa các hành vi tội phạm

Theo Cơ quan chuyên trách về phát triển xã hội thuộc Liên hợp quốc thì khái

niệm phát triển xã hội được xác định bao gồm 4 lĩnh vực cơ bản: 1) Xóa đói và tạo việc làm; 2) Dịch vụ hỗ trợ liên chính phủ và thực hiện; 3) Chính sách kinh tế - xã hội và quản lý phát triển xã hội; và 4) Hội nhập xã hội1

Từ những điều nói trên, ta có thể rút ra định nghĩa: "Phát triển xã hội" theo

nghĩa hẹp là chiều cạnh xã hội (social dimension) của sự phát triển đặt trong mối

quan hệ gắn bó hữu cơ với các chiều cạnh kinh tế, chính trị, văn hóa của sự phát triển xã hội tổng thể

Hơn 20 năm qua, kể từ Đại hội VI đến nay, trong các văn kiện chính thức của Đảng ta, vấn đề phát triển xã hội đã được đề cập đến theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Cương lĩnh (1991) của Đảng ghi: "Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ

qua chế độ tư bản chủ nghĩa, từ một xã hội vốn là thuộc địa - nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp"2 Đến đại hội IX, vấn đề "bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa" được giải thích là: "Bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của các quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà

1 Xem: Bùi Nhật Quang, Các mô hình phát triển xã hội châu Âu và sự cần thiết của thể chế quản

trị toàn cầu, Tạp chí nghiên cứu Châu Âu, số 12 (99)/2008, tr 18.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

hội Nxb Sự thật, Hà Nội 1991, tr 8

Trang 30

nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại"1 Đại

hội nhấn mạnh: "Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra

sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn,

phức tạp, lâu dài, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài "2

Bên cạnh cách tiếp cận khái niệm phát triển xã hội nêu trên, trong quá trình

đổi mới tư duy, Đảng ta còn đề cập đến phát triển xã hội theo nghĩa hẹp nữa Văn kiện Đại hội VI nêu rõ: Cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước

phải "tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội"3 Và nhiệm vụ này được chính Đại hội

VI và các đại hội kế tiếp cụ thể hóa thành một hệ thống các chính sách xã hội, bao gồm: kế hoạch hóa dân số, giải quyết việc làm cho người lao động, thực hiện công bằng xã hội, xây dựng quan hệ xã hội lành mạnh, khắc phục các hiện tượng tiêu cực, chăm lo nâng cao dân trí, bảo vệ sức khỏe nhân dân, quan tâm đến lợi ích chính đáng của từng giai tầng xã hội, mở rộng dân chủ đi đôi với củng cố kỷ cương

xã hội, phát hiện và giải quyết kịp thời những mâu thuẫn mới nảy sinh trong nhân dân, bảo đảm trật tự và an toàn xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái

Đặt phát triển xã hội theo nghĩa hẹp trong sự gắn bó với phát triển xã hội theo nghĩa rộng có một ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng Nó tránh cho nhà nghiên cứu khỏi rơi vào quan điểm siêu hình: "Chỉ thấy cây mà không thấy rừng" Ngược lại, cũng không thể cứ say sưa quan sát toàn cảnh cánh rừng mà không tìm hiểu kỹ những cái cây cụ thể đang là đối tượng cần phải chăm sóc và khai thác

I.1.3 Quản lý phát triển xã hội

Vấn đề quản lý phát triển xã hội luôn có một tầm quan trọng đặc biệt Một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững phụ thuộc chủ yếu vào năng lực quản lý xã hội đó C Mác từng chỉ ra rằng: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một

sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng"4

Trang 31

Hiểu theo tư tưởng trên đây của C Mác, có thể xem xã hội là một dàn nhạc, còn chủ thể quản lý là nhạc trưởng

Sau Cách mạng tháng Mười 1917, V I Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh nhiệm

vụ quản lý xã hội Theo Người, nếu chính quyền Xô-viết không làm tốt nhiệm vụ

đó thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga sẽ không thể tiến lên một bước nào

Trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, vấn đề quản lý phát triển xã hội không tách rời sự nghiệp đổi mới toàn diện nhằm xây dựng thành công xã hội xã

hội chủ nghĩa với những đặc trưng mà Cương lĩnh 1991 đã đề ra và được Đại hội X

của Đảng bổ sung Đó là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; Do nhân dân làm chủ; Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất;

Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con người được giải phóng khỏi

áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; Có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; Có quan hệ hữu nghị

và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới1

Rõ ràng, trong các luận điểm của C Mác, V.I Lênin và của Đảng ta vừa nêu

ở trên, đối tượng của quản lý là sự phát triển xã hội theo nghĩa rộng

Bùi Đình Thanh cho rằng, “vấn đề quản lý sự phát triển xã hội có một tầm quan trọng đặc biệt Sự phát triển xã hội bắt đầu bằng việc quản lý xã hội Một xã hội phát triển tốt và lành mạnh phụ thuộc chủ yếu vào năng lực quản lý xã hội đó”2 Trong đó, nếu kinh tế được coi là nền tảng và là yếu tố hàng đầu của sự phát triển

xã hội, thì phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội liên quan và phụ thuộc chặt chẽ vào khả năng, mức độ phát triển và tăng trưởng kinh tế của xã hội Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững là cơ sở chủ yếu, là nền tảng vật chất tác động đến phát triển xã hội Nói cách khác, sự phát triển xã hội phải là sự phát triển toàn diện, lấy phát triển kinh tế làm cơ sở để thúc đẩy những tiến bộ xã hội Do đó, phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội dù là trong chế độ xã hội phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng không thể vượt quá khả năng cho phép của trình

độ phát triển kinh tế, nhất là trong tình trạng phát triển không đều của nền kinh tế

1 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội 2006, tr 68.

2 Bùi Đình Thanh, Xã hội học và chính sách xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, tr 51.

Trang 32

Vì thế, khi đề cập đến nhiệm vụ quản lý phát triển xã hội theo nghĩa hẹp thì trước hết cũng phải xác định rõ mục tiêu mà chủ thể quản lý cần phấn đấu đạt tới trong hoạt động của mình

Căn cứ vào thực trạng của lĩnh vực xã hội hiện nay, có thể thấy rằng hệ mục tiêu mà quản lý phát triển xã hội theo nghĩa hẹp cần đạt tới vào năm 2010 và triển vọng đến năm 2020 là:

Thứ nhất: Chất lượng sống của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, thể hiện

ở các điều kiện về ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, phòng - chữa bệnh, việc làm, thu nhập , được cải thiện

Thứ hai: Trình độ dân chủ hóa đời sống xã hội được nâng cao; nghĩa vụ và

quyền lợi chính đáng của các giai cấp, các tầng lớp xã hội được bảo đảm

Thứ ba: Gia đình hòa thuận, cộng đồng (làng xóm, phố phường, tập thể )

hài hòa, dân tộc đoàn kết

Thứ tư: Môi trường xã hội an toàn và lành mạnh; các tệ nạn xã hội dần dần bị

ngăn chặn và đẩy lùi; môi trường sinh thái được bảo vệ

Thứ năm: Con người có điều kiện từng bước phát triển cả thể lực, trí lực và

tâm lực, có cơ hội được cống hiến và được hưởng thụ công bằng thành quả của sự phát triển đất nước

Để thực hiện tốt các mục tiêu trên, thì chủ thể quản lý phát triển xã hội là nhà nước phải không ngừng tự đổi mới, tự củng cố, tự hoàn thiện về nhiều mặt Trong

đó, đặc biệt chú trọng những mặt sau:

Một là, có hiểu biết sâu sắc về tầm quan trọng của phát triển xã hội, xử lý tốt

các mối quan hệ giữa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, không chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà xem nhẹ phát triển xã hội, phát triển con người để đến nỗi rơi vào vết xe đổ của mô hình "phát triển xấu" mà không ít nước trên thế giới đã trải qua

Hai là, thường xuyên theo dõi xu hướng biến đổi của cơ cấu xã hội, mà cốt

lõi là cơ cấu các giai tầng xã hội, qua đó kịp thời nắm bắt những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của các giai cấp, các tầng lớp dân cư để có chính sách đáp ứng thích hợp

Ba là, chủ động tạo ra sự đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân, có khả

năng ít dùng quyền lực để giải quyết các mâu thuẫn và xung đột xã hội, tăng cường các biện pháp vận động, giáo dục, thuyết phục, đối thoại

Trang 33

Bốn là, có ý thức sâu sắc về dân chủ hóa phong cách quản lý của bộ máy

chính quyền các cấp từ trung ương đến cơ sở, bằng mọi biện pháp lắng nghe được tiếng nói trung thực của nhân dân

Năm là, kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường pháp luật và đề cao đạo đức trong

quản lý phát triển xã hội Đấu tranh chống những hiện tượng phi pháp và phi đạo đức thường dễ xảy ra trong lĩnh vực này như quan liêu, tham nhũng, lãng phí làm tổn hại đến lợi ích của nhà nước và của nhân dân

Sáu là, vừa tăng cường vai trò quản lý phát triển xã hội của nhà nước vừa đề

cao ý thức và trách nhiệm tự quản của nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, xem sự nghiệp "đổi mới và xây dựng là công việc của dân"; do đó trong quản lý phát triển

xã hội phải đặc biệt chú ý: "Đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân"1

Bảy là, coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát Đồng thời không

ngừng phát huy tác dụng của công tác thông tin, báo chí, một lực lượng hùng hậu, nhạy bén, chiếc cầu nối giữa chủ thể quản lý phát triển xã hội với các đối tượng của quản lý

Tám là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tiến tới xây dựng một lý thuyết về

quản lý phát triển xã hội dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn ở nước ta, có tham khảo kinh nghiệm của thế giới nhưng không sao chép, rập khuôn Thiếu một lý thuyết có căn cứ khoa học vững chắc thì nhiều lắm cũng chỉ giải quyết được những vấn đề trước mắt, không giải quyết được những vấn đề quản lý phát triển xã hội có tính bền vững, lâu dài

Từ tất cả những điều nói trên, có thể đi đến định nghĩa:

Quản lý phát triển xã hội là hoạt động có ý thức và có cơ sở khoa học của chủ thể quản lý tác động vào chiều cạnh xã hội của sự phát triển nhằm tạo lập một

cơ cấu xã hội năng động, thống nhất trong đa dạng, phát huy những nhân tố tích cực, kịp thời khắc phục các mâu thuẫn nảy sinh, đạt tới sự đồng thuận xã hội, tạo điều kiện cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng phát huy hết tiềm năng lao động sáng tạo trong một xã hội phát triển theo hướng nhân văn, vì mục tiêu cao nhất là hạnh phúc của con người2

Cần nhấn mạnh rằng phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong giai đọan hiện nay thực chất là nhằm có một xã hội đạt được mục tiêu đã đề ra, trong đó

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr 65.

2 Phạm Xuân Nam: Xã hội, phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội Tạp chí Lý luận Chính trị,

số 9-2008.

Trang 34

cơ cấu xã hội phải phù hợp với cơ cấu kinh tế, thực hiện sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội, tạo điều kiện cho con người phát huy hết tiềm năng lao động sáng tạo trong một xã hội nhân văn Phát triển kinh tế, bên cạnh những mặt tích cực của nó không tránh khỏi những tác động tiêu cực đến phát triển

xã hội và quản lý phát triển xã hội Việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế một cách không có căn cứ khoa học cũng như phát triển thiếu đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội sẽ đặt sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trước những áp lực nặng nề Nói khác đi, nếu không dựa trên những chính sách phát triển kinh tế hài hòa, hợp lý thì việc phát triển xã hội sẽ thiếu cơ sở hiện thực vững chắc và lâu dài, ngược lại nếu phát triển xã hội thụ động đi sau phát triển kinh tế, thì chính sách xã hội sẽ lạc hậu ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế hoặc làm phát sinh những vấn đề mới trong quá trình quản lý phát triển xã hội Có thể nói tác động qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội là biện chứng khách quan trong quá trình phát triển và tiến bộ xã hội trong thời đại ngày nay Tăng trưởng kinh tế một cách hài hòa là cơ sở kinh tế cho phát triển xã hội; phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội lại là điều kiện xã hội và động lực cho sự phát triển kinh tế

I.1.4 Yếu tố ngoại sinh

Khái niệm “ngoại sinh” trước hết được dùng trong lĩnh vực sinh học “những

cơ thể sinh vật được sinh ra hoặc bắt nguồn từ bên ngoài cơ thể” Như vậy, xuất phát từ khái niệm này rõ ràng đây là một nội hàm rất rộng, tất cả những gì không

có ở bên trong được quy định là yếu tố bên ngoài, yếu tố ngoại sinh Áp dụng vào

mỗi lĩnh vực đều bao hàm những yếu tố ngoại sinh khác nhau, ví như:

Trong kinh tế học, yếu tố ngoại sinh là những tác động phụ của hoạt động

sản xuất hoặc tiêu dùng tác động lên các bên không trực tiếp tham gia vào giao dịch Ngoại ứng dương (positive externalities) xuất hiện khi các bên không tham gia vào giao dịch có lợi từ giao dịch Ngoại ứng âm (negative externalities) xuất hiện khi bên thứ ba bị thiệt hại1

1 Ngoại ứng âm xảy ra do kết quả của ô nhiễm, như khói thuốc, tiếng ốn… Khi ngoại ứng dương xuất hiện, những ai tham gia giao dịch sẽ không được tính lợi ích xã hội bên ngoài từ kết quả hoạt động của họ Kết quả là, hàng hóa hoặc hoạt động tạo ra ngoại ứng dương được sản xuất ít hơn trong một nền kinh tế thị trường Chính phủ có thể sửa chữa thất bại này bằng việc trợ cấp cho hoạt động đó hoặc ban hành những quy định hoặc trách nhiệm yêu cầu có mức hoạt động cao hơn… Nói cách khác, ngoại ứng âm mang lại kết quả chi phí xã hội không được tính tới bởi những người tham gia hoạt động gây ngoại ứng ấm Trong trường hợp này, thị trường sẽ sản xuất nhiều hàng hóa hoặc hoạt động gây ngoại ứng âm hơn Chính phủ có thể cố sửa chữa ngoại ứng âm này bằng cách đánh thuế hoạt động hoặc ban hành các nguyên tắc làm giảm mức độ hoạt động Sử dụng thuế hoặc trợ cấp nhằm sửa chữa ngoại ứng được gọi là “nội hóa yếu tố ngoại sinh” do nó liên quan tới việc làm biến đổi giá của hàng hóa phản ánh chi phí bên ngoài hoặc lợi ích của hoạt động.

Trang 35

Trong thực tiễn quản lý và điều hành thực hiện phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam, những yếu tố ngoại sinh được nhìn nhận như những yếu tố khách quan tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Những yếu tố ngoại sinh này trên thực tế có thể phân loại thành rất nhiều yếu

tố, đối tượng, nhóm, cụm… cùng tác động đến chủ thể phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

I.1.5 Yếu tố nội sinh

Khi đề cập đến những yếu tố nội sinh, các nhà nghiên cứu và hoạt động thực

tiễn đều cho rằng biểu hiện của nó hết sức rộng lớn và chủ yếu là thông qua lĩnh

vực văn hóa Và trong quan hệ với những nhân tố được coi là ngoại sinh dường như

sự tách biệt giữa nội sinh và ngoại sinh chỉ mang tính chất tương đối Bởi lẽ, tất cả

các yếu tố được coi là ngoại sinh như điều kiện địa lý – tự nhiên, hình thái lãnh thổ, nhân tố kinh tế - xã hội, yếu tố kinh tế thị trường, nhân tố quốc tế, yếu tố gián tiếp tác động đến chủ thể phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đều gắn bó với yếu tố nội sinh Tùy vào từng giai đoạn, từng vấn đề mà những yếu tố đó tác động ở mức độ khác nhau, cũng như không phải tất cả những yếu tố khác ngoài các nhóm yếu tố trên là thứ yếu, việc kết hợp và sử dụng toàn diện, hài hòa, triệt để của tất cả các yếu tố nội sinh, ngoại sinh sẽ đưa đến cho chủ thể quản lý phát triển xã hội một cái nhìn khách quan, có căn cứ khoa học và mang tính toàn diện để phát triển xã hội, phát triển đất nước, phát triển con người

Căn cứ vào việc phân tích những tác động nhiều chiều, về mức độ phù hợp với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của các chủ thể liên quan, chúng tôi xin nêu lên bốn nhóm yếu tố nội sinh chủ yếu sau đây:

- Nhân tố con người với tư cách là chủ thể, đối tượng và là động lực của phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội;

- Truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc;

- Tác động từ chính sách, chủ trương của chủ thể phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội;

- Tác động của yếu tố kinh tế, xã hội trong nước

Thấy rõ mối quan hệ giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh và đặt mục tiêu phát triển vào việc phục vụ con người, một số quốc gia đã lựa chọn mô hình tăng trưởng kinh tế cùng với việc phát triển tài nguyên con người, bảo vệ môi trường sinh thái Với mô hình này, tuy tăng trưởng kinh tế không nhanh, nhưng lại bền vững, xã hội ổn định Đây là quan niệm phát triển kinh tế gắn liền với phát triển văn

Trang 36

hóa, được các nhà khoa học, các chính khách thừa nhận Từ đó cho rằng: Phát triển

xã hội là một quá trình nội sinh và tự hướng tâm vào sự tiến hóa toàn cục mang tính đặc thù cho mỗi xã hội Vì vậy ở đây có sự tương đồng về nghĩa và khả năng chuyển hóa lẫn nhau giữa phát triển và văn hóa

Cần khẳng định rằng về mặt kinh tế, việc thực hiện chính sách hội nhập để tăng cường liên kết, liên doanh với nước ngoài là cần thiết Song, yếu tố ngoại sinh như vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và thị trường của nước ngoài chỉ

có thể biến thành động lực bên trong của sự phát triển, nếu được sử dụng hợp lý, có hiệu quả để trở thành các yếu tố nội sinh của đất nước Việt Nam với những đặc điểm về truyền thống văn hóa, đạo đức, tâm hồn, lối sống của người Việt Nam Tiếp thu các kiến thức khoa học tiên tiến và kinh nghiệm nước ngoài, chúng ta cần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập, phát triển Bởi lẽ, nền văn hóa dân tộc sẽ đóng vai trò định hướng và điều tiết để hội nhập và phát triển, một sự phát triển bền vững Hội nhập để phát triển nhưng vẫn giữ vững được độc lập, tự chủ Hợp tác kinh tế với nước ngoài để phát triển nhưng không bị lợi dụng, không bị biến thành kẻ đi vay nặng lãi, đất nước mình không bị biến thành nơi cung cấp nguyên liệu và nhân công giá rẻ, thành nơi tiêu thụ hàng hóa ế thừa và tiếp nhận chuyển giao những công nghệ lạc hậu, tiếp nhận lối sống không lành mạnh với những ảnh hưởng của thứ “văn hóa” độc hại và môi trường sinh thái bị tàn phá…

Rõ ràng, làm thế nào để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà vẫn giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc và môi trường sinh thái không bị ô nhiễm đang là vấn đề bức xúc đặt ra trong tiến trình đổi mới ở nước ta hiện nay Do đó, có thể nói, một trong những biện pháp để công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ đơn thuần là nhập khoa học – kỹ thuật – công nghệ tiên tiến từ bên ngoài, mà còn là biết kết hợp các yếu tố nội sinh và ngoài sinh, trong đó yếu tố nội sinh là gốc, là nền tảng Chúng ta coi mục đích của hiện đại hóa không chỉ vì một cuộc sống tiện nghi, mà là phát triển toàn diện con người và đất nước Việt Nam theo hướng hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc

Trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, một mặt, để hòa được với trình độ phát triển của thế giới, mặt khác, để giữ gìn được bản sắc văn hóa của mình, chúng ta cần phát huy các giá trị truyền thống để tiếp thu những thành quả khoa học – công

nghệ hiện đại, coi yếu tố nội sinh có vai trò quyết định trong việc định hướng các mối quan hệ của chúng với các yếu tố ngoại sinh, còn các yếu tố ngoại sinh phải trở thành tố chất kích thích sự phát triển của các yếu tố nội sinh Tiếp thu trên thế chủ động nhằm xử lý mối quan hệ biện chứng giữa nội sinh và ngoại sinh Muốn đạt

Trang 37

được điều đó, chủ thể tiếp nhận phải có đủ kiến thức và trình độ để đối thoại và xử

lý mối quan hệ với đối tác một cách tự tin Nguyên tắc là lấy văn hóa của mình làm gốc, lấy giá trị văn hóa dân tộc làm bộ lọc để tiếp thu các giá trị khoa học - công nghệ - văn hóa hiện đại của thế giới, lấy cái tiến bộ, ưu việt của đối tác bổ sung cho những thiếu hụt trong văn hóa truyền thống của mình, tạo thuận lợi cho văn hóa dân tộc phát triển Kinh nghiệm hàng nghìn năm tiếp xúc, giao lưu với văn hóa Đông Nam Á, văn hóa Trung Hoa, văn hóa phương Tây… của dân tộc ta để giữ được bản sắc văn hóa của mình là một bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu

I.2 ĐỊNH DẠNG CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

Có nhiều yếu tố tác động tới phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước Mỗi yếu tố có vị trí, nội dung và ý nghĩa riêng của nó, do đó có tác động và ảnh hưởng khác nhau tới phát triển xã hội

và quản lý phát triển xã hội Chúng hợp thành một hệ thống, hay là một tập hợp các yếu tố, khách quan và chủ quan, vật chất và tư tưởng, ngoại sinh (quốc tế, khu vực

và thế giới toàn cầu) và nội sinh (trong nước, trong xã hội) trực tiếp và gián tiếp, bức xúc trước mắt và cơ bản lâu dài Những yếu tố này tác động tới phát triển và quản lý phát triển từ chiều cạnh xã hội ở Việt Nam là đa dạng và có nhiều khác biệt song đều thể hiện mối liên hệ giữa con người với môi trường, với thể chế (chính trị

và kinh tế) và văn hoá Dưới đây ta hãy xem xét các yếu tố đó

I.2.1 Quan niệm và triết lý về phát triển bền vững, phát triển hiện đại hoá

Yếu tố này thuộc về lý thuyết và mô hình phát triển Nếu phát triển xã hội hướng vào chiều cạnh xã hội của phát triển và quản lý phát triển xã hội là hoạt động quản lý tự giác, có định hướng mục tiêu, có chiến lược và chương trình hành động của chủ thể (ở đây cấp độ là Đảng và Nhà nước), vì chất lượng cuộc sống của từng

cá nhân và cả cộng đồng thì muốn cho hoạt động này trở nên đúng đắn (đúng quy luật khách quan), hợp lý (phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước và xu thế chung của thế giới), có triển vọng tích cực (thuận với lòng dân) cần phải chú trọng tới lý luận, tới học thuyết về phát triển, vì phát triển Ý nghĩa sâu xa của phát triển là

ở văn hoá, mục đích cao đẹp nhất của phát triển là hướng vào con người, phục vụ cho sự phát triển con người

Lý thuyết thể hiện quan niệm và triết lý phát triển xã hội ngày nay, trong thế giới đương đại là những lý thuyết tổng quát Thực tiễn phát triển mau lẹ với rất nhiều đột biến đến không ngờ đòi hỏi phải kiểm nghiệm lý thuyết thông qua tổng

Trang 38

kết cải cách và đổi mới Cải tổ ở Liên Xô và Đông Âu thất bại vì đã chệch hướng mục tiêu, không có những đảm bảo có tính nguyên tắc về chính trị nên đã không giữ được ổn định, dẫn tới rối loạn xã hội, đẩy khủng hoảng đến mức trầm trọng hơn và khi đã không kiểm soát được xã hội thì kết cục là đổ vỡ Tại các nước này, dân chủ

đã biến dạng thành tự do vô chính phủ, các vấn đề xã hội tích tụ từ lâu chẳng những không giải quyết được mà còn gây ra những tổn thương xã hội nặng nề hơn, nhất là những tổn thương ấy lại rơi vào đúng các tầng lớp cơ bản của xã hội là công nhân, nông dân và trí thức nên nhân dân đã xa lánh cải tổ như một phản ứng xã hội, làm

cho chế độ mất cơ sở xã hội và đổ vỡ Trường hợp Liên Xô và Đông Âu cho thấy,

muốn lành mạnh hoá xã hội, trước hết cần có sự chỉ dẫn của một lý thuyết đúng đắn

và ứng dụng nó một cách sáng tạo Các cuộc khủng hoảng kinh tế cuối Thế kỷ XX

và hiện nay từ các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa, nhất là những cơn bão tài chính làm chấn động các nền kinh tế ở hầu hết các nước - dù đã và đang phát triển hay còn kém phát triển - đã bộc lộ những hạn chế và bất cập, thậm chí phá sản của học thuyết chủ nghĩa tự do mới trong kinh tế thị trường, cho thấy sự cần thiết phải đặt đúng vai trò của Nhà nước trong quản lý xã hội chứ không phải cứ để mặc sức cho thị trường thao túng, tự điều tiết Những hiện tượng “tăng trưởng quá nóng” trong nền “kinh tế bong bóng” với những mất cân đối giữa kinh tế và xã hội, một bộ phận giàu lên trước một cách bất thường và không kiểm soát được sẽ đẩy tới sự gay

gắt của phân hoá giàu nghèo, sự tràn lan những bất công xã hội dẫn tới cả sự tiềm

ẩn lẫn sự bùng nổ các mâu thuẫn, xung đột xã hội (Trung Quốc 1 tỷ 300 triệu người

với 900 triệu nông dân, tăng trưởng với tốc độ rất cao, nhưng chênh lệch rất lớn trong phát triển vùng, nông dân mất đất, nghèo khổ và bần cùng hoá, từ ly nông bất

ly hương đến chỗ phải chấp nhận ly nông và ly hương, đang xuất hiện nhiều dấu hiệu bất ổn, “phát triển xấu” là một ví dụ)

Mô hình kinh tế thị trường xã hội và thể chế dân chủ xã hội Bắc Âu với Thuỵ Điển là một điển hình, dù có những thời kỳ phát triển vàng son nhưng cuối cùng

cũng nảy sinh những tình huống có vấn đề trong phát triển Đó là Nhà nước thực

hiện an sinh xã hội và chính sách xã hội như thế nào là hợp lý, không vượt quá giới hạn dẫn tới tình trạng thụ động, ỷ lại, ký sinh vào Nhà nước Giới chủ bị thiệt hại lợi ích do bị đóng thuế quá mức đã phản đối và Đảng Dân chủ Xã hội đã mất vai trò cầm quyền, buộc phải điều chỉnh căn bản các chính sách phát triển xã hội

Nhiều vấn đề lý luận đặt ra về phát triển và phát triển bền vững, nhất là phải

có một nhận thức mới về các vấn đề xã hội, về mục tiêu phát triển, về lợi thế so sánh, về tương quan kinh tế – xã hội – môi trường, về vai trò của Nhà nước và xác định mô hình, lựa chọn các kịch bản phát triển

Trang 39

Việc nhấn mạnh vào các chỉ số nhân văn trong phát triển, việc cảnh báo sự cạn kiệt tài nguyên, nguy cơ của việc xuất khẩu nguyên liệu thô, việc khẩn trương đi vào kinh tế tri thức… cũng như phải thay đổi căn bản thái độ của con người đối với môi trường, nếu không nguy cơ mất an toàn trong phát triển sẽ khó tránh và hậu quả

sẽ khôn lường là những tình huống cho thấy, việc phát triển và định hình lý thuyết phát triển bền vững đang trở nên vô cùng cấp bách Các vấn đề xã hội mà không

giải quyết được, đó sẽ là ngòi nổ của khủng hoảng và rối loạn, phần nhiều là như vậy, chứ không phải chỉ do tình huống kinh tế, tài chính, lạm phát, khủng hoảng gây

ra

Lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội theo mục tiêu phát triển bền vững đòi hỏi phải dựa trên kinh tế phát triển cao nhờ chất lượng công nghệ Tăng trưởng nhưng không làm suy kiệt tài nguyên và không gây ra ô nhiễm môi trường Phải thực hiện công bằng xã hội, có một thể chế chính trị dân chủ, một hệ thống chính sách xã hội và an sinh xã hội phục vụ tốt nhất cho con người, một trình

độ quản lý văn minh hiện đại, giảm thiểu thấp nhất, thậm chí xoá bỏ quan liêu, tham nhũng như một quốc nạn, vấn nạn làm mất lòng dân, mất tín nhiệm hợp tác quốc tế

Lý thuyết phát triển xã hội đòi hỏi gần như phổ biến những cải cách triệt để, những cải biến cách mạng trong xã hội, trong quản lý

Tác động này thuộc về những đòi hỏi có tính chiến lược đối với mỗi nhà nước, mỗi chính phủ nhằm lôi cuốn ngày càng nhiều sự quan tâm của tất cả mọi người, tới từng người, từng cộng đồng Lý thuyết phát triển, do đó gắn với lý thuyết quản lý,

nó nói lên tầm nhìn của lãnh đạo, quản lý, đặt các vấn đề xã hội trong chương trình

hành động của các chủ thể quản lý, sự tham gia của các cộng đồng dân cư trong xã hội Nói vắn tắt, yếu tố lý thuyết phát triển bền vững, quản lý phát triển xã hội bền

vững là yếu tố tầm nhìn, thuộc về tầm nhìn, mang tính triết lý phát triển Con người

là trung tâm của chương trình hành động phát triển, là mục tiêu và động lực của phát triển Con người là chủ thể phát triển Ngay khi phải sử dụng sức người, lực

lượng người như một nguồn lực, nguồn vốn, thì phương tiện con người này phải đặt dưới con người mục tiêu Vì con người mục tiêu chính là đối tượng cần được giải

phóng, được phát triển, được quyền tự do và được hưởng hạnh phúc

I.2.2 Tương tác giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội tới lĩnh vực xã hội của phát triển

Tương tác này biểu thị mối quan hệ giữa phát triển xã hội tổng thể (nghĩa rộng) với phát triển xã hội trong lĩnh vực xã hội, từ chiều cạnh xã hội của phát triển

Đời sống xã hội bên trong xã hội bao gồm các lĩnh vực hoạt động là kinh tế,

Trang 40

chính trị, văn hoá và xã hội Nếu nhìn nhận sự phát triển này trong quan hệ của cấu trúc xã hội – lịch sử với môi trường tạo dựng nên và chứa đựng cái cấu trúc thực thể

ấy thì cần phải tính tới một quan hệ thứ 5 của phát triển là môi trường, bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa, xã hội Nó là cái giá đỡ vật chất cho xã

hội

Mác nói rằng, giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người Con người tồn tại

và sống trong môi trường tự nhiên ấy Trước khi con người có thể tự tách mình (một cách tương đối) ra khỏi tự nhiên, làm nên xã hội và lịch sử của mình thì con người vẫn là một bộ phận, một thành phần của tự nhiên Cái tự nhiên hay “thiên nhiên thứ hai”, là xã hội và lịch sử, là sản phẩm của hoạt động người, do con người

và các thế hệ của loài người tạo ra, trên thực tế không tồn tại ở đâu khác mà tồn tại trong tự nhiên, nối liền với tự nhiên Không có tự nhiên thì không có xã hội, do đó,

dù thế nào, con người và loài người đã là và mãi mãi gắn bó mật thiết với tự nhiên - Đất và nước, không khí, thời tiết, khí hậu, tài nguyên, vật liệu từ tự nhiên

Bởi vậy, tự nhiên trong hoạt động thực tiễn của con người đã là một tự nhiên

được nhân loại hoá, xã hội hoá, trở thành tự nhiên – xã hội Và xã hội, từ cổ xưa tới hiện đại, từ dã man tới văn minh luôn luôn là một xã hội – tự nhiên Con người ở vị

trí trung tâm, là chủ thể tương tác giữa hai lớp quan hệ đó, cả lô gích lẫn lịch sử Vì thế, tương tác này với tư cách là một yếu tố tác động tới phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đã định hình quan hệ con người với tự nhiên và con người với xã hội, trong đó con người ở vị trí trung tâm Các hiền triết thời cổ Hy Lạp đã nói rất đúng rằng, con người là châu báu của vũ trụ, là kích tấc của muôn loài, là thước đo của vạn vật

Thuyết tam vị nhất thể của phương Đông cổ đại, coi con người là một tiểu hệ thống trong cả tổng thể, phổ quát: Thiên - Địa - Nhân hợp nhất

Hồ Chí Minh xác định Thiên thời, Địa lợi là quan trọng nhưng quan trọng nhất

là Nhân hoà Mác nhìn nhận một cách duy lý, khái quát thành biện chứng giữa hoàn

cảnh và con người Phải thấy con người là sản phẩm của hoàn cảnh trong chừng mực nào đó và chính con người sáng tạo trở lại hoàn cảnh Quan hệ con người với

tự nhiên trong tương quan con người với xã hội, tức là tác động của con người tới con người, trong tính liên kết, chế ước giữa chúng, chính là tạo ra tương quan giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một hình thái xã hội Mác cũng xác

định rõ, và đây là một tư tưởng thiên tài, cực kỳ sâu sắc, cực kỳ biện chứng: Trình

độ hạn chế của con người với tự nhiên quy định trình độ hạn chế của con người ta với nhau Theo đúng quy luật này, quan hệ sản xuất không bao giờ có thể vượt

Ngày đăng: 15/04/2014, 14:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A. Toffer “Làn sóng thứ ba”. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làn sóng thứ ba
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
3. Alberto Martinelli. Thị trường, Nhà nước, cộng đồng và quản trị toàn cầu. Viện Xã hội học.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường, Nhà nước, cộng đồng và quản trị toàn cầu
4. Ban Tôn giáo Chính phủ: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 2006
5. Ban Tư tưởng- văn hóa Trung ương: Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết đại hội X của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết đại hội X của Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
6. Ban Tuyên giáo Trung ương: Tài liệu bồi dưỡng lý luận chính trị giành cho đảng viên mới. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng lý luận chính trị giành cho đảng viên mới
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
7. Báo cáo phát triển con người 1999, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 8. Báo cáo quốc gia của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vềphát triển xã hội. Hà Nội, tháng 2-1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển con người 1999", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 8. "Báo cáo quốc gia của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về "phát triển xã hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
12. Báo Lao Động số 151/2009, ngày 8 tháng 7 năm 2009 13. Báo Thanh niên, số 205 ngày 24/7/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Lao Động số 151/2009", ngày 8 tháng 7 năm 2009 13. "Báo Thanh niên
14. Bjaznova “Toàn cầu hoá và các giá trị dân tộc”. Tài liệu phục vụ nghiên cứu của Viện Thông tin Khoa học Xã hội, 2005, số TN2005-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá và các giá trị dân tộc
15. Bộ Văn hóa – Thông tin: Niên giám báo chí Việt Nam, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám báo chí Việt Nam
16. Bộ Xây dựng. Phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị. Nxb Xây dựng, 2002. Nguyễn Đăng Sơn. Phương pháp tiếp cận mới về quy hoạch và quản lý đô thị. Nxb Xây dựng, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị
Tác giả: Bộ Xây dựng
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2002
17. Bùi Đình Thanh, Xã hội học và chính sách xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học và chính sách xã hội
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
18. Bùi Nhật Quang, Các mô hình phát triển xã hội châu Âu và sự cần thiết của thể chế quản trị toàn cầu, Tạp chí nghiên cứu Châu Âu, số 12 (99)/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình phát triển xã hội châu Âu và sự cần thiết của thể chế quản trị toàn cầu, Tạp chí nghiên cứu Châu Âu
19. Bùi Thế Cường. Trong miền an sinh xã hội - nghiên cứu về tuổi già Việt Nam. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trong miền an sinh xã hội - nghiên cứu về tuổi già Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
20. Bùi Thế Cường: Góp phần tìm hiểu biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay. Nxb KHXH, Hà Nội 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay
Nhà XB: Nxb KHXH
21. Bùi Xuân Đính: Bàn thêm về mối quan hệ giữa làng và xã qua quy mô cấp xã thời phong kiến, trong Nghiên cứu Việt Nam, một số vấn đề lịch sử kinh tế xã hội - văn hoá, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về mối quan hệ giữa làng và xã qua quy mô cấp xã thời phong kiến", trong "Nghiên cứu Việt Nam, một số vấn đề lịch sử kinh tế xã hội - văn hoá
Nhà XB: Nxb. Thế giới
22. Bùi Xuân Đính: Hương ước và quản lý làng xã. Nxb KHXH, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước và quản lý làng xã
Nhà XB: Nxb KHXH
23. Bùi Xuân Đính: Lệ làng phép nước, Nxb. Pháp lý, Hà Nội, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lệ làng phép nước
Nhà XB: Nxb. Pháp lý
24. Bùi Xuân Đính: Nạn cường hào làng xã, trong Làng Việt Nam, đa nguyên và chặt. Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nạn cường hào làng xã", trong "Làng Việt Nam, đa nguyên và chặt
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
25. Bùi Xuân Đính: Quy mô cấp xã ở Bắc Ninh xưa và nay, những vấn đề đặt ra, Tạp chí Dân tộc học, số 3/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy mô cấp xã ở Bắc Ninh xưa và nay, những vấn đề đặt ra", Tạp chí" Dân tộc học
27. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 21. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w