1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở việt nam hiện nay

458 1,5K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao năng lực hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Lê Tuấn Anh, ThS. Nguyễn Thành Công, PGS.TS An Như Hải, PGS. TS Tô Đức Hạnh, ThS. Phí Thị Hằng, PGS.TS Nguyễn Thị Hường, ThS. Trần Thị Tuyết Lan, Nguyễn Thị Kiều Linh, Trần Nguyên Lý, ThS. Nguyễn Thị Miền
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Thị Thơm
Trường học Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý nhà nước về môi trường
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 458
Dung lượng 4,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi vì, nhìn chung hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này ở Việt Nam về cơ bản là đầy đủ, phủ khắp các lĩnh vực liên quan đến môi trường nhưng vì khâu thực thi yếu nên hiệu lực QLNN về mô

Trang 1

HỌC VIỆN CT-HCQG HỒ CHÍ MINH

VIỆN KINH TẾ

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NÂNG CAO NĂNG LỰC HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

CNĐT : NGUYỄN THỊ THƠM

8259

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1 Lê Tuấn Anh - Học viên Cao học KTPT, KTT, Khóa 16

2 ThS Nguyễn Thành Công - Trường Đại học Công đoàn

3 PGS.TS An Như Hải - Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

4 PGS TS Tô Đức Hạnh - Trường Đại học KTQD Hà Nội

5 ThS Phí Thị Hằng - Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

6 PGS.TS Nguyễn Thị Hường - Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

7 ThS Trần Thị Tuyết Lan - Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

8 Nguyễn Thị Kiều Linh - Viện Nghiên cứu Khoa học BHLĐ, Tổng Liên

đoàn Lao động Việt Nam

9 Trần Nguyên Lý - Sở KH - CN tỉnh Vĩnh Phúc

10 ThS Nguyễn Thị Miền - Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

1.1.1 Khái niệm, nội dung quản lý nhà nước về môi trường 191.1.2 Nguyên tắc và các công cụ quản lý nhà nước về môi trường 22

1.2.1 Khái niệm “hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường” và các chỉ

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường 45

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về

1.3.1 Một số kinh nghiệm quốc tế về nâng cao hiệu lực quản lý nhà

Chương 2: THỰC TRẠNG HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

2.1 Thực trạng hiệu lực quản lý nhà nước trong khắc phục ô nhiễm,

2.1.1 Tổng quan các văn bản pháp luật về khắc phục ô nhiễm, suy thoái

2.1.2 Tình hình thực thi các văn bản pháp luật về khắc phục ô nhiễm,

suy thoái môi trường và những kết quả đạt được 762.1.3 Đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước trong khắc phục ô nhiễm, suy

2.2 Thực trạng hiệu lực quản lý nhà nước trong thẩm định báo cáo

Trang 4

2.2.1 Tổng quan các văn bản pháp luật về đánh giá tác động môi trường 952.2.2 Tình hình thực thi việc thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi

2.2.3 Đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước trong thẩm định đánh giá báo

2.3 Thực trạng hiệu lực quản lý nhà nước trong hoạt động kiểm tra,

2.3.1 Tổng quan các văn bản pháp luật về kiểm tra, thanh tra và xử lý vi

2.3.2 Tình hình thực thi việc kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp

luật bảo vệ môi trường từ năm 2005 đến nay 1202.3.3 Đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước trong hoạt động kiểm tra, thanh

tra và xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường 133

2.4 Nguyên nhân hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở nước ta

NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 156

3.1 Quan điểm và mục tiêu nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về

3.1.1 Quan điểm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở

3.1.2 Mục tiêu nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở

Trang 5

3.2 Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi

3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách bảo vệ môi trường 1613.2.2 Tăng cường chế tài xử phạt vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường 1683.2.3 Hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ VÀ PHỤ LỤC

2.1: Mức độ xử lý ÔNMT của các cơ sở có tên trong danh sách

Quyết định 64/2003/QĐ-TTg ở 19 địa phương đã tiến

2.4: Kết quả thẩm định và phê duyệt Báo cáo đánh giá tác

động môi trường của Bộ TN và MT từ năm 2005 - 2009

2.7: Số lượng cơ sở và địa phương được Thanh tra bộ TN và

MT và các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ

kiểm tra từ 2005 đến nay

134

3.1: Sử dụng kênh thông tin tác động đến các doanh nghiệp

nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường của

các doanh nghiệp

182

Hình 1: Sơ đồ tổ chức cơ quan bảo vệ môi trường Trung Quốc

Hình 2: Sơ đồ tổ chức các cơ quan bảo vệ môi trường Singapore

Hình 3: Sơ đồ tổ chức Bộ môi trường và tài nguyên thiên nhiên Philipine Hình 4: Sơ đồ tổ chức các cơ quan bảo vệ môi trường Malayxia

Hình 5: Sơ đồ tổ chức Bộ khoa học, công nghệ và môi trường Thái Lan

Trang 7

BẢNG VIẾT TẮT

BVMT : Bảo vệ môi trường

CKBVMT : Cam kết bảo vệ môi trường

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ÔNMT : Ô nhiễm môi trường

ÔNMTNT : Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

QLMT : Quản lý môi trường

QLNN : Quản lý nhà nước

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

TTKT : Tăng trưởng kinh tế

TN và MT : Tài nguyên và Môi trường

UBND : Uỷ ban nhân dân

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trải qua hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu

to lớn Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân trên 7%/năm trong một thời gian dài Thu nhập bình quân đầu người đã tăng lên đáng kể, năm 2008 đạt gần 1.000 USD Tích luỹ của nền kinh tế ngày càng tăng, tạo điều kiện để giải quyết thành công nhiều vấn đề xã hội Những năm gần đây, bình quân mỗi năm tạo được trên 1,5 triệu việc làm cho người lao động, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh; chăm sóc sức khỏe cho người dân ngày càng tốt hơn, phúc lợi xã hội ngày càng được cải thiện

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả kinh tế - xã hội đã đạt được, ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng Năm 2008, cùng với sự bùng nổ của

lạm phát, vấn đề môi trường nổi lên như một chủ điểm nóng mà bất cứ người Việt Nam nào cũng phải quan tâm Trong những sự kiện nổi bật nhất của năm

2008 ở Việt Nam, vụ việc Công ty Vedan vi phạm nghiêm trọng Luật BVMT có thể được coi là đáng chú ý nhất Với việc xả hàng ngàn m3 nước thải công nghiêp chưa qua xử lý ra môi trường trong một ngày, doanh nghiệp này đã gây bức tử dòng sông Thị Vải Dư luận xã hội xôn xao, nhiều diễn đàn đã đăng tải ý kiến của các nhà khoa học, các nhà quản lý và của người dân, đặc biệt là của tầng lớp trẻ (trong đó có cả những học sinh phổ thông) về những vấn đề liên quan đến môi trường sau sự kiện trên Nhiều câu hỏi đặt ra xung quanh vấn đề này: Vì sao Vedan lại có thể xả một khối lượng lớn nước thải không qua xử lý vào sông Thị Vải trong gần 15 năm qua, trong khi doanh nghiệp này đã cam kết thực hiện các quy định về môi trường và trên thực tế đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung? Vì sao hiện nay có đến trên 70% khu công nghiệp ở Việt Nam chưa có hệ thống xử lý nước thải công nghiệp mà vẫn hoạt động, trong khi đây là quy định bắt buộc đối với các dự án sản xuất công nghiệp? Có bao nhiêu dòng sông, kênh, rạch đang bị ô nhiễm nặng? Vì sao nhiều làng, xã hiện nay

Trang 9

đang mắc hội chứng “làng, xã ưng thư”? Vì sao nạn tàn phá rừng, kể cả rừng phòng hộ và rừng đầu nguồn vẫn diễn ra ở khắp các địa phương? Nguyên nhân nào gây ra lũ lụt chưa từng có ở Việt Nam trong những năm gần đây? Vì sao hiện tượng biến đổi khí hậu lại xảy ra thường xuyên ở nước ta? Phải chăng Việt Nam đang hy sinh môi trường để đổi lấy tăng trưởng kinh tế trong những năm qua? Vì sao từ năm 2004 Chính phủ đã ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam trong thế kỷ 21 nhưng đến nay việc triển khai thực hiện lại hết sức hạn chế như vậy?

Đặc biệt có một luồng ý kiến chung trong hầu hết các bài viết, ý kiến của nhiều tác giả là trách nhiệm của Nhà nước và hơn hết là của các cơ quan QLNN đối các vấn đề trên như thế nào? Vì sao Việt Nam đã xây dựng một hệ thống luật đồ sộ (có trên 300 văn bản luật liên quan đến vấn đề môi trường)

mà thực trạng vi phạm các quy định BVMT ở Việt Nam trong thời gian qua lại xảy ra trầm trọng và phổ biến ? Có thể thấy thực trạng này qua số lượng ý

kiến chất vấn Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ở các kỳ họp quốc hội trong năm 2008

Thời gian gần đây, các bộ, các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ đã thực sự vào cuộc, bắt đầu từ việc áp dụng các hình thức xử phạt Vedan đến việc tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện văn bản pháp luật và các công cụ chính sách để thực hiện quy định BVMT ở Việt Nam

Nhưng liệu xu hướng này có được tiếp tục đẩy mạnh trong thời gian tới hay không? Nhất là trong điều kiện nền kinh tế đang suy thoái như hiện nay thì

đây là vấn đề rất phức tạp và nhạy cảm Hiện đang có nhiều luồng ý kiến khác nhau về vấn đề này Có ý kiến cho rằng nếu chúng ta xiết chặt hơn những quy định về môi trường, liệu có gây cản trở đến thu hút các dự án FDI trong năm

2009 và các năm tiếp theo? Hoặc, trong khi doanh nghiệp đang gặp khó khăn nếu phải thực hiện đầy đủ các quy định về BVMT sẽ làm tăng chi phí sản xuất

Trang 10

Điều đó sẽ dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh và có thể có nhiều doanh nghiệp phải “phá sản” Nhưng bên cạnh đó, cũng có những phân tích ngược lại cho rằng, để phát triển bền vững, trong đó có cả bền vững về kinh tế thì vấn đề BVMT có vai trò hết sức quan trọng Bởi vì, môi trường được bảo vệ tốt, nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ được sử dụng có hiệu lực, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sẽ tăng sức cạnh tranh nhờ tiết kiệm đầu vào và đáp ứng được tiêu chuẩn của các nước (trong đó có tiêu chuẩn môi trường) Do đó, cần phải tiếp tục bổ sung, sửa đổi các quy định pháp luật và tăng cường sử dụng các công

cụ của chính sách để QLMT chặt chẽ hơn

Đặc biệt, đã có một số tác giả bàn về hiệu lực QLNN về môi trường ở Việt Nam hiện nay Nhưng khi bàn về nội dung cần hoàn thiện đối với lĩnh vực này thì còn có những quan điểm chưa thống nhất Có tác giả khuyến nghị việc

cần làm ngay là thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về môi trường Bởi vì, nhìn chung hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này ở Việt Nam về cơ bản

là đầy đủ, phủ khắp các lĩnh vực liên quan đến môi trường nhưng vì khâu thực thi yếu nên hiệu lực QLNN về môi trường rất thấp và chính hạn chế này đã dẫn

đến những vấn đề môi trường trầm trọng như hiện nay Một số ý kiến khác lại

cho rằng, cần bắt tay ngay vào hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật

để bảo đảm tính đồng bộ và ăn khớp giữa các luật, bởi đây là nguyên nhân cơ bản làm cho luật pháp BVMT khó đi vào thực tiễn ở Việt Nam

Thực tế đó đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu sắc, toàn diện và có căn

cứ khoa học về những vấn đề nêu trên Nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài:

“Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở Việt Nam hiện nay”

với hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề, từ

đó đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực QLNN về môi trường ở nước ta

Trang 11

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Môi trường và QLNN về môi trường là một trong những chủ đề được rất nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước quan tâm Do đó, đến nay số lượng các công trình đã được công bố về những vấn đề trên hết sức phong phú

Có thể phân loại các công trình trên theo các hướng nghiên cứu cơ bản sau đây:

2.1 Hướng nghiên cứu những vấn đề chung về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực môi trường

Đây là một hướng nghiên cứu cơ bản nên số lượng công trình có rất nhiều Trong các công trình thuộc hướng này, chúng tôi thấy có thể chia thành hai nhóm như sau:

2.1.1 Các công trình nghiên cứu hệ thống pháp luật liên quan đến BVMT ở Việt Nam

Ở các công trình thuộc nhóm này, các tác giả đã giải quyết được một số vấn đề quan trọng trên cơ sở phân tích quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến môi trường, đặc biệt là Luật BVMT Các nghiên cứu đều khẳng định: bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, hệ thống luật pháp BVMT vẫn còn chứa đựng rất nhiều hạn chế Chẳng hạn, các quy định về một vấn đề cụ thể còn vênh nhau trong các văn bản pháp luật hoặc các quy định trong các luật còn mang tính trừu tượng, chung chung Những hạn chế đó đã dẫn đến việc thực thi luật pháp rất khó khăn và không nhất quán Do đó, để nâng cao hiệu lực QLNN về môi trường ở Việt Nam hiện nay, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng rà soát lại toàn bộ hệ thống luật pháp liên quan đến môi trường

để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Đồng thời, ở nhóm này một số tác giả đã phân tích các chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm Quy định BVMT ở nước ta hiện nay còn ở mức quá thấp trong mối tương quan so sánh với luật pháp của các nước khác Do đó, luật pháp Việt Nam chưa đủ sức răn đe và ngăn ngừa các tổ chức và cá nhân vi

Trang 12

phạm các quy định BVMT Từ đó, các tác giả khuyến nghị phải nâng mức phạt bằng kinh tế và áp dụng các chế tài xử phạt tương ứng với mức độ gây thiệt hại đối với môi trường Tuy nhiên, các phân tích mà các tác giả thuộc nhóm này đã tiến hành chỉ mới là những gợi mở ban đầu, chưa được lý giải một cách toàn diện vấn đề nghiên cứu Đặc biệt là vấn đề hiệu lực của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực môi trường chỉ đề cập rất ít

Tiêu biểu cho nhóm nghiên cứu này, có thể kể đến các công trình sau:

- Các quy định pháp luật về môi trường, tập 1, Nxb CTQG, H.1995

- Các quy định pháp luật về môi trường, tập 2, Nxb CTQG, H.1997

- Cần hoàn thiện văn bản pháp luật hoàn thiện môi trường,Vietnamnet,

ngày 3/3/2009

- Luật Bảo vệ môi trường, Nxb Tư pháp, H.2006

- Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về Tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Chiến lược BVMT quốc gia, Nxb CTQG, H.2004

- ThS Hoàng Thị Cường, Tăng cường QLMT đối với các Khu công nghiệp, Tạp chí QLNN, tháng 2/2009, tr 23-26

- Văn bản pháp luật môi trường thiếu nhiều văn bản pháp luật răn đe,

Trang 13

phát triển và bảo vệ các tài nguyên quan trọng như Chiến lược phát triển tài nguyên biển, Chiến lược phát triển và bảo vệ tài nguyên rừng, Chiến lược phát triển các ngành có tác động đáng kể đến môi trường… Các tác giả của công trình nghiên cứu này đều thống nhất rằng, các chiến lược trên có vai trò rất quan trọng đối với BVMT sinh thái ở Việt Nam Bởi vì, chiến lược chính là công cụ quản lý dài hạn của Nhà nước trong lĩnh vực môi trường Đồng thời, các tác giả cũng khẳng định mặc dù đã có nhiều thay đổi trong tư duy khi xây dựng chiến lược nhưng các nhà làm chiến lược Việt Nam vẫn chưa có một tầm nhìn dài hạn và đầy

đủ Đặc biệt, yêu cầu lồng ghép các vấn đề về môi trường trong chiến lược phát triển các ngành chưa được quan tâm đúng mức

Bên cạnh đó, trong số các công trình thuộc nhóm này, các tác giả đã đi vào phân tích một số quy hoạch phát triển một số tài nguyên quan trọng như Quy hoạch sử dụng đất, Quy hoạch khai thác khoáng sản và đồng thời cũng bàn đến quy hoạch của một số ngành quan trọng như công nghiệp, nông nghiệp theo yêu cầu BVMT Các tác giả đã chỉ ra những hạn chế của quy hoạch và đều tập trung ở những điểm sau đây: Quy hoạch thiếu tính tổng thể (ở tầm quốc gia, vùng), thiếu tính phối hợp (giữa quy hoạch khai thác các tài nguyên với ngành, vùng lãnh thổ, giữa các vùng lãnh thổ kề cạnh…), các tiêu chí về phát triển bền vững, đặc biệt là tiêu chí về môi trường chưa được đưa nhiều vào các quy hoạch Do đó, những hạn chế của chiến lược và quy hoạch nêu trên là nguyên nhân làm giảm hiệu lực QLNN về môi trường ở Việt Nam

Từ đó, các tác giả đã đề xuất các giải pháp xây dựng chiến lược và quy hoạch dựa trên các căn cứ khoa học, đặc biệt là phải có những dự báo có chất lượng cao Tuy vậy, ở các công trình này còn thiếu những phân tích, đề xuất quan trọng để xây dựng chiến lược và quy hoạch đáp ứng yêu cầu BVMT Chẳng hạn, nhân tố con người đối với lĩnh vực này hầu như chưa được bàn tới, hoặc việc xây dựng cơ chế liên kết giữa các cơ quan chức năng trong xây dựng chiến lược, quy hoạch còn hết sức mờ nhạt

Trang 14

Các công trình cơ bản của nhóm nghiên cứu này bao gồm:

- TS Lê Thị Kim Dung, Giải quyết vấn đề môi trường trong quy hoạch phát triển: Từ văn bản pháp quy đến thực tiễn quản lý, Tạp chí Kinh tế và dự

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chính sách phát triển bền vững ở Việt Nam, H.2006

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Phân tích tác động của chính sách đô thị hóa đối với phát triển bền vững ở Việt Nam, H.2006

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Dự án VIE/01/021, Hỗ trợ xây dựng và thực

hiện chương trình Nghị sự 21 quốc gia của Việt Nam, Phát triển bền vững Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất, H tháng 12/2004

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Dự án VIE/01/021, Kỷ yếu Hội nghị phát triển bền vững toàn quốc lần thứ hai, H tháng 5/2006

2.2 Hướng nghiên cứu hệ thống tổ chức QLNN về môi trường ở Việt Nam

Trên cơ sở phân tích cơ cấu tổ chức và vai trò của hệ thống QLNN trong lĩnh vực môi trường ở Việt Nam, các tác giả đã chỉ ra những tồn tại của bộ máy QLNN trong lĩnh vực môi trường: Tổ chức bộ máy thiếu ổn định (lúc nhập, lúc tách từ các bộ, các sở), đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực này quá ít về số lượng (chưa bằng 1/5 so với mức trung bình của thế giới tính theo bình quân/ 1 vạn dân số), yếu về chuyên môn Đặc biệt ở các địa phương hiện nay, các Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ có từ 1 đến 2 người có kiến thức chuyên ngành, trong khi đó, cơ quan thi hành luật pháp về môi trường chính là ở các địa phương Đồng thời, các tác giả cũng chỉ ra những chồng chéo và chưa rõ ràng trong phân cấp QLMT nên đã xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, nhất là khi

Trang 15

có những vi phạm nghiêm trọng về môi trường (điển hình là xử lý vụ việc của Công ty Vedan) Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu theo hướng này chưa có những phân tích sâu về bộ máy QLNN trong lĩnh vực môi trường, những tiêu chí cần đáp ứng về chuyên môn, về phẩm chất của cán bộ đảm nhận công việc này để từ đó có cơ sở đề xuất các giải pháp cần hoàn thiện

Điển hình trong số các công trình của hướng nghiên cứu này có thể

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Dự án VIE/01/021), Bộ Tiêu chuẩn và cơ sở

dữ liệu giám sát bền vững ở Việt Nam, H.2006

- Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh, Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững, Nxb Đại học Quốc gia, H 2001

- Hội nghị toàn ngành Tài nguyên và Môi trường, Tăng cường công tác QLNN về tài nguyên v\à môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường,

tháng 3/2004, tr 3-6

- TS Phạm Khôi Nguyên, Vai trò của các nhà hoạch định chính sách

và các cơ quan tư pháp trong việc thúc đẩy phát triển bảo vệ ở Việt Nam, Tạp

chí Tài nguyên và Môi trường, tháng 4/2005, tr 13-15

- TS Phạm Khôi Nguyên, Tăng cường công tác QLNN về tài nguyên

và môi trường đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ năm 2004, Tạp chí Tài nguyên và

Môi trường, tháng 1/2004, tr 5-7

- Vedan tinh vi hay cơ quan chức năng bị che mắt, Vietnamnet, ngày

17/9/2008:

Trang 16

- Vedan và căn bệnh thường ngày của cơ quan QLNN, Vietnamnet,

ngày 20/9/2008

- Phạm Thị Ngọc Trâm, QLNN đối với tài nguyên và môi trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội - nhân văn, Nxb Khoa học xã hội, H.2006

- Trung tâm phát triển Tài nguyên và Môi trường (Dự án VIE/01/021), Quản

lý tổng hợp lưu vực sông theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam, H.2006

- Viện QLKTTW, Đổi mới quản lý kinh tế và môi trường sinh thái,

Nxb CTQG, H.1997

- Sẽ bùng nổ nhu cầu nhân lực môi trường, Vietnamnet, ngày 22/3/2009

- Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá thế nào để hoàn thiện công tác quản lý của Nhà nước, Nxb CTQG, H.2008

2.3 Hướng nghiên cứu chính sách, công cụ cơ bản để thực hiện nhiệm vụ QLNN trong lĩnh vực môi trường

Đây cũng là một nội dung rất quan trọng và rất rộng, thu hút nhiều tác giả tham gia nghiên cứu nên số lượng các công trình khá đồ sộ Có thể chia các công trình loại này theo các nhóm sau đây:

2.3.1 Các công trình nghiên cứu việc sử dụng công cụ kinh tế - tài chính vào công tác BVMT ở Việt Nam

Ở đây, các tác giả đi vào nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các loại thuế, phí, biện pháp đặc cọc - ký quỹ môi trường đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp, các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên vì mục đích lợi nhuận và kể cả để phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày Qua phân tích, so sánh giữa các giai đoạn khác nhau, các tác giả đã chỉ ra được tác động tích cực của việc sử dụng ngày càng rộng rãi các công cụ kinh tế - tài chính để BVMT ở Việt Nam Từ đó, khẳng định đây là biện pháp cần tăng cường sử dụng vì nó có thể làm thay đổi cơ bản hành vi của các tổ chức và cá nhân khi lựa chọn công nghệ sản xuất và cách tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên theo hướng có lợi cho môi trường Tuy nhiên, hiện nay các mức thuế, phí,… môi trường của Việt

Trang 17

Nam còn rất thấp và chưa có sự phân biệt phù hợp với từng đối tượng, mức độ

và tính chất nguy hại đối với tác động môi trường Vấn đề huy động vốn đầu tư cho BVMT cũng được các tác giả thuộc nhóm công trình này bàn tới Các nghiên cứu đều cho rằng, mức độ đầu tư cho môi trường ở Việt Nam quá thấp Nguồn đầu tư chủ yếu là của Nhà nước, một ít viện trợ NGO và nguồn vốn ODA, nguồn đầu tư của xã hội còn hết sức hạn chế Đặc biệt là đầu tư phát triển ngành công nghiệp môi trường hiện còn chưa được chú trọng đúng mức

Trên cơ sở những phân tích ở trên, các tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các công cụ kinh tế - tài chính trong lĩnh vực BVMT ở nước ta Đặc biệt, một số tác giả đã đề nghị Việt Nam cần kịp thời áp dụng thuế môi trường Tuy nhiên, ở đây còn thiếu các phân tích cách kết hợp sử dụng các công cụ của nhóm này (thuế, phí với chính sách thu hút đầu tư…) để mang lại hiệu lực tổng hợp đối với mục tiêu BVMT Các giải pháp mà các tác giả đề xuất trong lĩnh vực này cũng chỉ dừng ở mức độ gợi ý chính sách, chưa có phân tích thấu đáo

Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu trên, có thể kể đến các công trình sau đây:

- Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, Trung tâm Kinh tế Môi

trường và Phát triển vùng, Đại học KTQD, Báo cáo tổng quan đề tài “Cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng các quy định về đặt cọc - hoàn trả, ký quỹ và bảo hiểm môi trường”, H.1999

- Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, Cục Môi trường, Giới thiệu các công cụ kinh tế và khả năng áp dụng trong QLMT ở Việt Nam, H.2001

- Bộ Tư pháp, Đánh giá thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong QLMT ở Việt Nam hiện nay - Giải pháp hoàn thiện, Kỷ yếu hội thảo khoa

học, H.2005

- Nguyễn Thế Chinh, Áp dụng các công cụ kinh tế để nâng cao năng lực QLMT ở Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1999

Trang 18

- Đã đến lúc phải thực hiện thuế môi trường, Vietnamnet, ngày

- Hợp tác phát triển Việt Nam Đan Mạch về lĩnh vực môi trường (DCE),

Cần nhanh chóng hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, tháng 10/2007, tr 33-34

- Đặng Mộng Lân, Các công cụ quản lý môi trường, Nxb Khoa học và

Trang 19

nguyên nhân làm hạn chế chất lượng của các hoạt động đánh giá tác động môi trường, quan trắc và giám sát môi trường cũng được một số tác giả đề cập ở những mức độ nhất định Tuy nhiên, các tác giả chưa đề cập đến mối tương thích giữa các công cụ này để bảo đảm tính hiệu lực của cả nhóm, nhiều nguyên nhân dẫn đến các hoạt động đánh giá tác động môi trường, giám sát môi trường chỉ mang tính hình thức

Một số công trình tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có thể kể đến dưới đây:

- Lê Anh Sơn và Nguyễn Công Mỹ, Xây dựng bộ chỉ tiêu phát triển bền vững cho Việt Nam, Tạp chí kinh tế và dự báo, 9/2005

- BVMT và phát triển bền vững ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,

- Tấn Đức, Nhập khẩu phế liệu nhựa và nỗi lo môi trường, Thời báo

Kinh tế Sài Gòn, ngày 11/9/2008, tr 22

- Trần Chí Viễn, Hướng đi mới trong công tác quản lý môi trường,

Tạp chí Hoạt động khoa học, số 8/2002, tr.19-20

- Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá thế nào để hoàn thiện công tác quản lý của Nhà nước, Nxb CTQG, H.2008

Trang 20

- Ngân hàng Thế Giới, Chính sách an toàn môi trường: Hướng dẫn kỹ thuật các ngành giao thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn, Nxb

ra đánh giá kết quả đã đạt được của biện pháp này là rất đáng trân trọng, như

ý thức BVMT ở Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, sự tham gia của cộng động vào các hoạt động bảo vệ ngày càng tăng… Mặt khác, do biện pháp này không duy trì thường xuyên và chưa có sự kết hợp với các biện pháp khác nên hiệu lực còn hạn chế, trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất các giải pháp khắc phục những hạn chế này

Tuy nhiên, ở nhóm biện pháp này còn nhiều nội dung cần nghiên cứu song chưa được các tác giả đề cập đến, như việc tổ chức mạng lưới tuyên truyền, xây dựng các chương trình về môi trường cho phù hợp đối với từng nhóm đối tượng, có cơ chế khuyến khích đối với tình nguyện viên…

Các công trình tiêu biểu thuộc nhóm nghiên cứu này, bao gồm:

- Bảo vệ môi trường: cần ý thức trong mỗi cá nhân, Vietnamnet, ngày

Trang 21

- Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới, Xanh hoá công nghiệp - vai trò mới của cộng đồng, thị trường và chính phủ, Ngân hàng

Thế giới, H.2000

- Bài phỏng vấn TS Trần Hồng Hà, Cần tạo chuyển biến trong nhận thức trách nhiệm và đạo đức về môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi

trường, tháng 2/2007, tr 17-18

- Cộng đồng và giáo dục môi trường, Vietnamnet, ngày 24/2/2008

- Hành trình Xanh - cầu nối thân thiện với môi trường, Vietnamnet,

ngày 19/10/2008

- Phạm Thị Ngọc Trâm, Nhân tố xã hội nhân văn trong QLNN về tài nguyên và môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, tháng 2/2008, tr 5-7

- Sẽ bùng nổ nhu cầu nhân lực môi trường, Vietnamnet, ngày 22/3/2009

2.4 Hướng nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về QLNN trong lĩnh vực môi trường và rút ra bài học cho Việt Nam

Các tác giả của các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này chủ yếu tập trung phân tích kinh nghiệm sử dụng các công cụ kinh tế như thuế, phí, đặt cọc - ký quỹ, xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn môi trường, biện pháp giáo dục

- truyền thông môi trường Từ đó, các tác giả rút ra được một số bài học bổ ích cho Việt Nam như cần phân biệt các mức phí khác nhau đối với từng hoạt động có tác động đến môi trường ở các vùng sinh thái cụ thể Cần ban hành

và áp dụng các cấp độ tiêu chuẩn khác nhau đối với ngành, địa phương và quốc gia Tuy nhiên, còn nhiều nội dung rất cần nghiên cứu như kinh nghiệm

tổ chức bộ máy QLNN trong lĩnh vực môi trường, thu hút đầu tư để bảo vệ môi trường, chính sách phát triển ngành công nghiệp xử lý chất thải… còn chưa được các tác giả đề cập tới

Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này, có thể kể ra một số công trình sau đây:

- Bài phỏng vấn ông Takao Kawakami (Cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng

Ngoại giao Nhật Bản), Chính phủ Nhật Bản khuyến khích nghiên cứu, ứng

Trang 22

dụng khoa học công nghệ thân thiện với môi trường, Tạp chí Tài nguyên và

Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, tháng 3/2009, tr.11-14

- TS Nguyễn Ngọc Thanh - Trần Mạnh Kiên - Đỗ Gioan Hảo, Thuế, phí môi trường trên thế giới và một số định hướng cho Việt Nam, Tạp chí Tài

chính, tháng 11/2002, tr 45-47

- Trung tâm phát triển Tài nguyên và Môi trường, Viện Môi trường và

Phát triển bền vững, Quản lý tổng hợp lưu vực sông theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam (Dự án VIE/01/021), H 2006

2.5 Hướng nghiên cứu về hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường

Hiện nay đã có một số công trình đề cập đến hiệu lực QLNN về môi trường Chẳng hạn như:

- TS Phạm Khôi Nguyên, Nâng cao hiệu quả QLNN về tài nguyên và môi trường phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp

chí Tài nguyên và Môi trường, tháng 11/2003, tr 9-10

- Nâng cao hiệu quả QLNN về môi trường, thiennhien.net, ngày

13/02/2009

Trang 23

Tuy nhiên, các công trình này mới dừng ở mức kêu gọi cần phải nâng cao hiệu lực QLNN về môi trường nói chung, chưa bàn gì về khái niệm, các chỉ tiêu đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu lực QLNN về môi trường

và cũng chưa có những đánh giá cụ thể về thực trạng hiệu lực QLNN về môi trường ở nước ta

Như vậy, có thể thấy mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung QLNN về môi trường, nhưng có rất ít công trình nghiên cứu về hiệu lực QLNN trong lĩnh vực này Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn và hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu lực QLNN về môi trường ở Việt Nam

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:

3.1 Mục tiêu của đề tài

- Bước đầu xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn để phân tích, đánh giá hiệu lực QLNN về môi trường

- Phân tích, đánh giá hiệu lực thực hiện một số nội dung QLNN về môi trường ở Việt Nam

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực QLNN về môi trường ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ của đề tài:

Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về QLNN về môi trường và làm

rõ khái niệm, các chỉ tiêu đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu lực QLNN về môi trường

- Khảo cứu kinh nghiệm nâng cao hiệu lực QLNN về môi trường của một số nước trên thế giới

- Phân tích, đánh giá hiệu lực thực hiện một số nội dung QLNN về môi trường ở nước ta và làm rõ nguyên nhân của tình trạng này

Trang 24

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực QLNN về môi trường ở nước ta

4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu:

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Theo Luật BVMT, QLNN về môi trường có 10 nội dung Để đánh giá hiệu lực QLNN về môi trường phải đánh giá hiệu lực thực thi theo cả 10 nội dung này Đây là vấn đề lớn, có tầm cỡ quốc gia, trong khuôn khổ một đề tài cấp

Bộ, thời gian nghiên cứu và nguồn kinh phí có hạn, cộng với những khó khăn về nguồn thông tin, tư liệu…1, nhóm nghiên cứu chỉ lựa chọn đánh giá hiệu lực QLNN về môi trường trên ba nội dung quản lý sau:

- Hiệu lực QLNN trong thực thi các văn bản pháp luật về khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường

- Hiệu lực QLNN trong thực thi các văn bản pháp luật về thẩm định báo cáo ĐTM

- Hiệu lực QLNN trong thực thi các văn bản pháp luật về kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật BVMT

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp hệ thống hóa, Phương pháp thống kê, Phương pháp suy luận, Phương pháp phân tích tổng hợp, Phương pháp đối chiếu, so sánh,…

5 Nội dung nghiên cứu:

1 Tại Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ ba năm 2010 do Bộ TN và MT tổ chức vào hai ngày 17,18/11/2010 đã xác định trong thời gian tới sẽ thực hiện một dự án đánh giá hiệu lực QLNN về môi trường trên phạm vi toàn quốc

Trang 25

Nội dung của đề tài ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo sẽ được kết cấu thành 3 chương

LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG

TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

Trang 26

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU LỰC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG

1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG

1.1.1 Khái niệm, nội dung quản lý nhà nước về môi trường

1.1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về môi trường

"Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích

của chủ thể QLMT lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể QLMT, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu QLMT đã đề ra, phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện hành"1

Đối tượng QLMT là quản lý một hệ thống bao gồm các yếu tố vật chất

tự nhiên và nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người và

có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên Thực chất của QLMT là quản lý các hoạt động phát triển, thường xuyên diễn ra trong hệ thống môi trường và có tác động tích cực, tiêu cực đến trạng thái ổn định của nó Tuy nhiên, các hoạt động phát triển vốn không tự thân nó tiến hành mà đều do con người thực hiện Vì vậy, QLMT chính là quản lý các hành vi của các cá nhân, tập thể con người trong hoạt động sản xuất, tiêu thụ, sinh hoạt, là điều tiết các lợi ích sao cho hài hòa trên nguyên tắc ưu tiên lợi ích của quốc gia và của toàn xã hội

QLMT có nhiều hình thức khác nhau như: QLNN về môi trường; QLMT

do các tổ chức phi chính phủ đảm nhiệm; QLMT dựa trên cơ sở cộng đồng; QLMT có tính tự nguyện Trong đó, QLNN về môi trường đóng vai trò quyết định Mọi quốc gia trên thế giới đều phải thực hiện QLNN về môi trường Bởi

vì: Thứ nhất, tài nguyên thiên nhiên là yếu tố của môi trường, nhiều loại tài

1 QLMT bằng công cụ kinh tế, Nxb Lao động, Hà Nội, 2006, tr.18.

Trang 27

nguyên thiên nhiên rất khan hiếm, nhưng việc sử dụng chúng lại có xu hướng lãng phí và dễ xảy ra tranh chấp Vì thế, cần phải có Nhà nước đứng ra tổ chức,

quản lý các hoạt động có liên quan đến tài nguyên thiên nhiên, môi trường Thứ hai, có một số dạng môi trường mà việc bảo vệ nó không chỉ đòi hỏi phải có sự

thống nhất hành động trong phạm vi quốc gia, mà còn phải có sự thống nhất hành động trong phạm vi khu vực hoặc toàn cầu Chỉ có Nhà nước mới là người nhân danh đại diện để thực hiện các chương trình phối hợp chung này

Thứ ba, sự tồn tại ngoại ứng và hàng hóa công cộng đã làm cho giá cả của sản

phẩm không phản ánh đúng giá trị xã hội của nó Vì thế, các doanh nghiệp có thể sản xuất quá nhiều hoặc quá ít và gây tác động xấu đến TN và MT Vì vậy, Nhà nước phải điều chỉnh, quản lý ngoại ứng hoặc phải đảm nhiệm sản xuất, cung ứng hàng hóa công cộng, tức là cũng phải điều chỉnh và quản lý loại hàng

hóa này Thứ tư, Nhà nước là chủ sở hữu tài nguyên thiên nhiên và môi trường,

vì thế, Nhà nước không thể giao quyền quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường cho bất kỳ đối tượng nào khác Trách nhiệm quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường phải thuộc về Nhà nước

Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu "QLNN về môi trường là xác định rõ chủ thể là Nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia" 1

Đối tượng của QLNN về môi trường ở tầm vĩ mô là quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường quốc gia, phối hợp quốc tế trong BVMT khu vực và toàn cầu Ở tầm vi mô, QLNN về môi trường là chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan môi trường bộ, ngành, địa phương, các cơ sở SX, KD thi hành Luật BVMT và các bộ luật quản lý tài nguyên, các văn bản pháp lý có liên quan

1 Trường Đại học Kinh tế quốc dân: Giáo trình Kinh tế và QLMT, Nxb Thống kê, Hà Nội,

2003, tr.342.

Trang 28

QLNN về môi trường có 5 chức năng chính là: (1) Hoạch định chính sách và chiến lược BVMT Đây là chức năng quan trọng nhất trong 5 chức năng; (2) Tổ chức, hình thành các nhóm chuyên môn hóa, các phần tử cấu thành hệ thống môi trường để định hướng cho các mục tiêu đã đề ra; (3) Điều khiển, phối hợp hoạt động giữa các nhóm, các phần tử trong hệ thống môi trường; (4) Kiểm tra, phát hiện kịp thời những sai sót trong quá trình hoạt động

và các cơ hội đột biến trong hệ thống môi trường; (5) Điều chỉnh, sửa chữa các sai sót nảy sinh trong quá trình hoạt động phát triển, tận dụng cơ hội để thúc đẩy, bảo đảm cho hệ thống môi trường hoạt động phát triển bình thường

QLNN về môi trường tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau: (1) chỉ đạo, tổ chức BVMT; (2) phân phối nguồn lợi chung; (3) tổ chức khai thác và

sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia và môi trường; (4) chỉ đạo, tổ chức toàn dân BVMT; (5) phối hợp hành động quốc tế trong lĩnh vực BVMT

1.1.1.2 Nội dung quản lý nhà nước về môi trường

QLNN về môi trường bao gồm các nội dung cơ bản sau:

(1) Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về BVMT, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường

(2) Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách BVMT, kế hoạch phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường, ÔNMT, sự cố môi trường

(3) Xây dựng, quản lý các công trình BVMT và các công trình có liên quan đến BVMT

(4) Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo môi trường

(5) Thẩm định báo cáo ĐTM của các dự án và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các dự án phát triển

(6) Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường

Trang 29

(7) Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BVMT; giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo liên quan đến BVMT; xử lý vi phạm pháp luật BVMT

(8) Đào tạo cán bộ khoa học và QLMT, giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về BVMT

(9) Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong lĩnh vực BVMT

(10) Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực BVMT

1.1.2 Nguyên tắc và các công cụ quản lý nhà nước về môi trường

1.1.2.1 Các nguyên tắc quản lý nhà nước về môi trường

Thực hiện QLNN về môi trường phải quán triệt đầy đủ các nguyên tắc sau:

- Thứ nhất, bảo đảm tính hệ thống: Nguyên tắc này xuất phát từ bản

chất hệ thống của đối tượng quản lý Môi trường là một hệ thống động phức tạp, được hợp thành bởi nhiều phần tử Các phần tử này lại rất khác nhau, bị chi phối bởi các quy luật khác nhau, hoạt động không đồng hướng nhau, thậm chí mâu thuẫn, đối lập nhau Nhiệm vụ của QLMT là trên cơ sở thu thập, xử

lý thông tin về hệ thống môi trường để đưa ra các quyết định quản lý phù hợp, thúc đẩy các phần tử của môi trường hoạt động cân đối, hài hòa, theo hướng đích đã định của chủ thể QLMT - tức Nhà nước

- Thứ hai, bảo đảm tính tổng hợp: Nguyên tắc này xuất phát từ cơ sở

tác động tổng hợp của hoạt động phát triển lên đối tượng quản lý (hệ thống môi trường) Các hoạt động phát triển diễn ra dưới nhiều hình thái đa dạng, với những quy mô, tốc độ rất khác nhau và chúng đều gây ra tác động tổng hợp lên đối tượng quản lý Vì vậy, khi hoạch định chính sách, chiến lược môi trường, khi ra các quyết định QLMT cần phải tính đến tác động tổng hợp của các hoạt động phát triển

- Thứ ba, bảo đảm tập trung dân chủ: Đây là một trong các nguyên tắc

cơ bản của QLNN về môi trường nói riêng, quản lý kinh tế, quản lý xã hội nói chung QLNN về môi trường được thực hiện ở nhiều cấp khác nhau Điều đó

Trang 30

đòi hỏi phải đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ giữa tập trung và dân chủ trong QLMT Tập trung được biểu hiện thông qua kế hoạch hóa các hoạt động phát triển, ban hành và thực thi hệ thống pháp luật về môi trường, thực hiện chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình,

ở tất cả các cấp quản lý Dân chủ được biểu hiện ở việc xác định rõ vị trí, trách nhiệm, quyền hạn của các cấp quản lý, ở việc áp dụng rộng rãi kiểm toán, hạch toán môi trường, sử dụng ngày càng nhiều các công cụ kinh tế vào QLMT, nhằm tạo ra mặt bằng chung, bình đẳng cho mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương

- Thứ tư, kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ: Các thành phần

của môi trường thường do một ngành nào đó quản lý và sử dụng Nhưng các thành phần của môi trường lại được phân bố, khai thác và sử dụng trên một địa bàn cụ thể, thuộc quyền quản lý của một cấp địa phương tương ứng Như vậy, cùng một thành phần môi trường có thể chịu sự quản lý song trùng Chính vì thế, cần phải kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ thì mới đảm bảo được hiệu lực và hiệu quả quản lý tài nguyên, môi trường

- Thứ năm, kết hợp hài hòa các lợi ích: Như chúng ta đã biết, QLMT

trước hết là quản lý các hoạt động phát triển do con người tiến hành, là tổ chức và phát huy tính tích cực hoạt động của con người vì mục tiêu phát triển bền vững Mỗi cá nhân, tập thể hay cộng đồng đều có những lợi ích, nhu cầu, nguyện vọng nhất định Nhiệm vụ của QLMT là phải chú ý đến lợi ích của

họ, khuyến khích họ có những hành vi phù hợp với mục tiêu BVMT; phải kết hợp hài hòa các lợi ích trên cơ sở quy luật khách quan Kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia với lợi ích của khu vực và lợi ích quốc tế

- Thứ sáu, kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa quản lý TN và MT với quản lý kinh tế, quản lý xã hội; Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững phải kết hợp

hài hòa giữa quản lý tài nguyên, môi trường với quản lý kinh tế, quản lý xã

Trang 31

hội Điều đó được thực hiện thông qua việc hoạch định chính sách, chiến lược phát triển đúng đắn, mang tính bao quát và có tính tổng hợp; thông qua việc kết hợp chặt chẽ giữa các chương trình, kế hoạch đầu tư BVMT với chương trình, kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở mọi cấp, mọi ngành, mọi khâu của QLNN

- Thứ bảy, tiết kiệm và hiệu quả: QLMT đòi hỏi nguồn lực lớn, trong

khi đó, nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội cũng ngày càng cao Vì thế cần phải thực hiện tiết kiệm và hiệu quả trong QLMT nguyên tắc này có thể được thực hiện thông qua việc hoạch định chính sách và chiến lược BVMT quốc gia phù hợp với việc giảm tiêu hao nguyên liệu (tài nguyên) bằng cách

áp dụng khoa học - công nghệ, sử dụng vật liệu thay thế, tiết kiệm lao động, coi trọng đầu tư đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, có hệ thống cho QLMT

1.1.2.2 Các công cụ quản lý nhà nước về môi trường

Công cụ QLNN về môi trường là các phương thức, biện pháp hành động nhằm thực hiện công tác QLMT của Nhà nước Mỗi công cụ có chức năng và phạm vi tác động nhất định Nhà nước cần nghiên cứu và hoàn thiện các công cụ QLMT theo hướng ngày càng tinh vi hơn, hiệu lực hơn Người ta

có thể phân loại các công cụ QLMT được phân thành ba loại, đó là: công cụ điều chỉnh vĩ mô (gồm luật pháp và chính sách); công cụ hành động (gồm các

quy định hành chính, quy định xử phạt) và các công cụ kinh tế Theo bản chất, có thể chia các công cụ QLMT thành 4 loại sau: (1) công cụ luật pháp và chính sách; (2) công cụ kinh tế; (3) công cụ kỹ thuật và (4) công cụ giáo dục, tuyên truyền Dưới đây sẽ làm rõ các công cụ QLMT theo bản chất:

- Một là, công cụ luật pháp và chính sách

Công cụ luật pháp và chính sách còn gọi là công cụ pháp lý hay công

cụ mệnh lệnh và kiểm soát Đây là công cụ điều chỉnh vĩ mô, được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Công cụ này bao gồm các văn bản

Trang 32

về Luật Quốc tế, Luật Quốc gia, các văn bản dưới luật và các kế hoạch, chiến lược, chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương Việc sử dụng công cụ này không chỉ đảm bảo sự bình đẳng giữa các

cá nhân, tổ chức, mà còn tạo ra khả năng quản lý chặt chẽ các loại chất thải độc hại và các tài nguyên quý hiếm thông qua các quy định mang tính chất cưỡng chế cao Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ này lại đòi hỏi nguồn nhân lực và tài chính lớn để có thể giám sát được mọi khu vực, mọi hoạt động phát triển, mọi cá nhân và tổ chức

+ Luật Quốc tế về môi trường

Luật Quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc

tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa các quốc gia với tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường quốc gia

và môi trường ngoài phạm vi sử dụng quốc gia

Cho đến nay đã có hàng ngàn văn bản Luật Quốc tế về môi trường Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều văn bản Luật Quốc tế về môi trường như: Công ước Bảo vệ các di sản văn hóa và tự nhiên thế giới 1972, ký ngày 19-10-1982; Công ước IAEA về thông báo sớm sự cố hạt nhân, 1985, ký ngày 29-9-1987; Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước, 1971, ký ngày 20-9-1989; Công ước Quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm biển do tàu thuyền, ký ngày 29-8-1991; Công ước Về buôn bán quốc tế những loại động thực vật hoang dã có nguy cơ bị đe dọa, 1973, ký ngày 20-1-1994; Công ước Khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu 1992, ký ngày 16-11-1994; Công ước Chống sa mạc hóa, ký ngày 11-11-1998; Công ước Stockhlm về các chất gây ô nhiễm hữu

cơ khó phân hủy, ký ngày 23-11-2001 v.v

+ Luật Quốc gia về môi trường

Luật Quốc gia về môi trường là tổng thể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong

Trang 33

các hoạt động phát triển có liên quan đến môi trường, nhằm BVMT sống của con người

Thông thường hệ thống Luật Quốc gia về môi trường của một nước bao gồm hai bộ phận chính là luật chung (Luật BVMT) và luật sử dụng hợp lý các thành phần của môi trường hoặc BVMT cụ thể ở một địa phương, một ngành (Luật Rừng, Luật Biển, Luật Đất đai, Luật Khoáng sản )

Ở nước ta, Luật BVMT được Chủ tịch nước công bố ngày 12-12-2005

và có hiệu lực từ ngày 1-7-2006 Luật này thay thế cho Luật BVMT năm 1993 Đây là văn bản pháp luật quan trọng nhất về BVMT ở nước ta Ngoài ra, nước

ta cũng đã ban hành các luật về các thành phần môi trường như: Luật Đất đai, Luật Phát triển và bảo vệ rừng, Luật Khoáng sản, Luật Hàng hải, Luật Tài nguyên nước, Pháp lệnh Đê điều, Pháp lệnh về Bảo vệ nguồn lợi thủy sản v.v

+ Quy định, quy chế và tiêu chuẩn môi trường

Quy định về môi trường là những văn bản dưới luật, nhằm cụ thể hóa hoặc hướng dẫn thực hiện các nội dung của Luật Môi trường Quy định này

có thể do Chính phủ Trung ương hay địa phương, do cơ quan hành pháp hay lập pháp ban hành

Quy chế về môi trường là các quy định về chế độ, thể lệ tổ chức quản

lý BVMT, ví dụ như quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, bộ, ngành về BVMT

Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để QLMT Tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Tiêu chuẩn môi trường phản ánh trình độ khoa học - công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế của quốc gia Việc xây dựng tiêu chuẩn môi trường phải khoa học

+ Chính sách và chiến lược BVMT

Chính sách BVMT là công cụ chỉ đạo toàn bộ hoạt động BVMT trên một phạm vi lãnh thổ rộng lớn như một vùng, một quốc gia trong một thời

Trang 34

gian dài (từ 10 đến 15 năm trở lên) Chính sách BVMT phải nêu lên mục tiêu

và những định hướng lớn để thực hiện mục tiêu

Chiến lược BVMT là cụ thể hóa chính sách ở một mức độ nhất định Chiến lược xem xét mối quan hệ giữa các mục tiêu do chính sách đã xác định, các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó Từ đó, lựa chọn các mục tiêu khả thi, xác định phương hướng, biện pháp thực hiện các mục tiêu đề ra

+ Quy hoạch, kế hoạch hóa BVMT

BVMT được thực hiện trên phạm vi rộng lớn, có liên quan đến nhiều

cơ quan bộ, ngành, tổ chức, cá nhân và được thực hiện trong thời gian dài Vì vậy cần phải xây dựng quy hoạch, kế hoạch hóa BVMT Nội dung cơ bản của quy hoạch, kế hoạch hóa BVMT là điều tra cơ bản về chất lượng, môi trường, trữ lượng tài nguyên, thu thập số liệu làm cơ sở cho việc lập quy hoạch môi trường theo các cấp quản lý Quy hoạch, kế hoạch có thể là dài hạn, trung hạn hoặc ngắn hạn; là BVMT và cân đối các nguồn lực, đảm bảo tái sản xuất chất lượng môi trường với chi phí thấp nhất

- Hai là, công cụ kinh tế

Công cụ kinh tế còn gọi là công cụ thị trường Tức là các công cụ này

sử dụng sức mạnh của thị trường để BVMT, sinh thái Công cụ kinh tế chính

là những chính sách được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của các cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường

Công cụ kinh tế chỉ có thể áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường Loại công cụ này ngày càng được nhiều nước sử dụng Dưới đây là một số công cụ kinh tế được nhiều nước sử dụng:

+ Thuế tài nguyên

Đây là khoản thu của ngân sách nhà nước đối với các doanh nghiệp về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất Sử dụng công cụ thuế tài nguyên nhằm mục đích hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử

Trang 35

dụng tài nguyên, hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và điều hòa quyền lợi giữa các tầng lớp dân cư trong việc sử dụng tài nguyên Có một số sắc thuế tài nguyên chủ yếu như thuế sử dụng đất, thuế sử dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tài nguyên khoáng sản

Nguyên tắc chung của việc tính thuế tài nguyên là căn cứ vào mức độ gây tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường Trong thực tế, khi áp dụng thuế tài nguyên, người ta thường phân tài nguyên thành hai loại: (1) loại tài nguyên đã xác định trữ lượng Đối với loại này, thuế sẽ được tính dựa trên trữ lượng địa chất hoặc trữ lượng công nghiệp của tài nguyên mà doanh nghiệp khai thác; (2) loại tài nguyên chưa xác định được trữ lượng hoặc xác định chưa chính xác Loại này thuế sẽ được tính căn cứ vào sản lượng khai thác của doanh nghiệp Chú ý, việc sử dụng thuế tài nguyên phải từng bước

để tránh làm mất cân bằng kinh tế, phải hợp lý và dễ điều chỉnh có lợi cho kinh tế - xã hội

+ Thuế, phí môi trường

Thuế, phí môi trường là một loại công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá sản phẩm theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Sử dụng loại thuế này nhằm hai mục tiêu chủ yếu là: khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất gây ô nhiễm thải ra môi trường và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Hiện nay, ở nhiều nước, khoản thu từ thuế môi trường được sử dụng cho ngân sách chung của Chính phủ, còn khoản thu từ phí môi trường sẽ dùng để chi cho hoạt động BVMT như thu gom, xử lý chất thải, hỗ trợ nạn nhân của ô nhiễm

Trên thực tế, có một số dạng thuế, phí môi trường sau: (1) thuế, phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm Tức là loại thuế đánh vào các chất gây ô nhiễm

được thải vào môi trường nước (như BOD, COD, kim loại nặng ), môi

Trang 36

trường khí quyển (như SO2, CO2, CFCS ), môi trường đất (như rác thải, phân bón ), môi trường tiếng ồn (như máy bay, các loại động cơ khác ) loại thuế, phí này được xác định trên cơ sở khối lượng và nồng độ của các chất gây ô

nhiễm; (2) thuế, phí đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm Loại thuế, phí này được

áp dụng đối với các loại sản phẩm có chứa chất độc hại cho môi trường như kim loại nặng, PVC, xăng pha chì, pin, ắc quy có chứa chì, thủy ngân loại

phí này được tính vào giá xăng dầu, phân bón, thuốc trừ sâu ; (3) phí đánh vào người sử dụng các dịch vụ công cộng cải thiện chất lượng môi trường,

như phí vệ sinh thành phố, phí thu gom, xử lý chất thải, phí sử dụng bãi đỗ xe, phí tham quan danh lam, thắng cảnh

+ Giấy phép môi trường (quota phát thải)

Giấy phép môi trường thường được áp dụng cho các tài nguyên môi trường khó xác định quyền sở hữu như không khí, đại dương loại công cụ này được áp dụng ở một số nước, chẳng hạn giấy phép (quota) khai thác cá ngừ ở Australia, giấy phép ô nhiễm không khí ở Anh, Mỹ, Đức, Canađa, Thụy Điển

Giấy phép môi trường là một loại hàng hóa có thể mua bán được Người bán là các đơn vị sở hữu giấy phép và người mua là các đơn vị cần giấy phép để xả thải

Để thực hiện công cụ này, trước hết Nhà nước phải xác định mức sử dụng môi trường chấp nhận được để trên cơ sở đó phát hành giấy phép Khi các doanh nghiệp đã có giấy phép thì họ có thể tự do giao dịch, mua bán giấy phép đó Giá của giấy phép trên thị trường sẽ điều tiết nhu cầu trong phạm vi tổng hạn mức

Ưu điểm của loại công cụ này so với công cụ thuế, phí môi trường ở chỗ nó đảm bảo chắc chắn hơn mục tiêu BVMT vì dù giao dịch mua bán giấy phép môi trường thế nào thì tổng lượng giấy phép phát thải vẫn nằm trong phạm vi kiểm soát của Nhà nước Ngoài ra, việc áp dụng công cụ này còn cho

Trang 37

phép các doanh nghiệp linh hoạt lựa chọn các phương án có thể mua thêm hoặc bán bớt mức phát thải tùy theo tình hình cụ thể của doanh nghiệp Mặc

dù vậy, loại công cụ này vẫn chưa được sử dụng rộng rãi do công chúng nói chung chưa quen với khái niệm "quyền được thải", còn các nhà quản lý thì cho rằng việc kinh doanh giấy phép phát thải khá phức tạp

+ Hệ thống đặt cọc - hoàn trả

Mọi đối tượng trong SX, KD hoặc tiêu dùng các loại sản phẩm có khả năng gây ÔNMT phải nộp vào quỹ môi trường một khoản tiền đặt cọc nhất định Điều này bảo đảm sự cam kết của họ trong SX, KD hoặc tiêu dùng không vi phạm các quy định về BVMT Nếu hết thời hạn cam kết mà họ thực hiện đúng các quy định về BVMT thì họ sẽ được nhận lại số tiền đặt cọc, còn nếu họ vi phạm cam kết thì số tiền đặt cọc sẽ được xung vào quỹ BVMT

Mục đích của hệ thống đặt cọc - hoàn trả là thu gom những thứ mà người tiêu thụ đã dùng vào một trung tâm để tái chế hoặc tái sử dụng một cách an toàn đối với môi trường

Đặt cọc và hoàn trả là một công cụ hữu hiệu nâng cao ý thức trách nhiệm, sự tự giác tuân thủ các quy định về BVMT trong SX, KD của các doanh nghiệp và trong đời sống hàng ngày của người dân

Nhà nước có thể sử dụng công cụ này đối với các doanh nghiệp sau: Doanh nghiệp có sản phẩm có thể gây ÔNMT, nhưng các sản phẩm đó

có thể xử lý, tái chế, tái sử dụng; doanh nghiệp có các sản phẩm làm tăng lượng chất thải, dẫn đến quy mô bãi thải lớn hơn, tốn nhiều chi phí tiêu hủy; doanh nghiệp có các sản phẩm chứa chất độc hại, gây khó khăn đặc biệt cho việc xử lý, nếu tiêu hủy không đúng cách sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường

Hệ thống đặt cọc - hoàn trả thích hợp với việc quản lý các chất thải rắn Ngày nay, nhiều nước đang mở rộng việc sử dụng công cụ này sang các lĩnh

Trang 38

vực khác như: sản xuất vỏ tàu, ô tô cũ, dầu nhớt, ắc quy có chứa chì, sản xuất

vỏ chai đựng thuốc sâu

Kinh nghiệm cho thấy, hiệu quả của việc sử dụng công cụ này tùy thuộc vào việc xác định đúng mức đặt cọc Nếu mức đặt cọc thấp sẽ không tạo ra động

cơ đủ mạnh cho việc quản lý, BVMT Ngược lại, nếu mức đặt cọc quá cao sẽ dẫn đến cản trở sự phát triển Ngoài ra, hiệu quả của việc sử dụng công cụ này còn tùy thuộc vào nhận thức và ý thức của người sản xuất và người tiêu dùng

+ Ký quỹ môi trường

Công cụ này được sử dụng trong QLMT đối với các hoạt động có tiềm

ẩn nguy cơ gây ÔNMT hay gây tổn thất cho môi trường như: công nghiệp khai thác mỏ, khai thác rừng, khai thác tài nguyên ngoài đại dương

Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh nghiệp, các cơ sở SX, KD trước khi tiến hành một loại đầu tư phải ký gửi một khoản tiền tại ngân hàng hay một tổ chức tín dụng, nhằm đảm bảo sự cam kết về thực hiện các biện pháp hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường Như vậy, nguyên lý hoạt động của công cụ này tương tự như của hệ thống đặt cọc - hoàn trả Trong quá trình hoạt động nếu doanh nghiệp, cơ sở sản xuất có các biện pháp ngăn chặn ÔNMT đúng như cam kết thì họ sẽ được nhận lại khoản tiền đã ký quỹ đó Ngược lại, nếu họ không thực hiện đúng cam kết, gây ÔNMT, thì họ không được nhận lại số tiền ký quỹ, mà số tiền này sẽ được rút

ra từ tài khoản của ngân hàng, hoặc tổ chức tín dụng để chi cho công tác khắc phục hậu quả ô nhiễm, suy thoái môi trường do họ gây ra

Việc sử dụng công cụ này có nhiều lợi ích: Nhà nước không phải đầu

tư kinh phí để khắc phục ÔNMT, doanh nghiệp sẽ tích cực BVMT Với mục đích và nguyên lý hoạt động như vậy, thì số tiền ký quỹ phải lớn hơn hoặc xấp xỉ bằng kinh phí cần thiết để khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường do doanh nghiệp gây ra Nếu số tiền ký quỹ quá nhỏ so với chi phí BVMT, thì các doanh nghiệp sẽ có xu hướng từ bỏ việc nhận lại số tiền ký quỹ đó và không thực hiện các CKBVMT của mình

Trang 39

+ Trợ cấp môi trường

Trợ cấp môi trường là giúp đỡ các ngành khắc phục ÔNMT khi tình trạng ÔNMT quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không đủ

để xử lý ÔNMT Trợ cấp môi trường còn được sử dụng để khuyến khích các

cơ quan nghiên cứu - triển khai các công nghệ sản xuất có lợi cho môi trường hoặc các công nghệ xử lý môi trường

Trợ cấp môi trường có thể dưới các dạng sau: trợ cấp không hoàn lại, các khoản cho vay ưu đãi, cho phép khấu hao nhanh, miễn, giảm thuế

Trợ cấp môi trường chỉ là biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp sẽ dẫn đến phi hiệu quả kinh tế, vì nó đi ngược với nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Trợ cấp môi trường chỉ có thể thực hiện trong một thời gian nhất định, với một chương trình có hoạch định và kiểm soát rõ ràng, thường xuyên

+ Nhãn sinh thái

Nhãn sinh thái là danh hiệu của Nhà nước cấp cho các sản phẩm không gây ÔNMT trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hoặc trong quá trình sử dụng sản phẩm đó Được dán nhãn sinh thái là một sự khẳng định uy tín của sản phẩm và của nhà sản xuất Các sản phẩm này sẽ có giá cao hơn các sản phẩm cùng loại không được dán nhãn và có khả năng cạnh tranh cao hơn Nhãn sinh thái chính là công cụ kinh tế tác động vào nhà sản xuất thông qua phản ứng và tâm lý của khách hàng Xu thế chung là việc dán nhãn sinh thái ngày càng đòi hỏi những điều kiện khắt khe hơn Nhãn sinh thái thường được dán cho các sản phẩm tái chế từ phế thải, các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm có tác động xấu đến môi trường

+ Quỹ môi trường

Đây là loại quỹ được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, dùng để hỗ trợ cho các dự án, các chương trình cải thiện chất lượng môi trường Các nguồn thu của quỹ môi trường là: phí và lệ phí môi trường, đóng góp tự nguyện của các cá nhân và các doanh nghiệp, tài trợ bằng tiền hoặc bằng hiện

Trang 40

vật của các tổ chức trong và ngoài nước, tiền lãi và các khoản lợi khác thu được từ hoạt động của quỹ, tiền xử phạt hành chính do vi phạm quy định về BVMT, tiền thu từ các hoạt động văn hóa, thể thao, phát hành xổ số, trái phiếu cho sự nghiệp BVMT

Trên đây là những công cụ kinh tế chủ yếu được các nước sử dụng để QLMT Nên lưu ý rằng khi sử dụng các công cụ này cần xem xét, cân nhắc các điều kiện sau:

(1) Các nhà lập chính sách, các cơ quan chức năng và các đối tượng như doanh nghiệp và người gây ÔNMT cần phải được cung cấp đầy đủ các thông tin cơ bản có liên quan đến chi phí - lợi ích của các phương án chính sách môi trường, các chỉ tiêu biến đổi chất lượng môi trường, các khả năng thể chế, tài chính, kỹ thuật

(2) Thể chế pháp lý phải đủ mạnh để có hiệu lực cưỡng chế

(3) Việc áp dụng các công cụ kinh tế trong QLMT ở các khu đô thị, khu công nghiệp sẽ khả thi hơn so với các vùng nông thôn

(4) Cần có nguồn tài chính cho việc nghiên cứu, đào tạo nhân lực và trang bị cho hệ thống giám sát thực hiện

(5) Việc áp dụng các công cụ kinh tế đòi hỏi sự chấp nhận của các cơ quan chức năng, của các đối tượng gây ô nhiễm và của các tổ chức phi lợi nhuận đại diện cho các nạn nhân của ÔNMT

Các điều kiện trên đôi khi khó định lượng Trên thực tế không phải lúc nào, ở đâu cũng đầy đủ các điều kiện trên và không phải tất cả các công cụ kinh tế đều cần phải có đầy đủ các điều kiện đó Một số loại công cụ như thuế, phí, trợ cấp, hệ thống đặt cọc - hoàn trả có thể từng bước áp dụng trong những điều kiện tương đối dễ dàng hơn

- Ba là, công cụ kỹ thuật

Công cụ kỹ thuật còn gọi là công cụ hành động Đây là công cụ thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát của Nhà nước về chất lượng và thành phần

Ngày đăng: 15/04/2014, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Bá Ân, Phân cấp quản lý và việc lồng ghép phát triển trong công tác quy hoạch của các địa phương, H. 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân cấp quản lý và việc lồng ghép phát triển trong công tác quy hoạch của các địa phương
Tác giả: Nguyễn Bá Ân
Năm: 2004
2. Bài phỏng vấn TS. Trần Hồng Hà, Cần tạo chuyển biến trong nhận thức trách nhiệm và đạo đức về môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, tháng 2/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần tạo chuyển biến trong nhận thức trách nhiệm và đạo đức về môi trường
4. Báo Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 18/3/2009: Báo cáo đánh giá tác động môi trường: mới chỉ là “tấm vé qua cửa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động môi trường: mới chỉ là “tấm vé qua cửa
10. Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới, Xanh hoá công nghiệp - vai trò mới của cộng đồng, thị trường và chính phủ, Ngân hàng Thế giới, H.2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xanh hoá công nghiệp - vai trò mới của cộng đồng, thị trường và chính phủ
11. Báo Nông nghiệp online: Đủ căn cứ khởi tố hình sự Công ty Vedan- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nghiên cứu tổng kết một số mô hình phát triển bền vững ở Việt Nam, H.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổng kết một số mô hình phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Báo Nông nghiệp online
Năm: 2006
12. Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới, Xanh hoá công nghiệp - vai trò mới của cộng đồng, thị trường và chính phủ, Ngân hàng Thế giới, H.2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xanh hoá công nghiệp - vai trò mới của cộng đồng, thị trường và chính phủ
13. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
15. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Dự án VIE/01/021), Bộ Tiêu chuẩn và cơ sở dữ liệu giám sát bền vững ở Việt Nam, H.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tiêu chuẩn và cơ sở dữ liệu giám sát bền vững ở Việt Nam
16. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Dự án VIE/01/021, Hỗ trợ xây dựng và thực hiện chương trình Nghị sự 21 quốc gia của Việt Nam, Phát triển bền vững Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất, H. tháng 12/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất
17. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Dự án VIE/01/021, Kỷ yếu Hội nghị phát triển bền vững toàn quốc lần thứ hai, H. tháng 5/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị phát triển bền vững toàn quốc lần thứ hai
18. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chính sách phát triển bền vững ở Việt Nam, H.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển bền vững ở Việt Nam
19. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Phân tích tác động của chính sách đô thị hóa đối với phát triển bền vững ở Việt Nam, H.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác động của chính sách đô thị hóa đối với phát triển bền vững ở Việt Nam
20. Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải - Các công cụ pháp lý và kinh tế, H.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải - Các công cụ pháp lý và kinh tế
22. Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, Cục Môi trường, Giới thiệu các công cụ kinh tế và khả năng áp dụng trong quản lý môi trường ở Việt Nam, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu các công cụ kinh tế và khả năng áp dụng trong quản lý môi trường ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, Cục Môi trường
Năm: 2001
23. Bộ TN và MT: Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
26. Cơ chế, chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho BVMT, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế, chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho BVMT
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
27. Các quy định pháp luật về môi trường, tập 1, Nxb CTQG, H.1995 28. Các quy định pháp luật về môi trường, tập 2, Nxb CTQG, H.1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định pháp luật về môi trường, tập 1
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
29. Lê Thạc Cán, Đánh giá tác động môi trường: phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn, Nxb KHKT, H.1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động môi trường: phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn
Nhà XB: Nxb KHKT
31. Nguyễn Thế Chinh, Áp dụng các công cụ kinh tế để nâng cao năng lực quản lý môi trường ở Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng các công cụ kinh tế để nâng cao năng lực quản lý môi trường ở Hà Nội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
32. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT ngày 31/12/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Mức độ xử lý ÔNMT của các cơ sở có tên trong danh - Nâng cao năng lực hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở việt nam hiện nay
Bảng 2.1 Mức độ xử lý ÔNMT của các cơ sở có tên trong danh (Trang 90)
Bảng 2.2: Kết quả thực hiện Quyết định 64/2003 của 19 địa phương - Nâng cao năng lực hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở việt nam hiện nay
Bảng 2.2 Kết quả thực hiện Quyết định 64/2003 của 19 địa phương (Trang 91)
Bảng 2.3: Tổng hợp kết quả  đạt  được trong việc thực thi   Quyết định 64/2003 trên phạm vi cả nước - Nâng cao năng lực hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở việt nam hiện nay
Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả đạt được trong việc thực thi Quyết định 64/2003 trên phạm vi cả nước (Trang 94)
Bảng 2.4: Kết quả thẩm  định và phê duyệt Báo cáo đánh giá tác  động môi trường của Bộ TN và MT từ năm 2005 - 2009 - Nâng cao năng lực hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở việt nam hiện nay
Bảng 2.4 Kết quả thẩm định và phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Bộ TN và MT từ năm 2005 - 2009 (Trang 108)
Bảng 2.5: Danh mục cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi - Nâng cao năng lực hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở việt nam hiện nay
Bảng 2.5 Danh mục cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi (Trang 109)
Bảng 2.6: Kết quả hoạt động thẩm định Báo cáo ĐTM của Sở TN - Nâng cao năng lực hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở việt nam hiện nay
Bảng 2.6 Kết quả hoạt động thẩm định Báo cáo ĐTM của Sở TN (Trang 111)
Bảng 2.7: Số lượng cơ sở và địa phương được Thanh tra bộ TN và MT và - Nâng cao năng lực hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở việt nam hiện nay
Bảng 2.7 Số lượng cơ sở và địa phương được Thanh tra bộ TN và MT và (Trang 141)
Bảng 3: Tổng hợp kết quả đạt được trong việc thực thi - Nâng cao năng lực hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở việt nam hiện nay
Bảng 3 Tổng hợp kết quả đạt được trong việc thực thi (Trang 313)
Bảng 1: Kết quả thẩm định và phê duyệt Báo cáo ĐTM của Bộ TN và - Nâng cao năng lực hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở việt nam hiện nay
Bảng 1 Kết quả thẩm định và phê duyệt Báo cáo ĐTM của Bộ TN và (Trang 334)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w